Đối với vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài hiện nay cũng những đề tài có liên quan như: i Trong số những luận vă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ - -
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ - -
MSSV: 1155050258 GVHD: Th.S NGÔ KIM HOÀNG NGUYÊN
TP HỒ CHÍ MINH – Tháng 7/ 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Ngô Kim Hoàng Nguyên, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 07 năm 2015
Tác giả khóa luận
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- QSHTT: Quyền sở hữu trí tuệ
- QSHCN: Quyền sở hữu công nghiệp
- LSHTT: Luật Sở hữu trí tuệ
- BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI KHI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA CỦA CHỦ THỂ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 5
1.1 Khái quát về nhãn hiệu hàng hóa 5
1.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu hàng hóa 5
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của nhãn hiệu hàng hóa 7
1.2 Khái luận về vấn đề BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam 10
1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa 10
1.2.2 Tính tất yếu khách quan của việc áp dụng chế tài BTTH khi xâm hại tới QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa 12
1.2.3 Trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam 16
1.2.4 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH 20
1.2.5 Nguyên tắc và căn cứ xác định thiệt hại theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TRÁCH NHIỆM BTTH KHI XÂM PHẠM QSHCN VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA CỦA CHỦ THỂ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 28
2.1 Thực trạng xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam 28
2.1.1 Số vụ việc xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa ngày càng nhiều và phức tạp 28
2.1.2 Một số vụ việc cụ thể về việc xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam 32
2.1.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài bị xâm phạm tại Việt Nam 39
2.2 Những khó khăn trong quá trình giải quyết vấn đề liên quan đến trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam 41
2.3 Giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng xâm phạm và nâng cao hiệu quả bảo hộ QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam 44
2.3.1 Những vấn đề cần giải quyết nhằm khắc phục tình trạng xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam 44
2.3.2 Giải pháp hoàn thiện 46
KẾT LUẬN 54
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những điều kiện để Việt Nam có thể gia nhập WTO là phải tăng cường các biện pháp liên quan đến việc bảo hộ các quyền về sở hữu trí tuệ Thông qua cam kết thực hiện Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) (TRIPs) Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn chú trọng
đề ra các chủ trương, chính sách, ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương, ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng nhằm đưa Việt Nam xích lại gần hơn với các tiêu chuẩn chung của thế giới; thúc đẩy nền kinh tế khuyến khích sự sáng tạo của các cá nhân, tổ chức
Tuy nhiên, khi kinh tế không ngừng tăng trưởng; các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ cũng không ngừng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất ngày càng cao của nhân dân; kéo theo đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các sản phẩm trí tuệ Sản phẩm trí tuệ mang lại hiệu quả kinh tế càng cao thì nguy cơ bị xâm hại càng lớn Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, hầu như mọi loại sản phẩm đều có hàng giả, hàng nhái, hàng có chứa yếu tố xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN) Các hành vi xâm hại đến hầu hết các đối tượng của sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế Trong đó, hành vi xâm phạm đến nhãn hiệu hàng hóa chiếm tỉ lệ lớn nhất Đa số nhãn hiệu bị xâm phạm là nhãn hiệu của các doanh nghiệp chiếm thị phần lớn trên thị trường, đặc biệt là các nhãn hiệu nổi tiếng của các chủ thể nước ngoài; còn chủ thể xâm phạm là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Do đó, bảo hộ các sản phẩm trí tuệ nói chung và các sản phẩm trí tuệ liên quan đến sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng là vẫn luôn là vấn đề bức thiết trong tiến trình hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế và tự do hóa thương mại của Việt Nam Điều này không chỉ giúp ổn định nền kinh tế trong nước, kích thích tinh thần sáng tạo trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp mà còn nâng cao uy tín của Việt Nam nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế
Hệ thống các biện pháp bảo hộ các sản phẩm trí tuệ ở Việt Nam khá đa dạng, bao gồm các biện pháp tự vệ, dân sự, hình sự, hành chính nhưng dường như các sản phẩm trí tuệ chưa thực sự được bảo vệ một cách nhất quán và đầy đủ Hiện nay, hầu như các hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp về nhãn
Trang 7hiệu hàng hóa nói riêng được xử lý bằng biện pháp hành chính Tuy nhiên, biên pháp hành chính trong nhiều trường hợp không đáp ứng được yêu cầu của chủ thể bị xâm phạm Cái mà các chủ thể bị xâm phạm quan tâm hơn cả là khắc phục thiệt hại, bù đắp được những tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần cho họ Chỉ có như vậy họ mới yên tâm sản xuất, kinh doanh, sáng tạo ra những sản phẩm trí tuệ mới
Chính vì những lý do trên đây mà tác giả chọn vấn đề “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa của các chủ thể nước ngoài tại Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, Việt Nam đã có không ít những đề tài nghiên cứu khoa học, đề tài luận văn tiến sĩ, thạc sĩ, sách chuyên khảo, bài viết về giải quyết tranh chấp về QSHTT Đối với vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài hiện nay cũng những đề tài có liên quan như: (i) Trong số những luận văn thạc sĩ trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh có: đề tài Giải quyết tranh chấp về Sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân
sự - Phan Thị Liễu (2006), đề tài Phân định các loại chế tài trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam – Lê Thị Tuyết Hà (2007), tuy nhiên hai đề tài này chỉ đề cập một phần nhỏ tới trách nhiệm BTTH khi xâm phạm các đối tượng của QSHTT chung chung, không
đi vào phân tích cụ thể trách nhiệm BTTH khi xâm phạm đối tượng là nhãn hiệu hàng hóa, cũng không đề cập tới vấn đề xâm phạm nhãn hiệu hành hóa của chủ thể nước ngoài.(ii) Trong khóa luận tốt nghiệp có đề tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa – Phan Minh Nhựt (2000) Tuy đề tài này sát với đề tài khóa luận của tác giả nhưng đề tài này đã viết từ khá lâu, trước khi Luật Sở hữu trí tuệ (LSHTT) Việt Nam ra đời năm 2005 nên nhiều
cơ sở lý luận đã không còn phù hợp với thực tiễn khách quan
Tác giả sẽ nghiên cứu đề tài theo hướng đi sâu vào tìm hiểu những quy định pháp lý liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, đên trách nhiệm BTTH khi xâm phạm đến nhãn hiệu hàng hóa, điểm mới của đề tài là vấn đề chủ thể quyền bị xâm phạm là các chủ thể nước ngoài Điều này phù hợp và cần thiết với thực tiễn hiện nay, năm 2015 là năm hình thành những khối tự do mậu dịch với sự tham gia của Việt Nam như Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên hiệp châu
Âu (Vietnam – EU AFTA), và đặc biệt là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có liên quan trực tiếp tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Trang 83 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp lý của hiệp định TRIPs, các điều ước quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam liên quan đến lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, trách nhiệm BTTH khi xâm phạm các đối tượng của QSHTT, trách nhiệm BTTH trong tư pháp quốc tế
Đề tài cũng cần nghiên cứu những trường hợp xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về thực trạng xâm phạm, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm giải quyết thực trạng trên
4 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận cơ bản về nhãn hiệu hàng hóa, trách nhiệm BTTH nói chung và trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng, đặc biệt là trách nhiệm BTTH có yếu tố nước ngoài Tác giả cố gắng làm sáng tỏ khái niệm, chỉ ra đặc điểm, chức năng của nhãn hiệu hàng hóa cũng như trách nhiệm BTTH, pháp luật áp dụng để giải quyết trách nhiệm BTTH khi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam
Trên cơ sở phân tích thực trạng của trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN
về nhãn hiệu hàng hóa chủ thể nước ngoài tại Việt Nam, tác giả làm rõ những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa cũng như nguyên nhân của việc các chủ thể nước ngoài không yêu cầu đòi BTTH dù có thiệt hại thực tế do hành vi xâm phạm nhãn hiệu gây ra Từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục những thực trạng trên
Đây là một vấn tuy không rộng nhưng cần độ sâu, nguồn tài liệu tham khảo lại hết sức hạn chế nên việc tiếp cận cũng như nghiên cứu vấn đề trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa gặp nhiều khó khăn và chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, theo nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TRIPs và các điều ước quốc tế liên quan đến Sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên
Nội dung của đề tài được phân tích dựa trên cơ sở những văn bản pháp luật sau: LSHTT, Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng Dân sự
Trang 9(BLTTDS), các giáo trình, văn bản hướng dẫn thi hành các luật trên, báo cáo tổng kết của các cơ quan chuyên ngành, sách tham khảo về bảo hộ QSHTT, các bài báo, các website…
Đề tài được nghiên cứu thông qua phương pháp thu thập, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá
6 Bố cục của đề tài
Trên cơ sở phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài kháo luận có cơ cấu gồm:
- Lời mở đầu
- Phần nội dung gồm 02 chương:
Chương 1: Lý luận chung về BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam
Chương 2: Thực trạng về trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI KHI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA CỦA CHỦ THỂ
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Để có thể hiểu và nghiên cứu vấn đề trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN
về nhãn hiệu hàng hoá của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam, chúng ta cần thết phải có những kiến thức cơ bản về nhãn hiệu hàng hóa, về trách nhiệm BTTH Chính vì vậy
mà trong chương đầu tiên của đề tài, tác giả sẽ trình bày khái quát về nhãn hiệu hàng hóa, những hành vi được coi là xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa; về trách nhiệm BTTH nói chung và trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng và đặc biệt nhấn mạnh về việc giải quyết vấn đề BTTH có yếu tố nước ngoài
1.1 Khái quát về nhãn hiệu hàng hóa
1.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu hàng hóa
1.1.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu hàng hóa trên thế giới
Nhãn hiệu hàng hóa đã có từ thời cổ đại Từ khi mà họ tự làm ra của cải vật chất
để phục vụ nhu cầu của chính họ, họ đã biết dùng ký hiệu để đánh dấu những sản phẩm mình làm ra Lịch sử nhân loại đã chứng minh nhãn hiệu hàng hóa đã xuất hiện từ rất sớm Vào giữa thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên, ở Lưỡng Hà nền kinh tế phát triển mạnh mẽ do có sự trao đổi, mua bán hàng hóa Những người sản xuất, nhà buôn
đã biết sử dụng những dấu hiệu, màu sắc đánh lên hàng hóa của mình nhằm phân biệt với hàng hóa của người khác trong mua bán và trao đổi Đây chính là hình thức sơ khai
Cách đây hàng ngàn năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran, hay khi xây dựng Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, những người sản xuất đã để lại dấu hiệu trên những viên gạch, dấu hiệu này cho phép các hoàng đế thời đó yên tâm về mặt chất lượng và trong trường hợp cần thiết có thể quy kết được trách nhiệm Đặc biệt là vào thời Trung Cổ, khi mà buôn bán trao đổi hàng hóa trở nên rộng rãi, việc các thương
1 ĐH Luật HN: Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Công an nhân dân, HN, 1997, tr 64
Trang 11gia, nhà sản xuất sử dụng dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, sản phẩm của mình với
Kinh tế càng phát triển thì nhãn hiệu hàng hóa càng đóng vai trò quan trọng Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các loại hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Mỗi loại hàng hóa lại
có nhiều công ty, doanh nghiệp sản xuất khác nhau, mang nhiều nhãn hiệu khác nhau cạnh tranh với nhau Người tiêu dùng tự do chọn lựa cho mình sản phẩm phù hợp với nhu cầu, điều kiện của mình Họ không thể chọn lựa sản phẩm dựa vào chất lượng, giá
cả hay các đặc tính khác của sản phẩm vì những dấu hiệu đó không có sự phân biệt rõ ràng Dấu hiệu giúp người tiêu dùng có thể suy xét và đi đến lựa chọn sản phẩm nào chính là nhãn hiệu hàng hóa
Với vai trò quan trọng của mình, QSHTT nói chung và QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa được rất nhiều quốc gia quan tâm Sau khi “Công ước thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới” được ký kết tại Stockholm năm 1967 và có hiệu lực năm 1970 thì
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) chính thức ra đời, có nhiệm vụ quản lý các vấn
đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, thông qua và thực thi các Công ước về QSHTT nói chung và quyền QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng như: Công ước Paris về bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp 1883, Thỏa ước Madrid về Đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa 1891, Hiệp ước luật nhãn hiệu hàng hóa 1994…
1.1.1.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của QSHTT nói chung và QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng, Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế liên quan đến QSHTT cũng như xây dựng hệ thống pháp luật trong nước nhằm bảo vệ các đối tượng của QSHTT, đáp ứng nhu cầu khách quan của nền kinh tế đang trên đà phát triển, đồng thời cũng giúp Việt Nam kéo gần khoảng cách với các nước trên thế giới
Sau Cách mạng tháng 8, mặc dù phải trải qua những năm kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất (1946-1954) nhưng Việt Nam đã tham gia Công ước Paris và Thỏa ước Madrid vào 8/3/1949 Có thể xem đây là cột mốc đầu tiên của chế độ bảo hộ QSHCN nói chung và nhãn hiệu hàng hóa nói riêng ở Việt Nam Năm 1957, tại miền
2 Cẩm nang Sở hữu trí tuệ của tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới “WIPO” Bản dịch của Cục Sở hữu trí tuệ năm 2005., tr 65
Trang 12Nam, chính quyền Sài Gòn đã ban hành Luật thương hiệu Theo đó, việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa được tiến hành tại Tòa án nên còn được gọi là “nhãn trình Tòa” Hồ sơ
sẽ được Tòa án xem xét về hình thức, sau đó ghi đăng bạ và công bố chính thức Mọi
Sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam đã tham gia Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ngày 2 tháng 7 năm 1976 Ngày 14/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng đã ra nghị định số 197/HĐBT ban hành “Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa” Đây là văn bản pháp luật đầu tiên, chính thức thiết lập chế độ pháp lý về xác lập và bảo hộ quyền SHCN về nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam dưới hình thức bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên, giá trị pháp lý của Điều lệ này chưa cao Sự bảo hộ chủ yếu là
11/2/1989, Hội đồng Nhà nước đã ban hành pháp lệnh bảo hộ QSHCN Pháp lệnh này
đã nâng cao giá trị pháp lý của các quy định về xác lập và bảo hộ quyền SHCN về nhãn hiệu hàng hóa Trong Đại hội Đại biểu tòa quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã vạch ra đường lối và chính sách mới cho sự phát triển kinh tế, điều này chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 đòi hỏi phải thay đổi những quy định không còn phù hợp của pháp lệnh bảo hộ QSHCN cho phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Có thể nói việc xây dựng hệ thống pháp luật để bảo hộ chặt chẽ hơn nữa QSHTT nói chung và QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng là kết quả tất yếu của
sự chuyển đổi nền kinh tế, từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa khi mà các đối tượng của QSHTT xuất hiện ngày càng nhiều, đem lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu đã xuất hiện từ rất lâu, con người sử dụng nhãn hiệu trong một thời gian dài mà không đưa ra một khái niệm chính thức về nó Trong Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng không đưa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa
mà chỉ quy định việc đăng ký nhãn hiệu có thể bị từ chối nếu nhãn hiệu xâm phạm
Trang 13quyền đã đăng ký của người thứ ba, nhãn hiệu không có khả năng phân biệt, nhãn hiệu trái với đạo đức, hoặc trật tự công cộng hoặc nhãn hiệu có khả năng lừa dối công chúng
thời hiểu nhãn hiệu theo một cách chung nhất, nhãn hiệu là tất cả các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của các doanh nghiệp cạnh tranh
Theo Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ được tổ chức thương mại thế giới ký ngày 15/4/1994 có hiệu lực ngày 1/1/1995 (Hiệp định TRIPs) thì “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa
và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các nước thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng Các nước thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là dấu hiệu phải
là dấu hiệu nhìn thấy được”.6
Còn theo WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới thì “Một nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh”.7
Không hề đi lệch khuynh hướng chung, pháp luật Việt Nam cũng quy định
“Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”, khái niệm này cũng tương tự như khái niệm nhãn hiệu trong các điều ước
Như vậy, tổng kết lại tất cả các khái niệm về nhãn hiệu được quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan và pháp luật Việt Nam, ta có thể rút ra được nhãn hiệu hàng hóa có những đặc điểm sau đây:
(i) Nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình
vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
Trang 14(ii) Nhãn hiệu hàng hóa có khả năng phân biệt hàng hóa của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa của chủ thể khác Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ tạo được ấn tượng cho người tiêu dùng về sản phẩm chủ chủ sở hữu nhãn hiệu
Nhãn hiệu hàng hóa đối với chủ sở hữu nhãn hiệu hay đối với người tiêu dùng đều
có vai trò hết sức quan trọng Vị thế này có được là do nhãn hiệu hàng hóa có những
(i) Chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại Đây cũng là chức năng cơ bản
và quan trọng nhất của nhãn hiệu, thông qua những dấu hiệu như từ ngữ, hình ảnh, hoặc tổ hợp những dấu hiệu có tính độc đáo, đặc sắc giúp người tiêu dùng phân biệt được hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu, sở thích của mình
(ii) Nhãn hiệu có chức năng thông tin về nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa Tuy nhiên tìm trên nhãn hiệu ta không thấy ghi tên doanh nhiệp, địa chỉ doanh nghiệp hay bất kỳ thông tin nào liên quan đến nơi sản xuất sản phẩm mang nhãn hiệu Chức năng này của nhãn hiệu hàng hóa không có nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa phải thông tin cho người tiêu dùng về người thực sự đã sản xuất ra sản phẩm Chỉ cần sao cho người tiêu dùng
có thể tin tưởng vào một doanh nghiệp nhất định, là bên có trách nhiệm về sản phẩm bán ra mang nhãn hiệu hàng hóa, chịu trách nhiệm về hàng hóa mà không cần thiết phải có biết cụ thể doanh nghiệp đó.10
(iii) Ngoài ra nhãn hiệu còn có chức năng kinh tế Thông qua nhãn hiệu người tiêu dùng có thể quyết định lựa chọn giữa những hàng hóa đa dạng được bày bán trên thị trường, nhãn hiệu hàng hóa khuyến khích chủ sở hữu các nhãn hiệu duy trì và nâng cao chất lượng các sản phẩm bán ra dưới nhãn hiệu đó, để đáp ứng sự mong mỏi của người tiêu dùng Không những chủ sở hữu nhãn hiệu đó mà ngay cả chủ sở hữu những nhãn hiệu khác cũng cần phải tích cực hơn trong việc nâng cao chất lượng, đổi mới công nghệ, hạ giá thành sản phẩm Điều này góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
9
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Tr 251
10 Cẩm nang Sở hữu trí tuệ của tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới “WIPO” Bản dịch của Cục Sở hữu trí tuệ năm
2005 Tr66
Trang 151.2 Khái luận về vấn đề BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam
1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa
1.2.1.1 Khái niệm
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm BTTH được BLDS 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm BTTH nói chung và chương XXI về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…
Về cơ bản, trách nhiệm BTTH bao gồm trách nhiệm BTTH trong hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Trách nhiệm BTTH trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không chấp hành hoặc chấp hành không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng Đặc điểm của loại trách nghiệm này là giữa hai bên, bên chịu trách nhiệm và bên
bị thiệt hại phải có quan hệ hợp đồng có hiệu lực và sự thiệt hại phải do hành vi không chấp hành hoặc chấp hành không đúng nghĩa vụ gây nên Như vậy trách nhiệm BTTH trong hợp đồng là trách nhiệm do vi phạm những nghĩa vụ được quy định trong hợp
11 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về Hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tr435
Trang 16BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa, giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không tồn tại quan hệ hợp đồng
1.2.1.2 Nguyên tắc bồi thường
Nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng bao trùm mang tính chỉ đạo cho một quá trình, một công việc nhất định Để tạo cơ sở cho việc ấn định mức BTTH ngoài hợp đồng, pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về sở hữu công nghiệp đã thừa nhận một số nguyên tắc bồi thường cơ bản nhưng cốt yếu nhất là 2 nguyên tắc: nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại và nguyên tắc bồi thường toàn bộ
a Nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại
Nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 605 BLDS Việt Nam năm 2005
là một trong những nguyên tắc cơ bản mang tính đặc thù của quan hệ dân sự, thương mại Theo đó, khi thiệt hại xảy ra, các bên trước hết có quyền thỏa thuận với nhau Sự thỏa thuận này thể hiên mong muốn, ý chí của các bên và trên thực tế là phương thức hữu hiệu nhất để nhanh chóng khắc phục thiệt hại đã xảy ra, đồng thời phù hợp với quyền lợi của các bên Vì vậy pháp luật, Tòa án, Trọng tài cần tôn trọng và ghi nhận sự thỏa thuận này.12
Việc thỏa thuận bao gồm:
(i) Thỏa thuận về mức BTTH: các bên có thể tự do thỏa thuận mức bồi thường, không bắt buộc phải phụ thuộc vào căn cứ pháp lý hay thiệt hại thực tế Mức bồi thường theo thỏa thuận có thể cao hơn, thấp hơn hoặc ngang bằng với thiệt hại thực tế xảy ra do hành vi vi phạm
(ii) Thỏa thuận về hình thức bồi thường: bằng tiền, bằng hiện vật hay thông qua thực hiện một công việc nhất định
(iii) Thỏa thuận về phương thức bồi thường: một lần hay nhiều lần
Như vậy, theo nguyên tắc này, các bên có thể cùng nhau thỏa thuận về mọi vấn
đề liên quan đến trách nhiệm BTTH và vào mọi thời điểm trong suốt quá trình xảy ra tranh chấp, kể cả khi vụ việc đã được khởi kiện và giải quyết tại Tòa án
Nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó thể hiện bản chất của một quan hệ dân sự là tôn trọng tuyệt đối quyền tự do ý chí và sự thỏa thuận của các bên; là
12 TS Đinh Thị Mai Phương (2009), Về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr 118
Trang 17phương thức nhanh nhất, hữu hiệu nhất để giải quyết vấn đề, tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí cho các bên khi tham gia giải quyết tranh chấp tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Và trong QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa, nguyên tắc thỏa thuận BTTH càng có ý nghĩa quan trọng hơn cả bởi nguyên tắc này giúp doanh nghiệp bảo vệ được uy tín của mình đối với người tiêu dùng Tranh chấp càng gay gắt, thời gian tranh chấp càng kéo dài thì càng ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp Nhiều sản phẩm mang nhãn hiệu được tin dùng chính bởi uy tín của doanh nghiệp, một khi uy tín bị giảm sút thì đồng nghĩa với việc niềm tin của người tiêu dùng vào sản phẩm cũng không còn, sản phẩm không tiêu thụ được sẽ càng làm tổn thất của doanh nghiệp trở nên nặng nề
b Nguyên tắc bồi thường toàn bộ
Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thì nguyên tắc chung trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là “thiệt hại phải được
với thiệt hại thực tế xảy ra Thiệt hại thực tế xảy ra không có nghĩa chỉ bao gồm những thiệt hại đã xảy ra mà còn bao gồm cả những thiệt hại thực tế chắc chắn xảy ra trong tương lai
Nguyên tắc này giúp thỏa mãn mục đích của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
có bồi thường toàn bộ mới có thể khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản, mới bảo
vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản Nhất là đối với tài sản trí tuệ nói chung và nhãn hiệu hàng hóa nói riêng, thiệt hại của chủ sở hữu là vô cùng lớn, bồi thường toàn bộ thiệt hại giúp chủ sở hữu bù đắp những tổn thất trước mắt, đồng thời khuyến khích chủ sở hữu đầu tư, sáng tạo ra nhiều sản phẩn trí tuệ hơn nữa
1.2.2 Tính tất yếu khách quan của việc áp dụng chế tài BTTH khi xâm hại tới QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa
1.2.2.1 Cơ sở lý luận của tính tất yếu khách quan của việc áp dụng chế tài
BTTH khi xâm phạm tới QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa Các Mác và Ăgghen đều khẳng định: “Sở hữu là một quan hệ không đơn giản
và cũng là một khái niệm, một nguyên lý không trừu tượng chút nào mà là tổng hòa các
13
Khoản 1 Điều 605 BLDS 2005
14 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình pháp luật về Hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng , tr 466
Trang 18quan hệ sản xuất trong xã hội”.15 Như vậy, trong hầu hết luận giải của mình về sở hữu, Các Mác và Angghen đều cho rằng sở hữu cũng là một loại quan hệ xã hội, hơn nữa còn là một loại quan hệ quan trọng trong xã hội bởi mỗi người để tồn tại trong xã hội cần sở hữu một số tài sản nhất định, tài sản ấy có thể là tiền, công cụ sản xuất hay một lại vật chất khác nên sự trao đổi các loại tài sản giữa con người với con người (có thể là qua hệ vay mượn, tặng cho, cho thuê hay chuyển nhượng) đều rất được quan tâm Chế định về sở hữu luôn là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia
Quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng là một loại “quyền tài sản”, hay nói một cách rộng hơn nó là một loại tài sản đặc biệt do thuộc tính vô hình của nó Tuy có thuộc tính vô hình nhưng nhãn hiệu hàng hóa vẫn được sở hữu bởi chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, chủ thể này vẫn có đủ
ba quyền của chủ sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền
hóa được pháp luật bảo vệ và mọi người phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa Nếu xâm phạm đến mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa thì phải chịu trách nhiệm dân sự với nội dung là đền bù thiệt hại nhằm khôi phục lại những tổn thất về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm gây
ra Đây chính là cơ sở lý luận của trách nhiệm BTTH do xâm phạm quyền SHCN về nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam
1.2.2.2 Cơ sở thực tiễn của tính tất yếu khách quan của việc áp dụng chế tài BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa
Tài sản trí tuệ có vai trò vô cùng lớn trong hoạt động thương mại toàn cầu nói chung và hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng Một trong những tài sản trí tuệ đem lại cho chủ sở hữu những giá trị to lớn không chỉ là vật chất có thể đong đếm được
mà còn là uy tín, đó chính là nhãn hiệu hàng hóa
Theo Interbrand, trong năm 2001 các nhãn hiệu có quy mô toàn thế giới của Coca Cola, Disney và Ford chiếm tương ứng 61%, 54% và 66% giá trị chuyển đổi của các công ty này và các giá trị tương ứng là 69 tỷ, 32,5 tỷ và 30 tỷ USD 17 Năm 2014,
Trang 19nhãn hiệu Apple được định giá khoảng 118,8 tỷ đô la, là nhãn hiệu đứng đầu trong những nhãn hiệu đắt giá nhất toàn cầu, đứng thứ hai là nhãn hiệu Google với trị giá là 107,4 tỷ đô la, nhãn hiệu Coca Cola được định giá là 81,56 tỷ đô la.18 Có thể thấy rằng, mặc dù “vô hình” nhưng tài sản trí tuệ nói chung và QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng có giá trị vô cùng lớn Tuy nhiên, giá trị càng lớn, lợi ích mang lại càng nhiều thì tương ứng khả năng bị xâm phạm càng lớn
Vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đã và đang trở thành hiện tượng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Theo thống kê thì tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đã khiến 120000 việc làm bị mất mỗi năm ở Hoa Kỳ và khoảng 100000 việc làm bị mất mỗi năm ở Liên minh Châu Âu; khiến 6 tỷ euro bị thiệt hại và gần 30.000 việc làm bị mất mỗi năm ở Pháp 19
Đối với Việt Nam, việc xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa đã và đang trở thành một vấn đề nóng cần được quan tâm và xử lý kịp thời bởi việc xâm phạm diễn ra một cách tràn lan và tính chất ngày càng nghiêm trọng
Năm 2008, Cơ quan Quản lý thị trường đã thụ lý 2.697 vụ (415 vụ xâm phạm kiểu dáng công nghiệp, 2.268 vụ xâm phạm nhãn hiệu, 7 vụ xâm phạm chỉ dẫn địa lý, 3
vụ xâm phạm tên thương mại, 4 vụ cạnh tranh không lành mạnh), trong đó xử lý 2.506
vụ (389 vụ xâm phạm kiểu dáng công nghiệp, 2.105 vụ xâm phạm nhãn hiệu, 6 vụ xâm phạm chỉ dẫn địa lý, 2 vụ xâm phạm tên thương mại, 4 vụ cạnh tranh không lành mạnh) với tổng số tiền phạt lên tới hơn 7.000.000.000 đồng (Báo cáo tổng quan tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ năm 2008 của Cục Sở hữu Trí tuệ) Năm 2009, Cơ quan Quản lý thị trường phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng như Công an,
Y tế… đã tập trung kiểm tra các cơ sở sản xuất, chế biến, đóng gói, các đầu mối kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa quy mô lớn, nhiều vụ bị phát hiện tại Hải Phòng, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Tại thành phố Hồ Chí Minh, lực lượng quản lý thị trường đã
xử lý 201 vụ xâm phạm nhãn hiệu với số tiền phạt gần 2,7 tỷ đồng Đồng Nai, Cà Mau, Hải Dương cũng là những địa phương có số vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý khá cao, chủ yếu liên quan đến nhãn hiệu (tại Cà Mau, lực lượng quản lý thị trường đã
xử lý 186 vụ xâm phạm nhãn hiệu với số tiền phạt trên 704 triệu đồng; tại Đồng Nai,
Trang 20lực lượng quản lý thị trường đã thụ lý 106 vụ xâm phạm nhãn hiệu, xử lý 76 vụ với số tiền phạt hơn 191 triệu đồng…).20
Trong các hành vi xâm phạm QSHCN, hành vi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa là nhiều hơn cả Trên thực tế, số vụ xâm phạm không được báo cáo còn lớn hơn rất nhiều Đặc biệt là các nhãn hiệu nổi tiếng, các nhãn hiệu có uy tín của chủ thể nước ngoài bị làm giả, làm nhái gây thiệt hại lớn cho nhà sản xuất và người tiêu dùng
Không những thế tình trạng xâm phạm QSHCN nói chung và tình trạng xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa ngày càng trở nên nghiêm trọng và phức tạp do sự phát triển của khoa học, công nghệ, kỹ thuật sao chép, bắt chước ngày càng được cải tiến, sản phẩm vi phạm được sản xuất với số lượng lớn, tốc độ nhanh Hơn nữa, việc nhái nhãn hiệu, làm hàng giả hiện nay còn xảy ra với các sản phẩm có công dụng, chức năng đặc biệt như thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, sắt thép xây dựng… đáng sợ hơn cả là việc nhái nhãn hiệu của các loại thuốc chữa bệnh cho người, hành vi xâm phạm nhãn hiệu này không chỉ gây ra những thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ, thậm chí là tính mạng của người tiêu dùng, chủ thể thực hiện hành
vi đó không chỉ phải bồi thường những tổn thất mà hành vi đó gây ra mà còn phải chịu trách nhiệm hình sự vì tính chất và mức độ nguy hiểm của nó
Xâm phạm QSHTT trong giai đoạn hiện nay còn được thực hiện bằng nhiều phương thức, thủ đoạn mới như áp dụng công nghệ cao, sử dụng các thiết bị hiện đại
để sản xuất hàng hoá làm cho người tiêu dùng và cơ quan quản lý thị trường khó phát hiện thật hay giả Các hành vi vi phạm này còn được tổ chức chặt chẽ, không những trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn mở rộng đối với tổ chức và cá nhân nước ngoài
Tóm lại, như một định lý khách quan, khi những thiệt hại không đáng có xảy ra thì người gây ra thiệt hại đó phải bồi thường Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hộ QSHTT, vấn đề BTTH cho chủ sở hữu quyền cần được quan tâm hơn nữa, như vậy mới có thể khuyến khích sự sáng tạo, sự đầu tư của các chủ thể trong việc đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa; đồng thời làm giảm tình trạng xâm phạm QSHCN, đặc
Trang 21http://www.pham.com.vn/vi/tin-tuc-su-kien/tin-tuc-su-kien/so-lieu-xu-ly-vi-pham-quyen-so-huu-cong-nghiep-biệt là xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa bừa bãi như hiện nay, bảo vệ nền kinh tế trong nước
1.2.3 Trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam
1.2.3.1 Cơ sở pháp lý Nội dung của Hiệp định TRIPs quy định những tiêu chuẩn cơ bản và tối thiểu đối với việc bảo hộ từng loại QSHCN, trong đó có đề cập các hành vi xâm phạm QSHCN, nguyên tắc xác định thiệt hại và cơ chế thực thi BTTH, mặc dù không quy định cụ thể về cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTH như hệ thống quy định pháp luật quốc gia
Điều 45 Hiệp định TRIPs quy định rõ: “Các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh buộc người xâm phạm phải trả cho chủ thể quyền khoản đền bù thỏa đáng để bồi thường thiệt hại mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải gánh chịu do hành vi xâm phạm của người thực hiện hành vi xâm phạm khi đã biết hoặc có cơ sở để biết điều đó”
Như vậy, Hiệp định TRIPs đã quy định vấn đề BTTH là một biện pháp bảo hộ cần thiết và bắt buộc với mọi quốc gia thành viên Trong hiệp định cũng chỉ xác định chủ thể xâm phạm phải đền bù thỏa đáng cho chủ thể bị xâm phạm mà không xác định
cụ thể chủ thể bị xâm phạm chỉ có thể là cá nhân, tổ chức của quốc gia thành viên hay
là bất kỳ chủ thể nào Dù vậy, chúng ta có thể hiểu là chủ thể bị xâm phạm mà nội dung Hiệp định nhắc đến là bất kỳ chủ thể nào, có thể là cá nhân, tổ chức của quốc gia thành viên, cũng có thể là cá nhân, tổ chức nước ngoài bởi quá trình toàn cầu hóa đã mang các quốc gia xích lại gần nhau hơn Đặc biệt là các quốc gia trong liên minh của công ước PARIs, thành viên của Hiệp định TRIPs thì việc bảo hộ QSHTT nói chung và QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng về căn bản không có sự khác biệt khi đối tượng bị xâm phạm là chủ thể trong nước hay chủ thể của các nước thành viên khác Điều 2 Hiệp định TRIPs, Điều 6 quinquies Công ước PARIs thì “Bất cứ nhãn hiệu nào
cũng phải được chấp nhận nộp đơn và bảo hộ như nó vốn có tại các nước thành viên khác của Liên minh” Có nghĩa là khi chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nộp đơn đăng ký nhãn hiệu (đã được đăng ký hợp lệ tại nước
21
Điều 6, A2 Công ước PARIs: “Nước được coi là nước xuất xứ là nước thành viên của Liên minh mà người nộp đơn có cơ sở sản xuất hoặc thương mại thực sự và có hiệu qủa hoặc nếu không có cơ sở như vậy trong Liên minh thì là nước thành viên trong Liên minh mà người nộp đơn có chỗ ở cố định, hoặc nếu không có chỗ ở cố định trong phạm vi Liên minh thì là nước thành viên của Liên minh có người nộp đơn là công dân”
Trang 22xuất xứ) tại bất kỳ nước thành viên nào của Liên minh thì đều được chấp nhận và được bảo hộ tại nước thành viên đó Và việc bảo hộ này đối với nhãn hiệu hàng hóa của nước xuất xứ phải giống như việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của chính nước thành
Điều này cũng chính là nội dung của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia, một nội dung quan trọng của Hiệp định TRIPs “Mỗi thành viên phải chấp nhận cho công dân của các Thành viên khác sự đói xử không kém thiện chí hơn so với sự đối xử của Thành viên đó đối với
hóa đã được bảo hộ tại các nước thành viên mà bị xâm phạm thì cơ quan có thẩm quyền của thành viên đó phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, buộc chủ thể xâm phạm phải BTTH, bù đắp lại những tổn thất do hành
vi vi phạm gây ra cho chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa
Pháp luật Việt Nam cũng quy định nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài
đã được Nhà nước Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận được bảo hộ theo
Chủ thể bị thiệt hại do hành vi xâm phạm QSHTT có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm QSHTT theo quy định Luật sở hữu trí tuệ và
sự mà Tòa án Việt Nam áp dụng để xử lý tổ chủ thể có hành vi xâm phạm QSHTT nói chung và xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng26 và khi có yêu cầu BTTH thì chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa phải chứng minh được thiệt hại thực tế đã xảy ra, thiệt hại đó là hậu quả của hành vi xâm phạm và nêu căn cứ xác định mức BTTH đã yêu cầu.27
Như vậy, trách nhiệm BTTH của chủ thể xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa chỉ được Tòa án Việt Nam xem xét khi có yêu cầu của nguyên đơn, tức là chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa So với nội dung của Hiệp định TRIPs có sự khác biệt Trong Điều 45, Hiệp định TRIPs quy định: “Các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh buộc người xâm phạm phải trả cho chủ thể quyền khoản đền bù thỏa đáng để bồi thường thiệt hại
mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải gánh chịu do hành vi xâm phạm của người thực
22
Điều 6, Công ước PARIs
23 Điều 3, Hiệp định TRIPs
Trang 23hiện hành vi xâm phạm khi biết hoặc có cơ sở để biết điều đó”, “phải có quyền ra lệnh”
ở đây có thể hiểu là cơ quan xét xử có quyền đơn phương buộc chủ thể xâm phạm bồi thường một khoản thỏa đáng cho chủ sở hữu quyền để bù đắp lại những thiệt hại do hành vi xâm phạm của họ gây ra cho chủ sở hữu quyền mà không nhất thiết phải có yêu cầu của chủ thể quyền, trong phạm vi khóa luận này là chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa mới xem xét đến trách nhiệm BTTH của chủ thể xâm phạm Tuy nhiên, sự khác biệt này phù hợp với pháp luật Việt Nam bởi pháp luật dân sự Việt Nam luôn tôn trọng
sự tự nguyện của các bên, nếu nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải BTTH thì Tòa án cũng không xem xét đến trách nhiệm này
1.2.3.2 Pháp luật giải quyết trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện cơ chế mở cửa, hội nhập Chính vì vậy mà những mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trở nên phổ biến, trách nhiệm BTTH có yếu tố nước ngoài cũng theo đó mà xuất hiện ngày càng nhiều Để giải quyết vấn đề này, phần lớn các quốc gia trên thế giới lựa chọn áp dụng Luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc Luật nơi phát sinh hậu quả thực tế
Cũng theo khuynh hướng chung đó nhưng bao quát hơn, pháp luật Việt Nam sử dụng cả hai nguyên tắc chọn Luật: Luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc Luật nơi phát sinh hậu quả thực tế để giải quyết vấn đề trách nhiệm BTTH có yếu tố nước ngoài.28
Trong các Hiệp định tương trợ giữa Việt Nam với các nước khác, vấn đề trách nhiệm BTTH có yếu tố nước ngoài này cũng được đề cập Có thể thấy rằng các hiệp định này có cách giải quyết tương đối giống nhau trong việc xác định luật giải quyết vấn đề bồi thường Ví dụ, Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp với Liên Bang Nga năm
1998 quy định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (do hành vi vi phạm pháp luật) được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi xảy ra hoàn cảnh làm căn
cứ để yêu cầu bồi thường thiệt hại” Điều 30 Hiệp định tương trợ tư pháp với Hungary thì: “ Về trách nhiệm do gây thiệt hại, sẽ áp dụng pháp luật của nước kí kết nơi đã xảy
ra hành vi gây thiệt hại Tuy nhiên, nếu các đương sự thường trú trên lãnh thổ nước kí kết kia thì áp dụng pháp luật của nuớc ký kết kia” Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp với Lào cũng có nội dung tương tự như vậy
28 Điều 773, BLDS 2005
Trang 24Như vậy, qua nghiên cứu cách giải quyết vấn đề BTTH ngoài hợp đồng theo pháp luật một số nước, pháp luật Việt Nam cũng như các Hiệp định tương trợ tư pháp
mà Việt Nam ký kết thì nguyên tắc áp dụng chủ yếu để giải quyết vấn đề này là Luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại (Lex loci delicti Commissi)
1.2.3.3 Pháp luật điều chỉnh trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN
về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam Vấn đề BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa của chủ thể nước ngoài tại Việt Nam tác giả sẽ chọn nghiên cứu theo hướng áp dụng pháp luật Việt Nam
để giải quyết vì những lí do sau đây:
(i) Như đã phân tích ở trên, trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, chính vì vậy mà pháp luật dùng để điều chỉnh quan hệ pháp luật phát sinh giữa các chủ thể (bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại) là pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại (Lex loci delicti Commissi)
(ii) Mặc dù pháp luật Việt Nam cho phép lựa chọn pháp luật nơi xảy ra hành vi vi phạm hoặc pháp luật nơi hậu quả xảy ra trên thực tế để giải quyết vấn đề trách nhiệm BTTH Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, tác giả không đi vào phân tích vệc chọn Luật nơi hậu quả thực tế do hành vi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa bởi đề tài chỉ đề cập đến hành vi xâm phạm đó diễn ra tại Việt Nam; hơn nữa trên thực tế khi giải quyết vấn đề này, Tòa án Việt Nam cũng sẽ chọn pháp luật Việt Nam để giải quyết
Việc áp dụng luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại để giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa nói riêng có những ý nghĩa nhất định
Thứ nhất, áp dụng Luật nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại thể hiện tính khách quan, trong trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại không cùng quốc tịch hoặc nơi cư trú thì áp dụng nguyên tắc này là phù hợp
Thứ hai, việc xác định nơi xảy ra thiệt hại thuận lợi dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết của Toà án Toà án có thể dễ dàng hơn trong việc điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh về thiệt hại, đồng thời cũng kịp thời sử dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi cần thiết để đảm bảo được lợi ích của bên bị thiệt hại
Trang 25Thứ ba, khi Thẩm phán áp dụng pháp luật mà mình am hiểu nhất để giải quyết
vụ việc thì sẽ dễ dàng hơn cho thẩm phán áp dụng đúng tinh thần của pháp luật, thời gian giải quyết cũng vì thế mà được rút ngắn hơn Điều này có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt đối với những thẩm phán có trình độ ngoại ngữ yếu sẽ gặp nhiều khó khăn khi áp dụng pháp luật nước ngoài
Có thể thấy xu hướng của các thẩm phán của Việt Nam hiện khi xét xử các vụ việc có yếu tố nước ngoài thường tìm mọi cách để hướng cho vụ việc được xét xử theo pháp luật Việt Nam, bảo vệ các chủ thể trong nước Điều này thể hiện tinh thần dân tộc, tuy nhiên nó cũng mang lại nhiều bất cập như: (i) Thứ nhất, đội ngũ thẩm phán dễ mắc sai lầm khi cố hướng vụ việc được xét xử theo pháp luật Việt Nam; hình thành thói quen ù lì, không nghiên cứu dẫn đến việc không hiểu và không biết áp dụng pháp luật nước ngoài (ii) Thứ hai, việc bảo vệ quá mức sẽ khiến cho các chủ thể trong nước hình thành thói quen ỷ lại, không có ý thức tuân thủ quy định của pháp luật (iii) Thứ
ba, uy tín của Tỏa án Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung sẽ giảm đi trong mắt bạn bè quốc tế
1.2.4 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH
Cơ sở để phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thông thường là một thể thồng nhất 4 yếu tố sau: thiệt hại, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, lỗi của người gây thiệt hại
Trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa cũng là một loại trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên cơ sở để phát sinh trách nhiệm BTTH cũng bao gồm một thể thống nhất các yếu tố sau:
1.2.4.1 Thiệt hại – tiền đề làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
Mục đích và ý nghĩa của trách nhiệm BTTH là nhằm khôi phục tình trạng ban đầu của người bị thiệt hại, bù đắp những mất mát, tổn thất xảy ra từ sự kiện gây thiệt hại Vì vậy, không có cơ sở để tồn tại trách nhiệm bồi thường nếu không có thiệt hại nào xảy ra trên thực tế
Thiệt hại được hiểu là sự mất mát, hoặc giảm sút về vật chất hoặc tinh thần Như vậy, thiệt hại do xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa được hiểu là sự mất mát, giảm sút của chủ sở hữu nhãn hiệu về những lợi ích vật chất có được nhờ sở hữu nhãn hiệu (Những lợi ích vật chất này sẽ được phân tích ở mục 1.2.5 của khóa luận) Đặc
Trang 26biệt, thiệt hại về tinh thần sẽ không được xem xét khi xem xét vấn đề BTTH khi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa Trong các đối tượng của QSHTT thì chỉ có tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng mới được xem xét bồi thường
như vậy là chưa hợp lý bởi thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần Khi có hành xi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa, uy tín, danh tiếng của chủ sở hữu nhãn hiệu cũng bị ảnh hưởng, lòng tin của người tiêu dùng vào sản phẩm mang nhãn hiệu cũng bị giảm sút Chính vì vậy mà khi xem xét trách nhiệm BTTH của chủ thể có hành vi xâm phạm tới QSHCN
về nhãn hiệu hàng hóa, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng cần xem xét tới những tổn thất về tinh thần của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa bên cạnh những tổn thất về vật chất Có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” trong chế định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Dựa vào mối quan hệ với hành vi gây thiệt hại mà thiệt hại được phân thành: (i) Thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại phát sinh do chính sự tác động của hành vi,
sự kiện gây thiệt hại;
Những thiệt hại trực tiếp khi có hành vi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa chính là sự giảm sút về doanh số của sản phẩm mang nhãn hiệu, về giá trị chuyển nhượng cũng như giá trị của nhãn hiệu hàng hóa trong tổng tài sản của doanh nghiệp (ii) Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại phát sinh từ thiệt hại trực tiếp như thu nhập
bị mất, hoa lợi, lợi tức bị giảm sút… Việc xác định thiệt hại trực tiếp và gián tiếp hiện vẫn đang là một vấn đề nan giải, chưa có một phương pháp hữu hiệu để phân định thiệt hại trực tiếp và thiêt hại gián tiếp Việc phân định này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xác định thiệt hại phải bồi thường bởi cho đến nay pháp luật vẫn chưa quy định rõ ràng về những thiệt hại gián tiếp được bồi thường, không phải những thiệt hại gián tiếp nào mà người bị thiệt hại yêu cầu cũng được bồi thường Thông thường những thiệt hại gián tiếp sẽ được chấp nhận để tính bồi thường khi người bị thiệt hại chứng minh được
nó chắc chắn xảy ra bởi hành vi hoặc sự kiện gây thiệt hại
1.2.4.2 Hành vi trái pháp luật xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa
29 Điều 204 Khoản 1, điểm b LSHTT 2005
Trang 27Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:30
– Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa dịch vụ trùng với hàng hóa dịch vụ thuộc nhóm đăng kí kèm với nhãn hiệu đó
Ví dụ: sử dụng dấu hiệu “Nước mắm Phú Quốc” cho một loại nước mắm mà không phải được sản xuất ra ở Phú Quốc
– Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa dịch vụ tương
tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đã đăng kí kèm theo nhãn hiệu
đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ
hiệu nước mắm Nam Ngư của MaSan Food
– Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch
1.2.4.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại
Nguyên nhân – kết quả là một trong nhưng cặp phạm trù cơ bản của triết học duy vật biện chứng Nó thể hiên mối quan hệ nội tại, tất yếu và khách quan giữa các hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội Theo đó, hậu quả là hiện tượng xảy ra sau, phát
30 Điều 129 LSHTT 2005
Trang 28sinh tất yếu từ nguyên nhân.31 Trong trách nhiệm bồi thường do hành vi xâm phạm QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa, chủ thể có hành vi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại xảy ra cho chủ sở hữu nhãn hiệu nếu như thiệt hại xảy ra như là hậu quả tất yếu từ hành vi xâm phạm đó
1.2.4.4 Yếu tố lỗi
Như đã nói ở trên, cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng bao gồm một thể thống nhất 4 yếu tố: thiệt hại, hành vi trái pháp luật, mối quan hệ giữa thiệt hại
và hành vi, lỗi Tuy nhiên, cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTH khi xâm phạm QSHCN
về nhãn hiệu hàng hóa hơi “khác thường” so với các lĩnh vực thông thường khác, bởi
vì yếu tố lỗi không mấy có ý nghĩa quan trọng trong việc làm phát sinh trách nhiệm BTTH Nói cách khác thì khi xem xét trách nhiệm BTTH khi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa, cơ quan có thẩm quyền không quan tâm tới việc chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm có lỗi hay không mà đều được suy đoán là có lỗi Điều này đã được quy định rõ trong hệ thống pháp luật hiện hành như sau:
- Điều 45 Hiệp định TRIPs quy định: “Trong trường hợp thích hợp, các nước thành viên có thể cho các cơ quan xét xử được quyền ra lệnh thu hồi các khoản lợi nhuận và/hoặc trả các khoản đền bù thiệt hại đã ấn định trước, kể cả trường hợp người xâm phạm đã thực hiện hành vi xâm phạm khi không biết hoặc không có căn cứ để biết điều đó”
- Khoản 2 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (LSHTT 2005) được sửa đổi,
bổ sung năm 2009 của Việt Nam quy định: “Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”
1.2.5 Nguyên tắc và căn cứ xác định thiệt hại theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
1.2.5.1 Nguyên tắc xác định thiệt hại
Theo quy định tại Điều 204 LSHTT 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì thiệt hại do hành vi xâm phạm QSHCN được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế
mà chủ sở hữu công nghiệp phải chị do hành vi xâm phạm QSHCN gây ra gồm thiệt
31 TS Đinh Thị Mai Phương, tlđd (12), tr 95
Trang 29hại về vật chất và tinh thần Tuy nhiên, đối với QSHCN về nhãn hiệu hàng hóa thì chúng ta chỉ xét đến những thiệt hại về vật chất
Thiệt hại của chủ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm:
(i) Tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận
- Tổn thất về tài sản được xác định theo mức độ giảm sút hoặc bị mất của giá trị tính được thành tiền của đối tượng QSHCN, cụ thể ở đây là nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ Trong đó, giá trị tính được thành tiền của nhãn hiệu hàng hóa được xác định theo căn cứ:32
+ Giá chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng của nhãn hiệu hàng hóa;
+ Giá trị góp vốn kinh doanh bằng quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa;
+ Giá trị quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa trong tổng số tài sản của doanh nghiệp;
+ Giá trị đầu tư cho việc tạo ra và phát triển nhãn hiệu hàng hóa, bao gồm các chi phí tiếp thị, nghiên cứu, quảng cáo, lao động, thuế và các chi phí khác
- Mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận từ nhãn hiệu hàng hóa được hiểu là những giảm sút từ: (i) thu nhập, lợi nhuận thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp nhãn hiệu hàng hóa; (ii) thu nhập, lợi nhuận thu được do chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa
+ So sánh trực tiếp mức thu nhập, lợi nhuận thực tế trước và sau khi xảy ra hành
vi xâm phạm, tương ứng với từng loại thu nhập
+ So sánh sản lượng, số lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thực tế tiêu thụ hoặc cung ứng trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm
(ii) Tổn thất về cơ hội kinh doanh
Tổn thất về cơ hội kinh doanh được hiểu là những thiệt hại về giá trị tính thành tiền của khoản thu nhập đáng lẽ người bị thiệt hại có thể có được khi thực hiện việc
Trang 30khai thác trực tiếp hoặc gián tiếp nhãn hiệu hàng hóa nhưng thực tế không có được khoản thu nhập đó do hành vi xâm phạm gây ra
Trong đó, việc khai thác trực tiếp hoặc gián tiếp đối tượng nhãn hiệu hàng hóa
có thể là:34
+ Khả năng thực tế sử dụng, khai thác trực tiếp nhãn hiệu hàng hóa;
+ Khả năng thực tế chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa cho người khác;
+ Những cơ hội kinh doanh khác bị mất do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra Như vậy, thiệt hại do mất cơ hội kinh doanh là thiệt hại tuy chưa thực tế xảy ra nhưng chắc chắn sẽ xảy ra bởi hành vi xâm phạm Người bị thiệt hại sẽ mất đi cơ hội thu lợi từ việc khai thác, sử dụng hoặc kinh doanh nhãn hiệu hàng hóa do giá trị của nhãn hiệu hàng hóa không còn nữa hoặc bị giảm sút do hành vi xâm phạm
(iii) Chi phi hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại được hiểu là những chi phí sau đây:35
- Chi phí cho việc tạm giữ, bảo quản, lưu kho, lưu bãi đối với hàng hóa bị xâm phạm;
- Chi phí thực hiện các biện pháp khẩn cấp, tạm thời;
- Chi phí hợp lý thuê dịch vụ giám định, ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm quyền và
- Chi phí cho việc thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm
1.2.5.2 Căn cứ xác định thiệt hại
Theo quy định tại Điều 205 LSHTT 2005, mức BTTH do xâm phạm QSHCN được xác định dựa trên những căn cứ sau:
(i) Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm QSHTT đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau:
34
Điều 19 NĐ105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
35 Điều 20, NĐ105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Trang 31- Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;
- Giá chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa với giả định rằng bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đó theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu hàng hóa trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện (ii) Trong trường hợp không thể xác định được mức BTTH về vật chất theo các căn
cứ quy định nêu trên, thì mức BTTH về vật chất do tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức
độ thiệt hại nhưng không vượt quá 500.000.000 đồng
Ngoài khoản BTTH trên đây, chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa có quyền yêu cầu Toà án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư
Trên cơ sở nguyên tắc và các căn cứ xác định thiệt hại về sở hữu công nghiệp của Việt Nam có thể dễ dàng nhận thấy sự ghi nhận hầu hết các thiệt hại, chi phí có liên quan dù trực tiếp hay gián tiếp như là những thiệt hại cần được bồi thường trong trách nhiệm của người vi phạm Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam chưa có sự ghi nhận một cách rõ ràng và cụ thể quyền được bồi thường của bị đơn trong trường hợp thắng kiện đối với các thiệt hại về vật chất và uy tín cũng như phí luật sư thích hợp Điều này đã được Hiệp định TRIPs lưu ý rất cụ thể tại Điều 48 như một nguyên tắc về sự công bằng, bình đẳng giữa các đương sự trong
vụ kiện, đồng thời tránh sự lạm dụng và thiếu trách nhiệm từ phía chủ sở hữu quyền, theo đó: “Các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh buộc bên đã đưa ra yêu cầu thực hiện các biện pháp chế tài và đã lạm dụng các thủ tục thực thi phải trả cho bên bị áp dụng các biện pháp đó hoặc bị hạn chế một cách sai trái khoản bồi thường tương xứng với thiệt hại do sự lạm dụng đó gây ra và các chi phí, trong đó có thể bao gồm cả chi phí đại diện thích hợp”
Tại Điều 208 LSHTT 2005 chỉ quy định về nghĩa vụ của người yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, theo đó “Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra cho người bị áp dụng biện pháp đó trong trường hợp người đó không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”
Có thể thấy đây chỉ là quy định áp dụng riêng cho trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chứ không phải là cơ sở pháp lý áp dụng chung cho