Trước thực trạng của việc gia tăng nhu cầu cần người giúp việc gia đình và số lượng người giúp việc gia đình ngày càng tăng, cần có những quy định pháp luật cụ thể để điều chỉnh một ngàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN THỊ BÍCH SINH VIÊN THỰC HIỆN: MAI THỊ HOÀNG VÂN
LỚP: DÂN SỰ 34B MSSV: 0955020203
KHÓA: 2009-2013
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Qua luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin chân thành cám ơn các Thầy Cô khoa Dân
Sự, Thầy Cô trường Đại học Luật thành phố Hố Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho tác giả những kiến thức bổ ích trong suốt 4 năm qua
Tác giả cũng xin gửi lời cám ơn và lòng tri ân sâu sắc đến Thạc sỹ Nguyễn Thị Bích, giảng viên khoa luật Dân sự, cám ơn Cô đã trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện khóa luận này
Cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tác giả có thể hoàn thành khóa luận
Xin chân thành cảm ơn
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM 5
1.1.1 Khái niệm người lao động 5
1.3.1 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình 14 1.3.2 Nội dung của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình 15
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
2.1 Thực trạng ban hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người lao động
2.1.1 Các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động 25 2.1.2 Các quy định của pháp luật trong vấn đề tôn trọng danh dự, nhân phẩm. 31
2.1.3 Các quy định của pháp luật trong vấn đề học văn hóa, học nghề 32 2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay. 33
2.2.2 Thực trạng bảo vệ người lao động giúp việc gia đình trong vấn đề tôn trọng danh dự, nhân phẩm. 40
Trang 42.2.3 Thực trạng bảo vệ người lao động giúp việc gia đình trong vấn đề học văn hóa, học nghề 44
CHƯƠNG III HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của người lao động giúp việc gia đình 47 3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình 49 KẾT LUẬN 58
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, nghề giúp việc gia đình đang trở thành một nghề phổ biến và bắt
đầu được xã hội coi trọng Theo một nghiên cứu được thực hiện của ILO thì trên thế
giới có ít nhất 52 triệu người đang làm giúp việc gia đình, 1 tuy nhiên ở Việt Nam thì con số này chưa được thống kê đầy đủ Theo một khảo sát được Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động thực hiện, nhu cầu lao động giúp việc gia đình tại TP Hồ Chí Minh hiện khoảng 9000 - 10.000 người/năm, và xu hướng còn tiếp tục tăng
Trước thực trạng của việc gia tăng nhu cầu cần người giúp việc gia đình và
số lượng người giúp việc gia đình ngày càng tăng, cần có những quy định pháp luật
cụ thể để điều chỉnh một ngành nghề mới trong xã hội.Trước đây, người giúp việc gia đình với vai trò là người lao động chỉ được Luật lao động điều chỉnh bởi những quy định chung của người lao động, tuy nhiên, lĩnh vực giúp việc gia đình là một lĩnh vực đặc thù, người giúp việc gia đình dễ bị lạm dụng và bóc lột sức lao động hơn những ngành nghề khác Vì vậy Nhà nước cần có các quy định cụ thể để điều chỉnh riêng về lĩnh vực người giúp việc gia đình Bộ luật lao động năm 2012 ( sau đây xin gọi tắt là BLLĐ 2012) lần đầu tiên đã cụ thể hóa các quy định về lao động là người giúp việc gia đình tại Mục 5 Chương XI BLLĐ gồm có 5 điều, từ Điều 179 đến Điều 183 Có thể nói sự thay đổi của BLLĐ là một bước tiến đáng kể để đưa công việc giúp việc gia đình trở thành một nghề chính thức trong xã hội Tuy nhiên, đối tượng lao động giúp việc gia đình có những đặc thù về nghề nghiệp, quan điểm của xã hội về nghề giúp việc gia đình còn hạn chế khiến họ khó có cơ hội bình đẳng thực sự với người sử dụng lao động Vì vậy, hàng loạt câu hỏi đang được đặt ra thực trạng hiện nay về vấn đề bảo vệ người lao động giúp việc gia đình như thế nào? Liệu những quy định của pháp luật về bảo vệ NLĐGVGĐ đã đầy đủ chưa? Làm thế
Trang 62
nào để có thể đưa được những quy định mới của pháp luật về bảo vệ NLĐGVGĐ đi
vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất?
Chính vì những lý do và yêu cầu cấp bách của xã hội trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ người lao động giúp việc gia đình nên tác giả đã chọn
đề tài “Bảo vệ quyền lợi của người lao động giúp việc gia đình theo pháp luật
lao động Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp đại học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghề giúp việc gia đình đã tồn tại và phát triển trong xã hội khá lâu nhưng để được thừa nhận là một nghề chính thức thì chỉ mới cách đây vài năm Ngày 18/6/2012, BLLĐ 2012 được Quốc hội thông qua trong đó lần đầu tiên đề cập đến vấn đề lao động giúp việc gia đình một cách cụ thể, thông qua các quy định của pháp luật, Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ quyền lợi cho người lao động giúp việc gia đình Vì vậy mà hầu như đến thời điểm này chưa có một đề tài nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền lợi cho người lao động giúp việc gia đình Các đề tài đã nghiên cứu chỉ mới nói đến góc độ bảo vệ quyền lợi của người lao động nói chung Qua quá trình khảo sát đề tài nghiên cứu, tác giả tìm thấy một số đề tài nghiên cứu về vấn đề bảo vệ người lao động như sau:
Tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh có Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật
khóa 23, trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh của tác giả Phan Ngọc Tú: “Nguyên
tắc bảo vệ người lao động theo pháp luật Việt Nam”; Khóa luận tốt nghiệp cử nhân
luật năm 2007, trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thành
Luân: “Nguyên tắc bảo vệ người lao động trong pháp luật Việt Nam-thực trạng và
hướng hoàn thiện”
Ở thành phố Hà Nội, vào năm 2010, tác giả Lại Thu Hà, Viện khoa học xã
hội đã nghiên cứu đề tài: “Lao động giúp việc ở Hà Nội hiện nay-Một số loại hình
và xu hướng biến đổi” Tác giả Sầm Thu Lan đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp của
nhân luật, trường đại học Luật Hà Nội với đề tài “Địa vị pháp lý của người lao động
giúp việc gia đình theo pháp luật lao động Việt Nam và giải pháp hoàn thiện”, vào
năm 2012 Tuy nhiên các đề tài nêu trên thực hiện nghiên cứu vào thời điểm BLLĐ
2012 chưa được ban hành, vì vậy các đề tài chỉ mới tiếp cận đến vấn đề chung là
Trang 7nguyên tắc bảo vệ người lao động nói chung, các đặc điểm địa vị pháp lý của người lao động giúp việc gia đình trong mối quan hệ lao động giúp việc gia đình theo BLLĐ 1994
Ngoài các khóa luận, đề tài nghiên cứu trên, còn có báo cáo nghiên cứu
“Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam” tại hai đô thị
lớn của Việt Nam là Hà Nội và Hồ Chí Minh do tổ chức ILO và Bộ Lao Thương binh và Xã hội cùng với Viện Gia đình và Giới (thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) tiến hành nghiên cứu trong tháng 3 và 4/2011 Các kết quả của nghiên cứu này chỉ phản ánh các đặc điểm của lao động giúp việc gia đình, các vấn
động-đề xã hội liên quan ở khu vực thành thị và mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động đã được thiết lập ít nhất 6 tháng trở lên
Đến thời điểm hiện nay, khi BLLĐ 2012 có hiệu lực pháp luật, vẫn chưa có bất kỳ một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về đối tượng người lao động giúp việc gia đình và nguyên tắc bảo vệ đối tượng này trong pháp Luật Lao động Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu đối tượng chính là người lao động giúp việc gia đình Phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung vào phân tích các quy định pháp luật lao động
có liên quan đến bảo vệ NLĐGVGĐ Ngoài ra tác giả còn phân tích thực trạng áp dụng các quy định về bảo vệ NLĐGVGĐ để đề xuất các giải pháp hoàn thiện
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Leenin, kết hợp với các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê làm cơ sở nghiên cứu đề tài Ngoài ra trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát để có được số liệu chính xác về thực trạng của nghề lao động giúp việc gia đình tại Hồ Chí Minh
Trang 8
4
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, chỉ ra các nguyên tắc bảo vệ NLĐGVGĐ trong pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện
5.2 Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Qua phân tích các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng về vấn
đề bảo vệ NLĐGVGĐ, tác giả muốn làm rõ những nội dung sau:
a) Nghiên cứu, phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật về bảo vệ NLĐGVGĐ cũng như việc áp dụng các quy định đó trên thực tiễn
b) Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về bảo vệ NLĐGVGĐ, tác giả sẽ đưa ra một số kiện nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ người NLĐGVGĐ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam
Chương II: Thực trạng bạn hành và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam
Chương III: Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của người lao động giúp việc gia đình
Trang 9CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT
NAM
1.1 Lý luận chung về người lao động và người lao động giúp việc gia đình
1.1.1 Khái niệm người lao động
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, sức lao động của con người cũng trở thành một loại “hàng hóa đặc biệt” có thể trao đổi, từ đó phát sinh ra mối quan hệ về
sử dụng sức lao động của người lao động làm công ăn lương theo hợp đồng lao động Người lao động là người tham gia vào mối quan hệ lao động với vai trò là người “bán” sức lao động của mình cho người sử dụng lao động để nhận lại một khoản tiền tương xứng với sức lao động đã bỏ ra Có thể hiểu người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật Họ có cam kết lao động với người sử dụng lao động, thường là nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động trong thời gian làm việc cam kết
Trong khoa học pháp lý, khái niệm về người lao động có thể được hiểu theo hai nghĩa như sau:
Theo nghĩa rộng, người lao động bao gồm cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị hành chính sự nghiệp nhà nước; người lao động làm công ăn lương có giap kết hợp đồng lao động tại các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, các cơ quan, tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam; người lao động làm việc tại các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; người lao động làm việc cho các đơn vị kinh doanh nhỏ, các cá nhân, hộ gia đình; các xã viên làm việc trong hợp tác xã; các lao động cá thể, độc lập, tự tạo việc làm
Theo nghĩa hẹp, người lao động chỉ bao gồm người làm công ăn lương có ký kết hợp đồng lao động làm việc tại các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị kinh doanh nhỏ, làm việc cho cá nhân, hộ gia đình,…Người lao động được hiểu theo nghĩa hẹp không bao gồm cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị hành chính sự nghiệp nhà nước; các xã viên làm việc trong
Trang 106
hợp tác xã; các lao động cá thể, độc lập, tự tạo việc làm
Người lao động được hiểu theo nghĩa hẹp có điểm đặc trưng là họ làm việc dựa trên cơ sở giao kết hợp đồng lao động được gọi cụ thể là người lao động làm công ăn lương, họ là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Lao động Khác với người lao động, cán bộ công chức được bổ nhiệm hoặc thi tuyển, xã viên hợp tác xã thì họ có đơn xin gia nhập và nếu đáp ứng các điều kiện cần thiết sẽ trở thành xã viên Những đối tượng này thuộc giới lao động được gọi trực tiếp là công chức, viên chức nhà nước, xã viên hợp tác xã, lao động tự do Như vậy, tùy từng trường hợp mà thuật ngữ người lao động được sử dụng để chỉ những đối tượng thuộc phạm vi khác nhau
Điều 55 Hiến pháp 1992 đã ghi nhận: “Lao động là quyền, nghĩa vụ của công
dân”, mọi công dân đều có quyền được lao động Tuy nhiên không phải công dân nào
cũng có thể trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động nếu họ không đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật lao động quy định Theo Luật Lao động nước ta hiện nay quy
định tại Khoản 2 Điều 3 BLLĐ 2012 thì “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên,
có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản
lý, điều hành của người sử dụng lao động” Như vậy có thể hiểu rằng, mọi công dân để
trở thành người lao động, tham gia vào quan hệ pháp luật lao động thì họ cần phải thỏa mãn điều kiện về độ tuổi là từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có giao kết với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động
Khả năng lao động của người lao động được biểu hiện bằng năng lực pháp luật
lao động và năng lực hành vi lao động Năng lực pháp luật lao động của cá nhân là
khả năng mà pháp luật quy định cho họ có quyền được làm việc, quyền hưởng lương, được đảm bảo điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động,…và phải thực hiện những nghĩa vụ của người lao động trong quá trình lao động 2 Các quy định này có thể trở thành thực tế hay không lại phụ thuộc vào khả năng của mỗi công dân, chính là năng lực hành vi lao động Năng lực pháp luật lao động được thể hiện thông qua hệ thống các quy
định của pháp luật Năng lực hành vi lao động của cá nhân là khả năng bằng chính hành
vi của mình, trực tiếp tham gia quan hệ pháp luật về sử dụng lao động để hưởng quyền
và gánh vác những nghĩa vụ của người lao động trong quá trình lao động 3 Năng lực
2
Giáo trình Luật Lao động, trường đại học Luật Hồ Chí Minh, NXb Đại học quốc gia Tp HCM, Tr 90
3 Giáo trình Luật Lao động, trường đại học Luật Hồ Chí Minh, NXb Đại học quốc gia Tp HCM, Tr 90
Trang 11hành vi lao động được thể hiện trên hai yếu tố có tính chất điều kiện là thể lực và trí lực Thể lực chính là sức khỏe bình thường của người lao động, trí lực chính là khă năng nhận thức đối với hành vi lao động mà họ thực hiện và với mục đích công việc họ làm
Do đó, muốn có năng lực hành vi lao động, con người phải trải qua thời gian phát triển
về cơ thể (tức là đạt đến độ tuổi nhất định) và có quá trình tích lũy kiến thức (tức là phải được học tập, rèn luyện,…)
1.1.2 Khái niệm người lao động giúp việc gia đình
a) Khái niệm người lao động giúp việc gia đình theo pháp luật quốc tế
Tổ chức lao động quốc tế International Labour Organization, viết tắt là ILO là
một cơ quan của Liên hợp quốc liên quan đến các vấn để về lao động đã thông qua nhiều công ước như Công ước 97 về Việc làm (sửa đổi) năm 1994, Công ước 143 về Lao động
di cư năm 1975, Khuyến nghị 198 về Quan hệ việc làm năm 2006,… Các văn kiện pháp
lý này có đề cập đến thuật ngữ người lao động giúp việc gia đình, tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở những quy định mang tính bao quát, chưa cụ thể Trước nhu cầu ngày càng lớn về sử dụng lao động giúp việc gia đình, nhận thấy giúp việc gia đình là một công việc có nhiều đặc điểm, điều kiện việc làm đặc thù cần có các tiêu chuẩn lao động chung cho người lao động giúp việc gia đình nhằm đảm bảo cho họ được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình như những người lao động khác, ILO đã thông qua một Công ước mới về lao động giúp việc gia đình Ngày 16/6/2011, tại Geneva, Thụy
Sỹ, trong khuôn khổ khoá họp lần thứ 100 của Hội nghị Quốc tế về Việc làm, ILO đã thông qua Công ước 189 về việc làm bền vững cho người lao động giúp việc gia đình Đây là công ước quốc tế đầu tiên về bảo vệ người lao động giúp việc gia đình.Theo Công ước 189, lao động giúp việc gia đình phải được hưởng những quyền cơ bản của người lao động như các lao động khác Những quyền này bao gồm: Thời gian làm việc hợp lý; được nghỉ tối thiểu 24 giờ liên tục trong một tuần; hạn chế trả lương bằng hiện vật; thông tin rõ ràng về điều khoản, điều kiện làm việc, tuân thủ các nguyên tắc và quyền cơ bản ở nơi làm việc, bao gồm quyền tự do thành lập và tham gia các hiệp hội và quyền thương lượng tập thể.4
Theo công ước 189, “Giúp việc gia đình là một công việc Người lao động giúp
4
Trang 12
Điểm c Điều 1 Công ước 189 quy định: Một người chỉ làm công việc gia đình một cách
thỉnh thoảng, không thường xuyên và không mang tính nghề nghiệp thì không được coi
là một người lao động giúp việc gia đình Công ước 189 ra đời đòi hỏi các quốc gia
thành viên phải đưa ra các biện pháp nhằm đảm bảo điều kiện làm việc ổn định và bền vững cho người lao động giúp việc gia đình
b) Khái niệm người lao động giúp việc gia đình theo pháp luật Việt Nam
Trước năm 2012, pháp luật lao động Việt Nam cũng đã có đề cập tới thuật ngữ giúp việc gia đình trong Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007, sau đây xin gọi tắt là BLLĐ 1994) tại Điều 2, Điều 28, Điều 139, Điều 166, tuy nhiên
chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa “lao động giúp việc gia đình” hay
“người lao động giúp việc gia đình” hoặc định nghĩa về “công việc giúp việc gia đình” là
gì Điều này thực sự gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như bảo vệ người lao động
và cả người sử dụng lao động trong nghề giúp việc gia đình
Vào ngày 18/6/2012, Quốc hội đã thông qua BLLĐ 2012 trong đó lần đầu tiên đưa ra định nghĩa chính thức về người lao động giúp việc gia đình tại Điều 179 như sau:
“Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công
việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình
Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho
5 Domestic work is work Domestic workers are, like other workers, entitle to decent work, Convention No 189-
Decent work for domestic workers, Conditions of Work and Employment Programme (TRAVAIL), Social Protection Sector, International Labour Office-http//www.ilo.org/ilolex/English/convdisp1.htm;
6
Article 1: (b) the term domestic workers means any person engaged in domestic work within an employment relationship
Trang 13hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại
Người làm các công việc giúp việc gia đình theo hình thức khoán việc thì không thuộc đối tượng áp dụng của bộ luật này”
Trước hết, theo định nghĩa về người lao động giúp việc gia đình tại BLLĐ 2012,
ta có thể xác định được người lao động giúp việc gia đình là người được thuê để làm các công việc trong gia đình Các công việc trong gia đình bao gồm nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác Người lao động giúp việc gia đình có thể làm một hoặc nhiều công việc kể trên cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận ban đầu Đối chiếu công ước 189 của ILO
đã chỉ rõ, công việc gia đình có nghĩa là những công việc được thực hiện nhằm phục vụ cho sinh hoạt gia đình, hộ gia đình7 Như vậy, pháp luật lao động Việt Nam đã quy định
cụ thể hơn bằng cách liệt kê các công việc giúp việc trong gia đình, những công việc này đều mang tính chất nhẹ nhàng, phục vụ cho đời sống sinh hoạt hằng ngày trong gia đình, không liên quan đến hoạt động kinh doanh
Bên cạnh đó, người lao động giúp việc gia đình phải thực hiện công việc một
cách thường xuyên, mang tính nghề nghiệp ổn định, là công việc nhằm tạo thu nhập chính cho bản thân và gia đình Với những công việc theo hình thức khoán việc cũng không được coi là nghề lao động giúp việc gia đình, vì các công việc khoán chỉ mang tính chất tạm thời, người sử dụng lao động chỉ quan tâm đén kết quả lao động chứ không quan tâm đến quá trình làm việc của người lao động Quy định của pháp luật lao động Việt Nam cũng phù hợp với công ước 189 khi đều yêu cầu người lao động giúp việc gia đình phải làm việc thường xuyên, lâu dài, nếu chỉ làm việc một cách thỉnh thoàng, không
thường xuyên thì không được coi là một người lao động giúp việc gia đình
Mỗi công việc đều có một yêu cầu đặc thù riêng về nghề nghiệp, chính những yêu cầu từ công việc khiến cho người lao động làm ở mỗi ngành nghề có những đặc điểm đặc trưng riêng Người lao động giúp việc gia đình thường có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, phần đông số người lao động giúp việc gia đình là nữ giới Tại Việt
Nam, theo Điều tra quốc gia về Lao động Việc làm năm 2010, tỷ lệ người làm thuê các công việc trong hộ gia đình chiếm 0,4% tổng số lao động đang làm việc và lao động nữ
Trang 14
Thứ ba, người lao động giúp việc gia đình thường có trình độ học vấn thấp Cũng
theo kết quả khảo sát của GFCD, phần lớn trong số phụ nữ làm nghề giúp việc được khảo sát có trình độ học vấn thấp, với 28% số người không biết chữ
Thứ tư, đa số người lao động giúp việc gia đình chưa được qua đào tạo nghề
Những đặc điểm đặc trưng nêu trên của người lao động giúp việc gia đình khiến cho họ thường phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với người lao động làm việc ở các lĩnh vực khác Tác giả sẽ phân tích cụ thể hơn các đặc điểm này để làm rõ sự cần thiết phải bảo vệ người lao động giúp việc gia đình ở mục 1.2 của đề tài
1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ người lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam
Quan hệ lao động là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình lao động Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động chịu ảnh hưởng sâu sắc của các quy luật kinh tế Người lao động có quyền quyết định nơi mình làm việc, làm việc cho
ai, làm công việc gì Người sử dụng lao động cũng có quyền tự do lựa chọn người lao động phù hợp với yêu cầu của mình Trong mối quan hệ lao động giúp việc gia đình, các chủ thể là người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động được tự do thỏa thuận trong giới hạn cho phép của pháp luật, các chủ thể được bình đẳng về địa vị pháp
lý Tuy nhiên, không phải sự bình đẳng về địa vị pháp lý sẽ dẫn đến sự bình đẳng trên thực tế giữa các bên khi tham gia quan hệ lao động Chính vì sự khác biệt về kinh tế đã dẫn đến sự bất bình đẳng trong quan hệ lao động Người sử dụng lao động nắm tiềm lực
về vốn, quyền chọn lựa thuê mướn người lao động nên họ luôn đứng ở vị trí cao hơn Người lao động giúp việc gia đình chỉ có duy nhất trong tay là khả năng lao động để trao đổi nhằm tìm kiếm thu nhập Trong quan hệ lao động, người lao động giúp việc gia đình phải lệ thuộc vào người sử dụng lao động từ mức thu nhập đến điều kiện lao động, môi trường làm việc Bên cạnh đó, họ còn bị phụ thuộc về mặt pháp lý khi phải chịu sự quản
8 Số liệu của Tổng cục thống kê năm 2011
9 Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng (GFCD) phối hợp cùng Tổ chức Heath Bridge Canada tiến hành khảo sát tại hai thành phố lớn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh vào tháng 8 và 9/2012
Trang 15lý, điều hành của người sử dụng lao động, phải chấp hành nội quy do người sử dụng lao động đặt ra, có thể bị áp dụng các chế định xử lý kỷ luật,… Người lao động giúp việc gia đình dễ dàng bị bóc lột sức lao động, chèn ép trong quan hệ lao động và chấp nhận các điều kiện không tương xứng với sức lao động mà họ phải bỏ ra Vì vậy việc bảo vệ người lao động giúp việc gia đình là cấn thiết, xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, người lao động giúp việc gia đình phần lớn là phụ nữ và các bé gái
Theo định nghĩa của BLLĐ 2012, công việc giúp việc gia đình bao gồm nội trợ, chăm sóc trẻ, người già, người bệnh, làm vườn, lái xe Ngoại trừ công việc lái xe thường do nam giới, các công việc còn lại thường phù hợp với phụ nữ hơn Phụ nữ có những đặc điểm về thể chất yếu hơn nam giới nên thường làm những công việc nhẹ nhàng nhưng
có yêu cầu khéo léo cao, cần có sự tỉ mỉ Từ xa xưa, phụ nữ thường gắn liền với công việc nội trợ, chăm lo chồng con, phục vụ các nhu cầu của các thành viên trong gia đình còn nam giới thường làm những công việc mang tính chất tay chân cần sức khỏe, cơ bắp Các công việc “lặt vặt” trong gia đình thực sự tốn rất nhiều thời gian và công sức nhưng đều là những công việc không tên nên rất ít được nhìn nhận, mọi người thường có suy nghĩ rằng đó là công việc đương nhiên của phụ nữ Ngày nay tuy kinh tế phát triển,
xã hội ngày càng văn minh tiến bộ, phụ nữ cũng làm nhiều công việc ngoài xã hội nhưng thiên chức làm vợ, làm mẹ của họ trong gia đình vẫn không thay đổi Phụ nữ vẫn phải làm những công việc không tên trong gia đình sau những giờ lao động vất vả ngoài xã hội, vì vậy họ rất cần có người giúp việc gia đình để hỗ trợ, giảm bớt gánh nặng trong công việc gia đình Hầu hết người lao động giúp việc gia đình là phụ nữ vì đối tượng này khá quen thuộc với công việc trong gia đình, bên cạnh đó họ có các kỹ năng thuộc về thiên chức của phụ nữ khi chăm sóc trẻ em, người già, người ốm đau Phụ nữ thường khéo léo, nhẫn nại và tỉ mỉ hơn so với nam giới, những kỹ năng này thực sự cần thiết với nghề lao động giúp việc gia đình Tuy nhiên, phụ nữ và các bé gái lại là những đối tượng
dễ bị xâm hại, lợi dụng, đặc biệt là bị quấy rối tình dục mà ít có khả năng phản kháng nhất
Thứ hai, người lao động giúp việc gia đình xuất thân chủ yếu ở nông thôn và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn Ở Việt Nam trong những năm qua, cùng với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ đô thị hóa cũng diễn ra vô cùng nhanh chóng
Sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị trên phạm vi cả nước đã dẫn đến sự tập trung với
Trang 16Vì vậy những người chấp nhận làm nghề giúp việc gia đình thường có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, họ chỉ muốn kiếm được một công việc nhanh chóng nhất để kiếm được tiền trang trải cho cuộc sống Người lao động giúp việc gia đình thường phải chấp nhận cuộc sống xa quê hương để lên các vùng đô thị kiếm việc làm, nghề lao động giúp việc gia đình không những mang lại cho họ một công việc có thu nhập mà còn giúp họ có được chỗ ăn, ở, vì vậy phần lớn lao động giúp việc có xuất thân từ nông thôn thường chọn công việc giúp việc gia đình toàn thời gian, ăn ở luôn trong gia đình người sử dụng lao động Họ thường không có hoặc có rất ít người thân, quen ở trên thành phố, cùng với đặc trưng công việc là làm ở trong gia đình người sử dụng lao động nên họ ít có cơ hội tiếp xúc, giao lưu với người ngoài Khi bị xâm hại về quyền lợi, người lao động giúp việc gia đình thường không biết phải nhờ đến sự giúp đỡ của ai trong môi trường sống
xa lạ, vì vậy phần lớn họ chọn cách im lặng
Thứ ba, người lao động giúp việc gia đình thường có trình độ học vấn thấp, họ
không có nhiều hiểu biết về pháp luật cũng như không nhận thức được các quyền lợi của mình khi tham gia quan hệ lao động Người lao động giúp việc gia đình khi tham gia vào quan hệ lao động giúp việc gia đình, họ chỉ biết mình có nghĩa vụ làm tốt công việc để được trả lương, ngoài ra các quyền lợi khác về bảo hiểm xã hội, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm,… thì họ thường không nắm rõ Khi bị xâm phạm đến các quyền lợi hợp pháp của mình, bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, người lao động giúp việc gia đình cũng không biết cách làm thế nào để bảo vệ chính họ Vì vậy, phần lớn các trường hợp người lao động bị bạo hành trong công việc, bị đánh đập, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, khi bị phát hiện ra thì hậu quả không nhỏ, thậm chí có trường hợp gây ra hậu quả chết người
Trang 17Thứ tư, đa số người lao động giúp việc chưa qua đào tạo nghề, họ tham gia vào
quan hệ lao động giúp việc gia đình chủ yếu là dựa vào những hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân.Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, không phải mọi công việc trong gia đình đều đơn giản và chỉ dựa vào kinh nghiệm là có thể làm tốt được Như đã phân tích
ở trên, lao động giúp việc gia đình chủ yếu xuất thân từ nông thôn, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và trình độ học vấn thấp, họ ít có cơ hội tiếp xúc với các thiết bị hiện đại trong gia đình, vì vậy khi làm việc trong gia đình người sử dụng lao động, họ có thể không biết cách sử dụng các thiết bị hiện đại dẫn đến hư hỏng, thậm chí gây nên tai nạn Thiếu kinh nghiệm cũng như các kỹ năng cần thiết trong nghề nghiệp dẫn đến người lao động giúp việc gia đình thường không được đánh giá cao, thu nhập của họ cũng không được cao
Ngoài các lý do trên khiến cho đối tượng người lao động giúp việc gia đình dễ bị xâm hại, bóc lột sức lao động và không được đánh giá cao thì còn có những lý do khác phát sinh từ phía xã hội Nghề lao động giúp việc gia đình tuy đã bắt đầu trở nên phổ biến, được xã hội thừa nhận là một nghề chính thức nhưng có thể thấy rằng vị trí của người lao động giúp việc gia đình luôn thấp hơn so với người sử dụng lao động, thậm chí là phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với người lao động làm việc ở các lĩnh vực khác Nghề lao động giúp việc gia đình vẫn còn bị kỳ thị bởi những suy nghĩ cũ của người sử dụng lao động, họ vẫn mang nhiều định kiến với người lao động giúp việc gia đình, cho rằng người lao động giúp việc gia đình ở tầng lớp dưới, phải phục tùng và chịu sự sai bảo của người sử dụng lao động Bên cạnh đó chính suy nghĩ của một bộ phận người lao động giúp việc gia đình khi cho rằng công việc này chỉ là công việc tạm thời, họ chấp nhận chịu thiệt thòi trước mắt để hy vọng kiếm được một công việc trước mắt, khi có điều kiện họ sẽ tìm đến một công việc khác tốt hơn
Từ sự phân tích ở trên có thể thấy người lao động nói chung và người lao động giúp việc gia đình nói riêng luôn có vị trí yếu thế hơn so với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động Đặc biệt là trong quan hệ lao động giúp việc gia đình, người lao động giúp việc gia đình phải chịu khá nhiều thiệt thòi và rủi ro trong công việc Vì vậy,
để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động giúp việc gia đình, Nhà nước cần xác lập các biện pháp pháp lý hữu hiệu để bảo vệ họ Với số lượng người lao động giúp việc tăng mạnh trong thời gian qua, có thể nói, việc đưa loại hình lao động giúp việc gia đình
Trang 1814
trở thành một nghề chính thức trong xã hội, chịu sự điều chỉnh của pháp luật là cần thiết
để có thể bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho người lao động giúp việc gia đình
1.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình
Có thể nói trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Lao động thì nguyên tắc bảo
vệ người lao động là một nguyên tắc quan trọng nhất Lê-nin đã từng nói: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” 10 Lực lượng người lao động chiếm số lượng lớn trong xã hội và họ chính là những người trực tiếp tạo
ra sản phẩm vật chất cho xã hội, chịu những ảnh hưởng, tác động trực tiếp từ môi trường làm việc đem lại Trong mối quan hệ với người sử dụng lao động, người lao động luôn ở
vị trí yếu thế hơn về mặt kinh tế và xã hội Vì vậy, người lao động nói chung và đặc biệt
là lao động giúp việc gia đình nói riêng luôn cần được pháp luật bảo vệ để họ được hưởng những quyền lợi chính đáng của mình, yên tâm lao động sản xuất để tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Người lao động giúp việc gia đình thường là phụ nữ, trẻ em, những người có trình độ học vấn không cao, những đối tượng này thường rất dễ bị xâm hại, bốc lột sức lao động mà ít có khả năng phản kháng Vì vậy, Nhà nước cần có những chính sách pháp luật để bảo vệ người lao động giúp việc gia đình
1.3.1 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình
Ngày 23-6-1994 Bộ luật Lao động đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1995 Lần đầu tiên lĩnh vực lao động đã được điều chỉnh bằng một văn bản mang tính pháp lý cao là Luật Ngay ở lời nói đầu, BLLĐ 1994 đã xác định nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích và các quyền khác của người lao động Cũng tại BLLĐ 1994, lần đầu tiên đã đề cập đến thuật
ngữ “người giúp việc gia đình” và đưa người giúp việc gia đình vào đối tượng điều
chỉnh của Luật lao động Để đảm bảo cho người lao động giúp việc gia đình được tôn trọng, bảo vệ, tại Khoản 2 Điều 139 BLLĐ 1994 đã quy định nghĩa vụ của người sử
dụng lao động: “Người sử dụng lao động phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người
giúp việc gia đình, có trách nhiệm chăm sóc khi người giúp việc bị ốm đau, tai nạn.”
Qua hơn 15 năm thi hành với 3 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007, BLLĐ 1994 đã cơ bản đi vào thực tiễn cuộc sống, góp phần không nhỏ đến việc bảo vệ
10 V.I.Lê-nin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Mátcơva, 1977
Trang 19quyền lợi của người lao động Tuy người lao động giúp việc gia đình đã sớm được đưa vào điều chỉnh bởi BLLĐ 1994 nhưng các vấn đề quy định về người lao động giúp việc gia đình chỉ nằm rải rác ở một vài điều luật và chưa được quan tâm cụ thể Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu tìm người giúp việc gia đình ngày càng tăng cao, đặc biệt
là ở các hộ gia đình sống ở các đô thị lớn, giúp việc gia đình ngày càng trở nên phổ biến đặt ra yêu cầu cần có những quy định cụ thể hơn điều chỉnh về lĩnh vực này Trước yêu cầu mới của đất nước, BLLĐ 2012 đã được ban hành bổ sung kịp thời những thiếu sót hạn chế của BLLĐ 1994 trong đó có lĩnh vực lao động giúp việc gia đình BLLĐ 2012
đã dành riêng Mục 5 trong Chương XI gồm có 5 điều để điều chỉnh về đối tượng người lao động giúp việc gia đình Như vậy, người lao động giúp việc gia đình đã chính thức trở thành một đối tượng lao động đặc thù được điều chỉnh trong pháp luật Lao động Việt Nam, họ hoàn toàn được bình đẳng với những người lao động làm việc trong các lĩnh vực khác, được hưởng các quyền cơ bản của người lao động
1.3.2 Nội dung của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình
Trong pháp luật lao động, nguyên tắc bảo vệ NLĐGVGĐ được thể hiện ở nhiều vấn đề như việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, danh dự, nhân phẩm,… được biểu hiện cụ thể qua các nhóm chế định sau:
+ Việc làm
Theo Điều 25 Hiến pháp 1992 nêu rõ Nhà nước có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động Trong nền kinh tế thị trường, người lao động có quyền làm việc ở bất kỳ đâu, cho bất kỳ người sử dụng lao động nào mà pháp luật không cấm, người sử dụng lao động cũng có quyền thuê bất kỳ người lao động nào, vì vậy trách nhiệm tạo ra việc làm không phải chỉ thuộc về Nhà nước mà còn thuộc về chính bản thân người lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội Trong BLLĐ cũng đã quy
định tại Khoản 2 Điều 9: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm
tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”
Đối với người lao động là giúp việc gia đình, họ cũng có nhưng quyền cơ bản của người lao động, được tự do lựa chọn nơi làm việc, người sử dụng lao động phù hợp với mình Người lao động giúp việc gia đình được quyền tự do ý chí xác lập quan hệ lao động cũng như được quyền chấm dứt quan hệ lao động bất kỳ khi nào nhưng phải báo
Trang 2016
trước 15 ngày Nhà nước đảm bảo cho người lao động giúp việc gia đình quyền được tự chủ trong quan hệ lao động, không bị bất kỳ ai ép buộc trong quan hệ lao động giúp việc gia đình Người lao động giúp việc gia đình thường quan tâm nhất là vấn đề tiền lương,
do vậy khi một công việc tại một hộ gia đình không đáp ứng đủ nhu cầu về thu nhập thì người giúp việc gia đình muốn làm thêm ở những nơi khác Ngược lại, người sử dụng lao động thường chỉ muốn người giúp việc gia đình chỉ làm việc tại gia đình mình, tập trung lao động để đạt được hiệu quả công việc cao nhất nhưng cũng không muốn trả tiền lương quá cao Khi giao kết hợp đồng lao động, người sử dụng lao động thường dùng sức ép để yêu cầu người giúp việc gia đình không giao kết thêm hợp đồng với bên thứ
ba Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do quyết định công việc, nơi làm việc của người lao động giúp việc gia đình, bên cạnh đó người giúp việc gia đình sẽ không có cơ hội kiếm thêm thu nhập Pháp luật đã có quy định để đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong vấn đề này bằng cách nêu rõ người lao động nói chung và người lao động giúp việc gia đình nói riêng đều có quyền được giao kết một hoặc nhiều hợp đồng lao động với một hoặc nhiều người sử dụng lao động11 Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng người sử dụng lao động dùng sức mạnh kinh tế ép buộc người lao động giúp việc gia đình chỉ giao kết một hợp đồng với họ
+ Tiền lương
Khi tham gia một quan hệ lao động, mục đích mà người lao động hướng đến là tiền lương nhằm đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống Tiền lương phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên khi giao kết hợp đồng nhưng nếu chỉ dựa vào thỏa thuận thì người lao động rất dễ chịu thiệt thòi bởi trong quan hệ lao động họ luôn ở vị trí yếu thế hơn, dễ dàng chấp nhận mức lương thấp để có được công việc Nhà nước phải can thiệp bằng các chính sách pháp luật để có thể bảo vệ người lao động, đảm bảo cho họ nhận
được một mức lương tối thiểu để trang trải chi phí cho cuộc sống Có thể hiểu tiền lương
là số tiền mà NSDLĐ phải trả cho một công việc mà người lao động phải thực hiện cho NSDLĐ, theo sự thỏa thuận của các bên và trên cơ sở các quy định của pháp luật lao động 12 Như vậy, ngoài sự thỏa thuận của hai bên trong quan hệ lao động, tiền lương còn được Nhà nước khống chế bằng cách đưa ra mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng Mức lương tối thiểu được xem là ngưỡng cuối cùng để xác định các mức
Trang 21tiền lương khác, được xác định dựa trên giá sinh hoạt, phù hợp với mức sống xã hội trong từng thời kỳ, từng vùng Dựa vào các quy định của pháp luật, người lao động và người sử dụng lao động sẽ thỏa thuận tiền lương nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng
Đối với người lao động làm ở các lĩnh vực ngành nghề khác thì ngoài tiền lương,
họ còn có các khoản trợ cấp, các gói phúc lợi của công ty còn người giúp việc gia đình thì khoản thu nhập chính và có thể coi là duy nhất của họ chỉ là tiền lương Tiền lương của người giúp việc gia đình là do sự thỏa thuận giữa họ và người sử dụng lao động, trong phạm vi gia đình nên họ rất dễ bị bốc lột sức lao động và không được trả lương xứng đáng với sức lao động đã bỏ ra Trước khi BLLĐ 2012 ra đời, vấn đề về tiền lương của người giúp việc gia đình được điều chỉnh theo các quy định chung của pháp luật dành cho người lao động, tuy nhiên vì đa số người giúp việc gia đình khi làm việc không
có hợp đồng lao động, vì vậy vấn đề quản lý tiền lương dành cho người giúp việc gia đình còn gặp nhiều khó khăn BLLĐ 2012 ra đời lần đầu tiên khẳng định rõ người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình, đưa các vấn đề đã thỏa thuận về tiền lương, thời hạn trả lương, hình thức trả lương ngay trong hợp đồng lao động Điều này nhằm giúp Nhà nước có thể dễ dàng quản lý vấn đề tiền lương của người giúp việc gia đình thông qua hợp đồng lao động, từ đó đảm bảo cho họ có thể hưởng được mức lương xứng đáng với công sức của họ bỏ ra và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng Những quy định mới của pháp luật cho thấy Nhà nước đã quan tâm đến đối tượng người giúp việc gia đình, thông qua quy định bắt buộc phải thỏa thuận tiền lương, người giúp việc gia đình có quyền thỏa thuận mức lương phù hợp và phải được ghi vào hợp đồng Quy định này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho người giúp việc gia đình, họ sẽ được đảm bảo trả đúng mức tiền lương và thời hạn như
đã thỏa thuận ban đầu
+ Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Lao động là một loại hàng hóa đặc biệt gắn liền với người lao động, khi sức khỏe của người lao động được đảm bảo tốt thì mới có thể làm việc hiệu quả và năng suất cao Nhà nước luôn quan tâm đến các chế định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cho người lao động để đảm bảo cho người lao động luôn có sức khỏe tốt nhất, đảm bảo thời gian tối thiểu để nghỉ ngơi tái tạo sức lao động Tại Điều 56 Hiến pháp 1992 đã chỉ rõ
Trang 2218
Nhà nước phải quy định rõ về thời gian lao động, chế độ nghỉ ngơi, đây là cơ sở pháp lý vững chắc để ban hành các quy định pháp luật có liên quan đến chế độ làm việc, nghỉ ngơi cho người lao động một cách hợp lý nhất Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do các bên trong quan hệ lao động thỏa thuận nhưng vẫn dựa trên các quy định của pháp luật Nhà nước phải can thiệp vào sự tự do thỏa thuận của các bên bằng cách quy định khống chế thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Việc khống chế bằng các quy định pháp luật của Nhà nước nhằm đảm bảo cho người lao động làm việc trong một thời gian tối đa
mà sức khỏe cho phép và được nghỉ ngơi tối thiểu thời gian để có thể tái tạo lại sức lao động
Nghề giúp việc gia đình là một công việc khá đặc thù vì thời gian làm việc của người giúp việc gia đình là làm tại gia đình người sử dụng lao động Nếu như với những người giúp việc theo giờ có thể thỏa thuận cụ thể thời gian làm việc trong một ngày thì việc thỏa thuận thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người giúp việc gia đình làm toàn thời gian rất khó Công việc của người giúp việc gia đình làm toàn thời gian là họ làm việc và ăn ở luôn tại nhà người sử dụng lao động, các công việc trong gia đình thường không cụ thể mà là các công việc “lặt vặt” nên rất khó để xác định được thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Vì vậy mà BLLĐ 2012 đã quy định riêng về người giúp việc gia đình là họ sẽ thỏa thuận về thời giờ làm việc hằng ngày và ghi rõ vào hợp đồng lao động Điều này đảm bảo cho người giúp việc gia đình có thể xác định rõ thời giờ làm việc của mình để có thể sắp xếp phù hợp, dành thời gian nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động
+ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Ông bà ta thường nói “Sức khoẻ là vàng” để nhấn mạnh vai trò quan trọng của sức khỏe đối với con người Khi khoẻ mạnh thì con người có thể lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và gia đình Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào người lao động cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng lao động, công tác để tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc Trong cuộc sống cũng sẽ có những lúc con người gặp phải những rủi ro bất hạnh như: ốm đau, tai nạn hay già yếu do ảnh hưởng của tự nhiên, của điều kiện sống và làm việc cũng như các nhân tố
xã hội khác Bởi vậy, muốn tồn tại người lao động phải tìm ra nhiều cách giải quyết để khắc phục những rủi ro bất hạnh, giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình Tuy nhiên
Trang 23chỉ đến khi có sự ra đời của Bảo hiểm xã hội (BHXH), thì những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất Vì vậy BHXH, đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người Trong bản tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội
đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10/12/1948 đã nêu: “Tất cả mọi người với tư
cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH Quyền đó đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cần cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người” Người lao động với vai trò là thành viên của xã hội, cũng có quyền
được hưởng BHXH BHXH là một chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và pháp luật hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Hiến pháp 1992 cũng đã nêu rõ tại Điều 56
“Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ
bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động” Tiếp theo
tinh thần của Hiến pháp, năm 2006 Luật Bảo hiểm xã hội và năm 2008 Luật Bảo hiểm y
tế ra đời đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Trước khi ban hành Bộ luật Lao động 2012 người lao động giúp việc gia đình được hưởng những quyền lợi chung như người lao động, kể cả vấn đề về bảo hiểm xã hội Tuy nhiên trên thực tế vấn đề tham gia BHXH, BHYT của người lao động giúp việc gia đình ít được quan tâm thực hiện bởi không có cơ chế pháp lý rõ ràng quy định về vấn
đề tham gia BHXH, BHYT cho đối tượng này BLLĐ 1994 cho phép quan hệ lao động giúp việc gia đình được giao kết bằng hợp đồng miệng, điều này gây trở ngại cho người lao động giúp việc gia đình vì họ không thể tham gia BHXH, BHYT bắt buộc khi không
có hợp đồng lao động bằng văn bản Bộ luật Lao động 2012 ban hành, lần đầu tiên đã quy định cụ thể hơn về vấn đề tham gia BHXH cho người lao động giúp việc gia đình Theo đó, người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ trả cho người lao động giúp việc gia đình khoản tiền BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật để người lao động tự lo bảo hiểm Như vậy pháp luật đã quy định rõ trách nhiệm gánh vác một phần chi phí BHXH, BHYT sẽ do người sử dụng lao động đảm nhiệm, người lao động giúp việc gia đình sẽ được nhận các chi phí để tự mình tham gia bảo hiểm phù hợp Để người lao động giúp
Trang 2420
việc gia đình tham gia BHXH, BHYT dễ dàng hơn, pháp luật cũng quy định hình thức hợp đồng lao động giúp việc gia đình phải bằng văn bản Khi có hợp đồng lao động bằng văn bản, cơ quan BHYT, BHXH sẽ dễ dàng giải quyết vấn đề thủ tục cho người lao động giúp việc gia đình được tham gia BHXH, BHYT bắt buộc Giải quyết tốt vấn đề BHXH cho người lao động giúp việc gia đình sẽ góp phần làm hạn chế và điều hoà các mâu thuẫn giữa người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động, tạo môi trường làm việc ổn định, đảm bảo cho hoạt động lao động sản xuất, công tác với hiệu quả cao, từ đó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước
+ Tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động
Mỗi người sống trong xã hội đều có những quyền cơ bản, một trong số đó là
quyền nhân thân hay chính là “nhân quyền” Theo Hiến pháp năm 1992, quyền được bảo
vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong những quyền cơ bản của công dân, là quyền
hiến định Tại Điều 71 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” Điều 24 Bộ luật
Dân sự cũng quy định: “Quyền nhân thân là quyền dân sự, gắn liền với mỗi cá nhân,
không thể chuyển giao cho người khác”, Điều 37 BLDS tiếp tục khẳng định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng là một quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ” Có thể nói khi
xã hội ngày càng văn minh tiến bộ thì quyền nhân thân càng được tôn trọng và bảo vệ Người lao động giúp việc gia đình cũng là một đối tượng cần được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm bởi họ cũng chính là người lao động, kiếm sống dựa vào sức lao động chính đáng của mình Những người lao động giúp việc gia đình thường là phụ nữ, bé gái, người có trình độ học vấn thấp, họ là những đối tượng rất dễ bị xâm hại và ít có khả năng chống cự Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù của công việc là giúp việc trong gia đình nên không gian làm việc của họ bị hạn chế, làm việc ngay trong gia đình người sử dụng lao động, họ có thể dễ dàng bị xâm hại đến các quyền nhân thân mà rất khó để phát
hiện, ngăn chặn kịp thời
Trong mối quan hệ lao động, người lao động thường bị lệ thuộc vào người sử dụng lao động, họ làm việc cho người sử dụng lao động, bán sức lao động để kiếm tiền, phải chịu sự quản lý giám sát của người sử dụng lao động Người lao động có thể bị ngưởi sử dụng lao động xúc phạm đến danh dự, uy tín và đặc biệt là nhân phẩm Người lao động khi làm việc trong các môi trường công sở, cơ quan thì họ thường có đồng
Trang 25nghiệp, tổ chức công đoàn đứng ra bảo vệ Đối với người lao động giúp việc gia đình thì lại khác, họ làm việc trong gia đình người sử dụng lao động, họ trở thành đối tượng rất
dễ bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, trong đó đặc biệt là bị quấy rối tình dục Khi làm việc không vừa lòng người sử dụng lao động, người lao động giúp việc gia đình thường bị mắng chửi, xúc phạm đến danh dự Phần lớn người lao động giúp việc gia đình im lặng khi bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín vì họ thường có suy nghĩ khi đã chấp nhận nghề giúp việc thì phải chấp nhận thân phận thấp kém và nhẫn nhịn chịu sự làm nhục Để ngăn chặn tình trạng người giúp việc bị xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, Nhà nước đã chủ trương đưa cụ thể quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động giúp việc gia đình là phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người giúp việc gia đình Đây là một quy định mới cụ thể nhắm đến đối tượng bảo vệ là người giúp việc gia đình, đảm bảo cho họ được hưởng các quyền nhân thân, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới hướng đến mục tiêu vì con người
+Tạo cơ hội cho người lao động giúp việc gia đình tham gia học văn hóa, học nghề
Muốn có được một công việc tốt thì người lao động cần phải có kiến thức nhất định trong một ngành nghề lĩnh vực nào đó Vấn đề học văn hóa và học nghề là rất cần thiết đối với người lao động, giúp họ có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm công việc phù hợp với mình Với quan điểm để cao quyền con người, bảo vệ người lao động, Đảng
và Nhà nước ta luôn có những chính sách thể hiện sự quan tâm đối với người lao động,
trong lĩnh vực học nghề cũng được cụ thể bằng việc ghi nhận: “Người lao động được
lựa chọn nghề, học nghề tại nơi làm việc phù hợp với nhu cầu việc làm của mình”
(Khoản 1 Điều 59 BLLĐ) Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo quyền tự do lựa chọn nghề để học, giúp người học nghề có thể phát huy tối đa khả năng của bản thân Nếu người lao động được đào tạo học nghề bài bản thì sẽ tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội, đặc biệt là trong thời đại nền kinh tế tri thức đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng nhiều Đối với nghề lao động giúp việc gia đình, công việc chính của người lao động giúp việc gia đình là nội trợ, chăm sóc trẻ, chăm sóc người gia, người bệnh Tuy là những công việc trong gia đình nhưng không phải ai cũng có thể đảm bảo thực hiện công việc được tốt Người lao động giúp việc gia đình cũng cần được đào tạo một cách bài bản về các kỹ năng chăm sóc trẻ, chăm sóc người già, chăm sóc
Trang 2622
người bệnh sao cho khoa học và đúng cách Công việc nội trợ cũng cần được đào tạo các
kỹ năng cơ bản về ẩm thực, dinh dưỡng trong gia đình Người lao động giúp việc gia đình cần được hướng dẫn cách sử dụng các thiết bị trong gia đình an toàn, hiệu quả Bên cạnh đó, người lao động giúp việc gia đình còn có thể học cách ứng xử, giao tiếp trong gia đình người sử dụng lao động, các cách phòng vệ khi bị xâm hại,… Khi nắm được các kỹ năng làm việc trong gia đình, người lao động giúp việc gia đình có cơ hội tìm được việc làm có thu nhập cao, đưa nghề giúp việc trở thành một nghề chính thức, nghiêm túc được đào tạo bài bản và thay đổi suy nghĩ của xã hội về nghề giúp việc gia đình không còn là một nghề tạm thời mà là một công việc ổn định lâu dài Người lao động giúp việc gia đình thường xuất thân từ những đối tượng là trẻ em, phụ nữ có trình
độ học vấn thấp, họ tìm đến công việc giúp việc gia đình vì công việc này không đòi hỏi trình độ cao mà chỉ là công việc “tay chân” Khi làm nghề giúp việc gia đình, người giúp việc ít có thời gian và điều kiện để học thêm về văn hóa
Trước thực trạng về nhu cầu học văn hóa, học nghề cho người lao động giúp việc gia đình, BLLĐ 2012 đã đưa ra quy định mới về nghĩa vụ của người sử dụng lao động là tạo cơ hội cho người giúp việc gia đình được tham gia học văn hóa, học nghề Đây là một quy định mới đem lại cho người lao động giúp việc gia đình nhiều cơ hội hơn để học thêm về văn hóa, học nghề để nâng cao tính chuyên nghiệp, khả năng làm việc, đưa nghề giúp việc gia đình trở thành một nghề chính thức được xã hội tôn trọng và thừa nhận
1.3.3 Ý nghĩa của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người lao động giúp việc gia đình
Việc xác lập nguyên tắc bảo vệ người lao động và coi đó là nguyên tắc cơ bản chủ đạo, xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật lao động đã thể hiện
rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong chiến lược “vì con người, phát huy nhân tố con người, trước hết là người lao động” hướng tới xây dựng một nhà nước “của dân, do dân và vì dân” Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cho người lao động giúp việc có ý nghĩa to lớn trong công cuộc nâng cao nhận thức của xã hội về nghề giúp việc gia đình, bảo đảm
quyền lợi cho người giúp việc gia đình được tốt nhất
+ Dưới góc độ kinh tế: Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người
cũng phát triển ngày càng đa dạng hơn, nhiều hình thức hơn Nhu cầu của con người không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng đầy đủ vật chất như ăn no, mặc đủ mà còn muốn được
Trang 27hưởng thụ nhiều hơn về tinh thần Xã hội phân chia nhiều ngành nghề với nhiều vai trò khác nhau tạo nên một móc xích mối quan hệ trong xã hội Người lao động làm việc để tìm kiếm thu nhập nhằm đáp ứng các nhu cầu khác của mình như mua sản phẩm của người lao động khác, hưởng thụ những giá trị tinh thần mà người khác làm ra và còn có thể thuê lại lao động khác để phục vụ cho mình Nghề giúp việc gia đình ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của những cá nhân, hộ gia đình cần có người giúp đỡ gánh vác công việc trong gia đình để họ có nhiều thời gian hơn làm những công việc khác ngoài xã hội hoặc hưởng thụ cuộc sống Người lao động giúp việc gia đình làm các công việc trong gia đình mà người sử dụng lao động yêu cầu nhằm tìm kiếm khoản tiền lương được trả xứng đáng với công sức bỏ ra Khi người lao động giúp việc được bảo hộ về mặt pháp
lý, được xã hội quan tâm coi trọng thì họ mới có thể yên tâm lao động để tạo ra kết quả công việc cao nhất Người lao động giúp việc gia đình đóng vai trò trợ giúp đắc lực đối với gia đình người sử dụng lao động Họ chăm sóc trẻ, người già và người ốm đau, lo công việc nội trợ trong gia đình giúp người sử dụng lao động tiết kiệm được nhiều thời gian, bên cạnh đó tạo cho người sử dụng lao động nhiều cơ hội được giải trí Khi công việc trong gia đình được thu xếp hợp lý, người sử dụng lao động giúp việc gia đình có thể yên tâm để thực hiện tốt các công việc khác của mình ngoài xã hội, tạo ra nhiều của cải vật chất hơn cho nền kinh tế
+ Dưới góc độ xã hội: Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và đề cao quyền con
người, với mục tiêu xây dựng một nhà nước dân chủ của dân, do dân và vì dân Hệ thống pháp luật của nước ta luôn coi trọng quyền con người, đảm bảo tính dân chủ và nhân đạo Trong pháp luật Lao động, nguyên tắc bảo vệ người lao động được coi là chủ đạo
và xuyên suốt, tạo hành lang pháp lý vững chắc, là chỗ dựa cho người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động mà họ luôn đứng ở vị trí yếu thế Người lao động giúp việc gia đình cũng là một đối tượng được Nhà nước quan tâm bảo vệ khi họ tham gia vào quan
hệ lao động giúp việc gia đình Với những quy định mới của BLLĐ 2012 về lao động giúp việc gia đình, pháp luật đã điều chỉnh cụ thể hơn đến đối tượng người lao động giúp việc gia đình, tạo cho người lao động giúp việc gia đình nhiều cơ hội được binh đẳng với người sử dụng lao động Bên cạnh đó, việc thừa nhận lao động giúp việc gia đình là một nghề chính thức khiến cho xã hội có cái nhìn đúng đắn hơn về nghề lao động giúp việc gia đình, tôn trọng người lao động giúp việc gia đình như những người lao động chân
Trang 2824
chính khác Khi người lao động giúp việc gia đình được hưởng những quyền lợi chính đáng, được yên tâm lao động thì họ sẽ có nhiệt huyết sẵn sàng cống hiến, mang lại hiểu quả công việc cao Mối quan hệ giữa người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động trở nên hài hòa, ổn định thì đôi bên cùng có lợi, góp phần quan trọng để
ổn định xã hội Nguyên tắc bảo vệ người lao động giúp việc gia đình là cơ sở giúp Nhà nước điều tiết các quan hệ lao động diễn ra ổn định, lâu dài theo hướng có lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động, hạn chế xảy ra tranh chấp, duy trì trật tự xã hội Các quy định mới của pháp luật điều chỉnh về quan hệ lao động giúp việc gia đình, tăng cường cơ sở pháp lý để bảo vệ người lao động giúp việc gia đình đã thể hiện rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước, luôn quan tâm sâu rộng đến mọi tầng lớp người lao động, không phân biệt ngành nghề, nhằm mục tiêu xây dựng một nhà nước dân chủ, tiến bộ, lấy con người làm trung tâm, phát huy nhân tố con người, trước hết là người lao động
Trang 29CHƯƠNG II THỰC TRẠNG BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM
Bộ luật lao động 2012 được thông qua vào ngày 18 tháng 6 năm 2012 và bắt đầu
có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2013 BLLĐ 2012 lần đầu tiên công nhận giúp việc gia đình là một nghề và dành 5 điều khoản cụ thể điều chỉnh loại hình lao động này Mặc dù đến thời điểm này BLLĐ đã có hiệu lực nhưng những quy định mới của BLLĐ
về quan hệ lao động giúp việc gia đình vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống Theo số liệu
mà tác giả đã thực hiện khảo sát ở những người lao động giúp việc gia đình tại thành phố
Hồ Chí Minh thì có đến 90,6 % người lao động giúp việc gia đình không biết đến những quy định mới của BLLĐ về bảo vệ quyền lợi cho người lao động giúp việc gia đình Các quy định mới của pháp luật lao động về người lao động giúp việc gia đình đã kịp thời điều chỉnh mối quan hệ lao động giúp việc gia đình ngày càng phổ biến trong xã hội Qua các quy định đó, Nhà nước đã thể hiện rõ sự quan tâm đến đối tượng người lao động giúp việc gia đình Những quy định mới của pháp luật điều chỉnh cụ thể hơn về quan hệ lao động giúp việc gia đình đã mở ra một tương lai tươi sáng hơn cho nghề lao động giúp việc gia đình, đưa nghề giúp việc gia đình trở thành một nghề chính thức trong xã hội, người lao động giúp việc gia đình cũng được tôn trọng, hưởng nhiều quyền lợi chính đáng như những người lao động khác
2.1 Thực trạng ban hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người lao động giúp việc gia đình theo pháp luật Lao động Việt Nam
2.1.1 Các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động
+ Về nội dung của hợp đồng lao động
Theo pháp luật lao động Việt Nam, khi giao kết hợp đồng lao động, các bên phải đáp ứng yêu cầu về nội dung hợp đồng theo quy định của pháp luật Khoản 1 Điều 23 BLLĐ 2012 quy định về những nội dung chủ yếu phải có trong hợp đồng lao động bao gồm:
a) Tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp; b) Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động;
Trang 3026
c) Công việc và địa điểm làm việc;
d) Thời hạn của hợp đồng lao động;
đ) Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;
e) Chế độ nâng bậc, nâng lương;
g) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
h) Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;
i) Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế;
k) Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề
Việc liệt kê các nội dung cần có trong hợp đồng lao động giúp cho các bên khi tham gia vào quan hệ lao động có căn cứ để thỏa thuận, giảm thiểu khả năng tranh chấp xảy ra cũng như đảm bảo sự bình đẳng của người lao động trước người sử dụng lao động Đây là những quy định chung về nội dung hợp đồng trong quan hệ lao động, tuy nhiên đối với quan hệ lao động giúp việc gia đình, pháp luật đã quy định cụ thể nội dung
của hợp đồng lao động tại Khoản 3 Điều 180 BLLĐ 2012: “Hai bên thỏa thuận, ghi rõ
trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở.”
Thứ nhất, vấn đề tiền lương, theo quy định mới của pháp luật thì tiền lương thỏa
thuận trong hợp đồng lao động giúp việc gia đình cũng phải tuân thủ các nguyên tắc chung quy định tại BLLĐ là mức lương tối thiểu vùng Theo NĐ 103/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc tại doanh nghiệp HTX, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và cơ quan tổ chức có thuê mướn người lao động, mức lương tối thiểu vùng của NLĐ sẽ tăng từ 250.000 – 350.000đ/tháng so với quy định tại NĐ 70/2011/NĐ-CP trước đây13, và được áp dụng từ 1.1.2013 Nghị định cũng nêu rõ, người lao động và người sử dụng lao động khi thỏa thuận tiền lương phải đảm bảo mức tiền lương không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.14 Bên cạnh đó, pháp luật bắt buộc các bên khi tham gia quan hệ lao động giúp việc gia đình phải ghi rõ trong hợp đồng hình thức và kỳ hạn trả lương nhằm bảo vệ cho người giúp việc gia đình được nhận tiền lương đúng hạn, mức lương phù hợp với sức lao động bỏ ra, ít nhất là phải bằng tiền lương tối thiểu vùng mà nhà nước quy định
13 Điều 3 NĐ 103/2012/NĐ-CP
14
Khoản 1 Điều 4 NĐ 103/2012/NĐ-CP
Trang 31Thứ hai, vấn về đề chỗ ở của người lao động giúp việc gia đình cũng được thỏa
thuận trong nội dung của hợp đồng lao động Để người lao động có thể làm việc với năng suất hiệu quả nhất thì vấn đề chỗ ăn, ở của người lao động rất cần được quan tâm Sau thời gian làm việc, người lao động cần được ăn uống đảm bảo vệ sinh, dinh dưỡng
để có thể có sức khỏe tiếp tục làm việc Đối với người lao động giúp việc gia đình, đa số
họ làm việc và sống luôn ở trong gia đình người sử dụng lao động, ngoài thời gian làm việc, họ cần được bố trí không gian nghỉ ngơi hợp lý, đáp ứng được những nhu cầu cá nhân Ngoài những giờ lao động vất vả thì người lao động giúp việc gia đình cũng rất cần có không gian riêng để nghỉ ngơi, làm những công việc riêng của mình Chính vì hiểu được những nhu cầu thực sự của người lao động giúp việc gia đình trong một môi trường đặc biệt, pháp luật đã quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động là phải bố trí chỗ ăn, ở đảm bảo vệ sinh cho người lao động giúp việc gia đình Tại Khoản 3 Điều
180 BLLĐ cũng đã nêu rõ vấn đề thỏa thuận về chỗ ở phải được ghi rõ trong hợp đồng lao động Khoản 4 Điều 181 quy định thêm về nghĩa vụ của người sử dụng lao động:
“Bố trí chỗ ăn, ở sạch sẽ, hợp vệ sinh cho người giúp việc gia đình, nếu có thỏa thuận”
Thứ ba, vấn đề về thời giờ làm việc hằng ngày cũng là một vấn đề quan trọng
trong hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động và người lao động giúp việc gia đình phải thỏa thuận rõ Hiện nay công việc giúp việc gia đình có hai hình thức là giúp việc theo giờ và giúp việc toàn thời gian, vì vậy khi thỏa thỏa thuận tham gia quan hệ lao động giúp việc gia đình, hai bên cần phải thỏa thuận rõ về thời gian làm việc để người lao động giúp việc gia đình có thề nắm rõ thời gian làm việc của mình, chủ động trong công việc và hạn chế trường hợp bị người lao động bốc lột sức lao động Theo Khoản 2 Điều 180 BLLĐ 2012, pháp luật cho phép hai bên trong quan hệ lao động giúp việc gia đình được thỏa thuận theo ý chí của các bên sao cho phù hợp với khả năng của người lao động và yêu cầu của người sử dụng lao động, tuy nhiên, thời gian làm việc vẫn phải đảm
bảo trong giới hạn mà pháp luật đã quy định tại Điều 104 BLLĐ 2012 : “Thời giờ làm
việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần”.
Thứ tƣ, về thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc
gia đình do hai bên thỏa thuận và phải được ghi rõ trong hợp đồng lao động, điều này đảm bảo cho người lao động giúp việc gia đình có được một công việc ổn định trong thời gian đã được thỏa thuận, được chủ động trong thời gian làm việc Pháp luật cũng