1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình đẳng giới trong quan hệ lao động theo pháp luật việt nam

69 38 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế về bình đẳng giới trong quan hệ lao động đồng thời phân tích làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam, qua đó đối chiếu với t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Phần mở đầu 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LÍ VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 4

1.1 Những vấn đề lí luận về bình đẳng giới trong quan hệ lao động 4

1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của bình đẳng giới và bình đẳng giới trong quan hệ lao động 4

1.1.1.1 Khái niệm bình đẳng giới và bình đẳng giới trong quan hệ lao động 4

1.1.1.2 Ý nghĩa 11

1.1.2 Mối quan hệ giữa bình đẳng giới trong quan hệ lao động với quyền con

người 12

1.2 Các quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong quan hệ lao động 17

1.2.1 Bình đẳng giới trong quan hệ lao động theo pháp luật quốc tế 17

1.2.2 Bình đẳng giới trong quan hệ lao động theo pháp luật Việt Nam 22

1.2.2.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi BLLĐ 1994 có hiệu lực 23

1.2.2.2 Giai đoạn từ khi BLLĐ 1994 có hiệu lực đến nay 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 36

2.1 Thực trạng áp dụng các quy định về bình đẳng giới trong quan hệ lao động theo pháp luật Việt Nam 36

2.1.1 Nhận xét chung 36

Trang 4

2.1.2 Những tồn tại cơ bản trong thực trạng áp dụng các quy định về bình đẳng

giới trong quan hệ lao động theo pháp luật Việt Nam 38

2.1.2.1 Pháp luật chưa đồng bộ, thống nhất trong các quy định về bình đẳng giới trong quan hệ lao động 38

2.1.2.2 Sự phân biệt đối xử trong quá trình tuyển dụng và giao kết hợp đồng lao động 40

2.1.2.3 Các quy định ưu tiên về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động nữ còn thiếu tính khả thi 41

2.1.2.4 Chênh lệch tiền lương và thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ 43 2.1.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình áp dụng các quy định về bình đẳng giới trong quan hệ lao động 45

2.1.3.1 Nguyên nhân từ phía các quy định của pháp luật 45

2.1.3.2 Nguyên nhân từ phía người sử dụng lao động và người lao động 47

2.1.3.3 Nguyên nhân khác 49

2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong quan hệ lao động 51

2.2.1 Bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong quan hệ lao động 51

2.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm xóa bỏ định kiến giới và nâng cao ý thức pháp luật của mọi người 55

2.2.3 Về công tác quản lí, thanh tra, giám sát của các cơ quan quản lí Nhà nước trong lĩnh vực lao động 56

2.2.4 Về hoạt động của tổ chức Công đoàn 57

Phần kết luận 59

Trang 5

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian gần đây, vấn đề bình đẳng giới đang được cả cộng đồng quốc tế quan tâm Bởi vì thực tế tình trạng bất bình đẳng giới đã và đang diễn ra phổ biến, tồn tại dai dẳng ở nhiều mặt đời sống xã hội Bất bình đẳng giới cũng chính là nguyên nhân làm tăng đói nghèo, cản trở việc chăm sóc sức khỏe dân cư, hạn chế cơ hội tăng thu nhập và gây ra hàng loạt tổn thất khác cho xã hội

Nhận thức được tầm quan trọng của bình đẳng giới đối với việc đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội, Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua luôn dành sự quan tâm và coi bình đẳng giới là một trong những nhiệm vụ đồng thời là mục tiêu hướng đến trên con đường xây dựng một xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh Để thể hiện điều này thì ngay từ buổi đầu xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã ghi nhận bình đẳng giới vào trong văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất đó là Hiến pháp 1946 Sau đó dù đã trải qua nhiều lần sửa đổi nhưng nội dung này vẫn không

hề mất đi mà ngược lại càng được bổ sung thêm qua từng lần, Hiến pháp 1959, 1980, và hiện nay là Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) Bên cạnh đó, Nhà nước ta còn cho ra đời hẳn một văn bản luật về bình đẳng giới, đó là Luật Bình đẳng giới 2006; đây được coi như một dấu mốc quan trọng vì đã tạo ra căn cứ pháp lí vững chắc đảm bảo cho việc thực hiện bình đẳng giới trong thực tế Tiếp sau đó ngày 24-7-2007, Bộ Chính Trị đã ban hành ra Nghị quyết số 11-NQ/T.Ư về công tác phụ nữ thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và gần đây nhất Chính phủ đã đề ra chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, điều này đã thể hiện rõ sự tiếp tục quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề này

Trong các quan hệ xã hội, bình đẳng giới trong quan hệ lao động là một bộ phận quan trọng của bình đẳng giới Do đó, để đạt được mục tiêu bình đẳng giới trên mọi phương diện xã hội không thể thiếu đi vai trò của bình đẳng giới trong quan hệ lao động

Trang 6

Bình đẳng giới trong quan hệ lao động có thể được hiểu khái quát là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình trong việc tiếp cận với cơ hội làm việc, được làm việc và thụ hưởng như nhau về tiền lương, điều kiện làm việc hay các chính sách lao động khác Đây là một nội dung có ý nghĩa quan trọng, bởi vì đảm bảo bình đẳng giới trong quan hệ lao động sẽ tạo ra một môi trường làm việc công bằng, tạo điều kiện cho cả lao động nam và nữ tham gia đóng góp sức lao động và hưởng thụ những thành quả mình đã làm ra Tuy nhiên để đạt được mục tiêu bình đẳng giới thật sự vẫn còn là một quá trình lâu dài và khó khăn Bởi lẽ nhận thức xã hội của người dân về vấn đề này còn hạn chế, các quy định của pháp luật còn nhiều bất cập và chưa đến được với mọi tầng lớp xã hội

Bình đẳng giới trong quan hệ lao động không phải là một đề tài mới nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển và tiến bộ của xã hội Với hi vọng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề mang tính lí luận chung, cũng như đem lại cái nhìn bao quát về thực trạng của tình hình Qua đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số kiến nghị nhằm khắc phục hạn chế Tác giả đã quyết định chọn đề tài “Bình đẳng giới trong quan hệ lao động” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lí luận và pháp lí về bình đẳng giới trong quan hệ lao động Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế về bình đẳng giới trong quan hệ lao động đồng thời phân tích làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam, qua đó đối chiếu với thực tiễn thực hiện để tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về bình đẳng giới trong quan

hệ động Đề tài đi sâu vào tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam, không so sánh với quy định pháp luật của các quốc gia khác cũng như việc thực hiện vấn đề này trên thế giới

Trang 7

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu so sánh, thống kê, tổng hợp, phân tích… nhằm tiếp cận và khai thác các khía cạnh của vấn đề

4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài góp phần tăng thêm cơ sở lí luận cho vấn đề bình đẳng giới trong quan hệ lao động, đồng thời đem lại cái nhìn bao quát về vấn đề này trên thực tế Khoá luận còn góp phần khắc phục những vướng mắc và đi đến hoàn thiện các quy định của pháp luật

về bình đẳng giới trong quan hệ lao động

Mặt khác sau khi hoàn thiện, những nội dung đã trình bày trong khoá luận có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho các đối tượng muốn tìm hiểu vấn đề bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong quan hệ lao động nói riêng

5 Kết cấu của đề tài

Trang 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LÍ VỀ BÌNH

ĐẲNG GIỚI TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG

1.1 Những vấn đề lí luận về bình đẳng giới trong quan hệ lao động

1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của bình đẳng giới và bình đẳng giới trong quan hệ lao động

1.1.1.1 Khái niệm bình đẳng giới và bình đẳng giới trong quan hệ lao động

Để có thể đưa ra định nghĩa về bình đẳng giới trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ một số khái niệm có liên quan, những khái niệm này có ý nghĩa nền tảng định hướng cho việc đến gần với khái niệm có nội hàm khá rộng, đó là khái niệm “Bình đẳng giới” Trước tiên, đó là khái niệm “Giới” và “Giới tính” Đây là hai khái niệm có thể hiểu nhầm là đồng nhất với nhau nhưng về bản chất chúng là hai khái niệm khác nhau

Theo từ điển Tiếng Việt, “Giới” được hiểu là “lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội”1 Theo định nghĩa của tác giả Lê Thị Chiêu Nghi trong cuốn “Giới và dự án phát triển” của Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 thì: “Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị

xã hội của phụ nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể, hay nói cách khác, giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội”2 Ngoài ra trong cuốn

“Xã hội học về giới và phát triển” - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội năm 2000 của hai tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Giới dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ”3 Hay nói cách khác, giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng xã hội của nam và nữ Như vậy, các khái niệm trên tuy có sự khác nhau về câu chữ trong cách diễn đạt nhưng nói chung, theo quan

1

Hoàng Phê (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà nẵng

2 Lê Thị Chiêu Nghi (2001), Giới và dự án phát triển, Nxb TP HCM, tr 71

3 Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2001), Xã hội học về giới và phát triển, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr

6

Trang 9

điểm xã hội học, các tác giả đều cho rằng giới là khái niệm dùng để chỉ những sự khác biệt của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội

Trong khoa học pháp lí, để thể hiện sự khác biệt về vị thế xã hội hay vị thế trong các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, khái niệm “đàn ông”, “đàn bà”, “trai”,

“gái”, “nam”, “nữ”… đã được sử dụng trong các bản Hiến pháp cũng như nhiều văn bản pháp luật khác nhau Lần đầu tiên khái niệm “Giới” được quy định tại Điều 5 Khoản 1 Luật Bình đẳng giới “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”

Thuật ngữ “Giới” trong tiếng Anh là “Gender” là một thuật ngữ được sử dụng trong các tài liệu khoa học xã hội của một số nước công nghiệp tiên tiến cách đây chưa đầy 40 năm Năm 1972, khái niệm “Giới” (Gender) mới được Ann Oakley lần đầu tiên đưa vào xã hội học để phân biệt với khái niệm giới tính (Sex) Ở Việt Nam, khái niệm giới bắt đầu phổ biến và ứng dụng từ đầu những năm 80 của thế kỉ này4 Thông qua một

số cách định nghĩa về “Giới” đã trình bày ở trên có thể thấy thuật ngữ này chưa được hiểu một cách thống nhất

Tuy vậy, dù là dưới góc độ xã hội học hay pháp lí thì giới cũng luôn mang những đặc điểm như: Một phần bị chi phối bởi các yếu tố, tiền đề sinh học của giới tính; Không mang tính bẩm sinh, di truyền mà bị quy định bởi điều kiện và môi trường sống của cá nhân, được hình thành và phát triển qua hàng loạt cơ chế bắt chước, học tập; Có thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là về điều kiện xã hội; Mang tính đa dạng phong phú về cả nội dung hình thức và tính chất Các đặc điểm về giới thường được bộc lộ qua suy nghĩ, tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân, nhóm Tương tự như “Giới”, “Giới tính” cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Trong “Tài liệu hướng dẫn lồng ghép giới - Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam”, tài liệu của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ có đưa ra khái niệm về giới tính hiểu

4 Trần Hồng Vân (2001), Tìm hiểu xã hội học về giới, Nxb Phụ nữ, tr 17

Trang 10

một cách đơn giản “Giới tính hay còn gọi là giống, là khái niệm chỉ những đặc trưng sinh học của nữ và nam”5 Cũng trong một cuốn sách mang tên “Gia đình học” của Nhà

xuất bản chính trị Hà Nội năm 2007 có đưa ra định nghĩa như sau: Giới tính là “một

thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ bộ môn sinh học dùng để chỉ sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ Đó là sự khác biệt phổ thông và không thể thay đổi được Con người sinh ra

đã có những đặc điểm giới tính và đặc điểm này tồn tại trong suốt cuộc đời”.6

Một khái niệm cũng được nhiều người biết đến đó là khái niệm “Giới tính” được quy định tại Điều 5 Khoản 2 Luật Bình đẳng giới “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ” Từ đó có thể rút ra các đặc điểm của giới tính: Bị quy định hoàn toàn bởi gen, thông qua cơ chế di truyền từ cha mẹ sang con cái; Mang tính bẩm sinh (sinh ra đã

là nam hay nữ); Là sản phẩm của quá trình tiến hóa sinh học ở trình độ cao, do vậy các đặc trưng giới tính hầu như không phụ thuộc vào không gian, thời gian; Có những biểu hiện về thể chất có thể quan sát được trong cấu tạo, giải phẫu, sinh lí người (giữa nam và

nữ có những đặc điểm khác nhau về gen, hoocmôn, cơ quan sinh dục…); Gắn liền với một số chức năng sinh học (đặc biệt là chức năng tái sản xuất con người); Diễn biến tuân theo quy luật sinh học, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người (tuổi dậy thì, mãn kinh, lão hóa…).7

Chính những đặc điểm trên giúp chúng ta có thể phân biệt được hai khái niệm giới

và giới tính, cụ thể thì giới tính là khái niệm mang nặng khác biệt sinh học và thể chất, còn giới là khái niệm có giá trị xã hội, thể hiện rõ mối quan hệ giữa nam và nữ cũng như

sự phân công vai trò, vị trí của họ trong xã hội Từ đó, muốn đạt được vấn đề bình đẳng giới tức là bình đẳng xã hội giữa nam và nữ thì vấn đề không phải là thay đổi các đặc

5

Tài liệu hướng dẫn lồng ghép giới - Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam, Tài liệu của Ủy ban quốc gia vì sự tiến

bộ của phụ nữ Việt Nam, tr 34

6 Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý (2007), Gia đình học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr 338

7 Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (đồng chủ biên), Sđđ, tr 6

Trang 11

điểm về giới tính, mà cần phải thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới cũng như cách phân công lao động trong xã hội

“Bình đẳng” và “Bình đẳng giới” là hai mục tiêu mà toàn thể nhân loại mong muốn đạt được trong những năm qua So với “Bình đẳng” thì khái niệm “Bình đẳng giới” có phạm vi hẹp hơn”, được xem như một phần nội dung của “Bình đẳng”

Theo Từ điển Luật học thuật ngữ “Bình đẳng” được định nghĩa là “Quyền cơ bản của con người không bị phân biệt theo chủng tộc, nòi giống, giai cấp, tôn giáo, giới tính, tài sản được pháp luật của quốc gia bảo đảm”8 Quyền bình đẳng được coi là thành quả đấu tranh của nhân loại chống chế độ phân chia đẳng cấp của nhà nước phong kiến, được ghi vào Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ “Tất cả mọi người sinh ra đều

có quyền bình đẳng, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm

1789 “Người sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Năm 1948, Liên hợp quốc ra tuyên ngôn toàn thế giới về “nhân quyền”, khẳng định ở Điều 1 “Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm chất

và các quyền…” Hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 mà Việt Nam tham gia, lại một lần nữa đề cập đến quyền bình đẳng Nhân dân tiến bộ trên thế giới vẫn phải tiếp tục cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng vì quyền này gắn liền với chế độ kinh

tế, chính trị và xã hội Quyền bình đẳng phải được cụ thể hóa thành các quyền: bình đẳng dân tộc, bình đẳng giới…9

Có thể nhận thấy khái niệm mà từ điển Luật học đưa ra mang nội hàm khá rộng và bao quát nhiều vấn đề, trong khái niệm có chỉ ra những nhân

tố có khả năng đem lại sự bất bình đẳng trong đời sống như sự phân biệt về chủng tộc, giai cấp, nòi giống, tôn giáo, hay tài sản và bao gồm cả sự phân biệt về giới Ở góc độ này, Từ điển Luật học đã định nghĩa “Bình đẳng” gắn với quyền công dân, quyền con người và sự ghi nhận trong các văn bản pháp luật chính là nhằm đảm bảo tốt nhất quyền này

8 Nguyễn Hữu Quỳnh (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa Việt Nam

9 Như trên

Trang 12

Một khái niệm khác đang tồn tại ở Việt Nam đó là bình đẳng theo Từ điển Tiếng Việt “người này ngang bằng với người kia về địa vị và quyền lợi”10 Theo đó thì bình đẳng là sự đối xử ngang nhau giữa mọi người về địa vị cũng như các quyền lợi Tuy nhiên, định nghĩa này dường như chưa hợp lí và phản ánh đúng bản chất của bình đẳng Bởi lẽ mỗi cá nhân sinh ra đã có các đặc điểm riêng biệt về sinh học đồng thời có vị trí, vai trò, địa vị và uy tín xã hội khác nhau Khi tham gia vào các quan hệ xã hội họ đã đứng ở điểm xuất phát không bằng nhau, do vậy bình đẳng giữa những người không bình đẳng chính là sự bất bình đẳng

Như vậy, bình đẳng có thể được hiểu là quyền con người, quyền công dân được ghi nhận thông qua các quy phạm pháp luật, trong đó thể hiện sự đối xử ngang nhau về địa

vị cũng như quyền lợi, có xét đến sự khác biệt về những đặc điểm đặc thù của từng cá nhân

Khái niệm “Bình đẳng” trên cơ sở nhận thức về giới chính là cơ sở hình thành nên khái niệm “Bình đẳng giới” Tiếp cận bình đẳng giới dưới góc độ xã hội học, đó là sự đối xử ngang nhau giữa hai giới nam và nữ, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nam và nữ trong xã hội Trong lĩnh vực khoa học pháp lí, thuật ngữ “Bình đẳng giới” lần đầu tiên được quy định tại Điều 5 Khoản 3 Luật Bình đẳng giới theo đó được hiểu là “việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”

Bình đẳng giới là mục tiêu và là thước đo sự phát triển của một xã hội tiến bộ Sự bình đẳng thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể như nam và nữ có điều kiện ngang nhau

để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội ngang nhau

10

Hoàng Phê (2000), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà nẵng

Trang 13

để tham gia đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội trong quá trình phát triển; nam

và nữ có các quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên phải khẳng định bình đẳng giới không phải là bớt quyền của giới nam chia cho giới nữ,

mà là tạo mọi điều kiện để cho nữ giới cũng được thực hiện các quyền của mình như nam giới

Như vậy, bình đẳng giới cần được hiểu dưới các khía cạnh sau:

Thứ nhất, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng của phụ nữ và nam giới tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau Bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và nữ giới được công nhận và được hưởng vị thế ngang nhau trong xã hội Thứ hai, bình đẳng giới không có nghĩa là nhìn nhận nam giới và nữ giới giống y hệt nhau mà là sự tương đồng và khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ được công nhận và

có giá trị như nhau Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng

Hiểu sâu xa thì thì bình đẳng giới là vấn đề cơ bản của quyền con người và là yêu cầu về sự phát triển bền vững Có thể nói ý nghĩa quan trọng nhất của bình đẳng giới là nam và nữ có những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội tham gia, đóng góp vào công cuộc phát triển mọi mặt trong đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, lao động cho đến văn hóa, giáo dục…11

Để đạt được bình đẳng giới nói chung phải xuất phát từ sự bình đẳng giới trong từng quan hệ xã hội Một trong những quan hệ đó phải kể đến quan hệ lao động Trong các mối quan hệ, quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động được xem là quan hệ lao động12

11Nông Quốc Bình (2008), “Suy nghĩ về bình đẳng giới”, Tạp chí Luật học, (03), tr 3

12 Điều 3 Khoản 6 BLLĐ (sửa đổi 2012)

Trang 14

Bình đẳng giới trong quan hệ lao động có thể được hiểu khái quát là việc nam, nữ

có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình trong việc tiếp cận với cơ hội làm việc, được làm việc và thụ hưởng như nhau về tiền lương, điều kiện làm việc hay các chính sách lao động khác Cụ thể theo quy định của Luật Bình đẳng giới, bình đẳng giới trong quan hệ lao động được hiểu là “nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác”13 Ngoài ra Luật còn quy định “nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh”14 Có thể thấy Luật không định nghĩa thế nào là bình đẳng giới trong quan hệ lao động theo cách giải thích từ ngữ mà các nhà làm luật lại sử dụng phương pháp liệt kê, thông qua việc đặt ra yêu cầu bình đẳng ở các nội dung được phát sinh từ quan hệ lao động, khái quát lên có thể hiểu đó chính là quan hệ trong lĩnh vực hợp đồng lao động, tiền lương, kỉ luật lao động Đây đồng thời cũng là các chế định cụ thể đang được điều chỉnh bởi pháp luật lao động, đặc biệt là ứng với các quy định của BLLĐ hiện hành Bình đẳng giới trong quan hệ lao động là một bộ phận của bình đẳng giới, do đó nó

có phạm vi hẹp hơn so với bình đẳng giới Mục tiêu hướng đến không phải là sự bình đẳng giữa nam và nữ nói chung mà là sự bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ khi họ tham gia vào quan hệ lao động Trong quan hệ này, lao động nam tỏ ra là đối tượng có nhiều ưu thế hơn so với lao động nữ Một phần do những đặc thù của giới tính quy định, mặt khác do sự nhìn nhận về vai trò, vị trí của xã hội đối với mỗi giới Thông qua quá trình giao kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động xác lập nên quan hệ lao động Tiếp đó trong quá trình thực hiện quan hệ lao động, các vấn đề phát sinh có liên quan đến việc đào tạo, tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội, thời giờ làm

13 Điều 13 Khoản 1 Luật Bình đẳng giới

14 Điều 13 Khoản 2 Luật Bình đẳng giới

Trang 15

việc, thời giờ nghỉ ngơi, kỷ luật lao động… chính là các lĩnh vực cụ thể cần đạt được bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ

Như vậy, xuất phát từ việc nhìn nhận sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lí của lao động nam so với lao động nữ, đồng thời thừa nhận vai trò thiên bẩm của người phụ nữ trong việc mang thai, làm mẹ, duy trì nòi giống của xã hội, các quy định về bình đẳng giới trong quan hệ lao động của các nhà lập pháp Việt Nam là một trong những căn cứ pháp lí quan trọng để đánh giá mức độ vi phạm cũng như bảo đảm việc thực hiện nội dung này trên thực tế và hướng đến mục tiêu cao hơn là bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội

1.1.1.2 Ý nghĩa

Bình đẳng giới trong quan hệ lao động được xem là một bộ phận thuộc về bình đẳng giới Do đó, ý nghĩa của bình đẳng giới trong quan hệ lao động nói riêng chính là

sự phản ánh cụ thể ý nghĩa của bình đẳng giới nói chung

Trước hết, bình đẳng giới trong quan hệ lao động được xem là một trong những căn cứ để đánh giá mức độ thực hiện bình đẳng giới trong thực tế Thông qua việc xem xét và kiểm tra khả năng đạt được bình đẳng giới trong quan hệ lao động chúng ta có thể đánh giá được mức độ bình đẳng giới trong các quan hệ xã hội nói chung Xuất phát từ tính chất của quan hệ lao động là quan hệ xã hội mang tính phổ biến và đặc thù, nó liên quan đến số đông người trong xã hội, cụ thể là liên quan đến lực lượng lao động bao gồm cả hai giới nam và nữ Do đó đánh giá mức độ thực hiện bình đẳng giới nói chung thông qua thực tiễn bình đẳng giới trong quan hệ lao động vừa thể hiện sự nhìn nhận sâu sắc và chi tiết vừa có thể khái quát lên ở mức độ rộng hơn

Có thể thấy thực tiễn thực hiện bình đẳng giới trong quan hệ lao động còn có tác động trở lại đối với hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới Dưới sự điều chỉnh của các quy định pháp luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước, vấn đề thực hiện bình đẳng giới trong quan hệ lao động gặp phải những vướng

Trang 16

mắc cũng như tồn tại những vi phạm phổ biến nào Qua đó các nhà lập pháp có định hướng đi đến khắc phục, hoàn thiện các quy định pháp luật

Bình đẳng giới trong quan hệ lao động còn có ý nghĩa là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực Bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa

là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước Việc xây dựng Chiến lược Bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng bởi bình đẳng giới không chỉ là mục tiêu của phát triển mà còn là cách thức để xóa đói, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy tăng trưởng của quốc gia Bình đẳng giới tạo điều kiện quản

lý nhà nước có hiệu quả khi nguồn lực con người (bao gồm cả nam và nữ) được phát huy

và sử dụng một cách hợp lý

Bên cạnh đó, ý nghĩa to lớn của bình đẳng giới trong quan hệ lao động chính là việc tạo điều kiện cho người lao động không phân biệt nam hay nữ, đều có cơ hội ngang nhau khi tham gia vào quan hệ lao động Trong quá trình đó, cả lao động nam và lao động nữ được đóng góp sức lao động của mình nhằm tạo ra của cải xã hội, tạo ra nguồn thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình Và điều quan trọng là từ sự đóng góp đó, người lao động nói chung được hưởng thụ những thành quả do mình làm ra Sự phát triển ổn định của hai giới trong quan hệ lao động là nhân tố quan trọng tạo nên sự phát triển vững chắc của cả xã hội

1.1.2 Mối quan hệ giữa bình đẳng giới trong quan hệ lao động với quyền con người

Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau, theo một tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố.15

15 United Nations: Human rights: Question and Answers, Geneva, 1994

Trang 17

Mỗi định nghĩa tiếp cận từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng chưa có định nghĩa nào bao hàm được tất cả những thuộc tính của quyền con người Tính phù hợp của các định nghĩa phụ thuộc vào sự đánh giá chủ quan của mỗi cá nhân nhưng ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lí toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do

cơ bản (fundamental freedom) của con người16

Quyền con người đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử của nhân loại, nhưng có thể nói

lí thuyết về quyền con người thật sự bùng nổ và phát triển một cách có hệ thống vào thời

kì tư sản với sự ra đời của những học thuyết dân chủ tư sản tiến bộ Con người là một thực thể tồn tại với hai phần, phần con và phần người, đồng thời là một sản phẩm của tự nhiên và xã hội, cho nên không chỉ tồn tại với các thuộc tính tự nhiên mà còn mang đầy

đủ bản chất xã hội Con người cũng chính là chủ thể sáng tạo ra quyền, sống trong những mối quan hệ xã hội và thực hiện những quyền của mình - Quyền con người Quyền con người trở thành một học thuyết được nghiên cứu bởi các nhà học thuyết lỗi lạc như Locke, Kant, Montesquie, Rousseau… Các công trình nghiên cứu đã dần dần hình thành nên hai trường phái đối lập với hai học thuyết khác nhau, học thuyết quyền tự nhiên và học thuyết quyền pháp lí Sự khác biệt trong cách tiếp cận của hai học thuyết này chính là sự tồn tại một cách độc lập các quyền tự nhiên của con người hay các quyền này phải tồn tại trong mối quan hệ với pháp luật

Quan điểm thứ nhất, quyền con người được xem như những quyền tự nhiên và cố hữu mà nếu không có các quyền đó, chúng ta không thể sống như một con người Quan điểm này tuyệt đối hóa quyền tự nhiên của con người, con người từ khi sinh ra là đã

16 United Nations, UNHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr 8

Trang 18

mang trong mình quyền được tự do, được tôn trọng, được đối xử công bằng… mà không cần phải được ban tặng từ một đấng tối cao nào đó hay phải được ghi nhận trong các quy định của pháp luật Điểm tích cực của học thuyết này chính là sự đề cao con người với

tư cách là sản phẩm cao nhất, tinh túy nhất của sự phát triển tự nhiên, quyền này luôn được hiểu đồng nhất với nhau mà không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước hay yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa nào Nhưng nhược điểm của nó là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc

xã hội của quyền con người và do đó, không thấy được tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người

Quan điểm thứ hai, cho rằng “các quyền con người được hiểu là những quyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các cá nhân”17 Theo quan điểm đó thì quyền con người là tất cả những gì mà Nhà nước thông qua pháp luật để quy định cho cá nhân Quyền con người với tính chất là thuộc tính bẩm sinh vốn có không được đặt ra trong xã hội thị tộc khi chưa có sự vi phạm quyền con người Chỉ khi xã hội có giai cấp, Nhà nước có sự vi phạm quyền con người thì vấn đề này mới được đặt ra trước nhân loại Điểm hợp lí của quan điểm này là đã gắn quyền con người với pháp luật, với ý chí của Nhà nước để đảm bảo tốt nhất cho việc thực hiện quyền con người Tuy nhiên, nó cũng

có nhược điểm là pháp luật các quốc gia sẽ quy định vấn đề này không giống nhau, phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của giai cấp thống trị và cả các yếu tố khác như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của xã hội của mỗi quốc gia

Theo quan điểm triết học Mác Lê-nin thì quyền con người phải là sự thống nhất các thuộc tính tự nhiên và xã hội, bởi lẽ “bản chất của con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”18 Theo đó thì quyền con người là quyền tự nhiên vốn có

Trang 19

nhưng để có thể thực hiện quyền này trên thực tế đòi hỏi phải có một cơ chế bảo hộ cụ thể, đó là phải được thể chế hóa thông qua các ghi nhận của pháp luật

Trong tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 và một số văn bản pháp lý của nhiều quốc gia, quyền con người được khẳng định một cách rõ ràng rằng đó là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng được của cá nhân Theo nhận thức của cộng đồng quốc tế quyền con người có những tính chất là: tính phổ biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.19

Tính phổ biến: Tính phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lí do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi… Đặt vào lĩnh vực lao động thì tính chất này có thể được hiểu là sự thừa nhận rộng rãi của cộng đồng thế giới và không có sự phân biệt đối xử giữa những người lao động trong cùng một quốc gia với nhau nếu như quốc gia

đó đã thừa nhận chuẩn mực chung của nhân loại Quyền con người trong luật lao động quốc tế phải là mong muốn của số đông người lao động trong xã hội Khi đã trở thành quyền con người thì pháp luật lao động của mỗi quốc gia phải thể chế hóa các quy định của mình mà không có được sự phân biệt đối xử nào dành cho người lao động20

Tính không thể tước bỏ: Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền của con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Ví dụ như trong việc tìm kiếm lựa chọn việc làm, người lao động có toàn quyền tự do lựa chọn công việc phù hợp với năng lực cũng như sở thích của mình mà không chịu sự đe dọa hay cưỡng bức từ một chủ thể nào, dù đó là cá nhân hay cơ quan nào đi nữa

19

UN, Human Rights Training: A Manual on Human Rights Training Methodology, New York and Gevena, 2000

20 Lê Thị Thúy Hương (Chủ nhiệm đề tài), Vấn đề quyền con người của người lao động trong pháp luật lao động

Việt Nam, Trường Đại học Luật TP.HCM, 12/2010, tr 10

Trang 20

Tính không thể phân chia: Tính không thể phân chia của nhân quyền phải được hiểu trên cơ sở sự nhận thức rằng các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, không quyền nào có giá trị cao hơn quyền nào Tuy nhiên nó không hàm ý rằng mọi quyền con người đều phải được chú ý quan tâm giống y hệt nhau trong mọi hoàn cảnh Trong từng bối cảnh cụ thể việc ưu tiên cho một số những chủ thể nhất định lại là việc đảm bảo tính công bằng của quyền con người Một ví dụ cụ thể đó là việc dành ra những quy định mang tính ưu tiên cho lao động nữ, nhóm người trong xã hội có những đặc trưng về tâm sinh lí, sức khỏe so với nam giới, mặt khác còn có chức năng mang thai và sinh con (duy trì nòi giống) Những quy định như vậy thực chất nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, đối tượng được xem là nhóm người yếu thế trong xã hội

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau thể hiện ở chỗ việc bảo đảm quyền con người phải mang tính toàn diện và bao quát, bởi lẽ giữa các quyền con người luôn có liên hệ và tác động lẫn nhau Việc vi phạm một quyền nào đó

có khả năng sẽ ảnh hưởng gián tiếp hoặc trực tiếp đến những quyền khác Ngược lại các quyền con người khác nhau được đảm bảo sẽ có tác động tích cực đến những quyền khác Cụ thể, trong quan hệ lao động việc đảm bảo tốt quyền lợi của lao động nữ chính

là cơ sở bảo đảm cho bình đẳng giới Ngược lại, bình đẳng giới sẽ chưa đạt được nếu còn tồn tại sự phân biệt đối xử và sự vi phạm các chế độ đặc thù nhằm ưu tiên cho lao động nữ

Trong phạm vi rộng lớn của các quyền con người, có thể phân loại thành các nhóm quyền cơ bản như quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền dân chủ, các nhóm quyền dân

sự, chính trị, kinh tế… Trong mỗi cách phân loại đó các nhóm quyền luôn bao hàm một

số những quyền khác Ở một mức độ nhỏ hơn có thể xem bình đẳng giới trong quan hệ lao động là một phân nhánh nhỏ của quyền bình đẳng giới, mặt khác quyền bình đẳng giới chính là một phần của quyền con người Từ đó suy ra một cách logic rằng bình đẳng giới trong quan hệ lao động cũng là quyền con người Giữa quyền con người và bình đẳng giới trong quan hệ lao động có mối liên hệ và phụ thuộc, quyền con người có thể được xem là cái chung, cái bao quát, còn bình đẳng giới trong quan hệ lao động chính là

Trang 21

cái riêng, cái cụ thể Đảm bảo việc thực hiện bình đẳng giới trong quan hệ lao động cũng chính là góp phần đảm bảo thực hiện quyền con người trên thực tế

1.2 Các quy định của pháp luật về bình đẳng giới trong quan hệ lao động

1.2.1 Bình đẳng giới trong quan hệ lao động theo pháp luật quốc tế

Nhân loại bước vào thế kỉ XX, sau khi Liên hợp quốc được thành lập, sự thắng lợi của phong trào đấu tranh vì quyền con người, trong đó bao hàm quyền bình đẳng nam

nữ được thừa nhận không chỉ trong các học thuyết, quan điểm mà đã được đảm bảo bằng những quy định của pháp luật quốc tế Thành công đầu tiên của Liên hợp quốc chính là ban hành ra văn bản pháp lí ghi nhận các quyền cơ bản của con người, Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 Trong tuyên ngôn, quyền bình đẳng giới được thừa nhận trong gia đình và các quan hệ xã hội Các quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng giới, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế, đặt cơ sở pháp lí cho quốc gia, dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống lại sự phân biệt đối xử về giới Đồng thời cũng đặt ra yêu cầu đối với các quốc gia thành viên bằng các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia

Ngay từ lời nói đầu Tuyên ngôn đã khẳng định một cách rõ ràng ý nghĩa của quyền bình đẳng nói chung đối với sự phát triển tiến bộ của nhân loại “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” Tiếp đến tại Điều 1 và Điều 2 một lần nữa khẳng định tính tự nhiên vốn có của quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng Cụ thể “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này mà không có bất kì sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác” Trong quan

hệ lao động mọi người đều tự do, bình đẳng trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp và được trả công một cách công bằng, không phải chịu bất cứ sự phân biệt đối xử

Trang 22

nào trong chuyện nhận thù lao Điều 23 của Tuyên ngôn đã nêu rõ “Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào” Những hình thức phân biệt được nhắc tới ở đây có ghi nhận sự phân biệt đối xử về giới Trên thực tế phụ nữ thường bị hạn chế hơn nam giới trong các

cơ hội tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp cũng như thường bị đối xử bất công trong khi trả lương, đó cũng chính là sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các quan hệ lao động mà cần phải được khắc phục Quy định này của Tuyên ngôn đã cho thấy sự nhìn nhận một cách công bằng của cộng đồng quốc tế về quyền bình đẳng nam nữ trong các quan hệ lao động, là khởi đầu tốt cho các quy định pháp luật của các quốc gia sau này

Trên cơ sở thực tiễn việc thực hiện các quyền con người nói chung và quyền phụ

nữ nói riêng, LHQ đặt lại vấn đề ghi nhận và đảm bảo cho các quyền con người một cách cụ thể hơn ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, bằng việc cho ra đời hai công ước quốc tế vào năm 1966 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa21(International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights) và Công ước về các quyền dân sự và chính trị22 (International Covenant on Civil and Political Rights) Tại Điều 2 của cả hai Công ước đều nêu rõ nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải cam kết thực hiện các quyền trong công ước mà “không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo…” Bên cạnh đó, Điều 3 Công ước về các quyền dân sự chính trị ghi nhận một cách rõ ràng “phải bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị” Yêu cầu được

21 Được thông qua và để ngỏ cho các nước ký, phê chuẩn và gia nhập theo nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng LHQ Có hiệu lực từ ngày 3/01/1976, căn cứ theo Điều 27 Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982

22 Được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng LHQ Có hiệu lực ngày 23/3/1976, căn cứ theo Điều 49 Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982

Trang 23

đặt ra với các quốc gia thành viên của công ước đó là nghĩa vụ phải nội luật hóa các quyền được ghi trong công ước vào hệ thống pháp luật của nước mình đồng thời mở rộng dân chủ và tạo mọi điều kiện để mọi công dân có thể thực hiện các quyền này Tuy không trực tiếp quy định quyền bình đẳng giới trong quan hệ lao động cụ thể nhưng thông qua những quy định về quyền bình đẳng nói chung của con người trong nhiều mặt lĩnh vực đời sống xã hội đã tạo thêm những căn cứ pháp lí vững chắc nhằm đảm bảo thực hiện tốt hơn nhóm quyền bình đẳng trong thực tế Từ sự ghi nhận trong hai công ước quốc tế, các quốc gia cũng tiến hành đưa các quy định này vào hệ thống pháp luật quốc gia, trên cơ sở nhìn nhận của cộng đồng quốc tế, mỗi quốc gia sẽ đóng góp một phần vào sự nghiệp đấu tranh đảm bảo quyền con người trong đó có quyền bình đẳng giới nói riêng

Mặc dù đã có cơ chế pháp lí mang tính quốc tế song để đạt được kết quả trong cuộc đấu tranh vì bình đẳng, các dân tộc và quốc gia phải kiên trì theo đuổi mục tiêu giải phóng con người, mục tiêu hướng đến một xã hội có tính nhân văn Cuối thế kỉ XX, bất chấp nỗ lực của cộng đồng, tình trạng phân biệt đối xử vẫn diễn ra ở nhiều mặt, từ gia đình đến các quan hệ xã hội khác nhau, ngăn cản sự phát triển tiến bộ của phụ nữ Đứng trước tình hình đó LHQ đã cho ra đời Công ước xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, viết tắt là CEDAW Công ước CEDAW đã được Đại hội đồng LHQ thông qua vào ngày 18-12-1979, có hiệu lực kể từ ngày 3-9-1981 Việt Nam đã tham gia, kí kết công ước này vào ngày 29-07-1980 và phê chuẩn vào ngày 19-03-1982 Công ước được đánh giá là một trong những văn bản pháp lí quốc tế tiến bộ về quyền phụ nữ

Các nội dung về bình đẳng được quy định lần lượt từ Điều 4 đến Điều 16, đề cập đến mọi khía cạnh đời sống của người phụ nữ, trong đó tại Điều 11 quy định rõ về bình đẳng giới trong lao động - việc làm, đó là quyền được hưởng các cơ hội làm việc như nhau cũng như những phúc lợi xã hội và quyền được thù lao như nhau trên cơ sở thành quả làm việc Cụ thể trên cơ sở bình đẳng, phụ nữ và nam giới có quyền hưởng các cơ hội việc làm như nhau, bao gồm cả việc áp dụng những tiêu chuẩn như nhau khi tuyển dụng lao động; quyền được hưởng thù lao như nhau, gồm cả phúc lợi xã hội, được đối

Trang 24

xử như nhau khi làm những việc có giá trị ngang nhau cũng như được đối xử như nhau trong việc đánh giá chất lượng công việc Tại Điều 14 Công ước đặc biệt dành nhiều sự quan tâm đến phụ nữ nông thôn, đảm bảo cho phụ nữ nông thôn có điều kiện tham gia vào quan hệ lao động không bị bất cứ sự phân biệt đối xử nào kể cả sự bất bình đẳng về giới

Nếu như LHQ là tổ chức ra đời nhằm mục đích to lớn là duy trì hòa bình và an ninh thế giới thì tổ chức lao động quốc tế với tên Tiếng Anh là International Labour Organization (viết tắt là ILO), là một trong những cơ quan chuyên môn về lĩnh vực lao động của LHQ có mục tiêu hoạt động là xúc tiến các quyền tại nơi làm việc, khuyến khích các cơ hội về việc làm bền vững, tăng cường bảo trợ xã hội và đẩy mạnh đối thoại

xã hội về các vấn đề có liên quan tại nơi làm việc Trong đó có mục tiêu hoạt động nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giới có được việc làm bền vững và hiệu quả trong điều kiện tự do, bình đẳng, an toàn và nhân phẩm được tôn trọng

Theo đó ILO đã cho ra đời rất nhiều công ước có liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động, đặc biệt là quyền của phụ nữ Phải kể đến trước tiên đó là Công ước số 29, được thông qua tại kì họp thứ 14 của ILO vào ngày 10/06/1930, gồm 33 điều quy định các quốc gia thành viên cam kết phải có chính sách quốc gia hủy bỏ việc sử dụng lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc dưới mọi hình thức trong thời gian ngắn nhất Điều 2 quy định “lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc là chỉ mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe dọa của một hình phạt nào đó và bản thân người đó không tự nguyện làm” Công ước này quy định cho người lao động nói chung, đặc biệt là lao động nữ được ILO bảo vệ sự tự nguyện, tự

do lựa chọn nghề nghiệp và được làm đúng với ý muốn cũng như đúng với thỏa thuận với người sử dụng lao động trong công việc, mà không phải chịu sự đe dọa của một hình phạt nào đó để bắt buộc phải làm theo Công ước còn nêu rõ phía các cơ quan thẩm quyền không được phép áp đặt hay cho phép áp đặt việc lao động cưỡng bức vì lợi ích của tư nhân hay các công ty tư nhân Qua đó cho thấy sự bảo vệ tối đa cho quyền làm việc chính đáng của người lao động mà không chịu bất cứ sự cưỡng bức nào từ phía

Trang 25

người sử dụng lao động Trên thực tế các lao động nữ vì thường bị đối xử một cách không công bằng trong việc được trả thù lao, họ thường có xu hướng làm thêm giờ để kiếm thêm thu nhập, lợi dụng điều này các doanh nghiệp cũng thường đề ra các yêu cầu làm việc gần như mang tính cưỡng bức đối với các lao động nữ, nếu như không làm theo

có thể bị sa thải nên đa phần lao động nữ thường có xu hướng chấp nhận làm theo Công ước số 29 ra đời góp một phần vào công cuộc đảm bảo quyền tự do, bình đẳng cho lao động nữ nói riêng là một điều đáng ghi nhận

Trên con đường đấu tranh đòi bình đẳng nam nữ trong quan hệ lao động, năm 1951 ILO tiếp tục cho ra đời Công ước về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động

nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau (gọi tắt là Công ước số 100) Đây được đánh giá là một trong những công ước quan trọng trong vấn đề đảm bảo bình đẳng của lao động nam và lao động nữ, bởi trên thực tế lao động nữ thường bị phân biệt đối xử trong việc nhận tiền công đối với cùng một công việc có giá trị ngang nhau, những công sức

họ đã bỏ ra ngang bằng hoặc có thể nhiều hơn so với lao động nam nhưng vẫn bị trả lương thấp hơn lao động nam Thực trạng này là một mối lo ngại cần phải được quan tâm, xem xét nhằm bảo vệ tốt nhất sức khỏe cũng như đời sống kinh tế của lao động nữ, hướng đến sự công bằng bình đẳng trong quan hệ lao động Điều 1 Công ước đã định nghĩa “trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau là nói về các mức trả công được ấn định không phân biệt đối xử về giới tính” Sự chênh lệch về tiền công được trả không tính đến những đặc trưng về giới tính có thể được xem là sự bất bình đẳng, sự phân biệt đối xử về giới, vi phạm nguyên tắc của công ước đề ra Để tuân theo nguyên tắc của Công ước này, các quốc gia thành viên có nghĩa

vụ bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp pháp quy hay thông qua các thỏa ước lao động tập thể Ngay sau đó một năm Công ước sửa đổi Công ước về thai sản năm 1952 ra đời, quy định nữ công nhân đang mang thai và cho con bú không phải thực hiện các công việc mà các quốc gia xác định là gây nguy hại cho sức khỏe của bà mẹ và trẻ sơ sinh, có thời gian nghỉ thai sản Nếu như người sử dụng lao động có hành vi chấm dứt công việc đối với những đối tượng này trong thời gian mang thai hay nghỉ thai sản thì sẽ

Trang 26

bị coi là vi phạm pháp luật Tiếp theo có thể kể đến Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958 (Công ước số 111), quy định rõ các hình thức phân biệt đối xử cần phải loại bỏ để hướng đến việc đảm bảo quyền bình đẳng của con người, trong đó có sự phân biệt đối xử về giới trong việc làm và nghề nghiệp Nội dung của Công ước đặt ra yêu cầu mỗi nước thành viên phải “cam kết tuyên bố và theo đuổi một chính sách quốc gia, nhằm thúc đẩy bằng những phương pháp thích ứng với hoàn cảnh

và thực tiễn quốc gia, sự bình đẳng về cơ may và về đối xử trong việc làm và nghề nghiệp để nhằm huỷ bỏ mọi sự phân biệt đối xử về mặt này”23

Như vậy, thông qua các Công ước quốc tế nêu trên chúng ta có thể nhận thấy sự quan tâm ngày một bao quát và sâu sắc hơn của cả cộng đồng đối với vấn đề bảo đảm bình đẳng giới trong quan hệ lao động Các công ước quốc tế chính là các yêu cầu mang tính chuẩn mực chung được nhìn nhận bởi cả nhân loại, theo sau đó sẽ là nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện những điều đã cam kết khi gia nhập hay phê chuẩn

1.2.2 Bình đẳng giới trong quan hệ lao động theo pháp luật Việt Nam

Trong giai đoạn xã hội phong kiến đã tồn tại hàng ngàn năm, vị thế và vai trò của

nữ giới trong gia đình và ngoài xã hội luôn bị đánh giá thấp hơn so với nam giới Dưới

sự ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, phụ nữ chỉ được coi như vật phụ thuộc của nam giới, với thiên chức làm vợ, làm mẹ và chăm sóc gia đình, họ không được phép tham gia vào các hoạt động xã hội bên ngoài Trong gia đình người đàn ông nắm quyền

về kinh tế đồng thời có quyền quyết định mọi vấn đề, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ

đã xuất hiện trước hết là trong gia đình rồi sau đó mới mở rộng ra bên ngoài xã hội Bên cạnh đó, những định kiến về năng lực và phẩm chất của phụ nữ như cho rằng đàn bà hẹp hòi, ích kỉ, yếu đuối và không thông minh bằng đàn ông cũng cản trở không nhỏ đến việc tham gia vào các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ lao động của phụ nữ Một điều

23 Điều 2, Công ước 111

Trang 27

có thể nhận thấy là pháp luật thời kì này cũng hầu như không đề cập tới vấn đề bình đẳng giữa nam và nữ Trong Bộ Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật, thời Lê sơ, năm 1483) được đánh giá là một trong những bộ luật tiến bộ hơn so với các quốc gia trong khu vực thời bấy giờ cũng chỉ có một số rất ít những quy định mang tính bình đẳng giữa nam và nữ, cụ thể như cho phép người vợ có quyền quản lí tài sản khi chồng chết, hay quy định phụ nữ cũng có quyền thừa kế tài sản như nam, hay hình phạt cho phạm nhân

nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhân nam… Tuy nhiên quy định về bình đẳng giới trong quan hệ lao động thì hầu như không có Cho đến Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ, thời Nguyễn, năm 1815) tư tưởng trọng nam khinh nữ thể hiện một cách rõ rệt, phụ nữ lúc này được coi như vật phụ thuộc của đàn ông, hoàn toàn không có khái niệm bình đẳng ở đây, với những quy định hà khắc và mang tính nô dịch, áp bức tình trạng bất bình đẳng đối với phụ nữ không những phổ biến trong gia đình mà còn lan rộng ra mọi quan hệ xã hội Tóm lại trong giai đoạn phong kiến, nội dung bình đẳng giới và cụ thể là bình đẳng giới trong quan hệ lao động hầu như bị xem nhẹ và bỏ quên, bình đẳng giới nếu có thì cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ rất nhỏ trong gia đình, còn ở các quan hệ khác trong xã hội thì chưa được nhìn nhận và đảm bảo Tuy nhiên xã hội không dừng lại ở đó mà vẫn tiếp tục phát triển, theo đó vấn đề bình đẳng giới và bình đẳng giới trong quan hệ lao động cũng có nhiều thay đổi tích cực

1.2.2.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi BLLĐ 1994

có hiệu lực

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, mở ra một thời kì mới cho đất nước và dân tộc Việt Nam Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngay sau đó bản Hiến pháp 1946 cũng ra đời, tuân thủ nguyên tắc “đảm bảo quyền tự do dân chủ”, Điều 9 quy định rõ “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Với bản Hiến pháp này lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, phụ nữ ngang quyền với nam giới trên mọi phương diện, trong đó có cả ngang quyền trong quan hệ lao động Tư tưởng này tiếp tục được

thể hiện qua từng bản Hiến pháp tiếp theo sau này

Trang 28

Tình hình đất nước có nhiều thay đổi, đặt ra các nhiệm vụ mới, bản Hiến pháp

1946 được thay thế bởi bản Hiến pháp 1959 Do đang trong giai đoạn thời chiến nên quy định của Hiến pháp chủ yếu tập trung củng cố chính quyền phục vụ chiến tranh Các quy định về bình đẳng giới chủ yếu được lồng ghép vào các quy định chung Tuy nhiên, kế thừa và phát huy quy định của bản Hiến pháp trước, Hiến pháp 1959 tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quyền bình đẳng giới trong quan hệ lao động Cụ thể Điều 24 ghi nhận “Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương” Hiến pháp đã đề cập cụ thể hơn đến vấn đề trả công bình đẳng giữa nam và nữ, cũng như lưu ý đến việc bảo đảm đời sống kinh tế của phụ nữ mang thai thông qua việc quy định thời gian nghỉ trước và sau khi đẻ

vẫn được hưởng nguyên lương

Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam bước vào thời kì xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần có một bản Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới Đó

là Hiến pháp của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước”24 Kế thừa

và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục quy định cụ thể và rõ ràng quyền bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực, Điều 63 ghi nhận

“Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

và gia đình Nhà nước chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kĩ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừng phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội” Ngoài

ra, Hiến pháp còn quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước “có chính sách lao động phù hợp với điều kiện của lao động nữ” Quan trọng hơn đó là tiếp tục ghi nhận việc trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ, cũng như thời gian hưởng nguyên lương trong thời

24 Lời nói đầu của Hiến pháp 1980

Trang 29

gian nghỉ thai sản Đặc biệt quy định “Nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi xã hội khác, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập và nghỉ ngơi” Qua đó có thể thấy Nhà nước ta luôn tạo mọi điều kiện để phụ nữ có thể phát triển toàn diện, tham gia vào các quan hệ xã hội, đóng góp cho đất nước trên mọi lĩnh vực, tạo điều kiện để học tập, nâng cao trình độ, cho đến việc được đảm bảo đời sống trong thời kì thực hiện chức

năng sinh đẻ duy trì nòi giống, và kể cả việc chăm sóc giáo dục con sau khi sinh

Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp 1980 tỏ ra không thiết thực, không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước nhà Hiến pháp

1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) ra đời đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập hiến của Việt Nam, khắc phục những hạn chế của Hiến pháp 1980, đáp ứng những yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới Tuy vậy, đối với nội dung bình đẳng giới trong quan hệ lao động, Điều 63 tiếp tục ghi nhận như một nội dung không thể thiếu Khẳng định một lần nữa rằng nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội và gia đình Đặc biệt “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” Trong quan hệ lao động “lao động nam và nữ làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật” Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội, đồng thời vẫn làm tròn bổn phận người mẹ của mình

Xuyên suốt các bản Hiến pháp của nước ta, có thể nhận thấy vấn đề về nhân quyền luôn được đề cao, thể hiện rõ thông qua việc xây dựng ngày càng hoàn thiện các chế định về quyền công dân, quyền con người Vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là bình đẳng giới trong quan hệ lao động luôn được quan tâm một cách đáng kể, Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện cho lao động nữ có thể phát triển toàn diện mọi mặt, khắc phục sự phân biệt đối xử trong quan hệ lao động và hướng đến mục tiêu bình đẳng giới thật sự

Trang 30

1.2.2.2 Giai đoạn từ khi BLLĐ 1994 có hiệu lực đến nay

Nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, ngày 23-6-1994, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ luật Lao động đầu tiên của Nhà nước ta BLLĐ năm 1994 ra đời đánh dấu một mốc quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, nó

đã kế thừa và phát triển pháp luật lao động nước ta từ năm 1945 đến thời kì đầu của công cuộc đổi mới, thể chế hóa đường lối của Đảng, cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp 1992 Sau một thời gian áp dụng, nhiều quy định của BLLĐ năm 1994 không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đến nay trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007 Và mới đây Quốc hội khóa XIII vừa thông qua BLLĐ (sửa đổi) ngày 18 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực từ 1/5/2013 BLLĐ mới gồm 17 chương, 242 điều, tăng 19 điều so với BLLĐ cũ, đặc biệt có nhiều quy định mới được xem là bảo đảm tốt hơn vấn đề bình đẳng giới trong quan hệ lao động Tại Điều 5 BLLĐ đã ghi nhận quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ và không bị phân biệt đối xử… của người lao động nói chung trong đó có cả lao động nam và lao động nữ Trong chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ, Luật đã khẳng định “bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ”25 Đồng thời quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động là phải bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác, nhằm tạo mọi điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện và có vị thế ngang bằng với nam giới Những quy định trong BLLĐ chính là căn cứ pháp lý quan trọng, có ý nghĩa trực tiếp trong việc điều chỉnh quan hệ lao động giữa các chủ thể, đồng thời là cơ sở đảm bảo các quyền của người lao động và ngăn chặn sự phân biệt đối xử về giới trong quan hệ lao động Những sửa đổi bổ sung trong BLLĐ 2012 đã cho thấy quyết tâm cao độ của Nhà nước ta trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi, thích đáng cho lao động nữ có thể tham gia đóng góp phát triển cũng như hưởng thụ những thành quả từ sự đóng góp công sức

25 Điều 153 BLLĐ (sửa đổi 2012)

Trang 31

lao động của mình, đồng thời hạn chế tối đa sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng giới trong lao động đang diễn ra trong thời buổi kinh tế xã hội đã có nhiều thay đổi, tạo ra không chỉ nhiều cơ hội mà còn nhiều thách thức mới

Có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong vấn đề bình đẳng giới là phải nói đến Luật Bình đẳng giới 2006 Luật Bình đẳng giới được thông qua ngày 29/11/2006 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2007 Luật Bình đẳng giới năm 2006 ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hành động hướng đến bình đẳng giới ở Việt Nam Nó được coi như văn bản pháp luật chuyên ngành về giới đầu tiên trong hệ thống pháp luật, đồng thời cũng là văn bản thể hiện việc thực hiện nghĩa vụ nội luật hóa của mình từ công ước CEDAW mà Việt Nam là thành viên Trên thế giới hiện có nhiều nước, các nước phát triển và cả những nước đang phát triển đã ban hành các đạo luật về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ như Úc, Thụy Điển, Nhật Bản, Lào, Trung Quốc, Kô-sô-vô… Luật Bình đẳng giới của Việt Nam ra đời trên cơ sở sự tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia đồng thời phù hợp với điều kiện của nước ta Kết cấu của Luật gồm 6 Chương và 44 Điều, quy định vấn đề bình đẳng giới ở nhiều lĩnh vực cụ thể, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, lao động cho đến giáo dục, thể thao, y tế… Mục tiêu bình đẳng giới được xác định là nhằm “xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam

và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”26 Cụ thể trong quan hệ lao động Luật đặt ra yêu cầu phải có được sự bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác; Ngoài ra trong việc đề bạt, bổ nhiệm các chức danh trong các ngành nghề có tiêu chuẩn chức danh cũng phải được bình đẳng27

Bên cạnh đó Luật đề ra một loạt các biện pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng

26 Điều 4, Luật Bình đẳng giới

27 Điều 13, Luật Bình đẳng giới

Trang 32

giới trong quan hệ lao động như “Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ; Quy định ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam…” Đối với các hành vi vi phạm bình đẳng giới, cụ thể là bình đẳng giới trong quan hệ lao động như áp dụng các biện pháp khác nhau trong tuyển dụng lao động đối với cùng một công việc có giá trị ngang nhau; từ chối tuyển dụng hoặc hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc vì lí do mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ; Phân biệt đối xử trong trả lương; Không thực hiện các quy định đối với lao động nữ, thì biện pháp chế tài được đặt ra sẽ được xử lí thích đáng tùy vào tính chất cũng như mức độ, xử lí kỉ luật, xử lí hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Có thể nói Luật Bình đẳng giới được xây dựng là nhằm tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, khắc phục những bất cập trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực thi pháp luật, góp phần nội luật hóa, khẳng định quyết tâm của Việt Nam thực hiện cam kết với quốc tế về quyền con người, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ Với những quy định cụ thể và các giải pháp đưa ra để xử lí, Luật Bình đẳng giới ra đời thực sự là căn cứ pháp lí vững chắc cho vấn đề đảm bảo bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong quan hệ lao động nói riêng Sự cần thiết phải có một văn bản pháp luật mang tính chuyên ngành đã được đáp ứng thông qua Luật Bình đẳng giới

Bình đẳng giới trong quan hệ lao động được thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau

Thứ nhất, trong lĩnh vực việc làm và học nghề

Việc làm được coi là một trong những chính sách cơ bản của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển xã hội Đảm bảo việc làm cho xã hội không những là tạo ra nhiều việc làm cho người lao động mà còn giúp cho tất cả người lao động trong xã hội có cơ hội như nhau trong việc tìm kiếm việc làm Trước đây, Nhà nước quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải ưu tiên nhận phụ nữ vào

Trang 33

làm việc khi người đó có đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và

nữ mà doanh nghiệp đang cần28 Quy định này ra đời trong bối cảnh kinh tế nước ta vừa thoát khỏi cơ chế tập trung bao cấp, thị trường lao động gần như chưa phát triển, cơ hội việc làm dành cho người lao động nói chung còn hạn chế Đặc biệt đối với lao động nữ, những đặc thù về giới tính trở thành rào cản để họ tham gia vào các quan hệ lao động Tại thời điểm BLLĐ 1994 mới có hiệu lực, quy định này rất có ý nghĩa đối với việc đảm bảo bình đẳng giới trong lĩnh vực việc làm Tuy nhiên, khoảng thời gian sau này khi kinh tế nước ta ngày một khởi sắc cùng với sự mở rộng của thị trường lao động, đem đến nhiều cơ hội làm việc cho cả hai giới thì quy định này lại trở nên không phù hợp Đối với người sử dụng lao động, việc phải ưu tiên tuyển dụng lao động nữ có thể sẽ gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh do phải thực hiện các chế độ ưu đãi dành cho lao động nữ Đối với lao động nữ, cho dù biết là mình bị phân biệt đối xử trong khi tuyển dụng lao động nhưng cũng không biết phải khiếu nại đến đâu và liệu việc khiếu nại có đạt được kết quả gì không Quy định này trên thực tế thiếu cơ chế đảm bảo và không còn khả thi Do vậy hiện nay quy định này đã được bỏ đi Để không biến những quy định mang tính ưu tiên trở thành rào cản đối với lao động nữ đồng thời đảm bảo bình đẳng giới thật sự chứ không phải dành quá nhiều ưu đãi cho lao động nữ, pháp luật ghi nhận nguyên tắc “Bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ29 và quy định

cụ thể trách nhiệm của người sử dụng lao động “bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng…”30

Bên cạnh đó, pháp luật cũng khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động nữ bằng cách quy định chính sách ưu đãi, xét giảm thuế đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ31 Điều này sẽ hỗ trợ tích cực cho việc tăng thêm cơ hội làm việc cho lao động

28 Điều 111 Khoản 2 BLLĐ 1994

29 Điều 153 Khoản 1 BLLĐ (sửa đổi 2012)

30 Điều 154 Khoản 1 BLLĐ (sửa đổi 2012)

31 Điều 153 Khoản 4 BLLĐ (sửa đổi 2012)

Trang 34

nữ, bởi nếu muốn được hưởng chính sách ưu đãi về thuế, doanh nghiệp sẽ thu hút nhiều lao động là nữ hơn vào làm việc

Ngoài ra, pháp luật còn quy định chính sách mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ32 So với lao động nam, lao động nữ thường có ít cơ hội hơn trong việc tìm kiếm việc làm do đặc điểm giới tính chi phối Do vậy, quy định này nhằm đảm bảo cho lao động nữ có cơ hội tìm được việc làm dễ dàng hơn trong mọi hoàn cảnh Nếu vì một lí do nào đó, lao động nữ không thể tiếp tục làm công việc cũ nữa thì họ cũng có thể tìm được một công việc mới đảm bảo thu nhập nuôi sống bản thân

Thứ hai, trong lĩnh vực hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động33 Hợp đồng lao động là cơ sở quan trọng để các bên thiết lập quan hệ lao động Trong quá trình xác lập và thực hiện hợp đồng lao động, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn khác nhau mà vấn đề bình đẳng giới cũng được thể hiện khác nhau

Trước tiên là ở giai đoạn giao kết hợp đồng lao động Việc giao kết hợp đồng lao động được coi là bước đầu tiên để xác lập nên mối quan hệ lao động Lao động nam và lao động nữ đều bình đẳng trong việc trực tiếp thoả thuận với người sử dụng lao động

các nội dung trong hợp đồng lao động Ngoài ra người lao động bao gồm cả nam và nữ

đều có thể giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết34 Trong giai đoạn này các quy định của pháp luật không có sự phân biệt giữa lao động nam và lao động nữ, cả hai giới đều

có cơ hội được giao kết hợp đồng ngang nhau

32

Điều 153 Khoản 5 BLLĐ (sửa đổi 2012)

33

Điều 15 BLLĐ (sửa đổi 2012)

34 Điều 21 BLLĐ (sửa đổi 2012)

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm