1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÀNH NGHỀ NÔNGTHÔN

126 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: Pháttriển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; hình thành các khu vực tập trungcông nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề g

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN 1.1 Ngành nghề nông thôn 3 1.2 Nghề truyền thống 4 1.2.1 Khái niệm và đặc trưng 4

1.2.2 Phân loại 4

1.2.3 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống 5

1.3 Làng nghề 6 1.3.1 Khái niệm và đặc trưng 6

1.3.2 Tiêu chí phân loại làng nghề 7

1.3.3 Tiêu chí công nhận làng nghề 8

1.4 Làng nghề truyền thống 9 1.4.1 Khái niệm 9

1.4.2 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống 9

1.4.3 Tiêu chuẩn công nhận nghệ nhân 9

1.5 Làng nghề mới 10 1.6 Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển ngành nghề nông thôn 11 1.6.1 Kinh nghiệm phát triển ngành nghề nông thôn trên thế giới 11

1.6.1.1 Ấn Độ 11

1.6.1.2 Nhật Bản 11

1.6.1.3 Thái Lan 13

1.6.1.4 Indonesia 14

1.6.1.5 Hàn Quốc 15

1.6.2 Kinh nghiệm phát triển ngành nghề của một số địa phương trong nước 15

1.6.2.1 Kinh nghiệm xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp làng nghề của tỉnh Bắc Ninh 15

1.6.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thừa Thiên - Huế 17

1.6.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam 18

1.6.2.4 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của tỉnh Quảng Bình 19

1.6.3 Bài học kinh nghiệm cho Đà Nẵng 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Tổng quan về nông nghiệp, nông thôn và ngành nghề nông thôn thành phố Đà Nẵng 22

2.1.1 Một số đặc điểm của thành phố Đà Nẵng 22

2.1.2 Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp: (Bổ sung số liệu 2012 Done) 24

2.1.3 Thực trạng các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp 25

2.2 Thực trạng ngành nghề nông thôn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 28

Trang 2

2.2.1 Tổng quan thực trạng ngành nghề nông thôn 28

2.2.2 Kết quả khảo sát một số ngành nghề nông thôn Đà Nẵng 32

2.2.2.1 Giới thiệu cuộc khảo sát 32

2.2.2.1 Kết quả khảo sát 33

2.2.3 Công tác quản lý ngành nghề nông thôn 45

2.2.3.1 Bộ máy quản lý ngành nghề nông thôn 45

2.2.3.2 Cơ chế chính sách ngành nghề nông thôn 46

2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn Đà Nẵng 49 2.3.1 Kết quả đạt được 49

2.3.2 Tồn tại, hạn chế 49

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020 3.1 Chủ trương và định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn thành phố Đà Nẵng 52 3.1.1 Các chủ trương, chính sách 52

3.1.2 Định hướng phát triển ngành nông nghiệp thành phố Đà Nẵng 53

3.2 Xây dựng định hướng phát triển ngành nghề nông thôn thành phố Đà Nẵng 55 3.2.1 Quan điểm phát triển 55

3.2.2 Mục tiêu phát triển 56

3.2.3 Định hướng phát triển ngành nghề nông thôn 56

3.2.3.1 Ưu tiên lựa chọn các ngành nghề nông thôn cần phát triển 56

3.2.3.2 Định hướng phát triển theo ngành nghề 60

3.2.3.3 Định hướng phát triển theo không gian, lãnh thổ 61

3.3 Các giải pháp chung phát triển ngành nghề nông thôn 61 3.3.1 Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm 61

3.3.2 Tăng cường vệ sinh an toàn sản phẩm 62

3.3.3 Chủ động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm 62

3.3.4 Tăng cường gia nhập hợp tác xã, liên minh các hợp tác xã cùng ngành nghề 63

3.3.5 Tăng cường các liên kết khác 65

3.4 Một số giải pháp đối với cơ quan quản lý 65 3.4.1 Tăng cường năng lực tiếp thị, văn minh thương mại cho các CSSX 65

3.4.2 Tổ chức hội chợ, triển lãm, gian hàng lưu động 66

3.4.3 Hỗ trợ nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm 67

3.4.4 Khuyến khích các mô hình liên kết 68

3.4.5 Phát động phong trào mỗi làng một nghề 68

3.4.6 Khuyến khích dùng hàng địa phương 69

3.4.7 Giải pháp về vốn và mặt bằng 69

a) Về vốn 69

b) Về mặt bằng 70

ii

Trang 3

3.4.8 Giải pháp về nguyên vật liệu 70

a) Phát triển tối đa nguồn nguyên liệu địa phương 71

b) Hỗ trợ thu mua nguyên liệu từ bên ngoài 71

3.4.9 Giải pháp về nguồn nhân lực 72

a) Khuyến khích người dân tham gia vào hoạt động sản xuất 72

b) Đào tạo, truyền nghề 72

c) Thăm quan, học hỏi kinh nghiệm 73

3.4.10 Giải pháp về công nghệ 73

3.4.11 Giải pháp về môi trường đầu tư 74

a) Cơ sở hạ tầng 74

b) Cơ chế chính sách 75

3.5 Một số giải pháp riêng cho huyện Hòa Vang 77 3.5.1 Thành lập HTX Đá chẻ và quy hoạch làng nghề Đá chẻ 77

3.5.2 Phát triển mạnh nghề trồng nấm 78

3.5.3 Quy hoạch vùng chuyên canh hoa 78

3.5.3 Xây dựng sản phẩm làng du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn làng nghề 79

3.6 Một số giải pháp riêng cho các quận nội thành 79 KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 1 THÔNG TIN KHẢO SÁT 82

PHỤ LỤC 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT 83

PHỤ LỤC 3 NỘI DUNG ĐỀ ÁN 102

Trang 4

iv

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 1 Tình hình phát triển một số ngành nghề nông thôn thành phố Đà Nẵng

năm 2011-2012 28

Bảng 2 Số lượng lao động của một số ngành nghề 30

Bảng 3: Dự báo nhu cầu thị trường đối với một số sản phẩm NNNT 56

Bảng 4: Thuận lợi, khó khăn và giải pháp kiến nghị phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn các quận, huyện 57

Bảng 5: Trật tự ưu tiên phát triển một số ngành nghề nông thôn của các quận 59

Bảng 6: Dự báo quy mô một số ngành nghề nông thôn tại các quận huyện 60

Bảng 7 Cơ cấu phiếu khảo sát 82

Bảng 8 Cơ cấu người lao động phân theo ngành nghề và độ tuổi 82

Bảng 9 Cơ cấu người dân phân theo ngành nghề, giới tính và độ tuổi 82

Bảng 10: Ý kiến của các cơ quan quản lý quận, huyện về phát triển ngành nghề nông thôn 98

Bảng 11: Dự báo quy mô một số ngành nghề nông thôn tại các quận huyện 101

Biểu 1 Tỷ lệ cơ sở sản xuất theo ngành nghề 33

Biểu 2 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp 34

Biểu 3 Nguyên nhân của tình trạng thua lỗ 34

Biểu 4 Dự báo nhu cầu thị trường đối với sản phẩm của các cơ sở sản xuất 35

Biểu 5 Khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm 37

Biểu 6 Mẫu mã sản phẩm đang sản xuất 38

Biểu 7 Vốn kinh doanh của cơ sở sản xuất 40

Biểu 8 Khó khăn trong mở rộng mặt bằng sản xuất kinh doanh 41

Biểu 9 Khó khăn trong thu mua nguyên liệu 41

Biểu 10 Thu nhập bình quân người lao động phân theo ngành nghề 42

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết xây dựng đề án

Phát triển ngành nghề nông thôn là một trong những nội dung lớn của Đảng vàNhà nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn nhằm thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: Pháttriển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; hình thành các khu vực tập trungcông nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với thị trườngtrong nước và xuất khẩu; chuyển một phần công nghiệp gia công và chế biến nông sản

ở thành phố về nông thôn, có chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư của mọi thành phầnkinh tế vào phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn

Trong những năm qua, ngành nghề nông thôn Việt Nam nói chung, của thànhphố Đà Nẵng nói riêng đã có bước phát triển mạnh, các làng nghề cùng với các cơ sởsản xuất (CSSX) ngành nghề nông thôn đã có những đóng góp quan trọng trong pháttriển kinh tế - xã hội của thành phố Tuy vậy, các làng nghề và các ngành nghề nôngthôn của thành phố Đà Nẵng thời gian qua phát triển còn nhiều bất cập: quy mô các cơ

sở sản xuất còn nhỏ, phân tán, manh mún; thiết bị và công nghệ còn lạc hậu, năng suấtlao động thấp, chất lượng và mẫu mã của sản phẩm chưa đáp ứng thị hiếu ngày càngkhắt khe của người tiêu dùng

Việc nghiên cứu giải pháp phát triển ngành nghề nông thôn của thành phố làmột việc làm cần thiết nhằm phát huy tối đa những lợi thế của địa phương, cũng nhưkhai thác tốt các cơ hội mới xuất hiện trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời đảm bảo

sự phát triển cân đối, thống nhất và hài hoà trong quy hoạch tổng thể chung của thànhphố Đề án này sẽ đánh giá thực trạng phát triển của các ngành nghề nông thôn trênđịa bàn thành phố, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, các địa phương khác để đưa

ra định hướng và giải pháp phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn thành phố ĐàNẵng đến năm 2020

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Khảo sát và đánh giá thực trạng ngành nghề nông thôn trên địa bàn thành phố

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các định hướng về phát triển ngành nghề nông thôn;các cá nhân, cơ sở sản xuất (CSSX), các hợp tác xã (HTX) sản xuất các sản phẩm

1

Trang 7

ngành nghề nông thôn, người lao động tại các cơ sở và người dân sống xung quanhkhu vực sản xuất.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề án nghiên cứu các ngành nghề nông thôn (bao gồmcác ngành nghề, làng nghề ở huyện Hòa Vang, các nghề mỹ nghệ, thủ công, làng nghề

ở các quận của thành phố Đà Nẵng)

1.4 Kết cấu báo cáo

Nội dung nghiên cứu được trình bày thành 3 chương và 3 phụ lục, gồm:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về ngành nghề nông thôn

Chương 2: Thực trạng ngành nghề nông thôn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng tới năm 2020

Phụ lục 1: Thông tin khảo sát

Phụ lục 2: Kết quả khảo sát

Phụ lục 3: Nội dung Đề án

Trang 8

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN

1.1 Ngành nghề nông thôn

Theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủthì ngành nghề nông thôn bao gồm:

- Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản

- Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơkhí nhỏ

- Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn

- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ

- Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh

- Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sảnxuất, đời sống dân cư nông thôn

- Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vựcngành nghề nông thôn

Hoạt động theo các loại hình tổ chức sản xuất sau:

+ Cơ sở ngành nghề nông thôn bao gồm:

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

- Hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã;

- Hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký kinhdoanh

+ Làng nghề (LN), cụm cơ sở ngành nghề nông thôn

Ngành ngành nghề nông thôn nông thôn có những đặc điểm sau:

- Ngành ngành nghề nông thôn nông thôn là những hoạt động sản xuất phinông nghiệp ở nông thôn

- Sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thủ công kết hợp với nửa cơ khí có sựthống nhất và hoà đồng giữa công nghiệp phát triển thành thị với TTCN ở nông thôn

- Lao động nông nghiệp và ngành ngành nghề nông thôngắn kết chặt chẽ vớinhau: nông dân vừa làm nông nghiệp vừa tranh thủ làm TTCN và ngành nghề nôngthôn mặc dù tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn

- Công cụ và kỹ thuật sản xuất thường thủ công và sản phẩm được sản xuất ramang tính đơn chiếc

- Sản phẩm có tính hàng hoá cao

3

Trang 9

Tóm lại, ngành ngành nghề nông thôn được hình thành là kết quả của quá trìnhphân công lao động lâu dài ở nông thôn Nó tồn tại đan xen, tương hỗ với các nghềkhác, nhất là nghề nông trong quá trình phát triển nông thôn, đặc biệt là trong quátrình đô thị hoá đang diễn ra nhanh.

1.2 Nghề truyền thống

1.2.1 Khái niệm và đặc trưng

Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của mộtcộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế

hệ khác Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy nhiên cũng có sự phát triểntheo lịch sử Truyền thống được biểu hiện ở hình thức như truyền thống học tập, lễ hộitruyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống

Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn thì: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời,tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đếnngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.”

Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là: phải có kỹ thuật và côngnghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Sản phẩmlàm ra phải có tính hàng hoá, đồng thời có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc vănhoá dân tộc

Những nghề truyền thống thường được truyền trong một gia đình, một dòng họ,một làng, một vùng Trong những làng nghề truyền thống, đa số người dân đều hànhnghề truyền thống đó Ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác, nhữngnghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với nghề truyền thống

Ngày nay, việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quytrình công nghệ mới với nhiều loại nguyên vật liệu mới Do vậy khái niệm nghềtruyền thống cũng được nghiên cứu và mở rộng hơn

1.2.2 Phân loại

Hiện nay ở nước ta tồn tại nhiều nghề truyền thống khác nhau, phân bố khắpnơi trong cả nước, được tập trung nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng Việc phân loạicác nhóm nghề tương đối khó khăn, nó chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi vì một sốngười có thể vừa thuộc nhóm này song cũng có thể vừa thuộc nhóm khác Mặt khác,một số nghề đối với địa phương được coi là nghề truyền thống, nhưng trên phạm vi vĩ

mô có thể chưa được gọi là nghề truyền thống Có nhiều cách phân loại nghề, tuynhiên có thể xem xét một số cách như sau:

a) Phân loại theo trình độ kĩ thuật:

Trang 10

- Loại nghề có kĩ thuật đơn giản, sản phẩm của những nghề này có tính chấtthông dụng, phục vụ nhu cầu hằng ngày của dân cư nông thôn.

- Loại nghề có kĩ thuật phức tạp: Các nghề này không chỉ có kĩ thuật công nghệphức tạp mà còn đòi hỏi nhiều ở người thợ sự sáng tạo và khéo léo Sản phẩm có giátrị kinh tế, vừa mang tính văn hóa; không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn có thể xuấtkhẩu đi nhiều nước trên thế giới

b) Phân loại theo tính chất kinh tế:

- Loại nghề thường phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, đây lànghề phụ của hầu hết gia đình nông dân, sản phẩm ít mang tính chất hàng hóa, chủyếu là phục vụ nhu cầu tại chỗ như: chế biến nông sản, sản xuất công cụ như cày bừa,liềm hái…

- Loại nghề mà hoạt động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp,những nghề này được phát triển bởi sự tiến bộ của trình độ kĩ thuật công nghệ và trình

độ tay nghề của người thợ, sản phẩm thể hiện tài năng sáng tạo và sự khéo léo củangười thợ, đặc biệt sản phẩm tạo ra trở thành hàng hóa, đem lại thu nhập cao chongười sản xuất, tiêu biểu là: nghề dệt, gốm sứ, kim hoàn

Tuy nhiên, cách phân loại trên chỉ phụ thuộc trong điều kiện trước đây, ngàynay trong nền kinh tế thị trường, nhiều nghề đã phát triển mạnh Dựa vào giá trị sửdụng của các sản phẩm, có thể phân loại các ngành nghề truyền thống theo các nhómchính như sau:

+ Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, chạmkhảm gỗ, chạm khắc đá, thêu, vàng bạc…

+ Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như: nề, mộc, hàn, đúcđồng, gang, nhôm, sản xuất vật liệu xây dựng, công cụ…

+ Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như: dệt vải, dệt chiếu, khâunón…

+ Các ngành nghề chế biến lương thực thực phẩm như: xay xát, làm bún bánh,nấu rượu, nấu đường mật, chế biến thủy sản…

1.2.3 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống

Nghề được công nhận là nghề truyền thống (theo Thông tư 116/2006/TT- BNNcủa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phải đạt 03 tiêu chí sau:

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận;

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;

5

Trang 11

- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làngnghề.

1.3 Làng nghề

1.3.1 Khái niệm và đặc trưng

Thôn, làng là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính ở nông thônbao hàm là một tập hợp cộng đồng dân cư trên một vùng lãnh thổ xác định, có khảnăng độc lập về kinh tế Trong điều kiện chống ngoại xâm, thiên tai thì họ là một cộngđồng thống nhất Họ còn là một cộng đồng văn hóa gắn liền với biểu tượng cây đa,giếng nước, mái đình

Làng, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, là một khối người quây quần ởmột nơi nhất định trong nông thôn Làng là một tế bào của xã hội của người Việt, làmột tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một không gian lãnh thổnhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất.Trong quá trình đô thị hóa, khái niệm làng được hiểu một cách tương đối Một số địaphương hiện nay không còn được gọi là làng mà thay vào đó là những tên gọi khácnhư phố, khối phố Tuy nhiên, dù tên gọi là có thay đổi nhưng bản chất của cộng đồngdân cư đó vẫn gắn với nông thôn thì vẫn được xem là làng

Các làng ở nước ta được chia làm 4 loại chính:

- Làng thuần nông hay còn gọi là làng nông nghiệp, là những làng nghề nôngmột cách thuần túy

- Làng buôn bán, là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của một sốthương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp

- Làng nghề, là làng làm nghề nông nghiệp nhưng có thêm một số nghề thủcông

- Làng chài, là làng của các cư dân làm nghề chài lưới, đánh cá sống ở vensông, ven biển

Sự xuất hiện của các nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngành nghệphụ, chủ yếu được nông dân tiến hành trong lúc nông nhàn Về sau, do quá trình phâncông lao động, các ngành nghề thủ công tách dần khỏi nông nghiệp nhưng lại phục vụtrực tiếp cho nông nghiệp, khi đó người thợ thủ công có thể không còn sản xuất nôngnghiệp nhưng họ vẫn gắn chặt với làng quê mình Khi nghề thủ công phát triển, sốngười chuyên làm nghề thủ công và sống được bằng nghề này tăng lên, điều nay diễn

ra ngay trong các làng quê và đó là cơ sở cho sự tồn tại của các làng nghề ở nôngthôn

Từ những luận điểm và lý luận trên đã có nhiều định nghĩa về làng nghề đượcđưa ra Đề án sử dụng khái niệm làng nghề theo Thông tư 116/2006/TT- BNN của Bộ

Trang 12

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấpthôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một

xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loạisản phẩm khác nhau”

Thực tế cho thấy “Làng nghề” là một tập hợp từ thể hiện một không gian vùngquê nông thôn, ở đó có những hộ thuộc một số dòng tộc nhất định sinh sống Ngoàisản xuất nông nghiệp, họ còn có một số nghề sản xuất phi nông nghiệp Trong cáclàng nghề này tồn tại đan xen nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội phong phú và phứctạp Làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông nghiệp chiếm ưuthế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông

Như vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính sau: “Làngnghề là một thiết chế KT-XH ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề,tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinhsống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội

và văn hóa”

Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và pháttriển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầuphát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam vớinhững đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ, tựcấp, tự túc Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng mà ở đó có số ngườichuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đóchiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng

Ngày nay, làng nghề được hiểu theo nghĩa rộng, không bó hẹp trong phạm vihành chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng cùng một tiểu vùng, cùng địa

lí kinh tế, cùng sản xuất một chủng loại hàng hóa truyền thống hoặc cùng kinh doanhliên quan đến một nghề phi nông nghiệp và có quan hệ mật thiết với nhau về KT-XH

Mặt khác, có những địa phương tất cả các làng trong xã đều là làng nghề, trongtrường hợp này, người ta gọi là “xã nghề” Ngành nghề phi nông nghiệp ở các làngnghề cũng được mở rộng, bao gồm các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như: côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống có quy mô vừa

và nhỏ, với các thành phần kinh tế và các tổ chức kinh doanh như: hộ sản xuất, tổ hợp,hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần

1.3.2 Tiêu chí phân loại làng nghề

Cũng như phân loại nghề, việc phân loại làng nghề gặp nhiều khó khăn bởi tính

đa dạng về quy mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành; có thể phân loại làng nghề theo cáctiêu chí sau:

a) Theo lịch sử hình thành và phát triển các làng nghề:

7

Trang 13

c) Theo quy mô làng nghề:

- Làng nghề quy mô lớn, lan tỏa, liên kết nhiều làng làm cùng một nghề hoặccùng một không gian địa lí lãnh thổ, tạo thành vùng nghề hoặc xã nghề ở đó các làngnghề, có quy mô lao động phi nông nghiệp rất lớn, không chỉ với lực lượng lao độngtại chỗ mà còn thu hút nhiều lao động đến làm thuê;

- Làng nghề quy mô nhỏ, là trong phạm vi một làng theo địa giới hành chính Ởcác làng nghề này thường hoạt động kinh doanh một ngành nghề phi nông nghiệp,được truyền nghề theo phạm vi dòng tộc

d) Theo loại hình kinh doanh của làng nghề có tính phổ biến ở Việt Nam:

- Các làng nghề truyền thống chuyên doanh một chủng loại sản phẩm hàng hoá;

- Các làng nghề kinh doanh tổng hợp một số sản phẩm truyền thống;

- Các làng nghề vừa chuyên doanh các sản phẩm truyền thống vừa phát triểncác ngành nghề mới như dịch vụ, xây dựng Loại làng nghề này phát triển mạnh trongnhững năm gần đây

e) Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề:

- Các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh các ngành nghề phinông nghiệp;

- Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp;

- Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu

Trang 14

(2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm

Như vậy LNTT được hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời gian vẫnduy trì và phát triển, được lưu truyền từ đời này qua đời khác Trong các LNTTthường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làmnghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề được thực hiện bằngphương pháp truyền nghề

1.4.2 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống

LNTT phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quyđịnh

Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn (1), (2) của tiêu chí công nhận làngnghề nêu trên nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy địnhthì cũng được công nhận là LNTT

1.4.3 Tiêu chuẩn công nhận nghệ nhân

Thông tư liên tịch số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT ngày30/5/5002 giữa Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Lao động –TBXH và Bộ Văn hoá-Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) hướng dẫn về tiêu chuẩn, thủ tụcxét công nhận danh hiệu và một số chính sách đối với nghệ nhân Trong đó, công dânViệt Nam làm việc trong các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệtruyền thống của Việt Nam được xét danh hiệu nghệ nhân nếu đủ các điều kiện sau:

9

Trang 15

+ Là người thợ giỏi, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện, cókhả năng sáng tác mẫu mã và sao chép mẫu đạt trình độ nghệ thuật cao mà người thợbình thường khác không làm được.

+ Chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước,

có phẩm chất đạo đức được những người trong nghề, trong lĩnh vực người đó hoạtđộng tôn vinh, thừa nhận

+ Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, đoạt huy chương vàng, huy chươngbạc trong các cuộc thi, triển lãm quốc gia hoặc quốc tế

Đối với những người không có điều kiện tham gia các cuộc thi, triển lãm thìphải có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao được Hội đồng cấp Trung ương xét côngnhận danh hiệu Nghệ nhân công nhận tương đương;

+ Có công đóng góp trong việc giữ gìn, phát triển, đào tạo và truyền dạy nghềcho thế hệ trẻ

Thông tư số 01/2007/TT-BCN ngày 11/1/2007 của Bộ Công Nghiệp (nay là BộCông Thương) hướng dẫn về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệuNghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú; trong đó đối tượng được đề nghị xét tặng danhhiệu Nghệ nhân ưu tú phải đạt các tiêu chuẩn sau:

+ Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất đạo đứctốt, tận tụy với nghề, gương mẫu, thực sự là tấm gương sáng cho mọi người và đồngnghiệp noi theo;

+ Là người thợ giỏi tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, có thâm niên trongnghề tối thiểu 15 năm, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện, sáng tácthiết kế được 10 mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao đã trực tiếp làm ra trên 15tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật;

+ Là người có ảnh hưởng rộng rãi trong ngành và xã hội:

+ Có nhiều thành tích trong việc giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề cho trên 100người, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ;

+ Là nghệ nhân đầu đàn tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, quần chúngmến mộ, kính trọng;

+ Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, được tặng giải (loại vàng hoặc bạc)tại các hội chợ triển lãm quốc gia hoặc quốc tế

1.5 Làng nghề mới

Làng nghề mới là những làng có ngành nghề phát triển trong những năm gầnđây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng nghề truyền thống hoặc do sự du nhập trong quátrình hội nhập giữa các vùng và giữa các nước Ngay các làng nghề truyền thống cũng

có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống

Trang 16

Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đã xuất hiện các làng nghề có tínhhiện đại, trong đó đặc trưng bởi sự phát triển kinh doanh dịch vụ và xây dựng, kinhdoanh đa ngành nghề; đồng thời, do quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở cáclàng nghề, kỹ thuật và công nghệ sản xuất không đơn thuần chỉ là kĩ thuật thủ công,

mà có nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất áp dụng kĩ thuật và công nghệ hiện đạinhư mộc, thịt bò khô, sản xuất gạch, ngói…

Trong các phần tiếp theo của chương 1, các thuật ngữ nghề, nghề truyền thống,làng nghề, làng nghề truyền thống được gọi chung là làng nghề

1.6 Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển ngành nghề nông thôn

1.6.1 Kinh nghiệm phát triển ngành nghề nông thôn trên thế giới

1.6.1.1 Ấn Độ

Chính phủ Ấn Độ đã có chương trình thúc đẩy nông thôn tổng hợp trong đó cóviệc phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nhằm tăng thêm việc làm, tăng thunhập, giảm diện đói nghèo Ở Ấn Độ, hiện có hàng chục triệu người nông dân đangsinh sống bằng nghề thủ công với doanh thu bán các sản phẩm này đạt 1000 tỉ rupi.Chính phủ Ấn Độ rất coi trọng việc bảo tồn và phát triển nghề thủ công mỹ nghệ -tinh hoa của dân tộc Hiện nay tại các trung tâm kinh tế của nước này có các trung tâmnghiên cứu công nghệ và thiết kế mẫu cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Cùng với

đó là khoảng 400 trung tâm dạy nghề rải rác ở các vùng trong nước giúp cho nghề thủcông truyền thống phát triển Bên cạnh đó Ấn Độ còn đặc biệt quan tâm đến đội ngũthợ lành nghề, thợ cả có nhiều kinh nghiệm bằng cách thành lập 13 trung tâm chuyên

lo việc nâng cao tay nghề cho thợ cả Họ được coi là vốn quý của đất nước, được nhànước chú ý quan tâm Từ năm 1974 mỗi năm nhà nước chọn ra 15 thợ cả - nghệ nhânxuất sắc và cấp cho mỗi người khoản trợ cấp 500rupi/ tháng và cho đến nay khoảng

257 nghệ nhân được cấp khoản tiền này Vào những năm 80, lực lượng thủ công hoạtđộng trong các làng nghề là 4 - 5 triệu thợ chuyên nghiệp Nghề thủ công sản xuất rahàng tiêu dùng phục vụ đại chúng, hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp Trong số 0,03%sản lượng kim cương của toàn thế giới mà Ấn Độ cung cấp là do bàn tay của 75 vạnthợ chế tác kim cương, chủ yếu là các hộ gia đình cá thể sống ở các làng nghề thựchiện Nhờ vậy nên kim ngạch xuất khẩu kim cuơng của Ấn Độ đạt khoảng 3 tỷ USD

1.6.1.2 Nhật Bản

Ở Nhật Bản, quá trình CNH - HĐH diễn ra rất mạnh mẽ nhưng các làng nghềthủ công truyền thống vẫn được duy trì và phát triển ở nông thôn, trong các hộ nôngdân, các làng nghề có nghề truyền thống Hiện nay ở Nhật Bản có 867 nghề tiểu thủcông nghiệp khác nhau Một số nghề truyền thống nổi tiếng của Nhật được cả thế giớibiết đến như: nghề sơn mài (SHIKKI) sản xuất các loại dụng cụ sinh hoạt như chén,

11

Trang 17

bát nghề rèn là nghề truyền thống điển hình ở Nhật có truyền thống khoảng 700

-800 năm tuổi mà nghề rèn phát triển mạnh nhất là ở tỉnh Figu, nghề làm nến Hiệnnay quy trình sản xuất nông cụ theo phương pháp cổ truyền được cải tiến, các gia đìnhlàm gia công và sản phẩm làm ra được công ty tiêu thụ sản phẩm bao tiêu Người Nhật

có truyền thống cần cù, sáng tạo nhất là trong kĩ thuật và làm kinh tế, chẳng thế màvào những năm 70 của thế kỉ trước ở tỉnh Oita (phía Tây nam Nhật Bản) đã có phongtrào “mỗi thôn làng một sản phẩm” do ông tỉnh trưởng Hiramatsu phát động và tổchức nhằm phát triển ngành nghề cổ truyền ở nông thôn Do đó, khi đến Oita, chúng

ta có thể tìm ra những sản phẩm rất bình dị trong cuộc sống như nấm Shitake và cácsản phẩm từ sữa bò, hàng gỗ mỹ nghệ ở thị trấn Yufuin, cam, cá khô ở làng Yonouzu,chè và măng tre ở làng Natkatsu… Trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong tràomỗi làng một sản phẩm đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷyên/năm (trên 1.1 tỷ USD hay 19.000 tỷ đồng Việt Nam)

Trong việc tiêu thụ sản phẩm, đã có rất nhiều sáng kiến bán hàng được áp dụng

ở Oita nhằm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của các làng Thứ nhất, các sản phẩmcủa phong trào mỗi làng một sản phẩm của Hợp tác xã nông nghiệp Oyama đã đượctrưng bày riêng một khu vực gọi là “Konohana Garten” và bán với hình thức các hợptác xã đưa hàng đến giao cho siêu thị hàng ngày tại Khu mua sắm Tokiwa, một trong

số các chuỗi siêu thị lớn của Nhật Bản Với các mặt hàng tươi sống (như rau chẳnghạn), nếu không bán hết và chất lượng có sự suy giảm sẽ được các Hợp tác xã thu lạitrong những lần đến giao hàng tiếp theo Thứ hai, sự đa dạng của các sản phẩm rấtthiết thực cho cuộc sống hàng ngày ở đây, từ nhành hoa, bó rau, cây nấm… đến cácsản phẩm đã được chế biến như các loại rượu, nước ép trái cây, cá philê…được bán tạiđây Thứ ba, yếu tố chất lượng của các sản phẩm do các làng sản xuất ra Yếu tố nàykhông chỉ thể hiện ở bản thân chất lượng của hàng hóa được kết tinh ở công nghệ chếbiến và bảo quản đã được giám định kỹ lưỡng bởi các cơ quan chức năng cũng nhưbởi ý thức sản xuất hàng hóa chất lượng cao trong hành vi của người Nhật Bản mà cònthể hiện rất rõ ở nghệ thuật bao bì, đóng gói, luôn bắt mắt và thuận tiện cho việc vậnchuyển, sử dụng của người tiêu dùng Thứ đến, phải kể đến phương thức bán hàngcũng rất ấn tượng – Ban lãnh đạo các hợp tác xã Oyama thay mặt các thành viên củamình để tìm kiếm thị trường, tổ chức giao hàng đến các điểm tiêu thụ Trong trườnghợp bán hàng tại “Konohana Garten” này, giá bán do HTX quyết định, trong cơ cấugiá bán đó HTX trả siêu thị 8% về chi phí thuê địa điểm, bán hàng…, hợp tác xãhưởng 12% chi phí giao nhận, tìm kiếm thị trường, còn lại 80% trả lại người sản xuất

Không chỉ trưng bày bán hàng tại Tokiwa, hợp tác xã nông nghiệp Oyama còn

mở một nhà hàng Konohana Garten ngay tại siêu thị này để chế biến những món ăncủa phong trào phục vụ khách hàng

Trang 18

Việc bán hàng còn được tiến hành có tổ chức rất tốt thông qua hệ thống 16 trạmdừng chân bên đường ở tỉnh Oita (mô hình này đang bắt đầu được triển khai thí điểmtại Việt Nam do JICA tài trợ) và 52 cửa hàng bán sản phẩm ngay tại địa phương.

Song song với việc phát triển mỗi làng một nghề chính là việc phát triển cáctrung tâm nghiên cứu và đào tạo trên địa bàn tỉnh, điển hình là Trung tâm nghiên cứu

và đào tạo hàng tre thủ công của tỉnh Oita Trung tâm có 2 nhiệm vụ chính, thứ nhất lànghiên cứu các công nghệ sản xuất, bảo quản… nhằm tạo ra các sản phẩm có hàmlượng chất xám cao như vải tre, than tre, các loại tre vuông, tre màu tự nhiên… đồngthời, với chức năng thứ 2, Trung tâm sẽ tiến hành đào tạo đội ngũ nghệ nhân và ngườithợ thủ công của Nhật Bản áp dụng các công nghệ đã được nghiên cứu vào sản xuấtthực tế Trong chương trình đào tạo, học viên sẽ được đào tạo tay nghề để có thể sảnxuất ra những sản phẩm như các giỏ hoa, khay đựng chè, giá để khăn… đã từng tồn tại

từ thời kỳ Muromachi trong lịch sử của Nhật Bản Các học viên được đào tạo tậptrung rất kỹ lưỡng để hoàn thành từng loại sản phẩm từ những công đoạn đầu tiên nhưlựa chọn nguyên liệu, xử lý và pha chế nguyên liệu, các kỹ thuật đan như wakoami,maruami, yokoami, hiraami và ajiroami, kỹ thuật nhuộm, sơn mài, hoàn thiện… Mỗikhóa học như vậy thường được tổ chức trong 1 năm với kinh phí do chính quyền tỉnh

1.6.1.3 Thái Lan

Những năm 1990, lao động nông nghiệp vẫn chiếm 82,7% lao động ở nôngthôn Hàng năm, tỷ lệ thất nghiệp cao, chênh lệch thu nhập và mức sống khá xa giữanông thôn và thành thị, hệ quả hàng vạn người lao động nông thôn di cư vào thành thị

để kiếm sống bằng đủ mọi ngành nghề Trước thực trạng đó, Chính phủ đã có nhữnggiải pháp tạo việc làm tại chỗ ở nông thôn Riêng về ngành nghề truyền thống, cáclàng nghề được khuyến khích phát triển Một số ngành như kim hoàn, chế tác đá quílàm đồ trang sức đã tạo việc làm cho hàng vạn lao động

Chính phủ Thái Lan đã phát động phong trào “One Tambon, One Product” haycòn gọi là “Thai Tambon Project” (tiếng Thái “Tambon” nghĩa là “làng”) từ năm 1999

và chính thức đi vào hoạt động vào tháng 10 năm 2001 Trong chương trình này,Chính phủ Thái Lan hỗ trợ cho mỗi làng để làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng

và có chất lượng cao Sự hỗ trợ này chủ yếu này tập trung chủ yếu vào khâu tiếp thị,xúc tiến bán hàng, huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nông dân Số tiền hỗ trợ

13

Trang 19

vào khoảng một triệu Baht mỗi làng và thường được nhắc đến với tên gọi “Chươngtrình mỗi làng một triệu Baht” nhằm thúc đẩy sự phát triển của phong trào “Mỗi làngmột sản phẩm” đã được đề ra Trong tháng 6 năm 2002, một cuộc triển lãm bước đầucác sản phẩm của phong trào (chủ yếu là tô đồng, khăn trải bàn, vải tơ tằm dệt tay,tượng gỗ, rổ mây) đã được tổ chức tại tỉnh Nonthaburi và Chính phủ Thái Lan cho biếtchỉ trong 4 tháng đầu năm 2002 chương trình này đã đem lại 3,66 tỷ Baht (84,2 triệuUSD) lợi nhuận cho nông dân.

Để hỗ trợ trong việc tiêu thụ sản phẩm do các làng sản xuất ra, Chính phủ hỗtrợ kết nối địa phương tổ chức hội chợ ở cả trong nước và quốc tế để tiếp thị, quảng básản phẩm làng nghề: chính phủ hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói,tiếp thị, tổ chức kênh phân phối ở hải ngoại Bộ Thương mại Thái Lan sẽ tổ chức hộichợ ở cả trong nước và quốc tế để tiếp thị Lần hội chợ đầu tiên ở Thái Lan tháng9/2004 đã có 16 quốc gia tham gia Thái Lan thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chínhphủ nhằm “kết nối các địa phương Thái Lan với toàn cầu”

Các làng nghề được tổ chức tốt và được đưa vào các chương trình tour du lịchcủa Thái Lan bằng nhiều hình thức, điển hình như tờ bướm giới thiệu chương trìnhOTOP du lịch

Có thể thấy rằng, Kinh nghiệm của Thái lan cho thấy chương trình “Mỗi làngmột sản phẩm” của chính phủ Thái Lan đã mang lại nhiều kết quả đang khích lệ và dựkiến sản phẩm của các làng này sẽ tham gia xuất khẩu đến thị trường đầu ra của cácsản phẩm là Nhật, và những thị trường khác như Ý, Mỹ Ủy ban điều hành chươngtrình này đang hợp tác với tổ chức xúc tiến ngoại thương Nhật Bản (JETRO) để giớithiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Thái Lan (Vũ Văn Đông, 2010)

ra chương trình phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp thông qua các chương trình pháttriển kinh tế xã hội 5 năm

+ Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất: Chính phủ khuyến khích việc xây dựng các cơ

sở sản xuất và các Trung tâm bán sản phẩm làng nghề nông thôn

+ Kế hoạch 5 năm lần thứ 2: thông qua các dự án hướng dẫn phát triển côngnghiệp nhỏ gắn liền với truyền bá kiến thức về ngành nghề cho dân cư

+ Kế hoạch 5 năm lần thứ 3: Chính phủ đứng ra tổ chức một số cơ quan đểquản lý, chỉ đạo hoạt động cung ứng về vật tư thiết kế, xúc tiến thương mại và tiêu thụ

Trang 20

sản phẩm Ở cấp toàn quốc hình thành “Hội đồng thủ công nghiệp quốc gia” nhằmliên kết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và làng nghề nông thôn Các hội chuyên ngành

và địa phương thuộc hội đồng trên đóng vai trò rất tích cực trong việc liên kết các cơ

sở tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, hỗ trợ thiết kế mẫu mã, tổ chức triển lãm ở nôngthôn, xuất khẩu hàng tiểu thủ công nghiệp Nhờ những hỗ trợ tích cực của Chính phủ,các làng nghề và cơ sở tiểu thủ công nghiệp nông thôn ở Indonesia khôi phục và pháttriển (Vũ Văn Đông, 2010)

1.6.1.5 Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc hiện nay xu hướng tiêu thụ các mặt hàng tiểu thủ công nghiệpngày càng tăng Chính phủ nước này nắm bắt được xu thế đó nên đã lập chương trìnhkhôi phục và phát triển ngành nghề thủ công truyền thống lấy cơ sở là các hộ nôngdân (chiếm 79,4%) Đến nay ở Hàn Quốc có hàng nghìn cơ sở sản xuất thu hútkhoảng 30.000 lao động hoạt động theo hình thức sản xuất tại gia đình là chủ yếu Để

hỗ trợ hoạt động sản xuất của loại hình sản xuất này, trong cả nước đã tổ chức ra hàng

100 công ty dịch vụ, thương mại đảm nhiệm đầu vào và đầu ra cho sản xuất Hoạtđộng của các ngành nghề truyền thống có xu thế phát triển vì thị trường tiêu thụ, lấynhu cầu thị trường làm mục tiêu sản xuất kinh doanh Cách làm như vậy là rất phùhợp với quan điểm của Marketing và xu hướng phát triển sản phẩm ngày càng đadạng, chất lượng cao như hiện nay

1.6.2 Kinh nghiệm phát triển ngành nghề của một số địa phương trong nước

Trong những năm qua, để triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước về phát triển làng nghề, các địa phương trong cả nước đã ban hành các cơchế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nghề và làng nghề Trong quá trình,các địa phương đã có những kinh nghiệm khuyến khích, phát triển làng nghề như sau:

1.6.2.1 Kinh nghiệm xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp làng nghề của tỉnh

Bắc Ninh

Hiện nay, toàn tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như

đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng ; trong đó

có 31 làng nghề truyền thống và 31 làng nghề mới, chiếm khoảng 10% tổng số làngnghề truyền thống của cả nước Các làng nghề tập trung chủ yếu ở 3 huyện Từ Sơn,Yên Phong và Gia Bình (3 huyện này có 42 làng nghề, chiếm gần 68% số làng nghềcủa tỉnh) Nhiều làng nghề của Bắc Ninh như: gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồngĐại Bái, tranh Đông Hồ có từ lâu đời và nổi tiếng cả trong và ngoài nước

Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm chonhân dân trong tỉnh (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thờivụ) Tại các làng nghề, số người giàu và khá giàu ngày càng tăng, 100% số hộ đều cóti-vi, xe máy, mức thu nhập ở các làng nghề cao gấp từ 3-4,5 lần so với các làng thuần

15

Trang 21

nông, nhờ vậy góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo của tỉnh Đây còn là nơi cung cấp nguồnhàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh với kim ngạch từ 1.200 tỷ đến 1.500 tỷ đồng/ năm.

Để đạt được kết quả nêu trên, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp về mở rộng

và phát triển đồng bộ thị trường làng nghề, nâng cao chất lượng hàng hoá của làngnghề; đào tạo nguồn nhân lực; đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinhdoanh , tỉnh Bắc Ninh đã coi việc quy hoạch tạo mặt bằng cho sản xuất ở các làngnghề là một khâu đột phá quan trọng trong phát triển làng nghề Hình thành các khu,cụm công nghiệp làng nghề, thực chất là chuyển một phần diện tích đất canh tác nôngnghiệp của chính làng nghề sang đất chuyên dùng cho sản xuất CN - TTCN và tạođiều kiện cho các hộ sản xuất trong các làng nghề (đặc biệt là các làng nghề có nguy

cơ gây ô nhiễm môi trường) di dời ra các khu sản xuất tập trung, tách sản xuất ra khỏikhu dân cư

Đối với hoạt động sản xuất những chi tiết nhỏ lẻ, không ảnh hưởng đến môitrường, sức khoẻ của cộng đồng thì vẫn được sản xuất, kinh doanh ở từng hộ gia đìnhnhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện và tập quán lao động của người dân trong làngnghề Để các khu, cụm công nghiệp làng nghề được hình thành và hoạt động có hiệuquả, Bắc Ninh đã thành lập ra ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề Ban quản

lý các khu công nghiệp làng nghề có nhiệm vụ giúp các cấp, các ngành, trước hết là

Uỷ ban nhân dân cấp xã, huyện thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đối với cáckhu công nghiệp làng nghề Ban quản lý này là một đơn vị sự nghiệp có thu, có tưcách pháp nhân, được sử dụng con dấu và mở tài khoản theo quy định hiện hành củaNhà nước Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề là cơ quan trực tiếp quản lý cáckhu công nghiệp làng nghề, đồng thời là đầu mối phối hợp với các cơ quan chuyênmôn của Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, các tổ chức kinh tế - xã hội và Uỷ ban nhândân các xã có khu công nghiệp làng nghề để giải quyết những vấn đề phát sinh trongviệc quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề

Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷban nhân dân huyện, thị xã dưới sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của các ngànhchức năng thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Cơ quan này là đầu mối triển khai, thực hiệncác văn bản qui phạm pháp luật có liên quan, trực tiếp xây dựng điều lệ quản lý cáckhu công nghiệp làng nghề, trực tiếp triển khai qui hoạch chi tiết, được Uỷ ban nhândân huyện uỷ quyền quản lý trước, trong và sau khi đầu tư đối với các khu côngnghiệp làng nghề

Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề khó khăn về vốn cho sản xuất kinh doanhcủa các làng nghề, Bắc Ninh đã chú trọng đến hệ thống ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn, với sự phân bố xuống tận các xã, phường Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh thực hiện chủ trương tất cả các dự ánkhả thi của các hộ sản xuất đều được Ngân hàng cho vay 70% giá trị mua sắm tài sản

cố định bằng nguồn vốn vay trung hạn và hỗ trợ cho vay từ 30-50% vốn lưu động

Trang 22

Nhiều làng nghề được Ngân hàng cho vay đã nhanh chóng nâng cao được năng lựcsản xuất, kinh doanh, có doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm, như làng mộc mỹ nghệĐồng Kỵ, sắt Đa Hội…

1.6.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thừa Thiên - Huế

Với định hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ThừaThiên- Huế đang phấn đấu thực hiện mục tiêu đề ra: đón ba triệu khách vào năm 2015,trong đó có gần 50% khách quốc tế Để đạt mục tiêu trên, vấn đề đặt ra là đẩy mạnhliên doanh, liên kết, tích cực thu hút các nguồn vốn trong nước và ngoài nước để triểnkhai lồng ghép các tour, tuyến du lịch gây ấn tượng Mấy năm gần đây, tỉnh quan tâmđến tour du lịch làng nghề, xem đây là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp đưa dukhách tham quan, thẩm nhận các giá trị văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặctrưng của các làng nghề truyền thống

Toàn tỉnh hiện có 88 làng nghề, trong đó có 69 làng nghề thủ công truyền thống

có thể xây dựng và phát triển thành các tour du lịch làng nghề với nét đặc trưng riêngnhư làng gốm Phước Tích, làng thêu Thuận Lộc, làng nón Phú Cam, đúc đồng PhườngĐúc, điêu khắc Mỹ Xuyên, đan lát Bao La…

Vào những năm lẻ, Thừa Thiên Huế có festival nghề truyền thống là dịp phôdiễn, quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ Đây cũng là điểm nhấn để hình thành tour

du lịch làng nghề, rất nhiều du khách đã về các làng nón để được tận mắt chứng kiến

và tham gia vào các công đoạn của nghề làm nón Du khách đã thật sự bất ngờ, thíchthú khi được người thợ nón lưu tên, ảnh của họ vào chiếc nón bài thơ mang về làm vật

kỷ niệm của chuyến du lịch về vùng đất Cố đô Huế Qua các kỳ festival, tour du lịch

“Hương xưa làng cổ” đã làm sống lại một làng nghề gốm cổ của làng quê Phước Tíchnằm bên dòng sông Ô Lâu hiền hòa thơ mộng Làng nghề Phước Tích còn là một ngôilàng cổ độc đáo, cả làng sống nhờ nghề gốm Bao nhiêu năm khó khăn do nghề gốmtrên đường mai một, nay tuyến du lịch “Hương xưa làng cổ” đang mở ra cơ hội mớiphục hồi làng nghề Phước Tích

Bên cạnh phát triển nghề, làng nghề với du lịch, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xácđịnh các định hướng và giải pháp để phát triển rõ nét và khả thi hơn, cụ thể như sau:

- Tập trung ưu tiên khuyến khích đầu tư phát triển các nghề và làng nghề thủcông mỹ nghệ truyền thống chủ yếu, bao gồm:

Trang 23

+ Nghề áo dài.

- Thành lập các Hội nghề thêu, mộc, đúc đồng, kim hoàn, tôm chua, mè xửng,

áo dài Huế Củng cố hoạt động của Hiệp hội hàng thủ công mỹ nghệ Huế

- Xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm thủ công truyền thốngHuế

- Hỗ trợ, đầu tư và khuyến khích về mọi mặt để củng cố, phát triển về quy mô

và năng lực của các doanh nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ lớn của thành phố

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường, mở rộng thị trườngnhư xây dựng các chương trình quảng cáo, giới thiệu sản phẩm trên các phương tiệnthông tin đại chúng, cổng giao tiếp điện tử, xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm, tổchức các lệ hội festival nghề truyền thống…

- Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đa dạng hoá sản phẩm, đổimới mẫu mã, bao bì sản phẩm, xây dựng hệ thống giá cả hợp lý, ổ định, phù hợp vớitừng đối tượng tiêu dùng, từng vùng thị trường

- Hàng năm tổ chức các hội thi sáng tác hàng thủ công mỹ nghệ và xét đề nghịphong tặng các danh hiệu nghệ nhân dân gian, nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân ThừaThiên Huế,, bàn tay vàng thợ thủ công mỹ nghệ truyền thống

- Hình thành mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các nhà sản xuất, các nhàđiêu khắc và hoạ sỹ tạo mẫu, các doanh nghiệp du lịch, lữ hành, các thương nhânnhằm xây dựng chiến lược tiếp thu, sáng tác, giới thiệu quảng bá, xây dựng và pháttriển các loại hình dịch vụ du lịch làng nghề, khai thác thị trường tiêu thụ cho các sảnphẩm nghề truyền thống và làng nghề (Phòng Kinh tế thành phố Huế, 2009)

1.6.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam hiện có 61 làng nghề, đa dạng về quy mô và loại nghề truyềnthống Những làng nghề này sau khi khôi phục hoạt động khá tốt còn trở thành nhữngđiểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước

Làng rau Trà Quế (thôn Trà Quế, xã Cẩm Hà, thành phố Hội An) là một trườnghợp điển hình Cũng những công việc hàng ngày như cuốc đất, vun luống, bón phân,gieo hạt, trồng rau… nhưng ngoài thu hoạch sản phẩm, nhà vườn ở đây còn có nguồnthu đáng kể từ du lịch Từ năm 2003, khi tour “Một ngày làm cư dân phố cổ” ra đời,nhiều du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, đã đến thăm Trà Quế và trực tiếptham gia việc trồng rau với các nhà vườn Sau gần 5 năm đưa vào khai thác, đến nay

đã có hàng ngàn du khách trong và ngoài nước đến thăm làng rau Trà Quế và tỏ ra rấtthích thú với điểm đến du lịch này

Tại làng gốm Thanh Hà, nằm bên bờ sông Thu Bồn, thuộc xã Cẩm Hà, cáchphố cổ Hội An khoảng 2km về hướng Tây, người dân nơi đây đã mở ra các dịch vụ

Trang 24

như hướng dẫn du khách cách làm gốm từ khâu nhào đất sét, nắn hình thù đến cáchnung sao cho có màu bóng đẹp không bị cháy, bị chai…

Du khách đến đây, ngoài việc tha hồ lựa chọn các sản phẩm lưu niệm bằng gốmđộc đáo, còn được tận mắt chứng kiến những thao tác điêu luyện từ những bàn tay tàihoa của các nghệ nhân làng nghề này

Bên cạnh đó, tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá về du lịch làngnghề như tổ chức thành công các Hội chợ triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ truyềnthống của tỉnh mỗi năm một lần, tổ chức tham gia các hội chợ triển lãm, hội chợ dulịch trong nước và ngoài nước Giới thiệu thông tin chi tiết về các sản phẩm làng nghềtrên các tạp chí, các phương tiện thông tin đại chúng, các sách báo, ấn phẩm mà khách

du lịch thường quan tâm theo dõi Ðẩy mạnh việc trưng bày, giới thiệu sản phẩm ở cácthành phố, đô thị lớn là nơi tập trung nhiều du khách Các cửa hàng trưng bày này cóthể kết hợp giới thiệu về những truyền tích, giai thoại về các vị tổ sư, những người thợcùng với kinh nghiệm kết tinh trí tuệ nét đẹp văn hóa của những làng nghề Liên kếtxây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các công ty du lịch của tỉnh và các địa phươngkhác để xây dựng sản phẩm, thường xuyên cập nhật thông tin và có nguồn khách ổnđịnh

1.6.2.4 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của tỉnh Quảng Bình

Nhằm thúc đẩy nghề và làng nghề phát triển, tỉnh Quảng Bình đã tiến hành quyhoạch cụ thể xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu làng nghề tiểu thủ côngnghiệp, chú trọng đầu tư những ngành nghề có lợi thế về nguyên liệu tại chỗ, trong đó,

ưu tiên, khuyến khích phát triển mạnh những cơ sở chế biến các sản phẩm có nguyênliệu từ nông-lâm-thuỷ sản, sản xuất mỹ nghệ, hàng lưu niệm phục vụ du lịch và xuấtkhẩu

Tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung bao gồm 10.000 hacao su, 15.000 ha nhựa thông, 5.000 ha cây công nghiệp ngắn ngày, 1.000 ha dâutằm… Bên cạnh đó, tỉnh đã ban hành các chính sách hỗ trợ một phần kinh phí cho các

cơ sở sản xuất tham gia các hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, hình thành trungtâm xúc tiến thương mại du lịch để hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp thông tin về giá

cả, thị truờng tiêu thụ sản phẩm cho các làng nghề Hỗ trợ một phần kinh phí cho cáccác làng nghề trong tỉnh đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ thiết bị, áp dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất theo phương châm kết hợp công nghệ tiêntiến, hiện đại với kinh nghiệm truyền thống để nâng cao năng suất, chất lượng sảnphẩm và hiệu quả của sức cạnh tranh trên thị trường

Ngoài việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật, quản lý cho các chủlàng nghề, các trường quản lý, trường dạy nghề của tỉnh đổi mới phương thức dạy vàhọc, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người lao động Ngoài việc tổ chức cáclàng nghề đi tham quan, học tập, hàng năm, tỉnh và các huyện, thành phố trong tỉnh có

19

Trang 25

kế hoạch mời các chuyên gia giỏi, các nghệ nhân có kinh nghiệm truyền nghề ở cáctỉnh bạn về dạy nghề và truyền nghề cho lao động tại địa phương.

1.6.3 Bài học kinh nghiệm cho Đà Nẵng

Từ những kinh nghiệm về phát triển làng nghề ở một số địa phương trong nướcnêu trên và của một số nước trên thế giới đã nêu ở trên, có thể rút ra một số bài học đểphát triển nghề truyền thống đối với thành phố Đà Nẵng như sau:

+ Thứ nhất, quá trình phát triển kinh tế cần quan tâm chú trọng phát triển ngànhnghề nông thôn, coi ngành nghề nông thôn là một nội dung phát triển kinh tế quantrọng

+ Thứ hai, muốn phát triển nghề nông thôn có hiệu quả trước hết phải có sự hỗtrợ tích cực từ phía Nhà nước bằng việc ban hành những cơ chế chính sách, tạo môitrường pháp lý thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; hỗ trợ về tài chính và tiếp cậnnguồn vốn, trong đó cần có cơ chế, chính sách cho các hộ tại làng nghề vay vốn khôngcần thế chấp; đồng thời có chính sách đồng bộ về vùng cung cấp nguyên liệu

+ Thứ ba, sản xuất ngành nghề nông thôn trước hết phải xuất phát từ nhu cầuthị trường Tập trung, đột phá khâu thiết kế sản phẩm nhằm xây dựng và phát triển cácsản phẩm làng nghề chủ lực, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tiêu biểu

Đối với thị trường xuất khẩu, cần mời các chuyên gia của những nước nhậpkhẩu chính để tư vấn thiết kế, cải tiến mẫu mã sản phẩm, tuân thủ các quy định về antoàn vệ sinh thực phẩm

Tổ chức hội chợ, triển lãm, kết hợp làng nghề với các tour du lịch

+ Thứ tư, đầu tư hơn nữa cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực,tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người laođộng làng nghề thông qua các trung tâm đào tạo, các viện nghiên cứu

Cần xác định rõ đối tượng, nội dung, hình thức đào tạo cho phù hợp với từngngành nghề và điều kiện ở điạ phương, gắn giảng dạy lý thuyết với thực hành, tăngcường phổ biến kiến thức, khoa học kỹ thuật

Quan tâm đến đội ngũ nghệ nhân, thợ cả, thợ giỏi, chú trọng đào tạo thế hệ laođộng trẻ cho làng nghề

+ Thứ năm, phát triển các tổ chức dịch vụ tư vấn, nghiên cứu và phổ biến kiếnthức công nghiệp trong nông thôn, chủ yếu là hai loại hình dịch vụ, tư vấn các vấn đềkinh tế, quản trị doanh nghiệp nói chung và tư vấn về kỹ thuật sản xuất và chuyểngiao công nghệ

Áp dụng công nghệ mới, hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng sảnphẩm, hạn chế ô nhiễm môi trường tại các làng nghề

Trang 26

+ Thứ sáu, hỗ trợ một số cơ sở sản xuất, doanh nghiệp làng nghề trở thànhdoanh nghiệp đủ mạnh, thực hiện vai trò mở rộng thị trường, là đầu mối thu gom tiêuthụ sản phẩm, xuất khẩu.

+ Thứ bảy, phân loại những ngành nghề truyền thống có khả năng tồn tại pháttriển, lựa chọn những sản phẩm đặc trưng để đầu tư; những ngành hoạt động cầmchừng hoặc có nguy cơ mai một để có chính sách phù hợp Chú trọng phát triển cáclàng nghề truyền thống và có sản phẩm xuất khẩu thu ngoại tệ cao

+ Thứ tám, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, mặt bằng sảnxuất ) tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất phát triển; triển khai các giải pháp pháttriển bền vững môi trường

21

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Tổng quan về nông nghiệp, nông thôn và ngành nghề nông thôn thành phố

Đà Nẵng

2.1.1 Một số đặc điểm của thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng nằm ở trung độ của đất nước, là trung điểm của 3 di sản văn hoá thếgiới nổi tiếng là cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn Trong phạm vi khuvực và quốc tế, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Hànhlang kinh tế Đông – Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa

Đà Nẵng có đủ bốn loại đường giao thông thông dụng, hệ thống cấp nước, cấpđiện và thông tin liên lạc ngày càng được hiện đại hoá Là thành phố với gần 1 triệudân (năm 2011) với mức sống khá, Đà Nẵng là một thị trường tiềm năng của các nhàsản xuất và cung cấp dịch vụ, các dịch vụ về tài chính, ngân hàng, bưu chính viễnthông đang ngày càng hoàn thiện

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và

ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt đới ởmiền Bắc và nhiệt đới xavan miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía nam.Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từtháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm vàkhông kéo dài

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8,trung bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C Riêngvùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C Độ ẩmkhông khí trung bình là 83,4% Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm;lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhấtvào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23–40 mm/tháng Số giờ nắng bình quân trongnăm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng;

ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng Mỗi năm, Đà Nẵngchịu ảnh hưởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới

Điểm nổi bật là Đà Nẵng là một thành phố có nhiều tiềm năng để phát triển dulịch Phía bắc thành phố được bao bọc bởi núi cao với đèo Hải Vân được mệnh danh

là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" Phía tây là khu du lịch Bà Nà nằm ở độ cao trên1000m với hệ thống cáp treo đạt bốn kỷ lục thế giới (dài nhất, độ chênh lớn nhất, tổngchiều dài cáp dài nhất và sợi cáp nặng nhất) cùng khu vui chơi giải trí trong nhàFantasy Park lớn nhất Đông Nam Á Phía đông bắc là bán đảo Sơn Trà với 400 harừng nguyên sinh gồm nhiều động thực vật phong phú Phía đông nam là danh thắngNgũ Hành Sơn Trên địa bàn thành phố còn có một hệ thống các đình, chùa, miếu theo

Trang 28

kiến trúc Á Đông, các nhà thờ theo kiến trúc phương Tây như Nhà thờ Con Gà, cácbảo tàng mà tiêu biểu nhất là Bảo tàng Nghệ thuật điêu khắc Chăm Đây là bảo tàngtrưng bày hiện vật Chăm quy mô nhất ở Việt Nam.

Đà Nẵng đã xây dựng các sự kiện du lịch lớn, trong đó Cuộc thi Trình diễnPháo hoa Quốc tế được tổ chức liên tục từ năm 2008 Vào tháng 5 năm 2012, ĐàNẵng lần đầu triển khai Cuộc thi dù bay Quốc tế Tháng 6 là sự kiện "Điểm hẹn mùahè" thường niên, quy tụ những hoạt động giải trí biển Ngoài ra thành phố còn đượcbao bọc bởi 3 di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn Xa hơn một chút nữa làVườn Quốc gia Bạch Mã, và di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha -

Kẻ Bàng Vì thế Đà Nẵng được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên Con đường

Tỷ lệ che phủ rừng là 49,6% Trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m³ Rừng của thành phốngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trườngsinh thái và phát triển du lịch với các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảotồn thiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môitrường Nam Hải Vân Ngoài ra Đà nẵng còn có ngư trường rộng trên 15.000 km²

Dân số của thành phố là 951.684 người năm 2011, trong đó dân số sống ở khuvực nông thôn là 123.024 người Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 480.880 người(chiếm 50 % tổng dân số), trong đó số lao động làm nông nghiệp chiếm khoảng 8%

23

Trang 29

tổng lực lượng lao động toàn thành phố Đóng góp của ngành nông lâm thủy sản chỉchiếm 3% GDP, nhưng đây lại là nguồn thu nhập của 13% dân số thành phố Chính vìvậy ngành này vẫn có vai trò quan trọng và là một phần không thể thiếu trong nềnkinh tế của thành phố, là cơ sở để phát triển công nghiệp và dịch vụ.

2.1.2 Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp

Ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong ổn định phát triển kinh tế

-xã hội của thành phố Mặc dù gặp nhiều khó khăn, bất lợi do thời tiết, dịch bệnh, giá

cả hàng nông sản bấp bênh nhưng ngành nông nghiệp trong những năm qua vẫn tăngtrưởng Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (theo giá cố định) cả năm 2012 ước đạt

661 tỷ đồng, bằng 100,3% kế hoạch năm, tăng 3,44% so với năm 2011

+ Trồng trọt: Diện tích gieo trồng cây hàng năm là 10.331 ha, trong đó: tổngdiện tích sản xuất lúa trong năm 2012 là 5.920,11 ha, năng suất bình quân đạt 59,72tạ/ha, tăng 5,13 tạ/ha so với năm 2011 Diện tích trồng ngô tăng lên 595,5 ha, đạt sảnlượng 3389,1 tấn, rau thực phẩm là 1.950 ha, các loại cây trồng khác như lạc, mè, rau,khoai lang và các cây trồng khác đều cho năng suất cao hơn so với cùng kỳ Ngoài ra,thành phố cũng đã thực hiện du nhập trồng thử nghiệm các loại cây trồng có giá trịkinh tế cao như dưa vàng, triển khai 64 lớp tập huấn về sản xuất rau an toàn theo tiêuchuẩn VietGAP và vệ sinh an toàn thực phẩm Đáng chú ý là vụ Đông Xuân năm naythời tiết khá thuận lợi, nguồn giống có chất lượng đảm bảo, cộng thêm chế độ thâmcanh tốt nên năng suất đạt khá cao Năng suất bình quân đạt 62,04 tạ/ha, tăng 8 tạ/ha

so với cùng kỳ năm trước, đây là vụ Đông Xuân có năng suất cao nhất từ trước đếnnay

+ Chăn nuôi phát triển ổn định Tình hình đàn gia súc, gia cầm của thành phốnhư sau: đàn heo 90.000 con, đàn bò 17.200 con, đàn trâu 1.850 con và khoảng hơn500.000 con gia cầm Mô hình chăn nuôi chuyển từ chăn nuôi hộ gia đình sang chănnuôi quy mô công nghiệp, chăn nuôi trang trại theo hướng sạch, an toàn sinh họcnhằm đảm bảo vệ sinh môi trường Thực hiện các mô hình chăn nuôi heo, gà an toànsinh học theo tiêu chuẩn VietHGAP… Công tác kiểm soát giết mổ, kiểm dịch độngvật tiến hành chặt chẽ, công tác tiêm phòng được chú trọng nên không có dịch bệnhxảy ra

 Lâm nghiệp

Rừng được xem là lá phổi xanh của thành phố, đến cuối năm 2012 diện tích đấtlâm nghiệp của thành phố là 58.730,81 ha trong đó: rừng đặc dụng là 35.271,85 ha,rừng phòng hộ 8.536,13 ha và rừng sản xuất 14.922,84 ha Độ che phủ rừng của thànhphố đạt 46%, cao hơn so với bình quân cả nước là 40,6% Công tác tuyên truyền vềbảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy được chú trọng và chỉ đạo quyết liệt, kịp thời

Trang 30

 Thuỷ sản

Thành phố Đà Nẵng hiện nay có 1.370 tàu thuyền hoạt động nghề cá với tổngcông suất: 81.737cv, bình quân 59,6cv/tàu và 659 chiếc thúng gắn máy, tổng công suất6.060cv Sản lượng khai thác ước đạt ước 36.010 tấn bằng 104,63% kế hoạch năm,tăng 4,02% so với cùng kỳ năm 2011 Khai thác hải sản xa bờ phát triển, hạn chế khaithác vùng gần bờ Chuyển đổi từ khai thác ven bờ có tính hủy duyệt nguồn lợi sangcác nghề khai thác tuyến lộng, tuyến khơi Các nghề tham gia khai thác chính gồmlưới cản, lưới vây, giả cao tốc, câu mực…

Thành phố đã triển khai thực hiện mô hình nuôi trồng thủy sản áp dụng quytrình, quy phạm về quản lý vùng nuôi (GAP,CoC); thực hiện khôi phục Trại sản xuấtgiống thủy đặc sản nước ngọt Hòa Khương, ước tính năm 2012 sản xuất khoảng 01triệu con cá giống các loại Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 630 ha trong đó: nuôinước ngọt 540 ha, nuôi nước lợ 90 ha Sản lượng nuôi trồng đạt 1.100 tấn

2.1.3 Thực trạng các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp

Tính đến nay, trên địa bàn thành phố có 43.000 hộ nông dân, 150 Tổ hợp tác,

36 hợp tác xã nông nghiệp và 214 trang trại

 Trang trại

Những năm qua, kinh tế trang trại đã có những bước phát triển mạnh, quy mô

và chất lượng sản xuất được tăng lên, góp phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp của thành phố

Hiện nay, trên bàn thành phố có 214 trang trại, trong đó có 80 trang trại chănnuôi, 40 trang trại lâm nghiệp, 52 trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp, 24 trangtrại trồng trọt, 17 trang trại NTTS Vốn đầu tư bình quân của 1 trang trại là 2.771 triệuđồng Doanh thu bình quân của trang trại đạt 1.574 triệu đồng/trang trại; thu nhập bìnhquân đạt 289 triệu đồng/ trang trại

Tuy nhiên, phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn gặpnhiều khó khăn, nổi bật chưa có sự liên kết giữa các trang trại trong các khâu từ sảnxuất đến tiêu thụ, các trang trại hoạt động theo kiểu “tự thân vận động” nên gặp nhiềutrở ngại

 Hợp tác xã

Thành phố hiện có 36 hợp tác xã với 19 hợp tác xã được thành lập mới Tổng

số cán bộ hợp tác xã là 210 người Trong đó số cán bộ có trình độ ĐH, CĐ chiếm tỷ lệthấp 13%, trung cấp 22%, sơ cấp 15%, còn lại là chưa qua đào tạo

Các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tham gia thực hiệnkinh doanh dịch vụ trên 16 lĩnh vực như: thuỷ lợi, điện, bảo vệ thực vật, làm đất, cung

25

Trang 31

cấp giống, vật tư phân bón, tiêu thụ sản phẩm, khuyến nông… Một số mô hình HTXmới như: HTX trồng nấm, HTX trồng hoa cây cảnh, HTX trồng rau sạch, nuôi trồngthủy sản bước đầu đem lại những hiệu quả nhất định trong việc hỗ trợ giống, kỹthuật cho bà con xã viên, đầu ra sản phẩm

Nhìn chung, hoạt động của các hợp tác xã, trong đó có HTX ngành nghề nôngthôn còn nhiều khó khăn Trong thời gian qua đã có 10 HTX đã tiến hành giải thể, chủyếu do năng lực nội tại yếu kém, không đủ điều kiện hoạt động, phương hướng sảnxuất không khả thi

Các làng nghề truyền thống là một trong những thành tố và là di sản văn hóacủa dân tộc Việt Nam Ở đó, nó chứa đựng những tinh hoa và truyền thống của dântộc, góp phần minh chứng cho những đặc điểm văn hóa dân tộc hoặc địa phương quacác thời kỳ lịch sử Nhiều ngành nghề nông thôn ở Đà Nẵng đã xuất hiện từ thế kỷ thứ

18 và được truyền lại cho tới ngày nay Làng nghề và ngành nghề nông thôn trên địabàn thành phố Đà Nẵng có lịch sử hình thành và phát triển từ khá lâu Trải qua nhữnggiai đoạn biến động của lịch sử, các làng nghề vẫn duy trì và phát triển đến ngày nay.Làng nghề làm bánh tráng Túy Loan đã xuất hiện từ khoảng 500 năm trước, mangđậm dấu ấn của lịch sử, truyền thống và bản sắc văn hóa làng quê Việt Nam Làngnghề Chiếu Cẩm Nê, theo như lời những vị cao niên của địa phương thì nghề chiếucủa làng có nguồn gốc từ Hoằng Hóa, Thanh Hóa và được truyền vào từ khoảng thế

kỷ 15 Làng nghề đá Non Nước là nơi sản xuất đồ mỹ nghệ bằng đá khai thác từ núiNgũ Hành Sơn đã nổi tiếng lâu đời Làng nghề nước mắm Nam Ô hình thành đầu thế

kỷ XX Nghề Mây tre lá của thành phố có ảnh hưởng rất lớn từ làng nghề đan lát Cẩm

Trang 32

Bên cạnh đó, một số làng nghề và ngành nghề nông thôn phát triển chậm và thuhẹp như: làng dệt chiếu ở Hòa Tiến; nghề làm bánh tráng Túy loan; nghề dệt cổtruyền… Làng nghề pháo Nam Ô chuyển hướng sang nghề khác vì không phù hợp vớiyêu cầu phát triển của xã hội.

Thời gian qua, trên địa bàn thành phố cũng đã xuất hiện một số nghề mới như:đan bẹ chuối, bèo lục bình, nghề đan giỏ lưới nuôi ngọc trai, nghề làm nấm Sản phẩmcủa các nghề mới này đã có những bước phát triển khá và còn phát triển mạnh hơntrong tương lai do phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng

Nguyên liệu cho làng nghề trước đây sẵn có nhưng nay hầu hết đều phải thumua ở các tỉnh thành khác trong nước Hoạt động sản xuất của một số làng nghề bịảnh hưởng do không chủ động được về nguồn nguyên liệu Nguyên liệu cói, đay, mâytre dùng để sản xuất phải mua ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi Nghề mộc mỹnghệ phải tìm nguồn nguyên liệu ở các tỉnh như Quảng Nam, Tây Nguyên Làngđiêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước mua nguyên liệu ở Thanh Hóa…, có sản phẩm phải

sử dụng nguồn nguyên liệu nhập từ nước ngoài để sản xuất Các nghề chế biến thựcphẩm như nem tré, nước mắm…có chủ động hơn về nguyên liệu do thu mua tại chỗ.Riêng nghề khai thác và chế biến đá chẻ tại xã Hoà Sơn, huyện Hoà Vang, các cơ sở

và doanh nghiệp thuận lợi hơn trong sản xuất, do nguồn nguyên liệu có sẵn tại chỗ

Thị trường tiêu thụ của làng nghề thành phố hiện nay còn nhỏ lẻ, phục vụ chủyếu cho nhu cầu của địa phương Một số sản phẩm đã có thị trường phát triển như sảnphẩm của làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, được tiêu thụ ở các địa phương như ĐàLạt, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… và ở nước ngoài như Hồng Kông, Đài Loan,Pháp, Mỹ, Úc Sản phẩm đá chẻ Hoà Sơn được tiêu thụ mạnh tại khu vực phía Bắc

và miền Nam, nhất là ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Sảnphẩm mộc mỹ nghệ Đà Nẵng có thị trường tiêu thụ chủ yếu ở trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng và Huế, Nha Trang, Hà Nội, sản phẩm xuất khẩu rất ít và không đáng kể.Trong các ngành nghề nông thôn thì nghề tơ lụa có thị trường rộng hơn Sản phẩm tơlụa đa số là xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp qua các nhà phân phối hoặc liên kết xuấtkhẩu, sản phẩm đã có mặt ở một số nước: Pháp, Mỹ, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Úc,Thụy Điển, Nhật Bản, Thái Lan.Thị trường lớn nhất hiện nay của hàng tơ lụa là thịtrường EU, nhưng sản lượng tiêu thụ không lớn

Hoạt động sản xuất của làng nghề chủ yếu làm bằng thủ công Riêng làng nghề

đá mỹ nghệ Non Nước trước đây làm bằng thủ công là chủ yếu, đến nay hầu hết cơ sởcủa làng đều sử dụng các thiết bị cầm tay của Trung Quốc và Việt Nam sản xuất nhưmáy bào, phay, tiện, mài Môi trường tại các làng nghề và các CSSX ngành nghề nôngthôn chưa được quan tâm đúng mức

Trong quá trình phát triển, các làng nghề và ngành nghề nông thôn được hìnhthành tự phát, và phân tán gắn liền với nơi cư trú của người dân Thời gian qua cùng

27

Trang 33

với việc chỉnh trang đô thị của thành phố, các đề án quy hoạch làng nghề nước mắmNam Ô, làng nghề đá Non Nước đã được đặt ra, nhưng việc triển khai cho đến nayvẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn.

Việc đô thị hoá, toàn cầu hóa sẽ tác động mạnh đến việc du nhập và hình thànhcác điểm ngành nghề nông thôn mới và tất yếu dẫn đến sự phân công lại lao động ởnông thôn cũng như ở các khu vực đô thị mới hình thành, tạo điều kiện tốt cho hoạtđộng của các làng nghề, ngành nghề nông thôn trên địa bàn thành phố phát triển

Tóm lại, Đà nẵng có hệ thống sông ngòi phong phú, có bờ biển dài và đẹp, cónúi non hùng vĩ và cũng có cả đồng bằng phì nhiêu tạo ra sự phát triển kinh tế đa dạnggồm công, nông, lâm, ngư nghiệp và du lịch Sản phẩm của các ngành nông, lâm, ngưnghiệp, tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với sự cần cù, sáng tạo của người dân đã làm

ra các sản phẩm ngành nghề nông thôn phục vụ đắc lực cho nhu cầu tiêu dùng địaphương và xuất khẩu, bao gồm các sản phẩm thuộc ngành chế biến và các sản phẩm

về vật liệu xây dựng hay thủ công mỹ nghệ

2.2 Thực trạng ngành nghề nông thôn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

2.2.1 Tổng quan thực trạng ngành nghề nông thôn

Về tình hình hoạt động

Hiện nay, trên địa bàn thành phố có một số làng nghề (làng nghề nước mắm Nam

Ô, làng đá mỹ nghệ Non Nước, làng chiếu Cẩm Nê) Theo nghị định 66/2006/NĐ-CPngày 7/7/2006 thì trên địa bàn thành phố có rất nhiều nghề, trong đó có các nghề nhưliệt kê trong Bảng 1

Bảng 1 Tình hình phát triển một số ngành nghề nông thôn

thành phố Đà Nẵng năm 2011-2012

Nghề

Hải Châu ThanhKhê CẩmLệ

Ngũ Hành Sơn

Sơn Trà ChiểuLiên Hòa Vang

Trang 34

Nghề

Hải Châu ThanhKhê CẩmLệ

Ngũ Hành Sơn Sơn Trà

Liên Chiểu Hòa Vang

100 CS

150 CS

Nguồn: Báo cáo mỗi làng một nghề - Chi cục phát triển nông thôn và quản lý chất lượng

nông lâm thủy sản; Khảo sát đối tượng quản lý các quận, huyệnTrong số các ngành nghề thì nghề sản xuất nước mắm, nghề đá mỹ nghệ là

ngành nghề đã hoạt động tốt và đã được quy hoạch phát triển thành làng nghề nước

mắm Nam Ô và làng đá mỹ nghệ Non Nước Năm 2011, riêng làng đá mỹ nghệ NonNước có 500 cơ sở sản xuất Sản phẩm đá mỹ nghệ Non Nước đã được xuất khẩu sangcác nước Hồng Kông, Đài Loan, Pháp, Mỹ, Úc Do đó, cần tiếp tục đầu tư để pháttriển ngành nghề này

Các ngành đá mỹ nghệ, đá chẻ, hoa cây cảnh có xu hướng phát triển mạnhtrước năm 2010 Nghề đá chẻ thu hút được 58 hộ tham gia sản xuất trên địa bàn 2 xãHòa Sơn, Hòa Nhơn, đã giải quyết được việc làm cho hơn 1.500 lao động địa phương.Tuy nhiên kể từ năm 2011 thì sản phẩm tiêu thụ bị giảm do ảnh hưởng của khủnghoảng kinh tế Đối với nghề mây tre đan thì hầu hết chỉ có các hợp tác xã sản xuấtkinh doanh Sản phẩm sản xuất ra có khả năng cạnh tranh trên thị trường, tham giavào thị trường xuất khẩu đi nhiều nước và tạo được công việc cho nhiều lao động tạiđịa phương Nghề bánh khô mè thì đã tạo được thương hiệu trên thị trường Thànhphố cần lưu tâm đầu tư và hình thành làng nghề để đẩy mạnh phát triển các nghềthuộc nhóm này

Nhóm ngành nghề có nguy cơ mai một, cần được đầu tư phát triển như là

nghề làm chiếu Cẩm Nê, nghề làm bánh tráng Đối với nghề làm chiếu và sản xuấtbánh tráng thì số hộ sản xuất kinh doanh còn rất ít (làm chiếu – 4 hộ; sản xuất bánhtráng – 3 hộ sản xuất thường xuyên), quy mô nhỏ, sản xuất cầm chừng, tự sản xuất tựtiêu thụ Lao động chủ yếu là những người đã có tuổi, sản xuất lúc rãnh rỗi, nông nhàn

và hoàn toàn bằng thủ công

Các ngành nghề trên đã giải quyết được gần 9.000 việc làm (kể cả lao độngthời vụ) cho người lao động, trong đó những ngành nghề tạo ra nhiều việc làm cụ thểlà: nghề đá mỹ nghệ sử dụng khoảng 3.500-4.900 lao động, nghề đá chẻ sử dụng1.500-2.000 lao động, nghề mây tre đan sử dụng khoảng 220 -1.000 lao động Thunhập bình quân của người lao động ở nghề làm mắm, sản xuất bánh tráng, bánh khô

mè là thấp nhất chỉ từ 1,5 – 2,5 triệu đồng/tháng; nghề đem lại thu nhập cao hơn chongười lao động trong số những ngành nghề trên là những nghề thường xuyên phải làm

29

Trang 35

việc trong môi trường bụi bặm như sản xuất đá mỹ nghệ, đá chẻ (từ 3 – 5 triệuđồng/tháng).

Trang 36

Bảng 2 Số lượng lao động thường xuyên của một số ngành nghề

Hải Châu

Thanh Khê

Cẩm Lệ

Ngũ Hành Sơn

Sơn Trà

Liên Chiểu

Hòa Vang Sản xuất nước

Bên cạnh các nhóm ngành nghề trên thì thành phố cũng đang hình thành một số

ngành nghề mới, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động là nghề trồng

hoa cây cảnh và nghề trồng nấm Do trồng hoa mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn sovới trồng cây lương thực, thực phẩm nên đang được đẩy mạnh sản xuất Nghề trồnghoa được phát triển ở huyện Hòa Vang và ở một số khu vực đất trống trên địa bànquận Cẩm Lệ và Liên Chiểu Giống hoa được trồng nhiều là hoa cúc, sản phẩm chủyếu là hoa chậu để bán vào dịp tết Các hộ trồng hoa phần lớn là hộ đơn lẻ, chưa hìnhthành vùng chuyên canh lớn

Đà Nẵng hiện có khoảng 8 hợp tác xã có trồng nấm, trong đó một số hợp tác xãchuyên về nấm như là HTX SX giống & nuôi trồng nấm An Hải Đông, HTXSXDV&KDTH nấm Hòa Tiến, HTX nấm Kim Thanh, HTX nấm Hải Vân Nam, HTXnấm Như Mai Ban đầu các hợp tác xã chỉ phát triển nghề trồng nấm rơm nhưng dầndần đã phát triển thêm các loại nấm mới như nấm sò, nấm kim chi Từ khoảng 100 hộtrồng nấm rơm trong năm 2003 thì đến năm 2011 đã có 300 hộ sản xuất nấm với sảnlượng bình quân hàng tháng ít nhất là 4.530 kg nấm

Về hỗ trợ vốn cho phát triển ngành nghề

Thành phố đã có một số chương trình về hỗ trợ vốn để phát triển ngành nghềnông thôn như sau:

- Kinh phí thực hiện chương trình phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bànthành phố Đà Nẵng trong 5 năm 2006-2011 là 54 tỷ đồng trong đó 11 tỷ là từ nguồnngân sách nhà nước và đóng góp của các nguồn lực xã hội1

1 http://danangcity.gov.vn/portal/page/portal/danang/chinhquyen/thong_bao?

p_pers_id=132555&p_folder_id=&p_main_news_id=6270148

31

Trang 37

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ 50 triệu đồng xây dựng môhình làng nghề sản xuất nấm tại xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang.

Về các chương trình hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn

Tính đến nay, thành phố đã xây dựng được một số đề án, phương án phát triểnngành nghề nông thôn cụ thể: Quy hoạch ngành nông nghiệp và PTNT đến năm 2020;Quy hoạch hạ tầng làng nghề Non Nước; Quy hoạch mở rộng vùng chuyên canh hoaHòa Phước (6ha); Đề án tổ chức liên kết HTX sản xuất, kinh doanh nấm; Đề án pháttriển thương mại nông thôn…Cùng với xây dựng, nhân rộng các mô hình sản xuấthiệu quả, nhiều hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất đã được quan tâm thực hiện như

hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ kỹ thuật… với kinh phí hỗ trợ năm 2012 trên8,3 tỷ đồng

Bên cạnh đó, các Trung tâm khuyến công; Khuyến nông, lâm, ngư; Hội Nôngdân của thành phố cũng có các chương trình hỗ trợ ngành nghề nông thôn phát triển

cụ thể như sau:

Trong năm 2012 Trung tâm khuyến công có hai chương trình hỗ trợ:

- Chương trình mô hình sản xuất ván ép công nghiệp với vốn hỗ trợ là 160triệu

- Chương trình Đào tạo 200 lao động nghề mây tre đan cho công ty Hoàn Thiện

và Hợp tác xã Bảo Trung với vốn hỗ trợ là 120 triệu

Hội Nông dân có các chương trình hướng dẫn xây dựng các mô hình HTX nấmnhư HTX nấm Hải Vân Nam, HTX nấm Kim Thanh, HTX nấm Hòa Tiến, HTX nấm

và hoa Song Phước…

Trung tâm khuyến nông, lâm, ngư cũng đã hỗ trợ xây dựng vùng trồng hoaphục vụ phát triển nông nghiệp đô thị Xây dựng mô hình trồng hoa cúc thu được kếtquả khả quan, thử nghiệm trồng hoa lay-ơn, hoa ly, hoa đồng tiền, trồng quất thửnghiệm… góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người trồng hoa

Về việc phát triển sản phẩm lưu niệm đặc trưng: Sáng ngày 24/5/2013, PhóChủ tịch UBND thành phố Phùng Tấn Viết và Giám đốc Sở Công Thương Phan VănKha chủ trì buổi họp sơ kết việc thực hiện Quyết định 55/2012 của UBND thành phố

về các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất hàng lưu niệm du lịch Tại buổi họp, SởCông Thương đã trao chứng nhận cho 8 đơn vị tham gia chương trình này, đồng thờitrao đổi các vấn đề liên quan để thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất này chotương xứng với sự phát triển của du lịch thành phố

Qua đề nghị của Sở Công Thương thành phố Đà Nẵng đối với danh sách cácdoanh nghiệp, cơ sở sản xuất tham gia Chương trình, Chủ tịch UBND thành phố thốngnhất phê duyệt 8 doanh nghiệp được UBND thành phố phê duyệt gồm Công ty Quàtặng Đại Dương, Công ty Thủ công mỹ nghệ truyền thống Phố Hội, Công ty Trúc

Trang 38

Xanh, Công ty mỹ nghệ Quang Huy, HTX mây tre An Khê, cơ sở Mộc Thanh Phi, cơ

sở tranh cát Phan Thị Mỹ Hạnh và cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Thanh Thiện

Bên cạnh các sản phẩm của 8 doanh nghiệp, một số doanh nghiệp khác cũng đãđến giới thiệu sản phẩm của mình ngay tại buổi họp với mong muốn được tham giachương trình, đem sản phẩm ra thị trường và nhận được sự hỗ trợ của thành phố Đạidiện của Công ty Thủ công mỹ nghệ truyền thống Phố Hội cho biết, sức hấp dẫn củachương trình và thị trường Đà Nẵng là rất lớn, chính vì muốn được tham gia chươngtrình này mà Phố Hội đã quyết định chuyển trụ sở chính của Công ty từ Hội An ra ĐàNẵng

Về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Thành phố đã tổ chức đào tạo nghề được cho 3.699 lao động, bao gồm đào tạonghề nông nghiệp (trồng nấm, trồng hoa, cây cảnh, nuôi cá nước ngọt) cho 449 laođộng và đào tạo nghề phi nông nghiệp (nấu ăn, lái xe, may công nghiệp, điện dândụng, mộc, mây tre đan…) cho 3.250 lao động Trong đó đào tạo miễn phí cho1.725/3.699 lao động từ nguồn kinh phí nhà nước Tỷ lệ lao động có việc làm sau khihọc nghề là 40%

Trong đó, tính riêng Hội Nông dân đã tổ chức được 3 lớp dạy nghề trồng hoa,cây cảnh và sản xuất chế biến nấm ăn cho 90 nông dân của 2 xã Hòa Liên và HòaTiến, tổng kinh phí 88,5 triệu đồng 2 dự án (dự án trồng hoa cây cảnh 630 triệu ở xãHòa Liên, dự án sản xuất nấm 450 triệu ở xã Hòa Tiến) vừa dạy nghề vừa hỗ trợ chovay vốn để nông dân phát triển sản xuất, tổng kinh phí là 1,08 tỷ đồng từ nguồn vốnQHTND

2.2.2 Kết quả khảo sát một số ngành nghề nông thôn Đà Nẵng

2.2.2.1 Giới thiệu cuộc khảo sát

Tiêu chí và phương pháp khảo sát

Để có thể đánh giá cụ thể thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn trên địabàn thành phố Đà Nẵng nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 300 phiếu bao gồm cơ

sở sản xuất (20 % số phiếu), người lao động (50 % số phiếu) và người dân (30 %) tạimột số địa phương hiện đang có các ngành nghề và làng nghề của thành phố Tiêu chílựa chọn các nghề để điều tra là điều tra các hộ sản xuất các sản phẩm tiêu biểu của

Đà Nẵng

Trên cơ sở tổng số phiếu, nhóm điều tra đã điều tra ngẫu nhiên các CSSX, cũngnhư phỏng vấn ngẫu nhiên người lao động của các ngành nghề và người dân trên địabàn thành phố cho tới khi đủ số phiếu theo đề cương

Mô tả mẫu khảo sát

- Mẫu cơ sở sản xuất

33

Trang 39

Biểu 1 Tỷ lệ cơ sở sản xuất theo ngành nghề

Số lượng cơ sở sản xuất khảo sát tập trung vào các ngành đá chẻ, đá mỹ nghệ,sản xuất nước mắm, trồng hoa cây cảnh Trong đó số cơ sở trồng hoa, cây cảnh chiếm

tỷ trọng lớn nhất với 38,71%

- Mẫu phiếu người lao động

Trong tổng số phiếu khảo sát người lao động thì nam giới chiếm tỷ lệ 46%, nữgiới chiếm 54% Đội ngũ lao động chủ yếu là lao động trẻ, dưới 45 tuổi chiếm 62,9%,lao động từ 46-60 tuổi chiếm 30,4%; lao động trên 60 tuổi chỉ chiếm 6,8% (Phụ lục1)

- Mẫu phiếu người dân

Độ tuổi của người dân được khảo sát như sau: 11,36% thuộc độ tuổi 18-29 tuổi;42,05% nằm trong khoảng 30-45 tuổi; 36,36% thuộc khoảng 46-60 tuổi; còn lại thuộcnhóm trên 60 tuổi.Đối tượng nam giới chiếm 42%, nữ giới chiếm 58% (Phụ lục 1)

Báo cáo chính chỉ trình bày tóm tắt thực trạng sản xuất và nguyên nhân hay cácnhân tố cơ bản quyết định thực trạng đó, kết quả chi tiết về thực trạng sản xuất củatừng nghề được trình bày trong Phụ lục 2

2.2.2.1 Kết quả khảo sát

(1) Tình hình sản xuất

Hầu hết các ngành nghề nông thônđược điều tra trên địa bàn thành phố ĐàNẵng đã đi vào ổn định và dự định mở rộng quy mô sản xuất, kể cả những nghề mớinhư nghề trồng nấm Tuy nhiên, một số nghề, một số hộ nằm trong kế hoạch di dời chỉhoạt động cầm chừng Tổng số các CSSX tăng ở nhiều ngành nhưng cũng giảm ở một

số ngành Đối với ngành đá mỹ nghệ tổng số hộ sản xuất tăng từ 37 hộ với 150 laođộng năm 1986 lên tới 245 hộ với 1.340 lao động năm 2000 và đạt 500 hộ thu hút

3500 lao động vào năm 2011-2012

Trang 40

Trong số 62 CSSX được hỏi về doanh thu từ hoạt động kinh doanh so với cácnăm trước thì có 18,2% trả lời lãi nhiều, 54,5% lãi ít, 3,6% hòa vốn, 14,5% thua lỗchút ít và đặc biệt có 9,1% cho rằng bị thua lỗ lớn Các ngành có lãi nhiều là hoa câycảnh, sản xuất nước mắm và nem tré, còn các ngành thua lỗ lớn là ngành đá chẻ

Biểu 2 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng thua lỗ của các CSSX là do khủng hoảng kinh

tế nên sức mua giảm (50%), do chi phí đầu vào tăng (52,3%), và do cạnh tranh khắcnghiệt (56,8%), nguyên nhân khác (36,4%)

Biểu 3 Nguyên nhân của tình trạng thua lỗ

(2) Sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm

Trong số các ngành nghề nông thôn ở Đà nẵng có nghề chỉ sản xuất thời vụnhư nghề bánh tráng, nghề làm mắm, các nghề khác sản xuất quanh năm Theo chủcác CSSX, số lượng sản phẩm tiêu thụ trung bình một năm hoặc một vụ của mỗi

35

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới – Báo cáo Kết quả triển khai Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới trong hai năm 2011-2012 và kế hoạch năm 2013 Khác
2. Ban tổ chức Hội chợ triễn lãm làng nghề Việt Nam 2009 và Ban tổ chức Festival nghề truyền thống Huế 2009 – Nghề và làng nghề thủ công truyền thống – Tiềm năng và định hướng phát triển Khác
3. Chi cục Phát triển nông thôn và quản lý chất lượng nông lâm thủy sản – Báo cáo mỗi làng một nghề (2011) Khác
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn - NXB Nông nghiệp (2007) Khác
5. Chi cục Phát triển nông thôn và quản lý chất lượng nông lâm thủy sản – Báo cáo tình hình phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (2011) Khác
6. Hồ Kỳ Minh – Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề tỉnh Quảng Ngãi – NXB Thông tin và Truyền thông (2012) Khác
7. Mai Thế Hởn – Phát triển một số làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven thủ đô – NXB Chính trị Quốc gia (1998) Khác
8. Quy hoạch xây dựng và phát triển các làng nghề thành phố Đà Nẵng đến năm 2015, có xét đến năm 2020 Khác
9. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 Khác
10. Quy hoạch ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 Khác
11. Sở Công thương – Đề án Phát triển công nghiệp nông thôn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 Khác
12. Ủy ban nhân dân quận Ngũ Hành Sơn – Báo cáo hoạt động làng nghề điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2005-2010 Khác
13. Ủy ban nhân dân quận Ngũ Hành Sơn -Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012 Khác
14. Ủy ban nhân dân quận Liên Chiểu – Đề án Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô trên địa bàn quận Liên Chiểu Khác
15. Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng – Báo cáo Kết quả thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w