Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người được ra tù trở về tái hòa nhập cộng đồng, trở thành những người có ích cho xã hội thì việc nghiên cứu, đánh g
Trang 1
LÊ ĐỒNG KHỞI
TRÁCH NHIỆM CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ ĐỒNG KHỞI
TRÁCH NHIỆM CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Hiến Pháp và Luật hành chính
Mã số: 60380102
Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Nguyễn Cửu Việt
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 3Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép, các số liệu và nguồn trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Đồng Khởi
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ 7
1.1 Khái niệm người chấp hành xong án phạt tù và các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù 7
1.1.1 Khái niệm người chấp hành xong án phạt tù 7
1.1.2 Khái niệm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án
phạt tù 8
1.1.3 Các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp
hành xong án phạt tù và ý nghĩa của chúng 14
1.1.4 Ý nghĩa của các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho
người chấp hành xong án phạt tù 17
1.2 Khái niệm và nội dung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù 20
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành
Trang 51.3.3 Giai đoạn từ năm 2002 đến 2015 27 1.3.4 Nhận xét chung 28
1.4 Kinh nghiệm của một số nước về tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù 28
1.4.1 Tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt
ÁN PHẠT TÙ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 36
2.1 Khái quát về tình hình người chấp hành xong án phạt tù từ năm 2002 đến 2015 36
2.1.1 Tình hình người chấp hành xong án phạt tù trên cả nước và một
Trang 6xong án phạt tù và giải pháp hoàn thiện 39
2.2.2 Thực trạng chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong
án phạt tù về cư trú ở địa phương và giải pháp hoàn thiện 42
2.2.3 Thực trạng thành lập các quỹ xã hội, quỹ từ thiện do các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân tài trợ để hỗ trợ, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù học nghề, tổ chức sản xuất, tìm kiếm việc làm, ổn
định cuộc sống và giải pháp hoàn thiện 48
2.2.4 Thực trạng chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và giới thiệu mô hình, điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù và
giải pháp hoàn thiện 53
2.2.5 Thực trạng bố trí ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để thực hiện công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hoà nhập cộng đồng và giải pháp hoàn thiện 59
2.3 Các giải pháp chung 60
2.3.1 Ban hành Luật tái hoà nhập cộng đồng 60
2.3.2 Ban hành và thực hiện các chính sách, kế hoạch, biện pháp hướng dẫn, ưu tiên các doanh nghiệp trong việc tuyển dụng lao động, tập trung giải quyết tốt vấn đề việc làm giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù
tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn tỉnh 61
2.3.3 Tăng cường công tác phối hợp, chỉ đạo các ngành, các cấp, Mặt trận, đoàn thể quần chúng vận động gia đình và xã hội tạo điều kiện thuận lợi
cho người chấp hành xong hình phạt tù tái hoà nhập cộng đồng 62
Trang 7PHẦN KẾT LUẬN 68
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người lầm lỡ để họ sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội là chính sách lớn của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đó cũng là sự kế thừa truyền thống nhân đạo của chế độ ta, đồng thời, cũng là trách nhiệm của xã hội Mặt khác, thực hiện tốt tái hoà nhập cộng đồng sẽ góp phần quan trọng để ổn định an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội Như Chỉ thị số 53/CT-TW ngày 21/3/2000 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về một số công việc cấp bách của các
cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000 đã chỉ ra: “Cần thực hiện có hiệu quả các biện pháp quản lý, giúp đỡ những phạm nhân được tha tù, nhằm tiếp tục giáo dục họ trở thành những người lương thiện, hòa nhập với cuộc sống cộng đồng, có ích cho gia đình và xã hội, hạn chế tối đa tình trạng tái phạm Cần kết hợp và phát huy vai trò, trách nhiệm của gia đình phạm nhân, của các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức đảng và cộng đồng dân cư trong việc nhận giúp đỡ, quản
lý, giáo dục, tạo điều kiện tìm việc làm cho những người mãn hạn tù hoặc được hưởng đặc xá tha tù trở về”1
Thực hiện chủ trương đó của Đảng, các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền địa phương đã xây dựng, chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp tích cực
để đưa công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người được tha tù, trở về tái hòa nhập cộng đồng dần đi vào nề nếp Tuy nhiên, thực tế hiện nay có không ít người chấp hành xong án phạt tù trở về cộng đồng không chịu rèn luyện, cải tạo nên tái phạm tội, có trường hợp khác đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng thực hiện các hành vi phạm tội làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nơi họ cư trú hoặc những nơi khác, có trường hợp phạm tội nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng phải truy cứu trách nhiệm hình sự
1 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53/CT-TW ngày 21/3/2000 về một
số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000
Trang 9Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do còn khá nhiều bất cập về cơ chế chính sách, công tác quản lý, sự quan tâm phối hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm, đặc biệt là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, chính quyền về công tác này còn rất hạn chế Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người được ra tù trở về tái hòa nhập cộng đồng, trở thành những người có ích cho xã hội thì việc nghiên cứu, đánh giá trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
là hết sức quan trọng Với lý do này, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Trách
nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù” làm
luận văn thạc sĩ Luật Hành chính - Hiến pháp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài có một số công trình nghiên cứu, ví dụ:
- Nguyễn Xuân Lý (2006), Quản lý giáo dục người chấp hành xong án
phạt tù đang lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả, đề tài khoa học cấp Bộ: Trong công
trình này, tác giả đã thu thập tài liệu, số liệu để đánh giá làm rõ tình hình về đặc điểm người chấp hành xong án phạt tù, thực trạng công tác quản lý, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù của lực lượng Công an Trên cơ sở đó,
đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giáo dục cho người chấp hành xong án phạt tù của lực lượng Công an
- Tác giả Nguyễn Quốc Nhật (2001), Giáo dục, giúp đỡ người tù tha tái
hoà nhập cộng đồng, sách chuyên khảo, Nxb Công an nhân dân, trong đó tác
giả không những phân tích đánh giá sâu sắc về thực trạng công tác quản lý, giáo dục mà còn đề cập tới các biện pháp quản lý giáo dục của lực lượng Công an, khẳng định cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý giáo dục người chấp hành xong án phạt tù Nội dung của công trình này đã đưa ra những số liệu mang tính thực nghiệm để đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý, giáo dục của lực lượng Công an
Trang 10- Vũ Đức Trung (2001) Tình hình tái phạm tội của người chấp hành
xong án phạt tù ở nước ta và hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình trạng tái phạm tội Trong công trình này, tác giả chủ
yếu tập trung phân tích thực trạng tái phạm tội của người chấp hành xong án phạt tù và chứng minh được vai trò cũng như nguyên nhân dẫn đến tình trạng tái phạm tội của người chấp hành xong án phạt tù do sự định kiến của xã hội, công tác quản lý giáo dục của lực lượng công an và các tổ chức chính trị xã hội chưa đạt được mục đích, yêu cầu và trong chừng mực nhất định còn có sơ
hở, thiếu sót, nên một mặt chưa có tác dụng răn đe, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù thành người lương thiện hoặc chưa tạo được điều kiện cần thiết như việc làm để tái hoà nhập với cộng đồng Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng công an trong công tác đấu tranh phòng ngừa người chấp hành xong án phạt tù tái phạm tội
- Huỳnh Thị Kim Ánh (2010), Tái hoà nhập cộng đồng và việc đảm
bảo quyền của người chấp hành xong án phạt tù, Tạp chí Khoa học quản lý
và giáo dục tội phạm, số 1 (tr.30 - 34) Trong công trình này, tác giả đã phân
tích quan điểm, chủ trương của Đảng, các quy định của pháp luật của Nhà nước về đảm bảo quyền của người chấp hành xong án phạt tù Ngoài ra, bài viết này còn chỉ ra mặt ưu điểm và hạn chế của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có trách nhiệm tổ chức công tác tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp hành
xong án phạt tù
Tuy nhiên, qua khảo sát của tác giả thì chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu chủ đề trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện
các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù nói riêng và các đối tượng khác như người nghiện ma tuý, trẻ em thực hiện vi phạm pháp luật, phụ nữ phạm pháp, người hồi gia, người tàn tật, v.v…
(gọi chung là nhóm yếu thế) Do đó, đề tài nghiên cứu trên là không trùng lặp,
bảo đảm tính mới
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn nhằm chỉ ra được những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù và đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm nâng cao trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, Luận văn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Khái niệm, các biện pháp cụ thể bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù và ý nghĩa của chúng;
- Khái niệm và nội dung khái niệm trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù;
- Quá trình phát triển của các quy định của pháp luật về các biện pháp
bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù;
- Đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù;
- Tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tái phạm tội của người chấp hành xong án phạt tù;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù, giúp người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng có được cuộc sống ổn định, góp phần đảm bảo
Trang 12an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng và phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập tiến tới không phạm tội mới và tái phạm tội
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu các chính sách, pháp luật, biện pháp thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trên cả nước trong đó có tỉnh Vĩnh Long, trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù Về thời gian và số liệu được thu thập trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù được
nghiên cứu từ năm 2002 đến năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đề tài, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, kinh nghiệm, điều tra xã hội học, tổng kết thực tiễn để đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của
đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng hợp và hệ thống về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
- Các giải pháp, kiến nghị trong luận văn có thể được tham khảo để các
cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao trách nhiệm của
Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
- Luận văn có thể là tài liệu nghiên cứu hay bài giảng chuyên đề cho sinh viên chuyên ngành luật
Trang 137 Cơ cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 02 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý về trách nhiệm của Ủy ban nhân
dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
Chương 2 Thực trạng trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong
việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù và giải pháp hoàn thiện
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ
1.1 Khái niệm người chấp hành xong án phạt tù và các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
1.1.1 Khái niệm người chấp hành xong án phạt tù
Người chấp hành xong án phạt tù “là những người phạm tội bị phạt án
tù giam, nay đã hết hạn được tha hoặc chưa hết hạn được đặc xá tha tù trước thời hạn”2 Để họ không tái phạm tội thì cần quản lý giáo dục chặt chẽ đối tượng tù tha về và cần bố trí công ăn việc làm cho họ, tạo điều kiện để họ làm
ăn lương thiện
Tù tha “là những người có hành vi phạm tội đã bị tòa án kết án bằng bản án tù chung thân hoặc tù có thời hạn, phải chấp hành hình phạt tù tại các trại giam, bị cách ly khỏi đời sống xã hội nay đã chấp hành xong hình phạt tù hoặc một lý do nào đó được ra khỏi trại giam, trở về với đời sống cộng đồng”3
Người chấp hành xong án phạt tù có những nét đặc thù riêng khác với các loại đối tượng khác được quản lý, giáo dục tại địa bàn cơ sở:
Một là, người chấp hành xong hình phạt tù là những người đã có hành vi
phạm tội bị xử lý theo pháp luật hình sự đã bị truy tố có quyết định của Tòa án
về việc áp dụng hình thức phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân tại các trại giam, trại tạm giam, cải tạo tiến bộ được hưởng sự khoan hồng được tha về địa phương, phần lớn người chấp hành xong hình phạt tù khi trở về địa phương thường có tâm lý mặc cảm về quá khứ của mình đã từng là kẻ phạm tội và thường có tâm lý xa lánh mọi người
2 Nguyễn Thị Thu Hòa (2012), Mạng lưới xã hội của người chấp hành xong án phạt tù, Luận án Tiến sĩ, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr.37
3 Nguyễn Văn Nhật (2004), Giáo dục, giúp đỡ người tù tha tái hòa nhập cộng đồng ở Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, tr.43.
Trang 15Hai là, người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương hầu hết có
tâm lý, mặc cảm, tự ti, khó khăn về kinh tế, không có công ăn việc làm, hoặc công việc làm không ổn định, rất dễ bị lôi kéo tác động ảnh hưởng của các phần tử xấu và các tư tưởng, hiện tượng tiêu cực nếu không có sự quan tâm của gia đình và xã hội họ dễ dàng trở lại con đường tái phạm, vi phạm pháp luật
Ba là, mỗi người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương có cách
nhìn nhận riêng về vị thế của mình trong xã hội Song nhìn chung, sau khi được tha về họ đều mong muốn có cuộc sống ổn định, được xã hội quan tâm, giúp đỡ
Như vậy, theo tác giả người chấp hành xong hình phạt tù bao gồm: Các phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân ở các trại giam, trại tạm giam được xét giảm án, đặc xá mới được coi là người chấp hành xong hình phạt tù Sau khi chấp hành xong án phạt tù về mặt pháp lý họ được hưởng các quyền lợi như người dân bình thường khác trong xã hội, trừ một số phải chấp hành tiếp các hình phạt bổ sung theo quyết định của tòa án như: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế v.v…, còn phần lớn số họ đã hoàn lương trở về với cương vị là một công dân bình thường có quyền được lao động, sinh hoạt tại cộng đồng
1.1.2 Khái niệm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
“Tái hòa nhập (Rehabilitation) là việc khôi phục lại các quyền cá nhân của người phạm tội đã bị tước đi theo bản án do tòa án tuyên”4 Tuy nhiên,
để người chấp hành xong án phạt tù trở về tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người dân sống bình thường trong xã hội cần phục hồi nhiều mặt:
phục hồi cải tạo - (Correctional Rehabilitation) - là việc phục hồi nhân
phẩm, cải tạo con người phạm tội5, phục hồi pháp lý (Legal Rehabilitation)
là sự phục hồi về mặt pháp lý các quyền của người phạm tội và phục hồi xã
4 Từ điển Black’Law Dictionary (2001), Nxb Thế giới, tr 15
5 Vũ Trọng Hùng (chủ biên), Từ điển Pháp luật Anh - Việt (2000), Nxb thành phố Hồ Chí Minh, tr 1088,
1089.
Trang 16hội (Social Rehabilitation) là sự phục hồi của người bị kết án tù về mặt xã
hội, sự hòa nhập lại của người đó với đời sống xã hội, trong đó, phục hồi xã hội là quá trình khó khăn, phức tạp và lâu dài nhất Nhưng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó phục hồi cải tạo, phục hồi pháp lý là cơ sở cho phục hồi xã hội
Luật về tái hòa nhập cộng đồng của những người phạm tội ở Nhật Bản
xác định mục đích thành lập Ban tái hòa nhập cộng đồng thuộc hệ thống cơ quan tư pháp hình sự là nhằm bảo vệ xã hội và công chúng thông qua sự hướng dẫn, hỗ trợ và giám sát mang tính công cộng (đối xử dựa trên cộng đồng) đối với những người phạm tội được hoãn thi hành án hoặc được tha tù trước thời hạn có điều kiện
Xét về khía cạnh pháp lý, tái hòa nhập cộng đồng là quá trình phục hồi
tư cách công dân, khôi phục các quyền và nghĩa vụ của công dân trên thực tế Tuy nhiên, tái hòa nhập cộng đồng là một quá trình hai chiều Đó là quá trình
mà người được ra tù hướng tới cộng đồng, hòa nhập với cộng đồng, nhưng mặt khác họ luôn chịu sự tác động và chi phối của chính cộng đồng mà họ hướng tới Vì vậy, tái hòa nhập cộng đồng là một quá trình kết hợp biện chứng hai chiều giữa sự nỗ lực, hoạt động tích cực của cá nhân người bị phạt
tù và sự tác động có tính định hướng của xã hội nhằm giúp đỡ họ khôi phục địa vị pháp lý và năng lực công dân sau khi được tha tù, hết hạn tù, giúp họ hòa nhập trở lại với cộng đồng
Các Mác đã khẳng định “Con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội” Quá trình trưởng thành về mặt sinh học cũng như quá trình hình thành, phát triển nhân cách của từng con người diễn ra trong đời sống cộng đồng, từ gia đình, trường học đến xã hội Theo cách hiểu của một số nhà nghiên cứu thì có thể coi đó chính là quá trình xã hội hóa, quá trình hòa nhập cộng đồng của từng cá nhân, có ý nghĩa quyết định để cá nhân đó trở thành con người xã hội Nếu vì một lý do nào đó, con người đã trưởng thành về mặt sinh học nhưng lại bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội thì sau thời gian cách ly đó, họ sẽ phải học lại từ lời nói đến cách ứng xử, giao tiếp trong từng loại quan hệ xã
Trang 17hội cho phù hợp với các chuẩn mực chung của xã hội, để tái hòa nhập lại với cộng đồng
Xét về mặt xã hội, người phạm tội bị kết án tù tuy không biệt lập hoàn toàn với xã hội loài người nhưng phải chịu sự cách ly trong thời gian nhất định khỏi đời sống xã hội bình thường, không được tham gia với tư cách một công dân, một chủ thể vào nhiều quan hệ pháp luật Vì vậy, điều khó tránh khỏi là họ sẽ gặp khó khăn, lúng túng cả về suy nghĩ, nhận thức lẫn về cách hành xử trong các quan hệ xã hội khi trở lại với xã hội đương đại mà họ đã xa cách nhiều năm Do đó, tái hòa nhập cộng đồng, về bản chất, trước tiên chính
là quá trình “tái sinh về mặt xã hội” của cá nhân những người ra tù, là quá
trình cá nhân tự nhận thức lại về bản thân trong các quan hệ xã hội, từ đó phục hồi và phát triển mặt xã hội của cá nhân, chính vì lẽ đó, như trên đã nói,
phục hồi xã hội là quá trình khó khăn, phức tạp và lâu dài nhất Đồng thời, đó
cũng là quá trình phục hồi tư cách công dân, khôi phục các quyền và nghĩa vụ
của công dân cả trên phương diện pháp lý lẫn trên thực tế Mặt khác, quá trình
tái hòa nhập của người ra tù là nhằm hướng tới cộng đồng và với cộng đồng nên nó luôn chịu sự tác động, chi phối của chính các cộng đồng mà họ hướng tới Như vậy, quá trình tái hòa nhập cộng đồng của những người ra tù phải được hiểu là một quá trình kết hợp biện chứng hai chiều giữa sự nỗ lực, hoạt động tích cực của cá nhân người bị phạt tù và sự tác động có tính định hướng của xã hội nhằm giúp đỡ họ khôi phục địa vị pháp lý và năng lực cá nhân công dân sau khi ra tù, giúp họ hòa nhập trở lại với cộng đồng nhanh chóng
hơn, thuận lợi hơn
Từ phân tích trên, tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án
phạt tù có các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, tái hòa nhập cộng đồng là một quá trình kết hợp biện chứng
hai chiều giữa nỗ lực cá nhân của người được ra tù và sự tác động tích cực, có định hướng của Nhà nước, xã hội để giúp cá nhân đó hòa nhập với cộng đồng
Đối với những người được ra tù, sau một thời gian bị cách ly khỏi xã hội, việc tái hòa nhập cộng đồng của họ bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan
Trang 18như yếu tố tâm lý, năng lực các nhân, quan hệ tình cảm với gia đình, người thân và cộng đồng Mặt khác, tái hòa nhập cồng đồng còn là quá trình tác động của các yếu tố xã hội đến người được ra tù như: các chủ thể của quan hệ
xã hội (trại giam, gia đình, chính quyền cơ sở, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, các thành viên của xã hội v.v…); môi trường xã hội xung quanh
Như vậy, quá trình tái hòa nhập cộng đồng là quá trình tác động đan xen giữa những yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Nó không chỉ xuất phát từ bản thân cá nhân người phạm tội bị cách ly khỏi xã hội mà còn từ chính cộng đồng xã hội Sự hòa nhập vào xã hội của họ chỉ diễn ra nhanh chóng nếu phát huy được những yếu tố tích cực từ hai phía là cá nhân và
xã hội
Thứ hai, tái hòa nhập cộng đồng là một quá trình liên tục được hình
thành bởi các giai đoạn khác nhau
Quá trình tái hòa nhập cộng đồng bao gồm các giai đoạn nối tiếp nhau bắt đầu từ việc chuẩn bị cho người phạm tội đang chấp hành hình phạt từ những điều kiện cần thiết về nhận thức, tâm lý và một số kỹ năng lao động trong quá trình giáo dục, cải tạo tại nơi giam giữ và kết thúc khi học tập, lập được cuộc sống bình thường trong xã hội
Trong giai đoạn chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, những người phạm tội tại các cơ sở giam giữ được chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho giai đoạn tái hòa nhập sau khi ra tù như được giáo dục về văn hóa, pháp luật, đạo đức, tư tưởng và ý thức đúng đắn về cuộc sống lao động lương thiện cũng như các kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với khả năng của họ
Thứ ba, tái hòa nhập cộng đồng của những người được ra tù là kết quả
của cơ chế phối hợp chặt chẽ hoạt động của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, trong đó vai trò quan trọng nhất thuộc về gia đình, chính quyền cơ sở và trại giam, trường giáo dưỡng
Việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người được ra tù được thực hiện bởi một cơ chế phối hợp chặt chẽ, trong đó có nhiều cơ quan, tổ chức tham
Trang 19gia và giữ vai trò khác nhau, tác động ở mức độ khác nhau vào hiệu quả cuối cùng của hoạt động này Trong đó vai trò quan trọng nhất thuộc về các chủ thể sau đây:
Chính quyền cơ sở là chủ thể chủ yếu chịu trách nhiệm trong việc trực tiếp tổ chức triển khai áp dụng các biện pháp hỗ trợ cho người ra tù nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng Ngoài ra chính quyền cơ sở là chủ thể tạo ra các mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho những người được ra tù tại các địa bàn dân cư
Gia đình và người thân là những chủ thể quan trọng đóng vai trò trước hết trong việc cảm hóa, giáo dục, động viên tinh thần cho những người có quá khứ lầm lỗi, phạm tội, giúp họ xóa bỏ mặc cảm, tích cực cải tạo, rèn luyện bản thân trong cả giai đoạn đang chấp hành hình phạt tù và sau khi được ra tù Bởi vì, gia đình không chỉ là nơi người được ra tù sinh sống hàng ngày mà còn là nơi họ có thể chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng của bản thân Sẽ rất thuận lợi cho những người được ra tù, nếu như những thành viên trong gia đình cảm thông, bao dung, độ lượng đối với quá khứ lỗi lầm của họ
Trại giam là những chủ thể có trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho phạm nhân sau khi được ra tù nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng như giáo dục văn hóa, pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp v.v…
Thứ tư, cộng đồng dân cư vừa là môi trường hòa nhập, vừa là yếu tố tác
động tích cực đến quá trình tái hòa nhập của những người được ra tù
Cộng đồng dân cư là môi trường để người được ra tù trở về tái hòa nhập cộng đồng, là môi trường để họ xây dựng các mối quan hệ xã hội của mình với các chủ thể khác như: hàng xóm, bạn bè, chính quyền cơ sở các tổ chức đoàn thể xã hội, tổ chức kinh tế Để thiết lập được các mối quan hệ tốt, thân thiện và tin cậy từ các chủ thể khác thì trước hết người được ra tù phải tự thích nghi với môi trường và chủ động thực hiện những hành vi ứng xử của mình sao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức và tuân thủ đầy đủ các quy phạm pháp luật Tuy nhiên, những cố gắng của người được ra tù chỉ đem lại
Trang 20kết quả tốt nhất nếu họ nhận được sự giúp đỡ và cảm thông, độ lượng từ phía cộng đồng dân cư nơi người đó cư trú
Thứ năm, định kiến xã hội đối với người chấp hành xong án phạt tù
Định kiến xã hội được hiểu là thái độ của một cá nhân trong từng nhóm
xã hội, nó thường là tiêu cực đối với người khác, nhóm khác trong quan hệ với nhau Và trong thực tế, mỗi nhà nghiên cứu có cách hiểu khác nhau về định
kiến xã hội “Định kiến xã hội là những thái độ bao hàm sự đánh giá một chiều
và sự đánh giá đó là tiêu cực đối với cá nhân khác hoặc nhóm khác tuỳ theo sự quy thuộc xã hội riêng của họ”6 Nói cách khác, định kiến là một loại phân biệt đối xử bao gồm 2 thành tố chính là nhận thức và ứng xử Định kiến là sự phán xét “tốt” hay “xấu” của chúng ta đối với người khác, ngay cả trước khi biết rõ họ hoặc biết được lý do hành động của họ7 Định kiến là thái độ có thể tích cực hoặc tiêu cực được hình thành trên cơ sở của yếu tố cảm xúc Là niềm tin hoặc cách nhìn thường là không thiện cảm dẫn đến cho chủ thể một cách nghĩ hoặc cách ứng xử tương tự với người khác8
Như vậy, tuy có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề định kiến, nhưng suy cho cùng, các tác giả đều có nhìn nhận giống nhau một cách
cơ bản trên một số điểm Hầu hết họ đều thừa nhận định kiến là một kiểu thái
độ tiêu cực - bất hợp lý đối với người khác dựa trên những nhận thức thiếu căn cứ, phiến diện và một chiều của chủ thể là người mang định kiến Chính
vì vậy, để bảo đảm công tác tái hoà nhập cộng đồng thì trách nhiệm của chính quyền là tuyên truyền sâu rộng để nhân dân xoá bỏ định kiến đối với người chấp hành xong án phạt tù
6 Nguyễn Thị Thu Hòa (2012), tlđd (2), tr 43
7 Nguyễn Thị Thu Hòa, (2012), tlđd (2), tr 43
8 Ban Nội chính Trung ương (2004), Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người được đặc xá tha tù trở về tái hòa nhập cộng đồng, Đề tài Nghiên cứu Khoa học
cấp Bộ, tr 27.
Trang 211.1.3 Các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù và ý nghĩa của chúng
Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Do vậy, Đảng và nhà nước ta luôn xem trọng và nhất quán trong việc đưa ra các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, tạo điều kiện tốt nhất có thể để giúp họ dễ dàng tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù bởi vì họ cũng là “con người” Cụ thể, ngày 16/9/2011 Chính phủ đã ban Nghị định số 80/2011/NĐ-CP quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, quy định này là cơ sở pháp lý để các ngành, các cấp và toàn xã hội tập trung quán triệt, triển khai thực hiện Những biện pháp này được quy định cụ thể tại Điều 11 của Nghị định 80/2011/NĐ-CP như sau:
Thứ nhất, thông tin, truyền thông giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng
cho người chấp hành xong án phạt tù
Biện pháp này nhằm định hướng, khuyến khích, động viên việc quản
lý, giáo dục, giúp đỡ, xóa bỏ định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử với người chấp hành án phạt tù, giúp họ ổn định cuộc sống tái hòa nhập cộng đồng Do vậy, nội dung, hình thức thông tin, truyền thông giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng phải phù hợp và được thực hiện bằng nhiều phương pháp, hình thức phong phú, đa dạng Đây cũng là nguyên tắc của thi hành án hình sự, thông qua nguyên tắc này cho ta thấy muốn công tác tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù đạt hiệu quả thì trước hết người chấp hành án phải được thông tin, truyền thông giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng để họ nắm bắt tất cả các thông tin về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù; họ phải được truyền thông giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng một cách đầy đủ, từ đó mới khuyến khích, động viên việc quản
lý, giáo dục, giúp đỡ, xóa bỏ định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử và định
Trang 22hướng cho họ có một cuộc sống tương lai tốt đẹp; thông qua truyền thông để nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân, của cả hệ thống chính trị đối với công tác này
Thứ hai, quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng
Biện pháp này được thực hiện trong thời gian kể từ khi họ chấp hành xong án phạt tù cho đến khi họ được xóa án tích theo quy định của pháp luật
hình sự, pháp luật tố tụng hình sự Thông qua các hoạt động giáo dục, cảm
hóa giúp cho người chấp hành xong án phạt tù tăng quyết tâm của họ trong việc tự cải tạo giáo dục để từ bỏ quá khứ tội lỗi và quay về với cuộc sống lao động chân chính Cho nên biện pháp quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù phải tác động đúng vào ý chí và nhận thức của họ thì mới có thể mang lại hiệu quả Các nội dung quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù phải được thực hiện theo thẩm quyền và trình tự
do pháp luật quy định Tức là từ nội dung đến trình tự tiến hành được quy định trong Luật Thi hành án hình sự và các văn bản hướng dẫn của cơ quan
có thẩm quyền Việc luật hóa trình tự, thủ tục đối với hoạt động tái hòa nhập cộng đồng thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là luôn tôn trọng quyền tự do, dân chủ của người dân, ngay cả khi họ vi phạm pháp luật nhằm đảm bảo sự công bằng trong xã hội Đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền như hiện nay thì vấn đề tuân thủ pháp luật trong việc tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù là một yêu cầu bức thiết hơn bao giờ hết Một khi yêu cầu này được thực hiện trong thực tế thì công tác tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đi vào thực chất hơn vì đối với người chấp hành án phạt tù rất cần sự an ủi, động viên, chia
sẻ từ vật chất đến tinh thần của đội ngũ những người trực tiếp quản lý, giáo dục họ cho đến người thân gia đình và cộng đồng xã hội, các yếu tố đó sẽ là động lực để họ vượt qua mọi khó khăn thử thách để tự cải tạo mình trở thành người lương thiện
Trang 23Thứ ba, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù
Căn cứ vào điều kiện sức khỏe, khả năng chuyên môn của bản thân, nhu cầu của người sử dụng lao động và điều kiện thực tế của địa phương để xem xét hỗ trợ cho vay vốn từ các ngân hàng chính sách xã hội, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện ở địa phương và được xét hỗ trợ một phần vốn đối với người
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gia đình chính sách để tạo việc làm và sản xuất, kinh doanh Đối với người chưa thành niên chấp hành xong án phạt tù phải được ưu tiên học văn hóa, học nghề, giải quyết việc làm và hỗ trợ vay vốn để học tập, tìm kiếm việc làm ổn định cuộc sống
Thứ tư, trợ giúp về tâm lý và hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho người chấp
hành xong án phạt tù
Nhà nước khuyến khích các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện các hoạt động như: tư vấn, dạy nghề, giới thiệu việc làm, giúp đỡ những người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; khuyến khích việc tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù vào làm việc trong các
cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh; các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù được ưu tiên thuê nhà, cơ sở hạ tầng của Nhà nước theo quy định của pháp luật để thành lập các cơ sở giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ vào thẩm quyền quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, khả năng quỹ đất ở địa phương và các nguồn tài nguyên khác để có kế hoạch giúp các tổ chức, cá nhân trong hoạt động dạy nghề, tạo việc làm cho người chấp hành xong án phạt tù; cơ sở sản xuất được thành lập với mục đích giáo dục, dạy nghề, giúp đỡ việc làm cho người chấp hành xong
án phạt tù được hưởng các chế độ miễn, giảm thuế theo quy định của các luật thuế có liên quan và văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 241.1.4 Ý nghĩa của các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
Các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù có ý nghĩa quan trọng thể hiện ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, giúp tăng cường năng lực thích ứng với xã hội, góp phần rút
ngắn thời gian hòa nhập vào cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
Công tác tái hòa nhập cộng đồng cho những người chấp hành xong án phạt tù sẽ có lợi trong việc tăng cường năng lực thích ứng với môi trường mới tại cộng đồng xã hội Do sau một thời gian chấp hành án phạt tù trở về với cộng đồng, những đối tượng này sẽ gặp những rào cản, trở ngại bởi sự thay đổi của môi trường sống đem lại Vì trong thời gian chấp hành án phạt
tù trong trại giam, họ được lao động và học tập theo chế độ cưỡng chế và chịu sự quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật, những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như ăn, mặc, sinh hoạt v.v… đều được đảm bảo Khi chấp hành xong án phạt tù trở về với cộng đồng, họ phải dựa vào chính bản thân mình để mưu cầu cuộc sống Trước sự thay đổi gần như toàn diện và cùng với những khó khăn do biến động xã hội mang lại, họ khó tránh khỏi cảm giác hoang mang, lo lắng, mặc cảm xã hội và nhất là khi không tìm được việc làm để ổn định cuộc sống trước mắt, họ rất dễ dẫn đến nản lòng, chùn bước, thậm chí có khi mất hết ý chí phấn đấu trước những khó khăn, thử thách Khi trở về với cộng đồng xã hội, mỗi người chấp hành xong án phạt tù
có một tâm trạng riêng do ảnh hưởng tâm lý mắc lỗi của mình trước đây Nhưng phần lớn là đều mong muốn có được một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, mong được mọi người khác hiểu, tha thứ và giúp đỡ Nhưng cũng có một số người vẫn nặng tâm lý xấu hổ, mặc cảm, lo lắng, hoài nghi v.v và cũng có không ít người mang thái độ hận thù, bên cạnh những khó khăn trắc trở ban đầu trong cuộc sống càng khiến họ thêm lo lắng, mất đi niềm tin và nghị lực phấn đấu Do vậy mà những người chấp hành xong án phạt tù rất cần sự quan tâm giúp đỡ của cả cộng đồng, xã hội thông qua các biện pháp tác động tích cực, phù hợp Từ đó sẽ giúp họ có được niềm tin và nghị lực vương lên, sớm
Trang 25thích nghi với môi trường mới tại cộng đồng Tuy nhiên, những đặc điểm của các biện pháp như đã nêu trên có mang lại hiệu quả tối ưu hay không thì còn phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực của từng cá nhân đối tượng
Thứ hai, giúp tăng nhanh mức độ tái hòa nhập cộng đồng cho người
chấp hành xong án phạt tù, phát huy hiệu quả của việc áp dụng hình phạt Theo quy định tại điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định”, “Khi nói đến hình phạt cần đặt trong mối liên hệ giữa ba phạm trù Nhà nước - Tội phạm - Hình phạt Nhà nước xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị nên đã quy định những hành vi thực sự nguy hiểm cho lợi ích của giai cấp thống trị là tội phạm”9, Nhà nước quy định những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất để áp dụng đối với người đã thực hiện tội phạm thì đó gọi là hình phạt “Do vậy, hình phạt mang bản chất giai cấp sâu sắc”10 Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước Do vậy, kết quả của việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù là thước đo giá trị hiệu quả của hình phạt
Thực tế cho thấy, việc áp dụng hình phạt chưa chấm dứt khi đối tượng chấp hành xong bản án, quyết định của Tòa án mà chỉ thực sự có ý nghĩa khi
nó hướng đến người phạm tội bằng việc cải tạo, giáo dục họ trở thành người lương thiện Xét ở góc độ cá nhân người phạm tội thì hiệu quả của việc áp dụng hình phạt, hiệu quả của quá trình lao động, học tập, cải tạo trong quá trình chấp hành án phạt tù được thể hiện rõ nhất trong môi trường xã hội, khi nào đối tượng không tái phạm, có được cuộc sống ổn định và có ích cho xã hội thì khi đó mới có thể coi là việc áp dụng hình phạt được phát huy tối đa hiệu quả Còn nếu xét ở góc độ khác thì các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng
Trang 26chỉ được phát huy hiệu quả khi phạm nhân với gia đình luôn được giữ mối liên hệ thông qua trại giam; họ được tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và thường xuyên, liên tục được giáo dục đạo đức, tư tưởng, pháp luật, kỹ năng sống v.v từ đó làm thức tỉnh họ và tạo động lực cho họ tự nguyện, tự giác cải tạo Đây chính là con đường để họ rút ngắn thời gian chấp hành án
Thứ ba, là phương thức hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội
phạm và ngăn ngừa tình trạng tái phạm
Nhà nước không chỉ đặt mục đích ngăn chặn người phạm tội tiếp tục gây hậu quả cho xã hội, mà còn góp phần trong cuộc đấu tranh phòng ngừa tình trạng tái phạm tội Đây là hai mặt không thể tách rời của mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, nó luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau Việc người chấp hành xong án phạt tù phạm tội trở lại (tái phạm) sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
và mục đích cuối cùng của hình phạt không đạt được Để xảy ra tình trạng trên thì có rất nhiều nguyên nhân, ngoài nguyên nhân do chế tài áp dụng hình phạt không có tác dụng, do sự thiếu đồng bộ của hệ thống các cơ quan tham gia thi hành án hình sự, sự bất cập của hệ thống pháp luật về quản lý xã hội, chính sách hình sự không phù hợp với xu thế phát triển trong nước và trên thế giới v.v thì còn nguyên nhân sau: Còn quá nhiều người sau khi mãn hạn tù không tìm được việc làm; sự kỳ thị, coi thường của xã hội thậm chí còn chịu
sự xa lánh, bỏ mặc của gia đình, dòng họ; việc quản lý người chấp hành xong
án phạt tù trở về địa phương bị buông lỏng hoặc có quản lý nhưng không có chương trình, kế hoạch và phân công trách nhiệm cụ thể, thiếu kiểm tra nên không đạt hiệu quả
Trang 271.2 Khái niệm và nội dung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
“Trách nhiệm” là một từ đa nghĩa, có thể là “trách nhiệm xã hội”,
“trách nhiệm đạo đức”, “trách nhiệm chính trị”, “trách nhiệm pháp lý” Các khái niệm này đều có thể được hiểu theo nghĩa rộng (bao gồm trách nhiệm tích cực và trách nhiệm tiêu cực) hoặc theo nghĩa hẹp (trách nhiệm tiêu cực)
“Trách nhiệm pháp lý” cũng như vậy, theo nghĩa ngắn gọn nhất là trách nhiệm trước pháp luật, có thể được hiểu theo nghĩa rộng (bao hàm trách nhiệm tích cực và trách nhiệm tiêu cực) hoặc chỉ theo nghĩa hẹp - trách nhiệm tiêu cực “Trách nhiệm pháp lý” hiểu theo nghĩa trách nhiệm tích cực là bao hàm quyền và nghĩa vụ Còn trách nhiệm pháp lý tiêu cực lại được hiểu là sự tác động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến người vi phạm pháp luật, buộc họ phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định Theo Từ điển
Luật học, “trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi do pháp luật quy định mà
chủ thể pháp luật phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật của mình hoặc của người mà mình bảo lãnh hoặc giám hộ Khác với các loại trách nhiệm khác, trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với sự cưỡng chế nhà nước, với việc
áp dụng chế tài do pháp luật quy định”11 Đó là giải thích khái niệm trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực
Trong luận văn này, khái niệm trách nhiệm được hiểu dưới góc độ trách nhiệm pháp lý và theo nghĩa rộng (bao hàm trách nhiệm tích cực và trách nhiệm tiêu cực) Trong các luật về tổ chức các cơ quan nhà nước, như Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật tổ chức chính quyền địa phương v.v khái niệm trách nhiệm thường được hiểu theo nghĩa tích cực “Trách nhiệm pháp lý” hiểu theo
11 Từ điển Luật học (2008), Nxb Từ điển Bách khoa và Từ điển Tư pháp, tr 40
Trang 28nghĩa trách nhiệm tích cực bao hàm quyền và nghĩa vụ, do vậy việc xem xét trách nhiệm phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ, quyền và nghĩa vụ (trách nhiệm tích cực) càng rộng thì trách nhiệm tiêu cực càng lớn
Từ những phân tích trên, theo tác giả, khái niệm trách nhiệm của Ủy
ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù được hiểu là các nhiệm vụ, quyền hạn (quyền và nghĩa vụ) của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù, đồng thời nếu không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn này thì sẽ phải chịu những tác động mang tính cưỡng chế nhất định từ phía cơ quan cấp trên (Chính phủ, Hội đồng nhân dân)
1.2.2 Nội dung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
Từ phân tích trên, trong nội dung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù bao gồm hai bộ phận: bộ phận chủ yếu là các
nhiệm vụ, quyền hạn (quyền và nghĩa vụ); bộ phận thứ hai là những tác động (biện pháp) mang tính cưỡng chế nhất định từ phía cơ quan cấp trên
Luật Thi hành án hình sự, Điều 179, 180 quy định chung nhất về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù như sau:
“Có chính sách phù hợp để khuyến khích sự đóng góp hỗ trợ của các cơ quan,
tổ chức, doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện để người chấp hành xong án phạt tù tìm việc làm, ổn định cuộc sống, học nghề, hoà nhập cộng đồng”
Cụ thể hơn, Điều 23 Nghị định số 80/2011/NĐ-CP, ngày 16/9/2011 của Chính phù quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
Trang 29thuộc Trung ương trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù như sau:
Một là, tổ chức quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hoà nhập cộng đồng, phòng, chống tái phạm tội và vi phạm pháp luật Thông qua công tác quản lý, giáo dục, cảm hóa, giúp đỡ người chấp
hành xong án phạt tù sẽ làm tăng quyết tâm của họ trong việc tự cải tạo, tự giác, tự nguyện từ bỏ quá khứ tội lỗi và quay về với cuộc sống lao động chân chính Việc giáo dục, cảm hóa, giúp đỡ phải tác động đúng vào ý chí và nhận thức của họ thì mới có thể mang lại hiệu quả Đồng thời, đây cũng là biện pháp quan trọng góp phần hạn chế tái phạm, chủ động phòng ngừa, kiềm chế
sự gia tăng tội phạm và đảm bảo giữ vững ổn định tình hình an ninh - trật tự, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Hai là, xây dựng chương trình, kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng Để giúp đỡ người chấp hành xong án
phạt tù tái hòa nhập với cộng đồng đạt kết quả cao thì cần có sự chung tay của
cả hệ thống chính trị Vì vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh phải xây dựng chương trình, kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các ban, ngành trong tỉnh Việc xây dựng chương trình, kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù sẽ tạo tư duy có hệ thống để tiên liệu và định hướng các tình huống pháp lý; tập trung trọng tâm, trọng điểm vào các mục tiêu và chính sách của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức đã đề ra Đồng thời, phối hợp mọi nguồn lực của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức hữu hiệu hơn; chủ động, kịp thời ứng phó với mọi khó khăn thách thức để phát triển nhân rộng các kết quả đã đạt được
Ba là, chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan, tổ chức liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc tiếp nhận, quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù về cư trú ở địa phương Sau khi người chấp
hành xong án phạt tù trở về địa phương, Công an cấp xã tổ chức tiếp nhận
Trang 30việc trình diện của họ Thông qua đó, tổ chức chính quyền cấp xã nắm được tâm tư, nguyện vọng của người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương
và hướng dẫn họ thực hiện quy trình về khai báo tạm trú, tạm vắng, thủ tục nhập hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân
Bốn là, quyết định thành lập các quỹ xã hội, quỹ từ thiện do các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân đề xuất để hỗ trợ, giúp đỡ chấp hành xong án phạt tù học nghề, tổ chức sản xuất, tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm cho người chấp hành xong
án phạt tù có ý nghĩa rất quan trọng đối với họ trong việc hoà nhập với cộng đồng, có việc làm thì mới yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế, từ đó mới quên đi những mặc cảm, tự ti, quên đi những lầm lỗi của mình để tái hoà nhập cộng đồng
Năm là, chỉ đạo các cơ quan thông tin, tuyên truyền ở địa phương dành thời lượng thích hợp cho việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến đường lối, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tái hoà nhập cộng đồng và giới thiệu mô hình, điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hoà nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù; chỉ đạo cơ quan tư pháp địa phương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan trợ giúp về tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý cho người chấp hành xong án phạt tù
Thông qua tuyên truyền nhằm định hướng, khuyến khích, động viên việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ, xóa bỏ sự định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử với người chấp hành án phạt tù, giúp họ ổn định cuộc sống tái hòa nhập cộng đồng; nội dung, hình thức thông tin, truyền thông giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng phải phù hợp và được thực hiện bằng nhiều phương pháp, hình
thức phong phú, đa dạng, đạt kết quả
Sáu là, bố trí ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để thực hiện công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt
tù Chủ trương bố trí ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước
trong việc thực hiện công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành
Trang 31xong án phạt tù là nhằm tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ chủ động dự trù kinh phí, ưu tiên một phần kinh phí cho quá trình thực hiện công tác dạy nghề, tìm kiếm việc làm, tổ chức sản xuất v.v… nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế gia đình và xã hội
1.3 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
Công tác tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm Tuy nhiên, kể từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước ta trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ nên hệ thống pháp luật về lĩnh vực này chưa được quan tâm và còn hạn chế Kể từ năm 1945 - 1988, công tác giáo dục cải tạo phạm nhân được thi hành theo Sắc lệnh 150/SL ban hành năm 1950 về tổ chức các trại giam và các văn bản hướng dẫn chứ Nhà nước chưa ban hành được văn bản nào có tính pháp lý cao hơn Sắc lệnh Trong giai đoạn này, hoạt động về công tác giáo dục, giúp đỡ người phạm tội chủ yếu được thực hiện theo các văn bản của Đảng Và sau 10 năm thống nhất đất nước, Nhà nước ta mới ban hành được Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp theo năm 1993 mới ban hành pháp lệnh thi hành án phạt tù, Luật đặc xá năm 2007, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 Đây là những bộ luật, luật có quy định về người phạm tội
và một số vấn đề có liên quan đến công tác quản lý, giáo dục người phạm tội
ở địa phương Chính vì vậy, để làm nổi bật quá trình hình thành công tác tái hòa nhập cộng đồng, tác giả đã chia thành các giai đoạn 1945 - 1988, 1988 -
2002 và 2002 - 2015
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
Khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Đảng và Nhà nước ta
mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy rằng cần có pháp luật ngay
để trấn áp, đè bẹp các hoạt động phá hoại từ bên ngoại, cùng với sự chống phá của các thế lực phản động trong nước nhằm bảo vệ chính quyền còn non trẻ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh ngày 10/10/1945 giữ
Trang 32tạm thời các luật lệ cũ đang hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành luật lệ mới thống nhất cho cả nước
Từ năm 1946 đến 1954, thời kỳ này cả nước tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp nên các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước ta đều được sơ tán lên vùng chiến khu hoạt động bí mật, do vậy
mà đại bộ phận các trại giam cũng phải sơ tán theo vào vùng căn cứ địa cách mạng Giai đoạn này Nhà nước ta đã ban hành nhiều Sắc lệnh, Nghị định v.v để làm cơ sở cho việc quản lý trại giam và đây cũng đặt nền móng để hình thành và thực hiện các chính sách đối với phạm nhân Đặc biệt, Sắc lệnh số 150/SL ngày 07/11/1950 về việc giam giữ phạm nhân và trách nhiệm của Bộ Nội vụ đối với việc tổ chức và kiểm soát các trại giam trong
phạm vi toàn quốc Đây được xem là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà
mước ta về công tác quản lý, giam giữ và giáo dục người phạm tội Tại Điều
1 của Sắc lệnh này có nêu: “Phạm nhân phải giam giữ trong các trại giam để trừng trị và giáo hóa” Do đó, việc giam giữ người phạm tội phải thực hiện song song hai nhiệm vụ là trừng trị và giáo hóa, tức là nghiêm khắc theo quy định của pháp luật song song với cảm hóa giáo dục nhằm giúp họ trở thành người có ích cho xã hội Như vậy vấn đề trừng trị và giáo hóa người phạm tội đã được pháp luật Việt Nam quy định rất sớm
Tiếp theo liên Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và Bộ Tư pháp ban hành Nghị định số 181-NV/6, ngày 12/6/1951 ấn định những chi tiết về sự thiết lập, tổ chức và kiểm soát trại giam Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người cũng như tinh thần Sắc lệnh số 150/SL ngày 07/11/1950, Nghị định cũng có quy định “ trong thời gian bị giam cầm phạm nhân được
ăn đủ theo mức sống tối thiểu, cần thiết, tùy theo hoàn cảnh kinh tế của mỗi địa phương phạm nhân được giáo dục tư tưởng, tư cách, nghề nghiệp, được đọc sách báo, học văn hóa, chính trị, được dạy nghề ”
Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng và đất nước được thống nhất Để bảo đảm công tác cải tạo số ngụy quân, ngụy quyền thì tại các tỉnh phía Nam được mở rộng thêm các trại giam Thời điểm này mặc dù gặp
Trang 33rất nhiều khó khăn, song Nhà nước ta vẫn đối xử nhân đạo với số đối tượng này và tổ chức nhiều lớp học tập cải huấn để họ hiểu chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước ta, qua đó mà nhiều phạm nhân được cảm hóa giáo dục tiến bộ, được xem xét trả tự do trở về tái hòa nhập cộng đồng, đoàn tụ với gia đình và cùng tham gia vào công cuộc xây dựng, tái thiết đất nước
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2002
Sau hơn 10 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, do ảnh hưởng bởi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài dẫn đến nhiều mặt của đời sống xã hội, kinh tế bị trì trệ, đất nước ta phải đương đầu với nhiều
âm mưu chóng phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, nhất là phải tiếp tục khắc phục hậu quả chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam
Do đó, việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù cũng bị ảnh hưởng không nhỏ Tuy nhiên, công tác thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù trong giai đoạn này cũng được Đảng và Nhà nước và toàn thể cộng đồng xã hội quan tâm, chung sức, chung lòng khắc phục khó khăn, từng bước tháo gỡ những vướng mắc Hiến pháp nước ta ghi nhận các quyền con người, trong đó có cả người phạm tội đã thể hiện rõ nét tính ưu việt của chính sách giáo dục cảm hóa người phạm tội Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, đến ngày 08/3/1993
Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Thi hành án phạt tù và đây cũng là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất về lĩnh vực thi hành án phạt tù tại thời điểm này
Thực hiện công tác bảo đảm các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù không chỉ được áp dụng đối với người
đã chấp hành xong án phạt tù mà áp dụng cho cả người đang chấp hành án phạt tù ngay khi họ đang chấp hành án tại các trại giam Cụ thể là ở giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng thì tập trung vào các nội dung: Giáo dục công dân, kỹ năng hòa nhập cộng đồng, lao động hướng nghiệp, giáo dục pháp luật v.v còn ở giai đoạn chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng thì tập trung vào
Trang 34các nội dung: Giáo dục văn hóa, pháp luật, giáo dục công dân, kỹ năng sống, dạy nghề, giảm án phạt tù, chữa bệnh v.v
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2002 đến 2015
Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy định rõ các chế độ chính sách đối với phạm nhân trên tất cả các mặt, trong đó có các hoạt động tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù Đặc biệt là tại khoản 2 và
3 điều 30 của Luật đặc xá năm 2007 quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc “cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nhân thân; cấp giấy chứng nhận, xác nhận về việc chấp hành chính sách, pháp luật hoặc hoàn cảnh gia đình hoặc các giấy tờ, tài liệu cần thiết khác của người được đề nghị đặc xá; tiếp nhận, tạo điều kiện, giúp đỡ người được đặc xá trở về hoà nhập với gia đình và cộng đồng, tạo
công ăn việc làm, ổn định cuộc sống và trở thành người có ích cho xã hội”
Ngày 17/6/2010, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thi hành án hình sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 Đến ngày 29/6/2010, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh số 11/2010/L-CTN công bố Luật Thi hành án hình sự Điều 179 Luật này quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân tỉnh trong thi hành án hình sự: “Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân cấp dưới có chính sách phù hợp để khuyến khích
sự đóng góp hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện để người chấp hành xong án phạt tù tìm việc làm ổn định cuộc sống, học nghề, tái hoà nhập cộng đồng”
Trang 35sở pháp lý quan trọng để Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan đến việc bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù Đồng thời, là cơ sở pháp lý quan trọng để lực lượng Công an thực hiện vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp cũng như áp dụng các biện pháp công tác vào việc quản lý, giáo dục, giúp
đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng Trong đó, có nội dung mới, rất quan trọng của Nghị định cần đặc biệt lưu ý trong tổ chức thực hiện là kinh phí bảo đảm cho hoạt động tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù (Điều 5, 9)
1.3.4 Nhận xét chung
Việc ban hành các quy định pháp luật trên đã quy định rõ các chế độ chính sách đối với phạm nhân trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có các hoạt động tái hòa nhập cộng đồng như: Chính sách giáo dục cảm hóa người chấp hành án phạt tù của Đảng và Nhà nước thông qua lao động, học tập để phạm nhân nhận thấy được những lỗi lầm trước đây họ đã gây ra, để họ tự ăn năn hối cải, tự giác học tập rèn luyện, cải tạo tiến bộ để trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội và đây cũng là một trong những chủ trương lớn, quan trọng của Đảng có tính đột phá nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc cải cách tư pháp, làm nền tảng tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.4 Kinh nghiệm của một số nước về tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù
1.4.1 Tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt
tù ở các trại giam cấp thành phố và hạt Số còn lại, khoảng 4 triệu đang bị cải
Trang 36tạo hoặc chấp hành các hình phạt khác dưới sự quản chế của cộng đồng theo lệnh của Tòa án Gần 126.000 trẻ vị thành niên đang ở các trường giáo dưỡng Chính vì vậy, số lượng người ra trại ngày càng tăng Năm 1999, gần 600.000 người ra trại từ các nhà tù liên bang và nhà tù các bang và các cơ sở giáo dục
Đa số phạm nhân đều từ những khu vực nghèo đói, bần cùng nhất của
xã hội Do vậy, họ hầu như không có sự chuẩn bị sẵn sàng về tâm lý, kinh tế, nghề nghiệp, chỗ ở cho cuộc sống sau khi ra tù Và sự lựa chọn dễ dàng nhất, nhanh nhất họ sẽ tiếp tục phạm tội, bị bắt và lại bị tống vào tù Theo báo cáo của trường đại học Pensivania, 2/3 phạm nhân được tạm tha đã bị bắt lại trong vòng 3 năm, hầu hết trong số này đã bị bắt ngay trong vòng 6 tháng đầu tiên sau khi được thả ra Năm 1980, số bị bắt lại chiếm 17% số phạm nhân, đến nay con số này đã lên đến 35% Trong một cuộc nghiên cứu gần đây về phạm nhân nam và nữ ở các nhà tù Texas, gần 30% số phạm nhân đã từng sử dụng thuốc hoặc rượu đang chấp hành án, thừa nhận rằng việc nghiện hút ma túy là nhân
tố quyết định để họ có quay lại con đường phạm pháp hay không
Mặc dù, đối với một nước có nền kinh tế vững mạnh như Mỹ, phạm nhân mãn hạn tù được trở về hòa nhập cộng đồng có cơ hội về điều kiện ăn ở, chăm sóc sức khỏe thuận lợi hơn nhiều nước khác Tuy nhiên, họ vẫn gặp nhiều trở ngại trong việc trở lại với cuộc sống bình thường Một trong những trở ngại lớn nhất, đó chính là rào cản về tâm lý Mặc dù hầu hết chính quyền bang, thành phố và các cơ quan bảo trợ xã hội nhận thức rằng tất cả các phạm nhân, đặc biệt là những người đã bị nghiện hoặc có vấn đề về sức khỏe, tâm
lý rất cần sự giúp đỡ, nhưng do ít tổ chức hỗ trợ nên các hoạt động kết nối phạm nhân khi ở trại đến khi ra tù còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc giải tỏa những vướng mắc về tâm lý cho phạm nhân sau khi ra trại
Trong khi đó, đa số phạm nhân ở các nhà tù Mỹ đều là những phạm nhân phạm các tội có liên quan đến ma túy Khoảng 80% số phạm nhân và trại viên ở các nhà tù và cơ sở giáo dục ở Mỹ dính dáng việc sử dụng ma túy nghiêm trọng Nhiều trong số họ có nguy cơ cao đối với các bệnh HIV và viêm gan Trong khi đó, người ra tù không có tiền tiết kiệm, không có nhà ở
Trang 37ổn định và cơ hội thất nghiệp là khá cao Bên cạnh đó, họ còn gặp nhiều vấn
đề liên quan đến sức khỏe như HIV, lao, phổi, viêm gan B, C Chính vì vậy,
việc giúp đỡ những người mãn hạn tù trở về cộng đồng có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho họ và gia đình được nhiều thuận lợi Điều này góp phần gia tăng tính nghiêm minh trong yếu tố trừng trị của pháp luật và giúp giảm bớt gánh nặng cho xã hội thông qua việc giảm bớt nguồn ma túy và tội phạm
Qua thực tế đã chứng minh, sự tham gia của các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng đã có tác dụng tích cực vào giai đoạn ban đầu khi người mãn hạn tù trở về xã hội Các dịch vụ hỗ trợ này sẽ cung cấp mối liên hệ mật thiết
để giúp đỡ hoặc giải quyết những vấn đề khó khăn mà phạm nhân ra trại gặp phải Đồng thời, tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ ngay tại các nhà tù Mỹ để phạm nhân trong thời gian chấp hành hình phạt tù định hướng tương lai sau khi ra khỏi tù
Một yếu tố lý tưởng là các dịch vụ hỗ trợ được tiến hành ngay khi phạm nhân mới vào tù Các nhân viên xã hội sẽ đánh giá bước đầu về phạm nhân bao gồm nhu cầu cai nghiện, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, các vấn đề tâm lý sức khỏe, giáo dục, khóa đào tạo nghề nghiệp và các dịch vụ khác Sau
đó, một đội gồm những nhân viên xã hội và người hỗ trợ, tư vấn sức khỏe nắm tình hình và tư vấn sức khỏe, nghề nghiệp cho phạm nhân, trên cơ sở phối hợp với các trại giam, cơ sở giáo dục Trong vài trường hợp, điều này cho phép phạm nhân tiếp tục hợp tác với một cơ sở nào đó để sau khi ra tù họ thuận lợi hơn trong việc lựa chọn chương trình phù hợp với những việc mà họ
để khắc phục những tác dụng phụ của cơn nghiện hoặc điều trị HIV
Trang 38Các dịch vụ hỗ trợ người mãn hạn tù tái hòa nhập cộng đồng chủ yếu là các giải pháp hỗ trợ cai nghiện, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ y tế, chương trình
hỗ trợ cai nghiện cho những người bị AIDS, những hỗ trợ tạm thời cho các hộ gia đình, các dịch vụ xã hội, đào tạo và hỗ trợ tìm việc làm, giúp đỡ tìm nhà, các dịch vụ tâm lý sức khỏe 12
kỹ năng sống (sử dụng internet, công nghệ thông tin, hỗ trợ tìm kiếm việc làm); quản lý phạm nhân tâm thần (bằng việc tận dùng phạm nhân trong tiến trình chuẩn bị tái hòa nhập cùng tham gia) CPDP là tổng thể các biện pháp được thiết kế để với mục đích giáo dục, cải tạo phạm nhân và trang bị cho phạm nhân những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết thông qua hàng loạt các phần học về hoạt động thể chất và tinh thần13
12 Hồng Anh (2012), Vấn đề người mãn hạn tù tái hòa nhập cộng đồng ở Mỹ, Tạp chí khoa học và giáo dục tội phạm, (4), tr 13, 14
13 Lê Văn Đạo (2013), Những sang kiến và chiến lược trong công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với phạm
nhân của Cục trại giam Malaysia, Tạp chí khoa học và giáo dục tội phạm, (5), tr 27, 28
Trang 39chức tư nhân hỗ trợ người mãn hạn tù đã tăng lên nhanh chóng, các tổ chức này cung cấp cho các cựu tù nhân nơi sinh sống, sự tư vấn và giúp đỡ Đây là nguyên mẫu của chức năng hiện nay đang được đảm nhận bởi các cán bộ quản chế tình nguyện Sau này, khi hệ thống án treo được đưa vào áp dụng,
công tác hỗ trợ được mở rộng với các đối tượng được hưởng án treo Ở Nhật
Bản các hoạt động trên được gọi là hệ thống cải tạo tội phạm dựa vào cộng đồng Để thực hiện đạt kết quả, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành một khung pháp lý điều chỉnh như: Luật ân xá (1947); Luật cải tạo tội phạm (1949); Luật giám sát, quản chế những phạm tội được miễn chấp hành hình phạt có giám sát (1954); Luật về cơ sở cải tạo tội phạm (1995); Luật cán bộ quản chế tình nguyện Trên cơ sở khung pháp lý trên, Chính phủ Nhật Bản cho thành lập các cơ quan thực hiện việc xử lý tội phạm dựa vào cộng đồng gồm: Vụ cải tạo; Ủy ban quốc gia về cải tạo tội phạm; Ủy ban tạm tha cấp khu vực; Phòng quản chế
Hoạt động tái hòa nhập cộng đồng đối với người phạm tội ở Nhật Bản gồm:
Ngay từ giai đoạn người phạm tội đang chấp hành hình phạt tù, thì cán
bộ quản chế tình nguyện đã tiến hành việc thăm viếng gia đình họ để xác định tính khả thi về việc họ sẽ trở về đó Các cán bộ quản chế tình nguyện nỗ lực tác động nhằm cải thiện mối quan hệ giữa phạm nhân và gia đình Nếu phạm nhân không được gia đình đón nhận, thì cán bộ quản chế tình nguyện tìm kiếm sự hợp tác của các doanh nghiệp, trại trung chuyển Đối với những người mãn hạn tù, thì sự hỗ trợ được dành cho những người nộp đơn ở Phòng quản chế Thời hạn tối đa để được nhận sự hỗ trợ này là 6 tháng kể từ ngày mãn hạn tù Họ được trợ giúp thức ăn, quần áo, điều trị y tế, giải trí, phí đi lại, chỗ ở và giới thiệu việc làm Ngoài ra các cán bộ quản chế chuyên nghiệp và tình nguyện còn cống hiến một phần thời gian của mình để truyền bá triết lý sống chống lại các định kiến và oán giận đối với phạm nhân, thông qua các cuộc vận động giáo dục nhấn mạnh sự hỗ trợ của công chúng là quan trọng để đạt được mục đích cải tạo, mà cao nhất là mang lại lợi ích cho cộng đồng Việc giúp đỡ người mãn hạn tù tái hòa nhập cộng đồng còn có ý nghĩa phòng
Trang 40chống tội ác, khuyến khích công chúng tham gia đấu tranh phòng chống tội
phạm, hạn chế tái phạm tội 14
1.4.4 Nhận xét chung
Chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng và tiếp tục quản lý, giáo dục, giúp
đỡ những người chấp hành xong án phạt tù (người trở về) được coi là công đoạn cuối cùng của quá trình thi hành án phạt tù Đồng thời, đây cũng được coi là công đoạn đầu tiên của một quá trình tái tạo cuộc sống mới với rất nhiều khó khăn về vật chất, điều kiện sinh hoạt (trừ những người có kinh tế gia đình khá giả), khó khăn về việc làm, môi trường sống với mối lo thường trực về tác động, rủ rê của cái ác, cái xấu, tiêu cực v.v Nhưng có khó khăn lớn hơn về mặt tinh thần đối với người trở về là vượt qua “rào cản” tâm lý
“Rào cản” này được dựng lên bởi tâm lý tự ti, mặc cảm, thiếu tin tưởng vào tương lai của người trở về cũng như thái độ kỳ thị, mặc cảm, thờ ơ, ghẻ lạnh của mọi người trong đó có cả người thân của họ
Để giúp đỡ người trở về giải quyết các khó khăn trong cuộc sống, nhiều nước trên thế giới đã và đang quan tâm đến hoạt động tái hòa nhập cộng đồng cho họ, nhất là các nước phát triển Mỹ có các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng và một số dịch vụ khác như: Trung tâm điều trị Tarzana, Dự án Bridge, Dự án Demostration Correction và Hiệp hội sức khỏe cộng đồng của trường đại học Emory Các dịch vụ này sẽ cung cấp mối liên hệ mật thiết để giúp đỡ hoặc giải quyết tất cả những vấn đề khó khăn mà phạm nhân ra trại gặp phải Đồng thời, tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ ngay tại các nhà tù Mỹ để phạm nhân trong thời gian chấp hành hình phạt tù định hướng tương lai sau khi ra khỏi tù
Vấn đề tái hòa nhập cộng đồng cho những người sau khi mãn hạn tù không chỉ có Việt Nam quan tâm mà hầu hết các nước trên thế giới đều xem đây là một việc làm thể hiện tính nhân văn sâu sắc, kết quả từ hoạt động này
14 Nguyễn Văn Hùng (2011), Luật học chuyên ngành Luật Hình sự, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh, tr 26, 27