Để giảm thiểu những tác hại về nhiều mặt do hút thuốc lá và tiếp xúc với khói thuốc lá gây ra, trong nhiều năm qua, hàng lọat các chương trình tuyên truyền, cổ động về hạn chế hút thuốc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
O
NGUYỄN THỊ THANH HẰNG
THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT, CÔNG CỤ PHÁP LÝ HỮU HIỆU TRONG VIỆC HẠN CHẾ TIÊU THỤ THUỐC LÁ TẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2008
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT, CÔNG CỤ PHÁP
LÝ HỮU HIỆU TRONG VIỆC HẠN CHẾ TIÊU
THỤ THUỐC LÁ TẠI VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ THANH HẰNG KHÓA: 29 MSSV: 2920053
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN THỊ THU HIỀN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Mọi thông tin, dữ liệu, luận điểm được tác giả nêu ra trong khóa luận là hoàn toàn trung thực xuất phát từ sự tổng hợp, phân tích, đánh giá của chính bản thân với sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Thị Thu Hiền- Giảng viên khoa Luật Thương Mại, hoàn toàn không sao chép từ bất cứ công trình nghiên cứu nào Tác giả xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
TP HCM, ngày tháng năm 2008
Tác giả
NGUYỄN THỊ THANH HẰNG
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI HẠN CHẾ TIÊU THỤ THUỐC LÁ- VAI TRÒ HẠN CHẾ TIÊU THỤ THUỐC LÁ CỦA THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT 5
1.1 Sự cần thiết phải hạn chế tiêu thụ thuốc lá 5
1.1.1 Tác hại của thuốc lá 5
1.1.1.1 Về mặt y tế 6
1.1.1.2 Về mặt kinh tế 8
1.1.1.3 Về mặt văn hóa- xã hội 9
1.1.2 Các biện pháp mà Nhà nước đã sử dụng để hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam 10
1.1.2.1 Biện pháp tuyên truyền giáo dục 10
1.1.2.2 Biện pháp cấm 13
1.1.2.3 Biện pháp xử phạt vi phạm hành chính 15
1.1.2.4 Các biện pháp khác 18
1.1.2.5 Biện pháp đánh thuế tiêu thụ đặc biệt 20
1.2 Vai trò hạn chế tiêu thụ thuốc lá của thuế tiêu thụ đặc biệt 21
1.2.1 Giới thiệu chung về thuế tiêu thụ đặc biệt 21
1.2.1.1 Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt 21
1.2.1.2 Đặc điểm thuế tiêu thụ đặc biệt 23
1.2.2 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá 25
Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2:NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI THUỐC LÁ-THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ 28
2.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá 28
2.1.1 Đối tượng chịu thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế 28
2.1.1.1 Đối tượng chịu thuế 28
2.1.1.2 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế 30
2.1.2 Đối tượng nộp thuế 32
2.1.3 Căn cứ tính thuế 33
2.1.3.1 Giá tính thuế 34
2.1.3.2 Thuế suất 36
2.1.4 Chế độ miễn giảm thuế 38
Trang 52.1.5 Chế độ đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế 38
2.1.5.1 Đăng ký thuế 39
2.1.5.2 Kê khai, nộp thuế 40
2.1.5.3 Quyết toán thuế 42
2.1.6 Hoàn thuế 43
2.1.7 Biện pháp chế tài bảo đảm việc thực hiện Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá 44
2.1.7.1 Đối với đối tượng nộp thuế 44
2.1.7.2 Đối với cán bộ thuế và các đối tượng khác có liên quan 45
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá 46
2.2.1 Thành tựu đạt được 49
2.2.2 Hạn chế 51
2.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hạn chế tiêu thụ thuốc lá của thuế tiêu thụ đặc biệt 54
2.3.1 Kinh nghiệm từ nước ngoài 54
2.3.1 Giải pháp đối với Việt Nam 55
Kết luận chương 2 60
KẾT LUẬN CHUNG 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, trung bình mỗi năm ở Việt Nam, người dân mất tới hơn 8213 tỷ đồng chi phí để mua thuốc lá, 1160 tỷ đồng chi phí để điều trị các bệnh do hút thuốc
lá gây ra, tương đương 20% tổng chi Ngân sách Nhà nước dành cho y tế1 Hút thuốc
lá còn là nguyên nhân gây ra các căn bệnh với hậu quả nặng nề như: ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, các bệnh răng miệng, bệnh liên quan đến sinh sản…Không chỉ những người hút thuốc trực tiếp mà cả những người tiếp xúc với khói thuốc lá thường xuyên cũng có nguy cơ mắc bệnh cao không kém Việc hút thuốc lá, đặc biệt là tại những nơi công cộng như: bệnh viên, trường học, nhà ga…còn thể hiện nếp sống thiếu văn minh, gây ô nhiễm bầu không khí, gây mất mỹ quan và ảnh hưởng đến rất nhiều người Như vậy, hút thuốc lá không những gây thiệt hại về kinh
tế mà còn gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, đến văn hóa- xã hội và môi trường
Để giảm thiểu những tác hại về nhiều mặt do hút thuốc lá và tiếp xúc với khói thuốc lá gây ra, trong nhiều năm qua, hàng lọat các chương trình tuyên truyền,
cổ động về hạn chế hút thuốc lá, thậm chí những quy định về cấm hút thuốc lá ở nơi cộng cộng cùng các chế tài nghiêm khắc, kể cả biện pháp đánh thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế TTĐB)… được Nhà nước áp dụng nhưng kết quả đạt được còn rất hạn chế Chính vì vậy, vấn đề hạn chế tiêu thụ thuốc lá luôn là vấn đề gây đau đầu không chỉ đối với các cơ quan chức năng mà còn đối với toàn xã hội Tuy nhiên, kể từ sau khi Việt Nam tham gia vào Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC) của Tổ chức
Y tế thế giới- WTO vào năm 2005 thì công tác phòng chống tác hại của thuốc lá ở nước ta đã được đẩy lên một bước cao hơn và giành được một số thành tựu đáng khích lệ Và cũng từ đây, biện pháp đánh thuế TTĐB để hạn chế tác hại của thuốc lá mới thực sự phát huy tốt vai trò của mình
Thuế TTĐB là một lọai thuế gián thu Đối tượng chịu thuế TTĐB nói chung
là những hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, cao cấp, không thiết yếu và Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng Riêng đối với thuốc lá, Nhà nước ta đánh thuế TTĐB vì nó ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, đến môi trường sống, gây thiệt hại cho nền kinh tế…Tuy nhiên, đánh thuế như thế nào để đạt được hiệu quả tốt nhất như: hạn
1
Xem : “Chi phí hơn 1160 tỷ đồng/năm để điều trị các bệnh do thuốc lá”
http://beta.baomoi.com/Home/SucKhoe/www.nhandan.com.vn/Chi_phi_hon_1160_ty_dongnam%c2%a0_de _dieu_tri_cac_benh_do_thuoc_la/1185511.epi
Trang 7chế tiêu thụ thuốc lá, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước… là vấn đề không dễ dàng
Luật thuế TTĐB đầu tiên được Nhà nước ta ban hành tại Quốc hội khóa VIII,
kỳ họp thứ 7 ngày 30/6/1990 và có hiệu lực từ ngày 01/10/1990 Luật thuế TTĐB lần 2 được Nhà nước ta ban hành tại Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 3 ngày 20/05/1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 Như vậy, từ năm 1990 đến nay, Luật thuế TTĐB đã được ban hành tất cả là hai lần Mỗi lần ban hành một luật thuế TTĐB như vậy có rất nhiều lần sửa đổi, bổ sung Cụ thể, lần ban hành thứ nhất
có hai lần sửa đổi, bổ sung:
Ngày 05/07/1993 luật thuế TTĐB năm 1990 được sửa đổi, bổ sung lần 1
Ngày 28/10/1995 luật thuế TTĐB năm 1990 được sửa đổi, bổ sung lần 2
Lần ban hành luật thuế TTĐB lần hai đến nay cũng đã trãi qua hai lần sửa đổi, bổ sung, cụ thể:
Luật số 08/2003/QH11 ngày 17/06/2003 sửa đổi, bổ sung luật thuế TTĐB
Như vậy, xuất phát từ nhu cầu bức thiết của đời sống xã hội, việc bảo vệ các thế hệ hiện tại và tương lai thoát khỏi hậu quả tàn phá về sức khỏe, kinh tế, xã hội
và môi trường do việc hút thuốc lá và tiếp xúc với khói thuốc lá đang là vấn đề cấp bách Tuy pháp luật thuế TTĐB hiện nay có quy định về thuốc lá, trong thực tế các quy định này cũng đã phát huy được vai trò nhất định nhưng vẫn còn nhiều bất cập
và chưa thực sự hiệu quả Việc hoàn thiện pháp luật thuế TTĐB có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam Do đó, tác giả đã quyết định
chọn đề tài: “Thuế TTĐB, công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc hạn chế tiêu thụ
thuốc lá tại Việt Nam” để nghiên cứu Đồng thời, qua khóa luận, tác giả cũng
mong muốn đóng góp một phần nhỏ việc nghiêu cứu của mình vào công tác phòng chống tác hại thuốc lá mà Nhà nước ta đã, đang và sẽ thực hiện
Trang 82 Tình hình nghiên cứu:
Việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá là vấn đề được toàn xã hội quan tâm Đặc biệt, việc sử dụng biện pháp nào để hạn chế tiêu thụ thuốc lá có hiệu quả luôn là đề tài gây tranh cãi và tốn không ít giấy mực của các phương tiện truyền thông đại chúng Đối với biện pháp đánh thuế TTĐB cũng đã có một số bài báo đề cập đến như:
“Rượu, bia, thuốc lá – nên tăng thuế nào” trên báo Vietnamnet ngày 04/11/2005,
“Thuốc lá- bạn đồng hành của bệnh tật và đói nghèo” trên báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam ngày 31/05/2006, “Thuế TTĐB- Vấn đề cần quan tâm” của Huỳnh Huy Quế- Tạp chí tài chính số 8/2003 Bên cạnh đó, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thuế TTĐB như: “Pháp luật thuế TTĐB trước xu hướng hội nhập WTO” của Phùng Thị Ngọc Thư- Luận văn cử nhân Luật năm 2006; “Những giải pháp hoàn thiện thuế gián thu ở Việt Nam” của Nguyễn Xuân Nhất- Luận án Phó tiến sỹ Khoa học Kinh tế trường Đại học Tài chính kế toán Hà Nội năm 1995 Tuy nhiên trong lĩnh vực nghiên cứu thuế TTĐB đối với thuốc lá dường như các công trình nghiên cứu mang tính khoa học pháp lý rất hiếm hoi và có thể nói là không có
Do vậy, việc chọn đề tài “Thuế TTĐB, công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc hạn
chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam” để nghiên cứu mang tính chất thời sự nóng
bỏng, khá mới mẻ và hoàn toàn không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu pháp lý nào
3 Mục đích nghiên cứu:
Với tính cấp thiết và tình hình nghiên cứu như đã đề cập ở phần trên, việc xác định mục đích nghiên cứu hợp lý sẽ giúp giải quyết được vấn đề có hiệu quả, đi đúng hướng với yêu cầu của đề tài Do đó, thông qua việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật thuế TTĐB đối với thuốc lá, tác giả đánh giá một cách khái quát về những thành tựu đạt được, nêu ra một số thiếu sót còn tồn tại trong việc áp dụng quy định của pháp luật, trong việc quản lý và thực thi pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị thích hợp để thuế TTĐB phát huy tốt vai trò của mình, thực sự là công cụ hữu hiệu trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, khóa luận sẽ đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật thuế TTĐB đối với thuốc lá như: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, chế độ miễn giảm thuế đối với thuốc
lá Khóa luận cũng tập trung vào đánh giá những tác hại do hút thuốc lá gây ra, những biện pháp mà Nhà nước đã và đang sử dụng để giảm thiểu những tác hại này như: biện pháp tuyên truyền giáo dục, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp cấm để từ đó làm nổi bật vai trò của biện pháp đánh thuế TTĐB Qua đó, tác
Trang 9giả sẽ đánh giá những thành tựu và hạn chế của biện pháp đánh thuế này, đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật thuế TTĐB đối với thuốc lá
5 Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận được tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: khảo sát thực tiễn, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh Đồng thời, để nâng cao tính khoa học và thuyết phục cho khóa luận, tác giả cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu kinh điển như: chủ nghiã duy vật biện chứng, chủ nghiã duy vật lịch sử, tham khảo các luận văn, sách, báo, tạp chí chuyên nghành
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài:
Do đề tài khóa luận chỉ đi sâu nghiên cứu một nội dung hẹp của pháp luật thuế TTĐB, đó là quy định của pháp luật thuế TTĐB đối với thuốc lá, nên tác giả đã tập trung khai thác sâu vào mảng này Qua đó, người đọc sẽ có được cái nhìn thấu đáo và đầy đủ về các quy định pháp luật cũng như vai trò của các quy định này trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu và tổng hợp từ thực tiễn việc áp dụng thuế TTĐB đối với thuốc lá, hình thành một số giải pháp để có thể kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa biện pháp pháp lý
và các biện pháp khác mà Nhà nước đã, đang và sẽ sử dụng góp phần thực hiện có hiệu quả việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam Thiết nghĩ, nếu pháp luật thuế TTĐB thực sự hoàn thiện thì không những nó chỉ phát huy vai trò trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá mà còn có thể hạn chế tiêu thụ rượu, bia- những mặt hàng mà nếu sử dụng quá mức sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe con người, cho an ninh cộng đồng…
7 Kết cấu của khóa luận:
Để phù hợp với nội dung của khóa luận, kết cấu của khóa luận gồm:
- Lời cam đoan
- Mục lục
- Lời nói đầu
- Nội dung: gồm 2 chương:
Chương 1: Sự cần thiết phải hạn chế tiêu thụ thuốc lá- Vai trò hạn chế tiêu thụ thuốc lá của thuế TTĐB
Chương 2: Nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế TTĐB đối với thuốc lá- Thực trạng và kiến nghị
- Kết luận chung
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT PHẢI HẠN CHẾ TIÊU THỤ THUỐC LÁ- VAI TRÒ HẠN CHẾ TIÊU THỤ THUỐC LÁ CỦA
THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1.1 Sự cần thiết phải hạn chế tiêu thụ thuốc lá
1.1.1 Tác hại của thuốc lá
Cây thuốc lá có tên khoa học là Nicotiana tabacum L và Nicotiana rustica
L.2, là loại cây có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời Khoảng 4000 năm trước đây, người da đỏ vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ, quần đảo Antil, một số nơi khác
đã bắt đầu trồng cây thuốc lá và nó đã phát triển đồng hành cùng với nền văn minh này Tuy nhiên, mãi đến ngày 12/10/1492, sau chuyến thám hiểm tìm ra Châu Mỹ của Christopher Columbus thì cây thuốc lá mới bắt đầu xuất hiện tại Châu Âu Và cũng từ đây, ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá mới được manh nha hình thành
Từ những cây thuốc lá hoang dại ban đầu, trải qua thời gian dài với sự tác động trực tiếp của con người và tùy vào thổ nhưỡng của từng vùng đất khác nhau, cây thuốc lá đã trở nên phong phú về chủng loại và đa dạng về ngoại hình Có thể
kể đến các loại thuốc lá nổi tiếng như: thuốc lá vàng sấy ở vùng Virginia (Hoa Kỳ), thuốc lá Oriental (vùng Địa Trung Hải), xì gà (Cuba và Sumantra- Indonexia), thuốc
lá Burley (Hoa Kỳ, Malawi, Brazil)… Ở Việt Nam, cây thuốc lá được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn… và một số tỉnh ở phía Nam như: Đồng Tháp, Tây Ninh, Long An…Cây thuốc lá được xem như cây công nghiệp thay thế cây thuốc phiện và góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân ở những vùng này
Trong các bộ phận của cây thuốc lá thì phần lá thuốc lá là được sử dụng nhiều nhất Lá thuốc lá được sử dụng theo nhiều kiểu khác nhau: nghiền thành bột
để ngửi, hút bằng tẩu, nhai thuốc lá khô, nhồi vào điếu thuốc lào để hút… nhưng thông dụng nhất vẫn là thuốc lá điếu được chế biến từ lá thuốc lá sắt sợi và cuốn bằng giấy trắng chuyên dùng Ở Việt Nam, sản phẩm thuốc lá điếu rất phong phú và
đa dạng Ngoài những nhãn hiệu do trong nước sản xuất như: Mai, Vinataba, Thăng Long, Điện Biên…thì cũng có rất nhiều nhãn hiệu nước ngoài do sự liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài như: 555, Marlboro, Dunhill, White Horse, Everest, Caraven A, Virginia Gold…
2
Xem Khoản 1 Điều 4 Nghị định 119/NĐ-CP ngày 18/7/2007 về sản xuất và kinh doanh thuốc lá
Trang 11Ban đầu, thuốc lá được xem như một thứ “thần dược” chữa bệnh đau đầu Vì trong lá thuốc lá có chứa: một chất tinh dầu đặc (nicotianin), nhiều chất acít (acít citric, acít nicotiníc), một chất tanin (acít tabaco- tanníc) và rất nhiều chất alcalôít
mà nicôtin là chất chính Nicôtin là một loại độc dược rất mạnh đối với các hạch của giao cảm thần kinh3 Vì vậy, nó giúp cho người đau đầu cảm thấy dễ chịu hơn sau khi hít bột của lá thuốc lá Sau này, vào khoảng thế kỷ thứ 15-16 thì hút thuốc lá được xem như “một cách sống hợp thời trang thú vị” trong giới qúy tộc ở Châu Âu Thế nhưng ngày nay, khi ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá phát triển mạnh mẽ,
để cạnh tranh, tăng lợi nhuận và thu hút khách hàng, các công ty sản xuất thuốc lá
đã thêm vào rất nhiều phụ gia khác nhau Trong các phụ gia ấy có cả những hóa chất gây nghiện, phụ gia độc hại Vì vậy, thuốc lá hiện nay rất hiếm có các sợi thuốc tinh khiết Những phụ gia này đã góp phần làm cho thuốc lá vốn đã độc hại lại càng nguy hiểm hơn cho sức khỏe con người Do đó, hút thuốc lá không còn được coi là hợp thời trang hay cao sang nữa mà được xem là nguyên nhân của bệnh tật, đói nghèo, ô nhiễm môi trường… Để thấy rõ tác hại của thuốc lá, chúng ta cần phải tìm hiểu điều này trên nhiều phương diện khác nhau
1.1.1.1 Về mặt y tế
Thuốc lá gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người theo nhiều con đường: hút thuốc lá, nhai cau với thuốc lào, hít bột thuốc lá, hít phải khói thuốc từ những người hút thuốc xung quanh…Khói thuốc lá có chứa hơn 4000 loại hóa chất, trong đó có hơn 200 loại hoá chất có hại cho sức khỏe Nếu căn cứ vào nguyên nhân gây ung thư, người ta ước tính có khoảng 43 chất như: Axeton (sử dụng để tẩy và sơn móng tay), DDT (thuốc trừ sâu), Monoxitcacbon (khói xả từ ô tô), Phenol (để diệt khuẩn), Thạch tín (chất cường độc), Nicôtin (là một alcalôít độc mạnh, gây chết người với một liều 60 mg, là hoá chất gây nghiện chỉ kém Heroin hoặc Cocain, làm cho nhiều người khó bỏ thuốc lá)… Tuy nhiên, để thấy một cách tổng quát về độc tính của khói thuốc lá đối với cơ thể con người, người ta chia làm 4 nhóm chính:
Nicôtin: là một loại chất không màu, chuyển thành màu nâu
khi cháy và có mùi thuốc lá khi tiếp xúc với không khí Cơ quan kiểm soát dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp Nicôtin vào nhóm các chất có tính chất dược lý có tính gây nghiện chủ yếu, tương tự như các chất ma túy Heroin và Cocain
Monoxit cacbon (khí CO): khí CO có nồng độ cao trong khói thuốc lá và sẽ được hấp thụ vào máu, gắn với Hemoglobine với áp lực mạnh hơn 20 lần Oxy Với người hút thuốc trung bình 1 bao thuốc lá/ngày thì hàm lượng Hemoglobine khử có thể tới 7-8% Sự tăng
3
Ths Phạm Hoàng Bộ và Nguyễn Văn Dương (1960), Cây cỏ miền Nam Việt Nam, Bộ quốc gia giáo dục
xuất bản, tr 456
Trang 12Hemoglobine khử làm chuyển dịch đường cong phân tách Oxy- Hemoglobine dẫn đến giảm lượng Oxy chuyển đến tổ chức gây thiếu máu
tổ chức và góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch
Các phân tử nhỏ trong khói thuốc lá: khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích dạng khí hoặc dạng hạt nhỏ Các chất kích thích này gây nên các thay đổi cấu trúc của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinh các tuyến phế quản, các tế bào tiết nhầy và làm mất đi các tế bào có lông chuyển Các thay đổi này làm tăng tiết nhầy và giảm hiệu quả thanh lọc của thảm nhầy lông chuyển
Các chất gây ung thư: các chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá hủy tổ chức, biến đổi tế bào dẫn đến di sản, loạn sản rồi ác tính hóa 4
Do chứa quá nhiều chất độc hại như vậy nên hút thuốc lá gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm như: bệnh về đường hô hấp (viêm mũi, viêm họng, lao phổi…), bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch, tắc mạch máu…), rối loạn tiêu hóa, bệnh răng miệng, các bệnh liên quan đến sinh sản, gia tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương…nhưng đặc biệt nhất vẫn là tăng nguy cơ ung thư- một căn bệnh mà hiện nay vẫn chưa có thuốc chữa trị nếu không đựoc phát hiện sớm Các nhà khoa học cũng đã chứng minh rằng sản phụ hút thuốc lá thì sẽ dễ bị sinh non hoặc sẩy thai và con cái của họ khi sinh ra cũng dễ bị béo phì, suy giảm chức năng thần kinh… Thậm chí, cả những người hút thuốc lá thụ động cũng có nguy cơ mắc bệnh cao không kém Hút thuốc lá thụ động là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả
sự hít phải khói thuốc lá của những người không hút thuốc nhưng lại ở cùng với người hút thuốc Do khói thuốc lá gồm có 2 dòng: dòng khói chính và dòng khói phụ Ngoài dòng khói chính đã được dẫn trực tiếp vào miệng của người hút thuốc thì dòng khói phụ tỏa ra ở đầu điếu thuốc đang cháy chưa được lọc có rất nhiều chất độc và rất có hại cho sức khỏe Người hút thuốc lá thụ động là người hít phải các dòng khói phụ này Điều đáng nói ở đây, nạn nhân của việc hút thuốc lá thụ động phần lớn lại là trẻ em, đối tượng mà Nhà nước ta đang ra sức bảo vệ Do các cơ quan của cơ thể trẻ em chưa phát triển hoàn thiện nên khi tiếp xúc với khói thuốc lá, các em dễ dàng bị mắc bệnh hơn và chịu sự rủi ro cao hơn người lớn
Mặc dù hiện nay trên thế giới, một số công ty sản xuất thuốc lá đã giới thiệu sản phẩm thuốc lá an toàn- điển hình là công ty BAT (British American Tobaco)- với đầu lọc mới có 3 lớp ngăn nhưng thực ra không phải như vậy Thực tế là chất Nicôtin vẫn không bị ngăn chặn dù là thuốc lá an toàn hay không an toàn Tóm lại, cho dù hút dưới hình thức nào thì thuốc lá cũng thực sự gây tác hại rất xấu đến cơ thể con người Nước ta là một nước đang phát triển có tỷ lệ rủi ro về bệnh tật và tử
4
Xem: http://www.vinacosh.gov.vn/ ?mPage=11N80K01T119
Trang 13vong cao do các nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc lá Hàng năm con số tử vong do thuốc lá lên tới 30 nghìn đến 40 nghìn người Tổ chức Y tế thế giới dự báo, nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì 1/10 dân số Việt Nam (khoảng 8 triệu người) sẽ chết sớm do các bệnh liên quan đến thuốc lá5 Như vậy, thuốc lá đang thực sự là mối nguy hiểm thường trực trong mọi gia đình, mọi cơ quan, tổ chức và toàn xã hội
1.1.1.2 Về mặt kinh tế
Bên cạnh những tác hại về sức khỏe đối với con người và những khó khăn trong công tác điều trị bệnh thì hút thuốc lá còn là tác nhân gây ra những thiệt hại không nhỏ cho kinh tế nước ta Trong nhiều năm qua, ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá đã đóng góp rất lớn vào Ngân sách Nhà nước và Nhà nước ta cũng không thể phủ nhận được điều này Riêng đối với Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, năm
2005 nộp Ngân sách được 3170 tỷ đồng, tạo được việc làm cho hơn 200 ngàn nông dân ở các vùng nguyên liệu tại các địa phương trong cả nước6
Tuy nhiên, thiệt hại mà thuốc lá gây ra lại to lớn hơn rất nhiều Năm 1998, những người hút thuốc trong cả nước hút hết số thuốc lá có giá trị gần 6000 tỷ đồng Năm 2002, số tiền này lên tới 8000 tỷ đồng Nếu chi cho lương thực, thực phẩm và những nhu cầu thiết yếu, số tiền này sẽ giúp hơn hai triệu người có thể thoát nghèo Chi phí cho việc mua thuốc lá của một người từ khi hút thuốc đến khi mắc bệnh là
32 triệu đồng Một người hút thuốc trong một năm tiêu hết số tiền bằng 1/3 lần dành cho lương thực, gấp rưỡi số tiền chi cho giáo dục, gấp 5 lần chi cho y tế (nếu tính bình quân cho đầu người)7 Số tiền chi phí để mua thuốc lá lớn như vậy nhưng số tiền chi phí để điều trị các bệnh do hút thuốc lá gây ra còn lớn hơn nhiều Chỉ tính riêng số tiền để điều trị 3 loại bệnh có nguyên nhân từ thuốc lá là ung thư phổi, nhồi máu cơ tim và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã lên tới 1160 tỷ đồng/năm, tương đương 20% tổng chi tiêu Ngân sách dành cho y tế8 Điều đó đủ thấy nếu chi phí để điều trị tất cả các bệnh có liên quan đến thuốc lá thì sẽ tốn không biết bao nhiêu tiền của của người dân, của xã hội và của Nhà nước
Những thiệt hại mà thuốc lá gây ra cho nền kinh tế nước ta đã được thực tiễn chứng minh không thể chối cãi được Ước tính phần đóng góp của ngành Công nghiệp thuốc lá cho Ngân sách Nhà nước chỉ chiếm 1/3 số tiền mà người dân dùng
để hút thuốc Đó là chưa kể đến các chi phí điều trị bệnh do hút thuốc lá gây ra Rõ
Trang 14ràng, nếu việc hút thuốc lá không được phòng chống một cách hiệu quả thì số lượng người hút thuốc lá sẽ tăng cao Đến lúc đó, nghèo đói và bệnh tật sẽ trở thành mối
đe doạ đối với mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội
1.1.1.3 Về mặt văn hoá- xã hội
Có một khía cạnh không thể bỏ qua khi phân tích các tác hại của việc hút thuốc lá, đó là tác hại về mặt văn hoá- xã hội Dù là những tổn thất về mặt tinh thần, không thể định lượng được nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào Nói đến văn hoá tức là nói đến những gì tinh tuý nhất của dân tộc được chắt lọc qua nhiều thế hệ Nền văn hoá thể hiện trình độ phát triển của mỗi quốc gia Một quốc gia văn minh là một quốc gia không chỉ phát triển về kinh tế mà còn phát triển về trình độ nhận thức của người dân, về bảo vệ môi trường…Thế nhưng, chính hành vi hút thuốc lá, đặc biệt là tại những nơi công cộng lại ảnh hưởng không nhỏ đến các giá trị văn hoá mà Nhà nước ta đang cố gắng bồi đắp
Hiện nay, tỷ lệ người hút thuốc ở Việt Nam khá cao Theo điều tra y tế quốc gia (2001-2002), tỷ lệ hút thuốc ở nam giới trưởng thành tại nước ta là 56,1%, còn ở
nữ giới là 1,8% 9 Vào năm 2008, theo Ban chỉ đạo phòng chống tác hại của thuốc
lá Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam có 15 triệu người hút thuốc lá Ở Thành Phố
Hồ Chí Minh, tỷ lệ người hút thuốc rất cao và ngày càng trẻ hoá, có tới 53% nam giới hút thuốc lá10 Dù là ở bất kỳ độ tuổi nào cũng có rất nhiều người hút thuốc Thanh thiếu niên do bị bạn bè rủ rê, do nhiễm từ sách báo, phim ảnh… mà hút thuốc Thậm chí, do suy nghĩ còn hạn chế nên một số em còn cho rằng hút thuốc lá khiến cho mình tăng thêm vẻ nam tính và quyến rũ Người lớn thì hút thuốc theo thói quen Rất nhiều người do nghiện nên không thể bỏ được thuốc lá Nữ giới tỷ lệ hút thuốc tuy thấp hơn nhưng không phải là không đáng kể Có một số người muốn hút thuốc để thể hiện phong cách, một số khác thì lại bị ảnh hưởng từ môi trường cộng đồng Nhưng dù thế nào đi nữa thì hành vi hút thuốc lá bị ảnh hưởng từ cộng đồng rất lớn: bị tạp nhiễm từ cộng đồng, rồi được cộng đồng nuôi dưỡng và duy trì
Hành vi hút thuốc lá luôn thể hiện ở rất nhiều nơi Đặc biệt tại những nơi công cộng thì việc hút thuốc lá lại càng diễn ra thường xuyên hơn Hiện tượng hút thuốc lá trong bệnh viện, trường học, công sở… đã trở nên rất đỗi bình thường Ở nam cán bộ y tế, theo khảo sát tại bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ hút thuốc là 40% Còn trong ngành giáo dục, một cuộc điều tra mới đây tại 5 tỉnh, thành phố cho thấy, tỷ lệ hút thuốc trong nam học sinh là 3,8%, ở thầy giáo là 50%, hơn 40% số thầy giáo vẫn có thói quen hút thuốc trong trường học11
Trang 15http://vietbao.vn/Suc-khoe/Su-hieu-biet-Hút thuốc lá hiện nay đã trở thành một phần trong văn hoá ứng xử của một
số người Họ cho rằng việc mời nhau thuốc lá hoặc nhận thuốc lá từ tay người khác
sẽ giúp cho các mối quan hệ giao tiếp được thuận lợi hơn Tuy nhiên, với tỷ lệ rất lớn những người không hút thuốc lá phải hít khói thuốc do người hút thuốc nhả ra là điều không dễ chịu chút nào Khi đi đến những nơi công cộng như nhà ga, sân bay, trường học vì không thể chịu được mùi thuốc lá, nhiều người đã phải bịt mũi và bỏ
đi nơi khác Vì vậy, hút thuốc lá, đặc biệt tại những nơi công cộng thể hiện nếp sống thiếu văn minh, gây ảnh hưởng cho nhiều người
Có một thực tế không thể phủ nhận được, đó là thuốc lá gây ô nhiễm môi trường Trong các chất độc hại được thải ra từ khói thuốc lá có rất nhiều chất gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt nhất là CO- một chất được thải ra từ khói xe ô tô Ngoài
ra, đầu lọc thuốc lá với 95% được làm từ nhựa Cellulo acetate rất khó phân huỷ cũng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Khi các mẫu thuốc lá rơi vãi xuống đất
sẽ có nhiều loài chim thú ăn phải vì trong thuốc lá có khoảng 165 hoá chất mà chim hay các loài thú nhỏ tưởng là thức ăn của chúng Khi đó, các loại chim hay thú này
sẽ dễ bị ngộ độc và chết
Như vậy, ngoài những tổn thất về kinh tế và gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người thì hút thuốc lá còn gây ô nhiễm môi trường, gây phản cảm về mặt văn hoá Trước tình hình đó đòi hỏi Nhà nước ta phải hành động và tìm những giải pháp hợp
lý để khắc phục và phòng chống những thiệt hại này
1.1.2 Các biện pháp mà Nhà nước đã sử dụng để hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Viêt Nam
1.1.2.1 Biện pháp tuyên truyền giáo dục
Tuyên truyền giáo dục là biện pháp tác động vào tâm lý, làm cho người dân hiểu biết về tác hại của thuốc lá mà từ bỏ thuốc lá và phòng tránh tác hại của thuốc lá một cách có hiệu quả Tuyên truyền càng sâu rộng thì càng làm tăng tính tự giác của người dân, giúp họ có thói quen sinh hoạt đúng đắn, có nề nếp Qua đó, biện pháp này có thể giúp cho họ biết cách tự bảo vệ mình và bảo vệ những người xung quanh trước những tác hại do thuốc lá mang lại
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện rất nhiều đợt tuyên truyền lớn, rất rầm rộ và thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia Theo đánh giá của các chuyên gia, các chương trình tuyên truyền này thực sự có quy mô, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, giữa trung ương và địa phương Tổ chức y tế thế giới WHO cũng đã đánh giá cao về các hoạt động tuyên truyền giáo dục này
Với chương trình phòng chống tác hại thuốc lá 2001-2010 do Chính Phủ thực hiện, chúng ta đã thu hút sự tham gia, sự quan tâm chú ý của các tầng lớp nhân dân Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự phối hợp thực hiện giữa Bộ Y Tế
Trang 16với Bộ Văn Hoá Thông Tin, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Bộ Giao Thông Vận Tải…rất nhiều hoạt động đã được tổ chức Có thể kể đến 2 hoạt động lớn là “Tuần
lễ quốc gia không hút thuốc lá” diễn ra từ ngày 25/5-31/5 hàng năm và “Ngày thế giới không hút thuốc lá” diễn ra vào ngày 31/5 hàng năm Để hưởng ứng ngày này, hàng loạt các hoạt động đã được thực hiện, đó là: vẽ tranh tuyên truyền về phòng chống tác hại thuốc lá, sáng tác ca khúc với đề tài không thuốc lá…Ngoài ra, chương trình cũng thành lập trang web của chương trình tại địa chỉ
www.vinacosh.gov.vn để giới thiệu về tác hại của thuốc lá, phương pháp cai nghiện thuốc lá, các tài liệu tham khảo về phòng chống tác hại thuốc lá…
Để tuyên truyền thực sự có quy mô sâu và rộng hơn, Việt Nam đã tham gia vào Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC) của Tổ chức y tế thế giới (WHO) Vào ngày 17/3/2005, Công ước khung đã chính thức có hiệu lực tại Việt Nam Công ước khung về kiểm soát thuốc lá hay còn được gọi là Hiệp ước “không khói thuốc” là một luật quốc tế về lĩnh vực y tế công cộng đã được 57 quốc gia trên thế giới phê chuẩn Với việc tham gia này, Việt Nam sẽ có thêm nguồn kinh phí cũng như được hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ… để tuyên truyền tốt hơn, sâu rộng hơn, hiệu quả hơn Sau khi tham gia vào Công ước, chúng ta đã đưa ra lộ trình thực hiện các biện pháp để hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam Đây thực sự là cơ hội để chúng ta có thể bảo vệ các thế hệ hiện tại và tương lai thoát khỏi những tác hại do thuốc lá gây ra
Để biện pháp tuyên truyền đi vào đời sống nhân dân, trở thành thói quen và buộc người dân phải nghiêm chỉnh chấp hành, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật để cụ thể hoá chủ trương của Đảng và Nhà nước Cụ thể: ngày 14/8/2000, Chính phủ ra Nghị Quyết số 12/2000/NQ-CP về “Chính sách quốc gia phòng chống tác hại thuốc lá” trong giai đoạn 2001-2010; ngày 27/5/2002 Bộ Văn Hoá Thông Tin ban hành Chỉ Thị số 14/2002/CT-BVHTT về việc tăng cường công tác phòng chống tác hại thuốc lá trong ngành văn hoá thông tin; ngày 11/11/2004 Chủ Tịch Nước ban hành Quyết Định 887/2004/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ước khung về kiểm soát tiêu thụ thuốc lá của tổ chức Y tế Thế giới (WHO); ngày 10/5/2007 Thủ Tướng Chính Phủ ban hành Chỉ Thị số 12/2007/CT-TTgCP về việc tăng cường các hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá; ngày 2/10/2007 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành Chỉ Thị số 56/2007/CT-BGD và ĐT về việc tăng cường các hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá trong ngành giáo dục Ngoài ra, còn khá nhiều các văn bản pháp luật về sản xuất- kinh doanh thuốc lá đã được ban hành nhằm điều chỉnh lĩnh vực này
Một biện pháp tuyên truyền giáo dục được cho là có hiệu quả cao, tác động trực tiếp đến người hút thuốc hiện nay đó là cho in lời cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá Khác với một số nước cho in cả hình ảnh cảnh cáo trên vỏ bao thuốc
Trang 17lá như Canada, Brazil, Singapore, Thái Lan…, ở Việt Nam chỉ quy định in bằng chữ lời cảnh báo Sau khi nghiên cứu và chọn lọc 5 câu cảnh báo: “hút thuốc lá gây ung thư phổi”, “hút thuốc lá gây hại cho thai nhi và trẻ nhỏ”, “hút thuốc lá gây chảy máu não”, “hút thuốc lá gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính”, “hút thuốc lá gây hôi miệng
và hỏng răng”, theo Nghị Định 119/2007/NĐ-CP ngày 18/7/2007 về sản xuất và kinh doanh thuốc lá tại Mục 3 Điều 19 thì 2 lời cảnh báo “hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi” và “hút thuốc lá có thể gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” đã được chọn Vào ngày 01/04/2008 vừa qua quy định này đã bắt đầu có hiệu lực Với diện tích chiếm 30% diện tích gói thuốc và được in trên cả 2 mặt: mặt trước và mặt sau, dòng chữ đen trên nền trắng này hy vọng sẽ cảnh báo được người tiêu dùng, làm cho họ sợ và không dám hút nữa
Tuy nhiên, biện pháp tuyên truyền giáo dục người dân hạn chế tiêu dùng thuốc lá cũng có những hạn chế nhất định Theo điều tra mới đây của Bộ Y Tế, có tới 90% số người hút thuốc ở Việt Nam biết về tác hại lâu dài của thuốc lá, nhưng chỉ có một phần nhỏ trong số họ thực sự muốn bỏ thuốc12 “Tuần lễ quốc gia không hút thuốc lá” và “Ngày thế giới không hút thuốc lá” chỉ thực sự rầm rộ lên trong một thời gian nhất định và sau những ngày này thì đâu lại vào đấy Những mục tiêu
mà Việt Nam đặt ra khi thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc lá mới chỉ thực hiện ở bước đầu và cần phải mất rất nhiều thời gian mới triển khai sâu rộng được Còn việc ban hành văn bản pháp luật thực hiện chính sách phòng chống tác hại thuốc lá cho đến nay vẫn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh Điển hình là Nghị Quyết 12/2000/NQ-CP ngày 14/8/2000 về “Chính sách quốc gia phòng chống tác hại thuốc lá” trong giai đoạn 2001-2010 cho đến nay đã tồn tại gần 10 năm và có nhiều quy định không còn phù hợp nữa (chẳng hạn như quy định về cấm nhập khẩu thuốc lá…) Mặt khác, văn bản này chỉ có các quy định về phương hướng thực hiện các hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá mà không kèm theo chế tài tương ứng Chính điều này đã làm cho việc tuân thủ pháp luật của người dân không nghiêm, không tự giác Ngay cả Chỉ Thị số 14/2002/CT-BVHTT về việc tăng cường công tác phòng chống tác hại thuốc lá trong ngành văn hoá thông tin hay Chỉ Thị số 56/2007/CT-BGDvà ĐT về việc tăng cường các hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá trong ngành giáo dục…quy định rất chung chung, chưa thu hút được sự quan tâm của dư luận Đòi hỏi cấp thiết lúc này là Nhà nước ta cần phải nâng Nghị Quyết 12/2000/NQ-CP đã đề cập ở trên thành Luật phòng chống tác hại thuốc lá và
có các văn bản hướng dẫn cụ thể, kèm theo các chế tài phù hợp Ngay cả biện pháp cho in lời cảnh báo sức khoẻ lên vỏ bao thuốc lá mới được thực hiện vào ngày 01/04/2008 vừa qua cho đến nay cũng đã vấp phải rất nhiều luồng dư luận khác nhau Theo ý kiến của các chuyên gia thì biện pháp này vẫn còn nhiều bất cập
12
Xem: “Sự hiểu biết về mối nguy hại của thuốc lá còn hạn chế”, tlđd
Trang 18Dòng chữ cảnh báo có chữ “có thể” tức là chưa chắc đã xảy ra Do vậy, người tiêu
dùng sẽ không hoàn toàn tin tưởng rằng hút thuốc lá sẽ gây bệnh ung thư phổi hay bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và dẫn đến khả năng họ vẫn cứ hút như thường Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng phải in bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá thì mới
có thể cảnh báo được người tiêu dùng
Biện pháp tuyên truyền giáo dục có tác động rất lớn đến tâm lý của người tiêu dùng thốc lá Nếu tuyên truyền thực sự đạt hiệu quả thì sẽ thấm sâu vào nếp nghĩ của người dân, trở thành thói quen và họ sẽ tự giác chấp hành Tuy nhiên, thực
tế hiện nay ở nước ta, khi nhận thức của một bộ phận không nhỏ dân chúng còn hạn chế thì công tác tuyên truyền giáo dục gặp không ít những khó khăn Nhất là khi hút thuốc lá là thói quen của rất nhiều người Thậm chí khi họ bị nghiện thuốc nặng thì nếu chỉ tuyên truyền thôi thì không đủ để họ bỏ thuốc lá mà đòi hỏi phải có biện pháp mạnh hơn, khả thi hơn
1.1.2.2 Biện pháp cấm
Để hạn chế tiêu thụ thuốc lá, bên cạnh việc tuyên truyền giáo dục, Nhà nước
ta cũng sử dụng biện pháp cấm Cho đến nay, biện pháp cấm được thể hiện rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng tổng hợp lại thì có thể có một số trường hợp cấm như sau:
Thứ nhất, cấm quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại thuốc lá và các hình thức tài
trợ có liên quan đến thuốc lá Tại Nghị Quyết 12/2000/NQ-CP ngày 14/78/2000 về
“Chính sách quốc gia phòng chống tác hại thuốc lá” trong giai đoạn 2001-2010 có quy định việc cấm quảng cáo thuốc lá dưới mọi hình thức, kể cả việc sử dụng tên, nhãn hiệu, và biểu tượng của các sản phẩm thuốc lá với các sản phẩm và dịch vụ không liên quan đến thuốc lá; cấm khuyến mại bằng thuốc lá và các hình thức tương
tự với trẻ em dưới 16 tuổi; cấm tổ chức các hoạt động tiếp thị, kể cả việc sử dụng hàng ngũ tiếp viên để chào hàng, in nhãn mác lên phương tiện vận chuyển, cấm các
tổ chức trong nước nhận tài trợ để tổ chức các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể thao gắn liền với việc quảng các thuốc lá13
Để cụ thể hoá các quy định về cấm quảng cáo thuốc lá, ngày 12/5/2005 Bộ Văn Hoá Thông Tin đã ban hành Thông Tư 19/2005 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh quảng cáo và Nghị Quyết 12 /2000/NQ-CP của Chính Phủ về cấm quảng cáo thuốc
lá Theo đó, các hành vi như: phát tán đến công chúng các thông báo khuyến mại sản phẩm thuốc lá, trưng bày quá 1 bao/gói (20 điếu) hoặc trưng bày quá 1 tút/hộp (200 điếu) của một nhãn hiệu thuốc lá tại điểm bán thuốc… cũng bị coi là quảng cáo thuốc lá và bị cấm Trong Chỉ Thị 12/2007 về tăng cường các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá cũng quy định cấm quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị thuốc
13
Điểm b Mục 1 Phần II Nghi Quyết 12/2000/NQ-CPngày 14/8/2000 về “Chính sách quốc gia phòng chống tác hại của thuốc lá” giai đoạn 2001-2010
Trang 19lá hoặc sử dụng thuốc lá làm sản phẩm khuyến mại cho hàng hoá dịch vụ khác dưới mọi hình thức14
Việc quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại thuốc lá có tác động rất lớn đối với người dân, đặc biệt là những người hút thuốc lá Nó làm cho những người chưa hút thuốc bị kích thích trí tò mò, muốn được thử hút Những người đã hút thuốc muốn
bỏ thuốc thì rất khó vì những chiêu bài quảng cáo tốt đẹp do các cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc lá đưa ra Khi việc quảng cáo đã trở nên phổ biến và tràn lan như hiện nay thì việc kiểm soát hành vi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại thuốc lá là rất khó khăn Vì vậy, việc cấm quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại thuốc lá là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá
Thứ hai, cấm hút thuốc ở nơi công cộng, nơi làm việc, nơi công cộng trong
nhà Đây là những khu vực nhạy cảm, thường xuyên tập trung đông người Nếu hút
thuốc tại những nơi này không những gây khó chịu cho nhiều người, gây ô nhiễm môi trường mà còn vô tình làm cho người khác phải hút thuốc lá thụ động- nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm như đã trình bày ở Mục 1.1.1.1
Tại Nghị Quyết 12/2000/NQ-CP về “Chính sách quốc gia phòng chống tác hại thuốc lá” giai đoạn 2001-2010 có quy định những nơi cấm hút thuốc như: trong các cuộc họp, trụ sở cơ quan, các cơ sở y tế, trường học, nhà trẻ, rạp chiếu bóng, nhà hát, trên các phương tiện giao thông công cộng, những nơi tập trung đông người Chỉ Thị 12/2007 về “tăng cường các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá” cũng quy định: nghiêm cấm hút thuốc lá trong lớp học, nhà trẻ, các khu vực sản suất, nơi làm việc trong nhà, nơi có nguy cơ cháy nổ cao…Rõ ràng, việc quy định các khu vực cấm hút thuốc lá là rất cụ thể và khá chi tiết Nếu các quy định này phát huy tác dụng tốt thì sẽ có một bộ phận không nhỏ những người đang hút thuốc lá sẽ phải bỏ thuốc lá vì mỗi khi hút thuốc lá họ như bị cách ly ra khỏi cộng đồng Kết quả là mọi người đều được sống trong môi trường trong lành, không
có khói thuốc lá, không phải sợ mắc bệnh do hít phải khói thuốc lá nữa
Thứ ba, cấm bán sản phẩm thuốc lá tại các cơ quan, nơi làm việc, trường
học, bệnh viện, trên các phương tiện giao thông công cộng và những nơi cấm hút thuốc lá 15 Bên cạnh việc cấm hút thuốc tại nơi công cộng, Nhà nước ta cũng quy định cấm bán thuốc lá tại những nơi này Thậm chí việc bán thuốc lá bằng máy bán hàng tự động, qua mạng Internet, hoặc qua điện thoại…cũng bị cấm Mục đích của quy định này nhằm thắt chặt hơn nữa việc buôn bán thuốc lá, bên cạnh đó còn góp phần làm cho quy định cấm hút thuốc ở nơi công cộng trở nên hiệu quả hơn Vì khi không có chỗ để mua thuốc lá, người hút thuốc lá tại nơi công cộng sẽ rất khó thực
14
Điểm a Mục 5 Phần I Chỉ Thị 12/2007/CT-TTgCP ngày 10/5/2007 về việc tăng cường các hoạt động
phòng chống tác hại của thuốc lá
15
Điểm a Mục 4 Phần I Chỉ Thị 12/2007/CT-TTgCP ngày 10/5/2007 về việc tăng cường các hoạt động
phòng chống tác hại thuốc lá
Trang 20hiện hành vi này trừ khi trong túi họ lúc nào cũng đem theo thuốc lá Dĩ nhiên, việc này không phải lúc nào cũng thực hiện được vì rất bất tiện
Thứ tư, cấm nhập khẩu thuốc lá Ngay từ năm 1990, cùng với việc ban hành
luật thuế TTĐB 1990, Chỉ Thị 278/CT-HĐBT ngày 3/8/1990 của Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ) đã được ban hành nhằm quy định cấm nhập khẩu và lưu thông thuốc lá điếu của nước ngoài trên thị trường nước ta Tuy nhiên, hiện nay, do
xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở cửa thị trường nhập khẩu các sản phẩm thuốc lá từ nước ngoài vào Việt Nam là điều không thể không làm Vì vậy, quy định cấm này đã bị bãi bỏ Mặc dù vậy, việc nhập khẩu thuốc lá cũng được kiểm soát khá
kỹ lưỡng, giữa thuốc lá nhập khẩu với mục đích thương mại và thuốc lá nhập khẩu với mục đích phi thương mại đều có qui chế riêng biệt
Khi việc tiêu thụ thuốc lá đã trở nên khá phổ biến và gây ra các tác hại nghiêm trọng thì sử dụng biện pháp cấm là điều rất cần thiết Tuy nhiên, biện pháp này cũng bộc lộ không ít nhược điểm Chẳng hạn, việc cấm hút thuốc lá tại những nơi công cộng trong nhà là biện pháp không khả thi Cấm là một chuyện nhưng nếu
họ không thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền cũng không làm gì được họ Vì nhà riêng của họ thì họ có thể hút thuốc ở bất cứ chỗ nào, không thể đến từng nhà và yêu cầu họ ngưng hút thuốc được Hoặc như quy định cấm trưng bày quá 1 bao/ gói (20 điếu) của một nhãn hiệu thuốc lá tại điểm bán thuốc cũng khó có thể thực hiện được Cơ quan có thẩm quyền không thể kiểm soát được tất cả các điểm bán thuốc nếu đó chỉ là một quán cóc nhỏ hay một tủ kiếng nhỏ bày bán hàng ở lề đường…
Trong giai đoạn hiện nay, khi tác hại của thuốc lá đã được minh chứng trong thực tế cuộc sống thì việc sử dụng biện pháp cấm của Nhà nước ta được khá nhiều
sự đồng tình ủng hộ của quần chúng nhân dân và nếu thực hiện tốt có thể cấm được Cấm hút thuốc lá nơi công cộng, cấm quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại thuốc lá…là việc làm rất cần thiết Tuy nhiên, nếu thực hiện biện pháp cấm mà không kèm theo chế tài phù hợp thì rất khó đạt được hiệu quả như mong muốn Vì vậy, khi đề ra biện pháp cấm, Nhà nước cần phải cân nhắc kỹ càng, không phải cứ không thể quản
lý được là lại cấm, mà phải lựa chọn những quy định có tính khả thi cao để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống
1.1.2.3 Biện pháp xử phạt vi phạm hành chính
Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác Trong mục này, tác giả chỉ đề cập đến xử phạt vi phạm hành chính với các hình thức xử phạt chính là phạt tiền và cảnh cáo
a) Phạt tiền
Phạt tiền là chế tài được áp dụng trong nhiều lĩnh vực pháp lý Trong mỗi lĩnh vực, việc áp dụng biện pháp phạt tiền có sự khác biệt nhất định Phạt tiền trong
Trang 21lĩnh vực Hình sự có thể là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung và do Toà án quyết định Phạt tiền trong lĩnh vực Dân sự được thực hiện căn cứ vào mức độ thiệt hại vật chất đã xảy ra và được trả cho người bị thiệt hại Về bản chất, phạt tiền theo pháp luật Dân sự chính là sự bồi thường thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu Vì vậy, nó không thể hiện sự răn đe của Nhà nước đối với người vi phạm như trong Luật Hình Sự và Luật Hành Chính Phạt tiền trong Luật Hành Chính lại là hình thức phạt chính, do cơ quan hành chính hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính quyết định và số tiền phạt được sung vào quỹ Ngân sách Nhà nước Trong phạm vi khoá luận, tác giả chỉ đề cập đến hình thức phạt tiền dưới góc độ hành chính
Có thể hiểu một cách khái quát: “phạt tiền là biện pháp xử phạt vi phạm hành chính mà người vi phạm pháp luật phải nộp phạt bằng tiền mặt”16 Biện pháp phạt tiền mang nội dung kinh tế là “tước đoạt” một phần tài sản của người vi phạm Người vi phạm ở đây có thể là người có hành vi hút thuốc lá không đúng quy định; người sản xuất, kinh doanh thuốc lá không đúng quy định Phạt tiền tác động đến vật chất của người vi phạm, gây ra hậu quả bất lợi về tài sản cho họ Mục đích của biện pháp phạt tiền là bảo vệ các quan hệ hệ xã hội trước sự xâm hại của hành vi hút thuốc lá không đúng các quy định pháp luật, qua đó có thể giữ gìn được trật tự công cộng Nếu so sánh với biện pháp tuyên truyên giáo dục và biện pháp cấm thì phạt tiền có tính khả thi hơn
Biện pháp phạt tiền được quy định rất cụ thể tại Khoản 1, 2, 3 Điều 16 Nghị Định 45/2005/NĐ-CP ngày 6/4/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
Y tế với 3 mức khác nhau Cụ thể:
Phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi: hút thuốc lá, thuốc lào ở nơi công cộng như: trong rạp hát, rạp chiếu phim, phòng họp, phòng làm việc, bệnh viện, thư viện, bến xe, sân bay, bến cảng… trên các phương tiện giao thông công cộng hoặc ở những nơi công cộng khác có quy định cấm bán thuốc lá, thuốc lào cho trẻ em dưới 16 tuổi
Phạt tiền từ 4 triệu đồng đến 6 triệu đồng đối với hành vi vi phạm các quy định về ghi nhãn hiệu trên sản phẩm thuốc lá, quy định về ghi nội dung lời cảnh báo và vị trí ghi lời cảnh báo trên vỏ bao thuốc lá
Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi sản xuất thuốc lá có hàm lượng chất Tar, Nicôtin vượt quá mức quy định
Nghị định 45/2005/NĐ-CP ngày 6/4/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế được ra đời trong hoàn cảnh khi nước ta vừa mới tham gia vào Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC) Nghi Định 45 đã góp phần cụ thể
16
PGS.TS Nguễn Cữu Việt (2005), Giáo trình Luật Hành Chính Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,
Hà Nội, tr 553
Trang 22hoá quy định “những người hút thuốc lá ở nơi công cộng sẽ bị phạt tiền” của Công ước Điều này chứng tỏ Nhà nước ta đã tích cực triển khai thực hiện Luật quốc tế này Tuy nhiên, áp dụng biện pháp phạt tiền trên thực tế là điều không dễ dàng Chỉ riêng đối với hành vi hút thuốc lá nơi công cộng cho dù có bị phát hiện cũng rất khó
xử lý Có nhiều nguyên nhân khác nhau: Thứ nhất, do lực lượng thanh tra y tế của chúng ta còn khiêm tốn không đủ để xử lý được hết các trường hợp vi phạm Thứ
hai, trình độ của đội ngũ thanh tra y tế nước ta còn hạn chế, khả năng vận dụng
pháp luật để xử phạt vi phạm hành chính còn yếu, đòi hỏi phải trải qua thời gian tập
huấn khá dài Thứ ba, nếu người vi phạm không mang theo giấy tờ tuỳ thân thì lực
lượng thanh tra không làm gì được: không thể bắt giữ người vì họ không đủ thẩm quyền; thậm chí khi có giấy tờ tuỳ thân mà người vi phạm nói không có tiền để nộp phạt thì lực lượng thanh tra cũng không thể giữ giấy tờ hoặc giữ người được
Đối với hành vi bán thuốc lá, thuốc lào cho trẻ em dưới 16 tuổi rất khó xử lý Hiện nay, với điều kiện vật chất ngày càng được nâng cao, các em trưởng thành rất sớm Việc phát hiện trẻ em dưới 16 tuổi hay trên 16 tuổi nếu chỉ dựa vào ngoại hình thì không dễ dàng chút nào Nếu người mua thuốc lá không mang theo giấy tờ tuỳ thân thì người bán hàng sẽ không biết được người đó trên 16 tuổi hay dưới 16 tuổi
Do đó, nếu người bán thuốc lá mà có bán cho những đối tượng này bị phát hiện thì cũng gặp không ít khó khăn trong xử lý
Rõ ràng phạt tiền là một biện pháp có chế tài xử phạt khá nghiêm khắc nhưng việc thực hiện biện pháp này trên thực tế tồn tại không ít khiếm khuyết Bởi việc phát hiện ra các trường hợp vi phạm đã là điều khó khăn nhưng việc áp dụng quy định pháp luật để phạt tiền còn khó khăn hơn Nếu áp dụng biện pháp này không chính xác, cụ thể là không theo đúng quy định của pháp luật hoặc xử phạt đối với hành vi chưa đến mức bị phạt tiền… sẽ gây phản tác dụng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với chính sách pháp luật của Nhà nước Còn nếu áp dụng không cứng rắn thì người dân không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, dẫn đến không chấp hành tốt kỷ cương phép nước Do vậy, Nhà nước ta phải có lộ trình thực hiện biện pháp này một cách hợp lý, không được chủ quan nóng vội Có như thế thì biện pháp phạt tiền mới phát huy hiệu quả trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam
b) Cảnh cáo
Cảnh cáo là biện pháp xử phạt hành chính mang tính chất nhẹ hơn so với phạt tiền và thường được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính lần đầu Mục đích của biện pháp này nhằm giáo dục để người vi phạm hiểu được hành vi của mình là không đúng và không tiếp tục tái phạm nữa Biện pháp cảnh cáo tạo cơ hội
để người vi phạm sửa chữa khuyết điểm của mình, tránh khỏi sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật Tuy nhiên, do quy định pháp luật còn quá sơ sài nên không đạt
Trang 23hiệu quả cao trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá Do vậy biện pháp này rất ít được
sử dụng trong thực tế
Để đảm bảo pháp luật được thực hiện thống nhất, có hiệu quả trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá, bên cạnh việc quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi nói trên, Nhà nước ta quy định xử phạt hành chính đối với một số trường hợp khác Cụ thể, khi các cơ quan Hải quan, Quản lý thị trường hay cơ quan
có thẩm quyền thực hiện tuyên truyền giáo dục về tác hại thuốc lá ở các địa phương… không thực hiện nghiêm chỉnh các nhiệm vụ của mình cũng bị xử phạt vi phạm hành chính Tại Điểm 2 Mục II Chỉ Thị 12/2007/CT-TTgCP ngày 10/5/2007
về việc tăng cường các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá quy định: Bộ Văn Hoá Thông Tin có thẩm quyền chỉ đạo cơ quan thông tin đại chúng và thông tin cơ sở đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục truyền thông về phòng chống tác hại thuốc lá nhằm thay đổi hành vi hút thuốc lá…Theo quy định này, có thể thấy dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn Hoá Thông Tin, các Sở Văn Hoá Thông Tin, Phòng Văn Hoá Thông Tin…ở địa phương có nhiệm vụ thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng chống tác hại thuốc lá Như vậy có thể suy ra, trong trường hợp các cơ quan này vi phạm quy định hoặc không thực hiện tốt nhiệm vụ của mình thì theo nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt Cũng tại Chỉ Thị trên, Điểm 4 Mục II có quy định: Bộ Thương Mại sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng đề xuất các biện pháp và tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác chống buôn lậu thuốc lá, thuốc lá giả, thuốc lá nhái nhãn mác, thuốc lá kém chất lượng và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định pháp luật Như vậy, Bộ Thương Mại sẽ là đầu mối quản lý công tác chống buôn lậu
và gian lận thương mại với thuốc lá Do đó, có thể suy ra rằng, nếu các cơ quan Hải quan, Quản lý thị trường…không thực hiện đúng các biện pháp nhằm chống buôn lậu, gian lận thương mại thì cũng sẽ bị xử phạt hành chính Qua các quy định nêu trên, chúng ta thấy rằng việc Nhà nước quy định xử phạt hành chính đối với cơ quan Hải quan, Quản lý thị trường, cơ quan thực hiện việc tuyên truyền giáo dục…còn quá chung chung Hiện nay chưa có văn bản cụ thể hướng dẫn về việc xử phạt đối với các trường hợp này Đây là khó khăn lớn cho công tác thực hiện pháp luật
Như vậy, việc thực hiện biện pháp xử phạt hành chính để hạn chế tiêu thụ thuốc lá điển hình nhất là cảnh cáo và phạt tiền Để có thể áp dụng các biện pháp chế tài tương đối nghiêm khắc này trên thực tế được hiệu quả, Nhà nước ta cần xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh và cần trao thêm thẩm quyền cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử phạt
1.1.2.4 Các biện pháp khác
Ngoài các biện pháp trên, Nhà nước ta còn thực hiện một số biện pháp khác
để hạn chế tiêu thụ thuốc lá Đây là những biện pháp phải được thực hiện lâu dài và
Trang 24liên tục Tuy các biện pháp này không tác động trực tiếp nhưng cũng đóng vai trò nhất định trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam Có thể kể ra các biện pháp sau:
Quản lý chặt chẽ việc sản xuất- kinh doanh thuốc lá: Nghị Đinh 119
về sản xuất kinh doanh thuốc lá đã quy định rất cụ thể việc này Tại Điều 13 của Nghị Định có quy định những điều kiện để một doanh nghiệp được phép sản xuất thuốc lá như: đã sản xuất sản phẩm thuốc lá trước thời điểm ban hành Nghị Quyết 12/2000/NQ-CP ngày 14/8/2000 về “Chính sách quốc gia phòng chống tác hại của thuốc lá” cụ thể là trước ngày 14/8/2000, còn nếu sau ngày này thì các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá không được tiến hành hoạt động sản xuất nữa; Nhà nước giữ tỷ lệ chi phối trong vốn điều lệ của doanh nghiệp; sản xuất sản phẩm thuốc lá phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể ngành thuốc lá được phê duyệt…
Đối với việc kinh doanh thuốc lá, tại Điều 25 của Nghị Định đã quy định điều kiện kinh doanh bán buôn, đại lý bán buôn thuốc lá như: có cơ sở vật chất và năng lực tài chính phù hợp quy mô kinh doanh, phải có hợp đồng mua bán sản phẩm thuốc lá và có hệ thống phân phối thuốc lá ổn định…Còn đối với việc kinh doanh bán lẻ hoặc đại lý bán lẻ thuốc lá phải thoả mãn điều kiện: thuộc hệ thống phân phối của doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thuốc lá hoặc của thương nhân bán buôn, đại lý bán buôn sản phẩm thuốc lá, có giấy phép kinh doanh bán lẻ hoặc đại
lý bán lẻ sản phẩm thuốc lá theo quy định…
Tuy quy định điều kiện có khác nhau nhưng cả việc sản xuất hay kinh doanh thuốc lá đều phải có giấy phép theo quy định và đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện Ngoài các điều kiện về sản xuất kinh doanh thuốc lá thì khi sản phẩm thuốc lá được lưu hành trên thị trường còn phải thoả mãn điều kiện về chất lượng,
về nhãn hiệu, về dán tem trên sản phẩm…Thậm chí giấy chuyên ngành cuốn điếu thuốc lá cũng được quy định khá chặt chẽ Trên thực tế, các quy định pháp luật trên khi thực hiện cũng gặp phải không ít khó khăn, vướng mắc Với tập quán kinh doanh, buôn bán nhỏ lẻ như nước ta thì các cơ quan chức năng khó có thể kiểm tra các điểm buôn bán này có chấp hành đúng pháp luật hay không để xử lý theo đúng quy định Vì vậy đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải quản lý thật nghiêm các cơ sở kinh doanh buôn bán này
Tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại: Khi giá thuốc lá
trong nước bán ra ngày càng tăng thì hành vi buôn lậu, gian lận thương mại lại càng
có cơ hội để phát triển Hành vi buôn lậu, gian lận thương mại đặc biệt đối với thuốc lá nảy sinh ở hầu hết các quốc gia, các khu vực, trong mọi thời điểm khác nhau Vì khi đứng trước lợi nhuận thì con người sẽ không cưỡng lại được Lợi nhuận càng cao con người sẽ bất chấp tất cả: thiệt hại kinh tế đất nước, sức khoẻ con người, ô nhiễm môi trường… để chạy theo “tiếng gọi” của đồng tiền
Trang 25Thuốc lá vốn đã là mặt hàng nguy hại cho sức khoẻ con người, với những sản phẩm thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả, thuốc lá nhái nhãn mác…thì tác hại của thuốc lá càng tăng lên gấp nhiều lần vì nó không hề được kiểm tra về chất lượng
Do đó, công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại đối với thuốc lá hơn lúc nào hết cần được Nhà nước ta quan tâm và nghiêm túc thực hiện
Có nhiều quy định pháp luật về việc này như: tất cả thuốc lá nhập lậu, thuốc
lá giả đều bị tịch thu để tiêu huỷ; các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc lá có nghĩa vụ phối hợp với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong phòng chống buôn lậu sản phẩm thuốc lá, kinh doanh thuốc lá giả17, tăng cường và phối hợp có hiệu quả giữa các lực lượng chống buôn lậu trong việc kiên quyết chống kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả, thuốc lá nhái nhãn mác và thuốc lá kém chất lượng18
Chống buôn lậu và gian lận thương mại đối với thuốc lá là vấn đề rất khó khăn, cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, giữa trung ương và địa phương và cần phải có thời gian dài Do vậy, biện pháp này phải được thực hiện thường xuyên và liên tục, không thể một sớm một chiều mà xong được
1.1.2.5 Biện pháp đánh thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế TTĐB ( Excise duty) đã ra đời và áp dụng trên khắp thế giới từ rất sớm Tuỳ vào chính sách pháp luật của từng nước mà thuế TTĐB có tên gọi khác nhau như: thuế tiêu dùng đặc biệt (Pháp), thuế đặc biệt (Thuỵ Điển), thuế hàng hóa (vùng Đông Nam Á)…
Ở Việt Nam, thuế TTĐB mới được đưa vào sử dụng từ năm 1990 nhưng trước đó đã có thuế hàng hoá được áp dụng để đánh vào những mặt hàng không thiết yếu Đối tượng chịu thuế TTĐB thường không nhiều Cũng như hầu hết các nước, ở Việt Nam thuế TTĐB chỉ đánh vào các mặt hàng cao cấp, xa xỉ, không thật cần thiết mà Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng Riêng thuốc lá là mặt hàng
có hại cho sức khoẻ con người, môi trường, cho nền kinh tế… nên Nhà nước ta đã xếp nó vào nhóm đối tượng phải chịu thuế TTĐB
Thuế TTĐB là loại thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và quan hệ cung cầu trên thị trường của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ chịu thuế Nó tác động đến thu nhập và hành vi của người tiêu dùng cũng như của người sản xuất Cho nên, Nhà nước ta đã sử dụng nó như một công cụ pháp lý để hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam
17
Điều 30 Nghị Định 119/2007/NĐ-CP ngày 18/7/2007 về sản xuất và kinh doanh thuốc lá
18
Điểm c Mục 4 Phần I Chỉ Thị 12/2007/CT-TTgCP ngày 10/5/20007 về việc tăng cường các hoạt động
phòng,chống tác hại của thuốc lá
Trang 26So với biện pháp tuyên truyền giáo dục thì biện pháp đánh thuế này có nhiều
ưu điểm hơn Nếu biện pháp tuyên truyền giáo dục chỉ tác động vào tâm lý của người tiêu dùng để hình thành nhận thức của họ đối với tác hại của thuốc lá mà từ
bỏ hút thuốc, thì thuế TTĐB lại đánh vào túi tiền của người tiêu dùng Biện pháp tuyên truyền giáo dục đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, tiền của của Nhà nước trong khi việc đánh thuế TTĐB không chỉ tác động nhanh hơn đối với tâm lý của người tiêu dùng mà còn góp phần làm tăng thêm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Khác với việc cấm hút thuốc lá chỉ được thực hiện trong những trường hợp nhất định, trong những không gian nhất định và phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp luật Biện pháp đánh thuế TTĐB gọn nhẹ hơn nhiều Nó được áp dụng một cách thống nhất trong cả nước trong một khoản thời gian xác định Vì vậy, nó được thực hiện một cách đồng bộ hơn
Thuế TTĐB có cách thức điều tiết được coi là ít “đau xót” hơn đối với người chịu thuế Vì tiền thuế được cấu thành trong giá bán các sản phẩm thuốc lá cho nên khi tiêu dùng các sản phẩm này, người tiêu dùng không có cảm giác là mình đang phải đóng thuế Nó khác hẳn với biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền
Vì phạt tiền tác động trực tiếp đến túi tiền của người tiêu dùng khiến cho họ khó có thể chấp nhận hình phạt này So với biện pháp cảnh cáo, biện pháp đánh thuế TTĐB làm cho người tiêu thụ thuốc lá không cảm thấy mình bị ảnh hưởng về danh dự, uy tín… Ngoài ra, do đã có Luật thuế TTĐB được áp dụng một cách thống nhất nên cách thức đánh thuế được quy định rất cụ thể và nhanh chóng không phải mất nhiều thời gian và trải qua nhiều thủ tục hành chính như phạt tiền và cảnh cáo Vì mỗi khi muốn thực hiện một trong 2 biện pháp xử phạt vi phạm hành chính này phải có quyết định xử phạt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Tóm lại, so với các biện pháp mà Nhà nước ta đã sử dụng để hạn chế tiêu thụ thuốc lá, biện pháp đánh thuế TTĐB có nhiều ưư điểm vượt trội, nó giúp tiết kiệm chi phí quản lý của Nhà nước, mang lại hiệu quả cao và dễ dàng thực hiện trong thực tế cuộc sống Hiện nay, biện pháp đánh thuế TTĐB đang tồn tại song hành cùng với các biệp pháp trên và ngày càng thể hiện nổi bật vai trò của mình trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam
1.2 Vai trò hạn chế tiêu thụ thuốc lá của thuế tiêu thụ đặc biệt
1.2.1 Giới thiệu chung về thuế tiêu thụ đặc biệt
1.2.1.1 Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế TTĐB là một trong những loại thuế xuất hiện từ rất sớm và là loại thuế không thể thiếu dù ở bất cứ quốc gia nào Ở Việt Nam, tiền thân của thuế TTĐB là thuế hàng hoá được ban hành năm 1951 Vào thời điểm này, thuế hàng hoá đánh nhẹ vào các mặt hàng tiêu dùng không cần thiết như: dầu ăn, miến, giấy…đánh
Trang 27nặng vào các mặt hàng cao cấp, chưa thực sự cần thiết như: mỹ phẩm, vàng mã, thuốc lá, rượu…Thuế hàng hoá còn bổ sung cho thuế Xuất Khẩu- Nhập Khẩu (thuế XK-NK) chống hàng hoá nước ngoài chiếm thị trường Giai đoạn năm 1989-1990,
Bộ Tài Chính đã quyết định sửa đổi thuế hàng hoá thành thuế TTĐB vì số lượng hàng hoá bị đánh thuế giảm dần Năm 1990, chỉ còn 8 mặt hàng bị đánh thuế TTĐB
đó là: thuốc lá, rượu, bia, ô tô…Vì vậy, mãi đến ngày 1/10/1990, Luật thuế TTĐB lần đầu tiên mới được ban hành Cũng từ đây, luật thuế TTĐB của Việt Nam mới phù hợp với xu hướng đánh thuế chung của thế giới và cũng phù hợp với thuật ngữ đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới
Có nhiều khái niệm khác nhau về thuế TTĐB Theo giáo trình Luật Tài Chính- Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu Thông qua chế độ thu thuế TTĐB, Nhà nước động viên một bộ phận thu nhập của người tiêu dùng vào Ngân sách Nhà nước Đồng thời, Nhà nước thực hiện hướng dẫn và điều tiết tiêu dùng của xã hội” Theo như khái niệm này thì chúng ta sẽ không thể biết đối tượng chịu thuế TTĐB là hàng hoá hay dịch vụ hay một đối tượng nào khác Bên cạnh đó, khái niệm trên cũng chưa thể hiện được bản chất của thuế TTĐB là hướng dẫn và điều tiết cả hoạt động sản xuất, và tiêu dùng chứ không phải chỉ là điều tiết, hướng dẫn hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng Tuy nhiên,
do xét trên góc độ đối tượng nghiên cứu của Giáo trình này là rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề mà thuế TTĐB chỉ là một phần nhỏ trong số đó Mục đích nghiên cứu thuế TTĐB trong giáo trình này chỉ là nghiên cứu về cách đánh thuế của Nhà nước nói chung chứ không đi vào cụ thể về thuế TTĐB cho nên cách định nghĩa như vậy
là khá phù hợp
Còn theo Giáo trình thuế- Trường Đại học Công Nghiệp TP.HCM thì: “Thuế TTĐB là loại thuế gián thu, tiền thuế được cấu thành vào giá bán hàng hoá, dịch vụ” Do đứng trên góc độ kinh tế để đưa ra khái niệm về thuế TTĐB nên khái niệm này không phản ánh được bản chất của pháp luật thuế TTĐB mà chỉ xem đó là công
cụ kinh tế để tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Nó cũng không hề đề cập đến đối tượng chịu thuế hay mục đích đánh thuế TTĐB của Nhà nước mà chỉ nêu số tiền thuế được cấu thành vào trong giá bán hàng hoá, dịch vụ Do đó, khái niệm này chỉ phù hợp với sinh viên Kinh tế khi nghiên cứu về thuế TTĐB chứ hoàn toàn không phù hợp với sinh viên Luật khi nghiên cứu về thuế TTĐB như một đạo luật
và nguyên nhân của việc ban hành đạo luật này
Theo Giáo trình Luật thuế Việt Nam- trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Thuế TTĐB là loại thuế đánh vào một số loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước” Đây là khái niệm tương đối đầy đủ, thể hiện được bản chất của pháp luật thuế TTĐB Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong các trường đào tạo
Trang 28chuyên ngành Luật và có thể nói đó là quan điểm khá chính thống Tuy nhiên, theo tác giả cần phải đưa thêm cụm từ “thuế TTĐB là một loại thuế gián thu” để cho người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về bản chất của loại thuế này
Tóm lại, tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng ngành mà thuế TTĐB được định nghĩa khác nhau Theo quan điểm của tác giả, dưới góc độ pháp lý, thuế TTĐB có thể được định nghĩa đầy đủ như sau: “Thuế TTĐB là loại thuế gián thu đánh vào một số loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt, cần phải điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng và tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước”
1.2.1.2 Đặc điểm thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế TTĐB là một loại thuế nằm trong hệ thống thuế ở nước ta Do vậy, nó mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của một sắc thuế thông thường Ngoài ra, thuế TTĐB có các đặc trưng riêng biệt giúp chúng ta có thể dễ dàng phân biệt nó với các loại thuế gián thu khác nói riêng và các loại thuế trong hệ thống thuế Việt Nam nói chung Đó là những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, thuế TTĐB có đối tượng chịu thuế hẹp Theo quy định của Pháp
luật thuế TTĐB Việt Nam hiện hành, đối tượng chịu thuế TTĐB gồm 8 nhóm hàng hóa và 5 nhóm dịch vụ như: thuốc lá, rượu, bia, trò chơi bằng máy jắckpot… Việc quy định đối tượng chịu thuế phụ thuộc vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng từng thời kỳ Tuy nhiên, trong tương lai, khi thuế Nhập Khẩu buộc phải cắt giảm theo tiến trình hội nhập WTO thì đối tượng chịu thuế TTĐB sẽ được mở rộng Đặc điểm này của thuế TTĐB giúp chúng ta có thể phân biệt với các loại thuế khác có đối tượng chịu thuế khá rộng như: thuế Giá trị gia tăng (thuế GTGT), thuế XK-NK…
Thứ hai, thuế suất thuế TTĐB là thuế suất tỷ lệ cố định và thường cao hơn
nhiều lần so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác Cho nên, nó tạo nên nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước cao hơn so với các loại thuế khác Ở một số
nước quy định thuế suất thuế TTĐB là thuế tuyệt đối, tức số thuế phải nộp được ấn định bằng một số tiền tuyệt đối trên một đơn vị tính thuế như Mỹ, Nhật, một số nước Châu Âu, Philipines Một số nước quy định thuế suất thuế TTĐB vừa là thuế suất tỷ lệ, vừa là thuế tuyệt đối như Thái Lan Ở Việt Nam, thuế suất thuế TTĐB là thuế suất tỷ lệ, cụ thể là thuế suất tỷ lệ cố định, tức thuế suất được xác định theo tỷ
lệ phần trăm, tỷ lệ phần trăm này sẽ không đổi khi giá trị tính thuế thay đổi Có một
số mặt hàng bị đánh thuế TTĐB với thuế suất rất cao như: thuốc lá 65%; bia chai, bia hộp 75%; vàng mã, hàng mã 70% trong khi đó thuế suất thuế GTGT đối với các mặt hàng này chỉ là 10% Do đó, mức độ động viên vào Ngân sách Nhà nước của thuế TTĐB thường cao hơn so với các loại thuế gián thu khác Cách quy định
Trang 29thuế suất đối với từng đối tượng chịu thuế này còn cho chúng ta thấy được tính linh hoạt của Pháp luật thuế TTĐB
Thứ ba, thuế TTĐB chỉ thu vào những hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu
thuế TTĐB được tiêu dùng tại Việt Nam Nếu hàng hoá được sản xuất để xuất khẩu
thì không phải nộp thuế TTĐB Đồng thời, bất cứ là người Việt Nam hay người nước ngoài nếu có hành vi tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB đều là người gánh chịu thuế TTĐB Đặc điểm này thể hiện rõ nét chính sách khuyến khích xuất khẩu và quan điểm hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng đối với các hàng hoá, dịch vụ đặc biệt này của Nhà nước ta
Thứ tư, thuế TTĐB chỉ được thu một lần ở khâu sản xuất hay khâu nhập
khẩu mà không được thu ở khâu lưu thông Việc thu thuế này khác với thu thuế
GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp ở chỗ các loại thuế này đánh trên toàn bộ doanh thu bán hàng hoặc trên giá trị tăng thêm của hàng hoá ở mọi khâu trong lưu thông Cách thu thuế này giúp cho việc thực hiện pháp luật thuế TTĐB trên thực tế đơn giản, gọn nhẹ so với các loại thuế trên rất nhiều Bên cạnh đó, nó không gây ra
sự trùng lắp qua các khâu của quá trình sản xuất hoặc luân chuyển hàng hoá, giảm được chi phí hành thu Mặc dù cần phải có sự kiểm tra chặt chẽ để tránh thất thu thuế
Thứ năm, thuế TTĐB có vai trò quan trọng về nhiều mặt Nó là một trong
những công cụ giúp Nhà nước thực hiện chính sách quản lý đối với các cơ sở sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ chịu thuế Đồng thời, nó còn là công cụ kinh tế để Nhà nước hướng dẫn sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, hướng dẫn tiêu dùng đối với các hàng hóa, dịch vụ này; là công cụ kinh tế để Nhà nước điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư có thu nhập cao trong xã hội Với số lượng các cơ sở sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ đông đảo như hiện nay, việc thu thuế TTĐB không những làm cho Nhà nước dễ dàng quản lý được số lượng, năng lực sản xuất, kinh doanh mà còn có thể điều chỉnh hợp lý các hoạt động của các cơ sở này Bên cạnh đó, chính sách đánh thuế TTĐB còn là một rào cản lớn đối với các nhà đầu tư khi quyết định sẽ sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế Bởi vì khi phải đóng một số tiền thuế lớn như vậy, các cơ sở này bao giờ cũng phải hoạt động thật hiệu quả, có lượng khách hàng đông đảo thường xuyên… thì mới thu được lợi nhuận, ổn định sản xuất Thế nhưng, thuế TTĐB đánh vào các hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, mang tính chất cao cấp, không thiết yếu…nên đối tượng tiêu thụ chúng không nhiều, phần lớn là những người có thu nhập cao trong xã hội Trong khi đó, chính sách miễn giảm thuế của Nhà nước
ta đối với các cơ sở này rất hạn chế Phần lớn, khi các cơ sở này gặp các khó khăn như thiên tai, địch họa, tai nạn bất ngờ thì mới được miễn giảm thuế Kết quả là các nhà đầu tư sẽ rất đắn đo khi quyết định sản xuất, kinh doanh nhập khẩu các hàng
Trang 30hóa, dịch vụ này Một khi họ đã chấp nhận đầu tư thì phải chấp nhận cơ chế chính sách rất khắt khe do Nhà nước quy định Vì vậy, các nhà đầu tư sẽ có sự lựa chọn đầu tư hợp lý, phù hợp với điều kiện của mình, còn người tiêu dùng sẽ định hướng được hành vi tiêu dùng của mình Họ sẽ lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ phù hợp với khả năng và nhu cầu của bản thân Đồng thời, Nhà nước cũng sẽ huy động được một bộ phận thu nhập đáng kể của những người có thu nhập cao vào Ngân sách Nhà nước Chính sách đánh thuế TTĐB qua đó cũng góp phần đảm bảo công bằng trong
xã hội
Trên đây là những đặc điểm chung của thuế TTĐB Để thấy cụ thể biện pháp đánh thuế TTĐB thể hiên vai trò trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá như thế nào cần phải phân tích chi tiết hơn và được thể hiện trong phần sau
1.2.2 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá
Cũng như các hàng hóa khác phải chịu thuế TTĐB, việc đánh thuế TTĐB đối với thuốc lá giúp Nhà nước ta thực hiện tốt chính sách quản lý đối với các cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc lá; giúp hướng dẫn việc sản xuất của nhà đầu tư và tiêu dùng của người dân hợp lý; giúp ổn định và tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước…Nhưng tựu chung lại, vấn đề hạn chế tiêu thụ thuốc lá luôn là mục đích cao nhất và là tiền đề để Nhà nước ta thực hiện biện pháp này Không phải dựa trên cảm tính chủ quan mà Nhà nước ta thực hiện biện pháp đánh thuế TTĐB Bằng chứng là biện pháp này đã được các nước trên thế giới sử dụng từ khá lâu và thuốc lá luôn là mặt hàng phải chịu thuế TTĐB
Có thể dễ dàng nhận thấy tính khoa học của biện pháp này thông qua cơ chế tác động của thuế TTĐB đến hành vi tiêu dùng thuốc lá của người dân Để thấy rõ được cơ chế này có tác dụng như thế nào trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá, trước tiên chúng ta cần nghiên cứu về tâm lý của người tiêu dùng Giữa tiêu dùng và sản xuất có mối quan hệ nội tại thống nhất Tiêu dùng tạo ra nhu cầu về những sản phẩm mới Nhu cầu càng cao thì càng khiến cho sản xuất phát triển Nếu coi sản xuất cung cấp đối tượng cho tiêu dùng dưới hình thái bên ngoài thì tiêu dùng lại là giả định của sản xuất như là hình ảnh bên trong Hành vi tiêu dùng là động lực kích thích sản xuất Như vậy, chính hành vi hút thuốc lá, đặc biệt là nhu cầu hút những loại thuốc lá cao cấp, “êm”, “nhẹ”… đã tạo điều kiện để nhà sản xuất thuốc lá nâng cao chất lượng, cải tiến về mẫu mã…
Khi không có thuế, chi phí cho các yếu tố hợp thành sản phẩm thuốc lá với giá trị đích thực của nó sẽ tạo thành điểm cân bằng cung cầu tương xứng trên thị trường Song, khi có thuế thì thuế sẽ bao hàm trong giá bán sản phẩm thuốc lá Thuế
sẽ làm tăng chi phí đầu tư của quá trình sản xuất Vì vậy, nó sẽ làm cho nhà sản xuất mong muốn bán được thật nhiều, thật nhanh các sản phẩm thuốc lá để vừa có
Trang 31thể nộp đủ số thuế cho Nhà nước khi đến hạn vừa thu hồi vốn và thu lợi nhuận, tiếp tục quá trình sản xuất
Về phía người tiêu dùng thuốc lá, đặc biệt là những người hút thuốc lá thường xuyên rất nhạy cảm với giá thuốc lá trên thị trường Đối với những người thường xuyên hút một nhãn hiệu thuốc lá quen thuộc thì lại càng nhạy cảm với sự lên xuống của giá thuốc lá Chính thói quen này đã chi phối hành vi mua thuốc lá của họ và là thước đo để họ cân nhắc xem giá cả của loại thuốc lá mà họ đang hút hay giá cả của loại thuốc lá khác có hợp lý hay không Nếu giá cả phù hợp với túi tiền và thói quen tiêu dùng của họ thì họ sẽ vui lòng chấp nhận, không phù hợp thì
họ sẽ không dễ gì chấp nhận Và thông thường, khi thói quen này được hình thành thì sẽ được duy trì ổn định và bền vững
Việc Nhà nước ta đánh thuế TTĐB đối với thuốc lá có ảnh hưởng rất lớn đến giá cả của thuốc lá Đánh thuế càng cao thì giá thuốc lá càng cao Đối với người nghiện thuốc lá phải hút thuốc lá thường xuyên thì giá cả lại càng tác động đến họ nhiều hơn Việc tăng giá thuốc lá dẫn đến phải tăng chi phí tiêu dùng hàng ngày của
họ đã buộc họ phải đắn đo, phải cân nhắc trước mỗi khi mua thuốc lá để hút Có thể
họ sẽ chuyển qua hút các loại thuốc lá khác rẻ tiền hơn hoặc sẽ cố gắng cai nghiện
để giảm chi tiêu Còn đối với người chưa nghiện thuốc lá, họ cũng sẽ suy tính và biết trước việc hút thuốc lá dẫn đến nghiện sẽ tốn kém nhiều như thế nào và từ đó không tiếp tục hút nữa
Thuế TTĐB đẩy giá thành sản phẩm thuốc lá lên cao thực sự là một trở ngại cho cả người sản xuất và người tiêu dùng Có cầu ắt phải có cung, cung ngược lại sẽ thúc đẩy, tạo điều kiện để cầu phát triển Cung tăng thì cầu tăng, cung giảm thì cầu giảm Nhu cầu tiêu thụ thuốc lá của người tiêu dùng và khả năng cung cấp các sản phẩm thuốc lá của nhà sản xuất cũng theo quy luật cung cầu này Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu chi phối hoạt động sản xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ qua giá cả Vì vậy, khi giá cả thuốc lá tăng cao thì sẽ có một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng phải giảm hút thuốc Đến lúc đó, các nhà sản xuất thuốc lá sẽ mất
đi một lượng khách hàng thường xuyên của mình khiến cho việc kinh doanh buôn bán thuốc lá bị giảm sút Họ sẽ không thể quay vòng vốn nhanh để tiếp tục thực hiện việc sản xuất, kinh doanh thuốc lá Do đó, họ sẽ không còn cảm thấy hứng thú
để tiếp tục thực hiện hoạt động của mình Như vậy, tiêu dùng giảm đã làm cho sản xuất bị giảm Khi tiêu dùng giảm, sản xuất bị thu hẹp, mục đích hạn chế tiêu thụ thuốc lá của Nhà nước ta đã đạt được
Bên cạnh đó, cùng với quản lý tốt việc sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu thuốc lá thì chúng ta sẽ loại bỏ được việc sản xuất và buôn bán thuốc lá tràn lan, không đúng quy định Khi Ngân sách Nhà nước được tăng cường thì công tác phòng chống tác hại thuốc lá sẽ được đầu tư có quy mô và chất lượng Thực hiện tốt
Trang 32các điều này thì sẽ góp phần làm cho biện pháp đánh thuế TTĐB càng phát huy tốt vai trò của mình Đến lúc đó, chúng ta mới giảm thiểu tác hại thuốc lá đối với sức khoẻ con người, đối với kinh tế đất nước, đối với môi trường…và bảo vệ các thế hệ hiện tại cũng như tương lai thoát khỏi các tác hại nảy sinh từ việc hút thuốc lá
Kết luận chương 1
Thuốc lá là một loại sản phẩm đã có từ lâu đời Do lượng tiêu thụ ít, do nhận thức còn hạn chế nên trước kia người dân không có khái niệm phòng chống tác hại thuốc lá hay hạn chế tiêu thụ thuốc lá Thậm chí có thời kỳ, hút thuốc lá được coi là cao sang, là hợp thời thượng, là dành cho tầng lớp quý tộc Ngày nay, khi nhận thức được về tác hại của thuốc lá trên nhiều phương diện khác nhau như: tác hại đối với sức khoẻ con người, tác hại đối với môi trường, thiệt hại cho nền kinh tế đất nước… thì không những Việt Nam mà hầu như các nước trên thế giới đều ra sức hành động nhằm hạn chế những tác hại của thuốc lá Ở nước ta, hút thuốc lá hiện nay đang là vấn nạn đòi hỏi phải có giải pháp hạn chế dẫn đến loại trừ tác hại của nó Có nhiều biện pháp đã được Nhà nước ta sử dụng như: đánh thuế TTĐB, tuyên truyền giáo dục, xử phạt vi phạm hành chính, cấm hút thuốc lá…để hạn chế tác hại của thuốc lá Trong các biện pháp trên thì biện pháp đánh thuế TTĐB đã được Nhà nước ta sử dụng từ khá lâu và đạt được nhũng thành quả nhất định Với vai trò được thể hiện trên nhiều phương diện, thuế TTĐB ngày càng chiếm ưu thế trong các biện pháp nhằm hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam Tuy nhiên để thấy được công cụ pháp
lý này được thể hiện như thế nào, cách thức đánh thuế như vậy có ưu và nhược điểm gì thì đòi hỏi chúng ta phải phân tích cụ thể hơn nữa Có như vậy, chúng ta mới xây dựng được pháp luật thuế TTĐB đối với thuốc lá thật hợp lý, giúp nó thực
sự phát huy tốt vai trò vốn có của mình trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam
Trang 33CHƯƠNG 2 NỘI DUNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI THUỐC LÁ- THỰC
TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
2.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá
2.1.1 Đối tượng chịu thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế
2.1.1.1 Đối tượng chịu thuế
Theo lý luận chung, đối tượng chịu thuế là đối tượng khách quan phải thu thuế, là “vật chuẩn” mà dựa vào đó Nhà nước thu được một số tiền thuế nhất định Đối tượng chịu thuế được quy định phụ thuộc vào ý chí của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia Tùy thuộc vào chủ trương của mỗi Nhà nước trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng, điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, bởi phong tục tập quán của mỗi quốc gia…mà đối tượng chịu thuế TTĐB được quy định khác nhau Tuy nhiên, một điểm chung mà bất cứ quốc gia nào cũng dựa vào khi khi đánh thuế TTĐB đó là: đánh thuế vào các mặt hàng cao cấp, không thiết yếu, Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng và cần phải điều tiết mạnh như: thuốc lá, rượu bia, xăng dầu, kinh doanh vũ trường, karaoke…Dựa vào đối tượng chịu thuế đặc thù như vậy nên có thể dễ dàng xác định được phạm vi điều chỉnh của pháp luật thuế TTĐB cũng như chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Từ đó, giúp chúng ta phân biệt rõ ràng giữa pháp luật thuế TTĐB với các đạo luật thuế khác
Thuốc lá- tên gọi chung cho các sản phẩm được chế biến từ lá thuốc lá như: thuốc lá điếu, xì gà- là một trong những loại hàng hóa không thiết yếu, Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng, là một trong những loại hàng hoá bị đánh thuế TTĐB Do những tác hại quá lớn của nó đối với môi trường, với sức khỏe con người, với nền kinh tế đất nước…nên đây là mặt hàng được quản lý rất chặt chẽ trong sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu Mặc dù trong từng thời kỳ, chính sách và chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc đánh thuế đối với các sản phẩm thuốc
lá là khác nhau, nhưng kể từ khi Luật thuế TTĐB đầu tiên được Quốc hội ban hành vào năm 1990 cho đến nay, thuốc lá luôn là đối tượng được đưa vào diện chịu thuế TTĐB
Trang 34Luật thuế TTĐB năm 1990, tại Điều 9 có quy định mặt hàng thuốc lá bị đánh thuế TTĐB là thuốc hút gồm:
- Thuốc lá lá, thuốc lá sợi
- Thuốc lá điếu:
+ Có đầu lọc
+ Không có đầu lọc, xì gà
Theo quy định này thì thuốc lá lá, thuốc lá sợi là sản phẩm thuốc lá mới được
sơ chế và ở dạng thô, cùng với thuốc lá điếu, xì gà đã được tinh chế và đóng gói có nhãn mác rõ ràng, đều là đối tượng chịu thuế TTĐB Cũng trong năm 1990, Nhà nước ta đã ban hành Chỉ Thị 278/1990/CT-HĐBT ngày 23/8/1990 quy định về cấm nhập khẩu và lưu thông thuốc lá điếu của nước ngoài trên thị trường nội địa Như vậy, mặt hàng thuốc lá là đối tượng chịu thuế TTĐB theo Luật thuế TTĐB 1990 không bao gồm thuốc lá nhập khẩu
Sau đó, nhận thấy lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc lá thô gồm thuốc lá
lá, thuốc lá sợi trên thị trường nước ta là không nhiều, nên Luật thuế TTĐB sửa đổi,
bổ sung năm 1993 đã không đưa mặt hàng này vào đối tượng chịu thuế mà chỉ quy định thuốc hút bị đánh thuế gồm:
- Thuốc lá điếu có đầu lọc, sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu
- Thuốc lá điếu có đầu lọc, sản xuất bằng nguyên liệu trong nước
- Thuốc lá điếu không có đầu lọc, xì gà
Năm 1995, luật thuế TTĐB được sửa đổi, bổ sung lần 2 Trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta có nhiều tín hiệu đáng mừng, đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng lớn Đồng thời, để đánh dấu bước phát triển trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế TTĐB, các mặt hàng chịu thuế TTĐB được mở rộng hơn trước Nhà nước đã cho phép nhập khẩu thuốc lá điếu và
xì gà từ nước ngoài vào Việt Nam để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước từ việc thu thuế nhập khẩu
và thuế TTĐB đối với loại mặt hàng này Vì vậy, từ năm 1995, thuốc lá điếu và xì
gà nhập khẩu đã bị đưa vào diện chịu thuế TTĐB
Tuy nhiên, ngay sau đó, Nhà nước ta nhận thấy việc cho nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà từ nước ngoài vào Việt Nam sẽ gây ra những ảnh hưởng lớn đối với ngành Công nghiệp thuốc lá trong nước nên quy định cho phép nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà đã bị bãi bỏ Nói cách khác, chính sách cấm nhập khẩu thuốc lá theo Chỉ Thị 278/1990/CT-HĐBT đã tiếp tục được Nhà nước ta thực hiện sau một thời gian
bị gián đoạn
Trang 35Để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO vào ngày 11/7/2007, cùng với việc thực hiện các cam kết khu vực và quốc tế về kinh tế, hàng loạt các văn bản pháp luật đã được Nhà nước ta sửa đổi, bổ sung, ban hành mới trong đó có Luật thuế TTĐB Nhằm tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong tiến trình hội nhập, các biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu từng bước được dỡ bỏ Cho nên, Nhà nước ta đã phải chấp nhận cho nhập khẩu các sản phẩm thuốc lá điếu, xì gà vào Việt Nam Chính vì vậy, theo Luật thuế TTĐB được sửa đổi, bổ sung năm 2005 thì thuốc lá điếu, xì gà nhập khẩu đã được đưa vào đối tượng phải chịu thuế TTĐB Theo đó, tại Điều 7 Luật thuế TTĐB sửa đổi, bổ sung năm 2005 quy định về mặt hàng thuốc lá là đối tượng chịu thuế TTĐB gồm:
- Thuốc lá điếu
- Xì gà
Quy định trên cho thấy, mặt hàng thuốc lá điếu, xì gà chịu thuế TTĐB là thống nhất, không có sự phân biệt giữa thuốc lá điếu, xì gà trong nước và thuốc lá điếu, xì gà nhập khẩu như trước đây
Vì vậy hiện nay, trên thị trường nước ta các sản phẩm thuốc lá rất phong phú
và đa dạng Đây thực sự là một thách thức đối với ngành Công nghiệp sản xuất thuốc lá của Việt Nam, đồng thời cũng gây trở ngại rất lớn cho công tác hạn chế tiêu dùng thuốc lá nhằm phòng chống tác hại của nó mà Nhà nước ta đang thực hiện
2.1.1.2 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế
Ngược lại với đối tượng chịu thuế là đối tượng không thuộc diện chịu thuế Đây là các hàng hóa, dịch vụ, tài sản hoặc thu nhập được các đạo luật thuế xác định
là không thuộc phạm vi điều chỉnh của đạo luật thuế Riêng đối với thuốc lá, đối tượng không thuộc diện chịu thuế là các sản phẩm thuốc lá không nằm trong phạm
vi điều chỉnh của Pháp luật thuế TTĐB
Nhìn chung, khi quy định về hàng hóa nói chung và về thuốc lá nói riêng, Luật thuế TTĐB cũng như các văn bản sửa đổi, bổ sung Luật thuế TTĐB từ trước đến nay đều quy định có những nét tương đồng
Cụ thể, theo Điều 3 Luật thuế TTĐB năm 1998, Điều 3 Nghị Định 149/2003/NĐ-CP và Thông Tư 119/2003/TT-BTC thì thuốc lá không thuộc diện chịu thuế TTĐB được chia làm 2 trường hợp là: thuốc lá nhập khẩu và thuốc lá sản xuất trong nước Theo đó:
Thuốc lá sản xuất trong nước không thuộc diện chịu thuế TTĐB, gồm:
- Thuốc lá do các cơ sở sản xuất, gia công trong nước trực tiếp xuất khẩu ra nước ngoài bao gồm cả thuốc lá bán, gia công cho doanh nghiệp chế xuất
Trang 36- Thuốc lá do các cơ sở sản xuất trong nước bán hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu theo hợp đồng kinh tế
- Thuốc lá trong nước sản xuất được mang ra nước ngoài để bán tại hội chợ triễn lãm ở nước ngoài
Quy định trên xuất phát từ mục tiêu của thuế TTĐB, đó là Nhà nước ta chỉ thu thuế TTĐB đối với những hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB được tiêu dùng tại Việt Nam, nhằm hạn chế hành vi tiêu dùng thuốc lá trên thị trường nội địa, cũng như khuyến khích xuất khẩu thuốc lá ra nước ngoài Như vậy, thuốc lá do các cơ sở sản xuất trong nước sản xuất ra nhưng nếu được tiêu thụ tại nước ngoài thì hoàn toàn không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Pháp luật thuế TTĐB và không bị đánh thuế
Thuốc lá nhập khẩu không thuộc diện chịu thuế TTĐB, gồm:
- Thuốc lá là quà tặng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân
- Thuốc lá thuộc dạng là đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài được hưởng tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao do Chính Phủ Việt Nam quy định phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia
- Thuốc lá mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế nhập khẩu của cá nhân người Việt Nam và người nước ngoài khi xuất cảnh, nhập cảnh qua cửa khẩu Việt Nam
- Thuốc lá chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua Việt Nam theo các hình thức như: vận chuyển thẳng từ nước nhập khẩu đến nước xuất khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam; vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; thuốc lá quá cảnh, mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam trên cơ sở Hiệp định đã
ký kết giữa 2 Chính Phủ hoặc ngành, địa phương được Thủ Tướng Chính Phủ cho phép
- Thuốc lá tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu
- Thuốc lá tạm nhập khẩu để dự hội chợ, triễn lãm
- Thuốc lá từ nước ngoài nhập khẩu vào khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất