1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh nghiệm vận dụng chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt của ấn độ trong các vụ kiện chống bán phá giá ở wto

72 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu về S&D trong khuôn khổ Hiệp định Chống bán phá giá của WTO; các vụ kiện vận dụng S&D của Ấn Độ và một số nước đang phát triển th

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

NGUYỄN THỊ LÊ THI

KINH NGHIỆM VẬN DỤNG CHẾ ĐỘ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT CỦA ẤN ĐỘ TRONG CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI WTO

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT CHUYÊN NGÀNH LUẬT QUỐC TẾ

TP.HCM, 2012

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH HỐ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KINH NGHIỆM VẬN DỤNG CHẾ ĐỘ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT CỦA ẤN ĐỘ TRONG CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI WTO

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ LÊ THI KHOÁ: 33 MSSV: 0855010197

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS LÊ THỊ ÁNH NGUYỆT

TP HỒ CHÍ MINH, 2012

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận cử nhân luật “Kinh nghiệm vận dụng chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt của Ấn Độ trong các vụ kiện chống bán phá giá ở WTO” là công trình của cá nhân tôi Mọi tài liệu, số liệu sử dụng trong khóa luận

đều đƣợc trích dẫn đầy đủ và việc tổng hợp, phân tích là kết quả của quá trình nghiên cứu của tôi, không sao chép các công trình khác

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADA Hiệp định chống bán phá giá

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

DOC Ủy ban thương mại Hoa Kỳ

DSB Cơ quan Giải quyết tranh chấp

DSU Quy tắc về Giải quyết tranh chấp trong WTO

GNI Tổng thu nhập quốc gia

GSP Hệ thống Ưu đãi thuế quan phổ cập

IMF Quỹ tiền tệ thế giới

HDI Chỉ số phát triển con người

OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

S&D Chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt

UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hiệp quốc

WB Ngân hàng thế giới

WEO Triển vọng kinh tế thế giới

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CHẾ ĐỘ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 5

1.1 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA WTO 5

1.1.1 Trước vòng đàm phán Uruguay 5

1.1.2 Vòng đàm phán Uruguay 7

1.1.3 Vòng đàm phán Doha 9

1.2 QUY ĐỊNHVỀĐỐIXỬĐẶCBIỆT VÀ KHÁC BIỆT TRONG HIỆPĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 10

1.2.1 Khái quát Điều 15 Hiệp định Chống bán phá giá 10

1.2.2 Một số nội dung cơ bản của Điều 15 Hiệp định chống bán phá giá 14

1.2.2.1 Nghĩa vụ chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù khi xem xét các biện pháp chống bán phá giá theo quy định của ADA 15

1.2.2.2 Nghĩa vụ xem xét các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng trước khi áp dụng mức thuế chống bán phá giá nếu biện pháp này ảnh hưởng tới lợi ích cơ bản của các nước đang phát triển 16

1.2.2.3 Nghĩa vụ của nước đang phát triển khi vận dụng S&D tại ADA trong các vụ kiện tại WTO 18

1.3 KẾTLUẬNCHƯƠNG 1 19

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VẬN DỤNG CHẾ ĐỘ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT CỦA ẤN ĐỘ TRONG CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 20

2.1 ĐỊA VỊ CỦA ẤN ĐỘ TRONG WTO 20

2.1.1 Quốc gia đang phát triển 20

2.1.2 Địa vị pháp lý của Ấn Độ trong WTO 22

2.1.3 Sự tham gia của Ấn Độ trong các vụ kiện chống bán phá giá tại WTO 26

Trang 9

2.2 ẤN ĐỘ KIỆN THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA EC ĐỐI VỚI KHĂN TRẢIGIƯỜNG COTTON NHẬPKHẨUTỪẤNĐỘ (DS 141) 27

2.2.1 Tóm tắt vụ kiện 27 2.2.2 Các vấn đề pháp lý liên quan đến S&D trong vụ kiện 29

2.2.2.1 EC đã có “chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù của Ấn Độ, quốc gia đang phát triển khi xem xét các đơn đề nghị về các biện pháp chống bán phá giá theo các quy định của Hiệp định ADA” hay không? 29 2.2.2.2 Việc xem xét các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng diễn ra trước khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời hay trước khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá chính thức? 33 2.2.2.3 Các yêu cầu về nghĩa vụ xem xét (explore) những khả năng

(possibilities) của biện pháp bồi thường/ phục hồi (remedies) 36

2.2.3 Thực thi khuyến nghị và kết luận của Ban hội thẩm 37

2.3 ẤN ĐỘKIỆN HOA KỲ VỀBIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ÁP ĐẶT LÊN THÉP TẤM NHẬP KHẨU TỪ ẤN ĐỘ (DS 206) 38

2.3.1 Tóm tắt vụ kiện 38 2.3.2 Các vấn đề pháp lý liên quan đến S&D trong vụ kiện 39

2.3.2.1 Nghĩa vụ chiếu cố đặc biệt đến địa vị là một nước đang phát triển 39 2.3.2.2 Nghĩa vụ xem xét biện pháp phối hợp xây dựng 41 2.3.3 Thực thi khuyến nghị và kết luận của Ban hội thẩm……… 48

2.4 CÁC VỤKIỆN KHÁC CỦAẤNĐỘVỀCHẾĐỘĐỐIXỬĐẶCBIỆT VÀ KHÁC BIỆT TRONG HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ KẾT THÚC Ở GIAI ĐOẠN THAM VẤN 48

2.4.1 Tóm tắt vụ DS 168 48 2.4.2 Tóm tắt vụ DS 140 49

2.5 KINH NGHIỆMVẬNDỤNGĐIỀU 15 THÔNG QUA CÁC VỤKIỆNCỦA

ẤNĐỘ 49

2.5.1 Chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ “chiếu cố đặc biệt” 49 2.5.2 Chứng minh ảnh hưởng của mức thuế chống bán phá giá tới “lợi ích cơ bản” của nước đang phát triển 51

Trang 10

2.5.3 Chứng minh vi phạm nghĩa vụ “xem xét các biện pháp mang tính xây

dựng” 51

2.6 ĐIỀU 15 HIỆPĐỊNHCHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI VÒNG ĐÀM PHÁN DOHA 52

2.7 KẾTLUẬNCHƯƠNG 2 55

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC: SỰ THAM GIA CỦA ẤNĐỘ TRONG CÁC VỤ KIỆN TẠI WTO 61

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tham gia vào sân chơi thương mại toàn cầu mà điển hình là gia nhập WTO

là xu hướng chung, tất yếu của mọi quốc gia trên thế giới Bên cạnh những ưu điểm, lợi ích mà WTO mang lại, tồn tại không ít khó khăn và thử thách dành cho các nước thành viên nói chung và các thành viên đang phát triển nói riêng Giải quyết vấn đề này, qua các vòng đàm phán của WTO, các thành viên luôn nỗ lực tìm kiếm, đưa ra những giải pháp tích cực giúp các nước đang phát triển có điều kiện thuận lợi hơn khi cạnh tranh hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ với những nước phát triển khác Chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) trong các Hiệp định đa phương của WTO về lý thuyết, được xem là một cơ chế hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều tranh cãi giữa các nước thành viên về giá trị của chế định này trên thực tế

Trong khuôn khổ các biện pháp phòng vệ của WTO, chống bán phá giá là một biện pháp thường được các nước thành viên WTO áp dụng để bảo vệ nền công nghiệp quốc gia trước những thiệt hại do hàng nhập khẩu của các nước thành viên khác gây ra Nhiều trường hợp, do mức thuế chống bán phá giá cao mà doanh nghiệp tại các nước đang phát triển đã mất hẳn thị trường tiêu thụ ở các nước thành viên WTO, gián tiếp đe dọa sự phát triển kinh tế ở những quốc gia đang phát triển

Do vậy, quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt tại Hiệp định chống bán phá giá (ADA) có ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ các nước đang phát triển tìm kiếm thỏa thuận về một mức thuế chống bán phá giá hợp lý, cân bằng lợi ích giữa những nhà sản xuất tại nước nhập khẩu và nhà xuất khẩu của nước đang phát triển

Hiện nay, khi WTO đã có hẳn một cơ quan chuyên giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên, những nước đang phát triển bắt đầu vận dụng nhiều hơn chế định này để bảo vệ lợi ích chính đáng cho mình Trong các vụ kiện chống bán phá giá tại WTO, S&D là một quy định pháp lý quan trọng giúp các nước đang phát triển đưa ra những luận chứng cần thiết nhằm bảo vệ những lợi ích bị đe dọa hoặc bị tổn hại do tác động của biện pháp chống bán phá giá từ nước nhập khẩu

Trên thực tế, Ấn Độ là một trong số những quốc gia vận dụng tích cực và hiệu quả S&D trong giải quyết tranh chấp với các nước thành viên khác Trong lĩnh

Trang 12

vực chống bán phá giá, việc vận dụng quy định trên đã đem lại cho Ấn Độ những thành công nhất định và tiêu biểu để các nước đang phát triển khác nghiên cứu và tham khảo

Từ những lí do nêu trên, tác giả chọn đề tài: Kinh nghiệm vận dụng chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt của Ấn Độ trong các vụ kiện chống bán phá giá tại WTO, làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu

Đề tài khóa luận hướng tới mục tiêu làm rõ những tích cực và hạn chế trong quá trình áp dụng chế độ S&D qua các vụ kiện chống bán phá giá của Ấn Độ với tư cách là nước đang phát triển Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận hướng tới các đối tượng nghiên cứu sau:

 Nội dung Điều 15, quy định về S&D của ADA

 Các vụ kiện chống bán phá giá của Ấn Độ có vận dụng Điều 15 và một số vụ kiện của các nước khác liên quan đến S&D

3 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về S&D, S&D trong ADA và tiếp cận đề tài dựa trên các tranh chấp tại WTO là một hướng đi mới trong khoa học pháp lý Trên thực tế, các tác giả Việt Nam đang từng bước tiếp cận các chế định của WTO thông qua một số vụ tranh chấp cụ thể Một số công trình tiêu biểu như:

Mai Hồng Quỳ- Lê Thị Ánh Nguyệt, Luật tổ chức thương mại thế

giới- Tóm tắt và bình luận án, NXB Hồng Đức, Hội luật gia Việt

Nam, 2012

Lê Thị Ánh Nguyệt, Pháp luật chống bán phá giá Hoa Kỳ và tác động

đối với Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,

2009

 Luận văn cử nhân luật của Trần Thị Hà Tiên, Tìm hiểu một số vụ kiện

chống bán phá giá trong WTO và kinh nghiệm cho Việt Nam, 2001

Số lượng các công trình nghiên cứu như vậy tại Việt Nam còn hạn chế Trái lại, đề tài này được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm và nghiên cứu đã cung cấp cho tác giả một lượng lớn kiến thức về S&D Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm

và thu thập tài liệu, tác giả gặp không ít khó khăn khi sử dụng, chuyển tải nội dung

Trang 13

từ các tài liệu tiếng Anh và các thông tin đăng tải bằng tiếng Anh trên website chính thức của WTO (www.wto.org) phục vụ khóa luận

4 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu về S&D trong khuôn khổ Hiệp định Chống bán phá giá của WTO; các vụ kiện vận dụng S&D của Ấn Độ và một số nước đang phát triển thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

5 Các phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp

 Phương pháp thống kê nhằm xử lý các số liệu liên quan đến sự tham gia vào các vụ kiện chống bán phá giá của Ấn Độ, số vụ kiện Ấn Độ viện dẫn S&D

 Phương pháp phân tích dùng để phân tích, bình luận và làm rõ nội dung của S&D trong ADA; cách thức Ấn Độ sử dụng chế độ này trong các vụ kiện

 Phương pháp tổng hợp nhằm đưa ra những nhận định, đánh giá sơ bộ

và tổng quát về S&D cũng như việc áp dụng S&D của Ấn Độ

Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp lịch sử để tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của S&D trong các Hiệp định của WTO qua các vòng đàm phán

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Khóa luận đóng góp những kiến thức cơ bản về S&D trong ADA và tình hình áp dụng điều luật này trong các vụ kiện trên thực tế Từ đó giúp người đọc có được những nhận định sơ khảo về tính khả thi của một điều luật cụ thể trong một Hiệp định của WTO

Giá trị ứng dụng của đề tài, khóa luận có thể được sử dụng như một tài liệu

tham khảo trong quá trình dạy và học môn Pháp luật về chống bán phá giá.Ngoài ra, khóa luận còn có giá trị như một nguồn tư liệu tham khảo cho các nghiên cứu về đề tài S&D trong ADA sau này

7 Kết cấu khóa luận

Nội dung khóa luận tốt nghiệp được khái quát thành hai chương:

Trang 14

Chương 1: Chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt trong khuôn khổ Hiệp định Chống bán phá giá của WTO

Chương 2: Thực tiễn vận dụng chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt của

Ấn Độ trong các vụ kiện chống bán phá giá của WTO

Trang 15

CHƯƠNG 1: CHẾ ĐỘ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO

1.1 Sơ lược về sự hình thành chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt trong các Hiệp định của WTO

Đối xử đặc biệt và khác biệt là một ngoại lệ của WTO, không dựa trên các nguyên tắc về đối xử bình đẳng và chỉ dành riêng cho các nước đang phát triển và kém phát triển nhất Các nước này sẽ có những ưu đãi về các cam kết, thời gian thực hiện nghĩa vụ và ưu đãi bổ sung về mở cửa thị trường từ các nước phát triển Quá trình hình thành S&D có thể được chia làm ba giai đoạn chính: trước vòng Đàm phán Uruguay, vòng Đàm phán Uruguay và vòng Đàm phán Doha

1.1.1 Trước vòng đàm phán Uruguay

Ban đầu, Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) 1947 không phân biệt giữa các nước đang phát triển và phát triển, nghĩa là không có chế định về S&D Tất cả các bên tham gia hiệp định đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau Năm 1950, sự gia tăng số lượng thành viên là nước đang phát triển đã khiến các bên tham gia GATT bắt đầu nhận thức việc kì vọng các nước đang phát triển với nền kinh tế yếu kém đủ sức cạnh tranh với các nước phát triển khác là điều không thực

tế Cần có những quy định đặc biệt giúp các nước nghèo giảm sự phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô và tập trung vào một ngành công nghiệp mũi nhọn1 Trong khi rà soát các điều khoản của Hiệp định GATT giai đoạn 1954-1955, quan điểm trên đã được cụ thể hóa bằng việc sửa đổi các quy định về hỗ trợ của Chính phủ đối với phát triển kinh tế tại Điều XVIII, tiết A, B, C và bổ sung Điều XXVIII bis về đàm phán thuế quan

Năm 1964, với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại của tất

cả các nước thành viên, nhất là các nước đang phát triển, Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD) đã được thành lập Các cuộc thảo luận giữa UNCTAD với GATT đưa tới việc mở rộng quy định của GATT với phần IV

1Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Tác động của các Hiệp định WTO đối với các nước đang phát

triển, Hà nội, 2005, trang 29 Source: www.nciec.gov.vn/book/library/tacdongcuahdwto.pdf , truy cập ngày 20/5/2012

Trang 16

“Thương mại và phát triển” nhằm khẳng định địa vị đặc biệt của các nước đang phát triển trong GATT2

Cùng thời gian này, tại vòng đàm phán Kennedy, năm 1967, Bộ luật chống bán phá giá đầu tiên ra đời Nội dung chính của Bộ luật gồm: (1) làm rõ và cụ thể hóa những khái niệm tại Điều VI, Hiệp định GATT; (2) bổ sung những yêu cầu về thủ tục điều tra chống bán phá giá của Điều VI; (3) buộc các nước kí kết của GATT tuân thủ Điều VI Ngoài ra, Điều 17 của Bộ luật còn đề nghị thành lập một ủy ban chống bán phá giá có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện chống bán phá giá của các nước kí kết3

Tuy nhiên, trong 17 điều luật của Bộ luật không có quy định nào về S&D hay ngoại lệ dành cho các nước đang phát triển

Năm 1979, tại Vòng đàm phán Tokyo, nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt chính thức được ghi nhận với tên thường gọi là Điều khoản tạo điều kiện thuân lợi (Enabling Clause)4 Điều khoản này bao gồm: (1) điều kiện tiếp cận thị trường (market access) dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử và không có đi có lại dành cho các nước đang phát triển; (2) đối xử khác biệt và thuận lợi hơn đối với các nước đang phát triển theo quy định của GATT về hàng rào phi thuế quan; tổng kết các điều khoản về ưu đãi giữa các nước đang phát triển; (3) các đối xử đặc biệt dành cho các nước kém phát triển nhất5 Ngoài ra, điều khoản còn hợp pháp hóa các ưu đãi thuế quan cho các nước đang phát triển trong Hệ thống Ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) và tăng cường khả năng bảo vệ các công ty ở nước đang phát triển dưới

sự hỗ trợ của Chính phủ liên quan đến rào cản thương mại6

Kết thúc vòng đàm phán, một Bộ luật chống bán phá giá mới, thay thế cho

Bộ luật chống bán phá giá Vòng đàm phán Kennedy đã được thông qua và có hiệu

4 Tên gọi chính thức của Điều khoản này là: Đối xử khác biệt và Thuận lợi hơn, Sự nhân nhượng và Tham

gia đầy đủ của các nước đang phát triển Nguyên văn tiếng Anh: Differential and More Favourable

Treatment, Reciprocity and Fuller Participation of Developing Countries, Decision of 28 November 1979, (L/4903) Source: http://www.wto.org/english/docs_e/legal_e/enabling1979_e.htm , truy cập ngày 30/5/2012

5Thomas Friz, Special and Differential Treatment for Developing Countries, 2005, trang 8 Source:

http://germanwatch.org/tw/sdt05e.htm, truy cập ngày 22/6/2012

6 Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), chú thích số 1, trang 31

Trang 17

lực từ ngày 1/1/1980 Bộ luật mới bước đầu đã có những quan tâm dành cho các

nước đang phát triển thông qua quy định tại Điều 13: Cũng thừa nhận rằng các

nước phát triển cần phải có các chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù của các nước đang phát triển trong khi xem xét các đơn đề nghị về các biện pháp chống bán phá giá theo các quy định của Bộ luật này Các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng sẽ được đem ra xem xét trước khi áp dụng các mức thuế chống phá giá nếu biện pháp này ảnh hưởng tới lợi ích cơ bản của các nước đang phát triển

Qua đó, đặt cho bên kí kết là các nước phát triển những nghĩa vụ chiếu cố và xem xét đặc biệt đến địa vị đang phát triển ở những nước kí kết khác Điểm hạn chế của điều luật này cũng như của Bộ luật chống bán phá giá vòng đàm phán Tokyo là tính chất tùy nghi của các quy định Chỉ có các nước tham gia Bộ luật7 mới bắt buộc phải thi hành, các nước khác, kí kết GATT nhưng không chấp thuận Bộ luật này thì không phải thực hiện nghĩa vụ trên8

1.1.2 Vòng đàm phán Uruguay

Trong thập kỉ 1980, các biện pháp cắt giảm thuế quan, khuyến khích đầu tư nước ngoài và gia tăng xuất khẩu đã làm thay đổi xu hướng phát triển kinh tế thế giới nói chung Kinh tế chuyển dần từ nhập khẩu nội địa sang thương mại quốc tế

và hội nhập vào thị trường thương mại toàn cầu Sự trỗi dậy của kinh tế Châu Á ở các nước Hàn Quốc, Singapore, Hong Kong, Đài Loan và ý thức lợi nhuận từ hoạt động tự do hóa thương mại ở các nước Mỹ Latinh, Châu Phi đã khuyến khích các nước đang phát triển tham gia tích cực hơn vào vòng đàm phán Uruguay9

Nhằm đạt được lợi ích cho quốc gia, các nước đang phát triển phải dần chấp nhận những nguyên tắc đối xử bình đẳng và đồng bộ giữa các bên tham gia kí kết S&D tại vòng đàm phán này do đó không đáng kể, tập trung vào các tiêu chuẩn về nhân nhượng

7 Có 25 nước chấp nhận Bộ luật, gồm: Úc, Áo, Brazil, Tiệp Khắc, EC, Ai Cập, Phần Lan, Hồng Kong, Hungary, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, New Zealand, Na Uy, Pakistan, Ba Lan, Thụy Điển, Romani, Singapore, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Hoa Kỳ, Nam Tư Nguồn: Raj Bhala (2001), chú thích số 3, trang 630

8Xem thêm Lê Thị Ánh Nguyệt, Pháp luật chống bán phá giá Hoa Kỳ và Tác động đối với Việt Nam, NXB

Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2009, trang 14

9

Thomas Friz (2005), chú thích số 5

Trang 18

lẫn nhau trong khuôn khổ từng Hiệp định cụ thể10 Nội dung về S&D trong các Hiệp định gồm: gia hạn thời gian chuyển đổi hoặc giới hạn việc thực hiện các Hiệp định; các ngoại lệ dành cho các nước kém phát triển nhất; các hỗ trợ kĩ thuật11

S&D trong ADA tại vòng đàm phán này thể hiện thông qua Điều 15: Cũng

thừa nhận rằng các Thành viên phát triển cần phải có các chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù của các Thành viên đang phát triển trong khi xem xét các đơn đề nghị về các biện pháp chống bán phá giá theo các quy định của Hiệp định này Các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng sẽ được đem ra xem xét trước khi áp dụng các mức thuế chống phá giá nếu biện pháp này ảnh hưởng tới lợi ích cơ bản của các Thành viên đang phát triển

Nhìn chung, điều luật này tương tự với các quy định tại Điều 10.1 Hiệp định

Vệ sinh dịch tễ12, Điều 12.2 Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại13, Điều XXXVIII Hiệp định GATT 199414 và là yêu cầu đối với các quốc gia thành viên của WTO về bảo vệ lợi ích của các quốc gia đang phát triển15

Về ý nghĩa, nội

10 Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), chú thích số 1, trang 35

11 Thomas Friz (2005), chú thích số 5, trang 10

12 Điều 10.1 Hiệp định Vệ sinh dịch tễ: Khi chuẩn bị và áp dụng các biện pháp vệ sinh động- thực vật, các Thành viên sẽ tính đến nhu cầu đặc biệt của các Thành viên đang phát triển và đặc biệt là các Thành viên kém phát triển nhất

13 Điều 12.2 Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại: Các Thành viên sẽ dành sự quan tâm đặc biệt đến các quy định của Hiệp định này liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các Thành viên đang phát triển

và sẽ xem xét các nhu cầu đặc biệt về tài chính, thương mại và phát triển của các nước Thành viên đang phát triển trong việc thực hiện Hiệp định này, cả trong phạm vi quốc gia và trong việc thực hiện các thoả thuận về thể chế của Hiệp định này

14 Điều XXXVIII Hiệp định GATT yêu cầu các bên kí kết phải:

- hành động thông qua thoả thuận quốc tế nhằm đảm bảo những điều kiện xâm thị tốt nhất có thể chấp nhận được dành cho các sản phẩm sơ cấp mang ý nghĩa đặc biệt với các bên ký kết kém phát triển hơn

và nhằm xem xét những biện pháp nhằm ổn định và và cải thiện tình hình thị trường những sản phẩm này trên thế giới

- phối hợp với các bên ký kết kém phát triển hơn và xem xét mối quan hệ giữa thương mại và viện trợ, nhằm đưa ra những biện pháp cụ thể tạo thuận lợi cho việc phát triển các tiềm năng xuất khẩu và tạo thuận lợi cho các sản phẩm thuộc các ngành mới được mở rộng có cơ hội xâm nhập thị trường

- theo dõi diễn biến của thương mại quốc tế, đồng thời nắm chắc tỷ lệ tăng trưởng thương mại của các bên

ký kết kém phát triển hơn và có những khuyến nghị thích hợp với hoàn cảnh với các bên ký kết

15

Xem thêm Implemention of Special and Differential Treatment Provision on WTO Agreements and

Trang 19

dung Điều 15 giống với quy định Điều 13 của Bộ luật chống bán phá giá vòng đàm phán Tokyo Tuy nhiên, xét về giá trị pháp lý, Điều 15 ADA có giá trị cao hơn, không chỉ giới hạn trong phạm vi 25 nước kí kết mà còn bắt buộc với tất cả các quốc gia thành viên của WTO Nói cách khác, Điều 15 ADA đã mở rộng các đối tượng chịu sự điều chỉnh bởi quy định này hơn so với trước đây

1.1.3 Vòng đàm phán Doha

Với vấn đề trọng tâm là các nhu cầu và lợi ích kinh tế của các nước đang phát triển, các nước tham gia vòng đàm phán Doha đã dành nhiều thời gian thảo luận về S&D trong tất cả các Hiệp định của WTO Tại đây, các nước Châu Phi và các nước kém phát triển nhất đòi hỏi chế định S&D phải có giá trị pháp lý cao hơn, cần có những điều khoản liên quan đến các biện pháp hỗ trợ, giúp phát triển nền kinh tế nội địa; đồng thời, nghĩa vụ đặt ra cho các nước này cũng phải phù hợp với

sự phát triển thương mại, nhu cầu tài chính của nước đó16 Ngoài ra, quy định về thời hạn chuyển đổi và hỗ trợ kĩ thuật trong các Hiệp định là những vấn đề được các nước lưu ý

Giải quyết những yêu cầu trên, Ban thư ký của WTO đã tiến hành rà soát toàn bộ các điều khoản liên quan tới S&D trong tất cả các Hiệp định của WTO và các Quyết định của Hội nghị Bộ trưởng, phân loại những điều luật này thành điều khoản bắt buộc và điều khoản không bắt buộc17

Trong nỗ lực thúc đẩy các nước đang phát triển và kém phát triển hội nhập kinh tế toàn cầu, Hội nghị đã thảo luận tìm các giải pháp thích hợp để những quy định về S&D có thể vận dụng linh hoạt hơn Tuy nhiên, Hội nghị bộ trưởng những năm tiếp theo tại Cancun (2003), Hồng Kong (2005), Geneva (2008-2009) đều không đem đến một kết quả khả thi18 Cho đến nay, mục tiêu sửa đổi làm cho chế định S&D trở nên hiệu quả và chưa có bước chuyển biến đáng kể

http://www.wto.org/english/tratop_e/devel_e/dev_special_differential_provisions_e.htm, truy cập ngày 20/5/2012

16 Developing countries Doha Round, WT/COMTD/W/143/Rev.5, trang 21

17 WTO, 2001: Implementation of Special and Differential Treatment Provisions in WTO

Agreements and Decisions 21 September, WT/COMTD/W77

18

Maureen Irish, Special and Differential Treatment, Trade and Substainable Development, 2010, trang 2

Source: www.lawanddevelopment.net/img/irish.pdf truy cập ngày 22/6/2012

Trang 20

Theo đề nghị của Vòng đàm phán Doha, Ban thư kí đã thống kê các quy định

về S&D trong các Hiệp định của WTO và các Quyết định của Hội nghị Bộ trưởng Tổng cộng có 145 điều khoản về S&D Trong đó, 107 điều khoản là kết quả của vòng đàm phán Uruguay và 22 điều khoản riêng biệt dành cho các nước kém phát triển nhất19 Ban thư kí phân loại các quy định trên thành sáu nhóm chính, gồm: (1) Quy định hướng tới việc gia tăng cơ hội phát triển thương mại ở các nước đang phát triển; (2) Quy định yêu cầu các Thành viên WTO phải bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển; (3) Quy định cho phép các nước đang phát triển linh hoạt thực hiện nghĩa vụ trong các Hiệp định đa phương của WTO; (4) Quy định về thời gian chuyển đổi; (5) Quy định về hỗ trợ kĩ thuật; (6) Các điều khoản liên quan tới các nước kém phát triển nhất20

Theo bảng thống kê trên, nội dung Điều 15 ADA thuộc nhóm Quy định yêu cầu các Thành viên WTO phải bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển21

Giá trị của các điều khoản về S&D trên thực tế còn nhiều tranh cãi, song trong phạm vi nghiên cứu của mình, khóa luận sẽ tập trung chủ yếu vào điều khoản S&D trong ADA, được trình bày ở phần tiếp theo

1.2 Quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt của Hiệp định Chống bán phá giá

1.2.1 Khái quát Điều 15 Hiệp định Chống bán phá giá

Nội dung về S&D trong ADA được ghi nhận tại Điều 15, như sau: Cũng

thừa nhận rằng các Thành viên phát triển cần phải có các chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù của các Thành viên đang phát triển trong khi xem xét các đơn đề nghị về các biện pháp chống bán phá giá theo các quy định của Hiệp định này Các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng sẽ được đem ra xem xét trước khi áp dụng các mức thuế chống phá giá nếu biện pháp này ảnh hưởng tới lợi ích cơ bản của các Thành viên đang phát triển

19 Implementation of Special and Differential Treatments in WTO Agreements and Decisions, WT/COMTD/W/77, trang 3 Source: http://docsonline.wto.org/DDFDocuments/t/WT/COMTD/W77.doc , truy cập ngày 15/6/2012,

20 Implementation of Special and Differential Treatments in WTO Agreements and Decisions, WT/COMTD/W/77 (2012), chú thích số 19, trang 3

21

Implementation of Special and Differential Treatments in WTO Agreements and Decisions, WT/COMTD/W/77(2012), chú thích số 19, trang 47

Trang 21

Quy định trên được hiểu là, các nước phát triển phải xem xét đến địa vị của các nước đang phát triển khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá và phải cân nhắc đến các biện pháp điều chỉnh mang tính chất xây dựng trước khi áp dụng mức thuế chống bán phá giá nếu mức thuế đó ảnh hướng đến lợi ích cơ bản của các nước này

So sánh với các quy định về S&D trong các Hiệp định khác có thể thấy, số lượng điều luật về S&D trong ADA ít hơn, chỉ giới hạn trong việc bảo vệ lợi ích cho các nước đang phát triển22 S&D của ADA có những đặc điểm sau:

Về đối tượng điều chỉnh, trong tương quan chung với nội dung của ADA,

S&D ở đây chỉ áp dụng với đối tượng sản phẩm là hàng hóa và không mở rộng ra lĩnh vực dịch vụ

Về chủ thể, theo ngôn ngữ trình bày: các Thành viên phát triển cần phải có các chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù của các Thành viên đang phát triển, có

thể hiểu, điều luật chỉ giới hạn nghĩa vụ giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển Câu hỏi đặt ra là quy định S&D trong ADA có được áp dụng với các quốc gia kém phát triển nhất23 (least developed countries) hay không?

Trên phương diện pháp lý, trong một tóm tắt về các điều khoản khác biệt và thuận lợi hơn dành cho các nước kém phát triển nhất và đang phát triển trong các

Hiệp định ở Vòng đàm phán Uruguay, Ban thư kí của WTO lưu ý: tất cả các điều

khoản áp dụng cho các nước đang phát triển đều được áp dụng cho các nước kém phát triển nhất24 Do đó, chủ thể trong quan hệ về đối xử đặc biệt và khác biệt trong

22 Xem thêm Implementation of Special and Differential Treatments in WTO Agreements and Decisions, WT/COMTD/W/77 (2012), chú thích số 15, trang 50

23 Theo Liên Hợp Quốc, một nước được xem là kém phát triển nhất khi:

Mức thu nhập thấp: Giá trị bình quân của chỉ số Tổng thu nhập quốc gia trên đầu người hàng năm (GNI) trong vòng ba năm dưới 750 đô la Mỹ

Nguồn nhân lực yếu kém: dựa trên chỉ số tài sản con người (HAI) gồm: chế độ dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục và số người trưởng thành biết đọc

Nền kinh tế dễ bị tổn thương: dựa trên các thông số về sản xuất nông nghiệp không ổn định; sự không ổn định trong xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ…

Nguồn:http://www.un.org/special-rep/ohrlls/ldc/ldc%20criteria.htm (ngày truy cập: 13/7/2012)

24 Summary of Provisions Contained in the Uruguay Round Agreements for the Differential and More Favourable Treatment of Developing and Least Developed Countries, tr 1, soure:

http://www.wto.org/english/tratop_e/devel_e/dev_special_differential_provisions_e.htm , truy cập ngày 20/6/2012

Trang 22

ADA sẽ gồm một bên là các quốc gia nhập khẩu phát triển và một bên là các nước đang phát triển hoặc kém phát triển nhất

Điều này có thể được giải thích như sau Điều khoản về đối xử đặc biệt và khác biệt trong các Hiệp định tại vòng đàm phán Uruguay nói chung cũng như trong

ADA nói riêng xuất phát từ mục tiêu của WTO là: đảm bảo các cho các quốc gia

đang phát triển, các quốc gia kém phát triển nhất duy trì tỉ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển của các quốc gia đó25 Khi gia nhập WTO, các nước đang phát triển với nền kinh tế yếu kém, chất lượng và năng suất lao động thấp, công nghệ kĩ thuật lạc hậu sẽ chịu nhiều bất lợi khi phải cạnh tranh bình đẳng trên đấu trường thương mại quốc tế với các nước phát triển

Để đạt được mục tiêu đảm bảo tăng trưởng cho các quốc gia này, WTO phải thiết lập một cơ chế đối xử ngoại lệ tạo điều kiện cho các nước đang phát triển có thời gian xây dựng, củng cố nền kinh tế nội địa, từng bước gia nhập vào sân chơi toàn cầu một cách chủ động và ít bị tổn thương nhất So với các nước đang phát triển, khả năng phát triển kinh tế, thu nhập quốc dân, trình độ dân trí của nước kém phát triển nhất đều ở mức thấp hơn.Vì thế, nếu đã dành ưu tiên cho các nước đang phát triển thì không thể bỏ qua quyền được hưởng chính sách ưu đãi đó với các nước nghèo nhất

Mặt khác, có thể thấy trong các Hiệp định đa phương khác của WTO, các điều khoản về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước kém phát triển nhất luôn thuận lợi hơn so với các nước đang phát triển, một số điều luật được thiết kế dành riêng cho nước kém phát triển nhất Chẳng hạn, quy định về thời hạn thực hiện nghĩa vụ cam kết cắt giảm tại Điều 15.2 Hiệp định Nông nghiệp, nếu với nước đang phát triển là 10 năm, thì các nước kém phát triển nhất lại không bị yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ này Điều14 Hiệp định Vệ sinh dịch tễ quy định về thời hạn hoãn áp dụng các điều khoản của Hiệp địnhvới các nước đang phát triển là 2 năm; nước kém phát triển nhất có thể hoãn áp dụng trong thời hạn 5 năm Điều 6.6 (a) Hiệp định về Thương mại hàng dệt và may mặc quy định các Thành viên chậm phát triển được đối xử ưu đãi đặc biệt so với các nhóm Thành viên khác (kể cả thành viên là các nước đang phát triển),…Qua đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt của WTO dành cho

25 Lời nói đầu Hiệp định Marakesh

Trang 23

nhóm đối tượng này Do đó, không có lí do để loại trừ chủ thể là các nước kém phát triển nhất ra ngoài phạm vi điều chỉnh của Điều 15 ADA, mặc dù điều luật này không nêu cụ thể và rõ ràng là có bao gồm các nước kém phát triển nhất

Về tư cách pháp lý của các nước đang phát triển và kém phát triển nhất trước cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, từ quy định về đối tượng điều chỉnh

đã phân tích, có thể suy ra vị trí của các nước đang phát triển và kém phát triển nhất chỉ có thể là những nguyên đơn hoặc bên thứ ba mà không thể bị đơn trong các vụ

kiện tại WTO Bởi vì, thứ nhất, chế định trên là một đặc quyền dành riêng cho các

nước này trong quan hệ với nước phát triển nên không thể xảy ra trường hợp nhóm

đối tượng trên bị khởi kiện do vi phạm điều luật đó Thứ hai, các nước đang phát

triển cũng không thể vận dụng chế độ này trước một nước đang phát triển khác, vì không có cơ sở pháp lý yêu cầu nước đang phát triển phải thực hiện nghĩa vụ về đối

xử đặc biệt và khác biệt dành cho một nước đang phát triển Tương tự, các nước đang phát triển có thể tham gia với tư cách là bên thứ ba viện dẫn quy định về S&D khi một vụ kiện có liên quan đến “lợi ích đáng kể”26 của mình mà bên đi kiện là nước đang phát triển và bị đơn là nước phát triển

Về giá trị pháp lí của điều luật, theo giải thích của Ban thư ký về giá trị của

điều luật thì một điều luật sẽ có giá trị bắt buộc (mandatory) nếu từ ngữ sử dụng trong đó là “phải” (shall), ngược lại khi từ ngữ diễn đạt là “nên” (should) thì sẽ không phải là quy định bắt buộc (non mandatory)27 Nhưng cần hiểu rằng, không phải mọi quy định bắt buộc đều có hiệu lực như nhau28 Điều này còn phụ thuộc vào

26 Theo quy định của DSU, một nước Thành viên có thể tham gia vào tiến trình giải quyết tranh chấp giữa các nước Thành viên khác trong giai đoạn xem xét bởi Ban hội thẩm (DSU, điều 10) Trong giai đoạn xem xét bởi Ban hội thẩm, nước yêu cầu tham gia chỉ cần có “lợi ích đáng kể” trong vụ kiện và không cần phải có sự chấp thuận của các bên trong vụ tranh chấp Trên thực tế, tuyệt đại đa số các yêu cầu tham gia với tư cách bên thứ ba đều được chấp nhận, thậm chí trong nhiều trường hợp, nước yêu cầu chỉ cần viện lý do “có lợi ích mang tính hệ thống” trong vụ kiện

Xem thêm: Nguyễn Tiến Vinh, Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt Nam tại

WTO Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2011/08/05/05-08-11/ (ngày truy cập: 13/7/2012)

27 WTO, 2001: Implementation of Special and Differential Treatment Provisions in WTO

Agreements and Decisions 21 September, WT/COMTD/W77

28 WTO, 2001a: Implementation of Special and Differential Treatment Provisions in WTO

Agreements and Decisions Mandatory and Non-Mandatory Special and Differential

Treatment Provisions, 21 December, WT/COMTD/W/77

Trang 24

loại nghĩa vụ được ghi nhận trong điều luật đó là nghĩa vụ tạo ra một kết quả xác định (obligation of result) hay nghĩa vụ thực hiện một hành vi nào đó (obligation of conduct)29 đối với bên liên quan, giới hạn nghĩa vụ theo đó sẽ bị ràng buộc ít hoặc nhiều Theo cách giải thích trên, Điều 15 của ADA về S&D bao hàm các từ ngữ như “cần phải có” (must be given), “phải” (shall) nên sẽ có giá trị bắt buộc, đòi hỏi các quốc gia thành viên phải tuân thủ

Tuy nhiên, giá trị pháp lí của một điều luật cần được đánh giá dựa trên các phân tích nội dung một cách cụ thể Việc xác định loại nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên liên quan trong việc thực thi và áp dụng quy định này chỉ có thể đạt được sau khi đã xem xét một cách toàn diện Điều 15

1.2.2 Một số nội dung cơ bản của Điều 15 Hiệp định chống bán phá giá

Điều luật trên gồm hai nội dung độc lập với nhau là: nghĩa vụ chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù của các nước đang phát triển khi xem xét các biện pháp chống bán phá giá và nghĩa vụ xem xét các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng trước khi áp dụng mức thuế chống bán phá giá nếu biện pháp này ảnh hưởng tới lợi ích cơ bản của các nước đang phát triển Để đưa điều luật này

ra trước Ban hội thẩm, về mặt thủ tục, trong văn bản yêu cầu thành lập Ban hội thẩm, phía nguyên đơn cần phải ghi cụ thể Điều 15 trong phần tóm tắt các căn cứ pháp lý cho việc khiếu kiện cùng với việc nêu rõ quá trình tham vấn và xác định chính xác biện pháp thương mại bị khiếu kiện30

Theo phân tích của các chuyên gia và giải thích của Ban hội thẩm trên thực

tế giải quyết các vụ kiện liên quan, chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt này khá mơ

hồ, thiếu những giải thích cụ thể và một cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả nhằm hiện thực hóa quy định Tại hội nghị Doha, các bên tham gia đã thừa nhận khả năng

áp dụng của điều luật này chỉ có thể đạt được khi có những giải thích chi tiết, cụ thể31 Như vậy, tính đến thời điểm này, quy định trên vẫn còn mang tính hình thức

29 WTO, 2002: Non-Mandatory Special and Differential Treatment Provisions in WTO Agree-

ments and Decisions, 4 February, WT/COMTD/W/77/

30 Xem thêm chap, truy cập ngày 25/6/2012

http://trungtamwto.vn/wto/gioi-thieu-co-che-giai-quyet-tranh-chap/trinh-tu-giai-quyet-tranh-31

Doha Minister Decision, 14/11/2001, source: http://www.wto.org/english/tratop_e/dda_e/implem_explained_e.htm#antidumping, truy cập ngày 15/6/2012

Trang 25

Nhược điểm này phần nào đã ảnh hưởng đến khả năng vận dụng vào thực tiễn của các nước đang phát triển, đồng thời làm cho chế định S&D trở nên kém hiệu quả

1.2.2.1 Nghĩa vụ chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù khi xem xét các biện pháp chống bán phá giá theo quy định của ADA

Thông qua giải quyết các tranh chấp tại DSB, Ban hội thẩm đã đưa ra những kết luận liên quan đến đối tượng được hưởng “chiếu cố đặc biệt” và thời điểm tiến hành việc chiếu cố này32 Trên thực tế, khi vận dụng, các nước khởi kiện sẽ gặp nhiều trở ngại do tính thiếu chi tiết và mức độ ràng buộc thấp với các nước phát triển Cụ thể, để hiểu và áp dụng được Điều 15, cần làm rõ nội dung về “chiếu cố đặc biệt” (special regard) khi “xem xét” “theo quy định của ADA” và “tình hình đặc thù” của một quốc gia (special situation) Căn cứ vào cách diễn đạt thì các chiếu cố đặc biệt phải tuân theo quy định của ADA, nhưng ADA lại không có điều khoản giải thích thế nào là “chiếu cố đặc biệt”, các hành vi nào được xem là chiếu cố đặc biệt hay giới hạn phạm vi của nghĩa vụ trên Do đó, các bên sẽ gặp khó khăn khi xác định liệu một quốc gia phát triển đã có hành động chiếu cố đặc biệt đến tình hình đặc thù của nước đang phát triển trước khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay không, cũng như khi xác định một hành vi cụ thể được một trong hai bên trong quan hệ tranh chấp viện dẫn đến có là một chiếu cố đặc biệt Trong các tranh chấp, Ban hội thẩm đã giải thích “tình hình đặc thù” được hiểu là vị trí là nước đang phát triển của quốc gia đó33, giải thích này còn chung chung và trừu tượng Quan hệ giữa

vị trí trên với một mặt hàng xuất khẩu trong một vụ việc cụ thể sẽ được xem xét dựa trên các tiêu chí nào; có phải trong mọi trường hợp, các bên liên quan đều phải chú

ý đến “tình hình đặc thù” đó Sự không rõ ràng một lần nữa khiến quy định trên trở nên mơ hồ, khó hiểu Mặt khác, nghĩa vụ “xem xét” không yêu cầu nước phát triển

32

Ban hội thẩm trong vụ Hoa Kỳ- Thép tấm đã xác định: thời điểm xem xét chiếu cố đặc biệt là khi có quyết định về Biện pháp chống bán phá giá cuối cùng và Điều 15 này chỉ được áp dụng với chủ thể là các nước đang phát triển

Xem thêm phần giải thích Điều 15 ADA, source:

http://www.wto.org/english/res_e/booksp_e/analytic_index_e/anti_dumping_e.htm#article15 (ngày truy cập: 20/6/2012)

33 EC- Imposition of Anti Dumping Duties on Import of the Cotton yarn from Brazil, ADP/137, Báo cáo của Ban hội thẩm ; EC- Restriction on imports of dessert apples from Chile, L/6491- 36S/93, Báo cáo của Ban hội thẩm adopted on 22/6/1989

Trang 26

phải đạt được một kết quả nhất định nên nước nhập khẩu chỉ cần chứng minh mình

có thực hiện việc cân nhắc trên là đã đáp ứng yêu cầu này

Một nghĩa vụ đơn giản và trừu tượng như thế rất khó gây tác độngmạnh mẽ tới cơ quan có thẩm quyền để quyết định biện pháp chống bán phá giá cuối cùng và buộc các nước phát triển phải hết sức thận trọng và lưu ý đến vị thế đang phát triển của nước xuất khẩu để đưa ra mức thuế quan nhẹ nhàng và phù hợp

1.2.2.2 Nghĩa vụ xem xét các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng trước khi áp dụng mức thuế chống bán phá giá nếu biện pháp này ảnh hưởng tới lợi ích cơ bản của các nước đang phát triển

Nghĩa vụ xem xét các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng chỉ đặt ra khi mức thuế chống bán phá giá ảnh hưởng tới lợi ích cơ bản của các nước đang phát triển Trong một chừng mực, lợi ích cơ bản ít nhiều có quan hệ với tình hình đặc thù nêu ở trên nhưng được thể hiện rõ ràng hơn Có thể tham khảo giải thích của Ban hội thẩm về “lợi ích cơ bản” theo Điều 13 Bộ luật về Chống bán phá giá vòng đàm phán Tokyo trong vụ Brazil kiện EC áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với chỉ cotton34 Ban hội thẩm đã giải thích “lợi ích cơ bản” là biểu

hiện sự phụ thuộc của nền công nghiệp chiến lược quốc gia đối với sản phẩm xuất khẩu35 Nói cách khác, ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận trong lĩnh vực kinh tế mũi nhọn dưới tác động của mức thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm đang bị điều trađược xem là ảnh hưởng của mức thuế chống bán phá giá lên lợi ích cơ bản của nước đang phát triển

Về nguyên tắc, sau khi cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra và có kết luận cuối cùng về mức thiệt hại thật sự cho nhà sản xuất nội địa do việc bán phá giá hàng hóa gây ra, tùy theo mức phá giá bị kết luận và từng nhà sản xuất mà cơ quan này sẽ quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá cuối cùng36

Vì hành vi cân nhắc

34 EC- Imposition of Anti Dumping Duties on Import of the Cotton yarn from Brazil, ADP/137

35 EC- Imposition of Anti Dumping Duties on Import of the Cotton yarn from Brazil, ADP/137, para 583, tr

136

36Xem thêm Trần Hồng Minh và nhóm nghiên cứu, Kinh nghiệm quốc tế trong phòng ngừa và xử lý các vụ

kiện chống bán phá giá đối với các mặt hàng xuất khẩu trong khuôn khổ WTO- Bài học cho Việt Nam, 2009,

trang 12- 17, nguồn: www.eowp.net/Upload_File/Common_2011_8_25_10_44_44.pdf , truy cập ngày 20/6/2012

Trang 27

các biện pháp điều chỉnh mang tính chất phối hợp xây dựng được xem xét trước khi

áp dụng mức thuế chống bán phá giá nên có thể hiểu thời điểm tiến hành việc xem xét là sau khi kết thúc quá trình điều tra chống bán phá giá

Các biện pháp điều chỉnh phối hợp xây dựng dưới tác động của Hiệp định chống bán phá giá có thể là các cam kết giá (price undertaking) theo Điều 8 ADA37

hoặc cam kết thực hiện một nghĩa vụ thấp hơn (lesser duty) theo Điều 9.1 ADA38 Điều này làm phát sinh hai vấn đề:

Thứ nhất, quy định thẩm quyền giữa Điều 15 và các điều luật khác Như đã

phân tích, Điều 15 chỉ giới hạn nghĩa vụ “xem xét” mà không đòi hỏi phải đưa ra một kết quả chính thức Trong khi, Điều 8 và Điều 9 ADA nêu rõ thẩm quyền quyết định chấp nhận hay không chấp nhận các cam kết trên sẽ thuộc về cơ quan có thẩm quyền, việc giải thích lí do đồng ý hay từ chối cũng căn cứ theo các điều này Vậy,

giá trị của nghĩa vụ “xem xét” trong điều 15 là gì?

Thứ hai, mối quan hệ giữa quy định về các cam kết trong ADA và luật về

ADA của các nước phát triển Nếu pháp luật quốc gia có ghi nhận biện pháp cam kết bằng cách đưa ra một mức thuế thấp hơn như trong luật của EC, mức thuế chống bán phá giá có thể thấp hơn biên độ phá giá nếu mức thuế đó có thể loại bỏ được thiệt hại của việc bán phá giá sản phẩm nhập khẩu39 thì một cam kết về mức thuế thấp hơn sẽ được lưu ý Trong trường hợp pháp luật không tồn tại cam kết đó, chẳng hạn như trong pháp luật Hoa Kỳ, mức thuế chống bán phá giá luôn ở mức tối

đa, bằng với biên độ bán phá giá40, thì sẽ không tồn tại khả năng về một cam kết

37Điều 8.1 ADA: Các thủ tục điều tra có thể được đình chỉ hoặc chấm dứt mà không áp dụng bất cứ biện

pháp tạm thời hay thuế chống phá giá nào nếu như các nhà xuất khẩu có cam kết ở mức thoả đáng sẽ điều chỉnh giá của mình hoặc đình chỉ hành động bán phá giá vào khu vực đang điều tra để các cơ quan có thẩm quyền thấy được rằng thiệt hại do việc bán phá giá gây ra đã được loại bỏ

38Điều 9.1 ADA quy định: Quyết định về việc có đánh thuế chống bán phá giá hay không sau khi tất cả các

điều kiện để có thể đánh thuế đã được đáp ứng và quyết định xem liệu mức thuế chống bán phá giá sẽ tương đương hay thấp hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan có thẩm quyền của Thành viên nhập khẩu quyết định

39 http://ec.europa.eu/trade/tackling-unfair-trade/trade-defence/anti-dumping/index_en.htm , truy cập ngày 20/5/2012

40 Xem thêm Điều U.S.19U.S.C§ 1673: Một khi bán phá giá và thiệt hại bị kết luận là có mối liên hệ nhân quả, biện pháp chống bán phá giá (thuế chống bán phá giá) sẽ được áp dụng tương đương cho biên độ bán phá giá mà không liên quan đến lượng hàng nhập khẩu hoặc biên độ của thiệt hại Lê Thị Ánh Nguyệt (2009), chú thích số 6, trang 181

Trang 28

mức thuế thấp hơn như quy định tại Điều 9.141 Do đó, đối với các nước có quy định

về mức thuế chống bán phá giá tương tự như Hoa Kỳ thì khả năng đàm phán hay đề nghị một mức thuế thấp hơn với tư cách là một “biện pháp điều chỉnh phối hợp xây dựng” sẽ không thể thực hiện được

Tóm lại, một “biện pháp điều chỉnh phối hợp xây dựng” theo quy định của ADA tưởng chừng linh hoạt, phạm vi áp dụng rộng nhưng khi phân tích cụ thể sẽ thấy ý nghĩa của nó còn khiêm tốn, khả năng vận dụng thành công trên thực tế là tương đốn và gây sẽ khó khăn cho nước đang phát triển khi yêu cầu nước phát triển phải tuân thủ nghĩa vụ đó

1.2.2.3 Nghĩa vụ của nước đang phát triển khi vận dụng S&D tại ADA trong các

vụ kiện tại WTO

Khi giải quyết một tranh chấp ở WTO, về nguyên tắc, nghĩa vụ chứng minh thuộc về cả hai bên nguyên đơn và bị đơn khi bên đó đưa ra một kết luận khẳng định hoặc một bào chữa cụ thể Nếu bên đó xuất trình đủ chứng cứ chứng minh giả định mình đưa ra là đúng thì nghĩa vụ chứng minh sẽ chuyển sang bên còn lại42 Áp dụng nguyên tắc trên khi sử dụng Điều 15 ADA, các nước đang phát triển với tư cách là nguyên đơn cần chứng minh: Các nước phát triển đã không thực hiện nghĩa

vụ chiếu cố đặc biệt đến vị trí đang phát triển của nước xuất khẩu; không có hành vi cân nhắc các biện pháp xây dựng trước khi áp dụng mức thuế chống bán phá giá chính thức; đồng thời chứng minh mức thuế chống bán phá giá chính thức nếu áp dụng sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế nước mình Điều này đòi hỏi phía nguyên đơn phải cung cấp đầy đủ các chứng cứ về mặt pháp lí và thực tế cần thiết làm sáng tỏ các luận điểm trên

Mặc dù chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt ở Điều 15 tồn tại nhiều bất cập, nhiều điểm chưa rõ ràng nhưng nếu nguyên đơn thực hiện tốt nghĩa vụ chứng minh

41 Quy định này của Hoa Kỳ không vi phạm Điều 9.1 của ADA vì điều khoản này không phải là một nghĩa vụ bắt buộc mà mang tính chất khuyến nghị các thành viên áp dụng một mức thuế thấp hơn Hơn nữa, mức thuế Hoa Kỳ áp dụng là “không cao hơn biên độ phá giá” nên hoàn toàn hợp lê Xem thêm: Lê Thị Ánh Nguyệt (2009), chú thích số 6, trang 183

42 Hoa Kỳ- Áo sơ mi và áo khoác len, Báo cáo của Ban phúc thẩm , trang 14

Trang 29

nêu trên vẫn có khả năng thắng kiện Thực tế đã có sáu vụ kiện áp dụng Điều 1543, trong đó có bốn vụ kiện44 đã được Ban hội thẩm giải quyết và hai vụ kết thúc ở giai đoạn tham vấn45

Một số quốc gia đã vận dụng thành công như Ấn Độ trong vụ DS

141 kiện EC về biện pháp chống bán phá giá với sản phẩm khăn trải giường, Chile trong vụ kiện về biện pháp hạn chế nhập khẩu táo của EC

1.3 Kết luận chương 1

Nhìn chung, nội dung S&D trong ADA còn nhiều điểm vướng mắc và chưa

rõ ràng Dựa trên việc phân tích Điều 15 có thể thấy, quy định này chỉ đặt ra nghĩa

vụ thực hiện một hành động mà không đòi hỏi phải có một kết quả cụ thể Mặc dù đây là nghĩa vụ bắt buộc dành cho các nước phát triển nhưng do thiếu các quy định chị tiết nên trong quá trình điều tra bán phá giá, các nước phát triển có thể sẽ dễ dàng bỏ qua việc xem xét, chiếu cố này nếu các nước đang phát triển không đưa ra những đề nghị liên quan trực tiếp đến việc chiếu cố Do đó, các nước đang phát triển cần chủ động và tích cực đề xuất các nội dung trên trước cơ quan điều tra Đây đồng thời sẽ là các cơ sở thực tế quan trọng quyết định liệu phía bị đơn trong tranh chấp có vi phạm Điều 15 hay không

43 6 vụ kiện trên gồm: DS 140 EC - Điều tra chống phá giá mặt hàng vải cotton thô nhập khẩu từ Ấn Độ; DS 141EC- Điều tra chống bán phá giá với sản phẩm khăn trải giường nhập từ Ấn Độ; DS 168Ấn Độ kiện Nam Phi- Điều chống bán phá giá với dược phẩm nhập khẩu từ Ấn Độ, DS 206 Hoa Kỳ- Biện pháp đối kháng và chống bán phá giá áp đặt lên thép tấm nhập khẩu từ Ấn Độ; DS 208 Thổ Nhĩ Kỳ - Thuế chống bán phá giá đối với phụ kiện ống sắt và thép từ Brazil; DS 219 EC – Thuế chống bán phá giá đối với ống sắt đúc dễ uốn hoặc phụ kiện ống nhập Brazil

Nguồn:

http://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_agreements_index_e.htm?id=A6#selected_agreement (truy cập ngày: 20/6/2012)

44 Bốn vụ kiện gồm: DS 141EC- Điều tra chống bán phá giá với sản phẩm khăn trải giường nhập từ Ấn Độ;

DS 206 Hoa Kỳ- Biện pháp đối kháng và chống bán phá giá áp đặt lên thép tấm nhập khẩu từ Ấn Độ; DS 208 Thổ Nhĩ Kỳ - Thuế chống bán phá giá đối với phụ kiện ống sắt và thép từ Brazil; DS 219 EC – Thuế chống bán phá giá đối với ống sắt đúc dễ uốn hoặc phụ kiện ống nhập Brazil

45 Hai vụ kiện gồm: DS 140 EC - Điều tra chống phá giá mặt hàng vải cotton thô nhập khẩu từ Ấn Độ; DS

168 Ấn Độ kiện Nam Phi- Điều chống bán phá giá với dược phẩm nhập khẩu từ Ấn Độ

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VẬN DỤNG CHẾ ĐỘ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT CỦA ẤN ĐỘ TRONG CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

CỦA WTO 2.1 Địa vị của Ấn Độ trong WTO

2.1.1 Quốc gia đang phát triển

Tính đến thời điểm hiện tại, hơn 2/3 trong tổng số 155 thành viên của WTO

là các nước đang phát triển46 Ngoài phụ lục VII của Hiệp định chống trợ cấp và các biện pháp đối kháng có nêu các nước đang phát triển là nước có thu nhập bình quân đầu người dưới 1000 USD mỗi năm, WTO không đưa ra thêm bất kì định nghĩa, giải thích nào về nước đang phát triển Mỗi quốc gia sẽ tự xác lập tư cách của mình

là “đang phát triển” (developing) hoặc “phát triển” (developed) Tuy nhiên, hành vi

tự công nhận trên không phải lúc nào cũng được chấp nhận một cách tự động bởi các cơ quan, tổ chức của WTO47

Do tính chất tự lựa chọn địa vị cho mình của mỗi nước mà có thể trong hiệp định này đó là nước đang phát triển nhưng tại một hiệp định khác lại được xem là nước phát triển48 Trên thực tế, một nước đang phát triển thường được xác định dựa trên các định nghĩa, hoặc bảng phân loại của các tổ chức như: Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) Tên gọi dành cho đối tượng này không đồng nhất và có thay đổi ở một số nước về vị trí nhóm trong bảng phân loại giữa các tổ chứcnhưng những khác biệt như vậy là không đáng kể49

UNDP dựa vào chỉ số phát triển con người (HDI)50, tổng sản phẩm quốc gia (GNI) để phân loại thành các nước có chỉ số trên cao, thấp và trung bình51

Về vấn

46 http://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/org6_e.htm , truy cập ngày: 20//6/2012

47 http://www.wto.org/english/tratop_e/devel_e/d1who_e.htm , truy cập ngày 21/6/2012

48

Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), chú thích số 1, trang 10

49

Lynge Neilsen, Classifications of Countries base on their levels of development: How it is done and How it

could be, 2001, trang 18

50 Chỉ số HDI dựa trên các chỉ số về tuổi thọ trung bình, học vấn, GDP bình quân đầu người

51 Nước có HDI cao: HDI từ 0 800 trở lên

Nước có HDI trung bình: HDI từ 0.500- 0.799

Nước có HDI thấp:HDI dưới 0.500

Nước có thu nhập cao: GNI bình quân đầu người từ 10.726 USD trở lên

Nước có thu nhập trung bình: GNI bình quân đầu người: 876- 10725 USD

Nước có thu nhập thấp: GNI bình quân đầu người: dưới 1,005 USD (số liệu năm 2005)

Trang 31

đề quốc gia đang phát triển, UNDP chia các nước trên thế giới thành: (1) nhóm các nước đang phát triển (gồm cả các nước kém phát triển nhất); (2) nhóm các nước thuộc khu vực Trung- Nam Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập là những thành viên cũ của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết đã tách ra thành những nước độc lập sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu sụp đổ năm 1990; (3) nhóm các nước là thành viên của Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) Trong số các nước đang phát triển, UNDC tiếp tục chia ra thành các khu vực khác nhau gồm: (1) Các nước Ả Rập; (2) Đông Á và Thái Bình Dương; (3) Nam Á; (4) khu vực Châu Mỹ Latinh và Caribbean; (5) Nam Âu; (6) Châu Phi hạ Saharan (sub- Saharan Africa)52

WB dựa trên chỉ số GNI năm trước của các quốc gia để phân loại thành các nước có thu nhập cao, thu nhập trên mức trung bình, thu nhập dưới mức trung bình

và thu nhập thấp53 Các nước thuộc nhóm thu nhập thấp và trung bình được xem là những nền kinh tế đang phát triển54

IMF căn cứ vào các dữ liệu về kinh tế và tài chính của các nước thành viên trong cuốn Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) cung cấp chia các nước thành viên thành hai nhóm: (1) các nền kinh tế tiên tiến (advanced economies) gồm khu vực Euro, nhóm 7 nước công nghiệp hàng đầu thế giới (G7), các nền kinh tế công nghiệp mới của Châu Á (Newly Industrialized Asian Economies), các nền kinh tế tiên tiến khác (ngoài khu vực Euro và G7) và cộng đồng Euro; (2) các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi gồm: Đông và Trung Âu, Cộng đồng các quốc gia độc lập, các nước châu Á đang phát triển (developing Asia), 5 nước ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan,Vietnam), các nước Trung Đông, Châu Phi hạ Saharan, các nước ở Tây bán cầu (Western Hemisphere)55

Source: Human Development Report 2007/2008

52

Human Development Report 2007/2008

53 Thu nhập thấp: dưới 1,005 USD

Thu nhập dưới trung bình: 1,006- 3975 USD

Thu nhập trên trung bình:3,976 - 12,275 USD

Thu nhập cao: 12,276 USD (số liệu năn 2010)

Soure: http://data.worldbank.org/about/country-classifications , truy cập ngày 21/6/2012

54

http://data.worldbank.org/about/country-classifications , truy cập ngày 21/6/2012

55 http://www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2010/01/weodata/groups.htm#oem, truy cập ngày 21/6/2012

Trang 32

Dựa vào các cách phân loại trên, có thể khái quát các nước đang phát triển là những nước có chỉ số phát triển con người không cao, mức sống và thu nhập bình quân đầu người thấp Bên cạnh đó, các nước này còn có các đặc điểm khác như: nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động thấp; nguồn nhân lực chưa được đào tạo đầy đủ và chuyên nghiệp; bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh; một số nước châu Phi, châu Á còn có hiện tượng bất

ổn về chính trị56

Các nhận định và cách phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối Trong số các nước đang phát triển có nhiều nước đạt được trình độ phát triển cao, nổi bật ở nhiều lĩnh vực công nghiệp hoặc mức sống cao nhưng vì một số lí do lại không được xếp vào nhóm các nước phát triển Ngoài ra, cần lưu ý là giữa các nước đang phát triển với nhau cũng có sự chênh lệnh rất lớn về trình độ kinh tế, kĩ thuật, như giữa các nước ở phía trên của bảng phân loại và các nước nằm cuối bảng Khoảng cách về nguồn nhân lực, năng suất lao động của mỗi nước là không ngang bằng nhau Cho nên, không phải tất cả quốc gia đang phát triển đều có cùng một vị thế, cùng giống nhau về tình hình kinh tế, xã hội, trình độ phát triển

Vì những khác biệt như trên mà các nước tham gia vòng Đàm phán Doha đã

đề nghị xem xét, phân loại, xếp hạng lại các nước đang phát triển trong WTO nhằm thiết kế một chế độ hưởng các ưu đãi đặc biệt và khác biệt chính xác và chặt chẽ hơn hướng đến sự công bằng giữa các nước thành viên và tuân thủ nguyên tắc đối

xử có đi có lại trong WTO57 Yêu cầu này đến nay vẫn còn để mở và chưa có kết luận chính thức

2.1.2 Địa vị pháp lý của Ấn Độ trong WTO

Gia nhập WTO từ ngày 1/1/1995, Ấn Độ là một trong 23 nước tham gia kí kết GATT 1947, tiền thân của WTO.Với tư cách là thành viên sáng lập, Ấn Độ từng đại diện cho các nước đang phát triển thảo luận các vấn đề liên quan đến sự ra đời của GATT Thông qua các hoạt động đàm phán thương mại quốc tế, Ấn Độ và các

56Nguyễn Thị Mơ,Hội nhập của các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi, Vị trí, vai trò và cơ

chế hoạt động của tổ chức thương mại thế giới trong hệ thống thương mại đa biên,(Bộ Công thương, Ủy ban Châu Âu, Dự án hỗ trợ thương mại đa biên II), NXB Lao động- Xã hội, 2007, tr 402

57

http://www.wto.org/english/tratop_e/devel_e/dev_special_differential_provisions_e.htm , truy cập ngày 21/6/2012

Trang 33

nước đang phát triển khác đã phản ánh những mâu thuẫn nội tại về lợi ích giữa các nhóm quốc gia trong GATT đối với các yêu cầu về tăng trưởng kinh tế và phát triển thương mại58

Năm 1983, cùng với Brazil, Ấn Độ đã lãnh đạo nhóm các nước đang phát triển G10 gồm Argentina, Nicaragua, Ai Cập, Nigeria, Peru, Cuba, Tanzania

và Yugoslavia bàn về các Hiệp định đa phương của GATT Tại đây, Ấn Độ đã nêu quan điểm không đồng ý đưa Hiệp định về Dịch vụ vào khuôn khổ GATT với lí do chưa sẵn sàng đàm phán trong lĩnh vực dịch vụ ở vị trí ngang hàng với các nước công nghiệp phát triển khác59 Tại vòng đàm phán Uruguay, Ấn Độ yêu cầu các nước thành viên phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các nghĩa vụ khi tiếp cận thị trường để đạt được tốt nhất các lợi ích của việc gia nhập60

Năm 2001, ở vòng đàm phán Doha, Ấn Độ đưa ra thảo luận những cơ hội phát triển lợi ích quốc gia và đòi hỏi xác định lại những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia nhằm bảo đảm các lợi ích trên phù hợp với những thỏa thuận đàm phán của mình Các cuộc đàm phán của Ấn Độ tập trung vào bốn điểm lớn: (1) đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu của Ấn Độ; thông qua hội nhập, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, (2) mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường thế giới, (3) đảm bảo địa vị, tiếng nói của Ấn Độ trong ban hành các nguyên tắc chính điều hành hệ thống thương mại toàn cầu và trong các quyết định của WTO, của các

tổ chức có liên quan về vấn đề quản lí, (4) yêu cầu một cơ chế bảo vệ trước những rào cản phi thương mại trong WTO61

Đối với ADA, Ấn Độ cho rằng Hiệp định này chỉ giúp các nước bảo hộ nền sản xuất nội địa Các quy định của WTO không đủ mạnh để ngăn cản các nước áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhằm mục đích bảo hộ Cùng với đề nghị đổi mới toàn bộ các nguyên tắc nêu trong ADA của các Thành viên đang phát triển, Ấn

Độ kiến nghị việc sử dụng nhiều hơn các biện pháp phòng vệ thay cho áp dụng các biện pháp chống bán phá giá62

58 India in the GATT and the WTO, trang 79, nguồn: www.piie.com/publications/chapters /3iie2806.pdf (truy cập ngày 10/7/2012)

59 India in the GATT and the WTO, chú thích số 58, trang 79

60 India in the GATT and the WTO,chú thích số 58, trang 83

61 T.N Srinivasan, India in the Doha Round, trang 15 Source:www.econ.yale.edu/ /India%20in%20the%20Doha% , truy cập ngày 18/6/2012

62

T.N Srinivasan, India in the Doha Round, chú thích số 61, trang 17

Trang 34

Về chủ quan, từ khi gia nhập đến nay, Ấn Độ luôn tự xem mình là nước đang phát triển Về khách quan, dựa trên các tiêu chí mà các tổ chức xếp loại quốc gia uy tín đưa ra, kinh tế Ấn Độ thuộc nhóm các nước có nền kinh tế đang phát triển

Tại thời điểm gia nhập WTO, Ấn Độ đang ở trong thời kì chuyển đổi từ kinh

tế khép kín với sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ đối với công nghiệp, thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài gây hậu quả khủng hoảng nghiêm trọng cho đất nước sang nền kinh tế tự do, mở cửa thị trường và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong năm 1994, về kinh tế, tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân đầu người đạt

284 USD trong đó nông nghiệp chiếm 32% GDP, công nghiệp chiếm 27% GDP, xuất khẩu đạt 23 tỉ USD, tăng trưởng kinh tế đạt mức 3,8 % Sản phẩm xuất khẩu chính của Ấn Độ gồm: dệt may, kim cương, các sản phẩm kỹ thuật và hóa học Lĩnh vực công nghiệp quốc nội trọng điểm gồm các sản phẩm dầu khí, máy móc, sắt thép

và phân bón Về đời sống xã hội, hơn 70% dân số phụ thuộc trực tiếp vào nông nghiệp, khoảng 30% dân số sống dưới mức nghèo đói, tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong là 81/1,000, tuổi thọ trung bình: 61 tuổi, 48% dân số biết đọc63

Từ giữa những năm 2000 cho đến nay, Ấn Độ được xếp vào danh sách những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới Tính đến năm 2011, theo IMF, chỉ số GDP danh nghĩa của Ấn Độ là 1.676 tỉ USD xếp hạng 11 trên toàn thế giới Trong đó, nông nghiệp chiếm 18.1%, công nghiệp chiếm 26.3% và dịch vụ chiếm 55.6% tổng thu nhập GDP Xuất khẩu trong năm 2011 đạt 303.7 tỉ USD, các sản phẩm xuất khẩu chính gồm cơ khí, kim loại và sắt thép, hóa chất… Tỉ lệ thất nghiệp là 9.8%, lao động trong nông nghiệp chiếm 52%, công nghiệp: 14%, dịch vụ: 34% (số liệu 2009),thu nhập bình quân đầu người đạt 3,694 USD, xếp thứ 129 thế giới và là nền kinh tế có mức thu nhập dưới mức trung bình64 Về xã hội, 70% dân số sống ở nông thôn, 37% sống dưới mức nghèo đói, tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong là 46.07/1.000, tuổi thọ trung bình: 67.14 tuổi, số người biết đọc chiếm 61% dân số65 Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, đối chiếu các số liệu trên vào bảng phân loại của UNDP, IMF và WB, có thể thấy, Ấn Độ được xem là một nước đang phát triển

Trang 35

Về vấn đề các nước đang phát triển tại WTO, như đã nói, không phải mọi quốc gia khi tự công nhận quốc gia mình là nước đang phát triển đều được các nước khác mặc nhiên thừa nhận Cụ thể như địa vị pháp lý của Việt Nam theo sự công

nhận của Hoa Kỳ Trong báo cáo gia nhập WTO, Việt Nam tự nhận là nước đang

phát triển với thu nhập thấp và nợ nước ngoài cao66 Nhưng trong vụ kiện chống bán phá giá tôm với Hoa Kỳ (DS 404), toàn bộ báo cáo của Ban hội thẩm đã không

sử dụng cụm từ “nước đang phát triển” nhằm chỉ Việt Nam, trong khi thuật ngữ

“nền kinh tế phi thị trường”67

được sử dụng bốn lần68 Thực tế, Hoa Kỳ không công nhận Việt Nam là nước đang phát triển, đặc biệt là nước đang phát triển trong các cuộc điều tra chống bán phá giá mà Hoa Kỳ chính thức thừa nhận Việt Nam là nước

có nền kinh tế phi thị trường69

Đối với Ấn Độ, thông qua các vụ kiện mà một bên tranh chấp là Ấn Độ, bên còn lại luôn thừa nhận vị trí là nước đang phát triển của Ấn Độ Ví dụ, vụ DS 141Ấn Độ kiện biện pháp chống bán phá giá của EC lên sản phẩm khăn trải giường,

DS 206 Ấn Độ kiện Hoa Kỳ về biện pháp đối kháng và chống bán phá giá áp đặt lên thép tấm nhập khẩu

Tóm lại, theo cách phân loại của các tổ chức uy tín trên thế giới, tình hình kinh tế, xã hội thực tế của Ấn Độ và cơ chế tự xác lập tư cách trong WTO, có thể

66 Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, tài liệu WT/ACC/VNM/48 ngày 27/10/2006, đoạn 6, tr.5

67 Vấn đề nền kinh tế thị trường không được WTO và GATT đề cập chi tiết, ngoại trừ điểm bổ sung Điều VI

GATT 1947 ghi nhận: Trong trường hợp một quốc gia nào đó mà có chế độ độc quyền hoàn toàn hoặc độc

quyền một cách cơ bản về hoạt động thương mại và quốc gia này ấn định giá đối với tất cả các sản phẩm trong nước, thì việc xác định giá có khả năng so sánh theo mục đích của Điều VI đoạn 1 sẽ rất khó khăn và trong trường hợp này thành viên ký kết gia nhập có thể cho rằng khả năng so sánh giá với giá trong nước của nước này là điều không phù hợp

Theo pháp luật Hoa Kỳ, phần 771 (18) (A) Luật thuế quan 1930, một nước nền kinh tế phi thị trường là một

quốc gia nước ngoài không bao hoạt động dựa trên nguyên tắc thị trường về cơ cấu chi phí và giá cả, nên hàng hóa tại nước này không phản ánh được giá trị công bằng của sản phẩm

Xem thêm: Mai Hồng Quỳ- Lê Thị Ánh Nguyệt, Luật tổ chức thương mại thế giới- Tóm tắt và bình luận án,

NXB Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam, 2012, trang 101, 102

68 Xem thêm báo cáo của Ban hội thẩm, đoạn 6.12, 7.19, 7.24, 7.237, Mai Hồng Quỳ- Lê Thị Ánh Nguyệt(2012), chú thích số 67, trang 102

69 Mai Hồng Quỳ- Lê Thị Ánh Nguyệt (2012), chú thích số 67, trang 102

Trang 36

khẳng định Ấn Độ là một nước đang phát triển đồng thời là một nước tham gia tích cực vào các vòng đàm phán của WTO

2.1.3 Sự tham gia của Ấn Độ trong các vụ kiện chống bán phá giá tại WTO

Từ khi gia nhập WTO, Ấn Độ là một trong số các nước tiến hành điều tra chống bán phá giá, áp dụng thuế chống bán phá giá nhiều nhất và cũng là nước thường xuyên bị điều tra và bị áp dụng thuế chống bán phá giá trong WTO70 Đáng chú ý là các lĩnh vực Ấn Độ điều tra hay áp thuế chống bán phá giá với nước khác nhiều nhất cũng là lĩnh vực Ấn Độ bị điều tra và áp thuế chống bán trở lại nhiều nhất71

Ấn Độ đã tham gia 116 vụ kiện tại WTO với 21 vụ là bị đơn, 21 vụ là nguyên đơn, 74 vụ tham gia với tư cách là nước thứ ba72

Trong lĩnh vực chống bán phá giá, Ấn Độ đã tham gia 10 vụ, đi kiện 7 vụ và

Số vụ kiện Ấn Độ tham gia tại WTO từ năm 1995- 2012

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w