Theo quy định này thì tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng gồm các nguồn tài sản sau: - Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn Xuất phát từ việc tôn trọng quyền sở hữu cá nhân đối vớ
Trang 1TRƯỜNG ĐH LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT DÂN SỰ - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Trang 25 NQ 35/2000/QH10 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của
Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình
6
Nghị quyết
02/2000/NĐ-HĐTP
Nghị quyết 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
7 HĐXX Hội đồng xét xử
8 UBND Uỷ ban nhân dân
9 QSDĐ Quyền sử dụng đất
Trang 3MỤC LỤC Lời nói đầu
Danh mục từ viết tắt
CHƯƠNG 1: CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG TRONG
PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN HÀNH 01
1.1 Khái quát về tài sản của vợ chồng 01
1.2 Ý nghĩa của chế định tài sản riêng của vợ chồng 02
1.3 Phạm vi hiệu lực của Luật hôn nhân và gia đình theo thời gian và vấn đề tài sản riêng 02
1.4 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 04
1.4.1 Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng 05
1.4.2 Thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng 16
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG 24
2.1 Tranh chấp về xác định tài sản có trước thời kỳ hôn nhân 24
2.2 Tranh chấp về tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân 31
2.2.1 Tranh chấp về tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân 31
2.2.2 Tranh chấp về tài sản hình thành từ giao dịch bằng tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng 32
2.2.3 Tranh chấp về tài sản là hoa lợi, lợi tức hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng 35
2.2.4 Tranh chấp về quyền sử dụng đất được Nhà nước giao trong thời kỳ hôn nhân 37
2.2.5 Tranh chấp về tiền gửi trong sổ tiết kiệm cá nhân 39
2.3 Về thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng 40
2.4 Giải quyết tranh chấp về xác định tài sản nghĩa vụ riêng của mỗi bên vợ, chồng 43
Trang 4CHƯƠNG 3: BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG 48
3.1 Một số bất cập về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng 48
3.2 Một số vướng mắc về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng 50
3.3 Giải pháp liên quan đến chế độ tài sản riêng của vợ, chồng 55
3.3.1 Giải pháp liên quan đến một số tài sản của vợ chồng không thuộc Điều 27 và Điều 32 Luật HNGĐ 2000 55
3.3.2 Giải pháp về tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân 58
3.3.3 Giải pháp về thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng 61
3.3.4 Giải pháp về thỏa thuận sát nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng 62
3.3.5 Cần thừa nhận chế độ hôn ước 63
3.3.6 Một số giải pháp khác 66
Kết luận 71 Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 51
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, chế định tài sản riêng của vợ, chồng đã được quy định trong Luật HNGĐ Trên cơ sở kế thừa, Luật HNGĐ 2000 đã tiếp tục ghi nhận chế định tài sản riêng của vợ, chồng với nhiều quy định cụ thể Song, sau hơn 11 năm thực hiện cùng với sự biến đổi không ngừng của các quan hệ xã hội, một số quy định của Luật đã xuất hiện nhiều bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Điều này đã gây khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật cũng như trong công tác xét xử, giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng
Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
đã làm cho các quan hệ xã hội, quan hệ hôn nhân gia đình nước ta phát triển nhanh chóng
và có nhiều chuyển biến Quá trình này tuy mang đến những mặt tích cực nhưng đồng thời cũng gây ra nhiều ảnh hưởng xấu tới các quan hệ hôn nhân gia đình Lối sống công nghiệp
và hiện đại ngày nay tuy góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, nhưng cũng tạo ra lối sống thực dụng, xem nhẹ nghĩa tình ở một bộ phận người dân Đó là một trong những nguyên nhân làm gia tăng những rạn nứt trong quan hệ hôn nhân và gia đình Vì vậy trong những năm gần đây, các tranh chấp về hôn nhân gia đình mà đa phần là liên quan đến tài sản của vợ chồng diễn ra ngày càng nhiều, gia tăng nhanh chóng về số lượng cũng như tính chất phức tạp Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thì: năm 2009, số lượng các vụ án hôn nhân gia đình xét xử sơ thẩm là 119.000 vụ, xử phúc thẩm là 89609 vụ Năm 2010, xử sơ thẩm là 136.000 vụ, xử phúc thẩm là 97627 vụ Năm 2011 xử sơ thẩm là 144.000 vụ, tăng 5,88% so với năm 2010; và
xử phúc thẩm là 115.331 vụ, tăng 18,13% so với năm 2010
Chỉ thị 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư trung ương Đảng về xây dựng
gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhận định “Gia đình là tế bào của
xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các
Trang 62
tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Nhận
thức đƣợc tầm quan trọng của quan hệ hôn nhân gia đình và thực trạng về tranh chấp tài sản riêng của vợ, chồng; đặc biệt là trong bối cảnh Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
đã có dự án sửa đổi vào năm 2013 nên tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Tài sản riêng
của vợ, chồng: Chế độ pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp” làm đề tài nghiên cứu
khoá luận tốt nghiệp cuối khoá của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, vấn đề quyền tài sản riêng của vợ, chồng đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập một phần trong các công trình nghiên cứu của mình Trong đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nhƣ:
- Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện, “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình -tập
2”, 2004
- Thạc sĩ Lê Vĩnh Châu, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam hiện hành”, Luận văn thạc sĩ, 2001
- Nguyễn Thị Mến, “Nguyên tắc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ
chồng trong các vụ án ly hôn” – Khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật học, 2006
Tuy nhiên, qua tìm hiểu tác giả nhận thấy cho tới nay chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và đi sâu vào phân tích các quy định của pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng cũng nhƣ thực tiễn giải quyết các tranh chấp này Các công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc phân tích và đề cập một số khía cạnh về tài sản riêng của vợ, chồng
Trang 73
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một cách có hệ thống về các vấn đề lý luận, các
quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng và thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được các mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận, pháp luật thực định giúp cho việc nhận thức một cách rõ nét các quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng
- Tìm hiểu thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng tại các Toà
án nhân dân có thẩm quyền Thông qua đó, kiến nghị giải pháp giải quyết thống nhất các vấn đề đang còn có nhiều cách hiểu, cách xử lý khác nhau trong việc giải quyết tranh chấp tại Toà án
- So sánh, đối chiếu giữa quy định pháp luật thực định với thực tiễn giải quyết các tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng tại Toà án Trên cơ sở đó kiểm tra tính đúng đắn, phù hợp của các quy định pháp luật hiện hành về tài sản riêng của vợ, chồng Đồng thời,
đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu pháp luật một số nước trên thế giới nhằm kết hợp với việc nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp trong nước để đưa ra kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam liên quan
đến vấn đề tài sản riêng của vợ, chồng cũng như đường lối xét xử, giải quyết các tranh chấp này tại Toà án nhân dân các cấp
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Một điều dễ nhận thấy trong các công trình nghiên cứu khoa học đó là sự quan trọng của cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Có thế nói, cơ sở lý luận và phương
Trang 84
pháp đúng sẽ tạo nên một công trình nghiên cứu có giá trị Từ đó, khóa luận này được tác giả thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật Hôn nhân và gia đình
Cũng vì vậy mà việc nghiên cứu đề tài này được tiến hành dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khoa học chuyên ngành khác như: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Bài luận này nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp luật thực định cũng như đường lối giải quyết các tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng nhằm đáp ứng được phần nào tính cấp thiết của thực tiễn Thông qua đó, tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật cũng như ttong đường lối xét xử về các tranh chấp liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng Song song với đó là việc đưa ra những kiến nghị, giải pháp sâu hơn đối với vấn đề này Từ đó, tác giả mong muốn góp phần mang lại cách hiểu đúng, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật của người dân trong lĩnh vực pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng;
và đồng thời góp phần thiết thực cho quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan hiện hành
Trang 9Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Tiến Phát
Trang 106
CHƯƠNG 1: CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG
TRONG PHÁP LUẬT HNGĐ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH
Quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng tồn tại hai nhóm quan hệ xã hội bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Có thể thấy, trong một chừng mực nào đó quan hệ nhân thân thường đóng vai trò chủ đạo và mang tính quyết định trong quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng Quan hệ tài sản trong HNGĐ thì lại có nhiều nét đặc thù riêng, không mang tính chất đền bù ngang giá tuyệt đối như trong các quan hệ dân sự thông thường
Theo Luật HNGĐ hiện hành, chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng tồn tại dưới hai hình thức là sở hữu chung của vợ chồng và sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng
Trong đó, hình thức sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể
phân chia Tài sản chung của vợ chồng gồm “tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung”1 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Đồng thời tài sản chung của
vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng
Về sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng: Pháp luật hiện hành quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng Trong đó, tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có được trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia từ việc chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia; đồ dùng, tư trang cá nhân Bên cạnh đó, Pháp luật thừa nhận quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của mỗi bên vợ hoặc chồng đối
1 Khoản 1 Điều 27 Luật HNGĐ năm 2000
Trang 117
với khối tài sản riêng của mình; có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng
Việc Pháp luật HNGĐ thừa nhận và quy định chế độ tài sản riêng của vợ, chồng có rất nhiều ý nghĩa nhưng tựu chung có ba ý nghĩa cơ bản như sau:
- Tôn trọng quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh của mỗi cá nhân đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận tại các Điều 57, 58 và tại BLDS 1995
- Góp phần củng cố chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, ngăn chặn việc kết hôn không lành mạnh, nhằm vào của cải sẵn có của bên kia làm tiêu chí chọn vợ, kén chồng hay nói cách khác là kết hôn vì tài sản của bên kia mà không xuất phát từ tình cảm yêu thương của hai bên nam nữ
- Tạo điều kiện thuận tiện cho vợ hoặc chồng giải quyết những vấn đề tế nhị trong đời sống gia đình như giúp đỡ, đùm bọc cha mẹ, anh chị em, bà con, bạn bè cũng như thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng của mình một cách độc lập, không phải phụ thuộc vào ý chí, thái độ của người chồng, người vợ mình
Xuyên suốt quá trình lịch sử của chế độ tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật HNGĐ Việt Nam hiện đại thì phạm vi chế độ tài sản riêng của vợ, chồng rộng hẹp khác nhau Cụ thể, Luật HNGĐ 1959 không thừa nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng, Luật quy định mọi tài sản của vợ chồng có trước và sau khi cưới đều thuộc sở hữu chung của
vợ chồng2 Luật HNGĐ 1986 thừa nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng, gồm các nguồn: tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân3 Luật HNGĐ 2000 tiếp tục thừa nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng, nhưng phạm vi tài sản riêng của vợ, chồng được mở rộng hơn so
2 Điều 15 Luật HNGĐ 1959
3 Điều 16 Luật HNGĐ 1986
Trang 128
với Luật HNGĐ 1986 Bên cạnh việc thừa nhận các nguồn được quy định tại Luật HNGĐ
1986, Luật HNGĐ 2000 còn quy định thêm các nguồn tài sản riêng mới, đó là: tài sản được chia từ việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia và đồ dùng, tư trang cá nhân4 Như vậy, chế độ tài sản riêng của vợ, chồng mỗi thời kỳ có sự khác nhau rõ rệt, do đó kết quả của việc áp dụng các quy định tại các Luật cũng sẽ khác nhau Trên thực tế, hiện tại khi áp dụng các quy định của pháp luật HNGĐ để xác định tài sản riêng của vợ, chồng vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều Có quan điểm cho rằng cần áp dụng Luật HNGĐ có hiệu lực tại thời điểm tranh chấp để giải quyết Quan điểm khác cho rằng cần áp dụng Luật HNGĐ có hiệu lực tại thời điểm tạo lập tài sản của vợ chồng Trong đó, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai bởi vì theo nguyên tắc áp dụng pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật chỉ được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực và chỉ được dùng để điều chỉnh những hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực, trừ trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó Các quy định của Luật HNGĐ năm 1986 và Luật HNGĐ năm 2000 chỉ được áp dụng đối với việc xác lập quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng kể từ ngày các Luật này có hiệu lực thi hành trở đi mà không có hiệu lực trở về trước Tóm lại theo tác giả, chúng ta nên áp dụng Luật có hiệu lực tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản vợ chồng
để giải quyết tranh chấp về tài sản đó
Để áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và
Bộ Tư pháp đã có dự thảo 2 của Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Luật HNGĐ về xác định tài sản của vợ, chồng (năm 2009) Dự thảo thông tư liên tịch
này chia hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987
- Trường hợp vợ, chồng kết hôn trước ngày 03-01-1987, trước và sau khi kết hôn vợ, chồng có tài sản riêng thì tài sản riêng đó đương nhiên trở thành tài sản
4 Điều 32 Luật HNGĐ 2000
Trang 139
chung của vợ, chồng Tòa án áp dụng quy định tại Điều 15 của Luật HNGĐ năm
1959 để xác định tài sản riêng mà vợ, chồng có trước hoặc sau khi kết hôn là tài sản
thuộc sở hữu chung của vợ, chồng
- Trong trường hợp sau ngày 03-01-1987, vợ, chồng có văn bản thỏa thuận về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, thì Tòa án căn cứ vào thỏa thuận của vợ, chồng để giải quyết
Trường hợp 2: Xác định tài sản của vợ, chồng kết hôn từ ngày 03-01-1987
Việc xác định tài sản riêng, tài sản chung của vợ, chồng được thực hiện theo quy định của Luật HNGĐ năm 1986 và Luật HNGĐ năm 2000 Tài sản riêng của vợ, chồng có trước khi kết hôn hoặc tài sản riêng có trong thời kỳ hôn nhân chỉ trở thành tài sản chung của vợ, chồng khi vợ, chồng nhập tài sản riêng đó vào khối tài sản chung của vợ, chồng
Giải pháp của dự thảo Thông tư liên tịch này đưa ra về cơ bản đã giải quyết được vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật trong việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng qua các thời kỳ Tuy nhiên dự thảo được soạn ra từ năm 2009 nhưng tới nay vẫn chưa được chính thức ban hành và có hiệu lực nên giải pháp đưa ra hiện tại mới chỉ nằm trên giấy mà chưa bắt buộc áp dụng trên thực tế
Hiến pháp năm 1992 quy định “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp,
của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” Theo đó, BLDS 1995 khi cụ thể hóa quy
định của Hiến pháp về quyền sở hữu của công dân cũng thừa nhận cá nhân có quyền có tài sản5 Xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng dựa trên cơ sở quyền sở hữu tài sản của công dân và kế thừa Luật HNGĐ 1986, Luật HNGĐ 2000 tiếp tục thừa nhận và cụ thể hóa quy định về quyền sở hữu tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy
5 Điều 221 BLDS 1995
Trang 1410
định “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản
được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân”6 Bên cạnh đó, Luật còn quy định cụ thể về việc thực hiện quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng của mình
1.8.1 Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng
Khoản 1 Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm
tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân” Theo quy định này
thì tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng gồm các nguồn tài sản sau:
- Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn
Xuất phát từ việc tôn trọng quyền sở hữu cá nhân đối với tài sản hợp pháp, Luật HNGĐ 2000 đã quy định tài sản có trước khi kết hôn là tài sản riêng của vợ, chồng Dựa vào căn cứ này thì về nguyên tắc toàn bộ tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có được trước khi kết hôn sẽ thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận nhập tài sản đó vào khối tài sản chung Tài sản mà vợ, chồng có được có thể là tiền, quyền tài sản, vật, giấy tờ có giá…Quy định này đã góp phần hạn chế trường hợp kết hôn vì mưu cầu lợi ích kinh tế, vì khối tài sản của người đó mà không phải vì tình yêu thực sự, tình cảm giữa hai bên nam nữ
Điểm quan trọng khi nghiên cứu căn cứ này là chúng ta cần phải xác định thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân và xác định tại thời điểm đó mỗi bên vợ, chồng đã có quyền sở hữu đối với tài sản nào Nếu tại thời điểm đó mà vợ, chồng chưa có đầy đủ quyền sở hữu với tài sản thì tuỳ từng trường hợp mà tài sản đó có thể sẽ không được coi là tài sản của
vợ, chồng có được trước thời kỳ hôn nhân Vấn đề được nghiên cứu ở các khía cạnh sau:
6 Khoản 1 Điều 32 Luật HNGĐ năm 2000
Trang 1511
Vấn đề xác định tại thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân, mỗi bên vợ, chồng sở hữu những tài sản nào không phải là vấn đề phức tạp, nhưng trong quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy chúng ta cần phải lưu ý một số vấn đề sau đây để cho việc xác định tài sản riêng
của vợ, chồng được chính xác Cụ thể: Điều 32 Luật HNGĐ quy định “Tài sản riêng của
vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn”, theo cách quy định này, để
một tài sản thuộc căn cứ trên thì buộc tại thời điểm kết hôn bên vợ, chồng phải đã có quyền sở hữu đối với tài sản, nghĩa là bên vợ, chồng đó phải có đủ ba quyền gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản Việc mỗi bên vợ, chồng đang trong quá trình xác lập quyền sở hữu hay nói cách khác là vợ, chồng chỉ mới có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng mà chưa có quyền định đoạt đối với tài sản thì tài sản đó sẽ không được coi
là tài sản mà vợ, chồng có trước khi kết hôn Điều này xảy ra trong các trường hợp về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu hoặc trong các trường hợp xác lập quyền sở hữu nhưng pháp luật đòi hỏi người muốn trở thành chủ sở hữu đối với tài sản phải thực hiện một số thủ tục pháp lý nhất định như thủ tục công chứng, thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký
Đối với trường hợp xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu: Theo pháp luật dân sự, xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu gồm các trường hợp: xác lập quyền sở hữu đối với vật không xác định được chủ sở hữu; vật do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên… Việc xác lập quyền sở hữu trong các trường hợp này, pháp luật dân sự đòi hỏi người phát hiện, người nhặt được, người bắt được, người chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải thực hiện thông báo công khai và sau một khoảng thời gian pháp luật quy định mà không xác định được ai là chủ sở hữu hoặc không có người tới nhận thì người đó mới có quyền sở hữu tài sản Trong khoảng thời gian thông báo công khai, họ chỉ có quyền chiếm hữu và tùy từng trường hợp sẽ có thêm quyền sử dụng mà không có quyền định đoạt tài sản Trở lại vấn đề
về tài sản vợ, chồng có trước khi kết hôn, giả sử trước khi kết hôn người vợ có nhặt được một túi tiền 10 triệu đồng và có tiến hành thủ tục thông báo công khai một năm nhưng thời hạn 1 năm này lại kết thúc trong thời kỳ hôn nhân, vậy trong trường hợp này khoản tiền 10
Trang 1612
triệu đồng do người vợ nhặt được đó có phải là tài sản riêng của người vợ vì đó là tài sản
mà người vợ có trước khi kết hôn hay không? Từ những phân tích trên và đối chiếu với quy định tại Điều 27 Luật HNGĐ và hướng dẫn tại điểm a mục 3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì khoản tiền 10 triệu đồng đó là tài sản chung của vợ, chồng, vì các
lý do sau đây: Thứ nhất, tại thời điểm kết hôn, người vợ chưa có quyền sở hữu đối với khoản tiền 10 triệu đồng nhặt được, mà chỉ mới có quyền chiếm hữu theo quy định tại Điều 187 BLDS 2005 Thứ hai, thời điểm người vợ được xác lập quyền sở hữu hay nói cách khác là có đầy đủ quyền sở hữu đối với số tiền 10 triệu do nhặt được theo quy định
tại Điều 241 BLDS 2005 thuộc thời kỳ hôn nhân nên số tiền này được xem là “những thu
nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” theo hướng dẫn tại điểm a mục
3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP
Đối với trường hợp xác lập quyền sở hữu mà pháp luật yêu cầu phải tuân theo hình thức nhất định: Theo quy định tại các Điều 439, 466, 467 BLDS 2005 thì đối với các giao dịch mua bán, tặng cho những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu như QSDĐ, nhà, ô tô, xe máy… thì quyền sở hữu đối với tài sản chỉ được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản, chuyển cho bên được tặng cho kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu tài sản Trong việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng đối với trường hợp này sẽ có một vấn đề đặt ra như sau: Giả sử trước khi kết hôn, người vợ có mua một thửa đất nhưng chưa tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ, sau khi kết hôn xong người vợ mới tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ và đã được cấp giấy chứng nhận Vậy trong trường hợp này thửa đất
đó là tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của người vợ? Chúng ta có thể dựa trên tiêu chí tài sản có trước khi kết hôn để xác định thửa đất đó là tài sản riêng được hay
không? Trong trường hợp này, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện cho rằng “các tài sản mà việc
chuyển quyền sở hữu được giao kết trước khi kết hôn, nhưng chỉ được thực hiện sau khi kết hôn là tài sản chung chứ không thể là của riêng” 7 Đồng ý với quan điểm về thời điểm
7
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Trẻ, 2004, trang
68
Trang 1713
xác lập quyền sở hữu của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện nhưng theo tác giả việc xác định một tài sản nào đó là tài sản riêng hay chung còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố Chúng ta chỉ
có thể khẳng định những “tài sản mà việc chuyển quyền sở hữu được giao kết trước khi
kết hôn, nhưng chỉ được thực hiện sau khi kết hôn” không phải là tài sản có trước khi kết
hôn của vợ, chồng Theo tác giả, nếu chúng ta dựa trên căn cứ “tài sản mà mỗi người có
trước khi kết hôn” thì QSDĐ mà người vợ mua trước khi kết hôn nhưng chưa “hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu” không phải là tài sản người vợ có trước khi kết hôn vì tại
thời điểm kết hôn, quyền sở hữu đối với QSDĐ đó vẫn thuộc về người bán, do người vợ chưa hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu Nhưng trong trường hợp này, chúng ta chưa có cơ sở chắc chắn để khẳng định QSDĐ đó là tài sản chung của vợ chồng Bởi vì, QSDĐ trên tuy không phải là tài sản có trước khi kết hôn của người vợ, nhưng lại được xem là sản được hình thành từ tài sản riêng có trước khi kết hôn của người vợ Tài sản riêng của người vợ có trước khi kết hôn trong trường hợp này tùy thời điểm mà có thể là
số tiền người vợ đã thanh toán, đã bỏ ra để thực hiện hợp đồng mua bán QSDĐ hoặc là quyền yêu cầu người bán thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của người vợ (là quyền tài sản của người vợ)
Về thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân của vợ chồng: việc xác định chính xác thời
điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định tài sản
chung và tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Điều 32 Luật HNGĐ 2000 chỉ quy định “tài
sản mà mỗi người có trước khi kết hôn” mà không phải là “tài sản mà mỗi người có trước thời kỳ hôn nhân” Về nguyên tắc, hai phạm trù tài sản có trước khi kết hôn và tài sản có
trước thời kỳ hôn nhân là trùng nhau Tuy nhiên, trong các trường hợp hôn nhân thực tế được thừa nhận tại Nghị quyết 35/2000/QH10 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì hai khái niệm trên sẽ không đồng nhất với nhau, khái niệm tài sản có trước thời kỳ hôn nhân
sẽ có phạm vi rộng hơn khái niệm tài sản có trước khi kết hôn Trong các trường hợp hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận thì thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân chính là ngày hai bên nam nữ bắt đầu sống chung với nhau như vợ chồng, chứ không phải là ngày hai bên nam nữ đăng ký kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ 2000 Do đó, trong các
Trang 1814
trường hợp này thì tài sản do hai bên tạo lập8 trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng đến trước ngày đăng ký kết hôn lại theo quy định tại Luật HNGĐ 2000 cũng sẽ
được coi là tài sản chung của vợ chồng, chứ không phải là “tài sản mà mỗi người có
trước khi kết hôn” vì các tài sản đó hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do vợ chồng tạo ra
trong thời kỳ hôn nhân Chính vì vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật, chúng ta cần phải lưu ý ngoài việc tuân theo quy định của Luật HNGĐ 2000 thì cần phải có sự liên hệ với các quy định pháp luật hôn nhân gia đình về trường hợp hôn nhân thực tế để xác định tài sản có trước thời kỳ hôn nhân được chính xác, không nên áp dụng một cách máy móc quy định của Luật Cụ thể: đối với các trường hợp hôn nhân thực tế thì thời điểm bắt đầu thời
kỳ hôn nhân là thời điểm hai bên nam nữ bắt đầu sống chung với nhau, do đó tài sản có
trước thời kỳ hôn nhân trong các trường hợp này nên hiểu là tài sản mỗi bên có trước thời
điểm hai bên bắt đầu sống chung với nhau như vợ chồng mà không phải là trước thời điểm đăng ký kết hôn lại theo Luật HNGĐ 2000 Đối với các trường hợp còn lại thì thời điểm
bắt đầu thời kỳ hôn nhân chính là ngày đăng ký kết hôn, nên chúng ta xác định “tài sản
mà mỗi người có trước khi kết hôn” chính là tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước ngày
đăng ký kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ 2000
- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy định “tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho
riêng trong thời kỳ hôn nhân” là một trong những nhóm tài sản riêng của vợ, chồng Do
đó, nếu vợ, chồng được tặng cho riêng hoặc được hưởng thừa kế riêng thì các tài sản có được từ các giao dịch trên sẽ được coi là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Chúng ta sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể:
Trường hợp tài sản mỗi bên vợ, chồng được thừa kế riêng: BLDS 2005 quy định
hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Cá nhân có quyền lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết, trường hợp không
8 Trừ các tài sản mà theo quy định của Luật HNGĐ 1986 là tài sản riêng của vợ, chồng: tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản có trước thời kỳ hôn nhân
Trang 1915
có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp hoặc trường hợp phần tài sản không được định đoạt trong di chúc… thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật Pháp luật thừa kế hiện hành quy định chặt chẽ về quyền thừa kế của cá nhân, chính vì vậy mà trong việc xác định việc hưởng di sản là thừa kế chung hay thừa kế riêng không phải là vấn đề khó khăn
Xét về thừa kế theo pháp luật, Điều 676 BLDS 2005 đã có quy định về hàng thừa
kế và chỉ có những cá nhân thuộc hàng thừa kế và đủ điều kiện theo quy định thì mới được hưởng di sản Cho nên, trường hợp vợ, chồng được hưởng thừa kế theo pháp luật là hưởng với tư cách cá nhân, với tư cách là những người thừa kế thuộc hàng thừa kế chứ không phải hưởng với tư cách là vợ chồng Do đó, trường hợp thừa kế theo pháp luật sẽ thuộc trường hợp vợ, chồng được hưởng thừa kế riêng
Về thừa kế theo di chúc, theo quy định pháp luật thừa kế thì trong trường hợp này, đối tượng được hưởng di sản, mức hưởng của từng người là bao nhiêu… tùy thuộc vào ý chí của người để lại di sản (trừ trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc quy định tại Điều 669 BLDS 2005) Do đó, cho dù vợ, chồng không thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản nhưng vẫn có thể được hưởng thừa kế theo di chúc;
và nếu người chết chỉ để lại di sản cho vợ hoặc chồng thì trong trường hợp này di sản thừa
kế mà vợ, chồng được hưởng sẽ được coi là tài sản do được thừa kế riêng, thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng Hoặc trường hợp tuy trong di chúc chỉ định cả hai vợ chồng được thừa kế tài sản nhưng lại quy định rõ phần quyền của mỗi người, phần di sản được hưởng giữa vợ chồng độc lập với nhau thì chúng ta cũng coi đó là trường hợp được hưởng thừa
kế riêng9 Tuy nhiên trong trường hợp mà di chúc quy định để lại tài sản cho cả vợ chồng,
và không quy định phần quyền của mỗi người, nội dung di chúc thể hiện ý chí để lại di sản chung cho vợ chồng thì chúng ta cần phải xem đó là trường hợp vợ chồng được thừa kế chung và tài sản đó sẽ thuộc về khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng
9
Tài sản mà vợ chồng được hưởng trong trường hợp này cũng có thể tồn tại dưới hình thức sở hữu chung theo phần, nhưng xét về bản chất tài sản đó vẫn được coi là thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng mà không phải là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Trang 2016
Về trường hợp tài sản được tặng cho riêng của vợ, chồng: theo pháp luật dân sự,
tặng cho là “sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và
chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận”10 Tương tự trường hợp thừa kế riêng theo di chúc, hợp đồng tặng cho riêng có thể chỉ có tên một bên vợ, chồng hoặc có tên của cả vợ chồng nhưng trong đó có phân biệt phần quyền của mỗi người đối với tài sản tặng cho Trên thực tế, các trường hợp được xem là tặng cho riêng như bố vợ tặng riêng cho vợ một căn nhà; gia đình nhà chồng tặng cho chồng một chiếc xe máy để chồng đi lại… Việc tặng cho riêng ở đây mang tính chất cá nhân và nhìn chung thông qua hợp đồng tặng cho chúng ta có thể xác định được tài sản nào là tài sản được tặng cho riêng thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng Tuy nhiên, khi nghiên cứu về trường hợp tài sản được tặng cho riêng vợ, chồng trong thời
kỳ hôn nhân, tác giả nhận thấy cần phải có sự đối chiếu và phân biệt một số điểm với trường hợp tài sản được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân để cho việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng ít phức tạp hơn Việc xác định trường hợp nào là tặng cho chung, trường hợp nào là tặng cho riêng vợ, chồng không phải là vấn đề đơn giản, nhất là việc tặng cho đó không được thể hiện bằng văn bản Trong trường hợp tặng cho mang tính chất
quà biếu của đối tác trong giao dịch thì “khó có thể coi đó là tài sản riêng do được tặng
cho riêng” 11, bởi vì việc tặng cho đó có liên quan hay nói chính xác hơn là xuất phát từ công việc, hoạt động nghề nghiệp, từ những yếu tố, sự kiện thuộc về nguồn gốc tạo ra tài
sản chung do đó tài sản được tặng cho trong trường hợp này cần xem là “thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh” của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thuộc khối
tài sản chung của vợ chồng Còn đối với trường hợp tặng cho mang tính chất xã giao thường được thực hiện trong một số dịp lễ tết, các sự kiện như liên hoan trúng tuyển cao học, hoặc tết cổ truyền, sinh nhật…thì tài sản được tặng cho tùy từng trường hợp mà sẽ thuộc khối tài sản chung hoặc khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Trong trường hợp này, chúng ta sẽ dựa vào tính chất của sự kiện mà nhân sự kiện đó, việc tặng cho được
10 Điều 465 BLDS 2005
11 Khoa Luật, Đại học Cần Thơ, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, tập 2, trang 12
Trang 2117
thực hiện để xác định là tặng cho chung hay tặng cho riêng Bên cạnh đó chúng ta cũng có thể sử dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý tài sản chung quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật
HNGĐ, theo đó “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung” để xác
định tài sản tặng cho thuộc khối tài sản chung của vợ chồng hay là thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng
- Tài sản mà vợ, chồng được chia riêng từ việc chia tài sản sản chung trong thời
kỳ hôn nhân
Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy định “tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo
quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này” thuộc tài sản riêng của mỗi bên
vợ, chồng Xuất phát từ chế độ sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và từ yêu cầu thực tiễn trong đời sống hôn nhân của vợ chồng như nhu cầu cần có tài sản để đầu tư, kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng…của mỗi bên
vợ, chồng nên Luật HNGĐ 2000 đã thừa nhận và quy định vợ chồng có quyền chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân Theo đó, “khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng
đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết”12 Tuy nhiên, nếu vợ chồng chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì việc chia tài sản đó sẽ không được pháp luật công nhận Theo quy định này thì khi vợ, chồng muốn có tài sản riêng để đầu tư, kinh doanh riêng hoặc thực hiện các nghĩa vụ dân
sự riêng, hoặc có các lý do chính đáng khác như trường hợp vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn không muốn ly hôn…thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia hoặc nhờ Tòa án giải quyết trong trường hợp không thỏa thuận được, tài sản mà vợ chồng được chia
sẽ thuộc khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Phần tài sản được chia từ việc chia tài sản chung sẽ trở thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng, còn phần tài sản không chia
12 Điều 29 Luật HNGĐ 2000
Trang 2218
vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng Và theo quy định tại Nghị định 70/2001/NĐ-CP thì
“thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác”13 Theo quy định của Nghị định này, trừ trường hợp vợ chồng
có thỏa thuận khác thì những thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên nếu như trước khi chia được coi là nguồn hình thành tài sản chung của vợ chồng thì sau khi chia, các thu nhập này được xem là những nguồn hình thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Tóm lại, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ các tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thành các tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng
- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản mà vợ, chồng được chia riêng từ việc chia tài
sản sản chung trong thời kỳ hôn nhân
BLDS 1995 quy định về quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức như sau: “Chủ sở
hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó” Hiện nay,
BLDS 1995 đã bị thay thế bởi BLDS 2005 nhưng quy định về quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức vẫn được giữ nguyên14 Xuất phát từ quy định về quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức của pháp luật dân sự và cùng với sự thừa nhận tài sản vợ, chồng được chia từ việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của mỗi bên
vợ, chồng nên Điều 30 Luật HNGĐ 2000 đã thừa nhận: “Trong trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người” Quy định này của Luật HNGĐ 2000 đã khắc phục được sự mập mờ
của Luật HNGĐ 1986 Luật HNGĐ 1986 khi quy định về việc chia tài sản chung, chỉ quy
định chung chung là “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng,
13 Khoản 2 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP
14 Quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức quy định tại Điều 235 BLDS 2005
Trang 2319
thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này”15 mà không nói rõ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản được chia thuộc khối tài sản chung hay khối tài sản riêng của vợ, chồng Quy định trên của Luật HNGĐ 2000 cho phép chúng
ta hiểu rằng tất cả hoa lợi, lợi tức của phần tài sản vợ, chồng được chia từ việc chia tài sản chung sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng Tuy nhiên, khi Nghị định 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành
Luật HNGĐ 2000 thì lại có quy định ngoại lệ cho trường hợp trên, theo đó “Hoa lợi, lợi
tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác” Như vậy về nguyên tắc hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài
sản được chia sẽ thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, nhưng trong trường hợp các bên có thỏa thuận khác thì hoa lợi, lợi tức đó có thể sẽ không thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng nữa mà sẽ thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Sự thỏa thuận này có thể được tiến hành khi chia hoặc sau khi chia tài sản chung, vợ chồng hoàn toàn có thể thỏa thuận hoa lợi, lợi
tức phát sinh từ phần tài sản được chia thuộc khối tài sản chung của vợ chồng
- Tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân
Điều 32 Luật HNGĐ 2000 quy định đồ dùng, tư trang cá nhân là những tài sản thuộc khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Quy định này khác với quy định tại Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HNGĐ 1986, theo đó tài sản mà vợ chồng mua sắm được
từ tài sản chung là tài sản chung của vợ chồng,16 và do đó nếu đồ dùng, tư trang của vợ, chồng được mua từ tài sản chung sẽ thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Bên cạnh đó,
Nghị quyết cũng có quy định “đồ trang sức mà người vợ hoặc người chồng được cha mẹ
vợ hoặc chồng tặng cho riêng trong ngày cưới là tài sản riêng, nhưng nếu những thứ đó được cho chung cả hai người với tính chất là tạo dựng cho vợ chồng một số vốn thì coi là
15 Điều 16 Luật HNGĐ 1986
16 Điểm A mục 3 NQ 01/NQ-HĐTP (NQ này đã bị thay thế bởi NQ 02/2000/NQ-HĐTP)
Trang 2420
tài sản chung” 17 , và những trang sức có giá trị không lớn so với tài sản chung thì thuộc về
người đang sử dụng Nhưng theo Luật HNGĐ 2000 thì mọi đồ dùng, tư trang cá nhân đều được coi là tài sản riêng của vợ, chồng dù được hình thành từ nguồn tài sản chung hay riêng của vợ chồng, có giá trị lớn hay nhỏ Tuy nhiên, Luật HNGĐ 2000 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành lại không có định nghĩa như thế nào là đồ dùng, tư trang cá nhân, trong khi đó phạm vi về tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân rất khó xác định Chính vì vậy, việc này đã dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất về khái niệm, phạm vi tài sản được coi là đồ dùng, tư trang cá nhân Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, “tư trang” là
“các thứ đồ đạc cần thiết mang theo người của một cá nhân”18, còn “đồ dùng” là “vật do
con người tạo ra dùng trong sinh hoạt, trong hoạt động hằng ngày” 19 Như vậy, chúng ta
có thể hiểu đồ dùng, tư trang cá nhân là những vật phục vụ nhu cầu tối thiểu, cần thiết cho mỗi người trong cuộc sống như: đồ trang sức (nhẫn, dây chuyền, đồng hồ đeo tay…), quần
áo, dày dép Để hiểu đúng tinh thần của Điều luật, chúng ta cần phải có sự phân biệt giữa những vật là tư trang cá nhân và những vật tuy có tính chất là tư trang cá nhân nhưng cần phải được coi là tài sản tích lũy thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Tuy đều có tính chất là tư trang nhưng nếu món tư trang đó đơn thuần chỉ là dùng để phục vụ nhu cầu cá nhân, nhu cầu làm đẹp, sử dụng hàng ngày của vợ, chồng thì sẽ thuộc nhóm “đồ dùng, tư trang cá nhân” thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng Nhưng nếu tài sản tuy có tính chất
là đồ dùng, tư trang cá nhân nhưng mục đích chính không phải là để làm đẹp, phục vụ nhu cầu cá nhân mà để tích lũy, cất trữ tài sản chung của vợ, chồng thì chúng ta cần phải xác định đó là tài sản tích lũy của vợ chồng và thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Thực tế cũng cho thấy, nhất là trong điều kiện giá trị tiền tệ không ổn định thì các cặp vợ chồng Việt Nam thường có thói quen mua vàng (nhẫn vàng, dây chuyền vàng…) để tích trữ tài sản
- Tài sản được Nhà nước cấp cho người có công với cách mạng
17
Điểm B mục 3 NQ 01/NQ-HĐTP
18 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng việt phổ thông, trang 987
19 Viện Ngôn ngữ học,Từ điển Tiến việt phổ thông, trang 297
Trang 25quyết các vụ án dân sự, HNGĐ quy định: “Trường hợp người có công với cách mạng
được nhận tài sản trong thời kỳ hôn nhân khi họ còn sống thì tài sản được coi là tài sản riêng của người đó, trừ trường hợp họ đã nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”
Theo quy định này thì đối với tài sản mà người có công cách mạng được Nhà nước cấp trong thời kỳ hôn nhân như nhà ở, QSDĐ ở,…thì pháp luật thừa nhận đây là tài sản riêng của người đó, mà không phải là tài sản chung của vợ chồng Đây là một trường hợp đặc biệt bởi nguồn tài sản này không thuộc một trong các nguồn tài sản riêng được quy định tại Điều 32 Luật HNGĐ 2000 Mặt khác, quy định này cũng khác với quy định QSDĐ mà
vợ chồng có được sau khi kết hôn như được Nhà nước giao, cho thuê một bên hoăc cả vợ chồng thì đều được coi là tài sản chung của vợ chồng tại khoản 1 Điều 27 Luật HNGĐ
2000
Tóm lại, qua phân tích các quy định liên quan về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng tác giả nhận thấy để xác định tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng chúng ta cần tiến hành các bước sau:
- Bước 1: Xác định thời điểm kết hôn, thời điểm tạo lập tài sản để xác định Luật áp dụng cho phù hợp với vụ việc (quyết định áp dụng Luật HNGĐ 1959 hay Luật HNGĐ
1986 hay Luật HNGĐ 2000)
- Bước 2: Xác định nguồn gốc tài sản xem tài sản đó thuộc hay không thuộc các
nguồn tài sản riêng theo quy định pháp luật đã được xác định tại bước 1
- Bước 3: Xác định xem giữa vợ và chồng có tồn tại thỏa thuận nhập tài sản riêng
vào tài sản chung của vợ chồng hay không
-
Trang 2622
1.8.2 Thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng
Theo pháp luật dân sự, quyền sở hữu đối với một tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Theo đó, vợ, chồng với tư cách là chủ sở hữu của khối tài sản riêng cũng có đủ ba quyền này đối với tài sản của mình và được tự do thực hiện các quyền này theo ý chí của mình trong khuôn khổ pháp luật Tuy nhiên, trong quan hệ HNGĐ, xuất phát từ việc đảm bảo lợi ích chung, duy trì sự ổn định, bền vững của đời sống gia đình và xuất phát từ trách nhiệm thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng nên việc thực hiện quyền sở hữu của vợ, chồng đối với khối tài sản riêng của mình sẽ phần nào khác với việc thực hiện quyền sở hữu của các chủ thể thông thường khác trong pháp luật dân sự Điều 33 Luật HNGĐ 2000 quy
định “vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ
trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này”
- Về quyền chiếm hữu tài sản:
Điều 182 BLDS 2005 quy định “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài
sản” Với tư cách là chủ sở hữu khối tài sản riêng của mình, mỗi bên vợ, chồng được
quyền thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản của mình phù hợp với pháp luật Trong pháp luật dân sự, trừ một số trường hợp đặc biệt như quyền chiếm hữu của người phát hiện tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm thì việc thực hiện quyền chiếm hữu chỉ có thể đươc thực hiện bởi chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền, người được giao quản lý tài sản Xét về mặt ưng thuận của chủ sở hữu, người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu tài sản đó khi được chủ sở hữu ủy quyền hoặc giao quản lý tài sản Tuy nhiên, Luật HNGĐ 2000 khi quy định quyền chiếm hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng của mình lại có điểm khác biệt so với pháp
luật dân sự, theo đó “trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản
riêng và cũng không uỷ quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó”20 Trường hợp này đòi hỏi phải có hai điều kiện Điều kiện thứ nhất là “vợ hoặc chồng
20
Khoản 2 Điều 33 Luật HNGĐ 2000
Trang 2723
không thể tự mình quản lý tài sản riêng của mình”, đây là trường hợp người vợ hoặc
người chồng đi vắng, công tác xa nhà hoặc bệnh tật và các sự kiện có tính chất tương tự làm cho vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản được Trường hợp này không bao gồm trường hợp người vợ, người chồng đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Trong hai trường hợp này người vợ, chồng quản lý tài sản của người kia với tư cách là người đại diện theo pháp luật (trường hợp người kia bị hạn chế năng lực hành vi dân sự) hoặc với tư cách là người giám hộ (trường hợp người kia bị mất năng lực hành vi dân sự) Tuy đều có kết quả là vợ, chồng được quyền quản lý tài sản của người chồng, người vợ còn lại nhưng trường hợp quản lý tài sản thay (quy định tại Điều 33 Luật HNGĐ 2000) và trường hợp quản lý tài sản của vợ, chồng trong trường hợp người đó mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có điều kiện và bản chất rất khác nhau Điều kiện thứ hai là vợ hoặc chồng có tài sản riêng không ủy quyền cho người khác quản lý tài sản đó Trường hợp tuy người vợ, chồng của mình không thể tự mình quản lý tài sản riêng của mình nhưng người đó đã ủy quyền quản lý tài sản của họ cho người khác,
thì người chồng, vợ còn lại sẽ không có quyền quản lý tài sản riêng đó nữa
Điều 75 BLDS 2005 cũng có quy định về một trường hợp tương tự quy định trên của Luật HNGĐ 2000, đó là trường hợp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án sẽ giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho vợ hoặc chồng người vắng mặt tại nơi cư trú dựa trên nguyên tắc
“tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc
chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con
đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý” Quy định này chỉ là một trong
số những trường hợp “vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng của mình”
quy định tại Điều 33 Luật HNGĐ 2000
Quy định vợ, chồng được quyền quản lý tài sản riêng của người còn lại rất có ý nghĩa trên thực tế, nhất là đối với người phụ nữ Khi người chồng đi làm ăn xa, hoặc vắng mặt tại nơi cư trú mà không ủy quyền quản lý tài sản riêng của mình cho ai, nên nhiều trường hợp gia đình bên chồng đòi quản lý tài sản riêng của chồng vì muốn mưu cầu lợi
Trang 2824
ích kinh tế Nhưng theo quy định của BLDS 2005, Luật HNGĐ 2000 thì rõ ràng trong trường hợp trên người vợ đó được quyền quản lý tài sản của người chồng mình theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của chồng, cũng như của gia đình mình
- Về quyền sử dụng tài sản:
BLDS 2005 quy định “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa
lợi, lợi tức từ tài sản” 21 Khi thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình, chủ
sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình miễn sao không gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Với tư cách là chủ sở hữu của khối tài sản riêng, vợ, chồng cũng có quyền sử dụng đối với khối tài sản đó, từ khai thác công dụng cho đến hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của bên vợ, bên chồng còn lại Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích bảo vệ các thành viên khác trong gia đình, cũng như cuộc sống, sự bền vững trong quan hệ hôn nhân nên pháp luật HNGĐ khi quy định về quyền sử dụng của vợ, chồng có tài sản riêng thì bên cạnh việc ghi nhận vợ, chồng có quyền sử dụng tài sản riêng của mình theo pháp luật dân sự còn quy định thêm một số hạn chế đối với vợ, chồng trong việc thực hiện quyền sử dụng
tài sản riêng của mình
Cụ thể, khoản 4 Điều 33 Luật HNGĐ 2000 quy định “Tài sản riêng của vợ, chồng
cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” Về nguyên tắc, các nhu cầu thiết yếu của gia đình thuộc phần
nghĩa vụ chung và sẽ được đáp ứng bằng khối tài sản chung của vợ chồng Nhưng trong
trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì “tài sản
riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng”.Tuy nhiên, quy định này chỉ là một quy định tùy
nghi, không mang tính chất bắt buộc, đây đơn thuần chỉ là sự hướng dẫn của pháp luật đối với vợ chồng Còn việc vợ, chồng có chịu đưa tài sản riêng của mình vào sử dụng chung
21 Điều 192 BLDS 2005
Trang 29chủ sở hữu nhà, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và “bên chưa có chỗ ở được
lưu cư trong thời hạn 6 tháng để tìm chỗ ở khác”22 Theo quy định này thì dưới góc độ thực hiện quyền sử dụng tài sản của chủ sở hữu thì quyền sử dụng của vợ, chồng có nhà ở thuộc sở hữu riêng mà đã đưa vào sử dụng chung đã bị hạn chế khi người chồng, người vợ
đã ly hôn với họ thực hiện quyền lưu cư của mình Đây là một quy định phù hợp với truyền thống, đạo lý của người Việt ta xưa nay, tuy đã ly hôn nhưng dù sao giữa họ cũng
đã từng là vợ chồng của nhau nên khi người chồng, người vợ của họ khó khăn thì họ phải
có nghĩa vụ giúp đỡ
- Về quyền định đoạt tài sản riêng:
Điều 195 BLDS 2005 quy định “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở
hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó” Vợ, chồng có tài sản riêng với tư cách là chủ sở
hữu cũng có quyền định đoạt đối với tài sản của mình gồm quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản và quyền từ bỏ quyền sở hữu Vợ, chồng có thể thực hiện quyền chuyển giao của mình thông qua các giao dịch dân sự như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế tài sản cho người khác Vợ, chồng cũng có thể từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó
Trên tinh thần đó, khoản 2 Điều 32 Luật HNGĐ 2000 đã ghi nhận: “vợ, chồng có
quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung” Vợ, chồng có quyền
có tài sản riêng và họ có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài
22 Điều 30 Nghị định 70/2001/NĐ-CP
Trang 3026
sản chung của vợ chồng Nếu vợ, chồng nhập thì tài sản riêng đó sẽ chuyển từ sở hữu cá nhân sang sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung đòi hỏi phải có sự tự nguyện của người vợ, người chồng có tài sản riêng, nếu có yếu tố ép buộc, đe dọa, cưỡng ép, lừa đảo, nhầm lẫn… và các hành vi có tính chất tương tự thể hiện việc nhập tài sản riêng không có đầy đủ sự tự nguyện của vợ, chồng thì “giao dịch” nhập tài sản riêng vào tài sản chung sẽ bị vô hiệu theo quy định tại các Điều 131, 132, 133 BLDS 2005 Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định việc nhập tài sản là nhà ở, QSDĐ và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng Trên thực tế, vợ, chồng có thể lập giấy ưng thuận, giấy cam đoan, văn bản thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung…Các văn bản này có thể được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật tùy thuộc vào ý chí của vợ chồng, pháp luật không bắt buộc23 Pháp luật quy định như vậy nhằm đảm bảo cơ sở khi giải quyết tranh chấp tài sản và tránh hiện tượng vợ, chồng có tài sản riêng “lật kèo” với người chồng, người vợ của mình
Trên thực tế, khi người vợ, người chồng có nghĩa vụ với người thứ ba nhưng vì không muốn thực hiện nghĩa vụ đó mà họ đã xác lập giao dịch giả tạo là nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ, chồng Việc này sẽ làm cho người có quyền rất khó khăn trong việc yêu cầu người chồng, người vợ có nghĩa vụ với mình thực hiện nghĩa
vụ tài sản vì lúc này tài sản đã nhập sẽ thuộc khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, do
đó bên thứ ba không thể xác định được phần quyền của người có nghĩa vụ trong khối tài
sản chung hợp nhất đó Giải quyết vấn đề này, pháp luật HNGĐ quy định “việc nhập tài
sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ riêng của bên đó về tài sản thì vô hiệu”24 Pháp luật dân sự cũng có quy định
23 Khoản 1 Điều 13 Nghị định 70/2001/NĐ-CP
24 Khoản 2 Điều 13 Nghị định 70/2001/NĐ-CP
Trang 3127
“trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
thì giao dịch đó vô hiệu”25
Với tư cách là chủ sở hữu, vợ, chồng có quyền định đoạt đối với tài sản riêng theo
ý chí của mình mà không phải xin phép hoặc phụ thuộc vào người vợ, người chồng còn lại miễn sao không gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Tuy nhiên, xuất phát từ nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau của vợ chồng và cũng như nhằm mục đích bảo vệ lợi ích chung của gia đình nên Luật HNGĐ đã đặt ra cho vợ, chồng sự hạn chế trong việc thực hiện quyền định đoạt tài sản của riêng của mình Cụ thể, khoản 5 Điều 33 Luật HNGĐ
2000 quy định: “Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử
dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng” Trong quy định
này, chúng ta sẽ thấy quyền định đoạt của chủ sở hữu là vợ, chồng đối với tài sản riêng của mình khác với quy định chung của pháp luật dân sự Vợ, chồng có tài sản riêng trong trường hợp trên không còn được toàn quyền định đoạt tài sản theo ý chí của mình nữa, mà
pháp luật quy định việc định đoạt đó “phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng” Theo
quy định tại Điều 4 Nghị định 70/2001/NĐ-CP thì trong trường hợp trên nếu không được
sự thỏa thuận của cả vợ chồng mà vợ hoặc chồng có tài sản riêng đó tự ý xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến việc định đoạt tài sản tài sản thì giao dịch đó sẽ bị tuyên là vô hiệu Bên vợ, bên chồng còn lại có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu theo quy định tại Điều 134 BLDS 2005 Lưu ý, Luật quy định là chỉ các giao dịch định đoạt tài sản thì mới đòi hỏi phải được sự thỏa thuận của cả
vợ chồng, do đó đối với các giao dịch liên quan đến quyền chiếm hữu, sử dụng (ví dụ như các giao dịch ủy quyền chiếm hữu, giao dịch cho thuê tài sản, cầm cố, thế chấp…) thì chủ
sở hữu tài sản riêng vẫn có toàn quyền quyết định mà không bắt buộc phải có sự thỏa
thuận của vợ, chồng mình Về hình thức của “thỏa thuận của cả vợ chồng”, Điều 4 Nghị
25 Điều 129 BLDS 2005
Trang 3228
định 70/2001/NĐ-CP quy định việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định giao dịch đó phải tuân theo hình thức nhất định, thì sự thoả thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực ); Trường hợp pháp luật không có quy định phải tuân theo hình thức nhất định thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch
đó cũng phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng
- Vấn đề thanh toán nghĩa vụ tài sản riêng: Khoản 3 Điều 33 Luật HNGĐ 2000
quy định “Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của
người đó” Trong sự đối chiếu với nghĩa vụ chung của vợ chồng tại Điều 25 và Điều 28
Luật HNGĐ 2000 và quy định về các nguồn tài sản riêng của vợ, chồng thì nghĩa vụ tài sản riêng của vợ, chồng sẽ bao gồm những nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng có trước khi kết hôn hoặc tuy được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng không xuất phát từ mục đích
để phục vụ nhu cầu chung của gia đình mà xuất phát từ việc để đáp ứng nhu cầu riêng hoặc để thực hiện nghĩa vụ riêng của vợ, chồng Ví dụ: Trong thời kỳ hôn nhân, người vợ
có vay của người thứ ba một khoản tiền để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của mình đối với chồng cũ; khoản tiền mà người vợ vay trong trường hợp này được coi là nghĩa vụ tài sản riêng của người vợ
Theo quy định trên, nếu vợ, chồng có khoản nợ riêng thì vợ, chồng phải lấy tài sản riêng của mình ra để thanh toán nghĩa vụ riêng; vợ, chồng chỉ được dùng tài sản chung để thanh toán nghĩa vụ riêng nếu được người chồng, người vợ còn lại đồng ý Nếu không có
sự đồng ý mà người vợ, người chồng đó tự ý lấy tài sản chung để thanh toán nghĩa vụ riêng thì hành vi này là trái pháp luật và về nguyên tắc người chồng, người vợ kia được quyền đòi lại tài sản Quy định nghĩa vụ riêng được thanh toán từ tài sản riêng rất có ý nghĩa trong khâu thi hành án liên quan đến nghĩa vụ tài sản riêng của vợ, chồng hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba; đặc biệt là quy định này đã đặt ra cơ sở pháp lý
Trang 3329
bảo vệ khối tài sản chung của vợ chồng, cũng như quyền lợi hợp pháp của người chồng, người vợ còn lại Khi thi hành án liên quan đến nghĩa vụ tài sản là nghĩa vụ riêng thì đầu tiên cơ quan thi hành án chỉ có quyền kê biên tài sản riêng của người vợ, người chồng đó
mà không được kê biên tài sản chung của vợ chồng Sau đó, nếu tài sản riêng của người
vợ, người chồng đó không đủ thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng thì cơ quan thi hành án, mới được kê biên tài sản chung của vợ chồng Cụ thể, Điều 74 Luật Thi hành án dân sự 2008 khi quy định về trường hợp cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung có quy định
“đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định
phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông
báo cho vợ, chồng biết Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện
yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ” Nói tóm lại, nghĩa vụ tài sản
riêng của vợ, chồng được thanh toán bằng tài sản riêng, nếu tài sản riêng không đủ thì thanh toán bằng phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung hoặc vợ chồng có thể thoả thuận thanh toán bằng tài sản chung
Trang 34lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức Điều này yêu cầu lý luận phải xuất phát
từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn và việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn Xuất phát từ mối quan hệ khăng khít này, nên khi tìm hiểu chế định pháp lý về tài sản riêng của vợ, chồng đòi hỏi cần phải có sự liên hệ, đối chiếu với thực tiễn giải quyết tranh chấp về vấn đề này Việc so sánh, đối chiếu này một mặt giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được đi đúng hướng, có điều kiện áp dụng thống nhất, đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa; mặt khác thông qua việc nghiên cứu, liên hệ, đối chiếu và tổng kết công tác thực tiễn giải quyết tranh chấp chúng ta có điều kiện kiểm tra tính đúng đắn, phù hợp của các quy định pháp luật hiện hành về tài sản riêng của vợ, chồng
Xuất phát từ sự không rõ ràng trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng và cùng với sự thiếu sót của các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng nên trong thực tiễn, tranh chấp về xác định tài sản riêng của vợ, chồng thường rất phức tạp Sau đây là một số dạng tranh chấp tài sản riêng giữa vợ, chồng điển hình trong thời gian qua:
- Tranh chấp về xác định tài sản có trước thời kỳ hôn nhân
- Tranh chấp về tài sản được tặng cho riêng
- Tranh chấp về tài sản hình thành từ giao dịch bằng tài sản riêng của mỗi bên
Trang 3531
Trên thực tế thường xảy ra trường hợp tranh chấp về tài sản có trước khi kết hôn nhưng trong thời kỳ hôn nhân đã đưa tài sản vào sử dụng chung Có quan điểm cho rằng
đó vẫn là tài sản riêng của người vợ, người chồng, nhưng đồng thời cũng tồn tại quan điểm khác cho rằng tài sản đó được đưa vào sử dụng chung nên đã trở thành tài sản chung của vợ chồng Về vấn đề này, thực tiễn xét xử cho thấy không phải cứ là tài sản có trước khi kết hôn thì là đều là tài sản riêng, cũng không phải cứ đưa vào sử dụng chung thì trở thành tài sản chung của vợ chồng Việc xác định một tài sản nào đó là tài sản riêng hay tài sản chung còn phụ thuộc vào quy định của pháp luật tại thời điểm tạo lập tài sản và phụ thuộc vào những sự kiện pháp lý làm thay đổi chế độ sở hữu tài sản đó Chính vì vậy, trong nhiều vụ án dù xác định được rằng nguồn gốc của tài sản là tài sản có trước khi kết hôn nhưng Toà vẫn tuyên tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng
Điển hình như trong vụ án tranh chấp nhà đất tại số 64/2A1 Lê Văn Thọ, phường
11, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh giữa Bà Ngô Thị Bích Thủy và ông Trần Quốc Tuấn (Quận Gò Vấp, TP.HCM) Tính đến thời điểm hiện tại, vụ án này đã trải qua 02 lần sơ thẩm, 02 lần phúc thẩm, 01 lần giám đốc thẩm và quan điểm, hướng giải quyết của các cấp Toà trong vụ án cũng khác nhau Cụ thể: bà Thủy và ông Tuấn đăng ký kết hôn năm
1993 Khi ly hôn, bà Thủy yêu cầu được chia 1/2 giá trị nhà đất trên bằng tiền Trong khi ông Tuấn chỉ đồng ý chia 1/2 giá trị xây dựng nhà, không đồng ý chia giá trị QSDĐ vì cho rằng phần đất là tài sản của cha mẹ ông, chỉ cho hai vợ chồng ở nhờ trong thời kỳ hôn nhân Tại bản án sơ thẩm số 130/CTS-HNST ngày 16/3/2005, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh đã xử: chấp nhận một phần yêu cầu của bà Thủy, công nhận nhà và đất là tài sản chung hợp nhất của bà Thủy và ông Tuấn Ngày 29/3/2005, ông Tuấn kháng cáo Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã tuyên hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm lại vì vi phạm thủ tục tố tụng dân sự Ngày 06/10/2005 Tòa án nhân dân quận Gò Vấp ra Quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh để giải quyết vì có đương sự là bà Trần Thị Thúy Loan (người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) đang định cư ở nước ngoài Ngày 25-5-2007,
Trang 3632
Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh tại bản án dân sự sơ thẩm số 833/2007/DSST đã quyết
định: “Bác yêu cầu của bà Thủy đòi phân chia 1/2 giá trị quyền sử dụng đất của căn
nhà” Ngày 04-6-2007, bà Thủy kháng cáo Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại
TP Hồ Chí Minh tại bản án số 399/2007/DSPT đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu của bà Thủy đòi chia giá trị QSDĐ của căn nhà Ngày 15-8-2008, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định số 110/QĐ-KNGĐT-V5 kháng nghị bản án phúc thẩm trên Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 41/2008/DS-GĐT ngày 23/12/ 2008, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phân tích: Về phần đất của căn nhà là một phần trong tổng số 3.684m2 đất thuộc quyền sử dụng của cụ Bình (mẹ ông Tuấn) Năm 1992, cha mẹ ông Tuấn giao cho ông Tuấn 198m2 để ông Tuấn cất nhà Ngày 21/8/1999, ông Tuấn, bà Thủy có kê khai tờ Đăng ký nhà đất, có xác nhận của UBND phường Ngày 20-6-2000, cụ
Mỹ làm giấy tái xác nhận việc cụ Mỹ cho ông Tuấn diện tích đất trên Và ngày 22-6-2000, ông Tuấn bà Thủy có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và QSDĐ ở Ngày 24-10-2000, Phòng quản lý đô thị quận Gò Vấp có yêu cầu ông Tuấn phải nộp các giấy tờ gồm 2 bản sao hộ khẩu có xác nhận sao y, bà Thủy ký tên phường xác nhận chữ ký Và ngày 02-11-2000, sau khi hoàn tất hồ sơ theo yêu cầu của Phòng quản lý đô thị quận Gò Vấp, ông Tuấn bà Thủy đã nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký QSDĐ quận Gò Vấp và đã được cấp biên nhận số 526 Từ những phân tích này, Hội đồng giám đốc thẩm đã nhận
định “đã có đủ căn cứ để xác định: cụ Mỹ và cụ Bình đã cho ông Tuấn thửa đất 198m2 từ
năm 1992; năm 2000 được cụ Mỹ tái xác nhận việc cho ông Tuấn thửa đất trên và ông Tuấn đã nhập tài sản đó vào khối tài sản chung của vợ chồng”
Như vậy, cùng một vấn đề nhưng các cấp Toà có cách giải quyết khác nhau Toà sơ thẩm Quận Gò Vấp tại bản án sơ thẩm số 130/CTS-HNST và Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh tại bản án dân sự phúc thẩm số 399/2007/DSPT và Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Quyết định giám đốc thẩm số 41/2008/DS-GĐT thì cho rằng nhà ở và QSDĐ là tài sản chung của vợ chồng Trong khi đó HĐXX sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại bản án dân sự sơ thẩm số 833/2007/DSST đã bác yêu cầu của bà Thủy đòi phân chia giá trị QSDĐ của căn nhà
Trang 3733
Theo ý kiến cá nhân, tác giả cho rằng quan điểm và cách giải quyết xem QSDĐ đang tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng hợp lý hơn và đồng thời cũng phù hợp với quy định của pháp luật Tuy rằng, QSDĐ đang tranh chấp là tài sản được cha mẹ tặng cho ông Tuấn năm 1992 và về nguyên tắc theo quy định tại Điều 32 Luật HNGĐ 2000 thì đây là tài sản có trước khi kết hôn nên sẽ thuộc khối tài sản riêng của ông Tuấn Nhưng tại Điều
32 cũng có quy định vợ, chồng có quyền nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng, do đó khi ông Tuấn đã tự nguyện nhập quyển sử dụng đất vào tài sản chung thông qua đơn xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ có tên và chữ ký của cả vợ chồng thì QSDĐ đang tranh chấp sẽ thuộc khối tài sản chung của vợ chồng
Trong một trường hợp khác, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, Tỉnh Đăk Nông tại Bản án HNGĐ số 01/2012/HNGĐ-ST ngày 15/02/2012 cũng có cách giải quyết tương tự đối với vụ việc tranh chấp tài sản khi ly hôn giữa Chị Hồ Thị Thanh Hải và Anh Phạm Văn Hòa Toà đã thừa nhận lô đất và tài sản trên đất tọa lạc số 93 Hùng Vương, thị trấn EaT’ling, huyện Cư Jút là tài sản có trước khi kết hôn của anh Hoà Nhưng theo quan điểm của Toà, do anh Hoà đã tự nguyện nhập quyền sử dụng lô đất trên vào tài sản chung nên xác định đây là tài sản chung của vợ chồng Cụ thể, trong vụ tranh chấp này Chị Hải cho rằng thửa đất và tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng Còn anh Hòa cho rằng
“đây là tài sản của bố mẹ anh là Ông Phạm Bá Cường mà bà Đinh Thị Mười” HĐXX
nhận định: Anh Hòa cho rằng lô đất trên là tài sản của bố mẹ anh Tuy nhiên, các chứng
cứ mà ông Cường, Bà Mười và anh Hòa cung cấp cho Tòa án là 01 biên bản họp gia đình
đề ngày 10/5/2002 sau khi họp gia đình đã thống nhất đưa cho anh Hòa số tiền 50.000.000 đồng để mua lô đất trên Tại biên bản họp gia đình đã thống nhất được giá đất và khoản tiền đặt cọc là 3.000.000 đồng Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai ngày 09/02/2012 đối với ông Nguyễn Xuân Sinh là người đã bán đất cho anh Hòa lại khai rằng tại thời điểm từ tháng 7 đến tháng 8/2002 ông còn làm rẫy tại lô đất này và chưa có ai đặt vấn đề mua đất với ông Sinh cả Ngoài ra tại Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số tiền đặt cọc là 5 triệu đồng và được ký kết với bên mua là anh Hòa chứ không phải ông Cường, bà Mười Điều
đó khẳng định việc ông Cường, bà Mười và anh Hòa đã tự lập ra biên bản họp gia đình
Trang 3834
Bên cạnh đó, giữa chị Hải và anh Hòa có lập biên bản thỏa thuận đề ngày 24/10/2009 thỏa thuận về việc sát nhập lô đất này vào khối tài sản chung vợ chồng Theo biên bản thỏa thuận thì chị Hải góp 17 triệu đồng, anh Hòa góp 33 triệu đồng để mua đất và không tính đến giá trị đóng góp đề hình thành nên khối tài sản chung Chính vì vậy, Toà xác định QSDĐ trên tuy là tài sản riêng của anh Hoà có trước khi kết hôn, nhưng giữa anh Hoà và chị Hải đã có biên bản thoả thuận sáp nhập lô đất vào tài sản chung nên Toà xác định QSDĐ trên là tài sản chung của vợ chồng
Trong vụ án này, có thể thấy nhằm mục đích trốn tránh thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng, phía anh Hòa tìm cách cho rằng QSDĐ đối với lô đất là tài sản của bố mẹ anh chứ không phải là tài sản riêng của anh Và trên cơ sở đó, thỏa thuận sát nhập tài sản chung giữa anh và chị Hải sẽ không có giá trị pháp lý vì đơn giản nếu tài sản không phải là của anh Hòa thì anh Hòa không có quyền định đoạt đối với tài sản đó Rõ ràng, nếu anh Hòa, ông Cường, Bà Mười không lập luận theo hướng QSDĐ đối với lô đất là tài sản của ông Cường, Bà Mười; anh Hòa chỉ là người đứng tên dùm thì Tòa án có thể dễ dàng xác định QSDĐ đối với lô đất là tài sản riêng của anh Hòa do anh là người đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng trong trường hợp này buộc Tòa án phải nghiên cứu lời khai, chứng cứ do phía anh Hòa cung cấp cũng như lời khai của nhân chứng mới có thể chứng minh được lô đất là tài sản riêng của anh Hòa có trước thời kỳ hôn nhân mà không phải là tài sản của ông Cường, bà Mười
Một trường hợp khác tại An Giang, Ông Lâm Ngọc Lâm và bà Nguyễn Thị Kim Vui tranh chấp phần tài sản là 7.454m2 đất, gồm 3 giấy chứng nhận QSDĐ (Diện tích 2.736m2 QSD đất số 01876/QSDĐ/KG cấp ngày 08/08/1996; Diện tích 1.766m2 QSD đất
số 02025/QSDĐ/KG cấp ngày 18/07/1997; Diện tích 2.952m2 QSD đất số 02059/QSDĐ/KG cấp ngày 17/10/1997) Bà Vui yêu cầu xác định toàn bộ diện tích đất trên là tài sản riêng của bà do đây là những tài sản bà đã có trước khi kết hôn và đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ Ngược lại, Ông Lâm cho rằng đó là tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu được chia đôi Tại bản án sơ thẩm số 29/2009/HNGĐ-ST ngày 10/06
Trang 39cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Theo HĐXX Phúc thẩm thì việc cấp sơ thẩm đã căn cứ vào việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ để xác định QSDĐ đối với phần diện tích đất còn lại là tài sản có sau khi kết hôn là hoàn toàn không có cơ sở, chưa xem xét toàn diện
về mốc thời gian bà Vui đăng ký QSDĐ (được cấp biên nhận vào ngày 02/04/1996) Từ những phân tích trên, HĐXX Phúc thẩm đã công nhận toàn bộ 7.454m2 đất là tài sản riêng của bà Vui
Trong vụ tranh chấp này, khi xác định quyền sở hữu đối với QSDĐ số
01876/QSDĐ diện tích 2.736m2, thì cả Tòa Sơ thẩm và Phúc thẩm đều công nhận đó là tài sản riêng của Bà Vui do bà Vui đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất trên trước khi kết hôn với Ông Lâm và đồng thời Bà Vui cũng không nhập tài sản đó vào khối tài sản chung của vợ chồng Còn đối với phần diện tích còn lại gồm QSDĐ số 02025/QSDĐ diện tích 1766m2, QSDĐ số 02059/QSDĐ diện tích 2952m2 thì quan điểm của Toà cấp sơ thẩm và phúc thẩm khác nhau Cấp Sơ thẩm xem phần diện tích còn lại là tài sản chung của vợ chồng do các diện tích đất này được cấp giấy chứng nhận QSDĐ trong thời kỳ hôn nhân Ngược lại, Toà cấp Phúc thẩm đã thừa nhận phần diện tích còn lại
Trang 4036
là tài sản có trước khi kết hôn của bà Vui Toà cấp phúc thẩm đã dựa trên hai căn cứ chính
để chứng minh đó là các chứng cứ về nguồn gốc tài sản và mốc thời gian bà Vui được cấp biên nhận đăng ký QSDĐ do UBND xã Vĩnh Nhuận, Huyện Châu Thành cấp tạm thời ngày 19/04/1996 - là thời điểm trước thời kỳ hôn nhân Chính vì vậy, nên dù diện tích đất còn lại được cấp giấy chứng nhận trong thời kỳ hôn nhân vẫn được coi là tài sản trước thời
kỳ hôn nhân và thuộc khối tài sản riêng của Bà Vui Theo tác giả, cách giải quyết của Toà phúc thẩm hợp lý hơn so với cách giải quyết của Toà Sơ thẩm Tuy rằng hai phần diện tích còn lại được cấp giấy chứng nhận QSDĐ trong thời kỳ hôn nhân nhưng thời điểm được cấp giấy này không phải là căn cứ để cho rằng QSDĐ đang tranh chấp là tài sản có được
trong thời kỳ hôn nhân Bởi vì Điều 432 BLDS 1995 quy định: “đối với hợp đồng mua
bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu, thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó” Trong vụ án này, việc bà Vui tiến hành đăng ký xin cấp giấy chứng nhận
QSDĐ cho toàn bộ thửa đất và được cấp giấy biên nhận tạm thời ngày 19/04/1996 (thời điểm trước thời kỳ hôn nhân) là căn cứ để toà xác định tại thời điểm đó bà Vui đã “hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu”, và có đủ quyền sở hữu đối với các thửa đất Chính
vì vậy, QSDĐ đối với phần diện tích đất còn lại cần được xem là tài sản có trước khi kết hôn của bà Vui
Tóm lại, liên quan đến tranh chấp tài sản có trước khi kết hôn, thực tiễn xét xử hiện nay có hai vấn đề cơ bản sau:
- Về đường lối xét xử chung: Những tài sản mà vợ, chồng có trước thời kỳ
hôn nhân và nếu không có thỏa thuận nhập vào tài sản chung thì khi giải quyết tranh chấp về tài sản khi ly hôn, Tòa án công nhận đó là tài sản riêng của vợ, chồng Trường hợp tuy có nguồn gốc là tài sản có trước khi kết hôn nhưng đã thoả
thuận nhập vào tài sản chung thì Toà thừa nhận đây là tài sản chung của vợ, chồng
- Về khái niệm tài sản có trước khi kết hôn: giữa các Toà chưa thống nhất với
nhau về quan điểm cũng như đường lối xét xử liên quan đến yếu tố tài sản “có”