Tuy nhiên, trong khả năng và giới hạn về các nguồn lực và thời gian, chúng tôi lựa chọn đối tượng và giới hạn phạm vi của đề tài như sau: - Nghiên cứu các nội dung cơ bản trong nhóm quyề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Chủ nhiệm: TS Nguyễn Văn Vân Khoa Luật thương mại- Đại học Luật TP.HCM
TP HỒ CHÍ MINH, 12-2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Nguyễn Văn Vân
TP HỒ CHÍ MINH, 12-2011
Trang 3Lời cám ơn
Tác giả chân thành cám ơn ThS Phan Phương Nam và ThS Trần Minh Hiệp, giảng viên bộ môn luật tài chính- ngân hàng, khoa Luật thương mại, Đại học Luật Tp HCM là những người nhiệt tình trợ giúp tác giả hoàn thành đề tài này.
Xin cám ơn Bà Doãn Thu Thủy, Phó phòng Kiểm tra 2, Cục Thuế Tp HCM đã hỗ trợ tác giả thu thập số liệu, thông tin.
Xin cám ơn Trung tâm nghiên cứu pháp luật quyền con người, quyền công dân- Đại học Luật Tp HCM đã tài trợ kinh phí nghiên cứu đề tài này!
Chủ nhiệm đề tài
TS Nguyễn Văn Vân
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 SỰ CẦN THIẾT VÀ GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG 3
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 3
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC BƯỚC THỰC HIỆN 4
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
5 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ ĐỊA CHỈ ỨNG DỤNG 7
CHƯƠNG 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ NHẬN DIỆN VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG PHÁP LUẬT THUẾ 9
1.1 Khái quát quyền con người và quyền công dân trong pháp luật thuế 9
1.1.1 Nhận diện một số khái niệm liên quan 9
1.1.2 Nhận diện quyền con người, quyền công dân trong pháp luật thuế 12
1.2.3 Thuế và quan hệ giữa công dân và nhà nước dưới góc độ pháp luật thuế 15
1.2 Nguyên tắc thiết lập và đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực thuế .19
1.2.1 Nguyên tắc dung hòa lợi ích kinh tế giữa nhà nước và công dân trong pháp luật thuế .19
1.2.2 Nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong thực thi nghĩa vụ thuế 23
1.2.3 Nghiêm cấm gia tăng gánh nặng thuế của công dân qua việc ban hành, đặt ra các khoản thu trái luật 28
1.3 Nội dung quyền của người nộp thuế trong pháp luật các nước và Việt Nam 30
1.3.1 Quyền của người nộp thuế tại các quốc gia hệ thống dân luật (civil law): 31
1.3.2 Quyền của người nộp thuế tại các quốc gia hệ thống thông luật (common law): 32
1.3.3 Cộng Hòa Liên Bang Nga .40
1.3.4 Pháp luật Việt Nam: 41
CHƯƠNG 2 .43
THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ 43
2.1 Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin và các phương tiện trợ giúp để kê khai, nộp thuế 43
2.1.1 Cơ sở hình thành quyền tiếp cận thông tin và các phương tiện để kê khai, nộp thuế43 2.1.2 Nội dung quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực thuế 44
2.1.3 Các biện pháp đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin và thực tiễn áp dụng 45
2.2 Tôn trọng và bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp công dân trong khấu trừ, hoàn thuế 51 2.2.1 Khái quát quyền được hoàn thuế của người nộp thuế 51
2.2.2 Những bất cập và hướng khắc phục trong các qui định pháp luật về hoàn thuế, khấu trừ thuế GTGT 53
Trang 52.2.3 Những bất cập và hướng khắc phục trong các qui định pháp luật về hoàn thuế thu
nhập cá nhân 55
2.3 Bảo đảm chống đánh thuế trùng (đánh thuế hai lần) đối với các khoản thu nhập cá nhân 57
2.3.1 Trường hợp trùng thuế do sự khác biệt về pháp luật thuế giữa các quốc gia 58
2.3.2 Trường hợp trùng thuế do quy định của pháp luật trong nước .59
2.4 Đảm bảo quyền kinh tế, xã hội của con người khi xác định các khoản thu nhập không chịu thuế, miễn giảm và chiết trừ gia cảnh 62
2.5 Cơ chế đảm bảo quyền khiếu nại, khởi kiện cán bộ thuế và cơ quan thuế 64
2.5.1 Khái quát quyền khiếu nại, khởi kiện trong lĩnh vực thuế 64
2.5.2 Nội dung pháp lý về quyền khởi kiện quyền khiếu nại của công dân trong lĩnh vực thuế 65
2.5.3 Thực tiễn đảm bảo quyền khiếu nại, khởi kiện của người nộp thuế 68
2.6 Bảo đảm quyền con người trong điều tra và tố tụng thuế 69
2.7 Quyền được bảo mật thông tin và quyền riêng tư 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO 77
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT VÀ GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG
Nộp thuế là nghĩa vụ của công dân trong một xã hội có nhà nước Nghĩa vụ thuế là nghĩa vụ nặng nề xét về mức độ, lớn nhất xét về giá trị tiền tệ, bao quát nhất nếu xét về phạm vi điều chỉnh Nhà nước có quyền thu thuế và sẽ sử dụng toàn bộ các công cụ quyền lực đặc biệt để thực thi quyền này Ngược lại, các tổ chức, cá nhân còn lại có nghĩa vụ nộp thuế
Quan niệm như vậy về thuế thể hiện hầu hết trong các sách giáo khoa, tài liệu về thuế vì đó là quan điểm chính thống được xây dựng trên học thuyết về quyền lực nhà nước Quan điểm này không có gì phải bàn thêm dưới phương diện học thuật lẫn thực tiễn áp dụng nếu như chúng ta không tuyệt đối hóa tính một chiều và mặc nhiên trong nghĩa vụ thuế của công dân, đặc biệt là hiểu lệch lạc mối quan hệ giữa nhà nước và công dân trong lĩnh vực thuế Hệ quả tệ hại của hiện tượng này tất yếu dẫn đến sự gia tăng gánh nặng thuế của công dân, những quyền lợi đối ứng và phái sinh từ nghĩa vụ nộp thuế của công dân không được bảo vệ một cách thích đáng và phù hợp Tư duy này tạo cố tình đẩy người nộp thuế sang bên kia “chiến tuyến”, đối trọng và xung đột lợi ích với nhà nước Trầm trọng hơn khi thuế trởthành gánh nặng cho người tuân thủ pháp luật, những công dân “ngoan”, ngược lại thuế lại “ngoài vùng phủ sóng” đối với những tổ chức, cá nhân khác
Đề tài này được nghiên cứu với kỳ vọng là nhận diện yếu tố quyền con người, quyền công dân qua lăng kính, vị thế của người nộp thuế trong quan hệ pháp luật thuế cùng cơ chế đảm bảo các quyền này trong thực tế Khi chọn đề tài này nhóm nghiên cứu cũng dự báo rằng yếu tố quyền con người, quyền công dân trong pháp luật thuế khá mơ hồ vì chúng tồn tại gián tiếp và phái sinh từ nghĩa vụ nộp thuế
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
a) Đối tượng nghiên cứu:
Quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu về tài sản, quyền học tập, quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh sáng chế, quyền tự
do đi lại và cư trú, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội, tự do tín ngưỡng được thể hiện rõ nét trong pháp luật và các công ước, tuyên bố.về quyền
Trang 7con người Trong quan hệ thuế giữa nhà nước và công dân, quyền công dân thể hiện qua hai hình thái:
i) Nhóm quyền trực tiếp phái sinh từ nghĩa vụ nộp thuế Trong trường hợp này quyền con người, quyền công dân thể hiện qua khái niệm “quyền của người nộp thuế”;
ii) Nhóm quyền gián tiếp với tư cách là một công dân Song hành với nghĩa
vụ nộp thuế, công dân đó có quyền được tiếp nhận và thụ hưởng toàn bộ các quyền chính trị - xã hội- kinh tế theo nghĩa rộng
Trong báo cáo này, yếu tố quyền con người, quyền công dân được nhận diện
và xem xét theo hình thái thứ nhất, tức là các quyền của người nộp thuế Các quyền công dân không gắn liền và không phát sinh trực tiếp khi tham gia quan hệ pháp luật thuế nếu được đề cập chỉ là minh họa cho nhóm quyền thứ nhất
b) Phạm vi nghiên cứu:
Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân thể hiện xuyên suốt trong tất cả giai đoạn của chu trình thuế; từ việc ban hành văn bản pháp luật thuế, tổ chức thực thi pháp luật thuế, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, tài phán hành chính liên quan thuế Tuy nhiên, trong khả năng và giới hạn về các nguồn lực và thời gian, chúng tôi lựa chọn đối tượng và giới hạn phạm vi của đề tài như sau:
- Nghiên cứu các nội dung cơ bản trong nhóm quyền của người nộp thuế, trong mối quan hệ với nghĩa vụ nộp thuế và ghi nhận trong pháp luật thuế
mà không xem xét các quyền chính trị, xã hội, kinh tế của công dân
- Trong báo cáo này cũng đề cập đến kinh nghiệm pháp luật nước ngoài Việc chọn mẫu để khảo sát giới hạn trong pháp luật các quốc gia thành viên OECD và Cộng Hòa Liên Bang Nga
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC BƯỚC THỰC HIỆN
Mục tiêu: nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng, quyền con người, quyền công dân không có bất kỳ giá trị hoặc ý nghĩa nào nếu không có một cơ chế đảm bảo thực thi Xét cho cùng, việc tiếp nhận và thụ hưởng các quyền con người, quyền công dân chỉ hiện hữu khi được bảo đảm bằng công cụ và các phương thức cụ thể Vậy nên mục tiêu nghiên cứu của đề tài này:
Trang 8a) Nhận diện và kiến nghị bổ sung các nội dung cấu thành quyền của người nộp thuế;
b) Phân tích các biện pháp bảo đảm để người nộp thuế tiếp nhận và thụ hưởng quyền này được một cách hiệu quả nhất trên thực tế
Nhiệm vụ và các bước thực hiện: Để đạt được mục tiêu nói trên, nhóm nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện và các nhiệm vụ sau:
Trang 94 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC NỘI DUNG QUYỀN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ THEO PL VN VA CÁC NƯỚC
XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG, KẾ HOẠCH
LÀM VIỆC
THU THẬP TÀI LIỆU/ SỐ LIỆU/ BẢN ÁN/ KHẢO SÁT SỐ LIỆU
KẾT LUẬN/ NHẬN ĐỊNH VỀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUYỀN NÀY
GIỚI THIỆU NỘI DUNG CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ
PHÂN TÍCH CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ
BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CÁC TỒN TẠI
CHƯƠNG I BÁO CÁO
CHƯƠNG II BÁO CÁO
HỒ SƠ/ BÁO CÁO TÓM TẮT
Trang 10- Để thực hiện các mục tiêu nói trên, nhóm nghiên cứu thống nhất vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nền nhà nước và pháp luật
Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử được sử dụng để giải thích những vấn đề về nhà nước và pháp luật, mối liên hệ giữa nhà nước và công dân, nguồn gốc ra đời của nhà nước và thuế
Cở sở lý luận hình thành quyền của người nộp thuế và các biện pháp bảo đảm quyền này được xem xét, lý giải và đề xuất trong mối liên hệ, tương tác với các yếu tố nghĩa vụ của công dân trong xã hội có nhà nước
Kết quả nghiên cứu cũng được hình thành trên cơ sở vận dụng phương pháp
so sánh pháp lý Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực bảo vệ quyền của đối tượng nộp thuế được so sánh, đối chiếu và áp dụng có chọn lọc theo đúng chủ trương hội nhập
Nhóm thực hiện:
Đề tài được nghiên cứu và hoàn thành với sự trợ giúp và cung cấp tài liệu, số liệu của:
ThS Phan Phương Nam, GV Đại học Luật Tp HCM
ThS Trần Minh Hiệp, GV Đại học Luật Tp HCM
Bà Doãn Thu Thủy, Phó phòng Kiểm tra 2, Cục Thuế Tp HCM
Hỗ trợ kinh phí: Trung tâm nghiên cứu pháp luật quyền con người, quyền công dân- Đại học Luật Tp HCM
-Tổng cục thuế, các cục thuế tỉnh và tổ chức thực hiện, thanh tra giám sát hoạt động thu nộp thuế và giải quyết các tranh chấp liên quan;
-Các công ty và cá nhân là người nộp thuế theo Luật quản lý thuế nhằm nâng cao nhận thức, hiểu và tiếp nhận các quyền của mình để tư bảo vệ tốt hơn, hiệu quả hơn trong quan hệ thu nộp thuế;
Trang 11-Các cơ sở đào tạo, học viên, sinh viên trong mục đích đào tạo, nghiên cứu Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo, tài liệu giảng dạy tại các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học các ngành luật thuế, tài chính.
ổn định, hoạt động đầu tư công mang lại hiệu quả, hệ thống pháp luật về tố tụng hành chính hoàn thiện và tự bản thân người nộp thuế hiểu và có nhu cầu tiếp nhận các quyền của luật định của họ
Bản Báo cáo này chia làm hai chương, cụ thể như sau:
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ NHẬN DIỆN VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG PHÁP LUẬT THUẾ
1.1 Khái quát quyền con người và quyền công dân trong pháp luật thuế
1.1.1 Nhận diện một số khái niệm liên quan
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quyền con người, quyền công dân trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam Vậy nên để cung cấp những cơ sở lý thuyết ban đầu cho việc nghiên cứu, những khái niệm/ vấn đề được lựa chọn để khảo sát, bao gồm: i) khái niệm quyền con người; ii) khái niệm quyền công dân Qua đó xem xét sự tương đồng và khác biệt trong hai khái niệm theo các quan điểm tồn tại trong khoa học pháp lý
Quyền con người và quyền công dân là những phạm trù gắn liền với lịch sử đấu tranh giải phóng con người, nên cách tiếp cận và nội hàm có thể có sự khác biệt, phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, thế chế chính trị và tư tưởng pháp lý
a) Quyền con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau Theo thống kê của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố1 Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người
Định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements)
và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người2
1 United Nations: Human Rights: Question and Answers, Geneva, 1994.
2 United Nations, UNHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr.8.
Trang 13Quyền con người là một tập hợp quyền không thể tách rời, mà mỗi người có được không phụ thuộc vào chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, giới tính, màu da, địa vị xã hội hoặc bất kỳ dấu hiệu nào khác Mỗi người ngang bằng trong tiếp nhận các quyền này và được bảo đảm thực thi trên thực tế, không phân biệt đối xử Các quyền này gắn liền, phụ thuộc và thống nhất với nhau3
Theo các nghiên cứu đã công bố4, có hai trường phái trái ngược nhau về khái niệm quyền con người:
Một là, học thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) Học thuyết này có ý
tưởng manh nha từ thời Hy lạp cổ đại Thật vậy, nhà triết học Zeno (333-264 TCN)
đã phát biểu rằng, không ai sinh ra đã là một nô lệ hết cả, địa vị nô lệ là do họ bị tước đoạt tự do vốn có của con người Tư tưởng này sau đó được nhiều triết gia tái khẳng định và phát triển, trong đó tiêu biểu nhất là Thomas Hobbes (1588–1679) và Thomas Paine (1731–1809) cho rằng quyền con người chính là quyền được tự nhiên, tạo hóa ban cho Quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào; và không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người
Hai là, học thuyết về quyền pháp lý Học giả tiêu biểu cho trường phái này
có thể kể đến là Edmund Burke (1729-1797) và Jeremy Bentham (1748-1832) Thật vậy, Edmund Burke, trong tác phẩm Suy nghĩ về Cách mạng Pháp (1770), và Jeremy Bentham, trong tác phẩm Phê phán học thuyết về các quyền tự nhiên, không thể chuyển nhượng (1843) cùng cho rằng ý tưởng về các quyền tự nhiên là vô nghĩa (nonsense upon stilts), và chẳng có quyền nào lại không thể chuyển nhượng được (inalienable) Trường phái này cho rằng các quyền con người không phải là những
gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước quy định trong pháp luật Như vậy, theo học thuyết này, phạm vi, giới hạn và ở góc độ nhất định,
cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của các xã hội
Dù chưa có sự đồng nhất về nội hàm quyền con người trong học thuật song nội dung các quyền con người thì không có sự khác biệt lớn trong nhận thức và cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người Thậy vậy, nội dung của quyền con người có
3 http://www.ohchr.org/RU/Issues/Pages/WhatareHumanRights.aspx.
4 Khoa Luật – ĐHQGHN, Giáo Trình Lý Luận Và Pháp Luật Về Quyền Con Người (2009), H, NXB Chính trị quốc gia.
Trang 14thể bao gồm nhiều nhóm với các đặc thù khác nhau, như: i) Nhóm quyền con người trong lĩnh vực chính trị; ii) Nhóm quyền con người trong lĩnh vực kinh tế- xã hội; iii) Nhóm quyền con người trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, ….
Theo GS Hoàng Văn Hảo thì vấn đề quyền con người, quyền công dân trở thành một nội dung chính của lịch sử lập hiến Luật về các quyền của Anh sau Cách mạng 1689, Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, hiến pháp của tất cả các nước, dù ở chế độ xã hội nào (tư bản,
xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển) đều có chế định quyền con người, quyền công dân Đó là nội dung cơ bản nhất của mỗi hiến pháp, nội dung quan trọng đến mức nếu không có chế định quyền con người, quyền công dân thì cũng không thể có bản thân hiến pháp Nội dung đó chi phối kết cấu của bản hiến pháp, chế định quyền công dân thường được đặt lên hàng đầu trong hiến pháp của nhiều nước5
b) Quyền công dân
Trong các tài liệu, bên cạnh khái niệm quyền con người, còn tồn tại khái niệm quyền công dân (dân quyền) Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi nhưng không đồng nhất
Về bản chất, các quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt là quốc tịch Cho nên, nội dung quyền công dân phụ thuộc vào thể chế chính trị,
hình thức nhà nước và mối quan hệ giữa nhà nước và công dân của mỗi quốc gia
Nội dung quyền công dân bao gồm quyền bầu cử, quyền tự do cư trú, quyền được lao động; quyền sở hữu; quyền tự do kinh doanh … Nội dung và phạm vi của quyền này có thể thay đổi phụ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm6
Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, trong thời gian qua Việt Nam luôn khẳng định và mục tiêu đảm bảo quyền con người Thật vậy, Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ quyền con người và
5 Hoàng Văn Hảo, Hiến pháp Việt Nam và vấn đề quyền con người, quyền công dân.: Trung tâm Nghiên cứu quyền con người
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Viện Raoul Wallenberg về Quyền con người và Luật nhân đạo – Đại học Lund – Thụy Điển: Hiến pháp, pháp luật và quyền con người – Kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển, Hà Nội, 2001, tr 148.
6 Khoa Luật, ĐH Quốc Gia Hà Nội [2010] Hỏi đáp về quyền con người, Hà Nội NXB CAND.
Trang 15khẳng định: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”.
1.1.2 Nhận diện quyền con người, quyền công dân trong pháp luật thuế.
Nhằm cung cấp các luận điểm cơ sở phục vụ cho các nội dung còn lại của đề tài này, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là giải quyết các câu hỏi sau: Trong lĩnh vực thuế công dân có những quyền gì? Nội dung và dạng thức tồn tại của quyền con người, quyền công dân trong pháp luật thuế?
Kết quả nghiên cứu cho thấy, quyền con người, quyền công dân trong pháp luật thuế không được ghi nhận một cách trực tiếp như trong pháp luật hành chính, pháp luật dân sự bằng những quy phạm pháp luật cụ thể mô tả các quyền cụ thể Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa rằng trong pháp luật thuế không hàm chứa quyền công dân, quyền con người
Trước đây, trên đường phố Việt Nam có thể dễ dàng nhìn thấy khẩu hiệu có nội dung: “nộp thuế là quyền và nghĩa vụ của công dân” Một số ý kiến mỉa mai khẩu hiệu này vì cho rằng dễ dàng nhận thấy nộp thuế là nghĩa vụ của công dân nhưng khó chứng minh rằng nộp thuế là quyền của công dân
Trong pháp luật thực định Việt Nam trước đây, cho dù Hiến pháp hay bất kỳ các văn bản pháp luật nào, kể cả các văn bản pháp luật thuế cũng thể hiện tư tưởng quyền năng thu thuế của nhà nước và nghĩa vụ nộp thuế của công dân, mà không ghi nhận trực tiếp bất cứ một hình thái quyền công dân nào trong lĩnh vực thuế
Sau khi khảo sát và phân tích bản chất thuế, nghĩa vụ thuế của công dân, nhóm nghiên cứu kết luận rằng:
Một là, không phủ nhận rằng quan hệ thu nộp thuế là quan hệ hành
chính-kinh tế, ở đó nhà nước được quyền ban hành, ấn định các khoản thu thuế, công dân phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Mục tiêu của pháp luật thuế là đảm bảo quyền thu thuế của nhà nước, nội dung chủ yếu pháp luật thuế là thiết lập cơ chế hành chính -pháp lý nhằm tận thu, tăng thu cho ngân sách nhà nước, chống thất thu thuế, chống trốn thuế; thiết lập các chế tài cưỡng chế, trừng trị người nộp thuế khi vi phạm pháp luật thuế Hiến pháp Việt Nam 1992 chỉ quy định “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế
và lao động công ích theo quy định của pháp luật”7
7 Điều 80 Hiến Pháp 1992
Trang 16Hai là, không thể bác bỏ học thuyết quyền lực nhà nước khi cho rằng nhà
nước là chủ thể mang trong mình quyền lực nhà nước, trong đó có quyền năng đặc biệt là quyền thu thuế của công dân
Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa quan điểm quyền thu thuế của nhà nước có thể dẫn đến những hệ lụy nhất định, cụ thể là quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân không được đảm bảo
Chắc chắn rằng, việc lạm dụng quyền lực hành chính khi ban hành và thực hiện pháp luật thuế mà không chú trọng đến yếu tố “khoan sức dân” thì hệ thống thuế của quốc gia đó sẽ thất bại Yếu tố quyền con người, quyền công dân phải được chú trọng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp khi ban hành, tổ chức thực thi một sắc thuế
Vậy nên,cần một tư duy mới về nghĩa vụ thuế của công dân Theo đó nghĩa
vụ nộp thuế của công dân phải song hành với quyền của công dân Ngược lại, quyền thu thuế của nhà nước được đánh đổi bởi các nghĩa vụ nhất định của nhà nước trước công dân của mình
Sau khi khảo sát, nghiên cứu để nhận diện các yếu tố quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực thuế, nhóm nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:
Thứ nhất, trong pháp luật thuế yếu tố quyền con người mờ nhạt và không có
ý nghĩa nhiều, song quyền công dân với tư cách là quyền người nộp thuế thể hiện khá rõ ràng, cụ thể Trong pháp luật thuế, khái niệm quyền con người sẽ mãi mãi dừng lại là khái niệm lý thuyết nếu chúng không được đặt trong một quốc gia nhất định, trong một hệ thống pháp luật nhất định và bên cạnh nghĩa vụ thuế Hay nói cách khác, quyền con người trong pháp luật thuế phải gắn liền khái niệm “quốc tịch”, “quốc gia”, “pháp luật”, “nghĩa vụ thuế” của công dân Một công dân quốc gia A không thể khiếu nại yêu cầu nhà nước B đảm bảo cho mình các quyền công dân tương tự các công dân của quốc gia B, bởi lẽ công dân đó không nộp thuế vào ngân sách nhà nước quốc gia B giống như công dân của quốc gia B Như vậy, nghĩa
vụ nộp thuế của công dân song hành với các quyền của công dân Đa phần quyền con người trong pháp luật thuế chính là quyền của người nộp thuế Xét về bản chất đây là quyền phái sinh từ nghĩa vụ nộp thuế
Thứ hai, theo nghĩa hẹp, yếu tố quyền con người, quyền công dân trong pháp luật thuế là các quyền phái sinh từ nghĩa vụ nộp thuế Ví dụ: quyền được
hoàn thuế, quyền được bảo mật thông tin, dữ liệu thuế, quyền được yêu cầu cung cấp biểu mẫu để kê khai, nộp thuế; quyền được cung cấp thông tin về thuế, quyền
Trang 17được yêu cầu kiểm toán trong trường hợp bất đồng trong tính thuế, quyền được khởi kiện quyết định hành chính8 và hành vi hành chính9 của cơ quan thuế và quan chứcngành thuế Quyền phái sinh từ nghĩa thuế tức là những quyền không mặc nhiên của con người hay của mọi công dân mà chúng chỉ được trao cho người nộp thuế cụ thể
và chỉ phát sinh trong và sau tham gia quan hệ pháp luật thuế Những cá nhân không tham gia quan hệ pháp luật thuế, không đăng ký kê khai với tư cách là người nộp thuế không có những quyền này
Thứ tư, nếu hiểu yếu tố quyền con người, quyền công dân theo nghĩa rộng
hơn thì đó là các quyền của công dân liên quan đến lĩnh vực thuế Ví dụ: quyền được đối xử công bằng trước thuế, quyền được hưởng các chế độ miễn giảm thuế, quyền được tiếp cận thông tin về thuế
Thứ năm, nếu xem xét bản chất của quyền công dân thì là toàn bộ các quyền
với tư cách một công dân của một quốc gia song hành với nghĩa vụ thuế của công dân, bởi nghĩa vụ thuế là nghĩa vụ quan trọng nhất của công dân Phạm vi nhóm quyền này có thể là quyền được hưởng các tiện ích và phúc lợi công cộng mà nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực cung cấp Những lợi ích vật chất hay tinh thần mà nhà nước cung cấp là những giá trị đặc biệt mà không chủ thể nào trong xã hội có khả năng thực hiện như: xây dựng các công trình công cộng, cung ứng phúc lợi xã hội, ban hành pháp luật, thành lập các cơ quan quản lý, cơ quan tư pháp10 Toàn bộ các quyền công dân được ghi nhận trong Hiến Pháp và các luật chuyên ngành xét cho cùng chỉ đảm bảo thực hiện được nếu công dân thực hiện nghĩa vụ đóng thuế
Những nhận định nêu trên của chúng tôi không mới trong tư duy pháp luật thuế và kỹ thuật hành thu thuế tại các nước Tại Việt Nam quan niệm này được biết
8 Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các
cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể - Theo Đ 3 Luật Tố tụng hành chính đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ tám thông qua ngày 24-11-2010.
9 Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong
cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật Theo Điều 3 Luật Tố tụng hành chính đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ tám thông qua ngày 24-11-2010.
10 Phan Thị Thành Dương (2005) Một số vấn đề pháp lý về quyền của đối tượng nộp thuế, Tạp chí Khoa Học Pháp Lý, số 01 năm 2005
Trang 18đến11 nhưng chỉ dưới phương diện lý thuyết mà chưa được luật hóa một cách cụ thể
rõ ràng trong văn bản pháp luật và trong cơ chế tổ chức thực thi pháp luật thuế
1.2.3 Thuế và quan hệ giữa công dân và nhà nước dưới góc độ pháp luật thuế
Để cung cấp cơ sở lý luận cho những nhận định nói trên về quyền con người, quyền công dân trong pháp luật thuế, cũng như để chứng minh rằng nhu cầu phải đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong quan hệ thuế, nhóm nghiên cứu tiến hành xem xét các vấn đề: i) thuế và bản chất của thuế; ii) mối liên hệ giữa nhà nước và công dân trong pháp luật thuế
Chúng tôi kỳ vọng rằng khi xem xét bản chất của thuế, bản chất nghĩa vụ thuế của công dân đối với nhà nước sẽ góp phần chứng minh rằng công dân có những quyền nhất định trong thuế, cho dù đó là những quyền phái sinh trực tiếp từ nghĩa
vụ nộp thuế hay gián tiếp từ bản chất quan hệ giữa nhà nước và công dân
a) Thuế và bản chất của thuế.
Trên cơ sở các khái niệm về thuế trong các giáo trình, chuyên khảo trong và ngoài nước, có thể khái quát thuế như sau: Thuế là khoản nộp bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng pháp luật mà các cá nhân, tổ chức phải nộp vào ngân sách nhà nước Các khoản nộp này không mang tính đối giá và không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế12 Khảo sát các học thuyết cổ điển về thuế đều cho cho thấy bản chất của thuế được thể hiện rõ nhất ở bốn điểm sau:
- Thuế là khoản trích nộp bằng tiền của tổ chức, cá nhân cho nhà nước;
- Thuế là khoản đóng góp bắt buộc dựa trên quyền lực nhà nước;
- Thuế là khoản thu không có hoàn trả;
- Thuế là khoản thu không có đối khoản trực tiếp13
Trong các tài liệu nghiên cứu, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau, do các tác giả tiếp cận từ góc độ kinh tế, pháp luật, xã hội học14
Trang 19Dưới góc độ pháp lý, thuế là nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước Nghĩa
vụ này được thể hiện bằng pháp luật và đảm bảo thực thi bằng công cụ pháp luật Nhà nước tự trao cho mình “đặc quyền” thu thuế vàấn định nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể khác
Dưới góc độ kinh tế- xã hội, thuế là sự động viên của cải toàn xã hội để tái
phân phối lại hướng đến mục tiêu công bằng Về bản chất kinh tế, thuế là giá cả mà công dân phải trả khi sử dụng và hưởng lợi các lợi ích công công và dịch vụ công
và từ phía nhà nước Vậy nên, thuế là quá trình chuyển dịch thu nhập xã hội từ khu vực tư vào khu vực công Thuế là quá trình chuyển chi tiêu tư thành chi tiêu công
Một số học thuyết chính trị- tôn giáo trong lịch sử giải thích sự ra đời của
nhà nước và pháp luật là sản phẩm của đấng thần linh tối cao15 Theo đó, nghĩa vụ nộp thuế của công chúng được ghi nhận như là một nghĩa vụ tự nhiên gắn liền với thân phận của dân chúng, nghĩa vụ này được định đoạt bởi thượng đế và các đấng thần linh tối cao Quyền thu nhận, sử dụng các khoản cống nộp từ dân chúng là quyền của vua chúa và được định đoạt bởi giới thần linh
Nếu khảo sát nguồn gốc nhà nước dưới góc độ duy vật lịch sử cho thấy lịch
sử hình thành và phát triển nhà nước gắn liền với các hình thái kinh tế- xã hội cụ thể Thuế được qui định bởi nhà nước, hay cụ thể hơn là bởi những con người cụ thể đứng đầu nhà nước đó Thuế ra đời, tồn tại, phát triển gắn liền phạm trù nhà nước
và pháp luật Việc ban hành, chấm dứt hay thay đổi một sắc thuế do con người quyết định dựa trên cơ sở là các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể và tương quan lợi ích giữa nhà nước và công dân
Tóm lại, thuế là hiện tượng tất yếu và gắn liền trong xã hội có nhà nước Thuế không là hiện tượng tự nhiên mà do con người xác lập và quy định Nhận diện đúng bản chất của thuế sẽ lý giải được mối quan hệ giữa nhà nước, công dân và
thuế, lý giải được bản chất của cặp đôi khái niệm “nghĩa vụ nộp thuế của công
dân” và “quyền công dân của người nộp thuế” ở phần tiếp theo.
14 Xem các tài liệu sau: http://vi.wikipedia.org/wiki/Thuế#Xem_th.C3.Aam; Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và
đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế-xã hội (Nguyễn Hồng Thắng, (1998) Thuế, NXB Thống kê, Hà Nội, Tr 27.)
Theo E Seligman: thuế là đóng góp cưỡng bách của mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí vì quyền lợi chung, không căn cứ vào các lợi riêng được hưởng (Nguyễn Hồng Thắng (tlđd))
15 Xem: Vengerôp A.B (2000) Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật- Phần 1, Matcơva, NXB Iuricprudensia; Xem thêm: TS Đinh Văn Mậu- TS Phạm Hồng Thái, (1997) Lịch sử các học thuyết pháp lý, NXB TP HCM, Tr 10-11.
Trang 20b) Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân dưới phương diện thuế
Khảo sát mối liên hệ giữa nhà nước và công dân, hình thái và biểu hiện của liên hệ này thông qua nghĩa vụ thuế có thể làm sáng tỏ bản chất của nghĩa vụ thuế của công dân Từ đó có thể nhận diện cơ chế bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quan hệ pháp luật thuế
Quan hệ giữa nhà nước và công dân dưới phương diện pháp luật thuế được chúng tôi xem xét thông qua các nội dung dưới đây:
Một là, nhà nước và nghĩa vụ thuế của công dân là hai hiện tượng tồn tại
song hành, chi phối và hỗ trợ lẫn nhau
Thuế và các nghĩa vụ tương tự thuế ra đời, tồn tại song hành với sự ra đời, tồn tại của nhà nước Nhận định này đã được khảo sát và chứng minh trong các tài liệu nghiên cứu về lịch sử, nguồn gốc ra đời của nhà nước và thuế16 Tuy nhiên bảnchất của thuế phụ thuộc vào bản chất của nhà nước Nếu một nhà nước dân chủ, công bằng và nhân đạo thì hệ thống thuế của quốc gia đó cũng công bằng, nhân đạo
và quyền con người, quyền công dân tại quốc gia đó được chú trọng đúng mức và ngược lại Vì vậy, khi nghiên cứu nội dung quyền con người, quyền công dân trong
hệ thống pháp luật thuế không thể tách rời thuế ra khỏi quan hệ với nhà nước
Các quan điểm về một xã hội có nhà nước nhưng không có thuế đã cố gắng xây dựng trong lòng dân chúng hình ảnh xã hội không thuế nhằm lôi kéo sự ủng hộ của dân chúng đối với các đường lối chính trị của đảng mình làm lu mờ hoặc phủ nhận vai trò của chính phủ và nhà nước trong các hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội17 Những quan điểm này mang màu sắc chính trị nhiều hơn là một luận điểm khoa học và lịch sử Như vậy, không quá khó để chứng minh rằng thuế và nhà nước
là hai hiện tượng song hành, chi phối, hỗ trợ lẫn nhau
Hai là, nghĩa vụ thuế của công dân đảm bảo nguồn lực tài chính để nhà nước
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Thậy vậy, trong xã hội có nhà nước, bên cạnh thuế, mỗi công dân có thể còn phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác như các khoản đóng góp cộng đồng, các
16 C.Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước” (Mác-Ăng ghen tuyển tập, NXB sự thật, Hà nội, 1961); Ăng ghen cũng đã viết “ Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế” (Ăng ghen: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước, NXB sự thật, Hà nội, 1962).
17 TS Nguyễn Văn Tuyến, Tlđd; xem thêm: Michel Bouvier, Nhập môn luật thuế đại cương và học thuyết thuế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 286
Trang 21nghĩa vụ tài chính của thành viên các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo Tuy nhiên, nghĩa vụ thuế cho nhà nước là nghĩa vụ quan trọng, bắt buộc và lớn nhất về giá trị18 Điều này có nghĩa, “thu nhập” của nhà nước có nhiều nguồn khác nhau nhưng nguồn thu cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn nhất và thường xuyên là nguồn thu từ thuế
Sự thật hiển nhiên rằng nếu công dân không thực hiện nghĩa vụ thuế, thiếu nguồn lực tài chính công thì nhà nước không thể vận hành và thực thi các chức năng của mình Như vậy, nghĩa vụ thuế của công dân tồn tại song hành và chi phối đến hiệu quả vận hành của nhà nước Trong một chừng mực nhất đinh có thể khẳng định rằng, nghĩa vụ thuế của công dân quyết định sự tồn tại của nhà nước vì nhà nước không thể tồn tại và vận hành nếu thiếu các nguồn lực tài chính
Ba là, nghĩa vụ thuế của công dân là tiền đề để công dân tiếp nhận và thụ
hưởng các quyền của mình
Thậy vậy, quỹ ngân sách nhà nước được sử dụng để phân phối lại cho công dân và đảm bảo hoạt động của nhà nước Mặc dù các khoản chi ngân sách nhà nước được chia làm nhiều khoản, mục chi với tên gọi khác nhau, trong đó có chi đầu tư phát triển, chi hoạt động quản lý nhà nước và chi trực tiếp cho công dân, tuy nhiên, xét mục tiêu cuối cùng, chủ thể được thụ hưởng từ mọi khoản chi của ngân sách nhà nước vẫn là công dân Công dân có thể là người thụ hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
từ các khoản chi ngân sách nhà nước Các khoản chi đầu tư phát triển, chi quản lý nhà nước, chi an ninh quốc phòng… thì người hưởng lợi cuối cùng là người dân19
Một trong những người đề xuất cơ sở lý thuyết ban đầu về quyền công dân,
có thể kể đến nhà triết học John Locke (1632-1704) Với tư tưởng của trường phái triết học “khai sáng” ông đã khái quát quan hệ giữa nhà nước và công dân qua khái niệm “khế ước xã hội” Xét dưới phương diện nguồn gốc của nhà nước và thuế, có thể nhận thấy: trong quan hệ với nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân song hành với nhau Không phải không có cơ sở khi các học giả của “học thuyết khế
18 Theo kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015, Bộ Tài Chính công bố ngày 18 tháng 10 năm 2011 “Tỷ lệ động viên thu NSNN bình quân đạt 23% GDP (không bao gồm yếu tố tăng giá, do giá dầu thô ở mức cao và thu từ đất đai) trong đó động viên từ thuế và phí vào NSNN bình quân đạt 22% GDP so với mục tiêu Chiến lược cải cách hệ thống đến năm 2010 đặt ra
là 20-21% GDP
19 Chúng tôi không phủ nhận tính không đối giá và không hoàn trả trực tiếp của thuế Nhưng xét cho cùng, trong một nhà nước dân chủ, các khoản thuế thu từ dân và chi cho dân Xem thêm: Trường ĐH Luật Tp HCM (2009) Tập Bài giảng Luật thuế, NXB Đại Học Quốc Gia, 2009, Tr 17
Trang 22ước” khi giải thích sự ra đời và tồn tại của nhà nước là một thỏa thuận tương tự quan hệ hợp đồng20.
Bốn là, tiền thuế của công dân hỗ trợ để nhà nước đảm bảo quyền con người,
quyền công dân của chính họ
Tất cả các quyền con người ghi nhận trong bất kỳ bản hiến chương, tuyên ngôn hay điều ước quốc tế sẽ trở nên vô nghĩa, phù phiếm, xa sỉ trong bối cảnh quốc gia nghèo đói, lạc hậu, ngân sách nhà nước èo uột và kiệt quệ Các nhà nhân quyền học trong các diễn đàn ở khách sạn 5 sao sẽ không bao giờ lý giải được vì sao người ta sẵn sàng đổi quyền bầu cử để lấy 01 bánh mì Trong các tuyên ngôn, chúng ta nói nhiều về các các quyền trong lĩnh vực chính trị, tôn giáo, quyền lao động, quyền học tập, quyền tư do ngôn luận nhưng ít khi quan tâm công cụ để đảm bảo thực quyền này như thế nào nếu tự bản thân nhà nước thiếu những nguồn lực tài chính để thực thi Có thể kết luận rằng, nghĩa vụ thuế của công dân là tiền đề
để công dân tiếp nhận và thụ hưởng các quyền con người, quyền công dân Hay nói khác, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể đảm bảo thực thi trong một nhà nước với hệ thống pháp luật thuế hoàn hảo để đảm bảo rằng mọi công dân tuân thủ nghĩa vụ thuế của mình
1.2 Nguyên tắc thiết lập và đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực thuế
1.2.1 Nguyên tắc dung hòa lợi ích kinh tế giữa nhà nước và công dân trong pháp luật thuế
a) Dẫn nhập
Chúng tôi cho rằng, bảo vệ quyền công dân trong lĩnh vực thuế không đồng nghĩa với việc nhà nước hủy bỏ nghĩa vụ nộp thuế hoặc giảm thuế cho người nộp thuế hoặc gia tăng cho những đối tượng này những lợi ích kinh tế nhất định nào đó
20 Học thuyết này cho rằng luôn tồn tại sự “thỏa thuận ngầm” hay “hợp đồng thuế” giữa nhà nước (người thu thuế) với công dân (người đóng thuế) về số tiền thuế mà họ phải nộp cho nhà nước để nhận lấy những gì được coi là dịch vụ và hàng hoá công cộng
mà bản thân họ không thể tự tạo ra được Các đại biểu nổi tiếng cho học thuyết thuế-trao đổi vào thế kỉ XVIII, XIX là John Locke, Jean – Jacques Rousseau, Adam Smith và Montesquieu, với tư tưởng về “hợp đồng thuế” hay “khế ước thuế” Những quan niệm đầu tiên về khế ước xã hội đã xuất hiện từ thời cổ đại; đến thế kỉ 17, 18, đã phát triển thành học thuyết về nhà nước
và pháp quyền tương đối hoàn chỉnh, khi bắt đầu có cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống phong kiến và chính thể quân chủ chuyên chế Xem: TS Nguyễn Văn Tuyến, Tlđd;
xem thêm: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=
Trang 23Nhận định trên được minh chứng dưới góc độ kinh tế rằng: các nguồn lực của cải xã hội thể hiện dưới hình thái tiền tệ là hữu hạn, chúng chỉ được chuyển dịch và phân phối lại trong các chu kỳ của hoạt động kinh tế Trong quá trình chu chuyển này nếu lợi ích của một nhóm nào đó tăng lên thì lợi ích của nhóm còn lại giảm tương ứng Hay nói cách khác, nếu ngân sách nhà nước tăng thì lợi ích vật chất của người nộp thuế giảm và ngược lại
Theo chúng tôi, dưới góc độ kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong lĩnh vực thuế thực chất là dung hòa lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế Nhà nước không thể nhân danh lợi ích nhà nước để lạm thu, tận thu dẫn đến bần cùng hóa tình trạng vật chất của công dân
b) Nguyên tắc này được đề xuất dựa trên các cơ sở sau đây:
Một là, khả năng nộp thuế và nguồn lực tài chính của người nộp thuế là hữu
hạn, nhu cầu chi ngân sách nhà nước là vô hạn Không thể căn cứ nhu cầu chi tiêu của nhà nước mà tăng gánh nặng thuế của người nộp thuế Thiết nghĩ nên tìm kiếm một “điểm dừng” hợp lý trong nghĩa vụ thuế để dung hòa lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế Điểm dừng đó là ở đâu, cơ sở xác định điểm dừng đó không phải là nội dung pháp lý nên chúng tôi không đề cập trong báo cáo này Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng những đại lượng như thuế suất, khởi điểm chịu thuế… trong một dự thảo luật thuế không phải là sự “ngẫu hứng” hay “ước lượng” của nhà làm luật Những con số này phải là kết quả tính toán khoa học từ các số liệu kinh tế, tài chính, giá cả, lạm phát, chỉ tiêu tăng trưởng, hiệu quả đầu tư, mức sống, hệ số lợi nhuận…của nền kinh tế
Hai là, gánh nặng thuế quá lớn sẽ triệt tiêu khả năng nộp thuế của người nộp
thuế Thậy vậy, đối mặt với mức thuế cao, những doanh nghiệp, cá nhân có hai lựa chọn: i) sẽ chấm dứt, thu hẹp các hoạt động sản xuất, kinh doanh làm phát sinh nghĩa vụ thuế (trong khi đó, chính hoạt động sản xuất kinh doanh của họ mới là động lực và cơ sở cho sự tăng trưởng và cường thịnh của quốc gia); ii) gian lận, câu kết, hối lộ cho người có thẩm quyền và quan chức ngành thuế để giảm thiểu nghĩa
vụ nộp thuế Như vậy cả hai trường hợp trên đều dẫn đến những hậu quả khôn lường cho ngân sách nhà nước, cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia
Trang 24Ba là, hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư của khối tư nhân luôn luôn cao
hơn khối nhà nước21 Thay vì nộp thuế vào ngân sách nhà nước để nhà nước sử dụng nguồn lực tài chính này để đầu tư, kinh doanh (thông qua hệ thống doanh nghiệp nhà nước) thì hệ số lợi nhuận và hiệu quả đầu tư không cao Trong khi đó nếu nguồn lực tài chính đó giữ lại cho chính người dân và doanh nghiệp để họ tự đầu tư, kinh doanh thì hiệu quả cao hơn nhiêu Số liệu sau đây chứng minh cho nhận định này22 Đầu tư công từ ngân sách nhà nước chỉ nên dừng lại ở những lĩnh vực nhằm tạo lập cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế hoặc những lĩnh vực mà khối kinh
tế tư nhân không thể hoặc không muốn đầu tư
3.2
5.2
7.8
0 2 4 6 8
HỆ SỐ ICOR TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÁC THÀNH PHẦN KINH
TẾ (GIAI ĐOẠN 2000-2007)- ĐVT: LẦN
KINH TẾ NGOÀI NHÀ NƯỚC KT CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI KINH TẾ NHÀ NƯỚC
Bốn là, trong những quốc gia mà hiệu quả thu thuế thấp do chi phí thu thuế
quá lớn23 thì tốt nhất không thu thuế Chi phí thu thuế quá lớn do kỹ thuật thu thuế lạc hậu, thủ công, bộ máy cơ quan thuế cồng kềnh và số lượng cán bộ ngành thuế khổng lồ dẫn đến số tiền thuế thu được chỉ đủ để “nuôi” bộ máy cơ quan thuế thì tốt nhất không nên thu thuế Minh họa cho nội dung này là trường hợp thuế thu nhập cá
21 Hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) thể hiện để tăng một đồng GDP cần đầu tư bao nhiêu đồng Hệ số ICOR càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại Về mặt ý nghĩa kinh tế, hệ số ICOR tính cho một giai đoạn sẽ phản ánh chính xác hơn việc tính ICOR cho hàng năm, vì trong một thời gian ngắn (một năm) có một lượng đầu tư chưa phát huy tác dụng và cũng không phản ảnh được nếu đầu tư dàn trải
22 Bùi Trinh & Dương Mạnh Hùng (2009) Hiệu quả đầu tư thông qua hệ số ICOR Tạp chí Kinh Tế và Dự Báo Số 7 (Số 447) năm 2009
23 Hiệu quả thu thuế được xác định theo tiêu chí tỷ lệ chi phí phải bỏ ra để thu 01 đồng tiền thuế Nếu mức chi phí này cao thì hiệu quả thu thuế thấp
Trang 25nhân hiện nay: Nếu hạ thấp khởi điểm chịu thuế thu nhập cá nhân, số lượng người nộp thuế sẽ tăng lên đáng kể, chi phí thu thuế sẽ tăng tương ứng nhưng số thuế thu được không cao.
c) Nguyên tắc dung hòa lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, thiết lập vị thế cân bằng trong nghĩa vụ thuế, nhà nước chia sẻ
gánh nặng thuế với người nộp thuế
Nếu như những năm 1990, nguồn thu của Việt Nam chỉ chiếm 15 - 17% GDP, đến năm 2000 khoảng 20 - 22% GDP thì đến nay con số này đã lên tới 28 -30% GDP Trong khi tỷ lệ tương ứng của các nước đang phát triển là 15% - 17%, Trung Quốc khoảng 19-20%24
30 33
19 19
15 17
19 19 19
8
25 23
0 5 10
VIỆT NAM TRUNG QUỐC Ấn Độ THAI LAN INDNESIA MALAYSIA
Bảng: Tỷ lệ % giữa thu NSNN so với GDP và tỷ lệ đầu tư công so với GDP của
các nước trong khu vực (nguồn ADB)
THU NS/GDP ĐẦU TƯ TỪ NS/GDP
Bảng……: Tỷ lệ thu ngân sách so với GDP và tỷ lệ đầu tư từ nguồn vốn ngân sách
so với ngân sách của Việt Nam và một số nước trong khu vực năm 2007
24 Nguyên Hằng (2011) http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111003/bat-thuong.
Trang 26Đây là mức trên mức trung bình so với các nước láng giềng cũng như so với các nước ngoài OECD (khoảng 18% GDP)25 Nghĩa là so với chính mình và so với các quốc gia trong khu vực, mức tăng của Việt Nam đều cao Nguồn thu tăng đáp ứng được một phần chi tiêu nhưng lại không nuôi dưỡng được nguồn thu Thu tăng, đương nhiên chi phải tăng theo Đây chính là nguyên nhân của việc đầu tư tràn lan, thiếu hiệu quả mà Chính phủ đã thừa nhận và đang nỗ lực cắt giảm đầu tư công để kiểm soát lạm phát.
1.2.2 Nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong thực thi nghĩa vụ thuế
a) Dẫn nhập
Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà nhà nước yêu cầu mọi tổ chức và
cá nhân trong xã hội phải đóng góp vào ngân sách
Trong một xã hội có nhà nước, bên cạnh nghĩa vụ quân sự thì nghĩa vụ thuế của công dân là nghĩa vụ quan trọng nhất xét về tính chất, phổ quát nhất xét về phạm vi và quy mô lớn nhất xét về giá trị
Tuy nhiên, để nhà nước thu được thuế và để người nộp thuế tự nguyện và triệt để tuân thủ nghĩa vụ thuế của mình thì đòi hỏi hệ thống pháp luật đó phải được xây dựng trên nền tảng công bằng, bình đẳng bảo đảm và tôn trọng quyền con người, quyền công dân
Cụ thể là: Mọi công dân đều bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của nhà nước và hệ thống pháp luật thuế phải được thiết kế trên nền tảng của các nguyên lý công bằng và công bằng trong tổ chức thực thi pháp luật thuế, công bằng trong thụ hưởng những thành quả do nhà nước mang lại.Do vậy, để hệ thống pháp luật thuế được triệt để, các qui định của pháp luật thuế cần phải đảm bảo tính công bằng, bình đẳng
b) Khái niệm và các yêu cầu của nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong pháp luật thuế
Dưới góc độ pháp luật thuế, khi đề cập đến nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong thuế tồn tại nhiều quan điểm khác nhau với các tiêu chí và cách thức tiếp cận khác nhau:
25 Ông II Houng Lee, Trưởng đại diện Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam Thuế cần đơn giản, minh bạch
http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Thue-can-don-gian-minh-bach/50763806/411/
Trang 27i) Nhóm thứ nhất: nhóm học giả có cách tiếp cận sự công bằng về mặt lợi ích Họ cho rằng quan hệ giữa người nộp thuế và Chính phủ, nhà nước là quan
hệ trao đổi Theo đó, nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người trả thuế và người trả thuế phải trả tiền cho nhà nước Lúc này sự công bằng diễn ra giữa sự tương quan về lợi ích của cái mà người trả thuế phải chịu và lợi ích mà người trả thuế được nhận Tuy nhiên, quan điểm này đã mặc nhiên thừa nhận có sự đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người trả thuế trong quan hệ thuế Điều này đi ngược lại với bản chất của thuế đã được đa số các học giả công nhận Đại diện nhóm quan điểm này là Thomas Hobbes (1588-1679); John Loche (1632-1704); Jean Jacques Rousseou (1712-1788)
Nhóm thứ hai: nhóm tiếp cận sự công bằng trong thuế dựa trên khả năng chi trả của đối tượng nộp thuế26 Họ cho rằng những hoạt động cung cấp
phúc lợi xã hội, quyền và lợi ích cho các cá nhân, tổ chức trong xã hội là xuất phát
từ chức năng và nhiệm vụ của nhà nước Các quyền và lợi ích này không gắn liền
và không là hệ quả trực tiếp từ số thuế mà đối tượng nộp thuế đã nộp cho nhà nước Việc phân phối gánh nặng của thuế sẽ được nhà nước quyết định theo nguyên tắc công bằng – nghĩa là việc nộp thuế của đối tượng nộp thuế cần phải được tiến hành
và xác định phù hợp với khả năng chi trả của họ
Tùy thuộc vào khả năng của đối tượng nộp thuế, nhà nước sẽ xác định mức điều tiết phù hợp nhằm bảo đảm rằng các đối tượng nộp thuế phải hi sinh một phần thu nhập của mình để nộp thuế cho nhà nước Sự hi sinh của mỗi đối tượng nộp thuế xét trên khả năng chi trả là giống nhau (có tính đến các yếu tố hoàn cảnh và các điều kiện sống) Sự hi sinh vì công bằng ở đây mang ý nghĩa là sự từ bỏ cùng một số lượng (hoặc tỷ lệ) thu nhập của những đối tượng nộp thuế có thu nhập khác nhau
Tuy nhóm quan điểm này đã nhận thức được tính không đối giá trong thuế
và đã cố gắng đưa ra cách hiểu về sự công bằng khác hơn cách hiểu của nhóm thứ nhất nhưng nhóm quan điểm này vẫn có một điểm khó khăn trong việc xác định cách thức điếu tiết thuế nên là lũy tiến, lũy thoái hay dựa trên tỷ lệ nhằm đảm bảo tính công bằng Do vậy, đây là điểm khá mơ hồ và chưa rõ ràng của nhóm quan điểm này
Nhóm thứ ba: Lý thuyết về công bằng của John Rawls Từ sự bất hợp lý
của hai nhóm quan điểm trên đã khiến các học giả tìm đến quan điểm thứ ba về
26 Professor David W Williams (1996), Principle of tax law, Swett & Maxwell
Trang 28công bằng trong thuế và pháp luật thuế Đó là lý thuyết về công bằng của John Rawls27 Ông Rawls đã đưa ra nguyên tắc “tối đa hóa cái tối thiểu” Theo đó, thuế
và các khoản chi tiêu từ thuế là hợp lý nếu chúng làm tối đa hóa phúc lợi của những người ít may mắn Điều này chỉ đạt được khi số thuế thu được cho nhà nước là cực đại
Nếu số thuế suất cao hơn được áp dụng đối với những người có thu nhập cao hơn mà tạo ra nguồn thu cao nhất và vẫn khuyến khích được hoạt động tiêu dùng thì
đó là công bằng còn ngược lại là không công bằng Phương pháp luận của Rawls mặc dù trên lý thuyết chỉ liên quan và mang lại nhiều lợi ích cho những người có thu nhập thấp nhưng khi vận dụng hợp lý sẽ đặt ra các giới hạn trong việc điếu tiết thuế đối với những người có thu nhập cao và đã đưa chúng ta đến gần hơn và rõ ràng hơn trong việc xác định thế nào là công bằng trong thuế Tuy vậy, lý thuyết công bằng của Rawls lại chưa giải quyết được vấn đề mà quan điểm thứ hai đã giải quyết đó là xem xét đến hoàn cảnh và các điều kiện sống khác nhau của những người có thu nhập như nhau
Do vậy, dựa trên những ưu điểm và nhược điểm của các quan điểm trên khi
đề cập về công bằng trong thuế và pháp luật thuế, khái niệm về nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế có thể được hiểu như sau:
Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế là các định hướng về việc xác định những nội dung, yêu cầu trong các qui định của pháp luật thuế nhằm đảm bảo việc thu thuế là hợp lý dựa trên khả năng chi trả của đối tượng nộp thuế có xem xét, cân nhắc đến các yếu tố hoàn cảnh, điều kiện sống nhằm đảm bảo những người có thu nhập khác nhau sẽ có nghĩa vụ nộp thuế khác nhau, người có thu nhập cao hơn
sẽ phải nộp thuế cao hơn và những người điều kiện, hoàn cảnh như nhau có thu nhập ngang nhau sẽ phải nộp thuế như nhau 28
b) Các yêu cầu và nội dung của nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong pháp luật thuế
Để pháp luật thuế là công cụ đảm bảo quyền bình đẳng của công dân và công bằng trong thực thi nghĩa vụ thuế với nhà nước, nhóm nghiên cứu đề xuất các yêu cầu và nội dung sau đây:
27 Rawls, J.(1971) A theory of Justice, Harvard University Press, Cambridge, Massachusetts; Clarendent Press, Oxford.
28 Phan Phương Nam, Vận dụng nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân, Luận văn Thạc sỹ;
TS Nguyễn Thị Thủy và ThS Phan Phương Nam, Vận dụng nguyên tắc công bằng trong ban hành thuế Thu nhập cá nhân, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 02/2007.
Trang 29Một là, công bằng nhưng không có nghĩa là cào bằng, tức là nội dung quy
định pháp luật thuế phải căn cứ vào thu nhập, căn cứ vào sự hưởng lợi của người dân lên đối tượng chịu thuế để có mức thu thuế phù hợp;
Hai là, công bằng trong thuế cần phải bảo đảm mức điều tiết từ thuế là hợp
lý dựa trên khả năng chi trả của các đối tượng nộp thuế có tính đến các yếu tố chi phí và điều kiện sống;
Ba là, công bằng không chỉ được thể hiện ở nội dung qui định của pháp luật
thuế mà còn thể hiện trong quá trình áp dụng và thi hành Nếu công bằng chỉ dừng lại ở các qui định của pháp luật thì tính công bằng lúc này chỉ là sự công bằng hình thức, tô điểm cho những ý tưởng cao đẹp, những nguyện vọng, những mục tiêu xa vời của pháp luật Điều này sẽ có thể tạo nên một mối nguy hiểm cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước, và pháp luật, tính pháp chế của nhà nước sẽ bị phá vỡ nghiêm trọng Cho nên, khi và chỉ khi sự công bằng được thể hiện cả trong công tác thu, nộp thuế và hành thu thuế trên thực tế mới có thể đáp ứng trọn vẹn yêu cầu công bằng trong pháp luật thuế
c) Vận dụng nguyên tắc công bằng trong các qui định của pháp luật thuế nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân
Trong hệ thống thuế, các loại thuế trực thu là loại thuế thể hiện nguyên tắc công bằng, bình đẳng một cách dễ dàng và triệt để hơn so với các loại thuế gián thu
Bởi lẽ đối với các sắc thuế gián thu, tiền thuế được cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ, người tiêu dùng phải trả tiền thuế khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ; người nộp thuế chỉ là người nộp thay cho người tiêu dùng, nên nhà nước không biết người phải trả tiền thuế là cá nhân hay tổ chức, hoàn cảnh những người này ra sao, ngược lại, trong các sắc thuế trực thu, nhà nước lại biết rất rõ các vấn đề này Thông qua việc biết được nhân thân, hoàn cảnh, điều kiện sống của đối tượng nộp thuế, nhà nước có thể đưa ra các cách thức tính thuế, chiết giảm gia cảnh, khấu trừ các khoản chi phí gắn liền, cần thiết cho quá trình tồn tại và tái sản xuất sức lao động của các đối tượng nộp thuế để điều tiết thuế một cách hợp lý
Theo đó, các qui định trong pháp luật thuế trực thu thể hiện nội dung nguyên tắc công bằng nhằm đảm bảo nhân quyền cụ thể sau:
Trang 30Thứ nhất, trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân qui định về việc giảm trừ
gia cảnh29, theo đó, đối với các thu nhập thường xuyên của cá nhân cư trú (thu nhập
từ tiền công, tiền lương, sản xuất kinh doanh) sẽ được trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc, giảm trừ gia cảnh và đóng góp từ thiện nhân đạo trước khi tính thuế thu nhập
cá nhân Mức giảm trừ sẽ là 4 triệu VNĐ/tháng đối với cá nhân tạo ra thu nhập và 1,6 triệu VNĐ/người/tháng đối với mỗi người phụ thuộc Qui định này nhằm đảm bảo có sự phân biệt giữa các cá nhân cư trú có hoàn cảnh sống, nghĩa vụ nuôi dưỡng khác nhau thì số tiền thuế phải nộp khác nhau
Thứ hai, thuế TNCN không phân biệt giữa công dân Việt Nam và cá nhân
nước ngoài Trước đây, pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao cóphân biệt rất rõ nét khởi điểm tính thuế giữa cá nhân là công dân Việt nam ở tại Việt nam và cá nhân là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam gây nên sự không công bằng trong thu thuế thu nhập Tuy nhiên, theo Luật thuế TNCN năm 2007, không có
sự phân biệt này Theo Luật thuế TNCN, các cá nhân cư trú dù là công dân Việt nam hay công dân nước ngoài đều chịu thuế và tính thuế với những tiêu chí giống nhua vì họ đều sinh sống và chịu sự tác động của nền kinh tế Việt nam giống nhau nhằm đảm bảo yếu tố công bằng
Thứ ba, thuế TNCN đã bao quát các khoản thu của cá nhân Hiện nay theo
qui định tại điều 3 Luật TNCN năm 2007, pháp luật thuế TNCN đã điều tiết vào 10 khoản thu nhập của cá nhân Theo qui định này, pháp luật thuế TNCN đã xác định gần hết các khoản thu nhập của cá nhân phải chịu sự điều chỉnh của nhà nước Qua
đó, tránh sự bất công, không bình đẳng giữa những người có các khoản thu nhập khác nhau nhưng có những khoản thu nhập bị nhà nước điều tiết và có những khoản thu nhập không chịu sự điều tiết của nhà nước
Thứ tư, thuế TNCN điều tiết với mức thuế suất khác nhau đối với các thu
nhập khác nhau Với 10 khoản thu nhập của cá nhân phải chịu thuế nhưng có những khoản thu nhập thường xuyên để đảm bảo cuộc sống và có những thu nhập của cá nhân mang tính không thường xuyên Do vậy, khi điều tiết thuế, pháp luật thuế TNCN đã có sự phân hóa và tính toán này nhằm đảm bảo sự công bằng Theo đó, các thu nhập thường xuyên của cá nhân sẽ bị điếu tiết với mức thuế suất lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính hợp lý của từng mức thu nhập và đảm bảo cuộc sống của cá nhân Đối với các thu nhập không thường xuyên, pháp luật thuế TNCN điều tiết với mức thuế suất cố định
29 Điều 19 Luật thuế Thu nhập cá nhân được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 21 tháng 11 năm 2007.
Trang 31Thứ năm, trong thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) năm 2010,
pháp luật thuế đã có sự điều chỉnh nhằm đảm bảo sự công bằng giữa những chủ thể
có tích tụ đất nhiều hơn, có thể có nhiều lợi ích hơn khi khai thác đất nhằm đảm bảo
sự công bằng Theo đó, chủ thể có đất nhiều hơn sẽ phải chịu mức thuế suất cao hơn30
Thứ sáu, trong thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993, pháp luật thuế lại
đảm bảo sự công bằng thông qua qui định về dịnh suất thuế Theo đó, tùy theo khả năng sinh lợi của đất mà đối tượng nộp thuế có thể chịu với các định suất thuế tương ứng Ví dụ: theo khoản 2 điều 9 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993 thì đối với đất trồng cây lâu năm hạng 1 ( loại đất tốt nhất) thì định suất thuế là 650kg/ha/năm; đất hạng 2 thì định suất thuế là 550kg/ha/năm…
1.2.3 Nghiêm cấm gia tăng gánh nặng thuế của công dân qua việc ban hành, đặt ra các khoản thu trái luật.
a) Dẫn nhập
Trong một xã hội có nhà nước, quyền con người, quyền công dân được bảo đảm khi và chỉ khi quyền lực của nhà nước và quan chức nhà nước được giới hạn và kiểm soát Tình trạng độc quyền quyền lực nhà nước tất yếu sẽ dẫn đến vi phạm quyền con người, quyền công dân Nguyên lý này cũng không được loại trừ trong xây dựng và thực thi pháp luật thuế
Vậy nên, để đảm bảo quyền con người, quyền công dân, pháp luật thuế phải quy định rõ thẩm quyền ban hành các sắc thuế, thiết lập cơ chế kiểm soát quyền thu thuế và cơ chế bảo vệ người nộp thuế trong trường hợp bị lạm thu
b) Nguyên tắc này thể hiện qua các nội dung sau đây:
Thứ nhất, qua nghiên cứu lịch sử pháp luật thuế cho thấy trong một nhà
nước dân chủ, thuế và các nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước phải do cơ quan đại diện của dân ban hành Tên gọi cơ quan này phụ thuộc vào từng quốc gia, phụ thuộc vào mô hình tổ chức nhà nước và mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Một số sắc thuế có tầm ảnh hưởng lớn sẽ được tổ chức trưng cầu dân ý Đây là nguyên lý thông thường và tối thiểu trong nhà nước dân chủ, bởi lẽ chỉ có chính công dân và/ hoặc
cơ quan đại diện của dân, do dân bầu mới là người có thẩm quyền quyết định ai có
30 Theo khoản 1 điều 7 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thuế 7 ngày 17 tháng 06 năm 2010
Trang 32nghĩa vụ nộp thuế, nộp khi nào và nộp bao nhiêu Ví dụ ở Anh, Đạo luật về dân quyền 1668 quy định cấm mọi việc thu thuế để dùng vào chi tiêu của nhà nườc nếu không được Quốc hội đồng ý Ở Pháp, Mỹ, Nga chỉ có các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền biểu quyết và định đoạt các sắc thuế31
Theo pháp luật Việt Nam nguyên lý này chưa được thể hiện trong văn bản pháp luật cao nhất là Hiến Pháp Nhưng trong thực tiễn lập pháp Việt Nam, tất cả văn bản pháp luật về một sắc thuế cụ thể chỉ được ban hành dưới hình thức văn bản
là luật và pháp lệnh32 Chính Phủ chỉ ban hành các văn bản pháp luật thuế dưới hình thức là các Nghị định nhằm qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Đây là sự khác biệt cơ bản giữa thuế và các khoản thu khác vào ngân sách nhà nước như phí, lệ phí hoặc các khoản thu vào ngân sách của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội như đảng phí, đoàn phí…33
Thứ hai, để mục tiêu ngăn chặn tình trạng đặt ra các khoản thu trái luật làm
trầm trọng nghĩa vụ thuế của công dân, nhà nước cần thiết thay đổi kỹ thuật lập pháp Hiện nay, các văn bản pháp luật thuế chia làm hai nhóm Nhóm thứ nhất: Luật
và pháp lệnh; nhóm thứ hai: Nghị định, thông tư và các văn bản còn lại Theo nguyên tắc nói trên thì cơ quan ban hành nghị định, thông tư không ban hành một sắc thuế mới qui định một nghĩa vụ thuế mới mà chỉ hướng dẫn thi hành một sắc thuế cụ thể do Quốc Hội/ Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
Tuy nhiên do các văn bản luật thuế do Quốc Hội ban hành có nội dung chung chung, khái quát để đảm bảo tính tương thích với các thay đổi, đảm bảo tuổi thọ của luật lâu dài nên Chính Phủ ban hành nghị định, các bộ ban hành thông tư cụ thể hóa, hướng dẫn nghĩa vụ thuế của công dân
Xác định rõ bản chất của thuế, các khoản thu tương tự thuế và các khoản thu khác vào ngân sách nhà nước để có cơ chế kiểm soát tình trạng đặt ra các khoản thu trái luật Thuế và các nghĩa vụ tài chính tương tự thuế là các khoản nộp không mang
31 Trong Phần mở đầu Bộ Luật Thuế Cộng hòa Liên Bang Nga năm 1998 khẳng định: “Không một tổ chức, cá nhân nào có quyền ban hành bất kỳ một loại thuế, lệ phí hoặc bất kỳ khoản thu mang tính chất thuế, lệ phí ngoài các khoản thuế và lệ phí được qui định trong Bộ luật này”
32 Xét chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Quốc Hội và Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì Ủy ban thường vụ Quốc Hội là cơ quan đại diện của Quốc Hội giữa hai kỳ họp của Quốc Hội và được Quốc Hội trao thẩm quyền ban hành Pháp lệnh về một số loại thuế.
33 Ví dụ các khoản thu khác vào ngân sách nhà nước như phí, lệ phí, tiền sử dụng đất…có thể được ban hành bởi Chính Phủ hoặc Hội đồng nhân dân địa phương Xem Thêm: Pháp lệnh về phí và lệ phí
Trang 33tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp Người nộp thuế và các nghĩa
vụ tương tự thuế không nhận/ thụ hưởng bất kỳ lợi ích nào khác biệt hơn so với người không không có nghĩa vụ nộp thuế
Thuế và nghĩa vụ tương tự thuế khác biệt với hoàn toàn với nghĩa vụ tài chính có tên gọi lệ phí và phí
Phí và lệ phí là nghĩa vụ tài chính của công dân phải trả khi công dân đó nhận các dịch vụ do cơ quan nhà nước, hoặc đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp cung cấp Vì vậy lệ phí có tính đối giá và mang tính hoàn trả một phần còn phí hoàn toàn mang tính đối giá, ngang bằng về giá trị Xét cho cùng nó là giá trị của dịch vụ mà người dân phải trả khi sử dụng dịch vụ này cho dù nhà cung cấp dịch vụ có thể là nhà nước hoặc một doanh nghiệp
Do nhầm lẫn về khái niệm nên trong thực tế nhiều người quan niệm rằng viện phí, học phí… cũng là một dạng nghĩa vụ tài chính của công dân và phải kiểm soát bởi nguyên tắc này Vậy nên, nguyên tắc nói trên chỉ nên áp dụng đối với các nghĩa vụ thuế và các khoản nghĩa vụ tài chính tương tự thuế của công dân đối với nhà nước Nguyên tắc này không áp dụng đối với các khỏan thu phí, lệ phí
1.3 Nội dung quyền của người nộp thuế trong pháp luật các nước và Việt Nam
Như đã trình bày, yếu tố quyền con người, quyền công dân trong pháp luật thuế chủ yếu thể hiện dưới hình thái là các quyền của người nộp thuế Tuy nhiên nội dung quyền của công dân với tư cách là người nộp thuế cũng như các biện pháp bảo đảm thực thi các quyền này thể hiện rất khác nhau trong pháp luật các nước Lý giải sự khác biệt này bằng nhiều yếu tố khác nhau, có thể do sự khác biệt trong nhận thức về thuế, sự khác biệt trong truyền thống và tư duy pháp lý, sự khác biệt trong các yếu tố lịch sử, kinh tế, chính trị…
Các nội dung dưới đây là tổng hợp từ quá trình khảo sát pháp luật các nước
về quyền của công dân- người nộp thuế
Những nghiên cứu toàn diện và khởi điểm liên quan đến vấn đề quyền cùa người nộp thuế do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development, viết tắt: OECD) tiến hành34 Theo OECD khảo sát thì quyền của người nộp thuế và cơ chế đảm bảo các quyền này sẽ là
34 Organization For Economic Cooperation And Development, Taxpayers' Rights And Obligations: A Survey Of The Legal Situation In Oecd Countries para 1.4 (1990).
Trang 34những điều khoản mang tính tích cực để nâng cao vị trí của người nộp thuế và nâng cao năng lực của các cơ quan hành thu thuế Cho đến nay, không tồn tại bất kỳ điều ước quốc tế hay bất kỳ một tuyên bố quốc tế hoặc bộ quy tắc được ấn hành để tập hợp các quyền của người nộp thuế Báo cáo của OECD chỉ ra rằng do các quốc gia thành viên có những quan điểm khác nhau về những quyền mà họ sẵn sàng trao cho người nộp thuế của họ.
1.3.1 Quyền của người nộp thuế tại các quốc gia hệ thống dân luật (civil law):
Phần lớn các quốc gia thuộc hệ thống dân luật trong OECD là ở Châu Âu, do
đó việc chọn mẫu để so sánh quyền của người nộp thuế ở là Áo, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hungary, Luxembourg, Nhật, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Thụy sỹ
a) Đặc điểm chung của pháp luật về quyền của người nộp thuế các nước này
Thứ nhất, toàn bộ các quốc gia này có phê chuẩn hoặc thông qua Hiệp ước
Châu Âu và rất nhiều các công ước về quyền con người đồng thời là thành viên của Liên minh châu Âu Do đó, ít ra về mặt lý thuyết các quốc gia này có một cơ chế chung và có hiệu lực trên cả cơ quan phúc thẩm quốc gia khi xem xét các vấn đề phát sinh trong việc cáo buộc vi phạm quyền cuả người nộp thuế
Thứ hai, với vai trò tối quan trọng của luật viết, các bản hiến pháp, luật,
nghị định đã ghi nhận các quyền của người nộp thuế, vậy nên có thể dễ dàng tuyên một hành vi hành chính hay một văn bản hành chính trong lĩnh vực thuế nào đó là
c Quyền không phải trả nhiều hơn nghĩa vụ thuế theo luật dựa vào cơ sở tính thuế có tính đến gia cảnh cá nhân của người nộp thuế
Trang 35d Quyền riêng tư, tức cơ quan thuế không xâm phạm vào đời sống riêng của người nộp thuế một cách không cần thiết, bao gồm cả sự tìm kiếm và thu giữ tài sản.
e Quyền được bảo mật và giữ kín thông tin đã cung cấp cho cơ quan thuế và thông tin này chỉ được sử dụng theo quy định của pháp luật
f Quyền được hòa giải những vụ việc của một người theo cái cách giảm thiểu trách nhiệm về thuế, với điều kiện là những sắp xếp như vậy không nhằm gian lận hoặc thỏa thuận giả tạo
Vai trò Các hiến chương về quyền của người nộp thuế tại các nước này khá
mờ nhạt Ngoài Pháp và Bỉ, các quốc gia khác của OECD thuộc hệ thống dân luật không có một hiến chương chính thức tuyên bố về quyền của người nộp thuế
Trong khi đó, Nhật Bản cũng là thành viên của OECD nhưng quyền của người nộp thuế tại Nhật không được giới thiệu trong bất cứ tài liệu chính thức nào
So sánh với các quốc gia theo hệ thống dân luật được chọn so sánh thì quyền của người nộp thuế ở Nhật mờ nhạt hơn, mặc dù các nhà lập pháp cũng đối mặt với kêu gọi cải cách từ các học giả với yêu cầu tính cực hơn nữa để bảo vệ các quyền của người nộp thuế
1.3.2 Quyền của người nộp thuế tại các quốc gia hệ thống thông luật (common law):
Khi so sánh với các quốc gia dân luật, các quốc gia thông luật đề cao vai trò của thông luật hoặc luật của thẩm phán Điều này không có nghĩa là các văn bản quy phạm pháp luật không được xem trọng
Pháp luật thực định, bao gồm cả các quy định của hiến pháp vẫn chiếm vai trò quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật Phần lớn các quốc gia thông luật thành viên OECD nằm ngoài Châu Âu Vậy nên việc chọn mẫu khảo sát là pháp luật các nước Úc, Canada, New Zealand, Nam Phi, Vương quốc Anh và Mỹ
Tại các nước này, quyền của người nộp thuế được đề cao, đặc biệt là cơ chế bảo vệ thông qua thủ tục tư pháp và thủ tục hành chính
Tại các quốc gia này, các bản Hiến chương, Tuyên bố về quyền của người nộp thuế có vai trò và giá trị nhất định trong việc khẳng định và đảm bảo quyền của người nộp thuế
Trang 36a) Australia:
Sở thuế Australia (the Australia Tax Office – ATO) giới thiệu một Hiến chương về quyền của người nộp thuế vào năm 1997 Việc ban hành bản Hiến chương này là kết quả của sự tranh luận rộng rãi và tham khảo ý kiến công chúng về các đề xuất trước đó Hiến chương là văn bản được viết bằng tiếng anh đơn giản, dễ hiểu và đặt ra để hỗ trợ người nộp thuế hiểu rõ hơn các quyền cũng như các nghĩa
vụ của họ
Nội dung chính của Hiến chương bao gồm các tuyên bố về quyền hợp pháp
và các tiêu chuẩn mà người nộp thuế có thể trông đợi từ phía ATO, trong đó có quyền được đối xử công bằng và kỳ vọng rằng ATO sẽ thông báo cho người nộp thuế các quyền của họ
Quyền của người nộp thuế được tiếp cận thông tin là một quyền quan trọng của hệ thống thông luật Ở Australia, Luật tự do thông tin (The Freedom of Information Act) quy định cho người nộp thuế có quyền yêu cầu tiếp cận thông tin liên quan đến vụ việc của họ
b) Canada:
Ở Canada quyền của người nộp thuế được quy định trong Luật thuế thu nhập (Income Tax Act)35 và Hiến chương về các quyền và sự tự do của Canada (Canadian Charter of Rights and Freedoms)36 Năm 1982 Hiến chương được ban hành để bảo vệ các quyền cơ bản của cá nhân ở Canada, một trong số đó là bảo vệ các quyền của người nộp thuế37,
Sau đó, rất nhiều đạo luật được ban hành và thực hiện cho phù hợp với hiến chương Năm 1985, Cơ quan quản lý thuế và các thu nhập của Canada (Department
of National Revenue) đã ban hành Tuyên bố về quyền của người nộp thuế nhằm tạo
sự tín nhiệm và nâng cao nhân thức của người nộp thuế về sự công bằng trong hệ thống quản lý thuế Đây là sự thay đổi cần thiết trong thái độ của các nhà lãnh đạo
để tạo ra một hành lang pháp lý bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi của người nộp thuế
Hiện nay các quyền của người nộp thuế được mô tả trong Tuyên bố về Quyền của người nộp thuế, nhưng tuyên bố này không phải là văn bản quy phạm pháp luật, do đó không bảo vệ thật sự cho quyền lợi của người nộp thuế Nguồn luật
35 http://laws-lois.justice.gc.ca/eng/acts/I-3.3/
36 http://laws.justice.gc.ca/eng/charter/page-1.html
37 Jinyan Li, Taxpayers’s Right in Canada, Revenue Law Journal, Volume 7, Issue 1, 1997, Article 6, Trang 83
Trang 37quy định quyền của người nộp thuế ở Canada chính là Hiến chương, luật thuế thu nhập, các quy chế khác và thông luật.
Tuyên bố nói trên quy định 15 quyền của người nộp thuế đối với Cơ quan thu thuế quốc gia (Canada Revenue Agency- CRA) Trong đó quy định 7 quyền (1,
2, 3, 4, 7, 8 và 12) mà CRA phải thực thi và 8 quyền (5, 6, 9, 10, 11, 13 và 15) để điều chỉnh mối quan hệ giữa CRA và đối tượng nộp thuế Những quyền này đảm bảo cho đối tượng nộp thuế được phục vụ một cách chuyên nghiệp, lịch sự và công bằng Ngoài 15 quyền này ra thì Dự luật này cũng bao gồm Cam kết đối với doanh nghiệp nhỏ (Commitment to Small Business)
Nội dung 15 quyền này bao gồm:
Quyền 1: Quyền được hưởng quyền lợi và nộp thuế theo đúng quy định của
pháp luật
Đối tượng nộp thuế có quyền nhận những khoản lợi, khoản cho nợ và khoản hoàn thuế theo quy định của pháp luật
Quyền 2: Quyền được cung cấp thông tin bằng 2 loại ngôn ngữ chính là
tiếng Anh và tiếng Pháp
Quyền 3: Quyền được bảo mật thông tin và bảo vệ sự riêng tư
Đối tượng nộp thuế được bảo vệ các thông tin cá nhân và tài chính theo đúng quy định của pháp luật Chỉ có các nhân viên ngành thuế liên quan đến việc xử lý thông tin thu thuế mới được tiếp cận các thông tin cá nhân của đối tượng nộp thuế CRA có nghĩa vụ đảm bảo rằng các thông tin này luôn được bảo mật bằng việc tuânthủ theo những quy định quốc gia và nội bộ liên quan đến việc bảo mật các thông tin này
Quyền 4: Quyền được xem xét chính thức các khiếu nại và kháng cáo
Trong trường hợp đối tượng nộp thuế cho rằng mình không được hưởng các quyền lợi theo đúng quy định của pháp luật hoặc không đồng ý với CRA về các vấn
đề liên quan đến thuế hoặc phạt thì đối tượng nộp thuế có quyền yêu cầu xem xét hồ
sơ của họ Tuy nhiên, tiền lãi cho các khoản nợ thuế vẫn phát sinh trong giai đoạn này Trong một số trường hợp đặc biệt thì cơ quan thuế vẫn có quyền thu thuế ngay
cả khi đối tượng nộp thuế đã thực hiện thủ tục khiếu nại hoặc kháng cáo
Nhân viên CRA chịu trách nhiệm tiến hành một cách đầy đủ, chuyên nghiệp
và khách quan thủ tục xem xét những tranh chấp phát sinh từ:
Trang 38Nếu đối tượng nộp thuế không đồng ý với kết luận của nhân viên thuế đó thì
có thể kháng cáo hoặc yêu cầu xem xét lại kết luận đó tại tòa án cấp có thẩm quyền, trong một số trường hợp là Tòa án thương mại quốc tế Canada (Canada International Trade Tribunal)
Quyền 5: Quyền được đối xử một cách chuyên nghiệp, lịch sự và công bằng
Đối tượng nộp thuế có quyền được đối xử một cách lịch sự và tận tình CRA
có nghĩa vụ cung cấp cho đối tượng nộp thuế dịch vụ tốt nhất có thể, bao gồm việc tôn trọng, lắng nghe, giải thích và thông báo quyền cho những đôí tượng nộp thuế Trong trường hợp đối tượng nộp thuế cho rằng mình không được đối xử theo những cách trên thì có quyền khiếu nại theo thủ tục khiếu nại do CRA quy định
Quyền 6: Quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, rõ ràng và kịp
thời
Quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, rõ ràng và kịp thời với thứ ngôn ngữ dễ hiểu Đối tượng nộp thuế được cung cấp thông tin thông qua điện thoại, thư tín, và trực tiếp Các nhân viên giải đáp thông tin của CRA được đào tạo
và trang bị những công cụ hiệu quả để việc trả lời thông tin của họ được nhanh chóng và chính xác
Quyền 7: Đối với đối tượng nộp thuế là cá nhân thì có quyền không nộp số
thuế thu nhập đang bị tranh cãi cho đến khi khiếu nại được xem xét một cách công bằng
Tuy nhiên, lãi suất vẫn phát sinh trong giai đoạn này và trong một số trường hợp đặc biệt thì CRA vẫn thu thuế ngay cả khi khiếu nại hoặc kháng cáo đã được nộp
Quyền 8: Quyền được áp dụng quy định pháp luật phù hợp
Trang 39CRA có nghĩa vụ tiến hành một số các biện pháp để đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách phù hợp đối với tất cả đối tượng nộp thuế, bao gồm:
phân tích một cách hệ thống các lỗi thường gặp của đối tượng nộp thuế
và tiến hành các bước ngăn chặn các lỗi này;
đào tạo nhân viên thuế;
ban hành các chỉ thị; và
xem xét lại các công bố kỹ thuật để đảm bảo sự chính xác
Quyền 9: Quyền khiếu nại và cung cấp thông tin điều tra
Đối tượng nộp thuế được lắng nghe và tạo cơ hội giải thích tình huống của mình Cơ quan thuế có nghĩa vụ xử lý các khiếu nại một cách kịp thời và được cung cấp thông tin điều tra Khiếu nại có thể liên quan đến việc cơ quan thuế cung cấp những thông sai lệch và nghèo nàn, thái độ, lỗi hoặc sự chậm trễ của nhân viên thuế
Quyền 10: Quyền giảm thiểu thời gian, công sức và chi phí phát sinh từ việc
thực thi quy định pháp luật về thuế
Đối tượng nộp thuế được quyền giảm thiểu và đơn giản hóa công việc thời gian và công sức liên quan đến việc nộp thuế; cải thiện phương thức và thời gian liên lạc với cơ quan thuế, góp ý hoàn thiện các quy trình nội bộ của cơ quan thuế
Quyền 11: Quyền yêu cầu cơ quan chịu trách nhiệm
Đối tượng nộp thuế có quyền yêu cầu cơ quan thuế phải chịu trách nhiệm đối với những việc họ làm Khi ra quyết định, cơ quan thuế có nghĩa vụ giải thích quyết định đó và giải thích quyền và nghĩa vụ cho đối tượng nộp thuế CRA chịu trách nhiệm thông qua quốc hội vì họ phải báo cáo với quốc hội về việc thực thi pháp luật
và kết quả làm việc của mình
Mỗi năm CRA đệ trình quốc hội báo cáo hàng năm và tóm tắt kế hoạch kinh doanh hợp nhất Bản kế hoạch nêu rõ những mục tiêu cho thời kỳ 3 năm và bản báo cáo mô tả quá trình thực hiện những mục tiêu này Tổng kiểm toán quốc gia (Auditor General of Canada) sẽ đánh giá tính khách quan và độ tin cậy của báo cáo hàng năm và kiểm toán báo cáo tài chính của CRA
Quyền 12: Quyền được miễn giảm các khoản phạt và lãi suất theo quy định
của pháp luật do hoàn cảnh đặc biệt
Trang 40Đối tượng nộp thuế được xem xét miễn trừ một phần hoặc toàn bộ các khoản phạt và lãi suất nếu không thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế do những trường hợp bất khả kháng
Các hình thức miễn giảm:
- Miễn giảm toàn bộ hoặc một phần các khoản phạt và lãi suất;
- Chấp nhận khoản nộp chậm, bổ sung hoặc thu hồi (chỉ đối với thuế thu nhập);
- Nhận các khoản hoàn thuế thu nhập quá thời gian 3 năm (chỉ đối với cá nhân
và ủy thác theo di chúc)
Những tình huống sau được hưởng miễn giảm:
- tai họa như lũ lụt hay hỏa hoạn;
- lỗi của công bố của CRA hoặc những thông tin cung cấp không chính xác của nhân viên CRA;
- tình trạng gián đoạn dịch vụ như đình công trong ngành bưu chính;
Quyền 14: Quyền được cảnh báo về những vi phạm liên quan đến thuế.
Đối tượng nộp thuế được cảnh báo kịp thời về những vi phạm về thuế CRA cảnh báo với đối tượng nộp thuế về những hành vi vi phạm và những hậu quả mà đối tượng nộp thuế có thể phải gánh chịu
Quyền 15: Quyền cử người đại diện
Đối tượng nộp thuế được quyền cử người đại diện cho mình để giải quyết các vấn đề liên quan đến thuế
Ngoài ra, Luật về sự công bằng của Canada được ban hành vào năm 1991, với ý định làm cho hệ thống thuế “đơn giản, dễ dàng và công bằng hơn” và cơ quan quản lý nguồn thu Canada “tốt và nhẹ nhàng hơn” Mục đích cơ bản của văn bản pháp luật này để Cơ quan quản lý thu nhập Canada thực hiện việc giúp đỡ người nộp thuế Vì vậy, cơ quan quản lý thu nhập Canada có thể cho phép người nộp thuế