Tính mới trong bài khóa luận của tác giả so với đề tài trước đây từng được nghiên cứu đó là ngoài việc phân tích rõ nội dung quyền đánh cá theo Luật biển quốc tế hiện đại đặc biệt là tro
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
PHẠM THỊ THU HỒNG
QUYỀN ĐÁNH CÁ TRONG CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN
HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT CHUYÊN NGÀNH LUẬT QUỐC TẾ
TP.HCM, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
QUYỀN ĐÁNH CÁ TRONG CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN
HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982
SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM THỊ THU HỒNG KHÓA: 33 MSSV:0855050053
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: THS GVC NGUYỄN THỊ YÊN
TP HỒ CHÍ MINH, [2012]
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu nghiêm túc của chính tác giả, không sao chép của bất kỳ ai khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thị Yên, người
đã hướng dẫn và đóng góp ý kiến cho tác giả trong suốt quá trình làm khóa luân Cảm ơn cô vì những định hướng, những tài liệu quý báu và những động viên, khích
lệ giúp tác giả có thể hoàn thành tốt khóa luận
Tác giả cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo đã giảng dạy trong bốn năm qua, những kiến thức mà tác giả nhận được trên giảng đường Đại học sẽ giúp tác giả có đủ hành trang để vững bước trong tương lai
Cuối cùng, tác giả muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bạn bè và gia đình, những người thân yêu nhất luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành khóa luận này
Sinh viên thực hiện khóa luận Phạm Thị Thu Hồng
Trang 5
MỤC LỤC Trang LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC TỰ DO BIỂN CẢ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH QUYỀN ĐÁNH CÁ TRONG CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 5
1.1 Nguyên tắc tự do biển cả trong Luật quốc tế 5
1.1.1 Giới thiệu sơ lược về Luật biển quốc tế và nguyên tắc tự do biển cả 5
1.1.2 Khái quát tiến trình phát triển Luật biển của Việt Nam và nguyên tắc tự do biển cả 10
1.2 Quyền tự do đánh cá và bước đầu được pháp điển hóa vào Luật biển quốc tế hiện đại 13
1.2.1 Quyền tự do đánh cá trong học thuyết tự do biển cả 13
1.2.2 Công ước Geneva 1958 về đánh cá và nguyên tắc tự do biển cả 15
1.3 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 và sự phát triển của quyền đánh cá 19
1.3.1 Sự ra đời của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 19
1.3.2 Sự phát triển của quyền đánh cá trong Công ước Luật biển 1982 213
Kết luận chương 1 24
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUYỀN ĐÁNH CÁ TRONG CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 25
2.1 Quyền đánh cá trong khu vực đặc quyền kinh tế 25
2.1.1 Khái niệm và sơ lược về lịch sử hình thành vùng đặc quyền kinh tế 25
2.1.2 Nội dung quyền đánh cá của quốc gia ven biển tại vùng đặc quyền kinh tế 28
2.1.2.1 Quyền khai thác tài nguyên cá và sinh vật biển của quốc gia ven biển 28 2.1.2.2 Quyền xác định lượng cá dư thừa và cho nước ngoài tiếp cận 34
2.1.3 Nghĩa vụ bảo tồn tài nguyên cá và sinh vật biển trong vùng đặc quyền kinh tế 39
2.2 Quyền đánh cá trên vùng biển quốc tế 42
2.2.1 Cách xác định vùng biển quốc tế 42
Trang 62.2.2 Nội dung quyền đánh cá trên vùng biển quốc tế 43
2.2.3 Nghĩa vụ bảo tồn tài nguyên cá và sinh vật biển trong vùng biển quốc tế 46
Kết luận chương 2 49
CHƯƠNG 3: QUYỀN ĐÁNH CÁ TRONG VÀ NGOÀI VÙNG BIỂN CHỦ QUYỀN CỦA NGƯ DÂN VIỆT NAM 51
3.1 Quyền đánh cá của ngư dân Việt Nam 51
3.1.1 Quyền đánh cá theo quy định của pháp luật Việt Nam 51
3.1.2 Khu vực đánh cá của ngư dân Việt Nam 54
3.2 Thực trạng và khó khăn trong hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân Việt Nam hiện nay 62
3.2.1 Tình hình khai thác thủy sản nước ta thời gian gần đây 62
3.2.2 Một số khó khăn của ngư dân Việt Nam tham gia khai thác thủy hải sản 64 3.3 Chiến lược phát triển của ngành khai thác và hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản 67
3.3.1 Một số chương trình đưa ra đối với sự phát triển hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 67
3.3.2 Những tồn tại và thách thức phải đối mặt 67
3.3.3 Một số ý kiến để giải quyết những vấn đề trên 75
Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN 74
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng và khai thác biển nhằm phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt và đời sống của mình Biển được sử dụng là con đường thông thương, mua bán hàng hóa, vận chuyển con người từ nơi này đến nơi khác Biển còn cung cấp cho con người nguồn thực phẩm dồi dào và quan trọng Theo đó, hoạt động khai thác, đánh bắt cá trên biển đã có từ rất lâu và cũng sớm phát triển, nó đóng một vai trò không thể thiếu trong hoạt động của con người mãi cho đến tận ngày nay
Quan niệm ban đầu của con người về nguồn tài nguyên trên biển cả là vô tận Trên cơ
sở đó, nguyên tắc tự do biển cả được hình thành và được biết đến nhiều trong học thuyết biển tự do của Hugo Grotius Quyền tự do đánh cá cũng là hệ quả từ nguyên tắc này Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với những đổi thay của nền kinh tế và chính trị thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, tầm hiểu biết của loài người cũng tăng lên, con người nhận thức được rằng nguồn tài nguyên trên biển cả không phải
là vô tận như người ta vẫn tưởng và nó có thể bị cạn kiệt nếu bị khai thác quá mức Ngoài ra, những lợi ích mà biển mang lại cho con người là vô cùng to lớn, nó không chỉ giới hạn trong vấn đề giao thương hàng hải hay khai thác tài nguyên cá, biển còn bao gồm rất nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và những lợi ích tiềm tàng Chính vì vậy, mỗi quốc gia trên thế giới đều nhận thức được rằng biển đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả vấn đề về quân sự, đặc biệt đối với các quốc gia ven biển, biển còn liên quan đến vấn đề mang tính chủ quyền lãnh thổ của quốc gia trên biển
Khi mà sự khai thác quá mức dẫn đến gần cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền, sự bùng nổ về dân số, ý thức bảo vệ chủ quyền của các quốc gia ven biển và nhiều vấn đề khác như môi trường, quân sự , khiến cho các quốc gia đổ xô vươn ra biển, khai thác biển Các tranh chấp trên biển cũng vì thế mà diễn ra ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là những tranh chấp xảy ra để tranh giành quyền khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên biển trong đó có nguồn tài nguyên cá và sinh vật biển
Những quy định không rõ ràng khiến cho tình trạng vô chính phủ trên biển đã diễn ra dẫn đến nhiều hệ quả đáng tiếc cho nguồn tài nguyên sinh vật biển mà quan trọng nhất
Trang 8là sự suy giảm nguồn tài nguyên này Cùng với đó là những thay đổi của nền chính trị thế giới, nhiều quốc gia giành được độc lập, họ là những quốc gia có biển hay những quốc gia không có biển, họ đang trên đà phát triển và họ đòi hỏi cần một sự công bằng mới đối với việc khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật trên biển Do đó, sau nhiều cuộc thảo luận giữa các quốc gia trên thế giới tại các Hội nghị về Luật biển, cuối cùng, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 ra đời mang lại một trật tự pháp lý mới trên biển nói chung và những quy định mới về quyền đánh cá trên biển nói riêng Công ước Luật biển 1982 được ví như “Hiến pháp của thế giới về biển và đại dương”, là sự thắng lợi của cộng đồng quốc tế về quản lý các vùng biển
Biển Việt Nam có một vị trí chiến lược quan trọng cùng nhiều tiềm năng khác để phát triển nền kinh tế biển, đặc biệt có thể kể đến nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng với nhiều loài có giá trị kinh tế cao Công ước Luật biển 1982 được thông qua có một ý nghĩa vô vùng to lớn đối với nước ta Công ước ra đời góp phần khẳng định chủ quyền và các quyền chủ quyền đối với nguồn tài nguyên sinh vật trên các vùng biển của nước ta
Ngành thủy sản Việt Nam, trong đó có hoạt động khai thác đang ngày càng đóng góp nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay khi mà những diễn biến trên Biển Đông có nhiều phức tạp, ngư dân Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền đánh cá của mình trên các vùng biển Việt Nam và vùng biển quốc tế Để bảo vệ quyền đánh cá của ngư dân Việt Nam, Nhà nước
ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về biển, đặc biệt ngày 21-6-2012 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật biển Việt Nam cũng không nằm ngoài mục đích này Bên cạnh
đó, “Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020” đã nhấn mạnh: “Tổ
chức lại sản xuất khai thác hải sản trên biển, trên cơ sở cơ cấu lại tàu thuyền, nghề nghiệp phù hợp với các vùng biển, tuyến biển, với môi trường tự nhiên, nguồn lợi hải sản Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp để định hướng khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn lợi hải sản trên biển, tăng cường sự tham gia của cộng đồng Đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ trong khai thác thủy sản, bảo quản sản phẩm để giảm tổn thất sau thu hoạch.”
Trang 9Với mong muốn nghiên cứu sự hình thành, nội dung và những điểm mới của quyền đánh cá trong Công ước Luật biển 1982 cũng như những quy định về quyền đánh cá trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, tìm hiểu về thực trạng, tình hình khai thác các nguồn tài nguyên cá ở Việt Nam thời gian gần đây, từ đó đưa ra một số ý kiến
về cách giải quyết để hoàn thiện hơn những quy định về quyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Quyền đánh cá trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982” cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài về “quyền đánh cá trong Công ước Luật biển 1982” không phải là một đề tài mới, đã có nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu và cũng đã từng được nghiên cứu làm khóa luận trước đây đó là đề tài “Vùng đặc quyền kinh tế và các quy định về đánh
cá trong Công ước Luật biển 1982 và theo pháp luật Việt Nam” (Đoàn Thị Thu Trang - 2005) Tuy nhiên, tác giả vẫn chọn đề tài này làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình với những sự phân tích theo hướng khác so với đề tài khóa luận trước đây đã làm Tính mới trong bài khóa luận của tác giả so với đề tài trước đây từng được nghiên cứu đó là ngoài việc phân tích rõ nội dung quyền đánh cá theo Luật biển quốc tế hiện đại đặc biệt là trong Công ước Luật biển 1982 và tìm ra những điểm tương đồng phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời tìm hiểu sâu hơn về thực tiễn của Việt Nam đối với hoạt động này
Trong bài khóa luận tốt nghiệp của mình, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Những vấn đề lý luận chung về nguyên tắc tự do biển cả và sự tác động của nó đối với việc hình thành nên Luật biển quốc tế hiện đại và những quy định mới về quyền đánh cá trong Công ước Luật biển 1982
Tập trung nghiên cứu quyền đánh cá trong Công ước Luật biển 1982 trên hai vùng biển đó là vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển và vùng biển quốc
tế
Tìm hiểu các quy định về quyền đánh cá theo quy định của pháp luật Việt Nam, thực trạng, các định hướng phát triển ngành khai thác thủy sản Việt Nam và những thách thức hiện nay mà ngư dân Việt Nam đang phải đối mặt
Trang 10Đây là một đề tài rộng, tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung đối với quyền khai thác cá (bao gồm nguồn tài nguyên cá và các sinh vật biển khác) được quy định trong Công ước Luật biển 1982 và những quy định của pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn hiện nay
về hoạt động khai thác cá của Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài khóa luận tốt nghiệp của mình, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê… trên cơ sở nghiên cứu cá nhân dựa trên sự tham khảo có chon lọc từ các văn bản pháp lý, các tài liệu, giáo trình, bài viết của nhiều tác giả khác nhằm làm sáng tỏ nội dung của đề tài
4 Bố cục của đề tài
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn và mục lục thì khóa luận bao gồm có các phần sau:
Lời nói đầu
Chương 1: Nguyên tắc tự do biển cả đối với sự hình thành quyền đánh cá trong Công ước Luật biển 1982
Chương 2: Những nội dung cơ bản của quyền đánh cá trong Công ước Luật biển
Trang 11CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC TỰ DO BIỂN CẢ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH QUYỀN ĐÁNH CÁ TRONG CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982
1.1 Nguyên tắc tự do biển cả trong Luật quốc tế
1.1.1 Giới thiệu sơ lược về Luật biển quốc tế và nguyên tắc tự do biển cả
Từ xa xưa, biển đã thuộc về tự nhiên trước khi thuộc về luật pháp, vì vậy nó là đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên trước khi là đối tượng điều chỉnh của luật pháp Trước đây, khi sự hiểu biết về các nguồn tài nguyên của con người còn hạn chế cùng với nền khoa học kỹ thuật chưa hiện đại, biển cả được biết đến và quan tâm chủ yếu là trong hàng hải giao thương buôn bán giữa các nước và quan trọng nhất đó là nguồn cung cấp cho con người số lượng hải sản khổng lồ mà không gì có thể thay thế được cùng với các sản phẩm từ trồng trọt, săn bắn và hái lượm Có thể thấy, biển đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của loài người
Theo Luật quốc tế truyền thống, biển được chia thành hai phần đó là lãnh hải và biển
cả Lãnh hải là một dãy hẹp ven bờ, phần bên trong lãnh hải và toàn bộ tài nguyên sinh vật bên trong khu vực đó nằm hoàn toàn dưới chủ quyền của quốc gia ven biển và quốc gia ven biển chỉ có thẩm quyền trong phần biển từ lãnh hải trở vào Bên ngoài ranh giới lãnh hải là biển cả Trong khu vực này, bất cứ quốc gia nào dù có biển hay không có biển, quốc gia phát triển hay không phát triển đều có quyền khai thác, đánh bắt tài nguyên sinh vật biển như nhau1
Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng tăng cao, những nguồn tài nguyên mới được phát hiện ngày càng nhiều bên cạnh sự tích cực nghiên cứu để tìm ra những phương thức để khai thác và sử dụng chúng Kéo theo đó là hàng loạt vấn đề được đặt ra như kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng… mà quan trọng là sự mở rộng tầm ảnh hưởng của các quốc gia ra biển để có thể chiếm hữu, khai thác và sử dụng những nguồn tài nguyên nay theo ý của riêng mình cùng với quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển Vì vậy, hoàn thiện những chế độ pháp lý đối với các quốc gia sử dụng biển vì các mục đích khác nhau là một việc cần làm
Trong hệ thống pháp luật quốc tế, Luật biển quốc tế là một ngành luật truyền thống,
đã có từ lâu đời và được tồn tại dưới dạng các tập quán pháp
1
Nguyễn Trường Giang, “Luật Quốc tế về đánh cá trên biển”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2010), tr.11
Trang 12Các học thuyết pháp lý có từ trước thế kỷ XX đã góp phần vào sự phát triển của Luật biển quốc tế hiện đại, có thể kể ra một số học thuyết tiêu biểu như sau: thuyết Res nullis (biển cả không phải của riêng quốc gia nào, do vậy ai muốn làm gì tại đó cũng được), thuyết Res communis (biển cả là của chung, là đối tượng vật chất mà bất kỳ quốc gia nào cũng có quyền sử dụng), thuyết biển tự do (luận cứ của học thuyết nay bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của biển cả, đó là tính động, tính lỏng, tính thống nhất, tính không cạn kiệt của tài nguyên theo quan niệm của thời kỳ đó và Luật tự nhiên), thuyết biển đóng Trong đó, học thuyết biển tự do là học thuyết được ủng hộ mạnh mẽ nhất
Với các quan niệm rằng biển cả là nguồn tài nguyên vô tận, không cạn kiệt và là của chung, không của riêng ai do tính đặc thù của biển là một môi trường tương đối đồng nhất, luôn vận động và không thể phân chia thống nhất nên lúc đầu chưa xảy ra các cuộc đấu tranh giành quyền lực trên biển hay đấu tranh để chiếm hữu các nguồn tài nguyên trên đó Các quy tắc trên biển đầu tiên mang nặng tính tập quán, được hình thành từ những người đi biển như ngư dân, thủy thủ, hoa tiêu hay các thương nhân, sau đó được
các nhà lập pháp pháp điển hóa thành những quy định pháp luật Có thể nói “các quyền
sơ khai đầu tiên chính là nguyên tắc tự do biển cả”2
Nếu như trước đây, Luật biển quốc tế chủ yếu tồn tại dưới dạng các quy phạm tập quán xuất phát từ các học thuyết thì cùng với sự phát triển về trình độ khoa học kỹ thuật
và cách cư xử cũng như thái độ của các quốc gia khi tham gia khai thác, sử dụng biển đặc biệt là đối với các ngành kinh tế như vận tải biển, khai thác tài nguyên thiên nhiên trên biển… đòi hỏi một yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần có một trật tự pháp lý quốc tế trên biển phù hợp với trình độ phát triển của thế giới hiện đại Theo đó, Luật biển quốc tế cũng có những sự phát triển không ngừng và đang ngày càng tiếp tục hoàn thiện hơn Quá trình hình thành và phát triển của Luật biển quốc tế đánh dấu những bước thay đổi
cơ bản trong tư duy nhận thức của con người về môi trường tự nhiên gắn với sự phát triển chung của lịch sử nhân loại
Đối với sự hình thành và phát triển của Luật biển quốc tế hiện đại, không thể không
kể đến vai trò quan trọng của các Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật biển Các Hội nghị Luật biển đã pháp điển hóa nhiều nguyên tắc và quy phạm của Luật biển quốc tế
2
Bộ Ngoại giao Ban biên giới, “Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của Luật biển ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia (2004), tr 11.
Trang 13bao gồm những nguyên tắc và quy phạm của Luật quốc tế về biển đã và đang tồn tại dưới dạng tập quán pháp quốc tế, các quy phạm pháp luật quốc gia, cùng với đó là các nguyên tắc và quy phạm mới được thảo luận tại các Hội nghị Các nguyên tắc và quy phạm này kết hợp với nhau tạo nên một trật tự pháp lý mới tại các vùng biển Trong tổng số bốn Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật biển được tố chức (Hội nghị Luật biển đầu tiên năm 1930 tại Lahay, Hội nghị Luật biển lần thứ nhất năm 1958 tại Geneva, Hội nghị Luật biển lần thứ hai năm 1960 tại Geneva, Hội nghị Luật biển lần thứ ba từ năm
1973 đến năm 1982 tại nhiều thành phố lớn trên thế giới), có thể thấy, Hội nghị Luật biển lần thứ nhất và lần thứ ba đã đạt được nhiều kết quả đáng kể mà quan trọng nhất là
đã góp phần pháp điển hóa những tập quán trên biển trở thành những quy phạm pháp luật được quy định trong bốn Công ước Geneva 1958 và về sau là trong Công ước Luật biển 1982
Từ những quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế kể trên, với cách tiếp cận Luật biển là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế và là một ngành luật rất cổ xưa, có thể định nghĩa Luật biển như sau:
“Luật biển là tổng hợp của các quy phạm pháp lý quốc tế được thiết lập bởi các quốc
gia trên cơ sở thỏa thuận hoặc thông qua thực tiễn có tính tập quán nhằm điều chỉnh chế độ pháp lý của các vùng biển và các hoạt động nhằm sử dụng biển cũng như bảo vệ môi trường biển và hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong các lĩnh vực này”3
Cùng với sự phát triển của các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế, Luật biển quốc tế hiện đại cũng đã có sự phát triển đáng kể so với Luật biển quốc tế trước đây khi còn tồn tại chủ yếu dưới dạng tập quán
Luật biển quốc tế được xác định là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế
Do đó, Luật biển quốc tế hiện đại được xây dựng dựa trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế4, có thể được kể đến 7 nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế được nêu trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc năm 1970 bao gồm:
- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;
- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
- Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc;
Trang 14- Nguyên tắc không dùng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực;
- Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế;
- Nguyên tắc quốc gia có nghĩa vụ hợp tác lẫn nhau;
- Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế
Vì là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế nên Luật biển quốc tế cũng có những mối quan hệ với một số ngành khác trong hệ thống pháp luật quốc tế như Luật Điều ước quốc tế, Luật quốc tế về lãnh thổ quốc gia, Luật hàng không quốc tế, Luật hàng hải quốc tế, Luật môi trường quốc tế5 Trong đó, Luật biển quốc tế có mối quan hệ mật thiết với Luật quốc tế về lãnh thổ quốc gia, Luật hàng không quốc tế, Luật môi trường quốc tế Cái này là căn cứ để xác định, tác động đến sự hình thành và phát triển của cái kia và ngược lại Đây là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Chính mối quan hệ với các ngành luật này cũng đã góp phần tạo nên những nguyên tắc đặc thù riêng biệt của Luật biển quốc tế hiện đại
Các nguyên tắc đặc thù của Luật biển quốc tế hiện đại có nguồn gốc từ các tập quán quốc tế và một số học thuyết lớn từ xưa, qua quá trình pháp điển hóa mà gần đây nhất là được quy định trong Công ước Luật biển 1982, đã trở thành những nguyên tắc có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các chủ thể của Luật biển quốc tế hiện đại Có thể kể ra những nguyên tắc sau được coi là nguyên tắc đặc thù riêng biệt mà chỉ riêng Luật biển quốc tế hiện đại mới có, bao gồm:
- Nguyên tắc tự do biển cả;
- Nguyên tắc đất thống trị biển;
- Nguyên tắc sử dụng biển cả vì các mục đích hòa bình;
- Nguyên tắc Vùng và tài nguyên trên Vùng là di sản chung của nhân loại;
- Nguyên tắc sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên sống trên biển;
- Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển
Theo đó, có thể thấy, nguyên tắc tự do biển cả là một nguyên tắc đã có từ rất lâu đời, từng tồn tại dưới dạng các quy phạm tập quán và bây giờ được pháp điển hóa, trở thành
5
Xem TS Lê Mai Anh, chú thích số 3, tr 65-78
Trang 15một nguyên tắc pháp lý được công nhận rộng rãi Hiện nay, nội dung của nguyên tắc tự
do biển cả được quy định trong Điều 87 Công ước Luật biển 1982 như sau:
“1 Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển Quyền tự do trên biển cả được thực hiện trong những điều kiện do các quy định của Công ước và những quy phạm khác của luật quốc tế trù định Đối với các quốc gia, dù
có biển hay không có biển, quyền tự do này đặc biệt bao gồm:
a Tự do hàng hải;
b Tự do hàng không;
c Tự do đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ phần VI;
d Tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật quốc
tế cho phép, với điều kiện tuân thủ phần VI;
e Tự do đánh bắt hải sản, trong các điều kiện đã được nêu ở Mục 2;
f Tự do nghiên cứu khoa học, với điều kiện tuân thủ các phần VI và phần XIII
2 Mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tính đến lợi ích của việc thực hiện quyền tự do trên biển quốc tế của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong vùng.”
“Nguyên tắc tự do biển cả được hiểu theo hai khía cạnh pháp lý cơ bản: thừa nhận sự ngang nhau về quyền và lợi ích của mọi quốc gia trên biển cả, và không có sự phân biệt đối xử dựa trên vị trí và hoàn cảnh địa lý của mọi quốc gia khi tham gia sử dụng và khai thác biển cả”6
Mãi đến cuối thế kỷ XIX, vùng lãnh hải với chiều rộng 3 hải lý vẫn được coi là một
tập quán quốc tế Do đó, nguyên tắc tự do biển cả được áp dụng trên hầu hết các diện
tích biển trong nhiều thế kỷ Sau nhiều Công ước về Luật biển ra đời, dù ranh giới giữa biển cả và các vùng biển thuộc quyền tài phán và chủ quyền của quốc gia đã có nhiều sự thu hẹp và mở rộng đáng kể, nguyên tắc tự do biển cả vẫn luôn giữ được quan điểm biển
cả không phải là riêng của quốc gia nào, biển cả là của chung và bất cứ quốc gia nào dù
có biển hay không có biển đều có quyền tham gia khai thác và sử dụng nó Tuy vậy,
6
Xem TS Lê Mai Anh, chú thích số 3, tr.31
Trang 16nguyên tắc tự do biển cả ngày nay cũng đã có sự phát triển về mặt nội dung và có đôi chút khác biệt so với nguyên tắc tự do biển cả trong các tập quán xưa
Nguyên tắc tự do biển cả có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của Luật biển quốc tế Nguyên tắc này là cơ sở pháp lý để thiết lập chế độ pháp lý của các vùng biển và đối với hoạt động của các đối tượng tham gia khai thác, sử dụng biển Quyền tự do biển cả không chỉ tồn tại ở vùng biển cả mà còn có giá trị pháp lý đối với những vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển
“Nguyên tắc tự do biển cả luôn được coi là nền tảng mang tính chất xuất phát điểm cho
sự hình thành và phát triển các quy phạm của Luật biển quốc tế hiện đại”7
1.1.2 Khái quát tiến trình phát triển Luật biển của Việt Nam và nguyên tắc tự do biển
cả
Là một quốc gia ven biển từ bao đời nay, Việt Nam luôn có ý thức gắn biển với sự phát triển của đất nước và đời sống con người Việt Nam qua nhiều thế hệ trong lịch sử cho đến tận ngày nay và mãi về sau
Cùng với tiến trình lịch sử của dân tộc, quá trình hình thành và phát triển của Luật biển Việt Nam có thể được chia ra làm bốn thời kỳ8:
Luật biển trước khi các nước phương Tây tới (trước 1874)
Với truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ cùng bọc trứng trăm con, 50 con theo mẹ lên non, 50 con theo cha xuống biển, ngay từ thưở khai sinh đất nước, người dân Lạc Việt thời bấy giờ đã có ý thức đối với việc tiến ra biển
Trong lịch sử, người Việt với các hoạt động đánh bắt cá và các hoạt động hàng hải, thương mại cùng với việc thiết lập chủ quyền trên các quần đảo xa bờ như Trường Sa, Hoàng Sa… ở các vùng biển trên Biển Đông, đã đóng góp nhiều vào việc hình thành nên những tập quán về Luật biển
Trong một số sách sử cổ, đã xuất hiện những từ như “hải giới Giao chỉ”, “cương vực mặt biển”… Vào thời nhà Nguyễn, các vua chúa Nguyễn cũng đã có nhiều hoạt động
7 Xem TS Lê Mai Anh, chú thích số 3, tr.34
8 Xem thêm TS Nguyễn Hồng Thao, “Những điều cần biết về Luật biển”, Nhà xuất bản Công an nhân dân (1997),
tr.24-28.
Trang 17quản lý nhà nước trên biển về các hoạt động đo đạc đường biển, trục vớt, cứu hộ tàu thuyền nước ngoài…
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, chiều rộng và quy chế pháp lý của các vùng biển chưa rõ ràng
Luật biển dưới thời thực dân (1874 - 1954)
Năm 1859, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Trong thời kỳ này, khi là một thuộc địa của thực dân Pháp, Luật biển Việt Nam chủ yếu xuất phát từ những văn bản luật biển mà Pháp ban hành cho những nước thuộc địa
Nghị định ngày 12 tháng 9 năm 1936 của Bộ trưởng thuộc địa: “Về phương diện đánh cá, lãnh hải Đông Dương có chiều rộng là 20 kilomet tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất” Trước đó, Pháp đã mở rộng luật ngày 1 tháng 3 năm 1988 cho các thuộc địa, theo đó, nghiêm cấm không cho người nước ngoài được vào đánh cá trong các vùng nước lãnh hải, giới hạn bởi đường ranh giới 3 hải lý tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất
Thêm vào đó, Nghị định số 104/1036 năm 1948 quy định thêm vùng tiếp giáp có chiều rộng 20 km tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất
Luật biển trong giai đoạn đất nước bị phân chia (1954 – 1975)
Thời kỳ này Việt Nam bắt đầu ban hành những văn bản quy định về các vùng biển, chủ yếu là về lãnh hải và thềm lục địa Tuyên bố ngày 27 tháng 4 năm 1965 của Nam Việt Nam chính thức thiết lập chiều rộng lãnh hải của mình là 3 hải lý Nam Việt Nam tiếp tục đưa ra sơ đồ phân ra 33 lô thềm lục địa với Nghị định ngày 9 tháng 6 năm 1971 Sau hiệp định Geneva 1954, Việt Nam được chia làm hai miền theo vĩ tuyến 17: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở phía Nam Vì chính sách thù địch của Mỹ nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc không được mời tham gia vào các Hội nghị về luật biển do Liên hợp quốc tổ chức Tuy nhiên, đại diện của một miền Việt Nam là Việt Nam Cộng hòa đã có mặt tại Hội nghị luật biển lần thứ nhất tổ chức tại Geneva Mặc dù có tham gia và đưa ra những yêu cầu nhưng lại không được chấp nhận Vì vậy, Nam Việt Nam đã không ký các Công ước Geneva 1958 Nhưng có thể nói đây là những bước đầu Việt Nam đưa Luật biển của mình tiến gần hơn với sự phát triển Luật biển trên thế giới
Trang 18Ngày 1 tháng 4 năm 1972, chế độ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố một vùng đánh cá đặc quyền rộng 50 hải lý tính từ ranh giới ngoài cùng của lãnh hải
Luật biển từ khi đất nước thống nhất (sau 1975)
Sau khi chiến tranh kết thúc, công việc tái thiết đất nước còn nhiều vấn đề nan giải cần phải giải quyết, Việt Nam bắt đầu ban hành các quy định pháp lý về biển từ năm
1977 Với Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 5 năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nước Việt Nam thống nhất đã có văn bản pháp lý đầu tiên về luật biển, bước đầu cho sự hình thành và phát triển của Luật biển Việt Nam về sau
Tiếp theo sau đó, Chính phủ ta lại tiếp tục đưa ra Tuyên bố ngày 12 tháng 11 năm
1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á tham gia ký và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, đánh dấu quá trình Luật biển Việt Nam chính thức hội nhập cùng Luật biển quốc tế
Cùng với những Tuyên bố của Việt Nam về các vùng biển và sau đó là tham gia ký kết Công ước Luật biển 1982, tại vùng đặc quyền kinh tế của mình, Việt Nam đã khẳng định quyền chủ quyền đối với khai thác tài nguyên sinh vật
Sau khi là thành viên của Công ước Luật biển 1982 cho đến nay, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy mới để quy định về chế độ pháp lý và tiến hành quản lý các hoạt động diễn ra trên các vùng biển của mình, đồng thời với đó là tham gia tích cực vào các Công ước khác liên quan đến biển như Công ước biển chuyên ngành về Hàng hải quốc tế IMO, Công ước SOLAS về cứu hộ trên biển, Công ước về mớn nước… Những quy định về biển của Việt Nam hiện nay tuy nhiều nhưng chưa thực sự thống nhất để các hoạt động bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên các vùng biển về các hoạt động phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển có thể đạt được hiệu quả cao Trong thời gian tiếp theo, Việt Nam cần có nhiều hơn những nghiên cứu để ban hành những khung pháp lý mới giúp điều chỉnh tốt hơn những hoạt động trên biển bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia, dân tộc mình
Mặc dù sau khi ký Công ước Luật biển 1982, Chính phủ Việt Nam ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến các hoạt động trên biển như Bộ luật hàng hải,
Trang 19Luật thủy sản, Luật dầu khí… nhưng một luật chung về biển thì cho đến hiện nay vẫn chưa có Tuy nhiên, vừa có một tin vui đó là tại phiên họp cuối ngày 21-6-2012 của kỳ họp thứ ba của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bỏ phiếu thông qua Luật biển với số phiếu tán thành 495/496 Luật biển Việt Nam với 7 chương và 55 điều sẽ có hiệu lực từ ngày 1-1-20139
Trong tình hình phát triển đất nước hiện nay, đặc biệt là đối với kinh tế biển và bên cạnh đó là đáp ứng những yêu cầu về bảo vệ chủ quyền đất nước, Luật biển Việt Nam ra đời là một sự kiện pháp lý vô cùng quan trọng
và cần thiết để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển quốc gia, tạo cơ
sở cho việc sử dụng, khai thác biển góp phần phát triển kinh tế đồng thời bảo vệ tốt hơn chủ quyền vùng biển nước nhà Sự ra đời của Luật biển Việt Nam hy vọng sẽ mở ra một trang mới cho sự phát triển về biển của Việt Nam trong tương lai
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, nguyên tắc tự do biển cả ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động đánh bắt cá ở Việt Nam cũng như việc ban hành các văn bản pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực này Các hoạt động đánh bắt cá của Việt Nam cùng với việc xác lập các vùng đánh cá trước đây hay xác lập chế độ pháp lý đối với các vùng biển sau khi đất nước thống nhất cũng góp phần tác động mạnh mẽ đến việc pháp điển hóa các tập quán quốc tế về biển hình thành nên Công ước Luật biển 1982 tạo ra một trật tự pháp lý mới trên biển nói chung và đối với hoạt động đánh cá của các quốc gia trên thế giới nói riêng
1.2 Quyền tự do đánh cá và bước đầu được pháp điển hóa vào Luật biển quốc tế
hiện đại
1.2.1 Quyền tự do đánh cá trong học thuyết tự do biển cả
“Nguồn gốc của quyền tự do đánh cá trên biển cả xuất phát từ học thuyết tự do biển
cả của Hugo Grotius đưa ra cách đây hơn 350 năm”10 Hugo Grotius là thi si, triết gia, đồng thời cũng là nhà văn, nhà bình luận và là luật gia Trong cuốn sách về pháp luật
“De jure praedae” xuất bản năm 1604 để tư vấn pháp luật cho một công ty Hà Lan, Hugo Grotius đã có viết một chương tựa đề là “Mare liberum” nói về tư tưởng tự do
Trang 20biển cả, về sau được Hà Lan dùng làm cơ sở pháp lý chống lại tham vọng của người Anh vì người Anh muốn cản trở người Hà Lan đánh cá trên biển Bắc Hải11
Học thuyết tự do biển cả mà Hugo Grotius đưa ra trong thời kỳ đó khi chưa có Luật biển chính thức, tất cả chỉ tồn tại dưới dạng các tập quán và theo Luật quốc tế truyền thống thì biển chỉ bao gồm hai phần là lãnh hải và biển cả Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX, vùng lãnh hải rộng 3 hải lý vẫn là một tập quán được các quốc gia công nhận Do
đó, biển cả lúc bấy giờ là một khu vực rộng mênh mông so với việc bị thu hẹp nhiều như hiện nay Theo lập luận của Hugo Grotius trong học thuyết tự do biển cả thì quyền
tự do đánh cá là dựa trên cơ sở nhận thức về tính không cạn kiệt của tài nguyên biển và biển cả là khu vực thuộc về tất cả mọi người Do đó, tất cả mọi người và mọi quốc gia đều có quyền khai thác nguồn tài nguyên sinh vật ở các khu vực nằm ngoài khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia Như vậy, quyền tự do đánh cá trên biển được áp dụng hầu hết trên các diện tích của biển trong nhiều thế kỷ qua
Tuy nhiên, Hugo Grotius cũng đưa ra những hạn chế nhất định đối với quyền tự do trên biển cả mà điển hình là đối với quyền tự do đánh bắt cá trên biển Quyền tự do đánh
cá trên biển bị giới hạn bởi một số điều kiện nhất định Một quốc gia trong khi thực hiện quyền tự do đánh cá của mình không được tự ý làm phương hại đến các quyền tự do, trong đó có quyền tự do đánh cá của các quốc gia khác Do đó, bất kỳ nguồn tài nguyên nào trên biển cũng là của chung và không một quốc gia nào có quyền độc chiếm Ngoài
ra, các quốc gia cũng không có quyền đánh cá trong các vùng nước nội thủy và lãnh hải của các quốc gia ven biển khác12 Tuy vậy, cách đây hơn hai thế kỷ, việc đánh cá trong lãnh hải của quốc gia ven biển vẫn là quyền tự do của các quốc gia tham gia đánh cá trên biển Thực ra đây không được coi là quyền nhưng đa số các quốc gia ven biển thời bấy giờ không có đủ khả năng và tiềm lực để bảo vệ chủ quyền trên vùng lãnh hải của mình tránh khỏi vi phạm của các quốc gia khác nhất là trong vấn đề đánh cá Từ thế kỷ XIX, các quốc gia bắt đầu có ý thức đối với vấn đề này và tìm cách hạn chế cho phép tàu thuyền nước ngoài vào lãnh hải của mình Cùng với đó nhiều quốc gia đã ban hành nhiều luật lệ về việc cấm đánh cá trong vùng biển của mình Việc các quốc gia ven biển
Trang 21ý thức đối với việc bảo vệ vùng lãnh hải cùng với đó là xu hướng mở rộng vùng đánh cá
đã dẫn đến phát sinh ra nhiều tranh chấp trong thời kỳ này
Như vậy, ngay từ khi mới hình thành, quyền tự do đánh cá hay ngày nay được quy định là quyền tự do đánh bắt hải sản đã không phải là một quyền tự do tuyệt đối và nó luôn có những hạn chế nhất định Những hạn chế của quyền tự do đánh cá trong học thuyết tự do biển cả của Hugo Grotius và hạn chế của quyền tự do đánh bắt hải sản trong Công ước Luật biển 1982 liệu có gì khác nhau không sẽ được tác giả nghiên cứu ở chương II
Tư tưởng của Hugo Grotius dựa trên cơ sở cho rằng tài nguyên biển cả là vô tận, do
đó quyền tự do đánh bắt cá là hệ quả của nguyên tắc tự do biển cả Ngày nay, khi con người nhận thức được nguồn tài nguyên trên biển không phải là vô tận cùng với nguồn tài nguyên này sẽ bị cạn kiệt nếu không được bảo tồn Cùng với đó là sự mở rộng quyền tài phán của các quốc gia ra biển đã đặt ra nhu cầu cần thiết phải thiết lập một trật tự pháp lý trên biển Các hội nghị về Luật biển do Liên hợp quốc tổ chức đã tạo nên một hệ thống pháp luật quốc tế mới về biển, trong đó bao gồm cả những nguyên tắc pháp lý điều chỉnh về vấn đề đánh cá trên các vùng biển Đối với vấn đề đánh cá trong đó phải tính đến hai Công ước quan trọng nhất là Công ước Geneva 1958 về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật trên biển cả và Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982
1.2.2 Công ước Geneva 1958 về đánh cá và nguyên tắc tự do biển cả
Trong thời kỳ này, tác động mà nguyên tắc tự do đánh cá gây ra cho tài nguyên cá trên biển là chưa đáng kể Tuy nhiên, khi tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng cao, số lượng tàu thuyền khai thác tăng lên đáng kể cùng với chất lượng của các ngư cụ dùng để khai thác được nâng cao, ngoài ra ý thức kém của những người tiến hành đánh bắt đã làm cho tác động này tăng lên rõ rệt
Đặc biệt đối với giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, khả năng và tổng lượng đánh bắt cá của các quốc gia trên thế giới tăng lên nhanh chóng cùng với các hoạt động đánh cá tầm xa phát triển mạnh mẽ làm cho tình trạng suy giảm tài nguyên cá xuất hiện Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của quốc gia ven biển Do đó, một
số quốc gia đã tìm cách mở rộng thẩm quyền của mình đối với khu vực biển nằm ngoài
Trang 22vùng lãnh hải của họ đặc biệt là xu hướng mở rộng khu vực đánh cá ra biển Tiêu biểu
có thể kể đến Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman về nghề cá ven bờ trong một số vùng của biển cả bên ngoài lãnh hải 3 hải lý: nước Mỹ đề nghị thiết lập một “vùng bảo tồn một phần nhất định biển cả kế cận với bờ biển Hoa Kỳ nơi các hoạt động đánh cá đã
và sẽ được phát triển trong tương lai tới một mức độ quan trọng”13 Sau khi Tuyên bố này đưa ra đã kéo theo hàng loạt các quốc gia khác trên thế giới mở rộng khu vực đánh
cá của quốc gia mình Ngoài ra, cũng vì vậy mà một số tranh chấp quốc tế về đánh cá thời kỳ này đã xảy ra Có thể ví dụ như: tranh chấp giữa Anh và Hà Lan về việc Anh đơn phương hạn chế hoạt động đánh cá trích của ngư dân Hà Lan ở ven bờ biển Scotland và Anh; tranh chấp về quyền đánh cá giữa Nhật Bản và Liên Xô; tranh chấp về hải cẩu có lông ở biển Bering giữa Nhật, Nga và Anh; tranh chấp giữa Mỹ và Canada về
cá hồi sockeye ở Đông Thái Bình Dương…14
Tình trạng vô chính phủ trên biển, các quốc gia tự do đánh bắt cá đã làm cho tài nguyên cá bị suy giảm nghiêm trọng Chính vì lẽ đó, Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật biển đã được tổ chức để giải quyết những vấn đề cấp bách Đó là kết quả của các cuộc xung đột lợi ích gay gắt, mâu thuẫn lẫn nhau giữa các quốc gia ven biển và quốc gia đánh cá tầm xa, giữa các quốc gia mới giành được độc lập với các quốc gia phát triển nhằm thiết lập một trật tự mới trên biển
Hai Hội nghị Luật biển lần thứ nhất và lần thứ hai tập trung thảo luận nhiều vấn đề, trong đó được cho là quan trọng nhất là giới hạn và chiều rộng của lãnh hải Ngoài ra,
“vùng đánh cá đặc quyền” cũng là một vấn đề được hai Hội nghị đưa ra bàn bạc nhiều Tuy nhiên, quan điểm của các quốc gia quá khác biệt nên hai Hội nghị này không đạt được nhiều kết quả
Có thể nói kết quả tốt nhất mà Hội nghị Luật biển lần thứ nhất đạt được là cho ra đời bốn Công ước: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước về thềm lục địa, Công ước về biển cả, Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả
“Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả (có hiệu lực ngày 20 tháng 3 năm 1966 với 36 quốc gia là thành viên) đã đưa ra các khái niệm như
13 Xem TS Nguyễn Hồng Thao, chú thích số 8, tr.117.
14
Xem thêm Nguyễn Trường Giang, chú thích số 1, tr.29-38
Trang 23“giữ gìn sinh vật sống”, “biển cả” và “nghề đánh cá”; xác định các điều kiện bắt cá ở các vùng biển gần vùng lãnh hải; thiết lập trật tự giải quyết các tranh chấp về việc đánh bắt cá ở biển cả”15
Công ước Geneva về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả đã có các quy định về việc khai thác tối ưu các nguồn tài nguyên trên biển cả đồng thời với nghĩa
vụ tiến hành những hoạt động và những thương lượng cần thiết của quốc gia ven biển với các quốc gia khác có liên quan để bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật biển
Có thể tóm tắt một số nội dung chính của Công ước như sau:
Công ước quy định các quốc gia tiến hành những hoạt động đánh cá trên biển
cả có nghĩa vụ bảo tồn các tài nguyên sinh vật biển nhằm duy trì sản lượng tối ưu ổn định khi khai thác nguồn tài nguyên này Nếu các công dân của hai hay nhiều quốc gia cùng đánh bắt một hoặc một số loài cá hoặc các tài nguyên sinh vật biển khác trên bất kỳ khu vực nào của biển cả, các quốc gia này sẽ, khi có yêu cầu của bất kỳ quốc gia liên quan nào, thương lượng với nhau nhằm đạt được những thỏa thuận về các biện pháp bảo tồn cần thiết Công ước công nhận lợi ích đặc biệt của các quốc gia ven biển trong việc duy trì hiệu suất của các tài nguyên sinh vật trong bất kỳ khu vực nào của biển cả tiếp giáp với lãnh hải của mình Quốc gia ven biển có quyền tham gia bình đẳng vào việc nghiên cứu và đưa ra các biện pháp cần thiết cho việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật biển trong khu vực đó, ngay cả khi công dân của quốc gia ven biển đó không tham gia đánh cá ở đó Quốc gia có công dân tham gia đánh cá tại bất kỳ khu vực nào của biển cả tiếp giáp với lãnh hải của một quốc gia ven biển sẽ không tiến hành các biện pháp bảo tồn trái với các biện pháp bảo tồn của quốc gia ven biển trong khu vực đó và sẽ thương lượng với quốc gia ven biển đó nhằm thỏa thuận về các biện pháp cần thiết để bảo tồn các tài nguyên sinh vật biển trong khu vực đó
Quốc gia ven biển có quyền thông qua các biện pháp bảo tồn đơn phương thích hợp đối với bất kỳ loài cá nào hoặc các tài nguyên sinh vật của vùng
15
Xem PGS.TS Nguyễn Trung Tín, chú thích số 4, tr.11.
Trang 24biển cả tiếp giáp với lãnh hải của họ nếu các cuộc thương lượng giữa họ và quốc gia đánh cá tầm xa không đi đến được các thỏa thuận về bảo tồn.16
Mặc dù trong Công ước quy định quyền của quốc gia ven biển đối với việc bảo tồn tài nguyên sinh vật khá nhiều nhưng tuy nhiên quyền của các quốc gia ven biển lại bị hạn chế đến mức gần như không có ý nghĩa17 vì Công ước không quy định một cơ chế nào để những biện pháp bảo tồn của quốc gia ven biển có thể được thực hiện trên thực tế khi các quốc gia khác phản đối Thêm nữa, việc không có hiệu quả đối với các quốc gia không phải là thành viên của Công ước cũng không làm giảm đi mức độ nghiêm trọng gây ra cho tài nguyên sinh vật biển do việc đánh bắt cá quá mức của các quốc gia trên biển và không hề có bất cứ biện pháp quản lý và bảo tồn nào mang lại
Có thể nói, về cơ bản, Công ước vẫn duy trì trật tự đánh cá cũ được xây dựng trên nguyên tắc lỗi thời – quyền tự do đánh cá trên biển cả, rút ra từ học thuyết tự do biển cả của Hugo Grotius Như vậy, Công ước Geneva 1958 về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả đã không giải quyết được những vấn đề cấp bách nhất để có thể mang lại một trật tự mới đối với hoạt động đánh bắt cá trên biển Theo đó, Công ước không đáp ứng được yêu cầu mở rộng quyền tài phán về đánh cá của các quốc gia ven biển cũng như nhu cầu bảo tồn tài nguyên cá và sinh vật biển đang bị đe dọa làm giảm sút Mặc dù Công ước có đề cập đến vấn đề bảo tồn nhưng lại không có những biện pháp bảo đảm rằng việc bảo tồn đó sẽ được thực hiện có hiệu quả trên thực tế Vì những lý do đó, Công ước không giành được sự ủng hộ và tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới vì không đáp ứng được quyền lợi của số đông các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia mới giành được độc lập và các quốc gia đang phát triển Nói đến việc không tham gia Công ước này, có thể kể đến Việt Nam Cộng hòa, một phần của Việt Nam trong giai đoạn đất nước bị phân chia vì chiến tranh hai miền Nam Bắc Đại diện của Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ khi có mặt tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật biển lần thứ nhất đã có yêu cầu quyền đánh cá ưu tiên trên một phần của biển cả cho các quốc gia ven biển phụ thuộc nhiều vào nghề cá, nhất là các quốc gia chưa phát triển
Trang 25Tuy nhiên, đề nghị này cùng những đề nghị về các vấn đề khác không được chấp nhận nên Việt Nam Cộng hòa không ký Công ước nào trong bốn Công ước Geneva 195818
Có thể nói, vì vấn đề quyền lợi thiết yếu của các quốc gia ven biển về tài nguyên sinh vật, cụ thể là trong vấn đề đánh cá ở những vùng biển tiếp giáp với lãnh hải chưa được giải quyết Do đó, sau khi Công ước Geneva 1958 về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển ra đời và có hiệu lực cùng với cuộc thảo luận về “vùng tiếp giáp đặc quyền đánh cá” tại Hội nghị Luật biển lần thứ hai tiếp tục thất bại vì những ý kiến quá bất đồng giữa các quốc gia tham gia Hội nghị, nhiều quốc gia đã đơn phương ban hành luật lệ riêng của mình để mở rộng “vùng đánh cá” của họ ra biển cả Những vùng đánh cá đó chủ yếu được quy định từ 50 hải lý trở lên, như Iceland, Pakistan thiết lập vùng đánh cá rộng 50 hải lý tính từ đường cơ sở để đo lãnh hải, Maroc quy định 70 hải lý, Senegal
110 hải lý…19
Tóm lại, hai Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật biển đã diễn ra nhưng không đi tới kết quả nào đáng kể Nhưng những tác động mà Hội nghị Luật biển lần thứ nhất và lần thứ hai đối với thực tiễn là khá mạnh mẽ đặc biệt là trong việc mở rộng lãnh hải và vùng tài phán của các quốc gia ven biển Đồng thời với đó, các thực tiễn của các quốc gia trong giai đoạn này cũng có sự ảnh hưởng trở lại mạnh mẽ đối với sự phát triển của Luật biển quốc tế về sau
1.3 Công ƣớc của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 và sự phát triển của quyền đánh cá
1.3.1 Sự ra đời của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982
Qua hai Hội nghị quốc tế về Luật biển đã được tổ chức, tuy đã có những tác động và ảnh hưởng nhất định đối với thực tiễn các quốc gia nhưng lại không mang lại một trật tự pháp lý thực sự trên biển như mong đợi
Trong những năm 70 của thế kỷ XX, có hai nhân tố chính xuất hiện ảnh hưởng đến sự phát triển của luật biển20 Nhân tố đầu tiên chính là sự xuất hiện của nhiều quốc gia mới
giành được độc lập và các quốc gia đang phát triển cùng với việc đòi thay đổi trật tự
18 Xem thêm TS.Nguyễn Hồng Thao, chú thích số 8, tr.26-27.
19 Phạm Giảng, “Luật biển”, Nhà xuất bản pháp lý (1983), tr.92
20
Xem thêm Phạm Giảng, chú thích số 19, tr.11-19.
Trang 26pháp lý cũ trên biển chủ yếu được phục vụ cho các cường quốc lớn từ xưa Nhân tố thứ hai phải nói đến đó là sự phát triển của khoa học kỹ thuật Những nguồn tài nguyên mới được phát hiện trên biển và dưới đáy biển, tuy nhiên quyền khai thác lại chủ yếu thuộc
về các quốc gia phát triển và không hề có một sự quản lý nào Ngoài ra, còn một nhân tố rất quan trọng đó là nhân tố về an ninh quốc phòng trên biển Từ lâu, những cuộc chiến giành quyền lực trên biển đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên hay trong việc sử dụng lực lượng vũ trang quân sự trên biển để đi xâm lược của các quốc gia phát triển đã
là một vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm Chính vì vậy, thiết lập một trật tự pháp lý mới trên biển là một vấn đề quan trọng và cấp bách ngay trong giai đoạn này
Do đó, Hội nghị Luật biển lần thứ ba tiếp tục được tiến hành với 11 cuộc họp từ tháng 12 năm 1973 đến tháng 12 năm 1982 Các đoàn đại biểu tham dự Hội nghị bao gồm hầu hết đại diện của các quốc gia có biển hoặc không có biển, các phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi được Liên Hợp Quốc thừa nhận, các tổ chức quốc tế khác nhau
Các vấn đề trọn gói về luật biển được giải quyết tại Hội nghị bao gồm: thiết lập thống nhất về chiều rộng lãnh hải là 12 hải lý; đảm bảo sự qua lại tự do cho các tàu bè trên các
eo biển trong hàng hải quốc tế và có chiều rộng lãnh hải là 12 hải lý; giải quyết các vấn
đề đánh bắt cá; thiết lập vùng đặc quyền kinh tế với chiều rộng là 200 hải lý; bảo đảm tự
do hàng hải và nghiên cứu khoa học biển ở vùng biển cả ; xác định biên giới ngoài và chế độ thềm lục địa; thiết lập quy chế đáy biển ngoài thềm lục địa và thành lập tổ chức quốc tế về các tài nguyên ở đáy biển này; thông qua các quy phạm nhằm ngăn ngừa sự ô nhiễm biển…21
Sau năm năm trù bị (1967-1972), chín năm đàm phán gay go (1973-1982) và 11 cuộc họp, dự thảo Công ước đã được thông qua với 130 phiếu ủng hộ, 4 phiếu chống và 17 phiếu trắng Cuối cùng, vào ngày 10 tháng 12 năm 1982 tại thành phố Montegobay của Giamaica, 117 đại diện của các quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm cả Việt Nam, Hội đồng của Liên hợp quốc đã ký Công ước mới của Liên hợp quốc về Luật biển
Với 320 điều khoản, 17 phần và 9 phụ lục, Công ước Luật biển 1982 thực sự là một
“bản hiến pháp mới về biển của cộng đồng quốc tế” Luật biển quốc tế hiện đại với đỉnh
21
Xem PGS.TS Nguyễn Trung Tín, chú thích số 4, tr.14.
Trang 27cao là sự ra đời của Công ước Luật biển 1982 đã đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của tất
cả các quốc gia thành viên một cách tốt nhất Có thể nói, Công ước là quá trình đấu tranh và nhượng bộ giữa nguyên tắc lớn của luật biển quốc tế truyền thống - nguyên tắc
tự do biển cả và nguyên tắc chủ quyền của các quốc gia trên biển Công ước Luật biển
1982 có hiệu lực từ ngày 16-11-1994 Tính đến ngày 5-6-2012, công ước có 162 thành viên từ khắp châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ và châu Đại dương Trong số các nước ven biển Đông đã có 8 nước tham gia Công ước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei và Thái Lan.22
Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 đã đúc kết những gì tiến bộ của các Công ước Geneva về Luật biển năm 1958 trước đó và ghi nhận một số lượng đáng kể những quy phạm pháp lý mới Trong đó, đặc biệt là sự hiểu biết mới về chế độ pháp lý về các vùng biển gồm hai khu vực: Các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển nằm tiếp giáp với lãnh thổ các quốc gia ven biển; và khu vực theo chế độ pháp lý biển cả, trong đó quyền khai thác tài nguyên phi sinh vật được đặt dưới quyền quản lý của Cơ quan quyền lực đáy đại dương và các quốc gia được hưởng quyền tự do biển cả
Có thể nói, “Công ước Luật biển 1982 đã có một sự đóng góp quan trọng chưa từng
có đối với việc phát triển luật biển trong lịch sử nói chung và luật quốc tế về đánh cá nói riêng”23
1.3.2 Sự phát triển của quyền đánh cá trong Công ước Luật biển 1982
Trong khi Công ước Geneva về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật trên biển
cả 1958 vẫn tiếp tục duy trì những lỗi thời của nguyên tắc tự do đánh cá từ xa xưa thì Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 đưa ra những điểm mới về chế độ đánh cá rất tiến bộ và phù hợp với tình hình hiện tại
Tại hội nghị Luật biển lần III, các quy chế pháp lý về khai thác và bảo tồn tài nguyên
cá là một trong nhiều vấn đề quan trọng được tiến hành thảo luận Những cuộc thảo luận
về các quy chế này chủ yếu tập trung vào hai vấn đề cơ bản: thứ nhất là vấn đề giới hạn
22 Xem ve-bien-va-dai-duong.aspx (truy cập ngày 22/6/2012)
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120617/cong-uoc-luat-bien-nam-1982-hien-chuong-cua-the-gioi-23
Xem Nguyễn Trường Giang, chú thích số 1, tr.48
Trang 28của vùng đặc quyền kinh tế và thứ hai là thẩm quyền đối với tài nguyên sinh vật của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế
Kết quả thu được là “chế độ quốc tế mới về đánh cá”24 mà Công ước Luật biển 1982
đã được đặt ra bao gồm một loạt các nguyên tắc và quy định điều chỉnh mọi hoạt động đánh cá của các quốc gia trên mọi khu vực biển Điểm đặc biệt đáng lưu ý của chế độ mới này là các điều khoản về quyền đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế - nơi chiếm 90% nguồn tài nguyên cá đang được đánh bắt và chiếm đến 36% diện tích của đại dương, theo đó Công ước công nhận quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với việc thăm dò, khai thác, phát triển và bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật biển trong khu vực đặc quyền kinh tế và đồng thời cũng dành cho các quốc gia khác một số quyền nhất định trong khu vực này Khu vực đặc quyền kinh tế là khu vực mới được đặt ra trong Công ước Luật biển 1982 mà các Công ước trước không có Đây là khu vực dành nhiều đặc quyền cho quốc gia ven biển về mặt kinh tế nói chung và đối với hoạt động khai thác tài nguyên sinh vật trong vùng nói riêng
Chế độ quốc tế mới về đánh cá về cơ bản đã thay đổi những chế độ pháp lý truyền thống về đánh cá trong khu vực này trước đây thuộc về biển cả, chấm dứt chế độ tự do đánh cá và đặt nguồn tài nguyên sinh vật phong phú ở đây dưới thẩm quyền pháp lý của các quốc gia ven biển
Công ước Luật biển 1982 cũng đã có đóng góp quan trọng đối với việc ngăn chặn các tranh chấp về đánh cá Công ước đã tạo ra được sự công bằng nhất định về lợi ích đối với tài nguyên cá giữa tất cả các nhóm nước khác nhau bên cạnh việc dành cho các quốc gia ven biển các quyền chủ quyền đối với tài nguyên cá trong vùng đặc quyền kinh tế của họ Thêm vào đó, các quốc gia này cũng phải tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác
Những quy định mới về đánh cá trong Công ước 1982 cũng đã góp phần làm giảm bớt những tác động có hại của quyền tự do đánh cá đối với tài nguyên cá và tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên cá trên các khu vực biển khác nhau
24
Xem thêm Nguyễn Trường Giang, chú thích số 1, tr.49-50.
Trang 29Ngoài ra, Công ước cũng đưa ra những hạn chế đối với quyền tự do đánh cá trên biển
cả giúp giảm đi những tác hại mà quyền tự do có từ xa xưa này gây ra cho tài nguyên cá trên biển
Trong Công ước Luật biển 1982, khi quy định quyền đánh cá cho các quốc gia trong khu vực đặc quyền kinh tế hay trên biển cả, Công ước lại có thêm những quy định về nghĩa vụ cho các quốc gia khi tham gia đánh bắt trong khu vực này phải tự mình hoặc hợp tác với nhau dưới nhiều hình thức để quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật biển
So với những quy định mà Công ước Geneva 1958 về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển cả thì Công ước Luật biển 1982 đã đưa ra nhiều quy định rất mới và giải quyết được khá cơ bản những vấn đề về đánh cá đặt ra trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt là đối với vấn đề khai thác và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển được quy định rõ ràng hơn, đảm bảo quyền và lợi ích của tất cả các quốc gia trong Công ước và giúp những việc đó có thể thực hiện có hiệu quả trên thực tế
Khai thác cá, giới hạn phạm vi đánh cá và bảo tồn các nguồn tài nguyên cá trên biển luôn là những vấn đề mà các quốc gia quan tâm, vì có lẽ đã từ rất lâu rồi, biển luôn cung cấp cho con người qua nhiều thế hệ một lượng hải sản khổng lồ mà không gì có thể thay thế được Chế định mới về đánh cá trên phạm vi quốc tế ra đời đã giải quyết được nhiều vấn đề gây tranh cãi của các quốc gia trong nhiều thế kỷ qua Đây là kết quả của sự đấu tranh lâu dài đi đến sự thỏa hiệp về lợi ích giữa xu hướng mở rộng quyền chủ quyền và tài phán quốc gia cũng như đối với khai thác tài nguyên cá của các quốc gia ven biển và
xu hướng duy trì quyền tự do đánh cá từ xa xưa của các quốc gia đánh cá tầm xa
Có thể nói, chính những quy định mới về đánh cá là một trong những tác nhân có tầm ảnh hưởng lớn đến việc các quốc gia trên thế giới ủng hộ Công ước Luật biển 1982 vì về
cơ bản thì Công ước đã làm cho các quốc gia dù có biển hay không có biển, quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển khi quyết định tham gia Công ước cảm thấy được quyền và lợi ích của mình trên biển có thể công bằng và hài hòa hơn
Trang 30Kết luận chương 1
Trong chương 1, mục đích của tác gia muốn hướng đến là làm nổi bật mối quan hệ giữa nguyên tắc tự do biển cả và việc hình thành nên Luật biển quốc tế hiện đại, đồng thời thấy được tầm ảnh hưởng của nguyên tắc này đối với các quyền tự do trên biển hiện nay trong đó có quyền tự do đánh bắt cá
Sau các Hội nghị Luật biển, các Công ước mới về Luật biển ra đời, đặc biệt là Công ước Luật biển 1982 đã đánh dấu một bước phát triển mới của Luật biển quốc tế Trong Công ước này, những quy định mới về quyền đánh cá trên các vùng biển mới hình thành thuộc chủ quyền quốc gia đặc biệt là trong vùng đặc quyền kinh tế và trên vùng biển quốc tế
Sự tìm hiểu bước đầu về nguyên tắc tự do biển cả và chế độ quốc tế mới về đánh cá trong chương 1 là cơ sở để tác giả phân tích nội dung chi tiết về quyền đánh cá trong Công ước Luật Biển 1982 ở chương 2
Cũng trong chương 1, tác giả có một mục nhỏ giới thiệu sơ lược về tiến trình phát triển Luật biển Việt Nam nói chung và Luật về hoạt động khai thác tài nguyên cá nói riêng Đây là cơ sở cho việc phân tích quyền được đánh cá trong các khu vực được phép cũng như những khó khăn, thách thức hiện nay ngư dân Việt Nam đang phải đối mặt trong chương 3
Trang 31CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUYỀN ĐÁNH CÁ TRONG CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982
2.1 Quyền đánh cá trong khu vực đặc quyền kinh tế
2.1.1 Khái niệm và sơ lược về lịch sử hình thành vùng đặc quyền kinh tế
Điều 55 Công ước Luật biển 1982 định nghĩa “vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền và các quyền
tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh” Vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải ( Điều 57 Công ước Luật biển 1982 )
Vấn đề vùng đặc quyền kinh tế được đặt ra tại Hội nghị lần thứ ba của Liên Hợp Quốc về Luật biển Trong quá trình diễn ra Hội nghị, xu hướng đơn phương mở rộng khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia vẫn tiếp tục diễn ra và có tác động mạnh mẽ đến
việc xoay chuyển quan điểm của các quốc gia ven biển Một số quốc gia như các nước
thuộc Cộng đồng châu Âu, Liên Xô, Mỹ… và cả một số quốc gia đánh cá tầm xa như Nhật Bản đã tuyên bố hoặc có ý định thành lập khu vực đánh cá 200 hải lý hoặc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, đồng thời bắt đầu các cuộc thương lượng song phương để được quyền tiếp cận nguồn tài nguyên cá trong các khu vực thuộc quyền tài phán đánh
cá của các quốc gia ven biển khác25 Đây là một trong các yếu tố dẫn đến việc khái niệm
về vùng đặc quyền kinh tế trở thành khái niệm có giá trị tập quán được chấp nhận rộng rãi
Trên cơ sở các cuộc tranh luận gay gắt giữa những quốc gia ven biển muốn mở rộng quyền của mình về vùng biển, bên cạnh cuộc đấu tranh có ý nghĩa chính trị của nhóm các nước mới giành được độc lập và các nước mới phát triển cùng với những hành vi mang tính chất đơn phương của các quốc gia mà tiêu biểu là Tuyên bố của Tổng thống
Mỹ Truman, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý đã được hình thành thông qua con đường pháp điển hóa các quy phạm tập quán
Tuy được thừa nhận và trở thành một quy định trong Công ước Luật biển 1982 nhưng
“vùng đặc quyền kinh tế lại không tồn tại một cách thực tế và đương nhiên đối với mỗi
25 Xem Nguyễn Trường Giang, chú thích số 1, tr.44-45.
Trang 32quốc gia ven biển”26 Vùng đặc quyền kinh tế chỉ có thể trở thành hiện thực thông qua tuyên bố đơn phương của quốc gia ven biển hoặc theo thỏa thuận của các quốc gia có liên quan Do đó, trong nhiều trường hợp, ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển có thể trùng khít nhau, nhưng chế độ pháp lý của chúng là hoàn toàn khác nhau
Vùng đặc quyền kinh tế không thuộc về biển cả, cũng không phải là lãnh hải mà đó là một vùng đặc thù Vùng đặc quyền kinh tế chịu sự tác động của hai nhóm vùng biển đó
là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia và vùng biển thuộc sở hữu quốc tế Trong khi tại khu vực lãnh hải, quốc gia ven biển có chủ quyền đầy đủ thì tại vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán Mục đích thiết lập vùng biển mới này là để phục vụ trước hết những nhu cầu kinh tế của các quốc gia ven biển Thẩm quyền đối với tài nguyên sinh vật của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh
tế là một vấn đề cần thảo luận rất gay cấn tại Hội nghị Luật biển lần III Vùng đặc quyền kinh tế dành cho quốc gia ven biển đặc quyền về khai thác tài nguyên trong vùng Do vậy, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về mặt kinh tế trong vùng đặc quyền kinh tế
là rất rộng lớn, không thua kém gì so với vùng lãnh thổ thuộc lãnh thổ quốc gia như lãnh hải hay nội thủy
Có thể thấy được sự ra đời của vùng đặc quyền kinh tế là một điểm tiến bộ vượt bậc
mà Công ước Luật biển 1982 đã làm, góp phần sửa đổi những hạn chế của “vùng đánh cá” hình thành sau khi Công ước 1958 về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển cả
có hiệu lực
Vùng đánh cá ra đời do ảnh hưởng bởi quyền đánh cá truyền thống, là quyền tự do đánh cá của tất cả các quốc gia bên ngoài lãnh hải Trong vùng đánh cá, quốc gia ven biển chỉ được hưởng quyền ưu tiên đánh bắt trong khi trong vùng đặc quyền kinh tế, ngoài quyền chủ quyền về kinh tế, quốc gia ven biển còn có các quyền tài phán khác Ngoài ra, sự hạn chế của vùng đánh cá còn ở chỗ vùng đánh cá giới hạn quyền lực của quốc gia ven biển đối với tài nguyên sinh vật trong lòng cột nước của vùng, trong khi đó vùng đặc quyền kinh tế lại bao gồm tất cả các sinh vật hoặc không sinh vật trong tất cả
26
Xem Ts Lê Mai Anh, chú thích số 3, tr.144.
Trang 33các tầng của vùng này như bề mặt biển, cột nước biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển27
Sự ra đời của khái niệm vùng đặc quyền kinh tế được coi là một tất yếu lịch sử, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Vùng đặc quyền kinh tế ra đời đã làm đảo lộn nhiều nguyên tắc và quy phạm cũ, đặc biệt là quan điểm về tự do trên biển cả trước đây Tuy nhiên, vấn đề về vùng đặc quyền kinh tế được đặt ra trong Công ước Luật biển
1982 đã góp phần mở rộng quyền chủ quyền chính đáng của quốc gia ven biển một cách
có giới hạn để đồng thời đảm bảo tính ổn định tương đối của vùng biển quốc tế - nơi mà lợi ích chung của tất cả các quốc gia trên thế giới cần được tôn trọng
Đối với Việt Nam, việc thiết lập vùng đặc quyền kinh tế đã được Chính phủ ta đặt ra ngay khi khái niệm về vùng đặc quyền kinh tế còn nằm trong dự thảo của Công ước Luật biển 1982 Cùng với Tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 5 năm 1977, Việt Nam đã trở thành quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á thiết lập vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, cùng với nhiều quốc gia khác trên thế giới đưa khái niệm vùng đặc quyền kinh tế trở thành một khái niệm mang giá trị tập quán trước khi Công ước được ký kết và có hiệu lực
Tại khoản 3 của Tuyên bố của Chính phủ ngày 12-5-1977 quy định: “Vùng đặc quyền kinh tế của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam một vùng rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, có các quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam”
Việc nước ta tuyên bố xác lập vùng đặc quyền kinh tế đã mở rộng quyền đánh cá của Việt Nam ra biển, không chỉ giới hạn “quyền đánh cá trong vùng đánh cá rộng 50 hải lý
27
Xem thêm TS Lê Mai Anh, chú thích số 3, tr 145-146.
Trang 34từ ranh giới ngoài của lãnh hải” theo tuyên bố của Chính phủ miền Nam Việt Nam năm
1972, đồng thời với việc mở rộng quyền chủ quyền của nước ta đối với nhiều nguồn tài nguyên khác không chỉ với nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình
Cùng với Tuyên bố 1977, khoản 3 Điều 4 Luật biên giới quốc gia năm 2003 cũng có quy định “Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác”
Với tư cách là một thành viên của Công ước, các quy định về vùng biển quốc gia của Việt Nam đặc biệt là vùng đặc quyền kinh tế - một vùng biển mới, hoàn toàn phù hợp với những quy định của Công ước Luật biển 1982
2.1.2 Nội dung quyền đánh cá của quốc gia ven biển tại vùng đặc quyền kinh tế
2.1.2.1 Quyền khai thác tài nguyên cá và sinh vật biển của quốc gia ven biển
Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Công ước Luật biển 1982: “Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền trong việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như các hoạt động nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió”
Như đã nói ở trên, vùng đặc quyền kinh tế là một khu vực mới được thiết lập chủ yếu
để xây dựng một quyền chủ quyền mới cho quốc gia ven biển đối với tài nguyên sinh vật Do đó, Công ước đã quy định cho phép “quốc gia ven biển có quyền một mình ấn định khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận được đối với tài nguyên cá và sinh vật biển ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia mình” (khoản 1 Điều 61 Công ước Luật biển 1982)
Tuy nhiên, Công ước không yêu cầu khối lượng đánh bắt mà quốc gia ven biển ấn định phải hoàn toàn là một con số cố định và bất biến Vì tình trạng và số lượng của tài nguyên cá và sinh vật biển phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, mà điển hình là môi trường
Trang 35sinh sống của chúng Do vậy, khối lượng đánh bắt này của quốc gia ven biển chủ yếu được xác định trong từng thời kỳ dựa trên các số liệu thống kê cụ thể hàng năm28
Quốc gia ven biển xác định mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác tối
ưu tài nguyên cá và sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình (khoản 1 Điều 62 Công ước Luật biển 1982) Tuy quốc gia ven biển có đặc quyền trong việc xác định lượng cá được phép đánh bắt, đồng thời với quyền xác định mục tiêu khai thác tối ưu đối với tài nguyên cá trong vùng nhưng việc khai thác đó không được vượt quá mức, nếu không sẽ dẫn đến sự nguy hại cho nguồn cá trong vùng đặc quyền kinh tế của mình
Do vậy, xác định tổng khối lượng cá đánh bắt phải vì mục tiêu bảo tồn tài nguyên cá và phải tính đến quyền lợi của các quốc gia khác đối với lượng cá thừa
Cùng với quyền ấn định khối lượng đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, quốc gia ven biển còn có quyền tự xác định khả năng khai thác của mình Việc xác định khả năng khai thác không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của chính quốc gia ven biển mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của các quốc gia khác đối với việc khai thác tài nguyên cá
và sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế
Hiện nay, trước sức ép của việc gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao cùng với bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệt đã đẩy mạnh xu hướng tiến ra biển tìm các nguồn tài nguyên để thay thế Khai thác biển, làm giàu từ biển, nhiều quốc gia đã khai thác cá tập trung vào mục đích phát triển kinh tế một cách tối đa có thể đạt được mà không hề tính đến những phương hại mà việc
sử dụng các công cụ khai thác có thể gây ra cho môi trường biển, ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng của cá và các sinh vật biển khác
Tuy nhiên, khả năng khai thác của mỗi quốc gia là khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển và khoa học kỹ thuật của mỗi nước Do đó, khả năng khai thác của các quốc gia ven biển cũng là một số liệu chủ yếu được các quốc gia ven biển đưa ra hàng năm tùy vào tình hình thực tế của tổng lượng cá được phép khai thác, mức độ phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia đó trong việc sử dụng các công cụ đánh bắt cá, cùng những yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng khai thác
28
Xem TS Lê Mai Anh, chú thích số 3, tr.148.
Trang 36Một quốc gia ven biển khi xác định tổng khối lượng có thể đánh bắt và khả năng khai thác của mình trong vùng đặc quyền kinh tế cần dựa vào các thông tin, dữ liệu và số liệu khoa học đáng tin cậy nhất mà quốc gia đó có Khi xác định tổng lượng đánh bắt cho phép, Công ước cho phép các quốc gia ven biển không chỉ dựa vào các yếu tố sinh học như mức độ phong phú và tỷ lệ sinh sản của các loài cá, quan hệ tác động giữa các loài
cá mà còn dựa vào cả việc xem xét các lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường và các lợi ích khác của quốc gia đó29
Có thể nói, việc xác định tổng khối lượng được phép đánh bắt và khả năng khai thác của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế là một sự hỗn hợp giữa quyền và nghĩa vụ Theo như khi đọc Công ước lúc ban đầu, có lẽ sẽ nghĩ đây là nghĩa vụ mà Công ước đặt ra cho quốc gia ven biển, tuy nhiên cũng có thể hiểu đây là quyền thuộc
về quốc gia ven biển khi mà Công ước giảm nhẹ nghĩa vụ của quốc gia ven biển xuống một cách đáng kể Căn cứ theo Điều 297 Công ước Luật biển 1982 thì Công ước không buộc quốc gia ven biển phải giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc xác định tổng lượng đánh bắt cho phép hay việc tiếp cận nguồn cá thừa sau khi quốc gia ven biển đã xác định khả năng đánh bắt của mình và tuyên bố có lượng cá dư thừa bằng các thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc như tòa án hay trọng tài Tuy nhiên, chỉ trong trường hợp quốc gia ven biển từ chối một cách độc đoán không xác định tổng lượng đánh bắt cho phép và khả năng đánh bắt, quốc gia liên quan khác có thể đưa tranh chấp ra Ủy ban hòa giải nhưng không điều đó không đồng nghĩa với việc quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ chấp nhận những khuyến nghị của Ủy ban hòa giải vì những khuyến nghị này chỉ có tính chất tham khảo, còn quyền quyết định vẫn thuộc về quốc gia ven biển30
Việc xác định tổng khối lượng cho phép đánh bắt và khả năng khai thác của quốc gia ven biển có một ý nghĩa rất quan trọng Tổng khối lượng cho phép đánh bắt là yếu tố cơ bản đầu tiên và việc xác định khả năng khai thác là yếu tố tiếp theo để có căn cứ xác định lượng cá thừa Nếu không xác định được hai yếu tố trên thì không thể xác định được lượng cá dư thừa và khi không tuyên bố được lượng cá dư thừa thì việc tiếp cận của các quốc gia khác đối với lượng cá thừa trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển không thể đặt ra được
Trang 37Trữ lượng hải sản trên thế giới nói chung và trong vùng đặc quyền kinh tế của mỗi quốc gia ven biển nói riêng là cực kỳ to lớn và đa dạng về hệ sinh thái, chính vì vậy việc điều tra để đánh giá tổng khối lượng là vô cùng khó khăn, đòi hỏi nhiều phương pháp và công cụ khoa học hiện đại Thực tế cho đến nay, chưa có một quốc gia nào trên thế giới
có thể đưa ra được một số liệu chính xác cho việc xác định tổng trữ lượng được phép đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển khi mà nguồn nhân lực, tài chính và kỹ thuật là một vấn đề cần bàn tới trước tiên Còn đối với vấn đề xác định khả năng đánh bắt, đa số các quốc gia ven biển khi đưa ra thông tin về khả năng đánh bắt của mình chủ yếu được dựa trên số liệu thống kê tổng hợp khai thác hải sản trong năm trước liền kề để đưa ra một con số tương đối làm kế hoạch cho năm tiếp theo Dựa trên những cơ sở đó, quốc gia ven biển sẽ quyết định xem
có tuyên bố có lượng cá dư thừa hay không và khối lượng cá dư thừa là bao nhiêu để các quốc gia khác dựa trên những thỏa thuận với quốc gia ven biển tiếp cận lượng cá thừa
đó
“Đánh giá trữ lượng trong vùng đặc quyền kinh tế và khả năng khai thác là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Công ước Luật biển 1982 đặt ra cho các quốc gia ven biển”31 Mỗi quốc gia cần phải tiến hành các cuộc điều tra để xác định khối lượng nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình
Đối với Việt Nam ta, một nước đang từng bước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc tiến hành xác định nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là một công việc khá khó khăn vì nhiều nguyên nhân, trong đó
có thể kể đến các vấn đề về tài chính, nguồn nhân lực, tầm hiểu biết về hệ sinh thái biển cũng như các công cụ khoa học kỹ thuật cho việc điều tra…
Theo đề tài “Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam” năm 2003 cũng đã đưa ra kết quả
về trữ lượng và khả năng khai thác như sau:
31 TS Nguyễn Hồng Thao (chủ biên), “Công ước Biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam”, Nhà xuất bản
chính trị quốc gia (2008), tr 251.
Trang 38Vùng biển Nhóm sinh
thái
Độ sâu (m)
Trữ lượng (tấn)
Khả năng khai thác (tấn) Vịnh Bắc Bộ Cá nổi nhỏ <30 119.800 59.900
>30 270.200 135.100
Cá đáy <30 54.601 21.840
>30 98.129 39.252 Tổng số 542.730 256.092 Miền Trung Cá nổi nhỏ <50 200.000 100.000
>50 300.000 150.000
Cá đáy <50 18.494 7.398
>50 104.000 41.600 Tổng số 622.494 298.998 Đông Nam Bộ Cá nổi nhỏ <30 99.687 49.844
510.000 230.000 Tổng cộng Cá nổi nhỏ 1.740.000 867.500
Trang 39Cá đáy 822.792 329.117
Cá nổi đại dương
có thể kể ra một số lý do như sau: vùng biển Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều khu vực đang tranh chấp với các nước cùng khu vực nên chưa được phân định rõ; phương pháp, việc đầu tư, nguồn nhân lực và kinh phí cho điều tra còn hạn chế rất nhiều
Việt Nam chủ yếu tiến hành các cuộc điều tra trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi hải sản trong các vùng biển của mình theo các thời kỳ khoảng 5 hoặc 10 năm một lần Hiện nay, dự án “Điều tra tổng thể hiện trạng và biến động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam” do Tổng cục thủy sản, Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á và Viện nghiên cứu Hải sản kết hợp tiến hành đang được triển khai và được thực hiện trong vòng
5 năm từ 2011-2015 Đây được coi một dự án có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế biển nói chung và ngành thủy sản nói riêng của Việt Nam
Ngày 21-12-2011, tại Hà Nội, Tổng cục thủy sản đã tổ chức “Hội nghị tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và triển khai kế hoạch năm 2012” Tại Hội nghị, theo số liệu thống kê mà Tổng cục thủy sản đưa ra, tổng lượng thủy sản trong cả nước ước đạt 5,2 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt 2,2 triệu tấn Căn cứ vào kết quả thực hiện kế hoạch năm 2011 và dự báo tình hình năm 2012, Tổng cục thủy sản đã đề ra các chỉ tiêu
kế hoạch đối với sản lượng khai thác hải sản đạt 2 triệu tấn, sản lượng khai thác nội địa
Trang 40http://www.fistenet.gov.vn/b-tin-tuc-su-kien/a-tin-van/tong-cuc-thuy-san-tong-ket-thuc-hien-nhiem-2.1.2.2 Quyền xác định lượng cá dư thừa và cho nước ngoài tiếp cận
Khoản 2 Điều 62 Công ước Luật biển 1982 quy định “Quốc gia ven biển sẽ xác định khả năng đánh bắt đối với tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình Nếu khả năng đánh bắt thấp hơn tổng lượng đánh bắt cho phép thì quốc gia ven biển sẽ cho phép thì quốc gia ven biển sẽ cho phép các quốc gia khác, thông qua các điều ước hoặc thỏa thuận và theo đúng các thể thức, điều kiện, các luật và quy định nêu trong khoản 4, khai thác số dư của lượng đánh bắt cho phép, khi làm như vậy, cần tính đến các Điều 69 và Điều 70, đặc biệt là tính đến các lợi ích của các quốc gia đang phát triển được nhắc đến trong điều khoản đó”
Theo quy định trên thì đối với trường hợp khi quốc gia ven biển xác định có lượng cá thừa thì quốc gia ven biển đó sẽ dành cho các quốc gia khác quyền tiếp cận đối với lượng cá thừa đó Nhưng các quốc gia khác có được tiếp cận lượng cá dư thừa hay không là tùy thuộc hoàn toàn vào quyết định của quốc gia ven biển Để được tiếp cận với lượng cá dư thừa trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển thì các quốc gia khác cần có được sự đồng ý của quốc gia ven biển bằng cách thỏa thuận để thông qua điều ước quốc tế cùng với những điều kiện mà Công ước đề ra tại khoản 4 Điều 62 Công ước Luật biển 1982 hoặc quốc gia ven biển có quy định thêm tùy theo hoàn cảnh của mỗi quốc gia khác nhau Có thể kể đến một số điều kiện mà Công ước đưa ra như: việc cấp giấy phép cho ngư dân hay tàu thuyền và phương tiện đánh bắt, việc nộp thuế, hay việc cần có các quy định ghi rõ các chủng loại cho phép đánh bắt và ấn định khối lượng được phép đánh bắt, hoặc là đối với các đàn hay các nhóm đàn hải sản riêng biệt hoặc đối với số lượng đánh bắt của từng chiếc tàu trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc là đối với số lượng đánh bắt của các quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, quy định về mùa vụ, các khu vực được đánh bắt, ấn định tuổi và cỡ cá, các thể thức và điều kiện về tàu thuyền, thuyền viên…33
Một quốc gia ven biển khi tuyên bố có lượng cá dư thừa trong khu vực đặc quyền kinh tế của mình thì việc cho phép các quốc gia khác tiếp cận nguồn cá dư thừa là một
33
Khoản 4 Điều 62 Công ước Luật biển 1982