Ngày 31/12/2003 Hoa Kỳ tiếp tục tiến hành điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam và đến ngày 8/12/2004 đã ra quyết định áp thuế chống bán
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN TUẤN
RÀ SOÁT HÀNH CHÍNH TRONG CƠ CHẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ: TÌM HIỂU TỪ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU
THỦY SẢN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2NGUYỄN VĂN TUẤN
RÀ SOÁT HÀNH CHÍNH TRONG CƠ CHẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ: TÌM HIỂU TỪ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN
Trang 3dung được đề cập và trình bày trong luận văn là kết quả của quá trình Tác giả
nỗ lực lao động, nghiên cứu cùng với sự định hướng và hỗ trợ của Giảng viên hướng dẫn Tác giả cam kết danh dự không sao chép bất kỳ ý tưởng nào của các Nhà khoa học khác, nếu sai trái xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người cam đoan
Nguyễn Văn Tuấn
Trang 4AFA : Quyền áp dụng thông tin bất lợi sẵn có
A – to – A : So sánh trung bình với trung bình
A – to – T : So sánh trung bình với giao dịch
CEP : Giá xuất khẩu được tính toán
CFA : Hiệp hội các chủ trại cá nheo Hoa Kỳ
CFR : Bộ các quy định liên bang Hoa Kỳ
GATT 1994 : Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch 1994 GATT 1947 : Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch 1947 ITA : Cơ quan quản lý thương mại quốc tế thuộc DOC
ITC : Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ
Trang 5RSHC : Rà soát hành chính chống bán phá giá
QĐSB : Quyết định sơ bộ
SRP : Tỷ lệ phá giá đơn nhất giả định
URAA : Luật về các hiệp định vòng đàm phán Uruguay
VASEP : Hiệp Hội chế biến và xuất khảu thủy sản Việt Nam
Trang 6Phụ lục II: Bảng tóm tắt quy trình ra soát hành chính chống bán phá giá của
Hoa Kỳ
Phụ lục III: Bảng thống kê các đợt ra soát hành chính chống bán phá giá sản
phẩm Phile cá da trơn của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đến cuối năm
2014
Phụ lục IV: Bảng thống kê các đợt ra soát hành chính chống bán phá giá sản
phẩm tôm nước ấm đông lạnh của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đến cuối năm 2014
Trang 7CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ RÀ SOÁT HÀNH CHÍNH TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ 9
1.1 Một số quy định cơ bản của Hoa Kỳ về bán phá giá và quy trình chống bán phá giá 9
1.1.1 Bán phá giá 9 1.1.2 Sơ lược về quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ 11 1.1.3 Thu thuế chống bán phá giá, biện pháp chống bán phá giá chủ yếu của Hoa
Kỳ 17
1.2 Quy định của pháp luật Hoa Kỳ về Rà soát hành chính chống bán phá giá 19
1.2.1 Khái niệm “rà soát hành chính” 20 1.2.2 Mục đích và ý nghĩa của rà soát hành chính 21 1.2.3 Trình tự thủ tục tiến hành rà soát hành chính chống bán phá giá 24 1.2.4 Một số điểm khác biệt giữa “Rà soát hành chính” và “Điều tra chống bán phá giá” 27
1.3 Một số vụ kiện tại WTO liên quan đến việc Hoa Kỳ tiến hành rà soát hành chính chống bán phá giá 31
1.3.1 Vụ kiện Hoa Kỳ- rà soát hành chính chống bán phá giá và một số biện pháp liên quan đến sản phẩm nước cam nhập khẩu từ Brazil (DS382) 33 1.3.2 Trung Quốc kiện Hoa Kỳ tại WTO liên quan rà soát hành chính chống bán phá giá 45
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH RÀ SOÁT HÀNH
Trang 82.1 Một số vấn đề pháp lý chủ yếu DOC áp dụng trong rà soát hành chính chống bán phá giá đối với sản phẩm thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam 54
2.1.1 Áp dụng quy chế đối xử với nền kinh tế phi thị trường trong rà soát hành chính chống bán phá giá 54 2.1.2 Về áp dụng phương pháp Zeroing để tính toán biên độ phá giá trong rà soát hành chính 70
2.2 Một số đề xuất nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam trong các kỳ rà soát hành chính chống bán phá giá của Hoa Kỳ 85
2.2.1 Một số nhận xét và dự báo 85 2.2.2 Một số đề xuất 87
KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ (12/7/1995), quan
hệ thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ đã có những bước tiến triển vượt bật Ngày 13/7/2000, Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ được ký kết mở ra chương mới trong quan hệ thương mại giữa hai nước Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 11/1/2007 tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập thương mại mạnh mẽ hơn với Hoa Kỳ Gần đây nhất, trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (từ 24-26/7/2013) hai nước tuyên bố nâng quan hệ lên Đối tác toàn diện, mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng hơn về nhiều mặt trong đó có hợp tác
về thương mại Hiện tại Việt Nam cũng đang đàm phán với Hoa Kỳ và 10 nước khác (Brunei, Nhật bản, Singapore, Malaysia, Úc, New Zealand, Chile, Canada, Peru, Mexico) để đi đến ký kết hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương-TPP, Hiệp định tự do thương mại của một thị trường gần 800 triệu dân và chiếm khoảng 1/3GDP toàn cầu
Thực hiện chủ trương của Đảng về “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu”1, tận dụng các cơ chế, chính sách thuận lợi của nhà nước, các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua đã không ngừng đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ Số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam từ năm 2012 đến nay cho thấy, Hoa Kỳ luôn là thị trường xuất khẩu hàng đầu của hàng hóa Việt Nam2 Chỉ tính riêng trong 7 tháng đầu năm 2014, Việt Nam đã xuất khẩu sang Hoa Kỳ với tổng kim ngạch 16 tỷ USD với mức tăng trưởng 24% và
Trang 10Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.3
Tuy nhiên, xu thế hội nhập cũng buộc hoàng hóa Việt Nam đối mặt với những hình thức bảo hộ tinh vi ở các thị trường nhập khẩu trong đó có Hoa Kỳ Văn kiện đại hội XI của Đảng năm 2011, trong phần Dự báo tình hình thế giới và trong nước những năm sắp tới nhận định:
Kinh tế thế giới mặc dù có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn; chủ nghĩa bảo hộ phát triển dưới nhiều hình thức; cơ cấu lại thể chế, các ngành, lĩnh vực kinh tế diễn ra mạnh
mẽ ở các nước….4
Hiện vấn đề điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp đang ngày càng được các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ sử dụng như một công cụ hữu hiệu để hạn chế hàng nhập khẩu từ Việt Nam Đối với điều tra chống bán phá giá, tính đến tháng 9/2014, Hoa Kỳ đã tiến hành 11 vụ điều tra chống bán phá giá đối với các sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam Sớm nhất là vụ điều tra chống bán phá giá sản phẩm cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam (ngày 31/1/2003) và gần đây nhất là điều tra chống bán phá giá sản phẩm đinh thép nhập khẩu từ Việt Nam (ngày 19/6/2014).5 Có thể nói, Hoa Kỳ đang tiếp tục sử dụng các quy định về chống bán phá giá vốn gây nhiều tranh cãi để bảo hộ nền sản xuất trong nước, áp đặt tiêu chuẩn và quy trình sản xuất của Hoa Kỳ sang các nước có nhu cầu xuất khẩu vào thị trường này (như Việt Nam) qua đó tận dụng sự không tương thích với nền sản xuất của Hoa Kỳ của các nền kinh tế khác để hạn chế nhập khẩu
3
Nguồn: http://vtv.vn/kinh-te/my-thi-truong-xuat-khau-lon-nhat-cua-viet-nam-154638.htm cập nhật ngày 2/3/2015
Trang 11Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ6, tuy nhiên đây cũng là mặt hàng của Việt Nam sớm bị các doanh nghiệp thủy sản nội địa của Hoa Kỳ kiện chống bán phá giá nhất Cuối năm 2002 đầu năm
2003, căn cứ vào đơn kiện của Hiệp hội các chủ trại cá Nheo Hoa Kỳ (CFA), các cơ quan hữu quan của nước này đã tiến hành điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam Đến ngày 23/6/2003 Hoa Kỳ đã ra quyết định áp thuế từ 36,84%-63,88% đối với mặt hàng xuất khẩu này của Việt Nam vào Hoa Kỳ Ngày 31/12/2003 Hoa Kỳ tiếp tục tiến hành điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam và đến ngày 8/12/2004 đã ra quyết định áp thuế chống bán phá giá từ 4,13%-25,76% đối với mặt hàng xuất khẩu này của Việt Nam vào Hoa Kỳ.7 Mặc dù đã có quyết định cuối cùng
về áp thuế chống bán phá giá, tuy nhiên mức thuế trên vẫn có thể được thay đổi hàng năm do luật pháp của Hoa Kỳ cho phép các bên được quyền yêu cầu các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ tiến hành xem xét lại mức thuế này (thông qua thủ tục
rà soát hành chính (RSHC)) và áp một mức thuế cụ thể hàng năm Tính đến hết năm
2014, Hoa Kỳ đã tiến hành xong 09 đợt rà soát hành chính đối với quyết định áp thuế chống bán phá giá mặt hàng cá da trơn và 08 đợt rà soát hành chính đối với quyết định áp thuế chống bán phá giá mặt hàng tôm nước ấm đông lạnh của Việt Nam và vẫn đang tiếp tục tiến hành các đợt rà soát hành chính tiếp theo đối với 2 mặt hàng này.8
http://chongbanphagia.vn/tonghopsolieu/20141010/thong-ke-cac-vu-kien-cbpg-doi-voi-hang-xuat-8
Nguồn: http://enforcement.trade.gov/frn/summary/vietnam/vietnam-fr.htm cập nhật ngày 02/2/2015
Trang 12Là một bộ phận trong pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ, các quy định liên quan đến quy trình Rà soát hành chính (Administrative reviews) và thực tiễn áp dụng các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng đến các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam do các quyết định Rà soát hành chính sẽ xác định mức thuế chống bán
phá giá cụ thể, cuối cùng mà Hải quan Hoa Kỳ áp thuế đối với hàng hóa đã được
xác định là có bán phá giá của Việt Nam trong giai đoạn điều tra trước đó Gần đây nhất, các quyết định của DOC trong kỳ POR9 đối với mặt hàng phile cá tra, POR8 đối với mặt hàng tôm nước ấm đông lạnh xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã gây nhiều tranh cãi Hiệp Hội chế biến và xuất khảu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã lên tiếng phản đối quyết định này Các vấn đề như việc tính biên độ phá giá, chọn quốc gia thay thế, phương pháp Zeroing của Hoa Kỳ trong các đợt rà soát hành chính đang làm các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam rất bị động và bất ngờ trước mỗi quyết định rà soát hành chính Nhằm làm sáng tỏ hơn vấn đề này tác giả chọn đề tài: “Rà soát hành chính trong cơ chế chống bán phá giá của Hoa Kỳ: tìm hiểu từ các vụ kiện chống bán phá giá hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam” làm Luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ là đề tài được rất nhiều cá nhân, tổ chức ở Việt Nam nghiên cứu và đã có rất nhiều công trình, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, bài viết… liên quan đến vấn đề này Ví dụ như: Sổ tay luật thương mại chủ yếu của Hoa Kỳ (nhà Xuất bản chính trị quốc gia, tháng 6/1995); Bán phá giá và biện pháp chống bán phá giá hàng nhập khẩu (tác giả Đoàn Văn Trường, nhà xuất bản thống kê 1998); Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và EU với thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam bị khởi kiện bán phá giá (tác giả: Dương Nguyệt Nga, đăng trên Tạp chí kinh tế và phát triển, 2002); Tìm hiểu luật và chính sách chống bán phá giá (anti-dumping) của Mỹ (tác giả Đỗ Tuyết Khanh đăng trên Tạp chí Thời đại mới,
số 1-tháng 3/2004); Hội thảo về pháp luật chống bán phá giá Hoa Kỳ và EU năm
Trang 132003 do Bộ Thương mại tổ chức; Hỏi đáp pháp luật về chống bán phá giá WTO-Hoa Kỳ-EU của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phát hành năm 2009; Pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và tác động đối với Việt Nam (tác giả Lê Thị Ánh Nguyệt, nhà xuất bản Đại học quốc gia Tp.Hồ Chí Minh năm 2009); Luận án tiến sĩ: Thực tiễn chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, tác giả Vũ Thị Phương Lan, Đại học luật Hà Nội năm 2012… Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung giới thiệu tổng quan về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, các quy định và thực tiễn tiến hành điều tra chống bán phá giá của các nước trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ, so sánh pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ với EU và với các Hiệp định của tổ chức WTO, phân tích một hoặc một số vụ viêc, đưa ra các giải pháp để tránh các vụ kiện chống bán phá giá tại Hoa Kỳ Trong các nghiên cứu này, rà soát hành chính được đề cập rất sơ lượt, chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng và có hệ thống
Trong khả năng hiểu biết và nghiên cứu của mình, liên quan đến các tài liệu bằng tiếng Anh tác giải được biết có một số công trình nghiên cứu có đề cập Rà soát hành chính chống bán phá giá của Hoa Kỳ, đáng chú ý như: U.S antidumping Administrative reviews”, tác giả James Devault (1996) đăng trên The International Trade Journal Vol.10; Dynamic Pricing in the Presence of Antidumping Policy: Theory and Evidence (2001) của 2 tác giả Bruce A.Blonigen (University of Oregon
and NBER) và Jee-Hyeong Park (Wayne State University); Political Economy of
Discrection at the International Trade Administration, tác giả Sydney Gourlay và Kara M Reynolds, trường American University; Antidumping Duties – The Administrative Process – Unrelated Importer & Producer của RIGGLE & CRAVEN… Các nghiên cứu này đề cập rất khái quát về các quy định và việc áp dụng
cơ chế rà soát hành chính của Hoa Kỳ cũng như tiếp cận chủ yếu ở khía cạnh chính trị
và kinh tế
Qua nghiên cứu của tác giả và trao đổi với các chuyên gia của Bộ Công thương,
Trang 14Bộ Tư pháp và VASEP, được biết hiện vẫn chưa có công trình nào đề cập một cách tổng thể và có hệ thống các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về vấn đề này cũng như việc các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ áp dụng trên thực tế Nhất là, các nghiên cứu về chống bán phá giá vẫn chưa xem xét thực tiễn áp dụng các quy định về Rà soát hành chính trong các vụ việc áp thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với các sản phẩm thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam, một quốc gia được các cơ quan hữu quan Hoa Kỳ trong các vụ kiện chống bán phá giá đối xử với tư cách là một quốc
gia có nền kinh tế phi thị trường (NME)
3 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các quy định pháp lý được đề cập trong các văn bản pháp luật và các văn bản có liên quan khác của Hoa Kỳ, luận văn cung cấp tổng quan về chế định Rà soát hành chính trong pháp luật Chống bán phá giá của Hoa
Kỳ, trong đó bao gồm các vấn đề khái niệm, mục đích, ý nghĩa đến trình tự thủ tục tiến hành rà soát hành chính chống bán phá giá, làm rõ một số khác biệt cơ bản giữa
rà soát hành chính với điều tra chống bán phá giá Bên cạnh đó, thông qua việc nghiên cứu một số vụ kiện tại WTO, luận văn so sánh, làm rõ một số điểm không tương đồng trong các quy định về rà soát hành chính chống bán phá giá của Hoa Kỳ với các quy định của WTO có liên quan
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các quyết đinh Rà soát hành chính chống bán phá giá của Bộ thương mại Mỹ đối với sản phẩm tôm, phile cá tra, cá basa của Việt Nam, các vụ kiện liên quan đến vấn đề này tại các tòa án của Hoa Kỳ và cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, luận văn làm rõ một số vấn đề pháp lý gây tranh cãi thường gặp mà Hoa Kỳ áp dụng trong tiến hành Rà soát hành chính đối với mặt hàng thủy sản Việt Nam Từ đó, luận văn đưa ra một số đánh giá, dự báo và giải pháp kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan Việt Nam và nhất là đối với các doanh nghiệp thủy sản, VASEP nói riêng, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ nói chung
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định luật thành văn bản và việc áp dụng trên thực tiễn của chế định rà soát hành chính trong pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ, trong đó chủ yếu tiếp cận từ việc Hoa Kỳ áp dụng các quy định liên quan đến vấn đề này đối với sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam tính đến cuối năm 20149 Do chế định rà soát hành chính là một bộ phận của pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ nên luận văn cũng tiếp cận một cách tổng quát các quy định chung của pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ Bên cạnh đó, do Việt Nam và Hoa Kỳ đều là thành viên của WTO, luận văn cũng nghiên cứu một cách có chọn lọc một số vụ kiện liên quan đến vấn đề này tại WTO nhằm làm rõ thêm sự khác biệt hoặc mâu thuẫn của các quy định và việc áp dụng rà soát hành chính chống bán phá giá của Hoa Kỳ so với các quy định của WTO mà Hoa Kỳ là một thành viên ký kết tham gia Ngoài ra, một số sách báo, bài nghiên cứu, ý kiến bình luận của các chuyên gia liên quan đến vấn đề này cũng được tác giả nghiên cứu đề cập trong luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu và thực hiện bằng sự vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mac Lenin trong tiếp cận, nghiên cứu
và nhận xét vấn đề Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, tác giả luôn quán triệt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu, coi đây là nền tảng để định hướng và xây dựng các lập luận đánh giá cũng như đưa ra các đề xuất của luận văn Để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, luận văn được viết dựa trên việc sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh, và tư duy logic Các vấn đề được tiếp cận trên cơ sở xem xét quan điểm bảo vệ lợi ích của tất
9
Gồm các quyết định, diễn giải, lập luận của các bên trong 08 kỳ rà soát hành chính đối với vụ Tôm
và 09 kỳ rà soát hành chính đối với vụ Cá, một số phán quyết của các tòa án Hoa Kỳ liên quan đến vấn đề này được các bên liên quan trích dẫn làm căn cứ lập luận
Trang 16cả các bên để các thông tin dữ liệu đưa vào đề tài được khách quan, khoa học Đặc biệt, trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã tiến hành hơn 10 cuộc phỏng vấn đại diện các tổ chức, cá nhân tại Việt Nam có liên quan đến vấn đề này (đại diện VASEP, tại Tp.Hồ Chí Minh; đại diện Bộ Công thương, Bộ Tư pháp tại Hà Nội)
6 Bố cục của luận văn
Với mục đích, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiên cứu như trên, luận văn được viết chia thành 02 chương, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề pháp lý cơ bản về rà soát hành chính trong cơ chế chống bán phá giá của Hoa Kỳ
Chương 2: Thực tiễn áp dụng chế định rà soát hành chính trong pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với sản phẩm thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam
và đề xuất
Trang 17CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ RÀ SOÁT HÀNH CHÍNH TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ
Rà soát hành chính chống bán phá giá (Antidumping Administrative Reviews) là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ quy trình chống bán phá giá (AntiDumping Proceeding) của Hoa Kỳ Đây là quy trình được áp dụng nhằm ngăn chặn và trừng phạt hành vi được Hoa Kỳ xác định là “bán phá giá” hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ Quy trình này, cùng với chế định về rà soát hành chống bán phá giá, được Hoa Kỳ luật hóa thành các quy định gọi chung là pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ (The US Antidumping Law) được đề cập chủ yếu tại Mục VII luật Thuế quan năm 1930 (Title VII of the Tariff Act of 1930) Trong đó có quy định sự tham gia thực thi của nhiều cơ quan hữu quan như ITC, DOC, Hải quan
và Bảo vệ biên giới Hoa Kỳ, Đại diện thương mại Hoa Kỳ
Là nước đồng sáng lập ra Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng như tham gia soạn thảo và đàm phán các hiệp định của WTO trong đó có điều VI Hiệp định GATT 1994 và Hiệp định Chống bán phá giá (ADA), các quy định cơ bản của pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ có nhiều điểm tương đồng với các quy định của WTO về chống bán phá giá Tuy nhiên việc áp dụng trên thực tế pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ lại là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất tại WTO10, trong đó có Rà soát hành chính chống bán phá giá
1.1 Một số quy định cơ bản của Hoa Kỳ về bán phá giá và quy trình chống bán phá giá
Trang 18Kỳ là hành vi bán (hoặc tương tự như bán) hàng hóa thấp hơn giá trị công bằng (fair value)11 Cũng theo quy định này, khái niệm giá trị công bằng hay còn gọi là giá trị thông thường12 được hiểu có thể là giá của chính hàng hóa đó hoặc là giá của sản phẩm tương tự tại thị trường so sánh Trong một số hoàn cảnh nhất định, giá trị thông thường là giá trị mà các cơ quan hữu quan tự tính toán bao gồm chi phí sản xuất cộng với một khoản lợi nhuận hợp lý
Thuật ngữ và nội hàm của khái niệm “bán phá giá” được quy định trong pháp luật Hoa Kỳ cũng tương tự với khái niệm “bán phá giá” được quy định tại điều VI:1 Hiệp định GATT 1994 của WTO Theo đó, “bán phá giá” là hành vi “bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài với mức giá thấp hơn giá trị thông thường” Cũng tại điều luật này, WTO quy định “giá trị thông thường” là: giá trong nước
(nước xuất khẩu) có thể so sánh được của sản phẩm tương tự trong điều kiện thương
mại thông thường Nếu không có giá trong nước thì “giá trị thông thường” được xác
định là: giá cao nhất có thể so sánh được của sản phẩm tương tự xuất vào thị trường nước thứ ba trong điều kiện thương mại thông thường hoặc giá được tính bằng chi phí sản xuất ra sản phẩm đó tại nước xuất khẩu cộng với một số chi phí bán hàng và lợi nhuận hợp lý Chênh lệch giữa giá trị thông thường và giá bán tại thị trường xuất khẩu (ở đây là Hoa Kỳ) gọi là biên độ phá giá13
Pháp luật Hoa Kỳ cũng coi bán phá giá là hành vi của chủ thể là các doanh nghiệp nước ngoài thông qua các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại lành mạnh Tùy tính chất mức độ của
13
The US Antidumping Manual (2009), Chương 1, tr 3
Trang 19hành vi bán phá giá, cụ thể là tùy thuộc vào biên độ phá giá14 được các cơ quan hữu quan Hoa Kỳ điều tra tính toán mà Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp chống lại hành vi bán phá giá theo 2 hướng, áp dụng thu thuế chống bán phá giá dưới dạng thuế nhập khẩu bổ sung hoặc các cam kết về giá và đặt cọc15
Đáng lưu ý là, pháp luật Hoa Kỳ cho phép nếu hàng hóa nhập khẩu từ các nước có nền kinh tế phi thị trường (NME), các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ được chọn giá của hàng hóa tương tự ở quốc gia thay thế (surrogate country) là giá trị thông thường16
1.1.2 Sơ lược về quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ
Nhằm đảm bảo công bằng, trừng phạt sự tiếp diễn các hành vi bán phá giá của doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường Hoa Kỳ, theo quy định của pháp luật chống bán phá giá, các cơ quan hữu quan của Hoa kỳ sẽ tiến hành các thủ tục để áp đặt các biện pháp chống bán phá giá trong đó có biện pháp thu một khoản thuế nhập khẩu đặc biệt với mặt hàng bán phá giá xuất khẩu và thị trường Hoa Kỳ, còn gọi là thuế chống bán phá giá, để bù lại những thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra
Quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ được luật hóa trong nhiều văn bản luật17, trong đó chủ yếu được đề cập tại Luật Thuế quan 1930 (được tập hợp trong Chương IV, Quyển 19 Bộ luật Hoa Kỳ-U.S.C) và Quyển 19 Bộ quy định Liên bang
- C.F.R Bên cạnh đó, các án lệ do Tòa án thương mại quốc tế Hoa Kỳ tuyên trong các vụ xét xử về chống bán phá giá cũng được ghi nhận như là một hình thức quy định pháp lý có thể được áp dụng, tuy nhiên đóng góp của các án lệ này vào các quy
14
Hoa Kỳ không áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hành vi bán phá giá ở biên độ phá giá dưới 2% được DOC tính toán trong giai đoạn điều tra và 0,5% trong giai đoạn Rà soát hành chính 15
Lê Thị Ánh Nguyệt (2009), Pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ và tác động đối với Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, tr 50-52
16
U.S.C § 1677b(c)(2)
17
Lê Thị Ánh Nguyệt, tlđd 15, tr 16 - 27
Trang 20định nội dung trong pháp luật Hoa Kỳ là khá hạn chế18
Pháp luật Hoa Kỳ giao cho 2 cơ quan là Bộ thương mại (DOC) và Ủy ban thương mại quốc tế (ITC) của nước này chịu trách nhiệm trong điều tra, ra các quyết định về chống bán phá giá (bao gồm cả mức thuế chống bán phá giá) Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ-CBP (US Custom and Boder Protection) thuộc Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ-DHS có trách nhiệm thực thi các quyết định chống bán phá giá, còn Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) được giao trách nhiệm đại diện cho Hoa Kỳ trong các vụ tranh chấp tại WTO, trong đó có các vụ tranh chấp liên quan đến các quyết định chống bán phá giá của Hoa Kỳ Cũng cần khẳng định thêm, trong pháp luật Hoa Kỳ, vụ kiện chống bán phá giá là vụ kiện mang tính chất hành chính19 và Tòa án thương mại quốc tế Hoa Kỳ-CIT được trao thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện đối với các quyết định chống bán phá giá, các bên có quyền khiếu nại phán quyết của CIT lên Tòa phúc thẩm-CAFC
Nhìn một cách tổng thể, trong quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ gánh nặng công việc điều tra, đưa ra các kết luận và quyết định nội dung, hình thức của biện pháp chống bán phá giá phụ thuộc hoàn toàn vào 02 cơ quan là ITC và DOC
Trong đó, ITC chịu trách nhiệm chính điều tra về sự “bị thiệt hại” hoặc “đe dọa gây thiệt hại” của hành vi bán phá giá sản phẩm nhập khẩu đối với ngành công nghiệp
nội địa sản xuất sản phẩm cùng loại của Hoa Kỳ DOC, mà trực tiếp và chuyên trách là Cơ quan quản lý thương mại quốc tế (International Trade Administration-ITA) trực thuộc DOC, chịu trách nhiệm chính điều tra về sự tồn tại
của hành vi “bán phá giá” và tính toán biên độ phá giá để đưa ra quyết định về mức
Trang 21Để thực thi nhiệm vụ chống bán phá giá, các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ tập trung vào 2 công việc chính theo thứ tự là điều tra bán phá giá và áp dụng biện pháp chống bán phá giá Tùy thuộc vào kết quả điều tra (sơ bộ, hoặc cuối cùng) và đối tượng điều tra (nước xuất khẩu có nền kinh tế thị trường hay phi thị trường) mà Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá như: cam kết về giá (còn gọi là thỏa thuận đình chỉ - suspension agreement)21, hạn chế số lượng nhập khẩu hoặc thu thuế chống bán phá giá Đây là một quy trình được tiến hành khá chặt chẽ với sự tham gia của các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ cũng như sự cộng tác cung cấp chứng cứ của các bên có liên quan (các nhà sản xuất nội địa, các nhà xuất khẩu, nhà sản xuất sản phẩm xuất khẩu)
Các biện pháp chống bán phá giá của Hoa Kỳ được triển khai tùy thuộc vào kết quả của một quy trình điều tra chống bán phá giá có thể khái quát thành 04 bước chính22 theo trình tự như sau:
Bước 1: các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ tiếp nhận đơn kiện của “các bên liên quan”,23 hoặc tự quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá và ra thông
báo bắt đầu điều tra Khi tiếp nhận đơn kiện của “các bên liên quan” (đơn được nộp
đồng thời cho DOC và ITC), DOC có 20 ngày để xem xét tính hợp pháp của đơn
21
xuất khẩu/sản xuất nước ngoài, trong trường hợp nước ME trong đó nhà sản xuất-xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá lên hoặc ngừng/hạn chế khối lượng xuất khẩu vào nước nhập khẩu Thỏa thuận chỉ có thể được thực hiện sau khi có kết luận sơ bộ khẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hại DOC có quyền chấp thuận hoặc từ chối đề nghị cam kết giá của nhà sản xuất-xuất khẩu nước ngoài Nếu cam kết về giá được chấp thuận thì việc điều tra đối với nhà sản xuất-xuất khẩu đó sẽ được chấm dứt Nói cách khác, thỏa thuận đình chỉ ngăn chặn việc áp dụng thuế chống phá giá trong thời hạn của thỏa thuận DOC có trách nhiệm theo dõi việc tuân thủ thỏa thuận đó Xem thêm về Thỏa thuận
Nam cần biết gì, Chương IV
Trang 22kiện và tư cách hợp pháp của nguyên đơn24 từ đó ra thông báo khởi xướng điều tra
về bán phá giá Đối với ITC, 1 tuần sau khi đơn kiện được nộp, cơ quan này ra thông báo điều tra về thiệt hại đối với hành vi bán phá giá bị kiện
Bước 2: ITC và DOC tiến hành điều tra sơ bộ và ra quyết định sơ bộ
Đối với ITC, cơ quan này có 45 ngày kể từ ngày đơn kiện được nộp để tiến hành điều tra sơ bộ và ra quyết định sơ bộ về việc liệu hành vi bán phá giá bị kiện
có gây thiệt hại cho nền sản xuất nội địa Hoa Kỳ không Nếu có gây thiệt hại, các hoạt động điều tra của ITC và DOC được tiếp tục Nếu không gây thiệt hại, cả ITC
và DOC ngay lập tức chấm dứt các hoạt động điều tra Đáng chú ý, đối với các đơn kiện hành vi bán phá giá vào thị trường Hoa Kỳ của doanh nghiệp nhiều nước khác
nhau, ITC sẽ tính toán thiệt hại trên cơ sở “cộng gộp” chứ không tính toán riêng lẻ
cho từng quốc gia xuất khẩu25
Đối với DOC, trong vòng thời gian 160 ngày từ ngày ra quyết định khởi xướng điều tra bán phá giá (có thể được gia hạn thêm trong những trường hợp được
xem là “đặc biệt phức tạp”), DOC phải tiến hành xong các hoạt động điều tra sơ bộ
và ra kết luận điều tra sơ bộ trong đó kết luận (bước đầu) liệu hàng hóa nhập khẩu
có bán phá giá hay không thông qua việc thu thập các thông tin chứng cứ ban đầu
để tính toán biên độ phá giá Kết luận này không ảnh hưởng đến tiến trình điều tra tiếp theo nhưng sẽ làm phát sinh nghĩa vụ đối với các bị đơn nếu biên độ phá giá
được DOC kết luận từ 2% trở lên Theo đó, Hải quan Hoa Kỳ sẽ áp dụng “biện pháp tạm thời” đối với bị đơn bằng cách thu thêm tiền ký quỹ bán phá giá đối với
24
Đơn kiện không chỉ đảm bảo các yêu cầu cung cấp thông tin khởi kiện như thông tin về người khởi kiện, hàng hóa khởi kiện, bằng chứng về việc bán phá giá… mà còn phải đảm bảo đơn kiện được các nhà sản xuất trong nước sản xuất ra ít nhất 50% tổng sản lượng các sản phẩm tương tự có bày tỏ thái
độ (tán thành hoặc phản đối) đối với việc điều tra và các nhà sản xuất tán thành việc điều tra phải chiếm 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự sản phẩm bị kiện
25
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2010), Cẩm nang kháng kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp của Hoa Kỳ, Hà Nội, tr 38
Trang 23các lô hàng nhập khẩu tiếp theo vào Hoa Kỳ Nếu nguyên đơn thuyết phục được
DOC và ITC có sự tồn tại “tình hình nghiêm trọng” (crucial circumstance), thì việc
áp dụng “biện pháp tạm thời” có thể được áp dụng đối với các lô hàng nhập khẩu
vào Hoa Kỳ trong 90 ngày liền trước ngày công bố kết luận sơ bộ26
Bước 3: Các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ tiến hành điều tra cuối cùng và
ra quyết định cuối cùng
Đối với DOC, trong thời hạn 75 ngày kể từ khi ra kết luận điều tra sơ bộ (và
có thể gia hạn thêm), cơ quan này phải tiến hành các hoạt động điều tra tiếp theo như: kiểm tra xác minh thêm thông tin, tổ chức nghe điều trần giữa các bên, thu thập thêm thông tin tài liệu, tính toán… để ra kết luận điều tra cuối cùng Đây là kết luận cuối cùng về biên độ phá giá của từng nhà xuất khẩu Nếu biên độ phá giá được xác định ở mức dưới 2% thì xem như không đáng kể và điều tra của DOC và
ITC cùng chấm dứt Nếu biến độ phá giá từ 2% trở lên, thì điều tra của ITC vẫn
được tiếp tục cho đến khi ITC ra kết luận cuối cùng về việc hành vi bán phá giá bị kiện có gây thiệt hại cho nền sản xuất nội địa Hoa Kỳ hay không Kể từ thời điểm
có kết luận điều tra cuối cùng, Hải quan Hoa Kỳ sẽ thu mức ký quỹ các lô hàng nhập khẩu tiếp theo tương ứng với biên độ phá giá được đề cập trong kết luận điều tra cuối cùng
Đối với ITC, tùy thuộc vào thời điểm DOC ra kết luận điều tra sơ bộ và nội dung của quyết định này cũng như thời điểm DOC ra kết luận điều tra cuối cùng mà ITC có thời gian từ 45 đến 75 ngày27 để ra kết luận cuối cùng về việc có hay không thiệt hại được gây ra bởi hành vi bán phá giá bị kiện Từ sau khi ITC ra kết luận sơ
bộ xác định hành vi bán phá giá bị kiện có gây thiệt hại đối với nền sản xuất nội địa,
Trang 24ITC tiếp tục tiến hành một loạt các hoạt động điều tra tiếp theo bao gồm thu thập đánh giá, phân tích các thông tin về thiệt hại, nghe điều trần của các bên, bỏ phiếu… để ra kết luận cuối cùng
Bộ trưởng Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC) trong thời gian 1 tuần sau khi ITC ra kết luận cuối cùng khẳng định có thiệt hại và mối quan hệ nhân quả, trên cơ
sở kết quả điều tra bán phá giá cuối cùng sẽ đưa ra lệnh áp thuế chống bán phá giá
và đăng trên công báo liên bang Kể thừ thời điểm này, các lô hàng nhập khẩu tiếp theo vào Hoa Kỳ sẽ đặt cọc tiền thuế thay vì ký quỹ28
Bước 4: các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ tiến hành các thủ tục rà soát lại các quyết định trước đó Đây là giai đoạn mà các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ (DOC, ITC) tiến hành các hoạt động rà soát lại một cách tự động hoặc theo yêu cầu của các bên về các kết luận cuối cùng của mình Các thủ tục này bao gồm Rà soát hành chính: để tính toán mức thuế chống bán phá giá cuối cùng phải thu đối với các
lô hàng đã đóng tiền ký quỷ hay đặt cọc thuế để làm cơ sở cho Hải quan Hoa Kỳ thu thêm hoặc hoàn trả lại cho bị đơn; rà soát chống lẫn tránh thuế: để xem xét mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với các sản phẩm gần giống hoặc các sản phẩm tương tự nhập khẩu từ các quốc gia khác29, rà soát hoàng hôn: được DOC và ITC tiến hành sau 5 năm30
kể từ ngày công bố các biện pháp chống bán phá giá cuối cùng để xem xét có tiếp tục áp dụng lệnh chống bán phá giá thêm 5 năm nữa hay không Bên cạnh đó, pháp luật Hoa Kỳ cho phép các bên có quyền kháng kiện lên CIT lệnh áp thuế chống bán phá giá trong thời gian 30 ngày kể từ ngày lệnh này được công bố CIT chỉ xem xét các khía cạnh pháp lý của các quyết
30
Do hiệu lực của lệnh chống bán phá chỉ có giá trị trong vòng 5 năm
Trang 25định hành chính do DOC và ITC đưa ra
Như vậy, các biện pháp chống bán phá giá chỉ có thể chính thức được áp dụng sau bước (2) nghĩa là sau khi các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ đưa ra các kết
luận điều tra sơ bộ Bước (3) được xem là kết thúc khi DOC đưa ra “lệnh áp thuế chống bán phá giá” (Antidumping duty order) và nó cũng kết thúc phần điều tra của
toàn bộ quy trình chống bán phá giá31 Do ở bước (4) các cơ quan hữu quan cũng tiến hành một số hoạt động điều tra nên có thể xem giai đoạn từ bước (1) đến (3) là giai đoạn điều tra ban đầu (original investigation) của toàn bộ quy trình bán phá giá
để phân biệt với điều tra rà soát hành chính, điều tra rà soát hoàng hôn (sunset review), điều tra rà soát chống lẫn tránh thuế, điều tra rà soát các nhà xuất khẩu mới (new shipper reviews)
1.1.3 Thu thuế chống bán phá giá, biện pháp chống bán phá giá chủ yếu của Hoa Kỳ
Thu thuế chống bán phá giá, khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông thường, là biện pháp chống bán phá giá được Hoa Kỳ áp dụng rộng rãi và phổ biến so với các biện pháp khác như Thỏa thuận đình chỉ32 Khác với phương pháp thu thế chống bán phá giá được định cho giai đoạn tương lai33 của nhiều nước (như Canada, Liên minh châu Âu…), Hoa Kỳ áp dụng cách thu thuế chống bán phá giá dựa trên cơ sở hồi tố (retrospective duty assessment system)34 Pháp luật Hoa Kỳ hiện cho phép các cơ quan chức năng thu thuế chống bán phá theo tỷ lệ bằng với
Trang 26biên độ phá giá được tính toán bởi DOC35 Để thu thuế chống bán phá giá theo phương pháp này, Hoa Kỳ tiến hành 2 công đoạn:
Công đoạn 1: thu tiền ký quỹ hay đặt cọc theo các quyết định của DOC Cụ thể, sau thời điểm DOC ra Quyết định sơ bộ (Preliminery determination, từ đây viết tắt là QĐSB), CBP sẽ bắt đầu tiến hành thu tiền ký quỹ đối với các sản phẩm được
đề cập trong Quyết định này nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ sau khi có QĐSB Mức tiền
ký quỹ dựa trên biên độ phá giá được đề cập trong QĐSB Sau thời điểm DOC đưa
ra Lệnh áp thuế chống bán phá giá (LCBPG), mức tiền ký quỹ đối với các lô hàng nhập khẩu tiếp theo sẽ dựa trên LCBPG Sau khi có quyết định rà soát hành chính lần 1-POR1, mức đặt cọc thuế sẽ được thu theo mức thuế chống bán phá giá được xác định trong quyết định POR gần nhất
Công đoạn 2: thu thuế chống bán phá giá chính thức đối với các lô hàng nhập khẩu bằng cách khấu trừ vào tiền đặt cọc thuế dựa trên các quyết định Rà soát hành chính chống bán phá giá của DOC đối với từng lô hàng nhập khẩu Trong trường hợp DOC không tiến hành Rà soát hành chính36, mức thuế chống bán phá giá cuối cùng được CBP thu dựa trên hướng dẫn của DOC (thông thường tương đương với mức đặt cọc37)
Do khoảng thời gian từ LCBPG đến Quyết định cuối cùng của đợt POR đầu tiên khoảng 2 năm và các đợt POR liên tiếp cách nhau 01 năm, nghĩa vụ thực tế nộp thuế chống bán phá giá của doanh nghiệp xuất khẩu vào Hoa Kỳ không được xác định cụ thể cho tới một hoặc nhiều năm sau khi xuất khẩu Mức thuế chống bán phá giá, được đề cập trong LCBPG (dựa trên cơ sở biên độ phá giá được tính toán trong giai đoạn điều tra ban đầu) hay Quyết định sơ bộ, trên thực chất chỉ nhằm mục đích
35
Adduci, Mastriani & Schaumberg, Các quy định và áp dụng luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ,
Phần II, Mục b.3 Nguồn http://www.adduci.com/node/111 , cập nhật ngày 19/9/2014
Trang 27xác định mức tiền đặt cọc mà các nhà xuất khẩu nước ngoài phải nộp cho CBP nhằm đảm bảo việc thực thi thuế chống bán phá giá Đây cũng là phương pháp thu thuế chống bán phá giá (cũng như thuế chống trợ cấp) gây nhiều tranh cãi trong Quốc hội và các cơ quan thực thi pháp luật của Hoa Kỳ38
1.2 Quy định của pháp luật Hoa Kỳ về Rà soát hành chính chống bán phá giá
Là một bộ phận quan trong trong toàn bộ quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ nhằm xác định nghĩa vụ thuế cuối cùng mà nhà xuất khẩu phải nộp vì hành
vi bán phá giá cũng như xác định mức đặt cọc thuế chống bán phá giá cho các lô hàng xuất sang Hoa Kỳ tiếp theo, pháp luật Hoa Kỳ có các quy định chặt chẽ về à soát hành chính chống bán phá giá (RSHC) Cụ thể, các vấn đề liên quan đến RSHC (cơ sở tiến hành, trách nhiệm, đối tượng, quy trình, cách thức, thời gian… ) được đề cập chủ yếu tại các điều luật sau: các điều luật: §1673e; §1675; §1677f; §1677m ở Quyển 19, Bộ luật Hoa Kỳ (U.S.C)39; các điều luật 351.102; 351.213; 351.215; 351.301; 351.303 ở Quyển 19, Bộ các quy định liên bang Hoa Kỳ (CFR)40 Bên cạnh đó, để hướng dẫn việc thực thi và tuân thủ các quy định của Hoa Kỳ về chống bán phá giá nói chung và Rà soát hành chính chống bán phá giá nói riêng, Cơ quan quản lý thương mại quốc tế (ITA) trực thuộc Bộ thương mại Hoa Kỳ đã ban hành
“Hướng dẫn tuân thủ và thực thi chống bán phá giá” (thường được gọi là Antidumping Manual) được cập nhật thường xuyên, đề cập đến toàn bộ quy trình chống bán phá giá cũng như dẫn chiếu các quy định pháp luật của Hoa Kỳ có liên
Trang 28quan Trong đó, RSHC được đề cập chủ yếu ở các chương 21 và chương 22 của Hướng dẫn này41
1.2.1 Khái niệm “Rà soát hành chính”
Xuất phát từ quan điểm của Hoa Kỳ cho rằng, biên độ phá giá được quyết định trong Lệnh áp thuế chống bán phá giá ở giai đoạn điều tra ban đầu được tính toán dựa trên các lô hàng nhập vào Hoa Kỳ trong giai đoạn trước đó, không phải là các lô hàng trực tiếp phải chịu thuế chống bán phá giá42
và biên độ phá giá trong quyết định sơ bộ hoặc ở lệnh CBPG là biên độ phá giá chung, nên cần phải tính toán lại biên độ phá giá
cụ thể cho từng lô hàng phải trực tiếp chịu các biện pháp chống bán phá giá Do đó, sau đúng một năm kể từ ngày Lệnh áp thuế chống bán phá giá được DOC công bố, theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ43 thì các bên liên quan (bao gồm các doanh nghiệp nội địa có liên quan, quốc gia có liên quan (quốc gia NME), tất cả các nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu sản phẩm chịu lệnh CBPG) được phép gửi đơn yêu cầu DOC xem xét tính toán lại mức thuế chính thức cho các lô hàng xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ khi có Quyết định sơ bộ của DOC đến lúc đệ đơn hoặc từ khi có quyết định cuối cùng của DOC đến lúc đệ đơn Căn cứ vào yêu cầu của các bên, DOC sẽ tiến hành tính toán biên độ phá giá các sản phẩm nhập khẩu trong giai đoạn được yêu cầu rà soát và ra quyết định áp đặt mức thuế chính thức cho các sản phẩm nhập khẩu trong giai đoạn này
Ngoài ra, DOC cũng có thể tiến hành RSHC để xem xét có hay không sự vi phạm Thỏa thuận đình chỉ hoặc để quyết địnhcó nên kết thúc Thỏa thuận đình chỉ hay không44 Tuy nhiên, như trên đã trình bày, do thực tiễn chống bán phá giá của Hoa Kỳ ít có những Thỏa thuận đình chỉ nên việc DOC tiến hành rà soát phục vụ
Trang 29mục đích này rất hiếm Có thể thấy, khi tiến hành mỗi đợt RSHC, DOC sẽ không xem xét việc có nên dỡ bỏ thuế chống bán phá giá hay không mà chỉ thực hiện một công đoạn kỹ thuật để tính toán mức thuế chống bán phá giá đúng với thực tế bán phá giá của doanh nghiệp45
Như vậy có thể hiểu rà soát hành chính chống bán phá giá là một quá trình DOC tiến hành các thủ tục hành chính theo yêu cầu của các bên có liên quan trong
vụ kiện chống bán phá giá để tính toán biên độ phá giá thực tế của sản phẩm nhập khẩu là đối tượng trực tiếp của các biện pháp chống bán phá giá
1.2.2 Mục đích và ý nghĩa của rà soát hành chính
* Mục đích rà soát hành chính:
Mục đích của DOC khi tiến hành RSHC, theo quy định của pháp luật Hoa
Kỳ46 là nhằm:
- Thứ nhất, đối với thu thuế chống bán phá giá: (a) đưa ra con số cuối cùng
về tiền thuế chống bán phá giá mà từng Nhà xuất khẩu phải trả tương ứng với sản phẩm xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ nằm trong thời gian tiến hành Rà soát hành chính Từ đó tạo cơ sở để CBP thu thêm thuế chống bán phá giá nếu số tiền thuế được DOC tính toán cao hơn mức tiền đặt cọc thuế hoặc hoàn thuế (có kèm lãi suất) nếu số tiền thuế được tính toán nhỏ hơn mức tiền ký quỹ; (b) thiết lập một biên độ phá giá chung cho sản phẩm của mỗi nhà xuất khẩu và cũng là tỷ lệ tiền đặt cọc thuế mới cho các lô hàng tiếp theo của nhà xuất khẩu đó sau khi các quyết định RSHC được công bố và sẽ tiếp tục được áp dụng cho đến khi hoàn thành đợt RSHC tiếp theo
- Thứ hai, đối với áp dụng Thỏa thuận đình chỉ, RSHC có mục đích nhằm rà
Trang 30soát phát hiện vi phạm của các nhà xuất khẩu trong quá trình thực hiện các cam kết của Thỏa thuận đình chỉ Trên thực tế, DOC rất ít tiến hành Rà soát hành chính
vì mục đích này.47
Trong toàn bộ quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ, do là khâu đưa ra quyết định cuối cùng về mức thuế chống bán phá giá, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên nên RSHC có những ý nghĩa rất quan trọng:
- Thứ nhất, như đã đề cập, RSHC xác lập trách nhiệm pháp lý cụ thể đối với nhà xuất khẩu do thực hiện hành vi “bán phá giá” sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ
từ sau khi đã có các quyết định điều tra của cơ quan hữu quan nước này về cùng loại sản phẩm và xuất xứ trước đó Các quyết định RSHC sẽ tạo cơ sở về pháp lý và định lượng để CBP thu trực tiếp thuế chống bán phá giá từ nguồn tiền đặt cọc thuế của nhà xuất khẩu, cũng như định lượng số tiền đặt cọc phải thu tiếp theo đối với các lô hàng nhập khẩu đã đề cập Bên cạnh đó, có thể xem RSHC là cơ hội để các bên (bên khởi kiện bán phá giá và bên bị kiện bán phá giá) biện hộ nhằm đạt được mức thuế chống bán phá giá có lợi nhất cho mình Đối với bên khởi kiện (các doanh nghiệp nội địa) là nhằm thuyết phục DOC áp mức thuế CBPG cao cho nhà xuất khẩu nước ngoài, đối với bên bị kiện là nhằm thuyết phục DOC giảm mức thuế CBPG càng nhiều càng tốt Do đó, đối với bên bị kiện, RSHC có những ý nghĩa đặc biệt quan trọng:
Một là, sau giai đoạn điều tra ban đầu, đây sẽ là cơ hội thứ hai để từng nhà
xuất khẩu cung cấp các chứng cứ bảo vệ lợi ích của mình hay nói cách khác là cho
47
Ban hội thẩm của WTO trong vụ kiện DS382 cho rằng rà soát hành chính chống bán phá giá của Hoa Kỳ chỉ nhằm mục đích (1), xem thêm tại WT/DS382/R đoạn 7.83 Các vụ kiện chống bán phá giá đối với mặt hàng thủy sản Việt Nam không có thỏa thuận đình chỉ, mặc dù 2 bên đã đàm phán về vấn đề này nhưng thất bại, xem thêm tại: Federal Register / Vol 68, No 120 / Monday, June 23, 2003 / Notices đối với Vụ kiện Cá da trơn
Trang 31họ cơ hội để yêu cầu giảm thiểu nghĩa vụ thuế và được hoàn tiền đặt cọc thuế (được thành toán lãi suất)48 Theo VASEP, việc DOC tiến hành rà soát hành chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam Ví dụ điển hình
là Công ty Vĩnh Hoàn trong vụ kiện bán phá giá Cá da trơn (2001) tại thị trường Hoa Kỳ Trong giai đoạn điều tra ban đầu, DOC đã tính toán biên độ bán phá giá của công ty Vĩnh Hoàn ở mức cao: 37, 94% ở quyết đinh sơ bộ49 và 36.84% ở quyết định cuối cùng50 Điều này dẫn đến việc công ty Vĩnh Hoàn phải ký quỹ (hoặc đặt cọc) cho các lô hàng xuất khẩu vào Hoa Kỳ sau các quyết đinh trên ở mức cao tương ứng Tuy nhiên, do có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, trong lần RSHC đầu tiên (POR1) cho giai đoạn xuất khẩu mặt hàng này từ ngày 01/1/2003 đến ngày 31/7/2004, công ty Vĩnh Hoàn đã được DOC tính toán biên độ phá giá chỉ ở mức 6,68%51 và chỉ bằng 1/6 mức ký quỹ
Hai là, các đợt RSHC cũng tạo ra cơ hội để các nhà xuất khẩu được DOC
xem xét hủy bỏ Lệnh áp thuế chống bán phá giá Mục tiêu này có thể thể đạt được nếu trong 03 lần RSHC liên tiếp một nhà xuất khẩu được DOC tính toán biên độ phá giá mức thấp hơn 0.5%, chuẩn tối thiểu (de minimis net), được pháp luật Hoa
Kỳ xác định là biên độ phá giá không đáng kể trong RSHC52 và áp mức thuế chống bán phá giá bằng Không (=0) Hay nói cách khác, cả kỳ RSHC liên tiếp mức thuế chống bán phá đối với nhà xuất khẩu được quyết định là bằng Không, DOC sẽ xem xét huỷ bỏ Lệnh chống phá giá đối với nhà xuất khẩu đó53 Đây cũng là lý do mà hiện nay Việt Nam đang tiến hành các thủ tục pháp lý (kiện Hoa Kỳ tại WTO và kiện các quyết định của DOC ở Tòa án thương mại Quốc tế Hoa Kỳ) để yêu cầu
Trang 32DOC hủy Lệnh áp thuế chống bán phá giá đối với một số doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ mặt hàng Tôm nước ấm đông lạnh (DOC ký hiệu vụ kiện A-522-802) do có biên độ phá giá thực tế thấp hơn mức 0,5% trong 03 kỳ RSHC liên tiếp POR2, POR3, POR454
- Thứ hai, ngoài ra, các kết quả RSHC là căn cứ cho doanh nghiệp sản xuất
sản phẩm cùng loại ở nước xuất khẩu tính toán thời điểm để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ nhằm đạt mức ký quỹ phù hợp với chiến lược kinh doanh tại thị trường Hoa Kỳ.55 Nếu kết quả rà soát quy định mức ký quỹ chung cho các doanh nghiệp nước xuất khẩu thấp, việc xuất khẩu của các doanh nghiệp mới sang thị trường Hoa Kỳ sẽ thuận lợi hơn dựa trên sự cân đối về vốn
1.2.3 Trình tự thủ tục tiến hành rà soát hành chính chống bán phá giá
1.2.3.1 Yêu cầu rà soát
Hàng năm, vào ngày làm việc đầu tiên của tháng kỷ niệm (anniversary month)56, DOC sẽ đăng trên Công báo liên bang (Federal Register) “Cơ hội yêu cầu
Rà soát hành chính chống bán phá giá” (Opportunity Notice) Ví dụ: ngày 01/2/2005 DOC đăng trên Công báo liên bang Lệnh chống bán phá giá đối với sản phẩm Tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu của Việt Nam57 Đúng một năm sau, ngày 01/2/2006, DOC đăng trên Công báo liên bang Cơ hội rà soát với một loạt các Lệnh
áp thuế chống bán phá giá được DOC ban hành trong tháng 2 của các năm trước đó đối với sản phẩm nhập khẩu của nhiều nước trong đó có sản phẩm Tôm nước ấm
Trang 33đông lạnh của Việt Nam58
Và cứ thế, đến ngày làm việc đầu tiên của tháng 2 các năm tiếp theo, DOC lại đăng trên Công báo liên bang cơ hội rà soát đối với sản phẩm này của Việt Nam
Trên cơ sở đó, tất cả các bên có liên quan (như nguyên đơn, các nhà xuất khẩu, nhập khẩu) đều có quyền yêu cầu (phải bằng văn bản) DOC tiến hành thủ tục
rà soát hành chính.59 Đơn yêu cầu phải đề cập rõ lý do, đối tượng yêu cầu rà soát DOC chỉ tiến hành rà soát các đối tượng cụ thể được đề cập trong đơn Thời hạn cuối cùng để DOC nhận đơn là vào ngày cuối cùng của tháng kỷ niệm Nếu ngày này trùng với ngày nghỉ (cuối tuần, ngày nghỉ lễ hay ngày mà DOC không làm việc), thì thời hạn cuối cùng sẽ được dời sang ngày làm việc tiếp theo ngay sau đó
1.2.3.2 Quy trình và thời gian rà soát
Sau khi nhận đơn, DOC sẽ đăng trên Công báo liên bang về việc tiến hành thủ tục RSHC và danh sách các doanh nghiệp mà DOC sẽ tiến hành thủ tục này Đồng thời, DOC cũng gửi đến các công ty trên yêu cầu cung cấp các thông tin xác thực phục vụ cho việc rà soát60 (thường là các bảng câu hỏi do DOC chuẩn bị sẵn) DOC sẽ cho các doanh nghiệp từ 5-6 tuần để cung cấp các thông tin cần thiết, đồng thời DOC cũng có thể tiến hành thẩm tra61, xác minh thêm về các doanh nghiệp, nghiên cứu đối chiếu cái tài liệu thu được, tổ chức nghe điều trần của các bên62 Trên cơ sơ các thông tin sẵn có, DOC ra thông báo về kết quả rà soát sơ bộ63 của
đợt rà soát và đăng trên Công báo liên bang kết quả này, trong đó xác định biên độ
58
Nguồn:
order-finding-or-suspended-investigation-opportunity-to-request , cập nhật ngày 15/12/2014
Trang 34phá giá theo tính toán ban đầu của DOC đối với từng doanh nghiệp cụ thể, đồng thời khuyến kích các bên tranh luận thêm64 để thuyết phục DOC trước khi cơ quan này ra quyết định về kết quả rà soát cuối cùng DOC có thời gian tối đa là 245 ngày (và có thể được gia hạn thêm tối đa 120 ngày) để ra quyết định sơ bộ tính từ ngày cuối cùng của tháng kỷ niệm Sau khi ra quyết định sơ bộ, tính từ khi quyết định này được đăng trên công báo liên bang, DOC có thời gian tối đa là 120 ngày (và có thể gia hạn thêm 60 ngày) để ra kết quả Rà soát cuối cùng65 Như vậy, DOC có một khoản thời gian tối đa là 1 năm 6 tháng để hoàn tất một đợt POR
Ví dụ: trong vụ kiện bán phá giá một số sản phẩm các Phi lê đông lạnh xuất khẩu của Việt Nam (DOC ký hiệu vụ A-552-801), quyết định về lệnh áp thuế chống bán phá giá được DOC đưa ra ngày 13/8/2003, DOC đăng Cơ hội rà soát trên Công báo liên bang ngày 3/8/2004 Các doanh nghiệp Việt Nam có liên quan nộp yêu cầu
rà soát trong các ngày 27 và 31/8/2004 Ngày 22/9/2004 DOC đăng trên công báo liên bang việc tiến hành RSHC và các đối tượng rà soát Theo quy định, DOC phải
ra kết luận RSHC sơ bộ trước ngày 3/5/2005 (cách không quá 245 ngày tính từ ngày 31/8/2004) Tuy nhiên, lấy lý do có 8 doanh nghiệp Việt Nam rút yêu cầu rà soát, DOC đã gia hạn thêm thời gian ra quyết định sơ bộ đến 31/8/2005 Đến ngày 13/9/2005, kết quả rà soát sơ bộ được đăng trên Công báo liên bang.66 Ngày 21/3/2006, DOC công bố kết quả rà soát cuối cùng cho đợt POR1 đối với một số sản phẩm Phi lê cá da trơn đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam (DOC tiếp tục gia hạn thời gian tối đa theo quy định để ra quyết định cuối cùng)
Trang 35RSHC nếu rơi vào một trong bốn trường hợp sau: (1) yêu cầu rà soát của (một phần hoặc tất cả) các bên có liên quan được rút lại; (2) DOC thấy cần thiết phải đình chỉ thủ tục rà soát đối với dạng rà soát do chính DOC tự khởi xướng; (3) DOC xác định không có hàng hóa nhập khẩu (no shipments) vào Hoa Kỳ trong giai đoạn DOC dự định rà soát67; (4) không có thông tin về các hoạt động bán hàng có thể tin cậy được (bona fide sales) của của sản phẩm tại thị trường Hoa Kỳ ở giai đoạn DOC dự định
rà soát68 Với việc đình chỉ rà soát hành chính, các sản phẩm nhập khẩu (nếu có) sẽ chịu mức thuế cuối cùng bằng với mức tiền đặt cọc thuế
1.2.4 Một số điểm khác biệt giữa “Rà soát hành chính” và “Điều tra chống bán phá giá”
Trong giai đoạn điều tra chống bán phá giá (giai đoạn điều tra ban đầu), một phần trong hoạt động của các cơ quan hữu quan của Hoa Kỳ cũng là tiến hành thu thập thông tin, đánh giá, tính toán biên độ phá giá để từ đó quyết định mức thuế chống bán phá giá cho hàng hóa của các doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ Về hình thức, các thủ tục RSHC do DOC tiến hành bao gồm các hoạt động tương tự mà cơ quan này tiến hành trong giai đoạn điều tra chống bán phá giá69 như: gửi bản câu hỏi đến các bên có liên quan, tiến hành xác minh thực tế nếu cần thiết, tổ chức phiên điều trần nếu có yêu cầu, tính toán biên độ phá giá và
67
19 CFR 351.213 d (1), (2), (3)
68
Đây là trường hợp xuất phát từ án lệ tại Tòa án thương mại quốc tế Hoa Kỳ (CIT) xét xử vụ công
ty Windmill international PTE., LTD (chuyên xuất khẩu tấm thép carbon từ Rumari sang Hoa Kỳ) kiện quyết định đình chỉ rà soát hành chính của DOC đối với công ty này giai đoạn từ 1/8/1996 đến 31/7/1997 (Xem thêm tại 63 RF 47232) Trong quyết định cuối cùng, CIT cho rằng DOC đã hành động đúng khi quyết định đình chỉ rà soát hành chính với lý do thiếu thông tin về hoạt động bán hàng
có thể tin cậy được và bác đơn của công ty Windmill (Vụ kiện Windmill Int'l Pte., Ltd v United
States, 26 CIT 221, 222, 193 F Supp 2d 1303, 1305 (2002)) Cụm từ bona fide với nghĩa như trên
xuất phát từ quyết định của CIT trong vụ kiện PQ Corporation v United States, 652 F Supp 724,
729 (CIT 1987)
69
19 CFR 351.221(a)
Trang 36mức thuế chống bán phá giá… Tuy nhiên, có những khác biệt nhất định trong các hoạt động này ở giai đoạn điều tra và giai đoạn tiến hành RSHC Thậm chí, theo hướng dẫn của DOC, tồn tại rất nhiều khác biệt trong các thủ tục và cách phân tích của DOC70 Cụ thể như sau:
1.2.4.1.Khác biệt về chủ thể tiến hành
Nếu giai đoạn điều tra ban đầu cần có sự tiến hành của cả 2 cơ quan là DOC
và ITC thì giai đoạn RSHC chỉ có một chủ thể tiến hành là DOC71 Điều này cũng đồng nghĩa với việc DOC toàn quyền trong các quyết định ở giai đoạn RSHC mà không chịu ảnh hưởng từ bất cứ cơ quan nào khác Cần khẳng định lại rằng RSHC chỉ là việc tính toán biên độ phá giá đối với các lô hàng nhập khẩu mà không xem xét lại về thiệt hại (hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng) đối với nền sản xuất nội địa72 Việc chỉ có một mình DOC tiến hành điều tra, đánh giá trong giai đoạn RSHC,
ở khía cạnh tố tụng, sẽ giúp cho các bên có liên quan tập trung cung cấp các thông tin chứng cứ để thuyết phục DOC đưa ra các quyết định có lợi cho mình Trong khi
đó, ở giai đoạn điều tra ban đầu, xuất phát từ việc có 2 cơ quan cùng tham gia (ITC điều tra về thiệt hại, DOC điều tra về hành vi bán phá giá), các quyết định sơ bộ và quyết định cuối cùng của DOC trong giai đoạn này có mối liên hệ chặt chẽ với các quyết định của ITC Ví dụ, nếu trong lần điều tra cuối cùng về thiệt hại của ITC, cơ quan này ra kết luận hành vi bán sản phẩm của doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường Hoa Kỳ không gây thiệt hại (hoặc không đe dọa gây thiệt hại) đối với nền sản xuất sản phẩm tương tự trong nước của Hoa Kỳ thì DOC không thể ra quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá dù cho trước đó DOC có kết luận điều tra cuối cùng khẳng định có bán phá giá với biên độ phá giá cụ thể
1.2.4.2 Khác biệt về đối tượng tiến hành rà soát/ điều tra
Trang 37Đối tượng mà DOC Rà soát hành chính và đối tượng mà DOC điều tra trong giai đoạn điều tra ban đầu là hoàn toàn khác nhau Trong giai đoạn điều tra ban đầu, đối tượng để DOC tiến hành điều tra là các lô hàng xuất khẩu vào Hoa Kỳ ngày trước tháng các doanh nghiệp nội địa nộp đơn khởi kiện hoặc DOC bắt đầu tự điều tra bán phá giá73 Thực chất, các lô hàng này không bị áp thuế chống bán phá giá mà chỉ là đối tượng để DOC quyết định mức ký quỹ cho các lô hàng tiếp theo Ngược lại, trong giai đoạn RSHC, DOC chỉ xem xét các lô hàng xuất sang Hoa Kỳ sau khi
có quyết định điều tra sơ bộ và việc đánh giá các lô hàng này đi kèm với quyết định
về mức thuế cụ thể đối với từng lô hàng được xem xét Một điểm khác biệt nữa là trong giai đoạn điều tra ban đầu, diện đối tượng DOC tiến hành điều tra rộng hơn (gần như toàn bộ các lô hàng nhập khẩu) Trong khi đó, ở các kỳ Rà soát, DOC chỉ tiến hành xem xét các lô hàng của các nhà xuất khẩu theo yêu cầu rà soát, và không xem xét các nhà xuất khẩu không có yêu cầu rà soát74
Có thể nói, điều tra ban đầu thực chất là điều tra bán phá giá đối tượng gián tiếp vì đây là đối tượng không có nghĩa vụ khắc phục hậu quả đối với hành vi bán phá giá RSHC là điều tra bán phá giá đối tượng trực tiếp và phải khắc phục hậu quả
do hành vi bán phá giá của mình gây ra Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất của RSHC so với điều tra ban đầu
1.2.4.3 Một số khác biệt đáng chú ý khác
Một là, về căn cứ tiến hành: Nếu điều tra chống bán phá giá được khởi
xướng bởi chính DOC hoặc nguyên đơn (ngành sản xuất nội địa) thì trong RSHC,
73
Tại quy đinh ở 19 CRF 351.204 (b) (1), pháp luật Hoa Kỳ quy định đối tượng để điều tra chống bán phá giá là các lô hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ liền trước tháng mà các doanh nghiệp nội địa gửi đơn yêu cầu điều tra hoặc DOC tự khởi xướng điều tra bán phá giá 04 quý liên tiếp đối với các nền kinh tế thị trường và 2 quý liên tiếp đối với nền kinh tế phi thị trường Trong vụ kiện bán phá giá một
số sản phẩm Phi lê cá đông lạnh của Việt Nam, DOC chọn các lô hàng nhập khẩu trong giai đoạn từ 01/10/2001 đến 31/3/2002 (2 quý liên tiếp) để điều tra
74
WHITE & CASE LLP YKVN , tlđd21, Chương 7
Trang 38DOC phải tiến hành thủ tục này cả khi có yêu cầu của bị đơn (các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài bị áp thuế chống bán phá giá) Mặc dù DOC có thể tự tiến hành RSHC nhưng cơ quan này không buộc phải tự động rà soát theo định kỳ hàng năm Có thể thấy, nếu căn cứ tiến hành giai đoạn điều tra ban đầu bắt nguồn từ quyền lợi của phía Hoa Kỳ thì thông thường, khởi nguồn của RSHC lại xuất phát từ yêu cầu đòi quyền lợi của các nhà xuất khẩu nước ngoài muốn có cơ hội làm giảm bớt (hoặc triệt tiêu) mức thuế chống bán phá giá
Hai là, về giá trị pháp lý của Quyết định điều tra sơ bộ trong giai đoạn điều
tra ban đầu và Kết quả rà soát sơ bộ trong giai đoạn RSHC: Quyết định điều tra sơ
bộ điều ngay lập tức sẽ buộc các nhà xuất khẩu (hoặc nhà nhập khẩu, tùy theo dạng hợp đồng) bắt đầu đóng tiền ký quỹ tương ứng cho các lô hàng xuất vào thị trường Hoa Kỳ kể từ thời điểm quyết đinh sơ bộ được công bố dẫn đến tạo ra ngay lập tức ảnh hưởng kinh tế đến các nhà xuất khẩu Trong khi đó, không giống như Quyết định điều tra sơ bộ, kết quả rà soát sơ bộ trong các POR không có ảnh hưởng kinh tế Các kết quả rà soát sơ bộ không làm thay đổi tỷ lệ đặt cọc hoặc nghĩa vụ thuế Nó chỉ là một quyết định tạm thời với mục đích cung cấp các cơ hội và thông tin định hướng cho các bên có liên quan góp ý, cung cấp chứng cứ chứng minh để thuyết phục DOC trước khi cơ quan này ra quyết định cuối cùng của một đợt RSHC
Ba là, về biên độ phá giá không đáng kể (de minimis margins): Việc quy
định biên độ phá giá không đáng kể có ảnh hưởng trực tiếp đến việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Theo đó, nếu biên độ phá giá của sản phẩm nhập khẩu được DOC tính toán nằm trong mức được xác định thuộc biên độ phá giá không đáng kể thì dù sản phẩm nhập khẩu có được xác định là có bán phá giá nhưng nước nhập khẩu không áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (trong đó có hình thức
áp thuế chống bán phá giá) Trong giai đoạn điều tra ban đầu, Hoa Kỳ áp dụng biên
độ phá giá không đáng kể ở mức dưới 2%.75
Nghĩa là nếu DOC tính toán biên độ
75
19 U.S.C § 1673b (b) (3)
Trang 39phá giá chung cho sản phẩm nhập khẩu bị điều tra đạt mức dưới 2% thì sẽ không áp dụng các biện phá chống bán phá giá Tuy nhiên, trong giai đoạn RSHC, như đã trình bày ở trên, biên độ phá giá không đáng kể được luật pháp Hoa Kỳ quy định là
ở mức dưới 0,5%
Như vậy, RSHC được pháp luật Hoa Kỳ quy định chi tiết với trình tự thủ tục tiến hành rất chặt chẽ Nhất là, RSHC có nhiều điểm đặc trưng khác biệt so với giai đoạn điều tra ban đầu
1.3 Một số vụ kiện tại WTO liên quan đến việc Hoa Kỳ tiến hành rà soát hành chính chống bán phá giá
Là một thành viên quan trọng của WTO cũng như trong quan hệ kinh tế đối với các nước trên thế giới, nghiên cứu quy định về RSHC của Hoa Kỳ không thể tách rời việc so sánh nó với các quy định có liên quan của WTO Trong phần này, tác giả thông qua các vụ kiện tại WTO, tìm ra những khác biệt cơ bản giữa pháp luật WTO với quy định của Hoa Kỳ từ đó làm rõ thêm chế định RSHC của Hoa Kỳ Đồng thời cũng tạo tiền đề tiếp cận một số nội dụng của Chương 2, khi mà trên thực
tế Việt Nam cũng đã tiến hành 2 vụ kiện liên quan đến chế định này đối với sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kỳ của Việt Nam
Trên thực tế, trong các hiệp định của WTO không đề cập đến cụm từ “rà soát hành chính chống bán phá giá” Ngay trong hiệp định ADA cũng không đề cập đến
cụm từ này Tuy nhiên, WTO thừa nhận tính hợp pháp của hình thức thu thuế chống bán phá giá trên cơ sở hồi tố76 và như vậy là gián tiếp thừa nhận việc các nước thành viên tiến hành các biện pháp để thu thuế hồi tố thuế chống bán phá giá Mặt khác, do RSHC thực chất là một quy trình DOC tính toán biên độ phá giá để từ đó đưa ra mức thuế chống bán phá giá đối với các sản phẩm nhập khẩu, nằm trong toàn
bộ quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ, nên quy trình này cũng chịu sự điều
76
Điều 9.3.1 Hiệp định ADA
Trang 40chỉnh của một số quy định của WTO đặc biệt là toàn bộ Hiệp định ADA bao gồm: Quy định về thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng (Điều VI, GATT 1994); các quy định về xác định việc bán phá giá (các quy định tại Điều 2 của ADA); các quy định về việc cung cấp bằng chứng (Điều 6 ADA); quyết định đánh thuế và thu thuế chống bán phá giá (các quy định tại điều 9 ADA); thời hạn áp dụng và việc xem xét lại thuế chống bán phá giá và cam kết về giá (điều 11 của ADA) Ngoài ra, việc tiến hành RSHC cũng phải đảm bảo tiêu chí chung của pháp luật WTO quy định cho tất cả các thành viên, trong đó có Hoa Kỳ như Quy tắc đối xử quốc gia về thuế (điều I GATT 1994); Đối xử quốc gia về thuế và quy tắc trong nước (điều III GATT 1994); Quy định về việc loại bỏ chung các hạn chế định lượng (Điều XI, GATT 1994); Quy định về các ngoại lệ chung (Điều XX, GATT 1994)…
Qua nghiên cứu tổng thể các vụ kiện được cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO thụ lý, tính từ khi WTO được thành lập đến cuối năm 2014, Hoa Kỳ đã đối mặt với 48 vụ kiện liên quan đến việc thực hiện quy trình chống bán phá giá của Hoa Kỳ không phù hợp với các quy định của WTO, cụ thể là việc thực thi theo quy định của Điều VI GATT1994 và Hiệp định ADA bao gồm các vụ: DS49, DS63; DS98, DS99, DS136, DS162, DS179, DS184, DS206, DS217, DS221, DS225, DS234, DS239, DS244, DS247, DS262, DS264, DS268, DS277, DS 281, DS282, DS294, DS310, DS319, DS322, DS324, DS325, DS335, DS343, DS344, 345, DS346, DS 350, DS368, DS379, DS382, DS383, DS402, DS404, DS420, DS422, DS424, DS429, DS449, DS464, DS471, DS488 Trong đó, có 20 vụ kiện có liên quan trực tiếp đến việc Hoa Kỳ thực hiện quy trình RSHC bao gồm: DS63, DS239, DS281, DS282, DS294, DS319, DS322, DS325, DS344, DS346, DS350, DS382, DS404, DS420, DS422, DS422, DS429, DS449, DS471 và DS488 Trong 8 năm gần đây (từ năm 2006-2014) đã có 12 vụ các nước khởi kiện Hoa Kỳ tại WTO liên quan trực tiếp đến việc Hoa Kỳ thực hiện quy trình RSHC, chiếm 60% các vụ kiện liên quan đến vấn đề này (từ DS344 đến DS488) Đáng chú ý, tất các các vụ kiện liên quan đến chế định RSHC của Hoa Kỳ tại WTO, các nước đều có nội dung khởi