1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản theo pháp luật việt nam so sánh với pháp luật liên minh châu âu

91 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Hai là, phân tích cụ thể những quy định về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản theo pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật EU - hệ thống pháp luật về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản đi đầ

Trang 1

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ CHO HÀNG NÔNG SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - SO SÁNH VỚI PHÁP

LUẬT LIÊN MINH CHÂU ÂU

SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐẶNG THỊ HƯƠNG GIANG KHOÁ: 34 MSSV:0955050040

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS LÊ THỊ NAM GIANG

TP HỒ CHÍ MINH, 2013

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép từ bất cứ công trình nào khác Các số liệu và thông tin nêu trong khóa luận là trung thực và chính xác

Tác giả khóa luận

Trang 3

Quy chế 1151/2012

Quy chế của Hội Đồng Châu Âu số 1151/2012 ngày 21/11/2012 về các chương trình chất lượng cho các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm

Quy chế 510/2006

Quy chế của Hội đồng Châu Âu số 510/2006 ngày 20/5/2006 về bảo hộ CDĐL và TGXXHH cho sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm

Công ước Paris năm 1883 Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp Thỏa ước Madrid năm1891 Thỏa ước Madrid năm 1891 về ngăn chặn những chỉ

dẫn giả hoặc làm nhầm lẫn xuất xứ hàng hóa Thoả ước Lisbon năm

1958

Thoả ước Lisbon năm 1958 về bảo hộ và đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ hàng hoá

Hiệp định Trips Hiệp định Trips năm 1994 về các khía cạnh liên quan

tới thương mại của quyền SHTT

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN 6

1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản 6

1.1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý 6

1.1.1.1 Theo các Điều ước quốc tế 6

1.1.1.2 Theo pháp luật Việt Nam 7

1.1.2 Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản 8

1.1.2.1 Khái niệm hàng nông sản 8

1.1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản 10

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản 13 1.2.1 Cơ sở lý luận 13

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.3 Phân biệt chỉ dẫn địa lý với một số chỉ dẫn thương mại khác 19

1.3.1 Phân biệt với chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ 19

1.3.2 Phân biệt với nhãn hiệu hàng hoá 21

1.3.3 Phân biệt với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận 23

1.4 Các hình thức bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho hàng nông sản 25

1.4.1 Bảo hộ bằng quy định pháp luật về chỉ dẫn địa lý 26

1.4.2 Bảo hộ bằng quy định pháp luật nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận …… 27

1.4.3 Bảo hộ bằng quy định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh 28

1.5 Vai trò của bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản 29

1.5.1 Đối với người tiêu dùng 29

1.5.2 Đối với nhà sản xuất 30

1.5.3 Đối với Nhà nước 31

Trang 5

2.1 Khái quát pháp luật Liên minh châu Âu về bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho

hàng nông sản 36

2.2 Khái quát pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản… 38

2.3 So sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Liên minh châu Âu về bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với hàng nông sản 40

2.3.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý 40

2.3.1.1 Theo pháp luật Liên minh châu Âu 40

2.3.1.2 Theo pháp luật Việt Nam 43

2.3.1.3 So sánh và kiến nghị 45

2.3.2 Điều kiện bảo hộ 46

2.3.2.1 Theo pháp luật Liên minh châu Âu 46

2.3.2.2 Theo pháp luật Việt Nam 51

2.3.2.3 So sánh và kiến nghị 55

2.3.3 Căn cứ xác lập quyền 57

2.3.3.1 Theo pháp luật Liên minh châu Âu 57

2.3.3.2 Theo pháp luật Việt Nam 58

2.3.3.3 So sánh và kiến nghị 59

2.3.4 Quyền của người sử dụng chỉ dẫn địa lý 62

2.3.4.1 Theo pháp luật Liên minh châu Âu 62

2.3.4.2 Theo pháp luật Việt Nam 63

2.3.5 Các quy định về quản lý chỉ dẫn địa lý 68

2.3.5.1 Theo pháp luật Liên minh châu Âu 68

2.3.5.2 Theo pháp luật Việt Nam 70

2.3.5.3 So sánh và kiến nghị 73

KẾT LUẬN 78

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc sử dụng các dấu hiệu CDĐL trong thương mại nhằm phân biệt các sản phẩm trên thị trường là tập quán đã có từ lâu đời trên thế giới Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, uy tín thương mại của doanh nghiệp được tạo dựng thông qua các dấu hiệu gắn liền với hàng hóa của họ như nhãn hiệu, tên thương mại, CDĐL Trong đó, CDĐL với vai trò truyền tải thông điệp về nguồn gốc, danh tiếng, chất lượng sản phẩm đã trở thành một tài sản có giá trị to lớn trong thương mại Bảo hộ CDĐL ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và thịnh vượng của nhiều doanh nghiệp, khu vực, quốc gia trên thế giới Do đó, các quốc gia đã và đang không ngừng chạy đua tìm kiếm và phát triển các công cụ pháp lý về CDĐL để kịp thời nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm, khuyến khích nông nghiệp, tăng cường hội nhập quốc tế

Cho đến nay, đa số bảo hộ CDĐL trên khắp thế giới vẫn chủ yếu được áp dụng cho nông sản, thực phẩm hay rượu vang, rượu mạnh bởi rõ ràng đây là những sản phẩm có phẩm chất đặc trưng xuất phát từ vị trí sản xuất và chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các yếu tố địa lý như khí hậu, thổ nhưỡng,…Trong khi đó, xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước cùng với khí hậu nhiệt đới ôn hòa, Việt Nam có thế những thế mạnh to lớn về các mặt hàng nông sản Danh tiếng của những nông sản Việt như nước mắm Phú Quốc, cà phê Buôn Ma Thuột, thanh long Bình Thuận,…đã thừa nhận rộng rãi ở trong nước và đang dần chiếm lĩnh thị trường quốc tế Tuy vậy, mặc

dù có những điều kiện để phát triển CDĐL, bảo hộ CDĐL ở Việt nam hiện nay vẫn chỉ dừng lại ở mức tiềm năng mà chưa chuyển hóa thành nguồn lực cho sự phát triển của Việt Nam Do đó, chú trọng xây dựng và bảo hộ CDĐL cho nông sản thực

sự là một hướng đi có hiệu quả nhằm bảo vệ tên tuổi và nâng cao giá trị nông sản, đặc biệt giúp Việt Nam khai thác được các lợi thế của mình về đất đai, khí hậu Trong những năm gần đây, hoạt động thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới diễn ra sôi nổi hơn bao giờ hết, song trong công tác xuất khẩu nông sản mang CDĐL, do thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về pháp luật bảo hộ CDĐL ở nước ngoài nên nhiều CDĐL của Việt Nam đã bị các thương nhân nước ngoài xâm phạm và đăng kí trước ở một số nước Vì vậy, nghiên cứu các ĐƯQT, pháp luật các quốc gia về bảo hộ CDĐL có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy xây dựng và đăng kí bảo hộ CDĐL cho nông sản Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời

Trang 7

nó còn là khung pháp lý quan trọng duy trì sự ổn định phát triển cho nền kinh tế đất nước

Khi đề cập đến pháp luật bảo hộ CDĐL của các quốc gia trên thế giới là phải nhắc đến pháp luật của Liên minh châu Âu (EU) Là quốc gia có các điều kiện địa

lý thuận lợi, EU có rất nhiều mặt hàng nông sản có chất lượng và danh tiếng vượt trội Chính vì vậy, EU là các quốc gia đi đầu trong việc bảo hộ CDĐL, cũng như đưa các quy định về CDĐL vào các Hiệp định của WTO Ngoài ra, EU hiện là một trong các đối tác hàng đầu của Việt Nam về kinh tế, thương mại và đầu tư Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2012, EU đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 17,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước Đồng thời, vào tháng 6/2012, Việt Nam và EU cũng đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (FTA)

Chính từ các lý do trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu pháp luật EU về bảo

hộ CDĐL cho hàng nông sản có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy đăng kí bảo

hộ CDĐL cho nông sản Việt tại thị trường EU, đặc biệt là khi Hiệp định FTA chính thức có hiệu lực và đây còn là những bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ CDĐL cho nông sản tại Việt Nam Hơn nữa, sau khi tìm hiểu về vấn đề này, tác giả phát hiện EU vừa mới ban hành Quy chế mới về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản – Quy chế 1151/2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 3/01/2013, do đó, việc nghiên cứu Quy chế mới của EU lại càng cần thiết hơn

Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo pháp

luật Việt Nam - so sánh với pháp luật Liên minh châu Âu” với mong muốn

nghiên cứu các quy định mới của EU về vấn đề bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, đồng thời, chú trọng phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này

để so sánh tiếp với pháp luật EU, từ đó chỉ ra các điểm còn hạn chế của pháp luật Việt Nam và đưa ra các kiến nghị khắc phục kịp thời

2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu

Đề tài có 2 mục tiêu chính:

+ Một là, tìm hiểu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, phân biệt CDĐL với các chỉ dẫn thương mại khác, các lợi ích từ việc bảo hộ CDĐL đem lại, đặc biệt nêu bật lên các hình thức bảo hộ quyền SHCN đối với nông sản trên thế giới

Trang 8

+ Hai là, phân tích cụ thể những quy định về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản theo pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật EU - hệ thống pháp luật về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản đi đầu thế giới, trên cơ sở đó đánh giá các điểm còn hạn chế của pháp luật Việt Nam và đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản Việt nam

Từ những mục tiêu này, tác giả xác định các đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:

+ Các Điều ước quốc tế về CDĐL;

+ Các quy định của pháp luật EU về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản;

+ Các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ CDĐL nói chung và cho hàng nông sản nói riêng

3 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, pháp luật về bảo hộ CDĐL đã thu hút được nhiều sự

chú ý và quan tâm của nhiều học giả, nhiều nhà khoa học trong nước lẫn ngoài nước Về phía các tài liệu tiếng Việt, có một số công trình nghiên cứu về pháp luật bảo hộ CDĐL nói chung và bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản nói riêng như sau:

+ Lê Thị Thu Hà, Bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sách chuyên khảo, Thông tin và truyền thông, TP Hồ Chí

Về phía các tài liệu nước ngoài cũng có một số tài liệu đáng chú ý sau:

+ International Trade Center, Guide to Geographical Indications (Hướng

dẫn CDĐL), Geneva 2009

+ Vũ Trọng Bình, Đào Đức Huấn, Geographical indication and appellation

of origin in Viet Nam: reality, policy, and perspective, (Chỉ dẫn địa lý và tên gọi

xuất xứ hàng hóa ở Việt Nam: thực trạng, chính sách và triển vọng), MISPA Project

2006

Trang 9

+ Nguyễn Thị Tuyết, A study of legal protection of Geographical Indications in the European Community and in Vietnam, (Bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở

Châu Âu và ở Việt Nam), Master of Lund University 2007

Như vậy, theo tra cứu của tác giả, ở phạm vi các tài liệu tiếng Việt, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể pháp luật EU và pháp luật Việt Nam về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản dưới góc độ so sánh Ở phạm vi tài liệu tiếng nước ngoài, đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Tuyết có nghiên cứu về “Bảo

hộ chỉ dẫn địa lý ở Châu Âu và ở Việt Nam” nhưng công trình này không đi sâu vào các vấn đề lý luận về bảo hộ CDĐL, đồng thời cũng không tiếp cận ở dạng so sánh trực tiếp pháp luật Việt Nam với pháp luật EU để đưa các kiến nghị cụ thể Hơn nữa, vì Quy chế 1151/2012 của EU chỉ mới có hiệu lực chính thức vào ngày 3/01/2013, do đó, tác giả chưa tìm thấy tìm thấy tài liệu tiếng Việt lẫn tài liệu tiếng

nước ngoài nào nghiên cứu về vấn đề này Chính vì vậy, đề tài “Bảo hộ chỉ dẫn địa

lý cho hàng nông sản theo pháp luật Việt Nam - so sánh với pháp luật Liên minh châu Âu” mà tác giả lựa chọn hoàn toàn đảm bảo được tính mới về nội dung

nghiên cứu cũng như tính hữu ích về các thông tin cung cấp cho người đọc

4 Phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận: nghiên cứu các vấn đề cơ bản về bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản

như khái niệm CDĐL, khái niệm và đặc điểm của bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, các cơ sở cho việc bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, các hình thức bảo hộ quyền SHCN đối với hàng nông sản,…

Cơ sở pháp lý: tập trung nghiên cứu và phân tích pháp luật EU và pháp luật Việt

Nam dưới góc độ so sánh, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để nâng cao hiệu quả bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản Vì vấn đề bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản là một mảng công tác rộng lớn và phức tạp Trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, khi phân tích những nội dung của bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, khóa luận xin giới hạn chỉ phân tích ở hai bộ phận cấu thành hệ thống bảo hộ CDĐL Đó

là các hoạt động xác lập quyền của các chủ thể đối với CDĐL và hoạt động khai thác, quản lý các sản phẩm mang CDĐL trên thị trường Ngoài ra, khái niệm nông sản được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như các sản phẩm từ nông nghiệp hay rượu vang, rượu mạnh,… do đó, vì thời gian nghiên cứu có hạn, tác giả cũng không đề cập đến đối tượng là rượu vang, rượu mạnh

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lê-nin, đề tài sử dụng các phương pháp có tính truyền thống như miêu tả, phân tích, tổng hợp, hệ thống, … Trong đó, đặc biệt chú trọng đến phương pháp so sánh để làm nổi bật những vấn đề tương đồng và khác biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam với pháp luật của Liên minh Châu Âu về vấn đề bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, từ đó chỉ ra những điểm còn hạn chế và đề ra các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo

hộ CDĐL cho nông sản ở Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Trên cơ sở phân tích khoa học, kết hợp với lý luận và thực tiễn của Việt Nam,

khoá luận đã giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:

+ Thứ nhất, cung cấp cụ thể các thông tin lý luận của bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản Trên cơ sở này, có thể xác định CDĐL là một công cụ mang tính chiến lược để bảo hộ cho nông sản Việt Nam, đặc biệt là trong thị trường xuất khẩu + Thứ hai, làm rõ bản chất, căn cứ áp dụng của các hình thức bảo hộ quyền SHCN đối với hàng nông sản trên thế giới

+ Thứ ba, phân tích cụ thể các quy định của pháp luật EU và pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, dưới góc độ so sánh, ở từng đối tượng phân tích, tác giả đã chỉ ra những điểm còn hạn chế trong pháp luật Việt Nam

và đưa ra những kiến nghị để khắc phục những điểm hạn chế đó

+ Thứ tư, phân tích các quy định về hoạt động quản lý CDĐL cho hàng nông sản theo pháp luật EU và pháp luật Việt Nam Qua đó, tác giả đã đề xuất các kiến nghị nhằm kịp thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý CDĐL

Với những mục đích được đặt ra và giải quyết trong hai chương của khóa luận, tác giả mong rằng đề tài có thể góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của bảo

hộ CDĐL cho hàng nông sản và các quy định của pháp luật EU và pháp luật Việt Nam về vấn đề này Tuy vậy, những nội dung trên đây chỉ giới hạn trong khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật ắt hẳn còn nhiều khiếm khuyết, tác giả kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để góp phần hoàn thiện đề tài hơn nữa Sau cùng, tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, đặc biệt là TS Lê Thị Nam Giang – giảng viên khoa Luật Quốc tế đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả xây dựng và hoàn

thiện đề tài

Trang 11

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ ĐỐI VỚI

HÀNG NÔNG SẢN 1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản

1.1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý

1.1.1.1 Theo các Điều ước quốc tế

Xét dưới góc độ pháp luật quốc tế, CDĐL đã được quy định trong 4 ĐƯQT là: Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ SHCN1, Thỏa ước Madrid năm 1891 về ngăn chặn những chỉ dẫn giả hoặc làm nhầm lẫn xuất xứ hàng hóa2, Thoả ước Lisbon năm 1958 về bảo hộ và đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ hàng hoá3

và Hiệp định Trips năm 1994 về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT4

Công ước Paris 1883 và Thỏa ước Madrid 1891 là hai ĐƯQT đầu tiên quy định

về CDĐL tạo điều kiện thuận lợi cho bảo hộ quyền SHCN xuyên biên giới Tuy nhiên, cả hai ĐƯQT này đều không nhắc tới thuật ngữ CDĐL mà chỉ nhắc tới hai

thuật ngữ chỉ dẫn nguồn gốc (Indication of Source) và tên gọi xuất xứ (Apellations

of Origin),5 đồng thời, cũng không đưa ra được khái niệm về hai thuật ngữ này mà chỉ nhắc tới chúng với tư cách là đối tượng SHCN được bảo hộ Đến năm 1958,

Thoả ước Lisbon ra đời đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm về tên gọi xuất xứ

(Appellation of Origin) và khái niệm này vẫn còn được sử dụng rộng rãi tại các

quốc gia châu Âu ngày nay

Mặc dù được sử dụng trong thực tiễn thương mại khá sớm nhưng thuật ngữ CDĐL chỉ được định nghĩa chính thức vào năm 1994 bởi Hiệp định Trips như sau:

“CDĐL được hiểu là một chỉ dẫn nhằm xác định một sản phẩm có xuất xứ từ lãnh

1 Công ước Paris được kí kết ngày 20/3/1883 với sự tham gia của 11 nước Từ khi kí kết đến nay, Công ước

đã qua nhiều lần sửa đổi vào các năm 1990, 1911, 1925, 1934, 1958, 1967 và được tổng sửa đổi vào ngày 28/0/1979 Tính đến 4/12/2009 có 173 nước là thành viên của Công ước, Việt Nam là thành viên Công ước

từ năm 1949

2 Thỏa ước Madrid về ngăn chặn những chỉ dẫn giả hoặc làm nhầm lẫn xuất xứ hàng hóa được ký kết vào năm 1891, sửa đổi nhiều lần vào các năm 1925, 1934, 1958 và 1967 Tính đến 4/12/2009 có 35 nước là thành viên của Thỏa ước, Việt Nam không phải là thành viên của Thỏa ước này

3 Thỏa ước Lisbon được hoàn thành và công bố vào năm 1958, được sửa đổi vào năm 1967 và năm 1979 Tính đến 4/12/2009 có 26 nước là thành viên của Thỏa ước, Việt Nam không phải là thành viên của Thỏa ước này

4 Hiệp định Trips được kí kết ngày 15/4/1994 Tính đến 4/12/2009 có 150 nước là thành viên của Hiệp định Trips, Việt Nam gia nhập Hiệp định năm 2007 (Số lượng thành viên các ĐƯQT được cập nhập tại trang web

www.wipo.int vào ngày 4/12/2009)

5 Điều 1.2 Công ước Paris 1883

Trang 12

thổ của một quốc gia thành viên hoặc từ một vùng, một khu vực địa lý của nước đó,

mà chất lượng, danh tiếng hay các đặc tính khác của sản phẩm chủ yếu do nguồn gốc địa lý này mang lại”.6

Khái niệm trên cho thấy ba yếu tố quan trọng trong bảo hộ CDĐL:

+ CDĐL là những chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý Chỉ dẫn này có thể được thể hiện dưới dạng từ ngữ, biểu tượng, hay hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó nhằm giúp nhận biết về mặt thị giác nguồn gốc địa lý của hàng hóa

+ Hàng hóa sử dụng CDĐL phải bắt nguồn từ lãnh thổ hoặc khu vực, địa phương thuộc lãnh thổ đó Tùy theo các quy định pháp lý của mỗi quốc gia mà thuật ngữ “bắt nguồn” được hiểu là toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến hàng hóa được tiến hành tại khu vực địa lý đó, hay chỉ cần một giai đoạn, một khâu trong quá trình sản xuất, chế biến được thực hiện tại khu vực địa lý đó là đạt yêu cầu bảo hộ

+ Hàng hóa có chất lượng, danh tiếng hoặc đặc tính nhờ xuất xứ địa lý mang lại Điều này có nghĩa các yếu tố nguồn gốc địa lý, bao gồm yếu tố tự nhiên (như khí hậu, thổ nhưỡng, nguồn nước, tài nguyên,…) và yếu tố con người (như kĩ năng, kinh nghiệm, bí quyết sản xuất,…) đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định chất lượng, danh tiếng của hàng hóa

1.1.1.2 Theo pháp luật Việt Nam

Được coi là nước có bước đi sớm nhất trong khối ASEAN về bảo hộ CDĐL, năm 1995, Việt Nam lần đầu tiên đưa ra khái niệm TGXXHH trong BLDS năm

1995 như sau: “TGXXHH là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có cùng tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó” Khái niệm này tương đối phù hợp với Công ước Paris năm 1883 và quy định của pháp luật EU hiện hành

Năm 2000, Việt Nam lần đầu tiên đưa ra khái niệm CDĐL thông qua Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, CDĐL, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN Theo Điều 10 Nghị định này, CDĐL được hiểu là các thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hoá đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

6 Điều 22.1 Hiệp định Trips

Trang 13

+ Thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh, dùng

để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia;

+ Thể hiện trên hàng hoá, bao bì hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hoá nhằm chỉ dẫn ra rằng hàng hoá nói trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hoá này có được chủ yếu do nguồn gốc địa lý tạo nên

Quy định về CDĐL trong Nghị định 54/2000/NĐ-CP đã tương đối phù hợp với những quy định trong Hiệp định Trips Sau đó, để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về

SHTT nói chung và CDĐL nói riêng, Luật SHTT Việt Nam 2005 ra đời, chính thức

quy định khái niệm CDĐL một cách ngắn gọn như sau: “CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”.7 Như vậy, có thể thấy được khái niệm CDĐL theo pháp luật Việt Nam hiện hành mặc dù là khái niệm thuần túy không bao gồm các điều kiện bảo hộ nhưng khái niệm này hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiệp định Trips Ngoài ra, trong khái niệm CDĐL còn bao gồm các quy định về dấu hiệu được bảo hộ và là cơ sở để đưa ra các quy định về điều kiện bảo hộ Do đó, tác giả sẽ đi vào phân tích cụ thể khái niệm này tại Chương 2 khóa luận

1.1.2 Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản

1.1.2.1 Khái niệm hàng nông sản

Trong WTO, hàng hoá được chia làm hai nhóm chính: nông sản và phi nông sản.8

Nông sản được xác định trong Hiệp định Nông nghiệp của WTO là tất cả các sản phẩm được liệt kê từ Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm từ cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống hài hoà hoá mã số thuế Với cách hiểu này, nông sản gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hoá có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:9

+ Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…;

+ Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…;

7

Khoản 22 Điều 4 Luật SHTT Việt Nam 2005

8 Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Hệ thống ngắn gọn về WTO và các cam kết của Việt Nam, tr

3 [http://chongbanphagia.vn/files/1-9%20nong%20nghiep_0.pdf] (truy cập ngày 15/5/2013)

9 Phụ lục 1, Hiệp định Nông nghiệp của WTO năm 1995, nghiep] (truy cập ngày 15/5/2013)

Trang 14

+ Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô… Tại Việt Nam, pháp luật không có định nghĩa cụ thể về nhóm hàng nông sản, do

đó, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này Cụ thể, nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), thuỷ sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp Các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản lại được gộp vào lĩnh vực công nghiệp. 10

Hay tại Hệ thống ngành nghề kinh tế Việt Nam đã liệt kê danh mục các ngành nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp là trồng các cây hàng năm như lúa, ngô, cây lương thực, cây thuốc lá, thuốc lào,…và trồng các cây lâu năm như cây ăn quả, cây cao su, cà phê, cây dược liệu,…11

Tuy nhiên, trong các quan điểm về nông sản, quan niệm phổ biến nhất và được đưa vào

từ điển Tiếng Việt là: nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóa thông qua gây trồng và phát triển của cây trồng Sản phẩm nông nghiệp bao gồm nhiều nhóm hàng thực phẩm, tơ sợi, nhiên liệu, nguyên vật liệu, dược phẩm và ma túy bất hợp pháp (thuốc lá, cần sa) và các sản phẩm độc đáo đặc thù Ngày nay, nông sản còn hàm nghĩa những sản phẩm từ hoạt động làm vườn và thực tế nông sản thường được hiểu là những sản phẩm hàng hóa được làm ra từ tư liệu sản xuất là đất.12

Riêng EU cũng không có định nghĩa cụ thể về nông sản nhưng lại đưa ra danh sách các nhóm hàng được coi là sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm bao gồm: 13

12 [http://vi.wikipedia.org/wiki/N%C3%B4ng_s%E1%BA%A3n] (truy cập ngày 18/5/2013)

13 Danh sách các nhóm hàng nông sản của EU, [http://ec.europa.eu/agriculture/agrista/tradestats/annexes/ annex1.htm] (truy cập ngày 18/5/2013), chi tiết các nhóm hàng được liệt kê tại Phụ lục khóa luận

Trang 15

+ Nhóm thịt động vật thân mềm cá, động vật giáp xác tươi và các sản phẩm

chế biến từ cá

+ Nhóm các loại rau, rễ, củ và thân củ có thể ăn được

+ Phần còn lại và phần bỏ đi từ ngành công nghiệp thực phẩm

+ Thuốc lá và các sản phẩm tương tự

+ Rượu vang, rượu mạnh

+ Và nhóm các sản phẩm khác của WTO không có trong Chương I đến

Chương XXIV

Như vậy, EU đã đưa ra chi tiết các mặt hàng được coi là nông sản Cách hiểu này cũng tương tự với cách hiểu về nông sản của WTO Mặc dù quan niệm về CDĐL của Việt Nam có một số điểm khác biệt với quan niệm của EU và WTO, nhưng vì cả Việt Nam và EU đều là thành viên của WTO, do đó, trong các phần tiếp theo của khóa luận, tác giả sẽ sử dụng khái niệm về nông sản theo quy định của WTO Thông qua danh sách chính thức các mặt hàng nông sản được liệt kê tại Hiệp định nông nghiệp của WTO, việc nghiên cứu nông sản nói chung và các nhóm hàng chính nói riêng trở nên dễ dàng và cụ thể hơn Hơn nữa, như đã đề cập trong phạm

vi nghiên cứu của khóa luận, vì thời gian nghiên cứu có hạn, tác giả sẽ không đề cập đến đối tượng rượu vang, rượu mạnh

1.1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản

(1) Khái niệm bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản

Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều quy định thống nhất CDĐL là một trong các đối tượng bảo hộ SHCN.14

Vì vậy, bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL được xây dựng dựa trên nền tảng các quy định về bảo hộ quyền SHTT Bản chất của bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản là nhằm chứng minh mối liên

hệ giữa nguồn gốc địa lý với chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của sản phẩm Theo đó, không phải mọi sản phẩm mang dấu hiệu CDĐL đều có thể được pháp luật công nhận bảo hộ Chúng phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu đã nêu ở trên mới có thể được bảo hộ Khả năng chỉ ra nguồn gốc xuất xứ của CDĐL chính là nhân tố chính tạo ra sự khác biệt giữa CDĐL với các địa danh thông thường không

Trang 16

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, Hiệp định Trips có hẳn một mục riêng quy định

về bảo hộ CDĐL Trong đó, Hiệp định Trips chú trọng đặc biệt đến những quy định yêu cầu các quốc gia thành viên phải có những biện pháp pháp lý nhằm ngăn ngừa những CDĐL lừa dối, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về xuất xứ thật của hàng hóa và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Ngoài ra, Hiệp định Trips cũng thiết lập một cơ chế thực thi quyền SHTT nói chung và CDĐL nói riêng trên phạm

vi quốc tế

Dưới góc độ pháp luật quốc gia, cũng giống như các đối tượng SHCN khác, nếu việc bảo hộ CDĐL chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền của chủ thể thôi chưa đủ bởi yếu tố quan trọng nhất của CDĐL so với các đối tượng SHCN khác là sự kết hợp của cả ba yếu tố sản phẩm, khu vực địa lý và các yếu tố tạo nên chất lượng Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của bảo hộ CDĐL chính là quản lý được chất lượng

và nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm

Như vậy, có thể hiểu bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL được hiểu là việc Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền và các chủ thể, thông qua hệ thống pháp luật, tiến hành các hoạt động liên quan đến việc xác lập, khai thác, quản lý và bảo vệ các chủ thể chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với CDĐL.15

Trên cơ sở này, việc bảo hộ CDĐL sẽ bao gồm ba nội dung chính sau:

+ Thứ nhất, xác lập quyền của các chủ thể đối với CDĐL và xác định những hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với CDĐL

+ Thứ hai, hoạt động khai thác, quản lý và phát triển các sản phẩm mang CDĐL trong thực tiễn

+ Thứ ba, các biện pháp thực thi quyền SHCN đối với CDĐL

Như đã nêu trong phần phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì thời gian nghiên cứu

có hạn, tác giả sẽ chỉ nghiên cứu việc bảo hộ CDĐL theo quy định của pháp luật của EU và Việt Nam ở phạm vi thứ nhất và thứ hai đã nêu ở trên

(2) Đặc điểm của bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản

Bảo hộ CDĐL đối với hàng nông sản mang các đặc điểm riêng biệt của bảo hộ CDĐL so với các đối tượng SHCN khác như sau:

Thứ nhất, người sử dụng CDĐL không phải là chủ sở hữu CDĐL

15 Lê Thị Thu Hà, Bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế, sách chuyên khảo, Thông tin và truyền thông, TP Hồ Chí Minh (2011), tr 44

Trang 17

Đối với các đối tượng SHCN khác như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,…vì chúng được tạo nên bởi sáng tạo của con người nên tổ chức, cá nhân sáng tạo ra chúng là vừa là chủ sở hữu vừa là chủ thể có quyền sử dụng Tuy nhiên, CDĐL không có tác giả vì nó thực chất không phải là kết quả của sự lao động sáng tạo mà CDĐL là “thông tin về nguồn gốc của sản phẩm” và thông tin này gắn liền với “chất lượng, uy tín, danh tiếng” của sản phẩm – là kết tinh của các điều kiện địa lý tự nhiên với những kinh nghiệm, bí quyết của người sản xuất qua nhiều thế hệ Xuất phát từ quan điểm này và để bảo vệ lợi ích quốc gia, ngăn chặn khả năng tư hữu CDĐL, pháp luật Việt Nam quy định “chủ sở hữu CDĐL của Việt Nam

là chủ sở hữu CDĐL đã nêu ở trên Nhà nước chỉ trao quyền sử dụng cho những nhà sản xuất có những sản phẩm đáp ứng được tiêu chuẩn bảo hộ Do đó, người sử dụng CDĐL không có đầy đủ ba quyền năng như những chủ sở hữu các đối tượng SHCN khác Trong khi đó, đối với các đối tượng SHCN khác như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hay NNHH thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức, chính vì vậy họ có đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu như quyền chuyển nhượng, quyền chuyển giao Các quyền này mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho chủ

sở hữu Bên cạnh đó, mỗi sản phẩm mang CDĐL đều gắn liền với một khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với CDĐL đó và sản phẩm mang CDĐL có danh tiếng, chất lượng, đặc tính chủ yếu do nguồn gốc địa lý tạo nên Vì

Trang 18

vậy, nếu thừa nhận việc chuyển giao quyền sử dụng CDĐL có thể dẫn đến khả năng làm mất đi tính chất đặc thù của CDĐL, không đảm bảo được mối liên hệ giữa chất lượng, danh tiếng, đặc tính của sản phẩm với nguồn gốc của sản phẩm đó

Thứ ba, CDĐL không bị giới hạn thời hạn bảo hộ nếu vẫn đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định

Mối liên hệ giữa chất lượng sản phẩm với các điều kiện địa lý của nguồn gốc

là yếu tố cấu thành CDĐL Nghĩa là nếu sản phẩm duy trì được đặc trưng này thì CDĐL đương nhiên không bị giới hạn thời gian bảo hộ Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam quy định giấy chứng nhận đăng kí CDĐL có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp.18 Như vậy, so với các đối tượng SHCN khác như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,…CDĐL là đối tượng duy nhất được pháp luật quy định bảo hộ vĩnh viễn mà không cần phải gia hạn lại, trong khi đó, các đối tượng kia đều

có thời hạn bảo hộ xác định và có thể được gia hạn lại sau khi hết hiệu lực Tuy nhiên, những điều kiện địa lý không phải là yếu tố bất biến, trong đó, các đặc điểm

tự nhiên có thể thay đổi theo thời gian do tác động của môi trường, còn các phương pháp sản xuất truyền thống cũng có thể bị mai một nếu không được bảo lưu và kế thừa, do đó CDĐL có thể bị chấm dứt bảo hộ trong trường hợp các điều kiện địa lý tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của nông sản mang CDĐL bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của nông sản đó.19

Thứ tư, việc bảo hộ tại nước xuất xứ là điều cốt lõi, là nền tảng cho việc tồn tại và bảo hộ các CDĐL

Việc bảo hộ tại nước xuất xứ là điều kiện tiên quyết cho sự bảo hộ trên phạm

vi quốc tế Bởi về mặt lý luận, muốn bảo hộ CDĐL thì phải xác định được nguồn gốc, chất lượng đặc tính của nông sản Đối với việc CDĐL ở nước ngoài thì việc xác định vị trí rất khó khăn, vì vậy để đảm bảo tính trung thực của sản phẩm thì trước khi đăng kí ở nước khác thì phải được bảo hộ tại chính nước xuất xứ

1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản 1.2.1 Cơ sở lý luận

CDĐL không phải là một sản phẩm sáng tạo từ bất kì cá nhân, tổ chức nào Do

đó, bảo hộ CDĐL chỉ là sự công nhận các tên khu vực địa lý đã có sẵn tương ứng với sản phẩm đặc thù của khu vực địa lý đó Vậy, tại sao CDĐL lại được bảo hộ

Trang 19

như một trong các đối tượng của quyền SHTT? Vấn đề này sẽ được giải thích bởi các cơ sở lý luận sau:

Thứ nhất, bảo hộ CDĐL dựa trên nền tảng của lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information)

Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất

hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế.20 Lý thuyết này đưa ra giả thuyết rằng trong điều kiện thông tin đối xứng, các bên trong giao dịch nắm thông tin ngang nhau và đầy đủ về thứ được giao dịch Khi đó, người ta có thể tìm được thứ tốt hoặc thứ tương xứng với những gì mà họ

đã bỏ ra Nhưng trong điều kiện thông tin bất cân xứng, nghĩa là một bên trong giao dịch có ưu thế về thông tin hơn dẫn đến kết quả là bên có ít thông tin có thể có

những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch

Lý thuyết thông tin bất cân xứng trên đã tác động mạnh mẽ đến nhu cầu bảo hộ CDĐL Cụ thể, nước mắm Phú Quốc được sản xuất ở tận đảo Phú Quốc với những nguyên liệu và quy trình sản xuất đặc biệt, do đó, nước mắm có đạt được chất lượng

và tiêu chuẩn hay không thì rõ ràng chỉ chính nhà sản xuất ra sản phẩm đó mới biết được Ví dụ này đã cho thấy sự bất cân xứng thông tin giữa người bán và người mua Chỉ những nhà sản xuất trong khu vực mới biết chính xác được về chất lượng

và đặc tính của sản phẩm, có nghĩa là họ đứng ở vị trí nắm bắt rõ thông tin Còn người tiêu dùng đứng ở vị trí ngược lại, không phân biệt được sản phẩm nào được sản xuất ở khu vực địa lý nói trên và sản phẩm nào thực sự đạt được chất lượng và danh tiếng Rõ ràng trong trường hợp này, nếu các nhà sản xuất chân chính trong khu vực đó không thông báo cho công chúng biết mối liên hệ giữa khu vực địa lý với chất lượng, danh tiếng của sản phẩm thì sẽ tạo nên sự bất cân xứng thông tin và

có thể dẫn hệ quả:

+ Trường hợp 1: người tiêu dùng không có những thông tin xác thực, đầy

đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa, hậu quả là người sản xuất bị thiệt hại và không có động lực để sản xuất hoặc cung cấp những hàng hóa có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường để đảm bảo lợi nhuận

20

[http://www.vietfin.net/asymmetric-information-thong-tin-bat-can-xung/] (truy cập ngày 19/6/2013)

Trang 20

+ Trường hợp 2: Một số nhà sản xuất ở khu vực khác có thể nảy sinh những hành vi gian lận bằng cách lừa dối người tiêu dùng rằng sản phẩm của họ được sản xuất tại khu vực địa lý đó, có chất lượng và danh tiếng cũng nhờ vào nguồn gốc địa

lý của sản phẩm Điều này dẫn đến tình trạng người tiêu dùng phải trả giá cao nhưng mua phải sản phẩm không như mong muốn Hơn thế nữa, các nhà sản xuất trong khu vực địa lý có thể không còn động lực tiếp tục sản xuất sản phẩm chất lượng cao nữa vì mặc dù họ phải bỏ nhiều chi phí hơn, quy trình sản xuất phức tạp hơn nhưng sản phẩm cũng chỉ được bán ngang với giá các sản phẩm thông thường khác

Như vậy, bảo hộ CDĐL sẽ giải quyết vấn đề mất cân bằng thông tin giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Về phía các nhà sản xuất, bảo hộ CDĐL là cách thức hiệu quả nhất để truyền đạt trung thực các thông tin từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng, từ đó người tiêu dùng nắm được những thông tin chính xác về chất lượng sản phẩm mang CDĐL trước khi quyết định mua sản phẩm Còn về phía người tiêu dùng, chính những thông tin về sự khác biệt của sản phẩm CDĐL là cơ sở để họ không bị lừa dối bởi các nhà sản xuất không trung thực và mua được sản phẩm đúng chất lượng như mong muốn

Thứ hai, bảo hộ CDĐL có thể giúp gia tăng giá trị sản phẩm

Những sản phẩm mang CDĐL là những sản phẩm điển hình có chất lượng được

hình thành bởi các yếu tố tự nhiên và yếu tố con người của khu vực địa lý Những

yếu tố này mang tính chất đặc trưng riêng có, nhiều khi là cá biệt không nơi nào có được Khi CDĐL được bảo hộ về mặt pháp lý sẽ tôn vinh và chứng tỏ một đẳng cấp

về chất lượng của sản phẩm mang CDĐL Nhìn vào CDĐL, người tiêu dùng liên tưởng ngay đến nguồn gốc của sản phẩm là một khu vực địa lý nhất định, bởi sự xuất phát từ khu vực địa lý này quyết định đến sự đánh giá và cảm nhận của người

sử dụng sản phẩm mang CDĐL Do đó, họ sẵn sàng trả giá cao hơn để được sử dụng sản phẩm chất lượng này Chính vì vậy, bảo hộ CDĐL còn giúp gia tăng giá trị sản phẩm, đem lại động lực và lợi nhuận để người sản xuất tiếp tục sản xuất Cụ thể, giá pho mát Comté chỉ cao hơn 20% giá pho mát của vùng tiếp giáp Emmental (không được gắn CDĐL) vào năm 1993, và đến năm 2003, sự chênh lệch này tăng lên 46% Hay giá cả thị trường cho thịt gà Bresse tại Pháp luôn cao hơn 4 lần so với giá thịt gà không được bảo hộ CDĐL.21

21 International Trade Center, Guide to Geographical Indications (Hướng dẫn chỉ dẫn địa lý), Geneva 2009,

tr 29

Trang 21

Thứ ba, bảo hộ CDĐL hỗ trợ cho việc bảo hộ các chỉ dẫn thương mại khác như nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại

Để chỉ ra nguồn gốc của sản phẩm trên thị trường có thể có nhiều cách khác

nhau như sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, CDĐL Tên thương mại là

tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chính bản thân doanh nghiệp mang tên gọi đó với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Còn NHHH là những dấu hiệu bất kì giúp phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác

Khi đưa nông sản vào thị trường, CDĐL được sử dụng cho các sản phẩm của nhiều doanh nghiệp trên cùng khu vực sản xuất Vì vậy, nó sẽ không còn mang tính phân biệt cao Để có thể phân biệt chính những doanh nghiệp cùng được sử dụng CDĐL, tên thương mại và NHHH là dấu hiệu phân biệt giúp người tiêu dùng phân biệt được các sản phẩm mang CDĐL của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác

Do đó, CDĐL, tên thương mại và NHHH có thể kết hợp và thực hiện những chức năng hỗ trợ nhau chỉ ra nguồn gốc sản phẩm Cụ thể, nhìn vào CDĐL, người tiêu dùng an tâm các sản phẩm mà họ sắp lựa chọn là các sản phẩm có chất lượng và đặc tính đặc trưng, nhìn vào tên thương mại hay NHHH, người tiêu dùng nhận biết được các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mang CDĐL, đồng thời chọn lựa được ngay các sản phẩm của các doanh nghiệp mà mình tin tưởng hay sử dụng quen thuộc Chính vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mang CDĐL luôn kết hợp NHHH và CDĐL trên sản phẩm đưa ra thị trường như NHHH nước mắm Phú Quốc Hồng Hạnh, nước mắm Phú Quốc Việt Hương Riêng đối với các doanh nghiệp ở khu vực có CDĐL và được quyền sử dụng CDĐL, người ta thường không sử dụng địa danh trong tên thương mại nữa mà dùng các dấu hiệu có tính phân biệt cao hơn

Ví dụ, các doanh nghiệp sản xuất thanh long Bình Thuận thường không sử dụng địa danh Bình Thuận nữa mà dùng tên riêng như Công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng

Hậu, Doanh nghiệp tư nhân Phương Giảng,…

Thứ tư, bảo hộ CDĐL do tác động của xu thế toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa đã trở thành xu thế chung của thế giới, do đó, muốn phát triển, các quốc gia không thể đứng ngoài cuộc chơi Để bắt kịp xu thế này, Việt Nam phải chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường với nền kinh tế khu vực và thế giới Nếu như trước đây, CDĐL chủ yếu được dùng để bảo hộ cho các sản phẩm rượu vang và rượu mạnh ở miền nam châu Âu thì hiện nay, việc sử dụng CDĐL đã vượt ra xa khỏi các các nước này Các quốc gia đang phát triển thể hiện mối quan tâm ngày

Trang 22

càng lớn đối với việc đưa các sản phẩm của mình thâm nhập vào thị trường thông qua việc sử dụng các CDĐL như Gạo Basmati, Chè Darjeeling,… Kể từ khi Hiệp định Trips có hiệu lực, số lượng sản phẩm mang CDĐL được đăng kí bảo hộ trên thế giới không ngừng gia tăng Trong thị trường xuất khẩu, CDĐL sẽ phát huy vai trò của mình một cách mạnh mẽ nhất Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật

về bảo hộ CDĐL của Việt Nam vừa nhằm mục đích hài hòa hóa pháp luật với xu thế chung của thế giới vừa nhằm nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường nước ngoài Tuy nhiên, cũng như các quốc gia nông nghiệp khác, những thách thức mà nông sản Việt Nam phải đối mặt bao gồm:

+ Thứ nhất, các thách thức tồn tại ở ngay trong nội tại quốc gia: chính sách kinh tế chưa bắt kịp với xu thế chung, hệ thống pháp luật về bảo hộ CDĐL chưa chặt chẽ, phương thức sản xuất lạc hậu, năng suất thấp, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều

+ Thứ hai, các thách thức về hàng rào đặc điểm kĩ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, pháp luật của quốc gia nhập khẩu khi Việt Nam xuất khẩu nông sản, trong đó phải kể đến Hoa Kì và EU là hai thị trường tiềm năng nhưng cũng khắt khe nhất trên thế giới hiện nay

+ Thứ ba, sức ép cạnh tranh gay gắt đến từ các sản phẩm của các quốc gia

có điều kiện địa lý tương đồng với Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia,… Nông sản ở các quốc gia này có tính cạnh tranh cao, do đó, không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay trên thị trường trong nước, nếu Việt Nam không kịp thời đưa ra các chính sách cho hàng nông sản phù hợp với tình hình thì một số mặt hàng nông sản sẽ không những có nguy cơ thua trên thị trường quốc tế mà còn có thể thua ngay tại trong nước

Chính vì những thách thức này và vì pháp luật về bảo hộ CDĐL được xây dựng theo nguyên tắc lãnh thổ, CDĐL muốn được bảo hộ tại nước nào thì phải đăng kí tại nước đó, vì vậy, Việt Nam phải không ngừng tự hoàn thiện pháp luật quốc gia về vấn đề này để bảo hộ và giải quyết các tranh chấp về CDĐL một cách hiệu quả

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Ngoài các cơ sở về mặt lý luận, yêu cầu cần phải bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản còn xuất phát từ những cơ sở thực tiễn, đây chính là các lý do trong thực tế đòi hỏi phải bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, cụ thể bao gồm các lý do sau đây:

Trang 23

Thứ nhất, Việt Nam là quốc gia có thế mạnh và tiềm năng to lớn về nông sản

Sản phẩm nông nghiệp thường có các tính chất gắn liền với vị trí sản xuất và chịu ảnh hưởng của cụ thể địa phương, các yếu tố địa lý như khí hậu và đất Do đó, không ngạc nhiên khi đa số bảo hộ CDĐL trên khắp thế giới áp dụng cho nông sản, thực phẩm hay rượu vang, rượu mạnh Trong khi đó, nước ta có đặc thù là một nước nông nghiệp có khí hậu nhiệt đới ôn hòa, cây trái xanh tươi và những người nông dân tài hoa, cần cù chịu khó, sinh sống ở khắp các vùng quê truyền thống đã tạo nên những nông sản chất lượng, trải dọc chiều dài đất nước như chè Thái Nguyên, gạo Hải Hậu, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, thanh long Phan Thiết, xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn,…Theo thống kê, Việt Nam có đến 993 sản phẩm nông sản đặc thù gắn với 721 địa danh trên cả nước.22

Như vậy, tiềm năng nông sản của nước

ta khá lớn Hầu như mỗi địa phương, vùng, miền đều có sản phẩm đặc trưng, đem lại nguồn thu nhập cao cho người dân Chính vì vậy, CDĐL là cơ hội có một không hai để gắn tên địa danh trực tiếp lên sản phẩm, nhờ đó mang lại sự bảo hộ hợp pháp cho sản phẩm không chỉ trong nước mà còn ở các nước khác trên thế giới Hơn nữa, Việt Nam lại là một quốc gia có truyền thống nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm nền kinh tế chủ đạo Vì lẽ đó, việc bảo hộ CDĐL không những giúp phát huy thế mạnh của đất nước mà còn khuyến khích người dân duy trì và phát triển nông nghiệp Bảo

hộ CDĐL cho hàng nông sản đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng bởi dù là nước nghèo hay nước giàu, nông nghiệp đều chiếm vị trí quan trọng, sản xuất ra vật chất chủ yếu của nền kinh tế và cung cấp thực phẩm cho con người tồn tại

Thứ hai, bảo hộ CDĐL giúp người tiêu dùng phân biệt được các sản phẩm thực sự chất lượng với các sản phẩm thông thường khác

Bảo hộ CDĐL sẽ khắc hoạ hình ảnh sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng, đồng thời hạn chế các sản phẩm thông thường mạo danh CDĐL đưa ra các đặc tính sản phẩm không rõ ràng nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng Do đó, nếu sản phẩm không được bảo hộ CDĐL, người tiêu dùng sẽ khó có thể phân biệt được nó với các sản phẩm thông thường khác Thực tế, rất nhiều sản phẩm mặc dù chưa được bảo hộ CDĐL nhưng đã tạo được danh tiếng trên thị trường nhưng vì không bảo hộ CDĐL nên bị chỉ dẫn sai lệch bởi rất nhiều doanh nghiệp không trung thực Người tiêu dùng bỏ ra khoản chi phí với mong muốn mua được sản phẩm có chất

22

[http://vaas.vn/news_print.asp?newsID=NEW_110710034609] (truy cập ngày 22/6/2013)

Trang 24

lượng đặc thù, trong khi trên thực tế họ lại nhận được sản phẩm không như mong muốn Chính điều này làm người tiêu dùng khi đứng trước các sản phẩm cùng loại luôn phải băn khoăn nên chọn lựa mua sản phẩm nào Do đó, để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, bảo hộ CDĐL là cách hữu hiệu nhất để giúp họ dễ dàng và nhanh chóng lựa chọn được các sản phẩm như mong muốn

Như vậy, thông qua việc phân tích các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản, tác giả đã chỉ ra các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn yêu cầu phải bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản Từ đó, có thể xác định hiện nay bảo hộ CDĐL cho hàng nông sản là một công cụ mang tính quyết định để phát triển

và khẳng định chất lượng của nông sản Việt Nam trên toàn thế giới

1.3 Phân biệt chỉ dẫn địa lý với một số chỉ dẫn thương mại khác

1.3.1 Phân biệt với chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ

Căn cứ vào các quy định về CDĐL trong các ĐƯQT, tác giả rút ra những so sánh sau về CDĐL với chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ như sau:

Bảng so sánh CDĐL với Chỉ dẫn nguồn gốc và Tên gọi xuất xứ

- Chỉ dẫn nguồn

gốc không có khái niệm cụ thể, được hiểu là bất kỳ dấu hiệu hay cách thức thể hiện nào dùng

để chỉ dẫn ra rằng một hàng hoá có nguồn gốc từ một quốc gia, một khu

- TGXX được hiều là tên địa lý của một nước, một vùng hay một địa điểm cụ thể xác định một sản phẩm có nguồn gốc chính tại nơi có điều kiện địa độc đáo và cần thiết để tạo chất lượng đặc trưng của

Trang 25

tiếng hay các đặc tính khác của sản phẩm chủ yếu do nguồn gốc địa lý này

mang lại

vực hay một nơi cụ thể.23

sản phẩm, bao gồm các yếu tố tự nhiên và con người.24

Dấu hiệu

bảo hộ - Là dấu hiệu bất kì - Là dấu hiệu bất kì - Là tên địa lý

Chức năng

- Chỉ dẫn về xuất xứ của sản phẩm

- Chỉ dẫn sản phẩm đến từ một khu vực địa lý đặc biệt

- Chỉ dẫn về xuất

xứ của sản phẩm

- Chỉ dẫn về xuất xứ của sản phẩm

- Chỉ dẫn sản phẩm đến từ một khu vực địa lý đặc biệt

Yêu cầu đối

với sản

phẩm

- Sản phẩm phải có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định

- Không yêu cầu điều kiện về chất lượng hoặc danh tính của sản phẩm

- Sản phẩm phải có chất lượng hoặc tính chất đặc thù

- Tất cả các khâu của quy trình sản

không nhất thiết phải diễn ra tại khu vực địa lý mà sản phẩm mang tên

- Không cần có mối liên hệ giữa chất lượng với khu vực địa lý

- Có mối liên hệ chặt chẽ giữa đặc tính, chất lượng của sản phẩm với khu vực địa lý (bao gồm cả yếu tố tự nhiên và yếu tố con người)

- Cả nguyên liệu sản xuất và sản phẩm đều phải được làm ra từ một vùng lãnh thổ nhất định

23 Hiểu theo tinh thần từ Điều 1 đến Điều 7 Công ước Paris 1883

24 Thoả ước Lisbon 1958, Điều 2.1, [http://www.wipo.int/lisbon/en/legal_texts/lisbon_agreement.html]

Trang 26

Tóm lại, khi so sánh ba thuật ngữ này, có thể nhận thấy chỉ dẫn nguồn gốc là thuật ngữ có nghĩa rộng nhất, nghĩa là về mặt nguyên tắc các yêu cầu bảo hộ ít nhất

và đơn giản nhất Trong khi đó, bảo hộ theo tên gọi xuất xứ là khắt khe và chặt chẽ nhất, vì nó không chỉ đòi hỏi toàn bộ quy trình sản xuất sản phẩm phải trong địa khu vực địa lý xác định mà còn đỏi hỏi chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó phải được tạo nên bởi cả yếu tố tự nhiên và yếu tố con người của khu vực địa lý Riêng đối với CDĐL, đây là thuật ngữ được hiểu một cách rộng nhất cũng như được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Đối với CDĐL, mối liên hệ giữa chất lượng sản phẩm với khu vực địa lý không nhất thiết phải nổi trội, quan trọng nhất là sản phẩm phải

có danh tiếng, chất lượng gắn với khu vực địa lý đó và được người tiêu dùng tín nhiệm CDĐL được xem là thuật ngữ phù hợp nhất bởi CDĐL thực sự đảm bảo được chức năng chỉ dẫn nguồn gốc sản phẩm và cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm xuất phát từ khu vực địa lý đó

1.3.2 Phân biệt với nhãn hiệu hàng hoá

Như đã nêu ở trên, CDĐL là dấu hiệu giúp chỉ dẫn nguồn gốc sản phẩm gắn liền với danh tiếng, chất lượng cũng như các đặc tính khác của sản phẩm do chính nguồn gốc địa lý đó mang lại Còn NHHH là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.25 Như vậy, cả CDĐL và NHHH đều là các chỉ dẫn thương mại có chức năng thông tin về nguồn gốc sản phẩm, giúp phân biệt với sản phẩm cùng loại trên thị trường, quyền SHCN đối với CDĐL và NHHH đều được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền thông qua thủ tục đăng kí và đều được sử dụng để lại việc sử dụng bất hợp pháp Bên cạnh các điểm giống nhau này, CDĐL và NHHH đều có những điểm khác biệt rõ ràng

Thứ nhất, sự khác biệt ở các dấu hiệu cấu thành CDĐL và NHHH NHHH là

sản phẩm tạo ra bởi sự sáng tạo của con người nên các dấu hiệu được hình thành tùy theo ý tưởng của người sáng tạo và có thể là bất kì dấu hiệu nào miễn nó có khả năng phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác, trong khi đó, CDĐL chỉ có thể là tên địa lý hoặc các dấu hiệu chỉ ra được nguồn gốc xuất xứ sản phẩm

Thứ hai, CDĐL và NHHH khác nhau chức năng sử dụng Mặc dù đều có chức

năng chỉ dẫn nguồn gốc của sản phẩm nhưng chức năng của CDĐL là chỉ dẫn khu vực địa lý xuất xứ của sản phẩm Trong khi đó, NHHH được sử dụng chủ yếu để chỉ ra nhà sản xuất ra sản phẩm, giúp người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm của

25

Điều 4, Khoản 16, Luật SHTT Việt Nam 2005

Trang 27

doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác Hơn nữa, CDĐL chỉ ra nguồn gốc sản phẩm gắn liền với chất lượng, danh tiếng do khu vực địa lý đó mang lại còn các dấu hiệu được bảo hộ dưới hình thức NHHH chủ yếu nhằm phân biệt với một sản phẩm hay dịch vụ khác trên thị trường Nó không hề có sự bảo đảm về mặt chất lượng hay các đặc tính cơ bản của sản phẩm gắn liền với nơi xuất xứ

Thứ ba, CDĐL và NHHH còn khác nhau ở đối tượng áp dụng CDĐL chỉ áp

dụng đối với hàng hóa, còn NHHH có thể được sử dụng cho cả hàng hóa lẫn dịch

vụ Theo Bách khoa toàn thư mở thì dịch vụ, trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất ví dụ như thương mại, tài chính, du lịch,…26

Do đó, đương nhiên với vai trò bảo hộ nguồn gốc sản phẩm và chất lượng đặc thù của sản phẩm gắn liền đặc điểm khu vực địa lý, CDĐL không thể được áp dụng đối với dịch vụ

Thứ tư, sự khác biệt về tính chất sở hữu và các quyền của chủ thể CDĐL

không phải là tài sản riêng của một cá nhân, tổ chức cụ thể nào trong khi đó, chỉ có

một một cá nhân hay một tổ chức có quyền sở hữu NHHH Chính vì vậy mà CDĐL

không thể chuyển nhượng được trong khi đó việc chuyển nhượng NHHH mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho chủ sở hữu chúng Bên cạnh đó, CDĐL thuộc sở hữu Nhà nước nên chủ thể được giao quyền sử dụng không có quyền chuyển giao CDĐL

Thứ năm, về thời hạn bảo hộ Bảo hộ NHHH là bảo hộ có hạn định, nghĩa là

nhãn hiệu được bảo hộ từ khi đăng ký bảo hộ nhưng người sở hữu nó phải định kỳ đăng ký lại (thường là sau 10 năm) Trong khi đó, CDĐL thuộc quyền sở hữu tập thể trên cơ sở phải tuân thủ các quy trình kỹ thuật bắt buộc được xác định đối với mỗi tên gọi được bảo hộ Quyền này là vô thời hạn nếu sản phẩm luôn đáp ứng các

điều kiện bảo hộ

Như vậy, CDĐL và NHHH có nhiều điểm khác biệt cơ bản Tuy nhiên, giữa NHHH và CDĐL thường xảy ra mối xung đột xuất phát từ lợi ích kinh tế của CDĐL Các doanh nghiệp đều muốn tận dụng lợi thế kinh tế này nên đã sử dụng các dấu hiệu trong CDĐL để làm NHHH cho nông sản của mình Do đó, để giải quyết mối xung đột này, Luật SHTT Việt Nam 2005 đã quy định các biện pháp ngăn chặn việc tư hữu hóa các CDĐL bằng cách đăng kí NHHH bởi vì khi CDĐL bị tư hữu hóa bằng việc đăng kí NHHH, chủ sở hữu NHHH này sẽ được độc quyền sử dụng

và vì thế sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác Ngăn

26

[https://vi.wikipedia.org/wiki/D%E1%BB%8Bch_v%E1%BB%A5] (truy cập ngày 15/6/2013)

Trang 28

chặn việc tư hữu hóa CDĐL được pháp luật thể hiện ở hai dạng: ngăn chặn trước và

ngăn chặn sau

Ngăn chặn trước việc tư hữu hóa CDĐL bằng việc đăng kí NHHH là ngăn chặn việc đăng kí NHHH khi dấu hiệu đó đáp ứng tiêu chuẩn của CDĐL, theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT 2005, nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu là “dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận dưới danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng kí dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận” Trong trường hợp này, người nộp đơn đã sử dụng dấu hiệu là CDĐL làm NHHH Nhờ vào quy định trên của pháp luật nên đã loại trừ khả năng bảo hộ NHHH vì nó

bị coi là không có khả năng phân biệt Tuy nhiên, vẫn có trường hợp ngoại lệ

“CDĐL có thể được bảo hộ dưới hình thức NHHH nếu nó được thừa nhận rộng rãi

là nhãn hiệu hoặc được đăng kí dưới dạng nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận”27

bởi việc đăng kí này không đem lại quyền tư hữu CDĐL cho bất kì cá nhân,

tổ chức nào mà vẫn bảo đảm đem lại lợi ích cho cả cộng đồng Quy định này cho thấy nếu một dấu hiệu xứng đáng được bảo hộ dưới dạng CDĐL thì việc sử dụng dấu hiệu đó để đăng kí NHHH là không được chấp nhận

Ngăn chặn sau việc tư hữu hóa CDĐL bằng việc đăng kí NHHH là ngăn chặn việc đăng kí NHHH khi dấu hiệu đó đã được bảo hộ dưới dạng CDĐL Điểm l Khoản 2 Điều 74 quy định nhãn hiệu cũng bị coi là không có khả năng phân biệt và

bị từ chối đăng kí nếu “dấu hiệu này trùng hoặc tương đương với CDĐL đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai về nguồn gốc hàng hóa” Quy định này là rất phù hợp vì nếu dấu hiệu đó được đăng kí NHHH thì sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng, uy tín của nông sản mang CDĐL và dễ gây

ra nhầm lẫn cho người tiêu dùng

Tóm lại, bằng các quy định này, việc dùng các CDĐL để đăng ký làm NHHH độc quyền bị hạn chế và hầu như không thể xảy ra với các CDĐL của Việt Nam

1.3.3 Phân biệt với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận

Nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận là một dạng NHHH đặc biệt, có

nhiểu điểm tương đồng với CDĐL, có thể được sử dụng bởi nhiều nhà sản xuất khác nhau, đều có khả năng nêu lên nguồn gốc địa lý đặc biệt của sản phẩm Hơn nữa, trong đời sống hằng ngày, cả ba đều được sử dụng rất phổ biến trên hàng hóa

27

Điểm đ Khoản 1 Điều 74 Luật SHTT Việt Nam 2005

Trang 29

chính vì vậy dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Do đó, sau đây, tác giả đi vào phân biệt CDĐL với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận Vì là một dạng đặc biệt của NHHH nên nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận cũng có một số điểm khác biệt khi so sánh với CDĐL giống với NHHH như: đối tượng áp dụng, thời hạn bảo hộ, các quyền của chủ thể

Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các

thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.28

Nhãn hiệu tập thể có hai

đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, chức năng của nhãn hiệu tập thể là chỉ ra mối liên hệ

giữa hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu tập thể với hiệp hội là chủ nhãn hiệu đó;

Thứ hai, bản thân hiệp hội không sử dụng nhãn hiệu này mà chỉ có thành viên của

nó sử dụng Hiện nay ở nước ta, có nhiều sản phẩm nông sản gắn với địa danh được bảo hộ theo hình thức nhãn hiệu tập thể như: sầu riêng Ngũ Hiệp, vú sữa Lò Rèn,… Các nhãn hiệu tập thể này đã chỉ ra được nguồn gốc địa lý gắn với chất lượng, đặc tính của sản phẩm Tuy nhiên, cũng có rất nhiều nhãn hiệu tập thể không sử dụng để chỉ ra nguồn gốc sản phẩm như nhãn hiệu tập thể thuốc lá “Vinataba” Đây là một nhãn hiệu tập thể được sử dụng bởi các công ty sản xuất thuốc lá thuộc Tổng công

ty thuốc lá Việt Nam Nhãn hiệu tập thể này không cho chúng ta biết sản phẩm thuốc lá được sản xuất tại địa phương nào và chất lượng của nó ra sao Như vậy, nhãn hiệu tập thể không phải luôn chỉ ra nơi xuất xứ của sản phẩm cũng như luôn đảm bảo sản phẩm có những đặc trưng về chất lượng như CDĐL

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức,

cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.29

Nhãn hiệu chứng nhận có hai đặc điểm cơ

bản sau: Thứ nhất, chức năng của nhãn hiệu chứng nhận là đưa ra một đảm bảo rằng

sản phẩm, dịch vụ mang nhãn thoả mãn một tiêu chuẩn nhất định hoặc có một chất

lượng đặc biệt; Thứ hai, chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận không sử dụng nhãn hiệu

đó cho sản phẩm của mình mà chỉ cấp giấy phép sử dụng cho các doanh nghiệp khác và đảm bảo rằng sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận có một chất lượng đúng như đã được chứng nhận Như vậy, nhãn hiệu chứng nhận mặc dù có sự đảm

Trang 30

bảo về chất lượng của sản phẩm nhưng không phải nhãn hiệu chứng nhận nào cũng chỉ nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm đó Ví dụ, nhãn hiệu chứng nhận “V Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn” được Cục SHTT cấp văn bằng bảo hộ từ ngày 12/05/2009 Trong khi đó, CDĐL luôn cho biết nguồn gốc xuất xứ, những đặc trưng về chất lượng cũng như danh tiếng của sản phẩm mang CDĐL

1.4 Các hình thức bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho hàng nông sản

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều là thành viên của WTO, do đó, các quốc gia đều chịu sự điều chỉnh của Hiệp định Trips, trong đó, đối với vấn đề bảo hộ CDĐL, Hiệp định Trips không áp đặt một hình thức bảo hộ chung nào cho các quốc gia thành viên mà để cho các quốc gia tự quyết định hình thức bảo hộ đối với CDĐL Điển hình như EU, vì nơi đây có rất nhiều sản phẩm đặc thù nổi trội do

đó EU rất xem trọng CDĐL và xây dựng hẳn các quy định pháp luật CDĐL để bảo

hộ nguồn gốc sản phẩm Ngược lại, Hoa Kì không thừa nhận CDĐL do đó không có khái niệm CDĐL trong hệ thống pháp luật Hoa Kì mà ở đây, nguồn gốc của sản phẩm được bảo hộ bằng hình thức nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận Mặc dù vậy, các quốc gia xây dựng quy định pháp luật CDĐL vẫn tồn tại các quy định về nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và cho phép lựa chọn bảo hộ nguồn gốc sản phẩm bằng một trong ba hình thức sau: CDĐL hoặc nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận

Như vậy, hiện nay trên thế giới, có ba hình thức chủ yếu được áp dụng để bảo hộ nguồn gốc của sản phẩm là bảo hộ bằng quy định CDĐL hoặc bảo hộ bằng quy định về nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận Ngoài ra, để công tác bảo

hộ nguồn gốc địa lý sản phẩm diễn ra hiệu quả, các quốc gia trên thế giới thường kết hợp với các quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh Do đó, mặc dù không phải là một trong những hình thức bảo hộ nguồn gốc địa lý sản phẩm nhưng tác giả vẫn đưa ra nghiên cứu vì nó nhằm hỗ trợ cho các hình thức bảo hộ nguồn

gốc địa lý của sản phẩm Số liệu thống kê cho thấy, trong số 167 quốc gia trên thế

giới bảo hộ CDĐL như là một bộ phận của sở hữu trí tuệ, 111 quốc gia (bao gồm 27 nước thuộc Liên minh châu Âu) có hệ thống pháp luật bảo hộ CDĐL và có 56 quốc gia sử dụng hệ thống pháp luật nhãn hiệu thương mại hoặc sử dụng kết hợp với pháp luật về CDĐL để bảo hộ.30

Trang 31

1.4.1 Bảo hộ bằng quy định pháp luật về chỉ dẫn địa lý

Bảo hộ CDĐL bằng quy định pháp luật về CDĐL là hình thức bảo hộ dựa trên

những quy định của pháp luật quy định cụ thể về bảo hộ CDĐL bao gồm khái niệm CDĐL, các điều kiện bảo hộ, thủ tục đăng kí bảo hộ, cơ chế kiểm soát,…dành cho

đối tượng này

Pháp luật riêng về CDĐL ra đời sớm nhất và phát triển tập trung ở khu vực châu Âu như Pháp, Tây Ban Nha, Italy,… Ưu tiên bảo hộ và đề cao sản phẩm mang tính địa phương, các quốc gia này bảo hộ CDĐL như một loại quyền tập thể tạo thành một phần tài sản quốc gia Quyền này thuộc về tất cả các nhà sản xuất trong vùng địa lý và không thể mất đi hiệu lực nếu sản phẩm vẫn luôn đảm bảo được các điều kiện bảo hộ

Trên thực tế, các quy định pháp luật về CDĐL ở các quốc gia khác nhau có thể được tiếp cận khác nhau về hình thức và phạm vi bảo hộ, dẫn đến nhiều trường hợp, một số chỉ dẫn nhất định được bảo hộ tại nước này nhưng lại không được công nhận

ở nước khác Ví dụ, Feta và Champagne được bảo hộ tại EU nhưng không được bảo

hộ tại Hoa Kỳ-nơi chỉ dẫn đó đã được sử dụng dưới dạng tên gọi chung của một loại sản phẩm.31

Xu thế hiện nay đang ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn xây dựng pháp luật bảo hộ cho CDĐL theo hình thức này vì các lý do sau:

+ Thứ nhất, do yêu cầu hoàn thiện pháp luật SHTT để tương thích với quy định của Hiệp định Trips Xây dựng một hệ thống bảo hộ riêng cho CDĐL sẽ tránh được sự sửa chữa, chắp vá, gượng ép đối với pháp luật cũ

+ Thứ hai, những quốc gia có ưu thế về các sản phẩm nông nghiệp như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan,…xuất phát từ nhu cầu bảo hộ cho các sản phẩm quốc gia là thế mạnh của mình nên để nâng cao hiệu quả bảo hộ và tính cạnh tranh cho sản phẩm thì cần lựa chọn hình thức này

+ Thứ ba, mặc dù hệ thống đăng kí nhãn hiệu cũng tạo ra nhiều thuận lợi cho việc bảo hộ CDĐL nhưng việc bảo hộ CDĐL theo pháp luật riêng sẽ tạo ra ưu thế như: không phụ thuộc vào nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên”, CDĐL sẽ trở thành tài sản chung của những người sản xuất tại khu vực tương ứng,…

31

International Trade Center, xem chú thích số 14, tr 5

Trang 32

Ở Việt Nam, hiện nay, tất cả các vấn đề liên quan đến SHTT đều được quy định chung trong Luật SHTT Việt Nam 2005, trong đó, mỗi đối tượng của SHTT lại được quy định tại một phần riêng và CDĐL được quy định tại Mục 6 thuộc Chương VII, Phần thứ ba của luật này Do đó, có thể khẳng định Việt Nam đang áp dụng hình thức bảo hộ bằng các quy định pháp luật về CDĐL

1.4.2 Bảo hộ bằng quy định pháp luật nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận

Mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận khác nhau về CDĐL, do đó, có một số quốc gia không thừa nhận CDĐL và chỉ cho phép bảo hộ nguồn gốc sản phẩm dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận, tuy nhiên, cũng có rất nhiều quốc gia như EU, Trung Quốc, Việt Nam,…cho phép lựa chọn một trong ba hình thức này để bảo hộ nguồn gốc xuất xứ và chất lượng đặc thù của sản phẩm Bên cạnh đó, cần lưu ý nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận được đề cập tại đây là những nhãn hiệu chỉ ra tên khu vực, vùng lãnh thổ hay tên quốc gia tương ứng với nguồn gốc của sản phẩm bởi trong trường hợp này, nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận mới mang vai trò chỉ dẫn nguồn gốc sản phẩm giống như CDĐL

Trong khuôn khổ thực thi nghĩa vụ pháp lý quốc tế theo Hiệp định Trips, Hoa

Kì đã lựa chọn mô hình bảo hộ CDĐL thông qua hệ thống pháp luật hiện hành về nhãn hiệu với các sửa đổi và bổ sung cho phù hợp với các quy định tối thiểu của Hiệp định này Do đặc điểm của các CDĐL ở Hoa Kì không quá đặc thù và độc đáo tới mức không thể tìm thấy các sản phẩm tương tự ở địa phương khác, nên Hoa Kì

đã lựa chọn hình thức bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận nhằm bảo đảm việc kiểm soát chất lượng các sản phẩm mang CDĐL mà không cần có sự can thiệp sâu của Chính phủ

Việc bảo hộ theo hình thức nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận dựa trên các đạo luật nhãn hiệu có sẵn để áp dụng và hiện nay cũng được áp dụng tại nhiều quốc gia như Australia, Canada, các quốc gia Ả rập và một số nước thuộc châu Phi, 32 Việc bảo hộ theo hình thức này ít đòi hỏi sự tham gia từ các tổ chức công,

cơ quan nhà nước trong quá trình thiết lập, quản lý mà chủ yếu xuất phát từ các tổ chức tư nhân Các quốc gia không quá chú trọng vào quyền CDĐL, chỉ dẫn xác nhận rằng sản phẩm thực sự có nguồn gốc từ một vùng địa lý cụ thể, có các yếu tố

32

International Trade Center, xem chú thích số 14, tr 42

Trang 33

đặc trưng do các điều kiện tự nhiên mang lại (không nhất thiết phải có yếu tố con người) mà chú trọng vào xác định tiêu chuẩn chất lượng cho sản phẩm bảo hộ.33 Tuy nhiên, khi so sánh với hình thức bảo hộ bằng các quy định pháp luật CDĐL,

về mối liên hệ giữa chất lượng của một sản phẩm với khu vực địa lý của hình thức tiếp cận theo pháp luật về nhãn hiệu ít chặt chẽ hơn, bởi vì các tiêu chuẩn xuất xứ hoàn toàn do chủ sở hữu CDĐL định đoạt Hơn nữa, việc đăng kí CDĐL như nhãn hiệu tập thể vẫn không ngăn cản được CDĐL đó trở thành tên gọi chung của loại hàng hóa, bị giới hạn thời gian sử dụng và có thể bị hủy bỏ đăng kí nếu không được

sử dụng liên tục Ngoài ra, hình thức này chỉ có thể kiểm soát những người tự nguyện sử dụng các nhãn hiệu chứa CDĐL mà không thể cấm những người không phải thành viên của tập thể hay những người không chịu sự quản lý của cơ quan chứng nhận sản phẩm CDĐL

1.4.3 Bảo hộ bằng quy định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

Như đã đề cập ở trên, mặc dù bảo hộ bằng quy định chống cạnh tranh không lành mạnh không được xem là một trong những hình thức bảo hộ nguồn gốc xuất

xứ của sản phẩm, tuy nhiên, tác giả vẫn đưa ra nghiên cứu vì bảo hộ bằng quy định chống cạnh tranh không lành mạnh được xem là biện pháp hỗ trợ cho việc bảo hộ CDĐL hay nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều sử dụng quy định về cạnh tranh không lành mạnh kết hợp với quy định về CDĐL hay quy định về nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận nhằm tăng cường hiệu quả bảo hộ cho nguồn gốc xuất xứ và chất lượng đặc thù của sản phẩm Các quy định này được áp dụng trong trường hợp có các hành vi chưa đến mức độ

là hành vi xâm phạm CDĐL nhưng đã cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, cần lưu ý rằng bảo hộ bằng hình thức này chỉ được áp dụng trong trường hợp CDĐL hay nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận đã được pháp luật công nhận bởi có như vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới có căn cứ để bảo

hộ và xử lý các vi phạm

Công ước Paris đã nêu ra khái quát ba loại hành vi được coi là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về SHCN bao gồm: hành vi gây nhầm lẫn, hành vi làm mất

uy tín của đối thủ cạnh tranh, hành vi có thể lừa dối công chúng.34 Cụ thể:

+ Hành động có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình thức nào đối với cơ

sở, hàng hóa hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh;

Trang 34

+ Khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hóa, hoạt động công nghiệp hoặc thương mại của người cạnh tranh;

+ Những chỉ dẫn hoặc những khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất quá trình xản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng hóa

Hiểu ngắn gọn, bảo hộ theo hình thức này là ngăn cấm việc sử dụng CDĐL, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận cho các hàng hóa không có nguồn gốc từ khu vực địa lý tương ứng hoặc sử dụng CDĐL, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm gây nhầm lẫn về nguồn gốc, xuất xứ

Các quy định về cạnh tranh không lành mạnh đã gián tiếp bảo hộ nhà sản xuất thông qua việc bảo vệ tính toàn vẹn trong thương mại hay niềm tin của người tiêu dùng đối với xuất xứ thật của hàng hóa Mặc dù, những điều kiện khởi kiện thành công với vụ kiện cạnh tranh không lành mạnh ở các nước là khác nhau, nhưng các

nguyên tắc cơ bản sau thường được công nhận: Thứ nhất, để được bảo hộ theo pháp

luật chống cạnh tranh không lành mạnh, CDĐL hay nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu

chứng nhận phải đã có được danh tiếng hoặc uy tín nhất định trên thị trường Thứ hai, việc sử dụng CDĐL hay nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận trên sản

phẩm không xuất xứ từ vùng mang tên địa lý tương ứng làm cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn về xuất xứ thật của sản phẩm, dịch vụ.35

Như vậy, ngoài cơ chế bảo hộ chống hành vi xâm phạm CDĐL hay nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chủ thể quyền còn có thể áp dụng cơ chế bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh khi xảy ra vi phạm bởi cơ chế bảo hộ của pháp luật chống lại các hành vi xâm phạm quyền không áp dụng được hết trong mọi trường hợp vi phạm, có những khoảng trống mà cơ chế này không đủ khả năng để điều chỉnh hết Vì vậy, bảo hộ bằng các quy định chống cạnh tranh không lành mạnh trở nên cần thiết, hỗ trợ cho công tác bảo hộ nguồn gốc và chất lượng đặc thù của sản phẩm

1.5 Vai trò của bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản

1.5.1 Đối với người tiêu dùng

Bảo hộ CDĐL giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận biết và mua được những sản phẩm có nguồn gốc đáng tin cậy Đồng thời, những yêu cầu đối với việc bảo hộ

35 Cục SHTT Việt Nam, Cẩm nang SHTT WIPO: chính sách, pháp luật và áp dụng, tr 123

Trang 35

buộc các nhà sản xuất phải cung cấp những thông tin đầy đủ về nguồn gốc xuất xứ cũng như chất lượng của sản phẩm Nhờ vậy mà người tiêu dùng hạn chế được việc lựa chọn nhầm các loại hàng giả, hàng nhái và không phải lo lắng nhiều về vấn đề

vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, CDĐL là sự đảm bảo về chất lượng sản phẩm, giúp người tiêu dùng giảm chi phí tìm kiếm và dễ dàng lựa chọn được sản phẩm mong muốn

Ngoài ra, CDĐL nông sản được đặc trưng bởi những điều kiện địa lý như yếu

tố tự nhiên (đất đai, khí hậu,…) và yếu tố con người (tập quán sinh hoạt, kĩ năng sản xuất,…) Vì vậy, CDĐL mang trong nó cả yếu tố lịch sử, văn hóa, tri thức của một vùng đất Sử dụng các sản phẩm đã được bảo hộ CDĐL còn giúp người tiêu dùng có thể tiếp cận với văn hóa và thể hiện tình cảm đối với của vùng đất đó

1.5.2 Đối với nhà sản xuất

Thứ nhất, bảo hộ CDĐL làm gia tăng giá trị cho các sản phẩm

Bất kì một sản phẩm nào mang dấu phân biệt, đặc biệt hơn so với các sản phẩm cùng loại đều thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng bởi CDĐL không những hoàn toàn phân biệt với các mặt hàng cùng loại mà còn có nguồn gốc đáng tin cậy

và chất lượng đảm bảo Do đó, họ sẵn sàng trả giá cao hơn để được sử dụng những sản phẩm thật sự chất lượng này Trung bình, giá của sản phẩm được bảo hộ CDĐL cao gấp 2,23 lần giá sản phẩm tương tự không được bảo hộ.36

Ở Việt Nam, sau khi chè Shan Tuyết Mộc Châu được bảo hộ CDĐL, giá trị thương mại của sản phẩm này tăng lên thêm 15% Hay hoa hồi Lạng Sơn, năm 2005 giá hoa hồi tươi chỉ khoảng 5.000 đồng/kg nhưng từ khi được bảo hộ CDĐL năm 2007, giá lên đến 28.000 đồng/kg.37

Hơn nữa, bởi CDĐL là tài sản chung, là tài sản của tập thể, do

đó, việc gia tăng giá trị này đem lại lợi ích cho toàn bộ người kinh doanh lẫn người nông dân sản xuất ra sản phẩm

Thứ hai, bảo hộ CDĐL là công cụ pháp lý để nhà sản xuất bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Sản phẩm mang CDĐL là những sản phẩm có chất lượng đặc trưng, có danh tiếng và uy tín, giúp phân biệt với sản phẩm khác cùng loại của đối thủ cạnh tranh, được người tiêu dùng chấp nhận và ưa chuộng Đó chính là lý do tại sao những sản

Trang 36

phẩm mang CDĐL hay bị xâm phạm Một khi CDĐL được bảo hộ, hành vi giả mạo trên sẽ giảm đi một cách đáng kể vì khi đó những người sản xuất có quyền ngăn cấm việc sử dụng CDĐL một cách trái phép bằng cách khởi kiện lên Toà án Nhà nước, bằng các công cụ pháp lý của mình, sẽ xử phạt những người có hành vi vi phạm, đảm bảo lợi ích chính đáng cho các nhà sản xuất Ngoài ra, bảo hộ CDĐL cũng là cách để ngăn chặn việc đăng kí sản phẩm như một nhãn hiệu của bên thứ ba

và ngăn chặn khả năng chúng bị trở thành tên gọi chung của một loại sản phẩm

Thứ ba, bảo hộ CDĐL sẽ giúp các nhà sản xuất có nhiều thuận lợi khi tiếp cận thị trường

CDĐL giúp sản phẩm xâm nhập thị trường và phát triển một cách nhanh chóng bằng chất lượng và uy tín của sản phẩm mang CDĐL Kể từ khi Hiệp định TRIPS

có hiệu lực thì một sản phẩm được công nhận và mang CDĐL được chấp nhận ở phạm vi quốc tế Vì vậy, CDĐL trở thành một công cụ chiến lược trong thương mại

và là tấm giấy thông hành cho các sản phẩm gắn liền với một vùng đất

1.5.3 Đối với Nhà nước

Thứ nhất, bảo hộ CDĐL giúp gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống, bảo tồn

và phục hồi các giá trị văn hóa bản địa

Ở Pháp cũng như ở châu Âu hay trên toàn thế giới, CDĐL là những công cụ kinh tế để tăng giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp Ngoài ra, CDĐL cho phép duy trì và phát triển các hoạt động, các ngành chất lượng tại các vùng nông thôn thông qua việc tôn vinh các giá trị văn hoá, kỹ năng và bí quyết truyền thống của con người và nâng cao chất lượng sản phẩm

Khi việc sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm mang CDĐL đem lại hiệu quả kinh

tế cao sẽ khuyến khích người dân duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống của địa phương, tích cực sáng tạo hơn trong lao động Như vậy, nó sẽ khuyến khích tính đa dạng và tính độc đáo trong sản xuất, góp phần bảo vệ môi trường, các nguồn tài nguyên cũng như bảo vệ những nét văn hoá truyền thống, nghệ thuật ẩm thực, nghề thủ công đồng thời phát triển đa dạng sinh học

Thứ hai, bảo hộ CDĐL giúp phát triển kinh tế nông thôn, giải quyết vấn đề di dân, nạn thất nghiệp

CDĐL cho hàng nông sản thường gắn bó chặt chẽ với vùng nông thôn Việc đăng ký bảo hộ CDĐL sẽ cho phép người nông dân duy trì và phát triển được sản xuất vì thu được lợi nhuận nhiều hơn Nhờ vậy, họ có được thu nhập ổn định đủ để

Trang 37

đảm bảo cho cuộc sống của gia đình Điều này cũng giúp giải quyết vấn đề di dân, góp phần giữ vững trật tự an ninh và ổn định xã hội

Ngoài ra, danh tiếng của các sản phẩm mang CDĐL còn góp phần quảng bá, phát triển du lịch địa phương và khu vực địa lý, thu hút số lượng lớn khách du lịch quan tâm tìm hiểu các ngành nghề sản xuất truyền thống, đồng thời góp phần phát triển các ngành dịch vụ phụ trợ, đem lại thêm nguồn lợi kinh tế cho dân địa phương

Thứ ba, bảo hộ CDĐL thu hút đầu tư nước ngoài

Việc đưa sản phẩm CDĐL của Việt Nam vào thị trường nước ngoài để được bảo

hộ và được người tiêu dùng chấp nhận không phải đơn giản Chính vì vậy, Việt Nam với nhiều sản phẩm mang CDĐL tiềm năng sẽ thu hút nhiều nguồn đầu tư đem lại lợi ích to lớn không chỉ cho nền kinh tế mà còn giúp đẩy nhanh quá trình đăng kí bảo hộ CDĐL ở nước ngoài Ví dụ, nước mắm Phú Quốc với phương thức sản xuất truyền thống và nguyên liệu sản xuất đặc trưng đã trở thành loại nước mắm uy tín tại thị trường trong nước Tuy nhiên, để được bảo hộ tại thị trường quốc tế, nước mắm Phú Quốc Việt Nam đã cần đến sự đầu tư của tập đoàn Unilever, đó là một hợp đồng 10 năm với cơ sở liên doanh địa phương và số tiền đầu tư lên đến 1 triệu

đô la Mỹ nhằm nâng cấp các cơ sở sản xuất và chất lượng sản phẩm.38

Thứ tư, bảo hộ CDĐL đóng vai trò quan trọng trong việc giới thiệu hình ảnh quốc gia và nâng tầm vị thế của đất nước trên trường quốc tế

CDĐL là tài sản tập thể, thuộc sở hữu của quốc gia Với tính chất liên quan trực tiếp đến nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm nên khi xâm nhập vào thị trường quốc tế, CDĐL sẽ giới thiệu hình ảnh của quốc gia Ví dụ, nhắc đến chè Darjeeling là người

ta nhớ đến Ấn Độ hoặc nhắc tới nước mắm Phú Quốc là nhớ tới Việt Nam Một quốc gia có thương hiệu mạnh nói chung và CDĐL nổi tiếng nói riêng thì khả năng cạnh tranh của nền kinh tế càng cao, vị thế của quốc gia càng được củng cố trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho việc phát triển văn hoá xã hội, hợp tác giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế

Như vậy, bảo hộ CDĐL đem lại những to lớn cho người tiêu dùng, người sản xuất và Nhà nước Tuy nhiên, khi xây dựng, đăng kí và bảo hộ CDĐL, các chủ thể cần lường trước việc bảo hộ CDĐL cho nông sản liệu có thực sự đem lại lợi ích cho người nông dân, hạn chế được tình trạng hàng nhái, hàng giả và đảm bảo cung cấp

38

International Trade Center, xem chú thích số 21, tr 34

Trang 38

sản phẩm chất lượng đến tay người tiêu dùng hay không, bởi thực tế cho thấy không phải lúc nào giống như lý thuyết:

Thứ nhất, nông sản đã được bảo hộ CDĐL vẫn có thể không làm gia tăng giá trị sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và người nông dân

Tháng 8/2011, Cục SHTT đã cấp CDĐL cho sản phẩm muối Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi Song tại thời điểm được cấp, người dân Quảng Ngãi vẫn lao đao vì không bán được muối, giá muối liên tục giảm, đời sống khó khăn hơn bao giờ hết.39

Điều này chứng tỏ ngay cả nông sản dù đã được bảo hộ CDĐL nhưng vẫn có thể không gia tăng giá trị, không đem lại lợi ích cho nhà sản xuất bởi:

+ Theo các nhà sản xuất, trên thị trường giá bán nông sản tăng không phải

do uy tín sản phẩm tăng lên bởi ở giá bán tăng do chi phí sản xuất tăng nhanh như chi phí quản lý, kiểm soát chất lượng, chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu đều tăng Do vậy mà lợi nhuận của nhà sản xuất không tăng

+ Giá của nông sản khi thu mua thường bị các thương nhân kiểm soát Còn người dân sản xuất vì tính chất thời vụ của nông sản nên bị các doanh nghiệp ép giá bán Ví dụ trường hợp vải thiều Lục Ngạn, người nông dân cho biết cuộc đời quả vải chín chỉ sống trong vòng 20 ngày Nếu không thu hoạch và bán kịp vải sẽ rụng

và thối Vì vậy mà giá vải luôn bị thương lái ép bán giá thấp nên không ít hộ dân ở Lục Ngạn đã quyết định chặt cây vải thiều, chuyển sang trồng các loại cây kinh tế khác.40

+ Cuối cùng, sự sẵn sàng trả thêm tiền cho các nông sản có CDĐL của người tiêu dùng đối với từng loại sản phẩm sẽ khác nhau bởi còn phụ thuộc vào danh tiếng của sản phẩm và kinh nghiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó,

cụ thể trên thị trường, vì nước mắm Phú Quốc với quy trình sản xuất và chất lượng vượt trội nên giá luôn cao hơn giá nước mắm Phan Thiết có chai cùng dung tích

Thứ hai, nông sản đã được bảo hộ CDĐL vẫn có thể không giúp phân biệt với các sản phẩm thông thường khác, không đảm bảo chức năng định hướng tiêu dùng

Sản phẩm được bảo hộ CDĐL đồng nghĩa với việc số lượng hàng nhái, hàng giả CDĐL ngày càng gia tăng, cùng với sự yếu kém trong khâu quản lý dẫn đến người tiêu dùng khó phân biệt được sản phẩm mang CDĐL với các sản phẩm thông

39 [http://laodong.com.vn/Kinh-doanh/Muoi-Sa-HuynhQuang-Ngai-Nghich-canh-voi-thuong-hieu/21202.bld] (truy cập ngày 23/6/2013)

40

[ http://bacgiang.net/cau-chuyen-cuoc-song/tui-than-vai-thieu-luc-ngan.html ] (truy cập ngày 24/6/2013)

Trang 39

thường khác Cụ thể, rất nhiều nơi trồng vải đã lạm dụng CDĐL Thanh Hà cho quả vải trồng ở nơi khác để bán với giá cao Đi đến bất cứ nơi nào và mua vải ở đâu cũng được giới thiệu là vải thiều Thanh Hà Thậm chí, tại Quảng Đông (Trung Quốc) người dân còn đua nhau trồng vải để bán dưới nhãn hiệu Thanh Hà Một nguyên nhân nữa xuất phát từ khâu quảng cáo và thương mại của nhà sản xuất còn chưa được chú trọng dẫn đến phần lớn nhận thức của người tiêu dùng Việt về các mặt hàng chất lượng cao còn thấp, đồng thời thiếu thông tin về các mặt hàng được bảo hộ nên mặc dù chất lượng nông sản mang CDĐL cao vẫn bị đánh đồng chất lượng và có giá bán tương tự các nông sản thông thường

Các thực tiễn trên cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần đặt ra trong công tác xây dựng và bảo hộ CDĐL Đối với các quốc gia EU, việc xây dựng chính sách về bảo

hộ CDĐL được dựa trên những kinh nghiệm, những nghiên cứu khoa học đã được chứng minh, còn ở Việt Nam vẫn còn những yếu kém trong công tác nghiên cứu trước khi đưa ra các quyết định đối với CDĐL Chính vì vậy, khi xây dựng, đăng kí

và bảo hộ CDĐL cần xem xét kĩ các vấn đề sau:

+ Nông sản phải có nét đặc trưng so với sản phẩm tương tự ở vùng khác thì mới nên xây dựng và đăng kí bảo hộ Đặc trưng và chất lượng vượt trội của nông sản phải cân, đong, đo, đếm, phân tích khoa học ra được chứ không phải cảm giác

“ngon miệng”, “là lạ” là đăng kí bảo hộ Do đó, các nông sản mang CDĐL càng có chất lượng, đặc tính hay danh tiếng khác biệt với các nông sản cùng loại khác thì khả năng bán được với mức giá cao càng lớn Ngược lại, những nông sản mang CDĐL nhưng không có những tính năng nổi trội, khác biệt nhiều so với các nông sản thông thường sẽ dễ bị người tiêu dùng từ chối nếu giá quá cao

+ Việc xây dựng, đăng ký bảo hộ CDĐL cho nông sản phải tính đến lợi ích kinh tế của nông dân, của địa phương, của quốc gia Có những đặc sản rất ngon, rất

lạ nhưng giá trị kinh tế thấp thì nông dân và địa phương cần cân nhắc không đăng

ký bảo hộ CDĐL Những địa danh và nông sản cần xây dựng phải là những nông sản có giá trị, tiềm lực về kinh tế Hơn nữa, việc xây dựng CDĐL cho nông sản sẽ yêu cầu các quy trình sản xuất hết sức nghiêm ngặt mà hầu hết người nông dân nước ta còn mơ hồ về các kĩ thuật sản xuất này Đồng thời, các quy trình nghiêm ngặt này có thể làm tăng chi phí sản xuất Do đó, trong công tác xây dựng CDĐL, các cơ quan và tổ chức có thẩm quyền cần xác định rõ mục đích bảo hộ CDĐL, khả năng giữ được giá sản xuất ổn định và tăng giá bán trên thị trường

Trang 40

và vai trò của việc bảo hộ CDĐL

CDĐL là dấu hiệu chỉ ra nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm từ một vùng, một khu vực địa lý, một quốc gia, mà chất lượng, danh tiếng hay các đặc tính khác của sản phẩm chủ yếu do nguồn gốc địa lý này mang lại

Bảo hộ CDĐL được hiểu là việc Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền và các chủ thể, thông qua hệ thống pháp luật, tiến hành các hoạt động liên quan đến việc xác lập, khai thác, quản lý và bảo vệ các chủ thể chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với CDĐL

Khi so sánh với các chỉ dẫn thương mại khác, dễ dàng nhận thấy, CDĐL là đối tượng duy nhất có chủ sở hữu là Nhà nước, bởi CDĐL không có tác giả, thực chất

nó không phải là kết quả của sự lao động sáng tạo mà CDĐL đối với hàng nông sản

là “thông tin về nguồn gốc của nông sản” và thông tin này gắn liền với “chất lượng,

uy tín, danh tiếng” do sự ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên về thổ nhưỡng và khí hậu là chủ yếu

Đối với các hình thức bảo hộ nguồn gốc của sản phẩm: có ba hình thức chủ yếu được áp dụng là bảo hộ bằng quy định CDĐL hoặc bảo hộ bằng quy định về nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận Ngoài ra, để công tác bảo hộ nguồn gốc địa

lý sản phẩm diễn ra hiệu quả, các quốc gia trên thế giới thường kết hợp với các quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh

Cuối cùng, Việt Nam có nhiều mặt hàng nông sản chất lượng cao, năng suất tốt nhưng chưa gây được tiếng vang ngay cả ở thị trường trong nước lẫn thị trường quốc tế Trong khi đó các nước bạn như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, lại thực hiện rất thành công trong công tác quảng bá và khẳng định chất lượng sản phẩm mang CDĐL trong thị trường quốc tế Do đó, xây dựng và bảo hộ CDĐL nông sản hiện nay thực sự là một hướng đi có hiệu quả nhằm bảo vệ tên tuổi và nâng cao giá trị cho hàng nông sản Việt Nam

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w