Trong quá trình hoạt động, rất nhiều giao dịch diễn ra giữa các thành viên trong cùng một tập đoàn, ví dụ như các giao dịch về mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ, chuyển giao công nghệ,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 603850
TP HỒ CHÍ MINH THÁNG 9 NĂM 2006
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhgiêm vụ nghiên cứu của đề tài 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Kết cấu luận văn 8
CHƯƠNG I: NHẬN DIỆN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.1 Một số nét chính về tổ chức và hoạt động của các công ty đa quốc gia khi tiến hành đầu tư vào các nước khác và vấn đề chuyển giá 1.1.1 Về khái niệm công ty đa quốc gia (MNCs) 9
1.1.2 Hình thức tổ chức, chiến lược kinh doanh của MNCs để tối đa hoá lợi nhuận 12
1.2 Quan điểm, nhận định của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế và các nước về chuyển giá 1.2.1 Một số nét chính về Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) 15
1.2.2 Nội hàm khái niệm về chuyển giá 17
1.2.3 Vì sao các MNCs có thể tránh thuế bằng chính sách chuyển giá 25
1.3 Nhận thức và vấn đề đặt ra về chuyển giá ở Việt Nam hiện nay 34
CHƯƠNG II: CÁC DẤU HIỆU CỦA CHUYỂN GIÁ VÀ BIỆN PHÁP CHỐNG CHUYỂN GIÁ 2.1 Nguyên tắc giá thị trường trong giao dịch giữa các bên liên kết (Arm’s length price) 39
2.2 Dấu hiệu của chuyển giá – thủ thuật chuyển giá 2.2.1 Dấu hiệu của chuyển giá – thủ thuật chuyển giá 44
2.2.2 Các phương pháp định giá chuyển giao giao dịch nội bộ - biện pháp kiểm soát chuyển giá của OECD và các nước 59
Trang 3i Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập (CUP) 64
ii Phương pháp giá bán lại (resale price method) 66
iii Phương pháp giá vốn cộng lãi 67
iv Phương pháp so sánh lợi nhuận (Transactional net margin method) 69
v Phương pháp tách lợi nhuận (Profit-split method) 70
CHƯƠNG III: PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM – VIỆC ÁP DỤNG TRÊN THỰC TẾ - MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 3.1 Hoạt động chuyển giá của một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam 3.1.1 Kê khai tăng giá đầu vào đối với tài sản góp vốn trong liên doanh hay tài sản là vốn đầu tư khi thành lập doanh nghiệp 73
3.1.2 Chi phí quảng cáo, tiếp thị cao 76
3.1.3 Khai tăng giá nguyên vật liệu nhập khẩu 76
3.1.4 Chi phí quản ly, chi phí cho nhân viên người nước ngoài quá cao 78
3.1.5 Chi phí dịch vụ trả cho công ty mẹ cao 79
3.1.6 Gia công, mua bán lòng vòng giữa các chi nhánh và công ty mẹ 79
3.1.7 Công ty mẹ ở nước ngoài cho chi nhánh ở Việt Nam vay không tính lãi suất (Intererst free loans) 79
3.2 Pháp luật về kiểm soát chuyển giá của Việt Nam 3.2.1 Phạm vi áp dụng 80
3.2.2 Phương pháp định giá chuyển giao 94
3.2.3 Các qui định khác 100
3.3 Áp dụng pháp luật về kiểm soát chuyển giá – một số đề xuất 102
3.3.1 Xác định các doanh nghiệp cần kiểm tra 104
3.3.2 Cơ sở dữ liệu sử dụng để so sánh 106
3.3.3 Qui trình điều tra chuyển giá 107
3.3.4 Xử lý vi phạm 111
3.3.5 Nội dung của báo cáo giao dịch liên kết 114
3.3.6 Thỏa thuận trước về giá chuyển giao, phương pháp định giá chuyển giao trong giao dịch với các bên liên kết với cơ quan thuế (APAs) 115
3.3.7 Qui định về tỷ lệ vốn tự có của chủ sở hữu doanh nghiệp và vốn vay 116
3.3.8 Tăng cường hợp tác, trao đổi thông tin với cơ quan thuế các nước 116
3.3.9 Hoàn thiện qui định của pháp luật về kiểm soát chuyển giá phù hợp với qui định của các nước 117
Kết luận 118 Tài liệu tham khảo
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Chuyển giá là một vấn đề khá mới đối với Việt Nam, vì vậy trong quá trình nghiên cứu, tác giả gặp một số khó khăn nhất định về tài liệu tham khảo trong nước Ngoài ra do hạn chế về thời gian và một số nguyên nhân khác, luận văn chưa đạt được sự hoàn chỉnh như mong muốn Tác giả rất mong nhận được những đóng góp quý báu của thầy cô và các chuyên gia trong lĩnh vực chuyển giá để góp phần hoàn thiện hơn pháp luật về kiểm soát chuyển giá ở Việt Nam và việc áp dụng trong thực tế
Tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành đến giáo viên hướng dẫn Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Hảo vì những chỉ dẫn, những ý kiến đóng góp quý báu của thầy để giúp tác giả hoàn thành bản Luận văn Nhân đây tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến quí thầy cô của trường đại học Luật Tp.HCM đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình tác giả học tập và nghiên cứu tại trường, cũng như các chuyên gia về chuyển giá của công ty PricewaterhouseCoopers đã hướng dẫn và trao đổi kinh nghiệm thực tế với tác giả về những vấn đề liên quan để giúp cho luận văn có giá trị thực tiễn
Trang 5MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Theo thống kê, khoảng hơn 60% 1 các giao dịch thương mại về hàng hoá và dịch vụ trên thế giới được thực hiện trong nội bộ các công ty đa quốc gia (Multi-national companies – MNCs) Chính vì vậy chính sách về chuyển giá – giá giao dịch nội bộ của các công ty này là một vấn đề được quan tâm từ rất lâu Từ thập niên 1970, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (tên viết tắt tiếng Anh là “OECD”) đã thành lập một bộ phận nghiên cứu về vấn đề này vì tính quan trọng của vấn đề Sự cần thiết phải nghiên cứu, thỏa thuận về thực hiện việc kiểm soát giá giao dịch nội bộ của các công ty xuất phát từ thực tế
là có sự không thống nhất về quan điểm, qui định liên quan cũng như việc áp dụng những qui định này giữa các quốc gia thành viên của OECD hoặc của những nước có liên quan đến giao dịch giữa các bên liên kết Việc không thống nhất này có thể dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng - một vấn đề đáng quan tâm trong thương mại quốc tế mà có thể ảnh hưởng đến các khu vực đầu
tư khác nhau, hoặc nếu không kiểm soát được vấn đề chuyển giá một cách hợp lý thì dẫn đến việc một số nước sẽ bị thất thu thuế - vấn đề này cũng ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và giảm tính cạnh tranh lành mạnh
Một số chuyên gia của OECD kết luận rằng2, một nước dù giàu hay nghèo cũng đều không muốn mất hay giảm doanh thu thuế vì bất cứ lý do gì Tuy nhiên nếu nước nào cũng bảo lưu quyền đánh thuế trên tất cả các khoản thu nhập phát sinh trên lãnh thổ nước mình hoặc của đối tượng cư trú thuế của nước mình không kể nơi phát sinh thu nhập thì sẽ dẫn đến đánh thuế trùng gây rất nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư trong nước cũng như giảm tính hấp
Trang 6dẫn trong thu hút đầu tư nước ngoài – một vấn đề mà các nước đang phát triển rất quan tâm Do đó việc tránh đánh thuế trùng cũng như kiểm soát giá chuyển giao của các giao dịch nội bộ là hai vấn đề quan trọng cần giải quyết
để có thể dung hoà được mâu thuẫn trên Từ năm 1979 OECD3 đã có một bản báo cáo rất quan trọng về vấn đề chuyển giá và năm 1995 OECD đã soạn thảo
và đưa ra hướng dẫn cụ thể hơn về kiểm soát chuyển giá và mẫu của hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Việc tồn tại, hoạt động và sự đóng góp của các công ty đa quốc gia vào sự phát triển kinh tế thế giới là một thực tế không thể phủ nhận Trong quá trình hoạt động, rất nhiều giao dịch diễn ra giữa các thành viên trong cùng một tập đoàn, ví dụ như các giao dịch về mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ, chuyển giao công nghệ, cung cấp khoản vay cho các công ty con, v.v…Báo cáo của OECD 1979 lưu ý rằng giá của các giao dịch này thường không phải là giá thị trường – các công ty trong cùng một tập đoàn khi giao dịch với nhau thì thường sẽ có những chính sách, chiến lược để mang lại lợi ích tối đa cho cả tập đoàn chứ không phải từng đơn vị riêng lẽ, vì vậy giá giao dịch này thường rất khác so với giá trong giao dịch với các bên độc lập (các công ty, đối tác không cùng một tập đoàn)
Các nước quan tâm và có chính sách cụ thể liên quan đến vấn đề chuyển giá
từ rất lâu 4:
Achentina: từ những năm 1932 đã ban hành một số qui định về chuyển giá Qui định này được sửa đổi, bổ sung vào năm 1997 và chủ yếu tập trung vào giá giao dịch của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của các công
ty đa quốc gia;
Australia: vấn đề kiểm soát chuyển giá qui định trong luật thuế thu nhập
Trang 7 Trung quốc: qui định trong luật thuế thu nhập, luật đầu tư năm 1991;
Pháp: qui định trong Bộ luật thuế từ năm 1933 và được sửa đổi vào năm 1996;
Indonesia: qui định bởi luật thuế năm 1983 v.v
Trong gần 30 năm mở cửa tiếp nhận đầu tư nước ngoài, tình hình đầu tư vào Việt Nam của các công ty đa quốc gia ngày càng tăng, cơ quan thuế Việt Nam cũng đã nhận thức được vấn đề chuyển giá của các công ty này Tuy nhiên qui định của pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề kiểm soát chuyển giá cũng như việc áp dụng còn hạn chế, chưa đầy đủ và hợp lý
Thuật ngữ chuyển giá chỉ mới xuất hiện từ những năm gần đây trong một số thông tư (“TT”) của Bộ tài chính (“BTC”) như TT 74/TC- BTC ngày 20 tháng 10 năm 1997, TT 89/1999/TT-BTC, ngày 16 tháng 7 năm 1999, TT 13/2001/TT-BTC (“TT13”) ngày 8 tháng 3 năm 2001
Tuy nhiên từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 khi TT13 bị thay thế bởi TT 128/2003/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2003 của BTC, vấn đề này lại không được qui định Năm 2005, với việc BTC ban hành TT 117/2005/TT-BTC qui định “hướng dẫn xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết”, lần đầu tiên vấn đề kiểm soát giá giao dịch nội bộ được chính thức qui định trong một văn bản pháp luật riêng khá đầy
đủ về mặt chuyên môn Tuy nhiên cũng trong năm 2005, BTC xác nhận rằng hiện nay, trình độ của cơ quan, cán bộ thuế Việt Nam chưa đủ để kiểm soát vấn đề này
Hơn nữa TT 117 chỉ tập trung qui định các phương pháp định giá chuyển giao mà chưa qui định qui trình điều tra chuyển giá như thế nào Điều này có thể dẫn đến việc áp dụng khó thống nhất, tuỳ tiện, gây phiền hà, khó khăn cho doanh nghiệp
Trang 8Thật ra, theo một số chuyên gia của OECD5, vấn đề chuyển giá không chỉ liên quan đến thuế, mà còn liên quan đến chính sách kinh doanh của công ty, chiến lược kinh doanh của công ty chẳng hạn vấn đề xâm nhập thị trường mới, v.v… Ngoài ra nhiều MNCs tổ chức theo mô hình hạch toán độc lập trong từng khu vực, vì vậy giá cả giao dịch có thể hoàn toàn mặc cả, thỏa thuận như với các giao dịch độc lập Một số chuyên gia còn cho rằng chuyển giá còn có ích trong một số khía cạnh nào đó, chẳng hạn như giúp các MNCs xác định hiệu quả đầu tư ở từng khu vực hoặc tránh bị đánh thuế hai lần, v.v… Tất cả những vấn đề này chưa được nhìn nhận một cách toàn diện và khách quan ở Việt Nam hiện nay
Đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO, sẽ càng có nhiều công ty con của các tập đoàn đa quốc gia được thành lập tại Việt Nam các giao dịch giữa các công ty này sẽ rất nhiều, vấn đề kiểm soát chuyển giá phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc đối xử quốc gia (National treatments -NTs) của WTO
Chính vì vậy việc nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề chuyển giá – lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm một số nước và đề xuất một số giải pháp pháp lý liên quan đến kiểm soát chuyển giá là cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, tác giả đã chọn nghiên cứu vấn đề trên làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học với mong muốn sẽ khái quát được vấn đề chuyển giá về mặt lý luận, thực tiễn kinh nghiệm các nước từ đó đưa ra được một số đề xuất có thể áp dụng trên thực tiễn ở Việt Nam Đề tài được thực hiện nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa pháp luật về kiểm soát chuyển giá ở Việt Nam và việc áp dụng trên thực tế
5
Transfer pricing – keeping it at arm’s length price – John Neighbour- OECD Centre for Tax policy and Administration
Trang 92 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu được đặt ra vì cho đến nay, trường ta cũng như các trường luật khác chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này
Chỉ có một đề tài của Viện Khoa Học, Công nghệ và Môi Trường Tp.HCM
về chuyển giá của các doanh nghiệp ở TP HCM6 nhưng lại đứng trên điểm của cơ quan thuế, khẳng định hơn 70% doanh nghiệp nước ngoài tại Tp Hồ Chí Minh kê khai lỗ giả Có thể nói do được tiến hành với mục đích là chống thất thu thuế trên địa bàn Tp HCM nên đề tài có phạm vi hẹp chưa dựa trên
lý luận về chuyển giá một cách toàn diện Hơn nữa đề tài này được thực hiện
từ năm 1999, trong khi đó pháp luật Việt nam đã có nhiều thay đổi từ đó đến nay
Một số đề tài, bài báo ở nước ngoài hoặc của các chuyên viên tư vấn chủ yếu
là nghiêng về thực tiễn ở các nước khác hoặc nhằm bảo vể quyền lợi của các khách hàng cho nên nói chung không khách quan hoặc không có giá trị tham khảo nhiều cho Việt Nam
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu của đề tài được xác định là nhận diện, phân tích, trình bày, góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn chính yếu về chuyển giá và pháp luật về kiểm soát chuyển giá và bước đầu đề xuất một số giải pháp cho việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam
6
Đề tài vấn đề chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Tp.HCM năm 1999- Chương trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế- chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Ngọc Thanh
Trang 10Nhằm đạt được mục đích nói trên, những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra của đề tài được xác định là:
- Nhận diện xác định và làm rõ bản chất của việc chuyển giá; các dấu hiệu của chuyển giá, các biện pháp chống chuyển giá;
- Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới trong việc điều chỉnh pháp luật
về chuyển giá và các biện pháp kiểm soát chuyển giá;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các qui định pháp luật của Việt Nam có liên quan đến việc kiểm soát chuyển giá, trong đó có xem xét tính hợp lý, tính khả thi và thực tế của các qui định pháp luật này;
- Đề xuất một số giải pháp cần thiết cho việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan của Việt Nam, trong đó đề xuất một số giải pháp liên quan đến qui trình điều tra việc chuyển giá, việc áp dụng các qui định của pháp luật một cách khách quan, hiệu quả cũng như giới thiệu một quan điểm khác về vấn đề chuyển giá: liệu có phải tất cả các giao dịch của các công ty liên kết đều nhằm mục đích trốn thuế ở Việt Nam hay không? hay đó chỉ là một trong những chiến lược kinh doanh nhằm phân chia lợi nhuận và xác định được hiệu quả kinh doanh của các công ty con ở các khu vực đầu tư khác nhau
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhằm giải quyết thành công những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra của đề tài, các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong luận văn này gồm những phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của triết học Mác Lê Nin, các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, thống
kê, phương pháp so sánh
Trong chừng mực nhất định, luận văn cũng đã sử dụng thông tin và dữ liệu từ thực tiễn để minh họa cho những kết luận và kiến giải khoa học
Trang 115 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Kết cấu của luận văn bao gồm phần mở đầu, ba chương và tài liệu tham khảo
Chương I: Nhận diện về hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia Chương II: Các dấu hiệu của chuyển giá và biện pháp chống chuyển giá Chương III: Pháp luật về kiểm soát chuyển giá của Việt Nam – việc áp dụng
trên thực tế và một số đề xuất
Trang 12
CHƯƠNG I
NHẬN DIỆN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA
CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
1.1 Một số nét chính về tổ chức và hoạt động của các cơng ty đa quốc gia khi tiến hành đầu tư vào các nước khác và vấn đề chuyển giá
1.1.1 Về Khái niệm cơng ty đa quốc gia
Cĩ thể nĩi chuyển giá liên quan chủ yếu đến giao dịch của các thành viên của các cơng ty đa quốc gia (sau đây được gọi tắt là MNCs)ở các nước khác nhau nhằm mục đích tối đa hố lợi nhuận của một tập đồn qua việc giảm số thuế phải nộp ở những nước cĩ thuế suất cao bằng chính sách chuyển giá Tuy nhiên vấn đề giá giao dịch nội bộ hay chuyển giá cũng được đặt ra đối với giao dịch của các bên liên kết cĩ trụ sở ở một quốc gia Để hiểu rõ hơn về chính sách chuyển giá của các MNCs, trước hết cần đề cập đến một số nét chính về tổ chức của các MNCs thơng qua hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngồi của các cơng ty này
Cĩ nhiều cách tiếp cận khác nhau về đầu tư và đầu tư cũng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như:
Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Việc phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp căn cứ vào mối quan
hệ giữa người chủ sở hữu bỏ vốn đầu tư và người quản lý sử dụng vốn đầu
tư
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia vào việc quản lý và sử dụng vốn Hoạt động đầu tư trực tiếp được tiến hành dưới hình thức như nhà đầu tư thành lập cơng ty 100% vốn của một nhà đầu tư;
Trang 13liên doanh với nhà đầu tư khác để thành lập công ty liên doanh; đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC); BOT; BTO; BT; hoặc mua lại cổ phần, phần vốn góp từ công ty khác để trở thành thành viên của công
ty, v.v…
Đầu tư gián tiếp là hình tức đầu tư mà trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là những chủ thể khác nhau Nói cách khác, người bỏ vốn không trực tiếp quản lý và sử dụng vốn Đầu tư gián tiếp được tiến hành dưới các hình thức như mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc đầu tư vào các loại giấy tờ có giá khác; đầu tư vào các quỹ đầu tư hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác
Đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài (đầu tư quốc tế)
Đầu tư trong nước là những hoạt động đầu tư giới hạn trong phạm vi một quốc gia, là hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nội địa
Đầu tư nước ngoài là hoạt động đầu tư vượt quá giới hạn của một quốc gia
và do đó được thực hiện bởi các nhà đầu tư từ nhiều nước khác nhau
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế mà người chủ sở hữu vốn sẽ trực tiếp điều hành, quản lý và sử dụng vốn bỏ ra khi đầu tư vào các quốc gia khác Vốn FDI bao gồm một phạm vi rộng lớn với nhiều loại nguồn lực tài chính và phi tài chính khác nhau Đối với các doanh nghiệp FDI số vốn đầu tư thường rất lớn và được huy động từ nhiều nguồn khác nhau Vì vậy FDI thường được tiến hành bởi các MNCs Vậy MNCs là gì?
Các nhà kinh tế học vẫn chưa thống nhất với nhau về định nghĩa MNCs Có rất nhiều đại lượng khác nhau để xác định một MNC và MNCs cũng có thể được
Trang 14xem xét dưới nhiều gốc độ khác nhau chẳng hạn như chủ sỡ hữu; cách thức tổ chức quản lý; chiến lược kinh doanh và mô hình tổ chức7, v.v…
Quyền chủ sở hữu: xét về tiêu chuẩn quyền chủ sở hữu một số ý kiến cho rằng đây là tiêu chuẩn quan trọng Một công ty được xem là MNCs khi trụ
sở chính hoặc công ty mẹ thuộc sở hữu của các nhà đầu tư (công dân) của từ hơn hai quốc gia trở lên Chẳng hạn như tập đoàn Shell và tập đoàn Unilever thuộc quyền sở hữu của các nhà đầu tư của hai nước Anh và Hà Lan là những ví dụ điển hình của MNCs Tuy nhiên nếu xét theo tiêu chuẩn này thì có rất ít công ty được xem là MNCs Có rất nhiều MNCs thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư của một quốc gia Tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, một MNC có thể là một tập đoàn đa quốc gia của Mỹ hoặc tập đoàn đa quốc của một nước khác Do vậy, yếu tố quyền sở hữu không phải
là yếu tố quyết định để xác định một MNC
Cách thức tổ chức quản lý: Có ý kiến cho rằng, một công ty được xem là MNC nếu các nhà quản lý cao cấp của trụ sở chính là công dân của nhiều nước khác nhau Thông thường, các nhà quản lý của trụ sở chính là công dân của nước mà công ty đó mang quốc tịch (home country), và vì vậy cũng
có rất ít công ty đáp ứng được tiêu chuẩn này
Chiến lược kinh doanh: MNC là một công ty có chiến lược toàn cầu hóa lợi nhuận
Một số chuyên gia còn cho rằng một MNC có thể có chiến lược kinh doanh như tập trung lợi về cho công ty mẹ ở chính quốc (nước đầu tư) hoặc vì một
số lý do nào đó, lợi nhuận sẽ giữ lại ở những công ty con ở những nước tiếp nhập đầu tư để tái đầu tư vào một quốc gia khác
Theo Franklin Root 8, một MNC là một công ty mà:
Trang 15 Tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các chi nhánh (công ty con, các bên liên kết-affiliate) đặt ở nhiều nước khác nhau;
Trực tiếp kiểm soát các hoạt động của các công ty con này;
Điều hành, chỉ đạo xuyên quốc gia các chiến lược sản xuất, kinh doanh, tiếp thị, tài chính, nhân sự, v.v…
Như vậy có thể thấy rằng không có sự thống nhất về mặt lý thuyết khi định nghĩa một MNC Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc (UNs)9, MNC là công ty có
sở hữu hay kiểm soát khả năng sản xuất hoặc dịch vụ ở bên ngoài biên giới của một nước mà công ty đó có trụ sở chính (home country)
Từ khái niệm trên có thể rút ra đặc trưng của các MNCs là sản phẩm của sự liên minh giữa các nhà đầu tư lớn; mô hình tổ chức là công ty mẹ (parent company)
và công ty con (subsidiary); hình thành từ công ty mang quốc tịch của một quốc gia Như vậy FDI là hình thức hoạt động chủ yếu của các MNCs và là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược kinh tế toàn cầu của các MNCs
1.1.2 Hình thức tổ chức, chiến lược kinh doanh của MNCs để tối đa hóa
lợi nhuận
a Địa điểm đầu tư ra nước ngoài
Để mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài bằng cách tiến hành một loạt các hoạt động như tổ chức sản xuất kinh doanh, tiếp thị, nghiên cứu, đầu tư tài chính và tổ chức nhân sự , v.v…, trước hết công ty mẹ phải xác định địa điểm (quốc gia) phù hợp cho mỗi hoạt động Chẳng hạn có một nguyên tắc cơ bản10 để
Trang 16đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất ra nước ngoài là chi nhánh sẽ được đặt ở những nước mà doanh số bán sản phẩm của một công ty chiếm hơn 25% tổng doanh số của công ty Đó là lý do vì sao hầu hết các hoạt động sản xuất của các MNCs hàng đầu đều đặt ở Mỹ, một thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới Điều này
có thể nhận thấy rỏ qua số thống kê sau11:
24 trong số năm mươi MNCs hàng đầu thế giới đặt trụ sở tại Mỹ; trong khi
đó chỉ có 9 công ty đặt tại Nhật và 6 đặt tại Đức;
6 trong số 10 công ty dầu khí hàng đầu thế giới đặt trụ sở tại Mỹ;
Tất cả 10 tập đoàn nhà hàng, thức ăn lớn đều đặt tại Mỹ
Như vậy các MNCs không phải chọn ngẫu nhiên một quốc gia nào đó để đầu tư Việc chọn địa điểm để đầu tư là kết quả của kế hoạch lâu dài và cẩn trọng của các nhà quản lý của công ty Thông thường đầu tư sẽ chuyển từ khu vực mang lại lợi nhuận thấp sang khu vực đầu tư mang lại lợi nhuận cao hơn Khi thị phần trong nước của một công ty đã bảo hòa thì chắc chắn công ty phải tìm kiếm thị trường mới ở nước ngoài
Việc nghiên cứu các MNCs như là một kênh chính cho việc chuyển đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đặc biệt là đầu tư ở những nước đang phát triển là một vấn đề đáng quan tâm từ hơn hai thập kỷ qua
b Nghĩa vụ thuế
Tiến hành hoạt động kinh doanh ở nhiều nước, các MNCs phải chịu thuế ở nhiều nước khác nhau với mức thuế suất khác nhau do hệ thống thuế của các nước khác nhau rất nhiều và rất phức tạp
11
Multinational Corporations- IOWA State University, Department of Economics- website –
www.econ.iastate.edu/classes/econ355/choi/mul.htm
Trang 17Sự khác nhau của hệ thống thuế các nước ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược kinh doanh, đến các quyết định của các công ty nhằm tối đa hóa lợi nhuận Chiến lược kinh doanh của các MNCs được hoạch định trên cơ sở như địa điểm đặt trụ sở của chi nhánh (subsidaries), vấn đề tài chính, và đặc biệt là chính sách chuyển giá – giá của hàng hóa, dịch vụ trao đổi giữa các chi nhánh với nhau hoặc với công
Ngược lại việc thất thu thuế xảy ra khi các MNCs áp dụng các điều khoản của pháp luật các nước, áp dụng chính sách chuyển giá để kê khai lỗ ở những nước
có thuế suất cao và chỉ báo cáo có lợi nhuận ở những nước có thuế suất thấp hoặc tiến hành đầu tư vào nước thứ ba từ chi nhánh đặt tại những nước có thuế suất rất thấp hoặc thuế suất bằng 0% (Tax havens), hoặc những nước có DTAs với nước thứ ba Chẳng hạn, hiện nay hầu hết các MNCs của Mỹ tiến hành đầu tư vào Việt Nam thông qua các chi nhánh đặt tại những nước có DTAs với Việt Nam như Singapore, Malaysia, Trung Quốc, v.v… vì Mỹ và Việt Nam chưa ký DTAs và như vậy khi đầu tư dưới hình thức này, các công ty Mỹ sẽ có thể áp dụng DTAs
để không bị đánh thuế trùng trên khoảng thu nhập từ chi nhánh ở Việt Nam vì công ty mẹ của chi nhánh ở Việt Nam sẽ là chi nhánh ở Singapore, Malaysia, Trung Quốc chứ không phải công ty ở Mỹ
Trang 18Một số nước không đánh thuế trên khoản lợi nhuận thu được từ nước ngoài của các công ty đặt tại nước đó cho đến khi nào lợi nhuận đó chưa được chuyển ra nước ngoài (ví dụ như chuyển về cho công ty mẹ) Điều này rất có lợi cho chính sách tài chính, lưu chuyển tiền tệ của các MNCs khi đặt chi nhánh tại các nước này để đầu tư vào một nước thứ ba (passive investments) OECD cũng có rất nhiều báo cáo, nghiên cứu về vấn đề này12 Tax havens và chuyển giá là hai vấn
đề luôn tồn tại trong hoạt động của các MNCs nhằm giảm tối đa chi phí thuế phải trả Vấn đề sẽ được phân tích rõ hơn trong phần dưới đây
1.2 Quan điểm, nhận định của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế và các nước về chuyển giá
1.2.1 Một số nét chính về Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (tên viết tắt theo tiếng Anh là OECD) 13
OECD được thành lập từ 1960 Trụ sở chính đặt tại Paris Hiện nay có 30 nước
là thành viên của OECD OECD được thành lập nhằm nghiên cứu và tư vấn cho công ty, nhà đầu tư của các nước thành viên trong việc mở rộng đầu tư ra nước ngoài OECD còn là trung tâm phối hợp giữa các nước thành viên và các nước không phải là thành viên của OECD
OECD tiến hành hoạt động nghiên cứu tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế
xã hội như thuế, tài chính, thương mại, đầu tư, môi trường, cạnh tranh, v.v… thông qua các ủy ban tư vấn trong từng lĩnh vực, từ đó đưa ra những chính sách hướng dẫn hợp lý nhằm giúp các nước đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao nhất trên cơ sở hạn chế những rào cản thương mại và không phân biệt đối xử
Trang 19OECD thực chất chỉ là một tổ chức tư vấn vì vậy các hướng dẫn, quyết định của
tổ chức này không có giá trị pháp lý bắt buộc thi hành đối với các nước thành viên Tuy nhiên các hướng dẫn này có ảnh hưởng rất lớn đến các cơ quan chính phủ liên quan của các nước
Hoạt động nghiên cứu và tư vấn về thuế của OECD do ủy ban phụ trách các vấn
đề về tài chính (Committee of Fiscal Affaires - CFA)14 đảm nhiệm Thành viên của ủy ban này bao gồm các quan chức, cán bộ ngành thuế của các nước thành viên Cơ quan này nghiên cứu rất nhiều các vấn đề về thuế quốc tế liên quan đến thương mại quốc tế và đầu tư như trốn thuế, quản lý thuế, so sánh hệ thống thuế các nước, và nổi bật nhất là vấn đề chuyển giá
Trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay, cả cơ quan thuế các nước và các MNCs phải đương đầu với rất nhiều vấn đề về thuế quốc tế, CFA đã đưa ra rất nhiều nghiên cứu liên quan và khuyến khích áp dụng những tiêu chuẩn và nguyên tắc
cơ bản về thuế15 Điều này góp phần giảm bớt rủi ro do áp dụng chính sách thuế không hợp lý cũng như giải quyết được ảnh hưởng của sự khác nhau về luật pháp
và việc áp dụng pháp luật của các nước
Toàn cầu hóa và sự phức tạp của các hoạt động đầu tư quốc tế làm cho vấn đề thuế liên quan đến thương mại quốc tế và đầu tư ngày càng trở thành một vấn đề quan trọng Khi thương mại quốc tế mở rộng, các MNCs ngày càng phát triển và trở thành những thế lực kinh tế thật sự Mỗi MNC có một chiến lược độc lập để vươn tới nền kinh tế toàn cầu Kế hoạch áp dụng chính sách liên quan đến thuế là một trong những vấn đề quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế và đầu tư Vấn đề thuế liên quan đến giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ xuyên biên giới ngày càng trở nên phức tạp Trong giai đoạn đầu
Trang 20này của sự phát triển kinh tế toàn cầu, chuyển giá được xem là vấn đề chính trong tương lai của môi trường kinh doanh
Chính vì vậy từ năm 1979 OECD đã có một bản báo16 về vấn đề chuyển giá và khuyến cáo rằng do giao dịch giữa nội bộ các MNCs chiếm một tỷ lệ rất lớn trong giao dịch thương mại quốc tế nên các MNCs phải áp dụng nguyên tắc giá thị trường cho các giao dịch này Năm 1995, OECD đưa ra một bản báo cáo17
khác hướng dẫn thêm về vấn đề này, chủ yếu tập trung vào hai vấn đề định
hướng giao dịch và chiến lược phân chia lợi nhuận của các MNCs Các báo cáo
của OECD đưa ra những nguyên tắc chung trong việc xác định giá trong các giao dịch nội bộ của các MNCs Hướng dẫn này nhằm giúp cho việc áp dụng thống nhất nguyên tắc định giá chuyển giao cho cả các cơ quan thuế trong việc kiểm soát việc chuyển giá và các MNCs trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Như đã nói ở trên, các hướng dẫn của OECD không bắt buộc thực hiện đối với các đối tượng liên quan nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến cơ quan thuế các nước thành viên do hầu hết các nước không có những qui định cụ thể liên quan đến vấn đề chuyển giá, và vì vậy hầu hết các nước thực hiện theo hướng dẫn của OECD
Như vậy có thể thấy OECD có một vai trò rất quan trọng trong kiểm soát chuyển giá quốc tế
1.2.2 Nội hàm khái ni ệm về Chuyển giá
Chuyển giá (transfer pricing) hay giá giao dịch nội bộ là giá giao dịch liên quan đến việc mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ hoặc chuyển giao tài sản giữa các bên liên kết Khái niệm này cho thấy sự khác nhau cơ bản giữa những giao dịch
Trang 21được thực hiên giữa các bên độc lập là các giao dịch được thực hiện giữa các bên liên kết như sau (1):
OECD đưa ra một số điều kiện để xác định thế nào là các bên liên kết trong điều
9 của mẫu Hiệp định tránh đánh thuế hai lần18 Theo đó các bên được coi là có quan hệ liên kết khi:
Một công ty (một bên) của một nước (nước ký kết Hiệp định) tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào công ty của nước kia (nước ký kết Hiệp định kia), hoặc;
Một hoặc nhiều công ty của nước ký kết cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào công ty hoặc nhiều công ty của nước nước ký kết kia
Khi một bên kiểm soát một hoặc nhiều bên hay một hoặc nhiều bên chịu sự kiểm soát của một hay nhiều bên thì giá cả trong giao dịch hàng hóa dịch vụ giữa các
18
OECD Model Income Tax Convention arts 9(1)(a), 9(1) (b), International transfer pricing – OECD guidelines, appendix II – 1997 OECD model convention
Giá thị trường so với giá giao dịch độc lập
Nguyên tắc giá thị trường (arm’s length price) trong giao dịch nội bộ
Bên độc lập X
Bên độc lập Y
MNC X Singapore
MNC X Việt Nam
Giá thị trường
Giá chuyển giao nội bộ - chuyển giá – transfer pricing
Trang 22bên không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận của một bên mà là tất cả các bên Do đó nhà đầu tư hay công ty mẹ sẽ lựa chọn chiến lược giá cả có lợi nhất để mang lại lợi nhuận cao nhất cho cả tập đoàn
Điều kiện để xác định các bên liên kết ở các nước được qui định cụ thể hơn hướng dẫn của OECD19 Chẳng hạn như các nước qui định cụ thể tỷ lệ vốn hoặc
cổ phần chiếm bao nhiêu phần trăm trong một công ty bởi một công ty khác hay bên thứ ba; tỷ lệ vốn vay chiếm bao nhiêu phần trăm thì các bên đươc coi là có quan hệ liên kết; quyền chỉ đạo, bổ nhiệm ban điều hành, lãnh đạo vào một công
ty khác; hoặc hai cơ sở kinh doanh có cùng tỷ lệ ban điều hành, lãnh đạo chiếm trên 50% hoặc cùng được điều hành bởi một ban lãnh đạo, v.v…Theo qui định của Trung Quốc20 các bên được coi là có quan hệ liên kết khi:
Một cơ sở kinh doanh nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp từ 25% trở lên vốn
cổ phần hoặc tài sản của cơ sở kinh doanh kia;
Một cơ sở kinh doanh cho một cơ sở kinh doanh khác vay một khoản bằng hoặc hơn 50% vốn tự có của cơ sở kinh doanh kia, hoặc 10 trong tổng số các khoản vay của một cơ sở kinh doanh được bảo lãnh bởi một cơ sở kinh doanh khác;
Hơn 50% thành viên ban lãnh đạo cao cấp của một cơ sở kinh doanh như Tổng giám đốc, giám đốc, các trưởng phòng được chỉ định hoặc bổ nhiệm bởi một cơ sở kinh doanh khác;
Một cơ sở kinh doanh chỉ có thể tiến hoạt động sản xuất kinh doanh khi được phép sử dụng tài sản vô hình, hoặc quyền sở hữu trí tuệ như sở hữu công nghiệp, giải pháp kỹ thuật, v.v… của một cơ sở kinh doanh khác;
Toàn bộ nguyên vật liệu, phụ tùng, v.v… sử dụng cho hoạt động sản xuất của một cơ sở kinh doanh được cung cấp hoặc kiểm soát bởi một cơ sở kinh doanh khác;
Trang 23 Một cơ sở kinh doanh kiểm soát việc mua bán sản phẩm được sản xuất bởi một cơ sở kinh doanh khác;
Những quan hệ khác liên quan đến việc can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất, hoạt động, giao dịch của một cơ sở kinh doanh khác; hoặc các quan hệ liên kết liên quan đến lợi ích bao gồm quan hệ giữa các thành viên gia đình, v.v…
Các qui định về xác định các bên liên kết được đưa ra dựa trên thực tế hoạt động của các MNCs Trong quá trình hoạt động có rất nhiều các giao dịch được thực hiện giữa các bên liên kết, hoặc giao dịch trong nội bộ của các MNCs (inter-company transactions) như mua bán tài sản cố định hữu hình, máy móc thiết bị, mua bán tài sản vô hình, giao dịch tài chính- vay, mượn, phân chia chi phí và lợi nhuận, các giao dịch khác Các giao dịch này có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Vì vậy điều quan trọng để xác định là có hay không giao dịch giữa các bên liên kết phải dựa vào bản chất của giao dịch chứ không phải dựa vào việc bên nào trả tiền hay xuất hóa đơn hay phải có ký kết hợp đồng theo cách thông thường
Vì sao người ta lại đưa ra khái niệm “chuyển giá” để đề cập đến giá giao dịch hàng hóa dịch vụ của các bên liên kết mà không gọi là giá mua bán (theo giá thị trường) như các giao dịch hàng hóa, dịch vụ giữa các bên độc lập như minh họa (1)? Nếu giá giao dịch giữa các bên liên kết hay trong nội bộ các MNCs là giá thị trường – tức là giá sản phẩm hàng hóa dịch vụ theo thỏa thuận khách quan giữa các bên độc lập và trong quan hệ mua bán này không bên nào chịu ảnh hưởng hay bị chi phối, kiểm soát của bên kia hoặc bên thứ ba thì vấn đề chuyển giá không được đặt ra
Chuyển giá là một trong những vấn đề gây tranh cãi và phức tạp nhất trong hoạt động của các MNCs Khi các MNCs sử dụng giá chuyển giao nội bộ như là một thủ thuật để tối đa hóa lợi nhuận và giảm chi phí thuế thì vấn đề chuyển giá được
Trang 24đặt ra Các MNCs thực hiện thủ thuật này như thế nào? Khi một bên của một MNC ở một nước chuyển giao hàng hóa, dịch vụ, bản quyền, v.v… cho một bên trong cùng một MNC, bất cứ giá nào cũng có thể được đưa ra cho cùng một giao dịch, có thể gọi đó là “giá ảo” Tức là giá được định theo ý chủ quan của các bên (Arbitrary figures)21 chứ không phải là giá thị trường Giá này không phản ánh đúng tỷ lệ chi phí và lợi nhuận của các bên Mục đích của việc định giá chuyển giao này là nhằm giảm tối đa hoặc thậm chí không nộp một đồng thuế nào ở những nước có mức thuế suất cao Các minh họa dưới đây sẽ giúp làm rõ mối liên hệ giữa chuyển giá nhằm mục đích lẩn tránh nghĩa vụ thuế của các MNCs:
Sau đây chúng ta sẽ xem xét việc định giá hàng hóa trong giao dịch (2) qua một
sốtrường hợp cụ thể sau:
a) Trường hợp 1
21
Transfer pricing and taxation – by Manfred Davidmann
Thị trường của nước nơi công mẹ đặt trụ sở chính – Market’s home country
Công ty mẹ - parent company (Home country)
Chi nhánh ở nước ngoài Subsidiary – Host country
Giá bán lại hàng hóa (hh)
Trang 25Chi nhánh ở nước ngoài (S)– host country
Công ty mẹ - (P) home country
Tổng cộng
Mua hh từ
P giá 100 (1)
Bán lại hh cho P giá X
Lợi nhuận sau thuế 80 40 120
Giải thích: Trong trường hợp này chi nhánh (S) mua hàng hóa từ công ty mẹ (P)
ở nước ngoài với giá 100/hh sau đó đóng gói, chế biến lại hàng hóa này và xuất khẩu lại cho P với giá 200/hh S kiếm được một khoản lợi nhuận trước thuế là
100 P nhập khẩu hàng hóa từ S với giá 200/hh sau đó bán lại với giá 300/hh vì vậy lợi nhuận trước thuế của P cũng là 100 Tổng lợi nhuận trước thuế của P và S
là 200
Tuy nhiên do mức thuế suất ở hai nước khác nhau nên lợi nhuận sau thuế của P
và S không giống nhau Thuế suất mà S phải nộp là 20% do đó chi phí thuế của S
là 20 và lợi nhuận sau thuế của S là 80; P phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất là 60%, vì vậy chi phí thuế của P là 60, lợi nhuận sau thuế của
P là 40 Tổng số thuế mà P và S phải nộp là 80 và tổng lợi nhuận sau thuế của P
và S là 120 Như vậy trong giao dịch này, S đóng góp vào lợi nhuận của MNC là
80, công ty mẹ P đóng góp vào lợi nhuận của MNC 40 Mặc dù tổng lợi nhuận sau thuế của MNC chiếm tới 40% giá bán hàng hóa (120 so với 300) – một con
số tài chính đáng hài long Tuy nhiên P có thể tăng lợi nhuận hơn nữa bằng cách quyết định định ra giá chuyển giao khác với S với bất cứ giá nào mà P muốn
b) Trường hợp 2
Trang 26Chi nhánh ở nước ngoài (S)– host country
Công ty mẹ - (p) home country
Tổng cộng
Mua hh từ
P giá 100
Bán lại hh cho P giá X
= 280
Bán lại hh mua
từ S giá 300 Lợi nhuận trước
thuế
Thuế suất 20% 60%
Số thuế phải nộp 36 12 48
Lợi nhuận sau thuế 144 8 152
Giải thích: Trong trường hợp 2 chi nhánh (S) tăng giá bán hàng hóa cho P lên
280 (so với 200 ở trường hơp 1) Việc điều chỉnh giá này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận trước thuế của cả S và P, bằng cách này lợi nhuận trước thuế được chuyển
từ P – nơi có thuế suất cao (60%) sang S- nơi có thuế suất thấp hơn (20%)
Kết quả là tổng cộng số thuế phải trả của MNC này ít hơn trường hợp 1: 36 + 12
= 48 (so với 80 của trường hợp 1) Như vậy MNC giảm được khoản thuế phải nộp là = 80 – 48 = 32 Vì vậy tổng lợi nhuận sau thuế của MNC cũng tăng lên:
144 (S) + 8 (P) = 152 (so với 120 của trường hợp (1))
Tổng lợi nhuận sau thuế của MNC trong trường hợp này chiếm 51% giá bán hàng hóa (152 so với 300) Như vậy bằng cách thay đổi giá chuyển giao theo một giá tùy ý - hay nói cách khác là chuyển giá, tổng lợi nhuận sau thuế của MNC này đã tăng từ 120 lên 152, ngược lại doanh số thu thuế của nước P bị giảm
Trang 27c) Trường hợp 3
Chi nhánh ở nước ngoài (S)– host country
Công ty mẹ - (p) home country
Tổng cộng
Mua hh từ
P giá 100
Bán lại hh cho P giá X
Lợi nhuận sau thuế 160 0 160
Giải thích: Trong trường hợp 3 chi nhánh (S) tăng giá bán hàng hóa cho P lên
300 (so với 200 ở trường hơp 1) Như vậy P mua hàng hóa với giá 300 và bán lại cũng với giá 300 – tức là lợi nhuận trước thuế của P = 0 Tổng số thuế mà MNC phải nộp trong trường hợp này là 40 (so với 80 và 48 ở hai trường hợp trước) MNC giảm được số thuế phải nộp so với 1 là 80 – 40 = 40 Do giảm số thuế phải nộp nên tổng lợi nhuận sau thuế của MNC cũng tăng theo đó, 160 so với 120 và
152 của hai trường hợp trước Như vậy toàn bộ lợi nhuận của MNC được chuyển sang cho S và P không phải nộp một đồng thuế nào
Có thể thấy bằng chính sách chuyển giá, MNC đã tăng lợi nhuận sau thuế lên rất nhiều Thủ thuật này có thể được thực hiện mà không cần phải thay đổi quy trình, hoạt động hay bất cứ giá trị gia tăng nào của MNC Các MNCs chỉ việc thay đổi các con số trong sổ sách kế toán của từng đơn vị Những trường hợp xem xét trên đây là trường hợp điển hình, đơn giản của chuyển giá Do các bên của các MNCs
có rất nhiều giao dịch với nhau, nên trên thực tế thủ thuật chuyển giá còn nhiều phức tạp và tinh vi hơn như nâng giá các yếu tố đầu vào, giảm giá đầu ra, vì vậy không chỉ lẩn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp mà cả thuế giá trị gia tăng trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa cho công ty mẹ ở nước ngoài; nâng giá tài sản vốn góp, v.v…
Trang 28Lợi nhuận qua việc chuyển giá đến từ đâu? Rõ ràng là từ việc lẩn tránh nghĩa vụ thuế mà nếu giao dịch trong điều kiện thị trường bình thường các MNCs phải nộp Nói một cách khác bằng chính sách chuyển giá, các MNCs đã giảm thiểu tối
đa nghĩa vụ thuế của mình và điều này là hợp pháp cho đến khi nào pháp luật các nước chưa có những qui định để ngăn chặn hoạt động chuyển giá
Có thể nói chính sách chuyển giá của các MNCs ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
ổn định và cân đối của doanh thu thuế ở các nước bị mất doanh thu thuế do chuyển giá Khi một MNC lẩn tránh nghĩa vụ thuế do chuyển giá trong khi các khoản chi tiêu của chính phủ không thay đổi, vậy chính phủ phải tìm nguồn để bù đắp cho khoản thất thu thuế này Nguồn bù đắp này lấy từ đâu nếu không phải là
từ những đối tượng nộp thuế khác Do đó khi các MNCs tăng lợi nhuận thì những người khác (ví dụ như cá nhân) phải nộp nhiều thuế hơn Nói một cách khác việc tăng lợi nhuận bằng chuyển giá của các MNCs chống lại lợi ích của một quốc gia
và công dân của nước đó
1.2.3 Vì sao các MNCs có thể tránh thuế bằng chính sách chuyển giá
Ở gốc độ khác, trong các trường hợp xem xét ở trên, khi số thuế S trả cho nước S tăng thì số thuế P trả cho nước P giảm Nghĩa là hậu quả của chuyển giá là khi chính phủ một nước được lợi về doanh thu thuế thì chính phủ nước kia sẽ mất doanh thu thuế Vì vậy trong khi một số nước muốn có những qui định chống chuyển giá thì những nước khác, đặc biệt là những nước có thuế suất thấp hoặc không đáng kể (Tax havens) lại phản đối qui định này Đây là vấn đề mà OECD gọi là cạnh tranh về thuế suất giữa các nước (tax competition) để thu hút đầu tư22 Tax havens chính là những thiên đường cho các MNCs mở công ty hoặc đặt các chi nhánh (trường hợp thuế suất ở nước công ty mẹ cao hơn tax havens – hoặc chưa ký DTAs với nước được chọn đầu tư như đã đề cập trong phần 1.1.2
22
Transfer pricing and tax havens: mending the LDC revenue net by Charles E McLure, Jr
OECD 1998
Trang 29chương này) để đầu tư vào nước thứ ba nơi có thị phần tốt nhưng thuế suất cao
và tìm cách chuyển lợi nhuận về các chi nhánh này bằng cách chuyển giá
Như vậy có thể nói chính sự khác nhau trong chính sách, pháp luật của các nước
là điều kiện để cho các MNCs thực hiện chính sách chuyển giá Giả sử mức thuế suất và ưu đãi về thuế của các nước không khác nhau hoặc khác nhau không nhiều thì chính sách chuyển giá của các MNCs không có ý nghĩa gì, không mang lại lợi ích gì Trong khi các thiên đường thuế ở Panama, Bahamas, Cayman Islands, Scheyselle, v.v… vẫn còn thì việc chuyển giá sẽ vẫn tiếp tục được thực hiện bởi các MNCs bằng nhiều thủ thuật khác nhau
a Nguyên tắc cơ bản của hệ thống thuế quốc tế
Để phân tích việc chuyển giá của các MNCs thông qua Tax havens, trước hết cần
đề cập sơ nét về nguyên tắc chung trong việc áp dụng thuế đối với khoản thu nhập của đối tượng nộp thuế của hầu hết các quốc gia trên thế giới
Thông thường tất cả các khoản thu nhập ở nước ngoài (cross internantional borders) của đối tượng nộp thuế sẽ phải chịu thuế theo nguyên tắc nơi phát sinh thu nhập (source country) hoặc nơi mà người (hoặc công ty) có thu nhập là đối tượng cư trú thuế (home country), ví dụ như công dân của một nước hoặc nước nơi công ty mang quốc tịch Khi cả hai nơi đều đánh thuế trên thu nhập này thì đối tượng nộp thuế bị đánh thuế trùng Tuy nhiên, luật thuế của các nước cũng như các hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập (gọi tắt là Hiệp định tránh đánh thuế hai lần – DTAs) đều có những điều khoản tránh đánh thuế hai lần cũng như ngăn ngừa trốn lậu thuế bằng các điều khoản qui định về tăng cường trao đổi thông tin về nguồn thu nhập của đối tượng nộp thuế23
23
Xem mẫu hiệp định OECD – Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các nước
Trang 30Theo DTAs, việc tránh đánh thuế hai lần có thể thực hiện bằng những biện pháp
sau (hầu hết các biện pháp này đều được qui định trong TT 133/2004/TT-BTC
ngày 21 tháng 12 năm 2004 của BTC hướng dẫn thực hiện DTAs mà Việt Nam
đã ký với các nước Hiện nay Việt Nam ký DTAs với 44 nước, trong đó 38 hiệp
định đã có hiệu lực)
Biện pháp khấu trừ toàn bộ (foreign tax credit): nội dung của biện pháp này
là trường hợp đối tượng cư trú của một nước (ví dụ Việt Nam) có thu nhập
và đã nộp thuế tại nước ký kết hiệp định với Việt Nam và theo qui định của
hiệp định khoản thu nhập đó phải nộp thuế ở cả hai nước thì khi kê khai số
thuế phải nộp ở Việt Nam đối với khoản thu nhập này, đối tượng cư trú
được khấu trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài vào số thuế phải nộp ở Việt
Nam Tuy nhiên trong mọi trường hợp số thuế đã nộp ở nước ngoài được
khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp ở Việt Nam theo Luật thuế Việt
Nam
Ví dụ 1: một công A của Việt Nam có một chi nhánh tại Thái Lan, trong
năm 2006 có thu nhập chịu thuế là 1000, trong đó có 300 là thu nhập chịu
thuế phát sinh từ chi nhánh ở Thái Lan, thuế suất thu nhập doanh nghiệp của
công ty A tại Việt Nam là 28% và ở Thái Lan là 30% thì việc tránh đánh
thuế hai lần được thực hiện như sau:
Số thuế công ty A đã nộp tại Thái Lan 300 x 30% = 90
Số thuế công ty A phải nộp ở Việt Nam đối với phần thu nhập
phát sinh tại Thái Lan theo pháp luật Việt Nam
300 x 28% = 84
Số thuế phải nộp ở Việt Nam trên tổng thu nhập và khấu trừ số
thuế đã nộp ở nước ngoài
(1000 x 28%) –
84 = 196
Vậy nếu thuế suất của Thái Lan thấp hơn thuế suất của Việt Nam thì công
ty A có lợi hơn trong việc khấu trừ thuế
Trang 31 Biện pháp khấu trừ thuế khoán (tax sparing): Trường hợp đối tượng cư trú của một nước chẳng hạn như Việt Nam có thu nhập tại nước ký kết hiệp định với Việt Nam và theo qui định của hiệp định khoản thu nhập phải nộp thuế ở cả hai nước, nhưng theo qui định của nước kia khoản thu nhập đó được miễn, giảm thuế tại nước này như một ưu đãi về thuế, thì khi kê khai tính thuế tại Việt Nam đối với khoản thu nhập đó, Việt Nam vẫn cho trừ vào
số thuế phải nộp tại Việt Nam khoản thuế lẽ ra phải nộp ở nước ngoài nhưng thực tế không phải nộp do được miễn, giảm theo pháp luật nước kia
Tuy nhiên trong mọi trường hợp số thuế đã nộp ở nước ngoài được khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp ở Việt Nam theo Luật thuế Việt Nam
Ngoài hai biện pháp trên, tùy theo qui định tại từng Hiệp định và pháp luật của từng nước, biện pháp khấu trừ thuế gián tiếp còn được áp dụng để tránh tình trạng đánh thuế hai lần
Những biện pháp tránh đánh thuế hai lần và các ví dụ nêu trên đây chỉ là những qui định chung theo hiệp định mẫu của OECD Việc áp dụng trên thực tế phải căn cứ vào qui định của từng DTA đối với từng loại thu nhập khác nhau Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của Luận văn này không đi sâu phân tích về DTA, nguyên tắc áp dụng DTA, v.v…
Các vấn đề nêu trên đây nhằm chỉ ra mối liên quan giữa việc áp dụng DTA, tax havens và chuyển giá Không phải tất cả các loại thu nhập của đối tượng nộp thuế đều phải chịu thuế ở cả hai nước ký kết, tức nước nơi phát sinh thu nhập và nước nơi đối tượng nộp thuế là đối tượng cư trú thuế Một số khoản thu nhập, tùy theo từng DTA sẽ chỉ chịu thuế tại một trong hai nơi Hơn nữa với việc áp dụng biện pháp tránh đánh thuế hai lần, các MNCs sẽ chọn đầu tư ra nước thứ ba từ những nước có ký kết DTA với nước đó hoặc ưu tiên thực hiện giao dịch giữa các bên liên kết trong MNCs mà các bên liên kết đó đặt ở những nước có ký kết DTA
Đó là lý do vì sao các công ty mẹ ở Mỹ (như đã nêu phần 1.1.2 chương này)
Trang 32không tiến hành đầu tư trực tiếp, hoặc cung cấp hàng hóa dịch vụ trực tiếp từ Mỹ vào Việt Nam mà lại thông qua chi nhánh tại Singapore, Malaysia, v.v… để đầu
tư hoặc cung cấp dịch vụ, hàng hóa vào Việt Nam Vì Mỹ và Việt Nam chưa ký DTA, nhưng Việt Nam và Singapore đã ký DTA, Mỹ và Singapore đã ký kết DTA Hơn nữa thuế thu nhập doanh nghiệp của Singapore thấp hơn cả Mỹ và Việt Nam Nếu đầu tư trực tiếp từ Mỹ vào Việt Nam, công ty này sẽ nộp thuế cho khoản thu nhập tại Việt Nam cả ở Việt Nam và ở Mỹ nếu như Luật thuế Mỹ không cho phép khấun trừ số thuế đã nộp tại Việt Nam vì không có DTA
b Tax havens và chuyển giá
b.1 Tax havens là gì? Trong Luận văn này Tax havens được đề cập đến như là những nước có những ưu đãi đặc biệt về thuế đối với nguồn thu nhập nhận được
từ những công ty, cá nhân đặt tại những nước này, không kể thu nhập đó là từ hoạt động trong nước hay từ nước ngoài Chính sách ưu đãi đặc biệt của các nước này về thuế nhằm thu hút những công ty, cá nhân đặt trụ sở tại những nước này
vì những lợi ích khác như tạo ra việc làm, phát triển hệ thống cơ hạ tầng của nền kinh tế, v.v…
OECD chỉ ra những đặc điểm của Tax havens dựa trên những ưu đãi về thuế và những yếu tố khác như sau24:
Mức thuế suất thuế thu nhập rất thấp hoặc thậm chí là 0%;
Không đánh thuế thu nhập trên khoảng thu nhập từ nước ngoài của các công
ty (nước ngoài) khi nào thu nhập này còn giữ lại tại các nước trên;
Không minh bạch hóa và không trao đổi thông tin với những nước khác: giữ
bí mật về thu nhập của các công ty và cá nhân có trụ sở, tài khoản tại những nước này;
24
Transfer pricing and tax havens: mending the LDC revenue net by Charles E McLure, Jr
OECD (1998, ¶ 49 52, 59)
Trang 33 Không cần những công ty đăng ký hoạt tại những nước này hoặc cá nhân có lợi ích kinh tế tại đây phải chứng minh sự tồn tại và hoạt động thật sự (công
ty tồn tại trên giấy – paper companies); không cấm những đối tượng này lợi dụng chính sách ưu đãi của những nước này để gây ra ảnh hưởng thương mại xấu
Dựa vào những tiêu chí trên OECD từng đưa ra danh sách đen (black list) của khoảng 47 nước có chính sách ưu đãi về thuế được xem là tạo ra Tax havens25 Trong số các thành viên của OECD, Thụy Sĩ, Luxembourge (và một số nước khác) được liệt vào danh sách Tax havens, một số nước khác không phải là thành viên của OECD cũng nằm trong danh sách trên gồm có Aruba, Bermuda, Bahrain, Cayman Islands, đảo Sip (Cyprus), Đảo Man (the Isle of Man), Malta, Mauritius, Seychelles, San Marino, v.v… Ngoài ra báo cáo đặc biệt của nhà báo chuyên về lĩnh vực thuế hơn 25 năm, tiến sĩ Gerhard Kurtz về 218 tax havens trên toàn thế giới bao gồm nhiều nước, vùng lãnh thổ, các bang và tiểu bang của các nước khác nhau26
b.2 Tax havens và việc lẩn tránh nghĩa vụ thuế của MNCs: khi các MNCs lợi dụng chính sách ưu đãi thuế của những nước này để trốn thuế, hoãn việc nộp thuế thì khi đó các nước này được xem là Tax havens MNCs có thể sử dụng Tax havens để trốn thuế, hoãn nộp thuế bằng nhiều phương pháp khác nhau chứ không phải chỉ là chuyển giá tùy thuộc vào mức thuế suất và phương thức đánh thuế ở nước mà MNCs là đối tượng cư trú thuế
Đầu tư thụ động (passive investment): khi nước mà MNCs là đối tượng cư trú thuế đánh thuế trên thu nhập toàn cầu (worldwide income) mà MNCs nhận được – tức không miễn thuế cho phần thu nhập kiếm được ở nước ngoài mà chỉ cho khấu trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài (như đã trình bày tại
Trang 34điểm a ở trên) thì các MNCs không chuyển thu nhập này về chính quốc mà
sẽ chuyển về cho chi nhánh đặt tại những tax havens – với tư cách là công
ty mẹ (holding company) – hoặc công ty nắm giữ phần vốn của những chi nhánh ở nước thứ ba, do những nước mà các holding company này đặt trụ
sở không đánh thuế trên phần thu nhập nhận được từ nước ngoài cho đến khi nào thu nhập chưa được chuyển về công ty mẹ Như vậy bằng cách này trụ sở chính của MNCs chưa phải nộp thuế (hoãn nộp thuế) cho phần thu nhập chuyển vào cho chi nhánh ở Tax havens vì MNCs chưa thực nhận được thu nhập này Tiếp theo đó các MNCs có thể sẽ không chuyển thu nhập này về chính quốc mà sẽ dùng thu nhập này để tiếp tục đầu tư đi các nước khác, mở rộng và phát triển MNCs Như vậy chức năng chính của các chi nhánh đặt tại Tax havens trong trường hợp này chỉ là trung tâm nhận và phân phối lợi nhuận nhằm giúp trụ sở chính không phải nộp thuế tại chính quốc
Đầu tư chủ động (active investment): ngoài phương thức đầu tư thụ động như trên các MNCs kiểm soát hoạt động của các chi nhánh ở nước ngoài
Trang 35cũng có thể thiết lập những chức năng hoạt động cụ thể cho các chi nhánh đặt tại Tax havens như:
Chi nhánh tại Tax havens (kiểm soát hoạt động của các chi nhánh ở nước khác –controlled foreign corporations - CFCs)27 sở hữu toàn bộ những tài sản vô hình như bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, v.v…
và là trung tâm tổ chức các hoạt động sản xuất, phân phối và các hoạt động khác, sở hữu sản phẩm làm ra cuối cùng đồng thời kiếm được phần lớn lợi nhuận;
CFCs giao việc sản xuất hàng hóa cho bên liên kết hoặc không liên kết ở nước khác Bên sản xuất này chỉ kiếm được một khoản phí rất nhỏ cho việc sản xuất do tài sản vô hình thuộc CFCs (giống như hoạt động gia công)
Sản phẩm được phân phối thông qua các bên liên kết khác ở những nước khác với tư cách là các nhà phân phối hoặc đại lý Bên phân phối này cũng chỉ kiếm được một khoảng hoa hồng rất nhỏ cho việc phân phối
Tất cả những hoạt động hậu cần như hóa đơn, chứng từ, vận chuyển, v.v… cũng có thể được CFCs giao cho các bên liên kết khác với một khoản phí khiêm tốn
Như vậy, cũng như trường hợp đầu tư thụ động, toàn bộ lợi nhuận trong trường hợp này cũng được chuyển về cho chi nhánh đặt tại Tax havens và công ty mẹ không phải nộp thuế tại chính quốc khi chưa nhận được khoản thu nhập này, trừ khi Luật thuế tại những nước này có những qui định chống lại chính sách này đó là sẽ đánh thuế kể cả khi thu nhập chưa được chuyển về chính quốc
b.3 Tax havens và chuyển giá: thông qua việc định giá chuyển giao không theo giá thị trường trong giao dịch giữa các bên liên kết, các MNCs đã chuyển lợi nhuận từ nước có thuế suất cao sang nước có thuế suất thấp
27
Transfer pricing and tax havens: mending the LDC revenue net by Charles E McLure, Jr
Trang 36Điều này cho thấy thường những nước có thuế suất thuế thu nhập cao (như Việt Nam, Trung Quốc, v.v…) chịu nhiều ảnh hưởng của việc chuyển giá hơn những nước có thuế suất thấp Vậy nên chăng các nước, đặc biệt là những nước đang phát triển thường có mức thuế suất cao chống lại việc chuyển giá bằng cách hạ mức thuế suất? Giải pháp này trên thực tế cho thấy chưa đủ và cũng không hợp lý vì chính sách thuế và phương thức đánh thuế, thu thuế mỗi nước quá khác nhau Hơn nữa các nước đang phát triển (như Việt Nam) cũng không thể “cạnh tranh” với Tax haven bằng cách hạ mức thuế suất bằng 0%
OECD nhận định rằng28 Tax havens và chuyển giá, từng vấn đề hoặc khi MNCs kết hợp cả hai sẽ gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu thuế của các nước đặc biệt là những nước đang phát triển Vì các nước đang phát triển gặp khó khăn hơn những nước khác rất nhiều (những nước phát triển) trong việc điều chỉnh, tìm kiếm nguồn bắp cho khoản thuế bị mất Hơn nữa những nước đang phát triển chưa đủ khả năng để đối phó với vấn đề chuyển giá và Tax havens OECD cũng chỉ rỏ ba vấn đề chính
mà Tax havens gây ra là29:
Tạo điều kiện cho MNCs đặt holding company như “két đựng tiền” của các MNCs thông qua hình thức đầu tư thụ động ;
Tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế trốn thuế bằng cách giữ bí mật thông tin về tài khoản; và vì vậy
Gây ảnh hưởng đến việc thu thuế của những nước khác
OECD đã có những hành động tích cực và đưa ra một số giải pháp hướng dẫn cho vấn đề chuyển giá –Tax havens Nội dung này sẽ được đề cập ở chương sau
Trang 371.3 Nhận thức và vấn đề đặt ra về chuyển giá ở Việt Nam hiện nay
Chuyển giá như đã phân tích ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu thuế của quốc gia và vì vậy ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia Do đó chuyển giá quốc tế là vấn đề được chính phủ các nước, đặc biệt là những nước đang phát triển rất quan tâm Chính phủ Việt Nam, cụ thể là BTC và Tổng cục thuế, cơ quan Hải quan và cơ quan thuế địa phương cũng dành sự quan tâm, trăn trở
về vấn đề này rất nhiều Các cơ quan hữu quan của Việt Nam từ lâu đã nhận thức đươc vấn đề chuyển giá ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thông qua nhiều hình thức và thủ thuật khác nhau Vì vậy nhiều Thông tư do BTC ban hành hướng dẫn về thuế đối với đối tượng này đều qui định biện pháp chống chuyển giá
Thông tư 74 TC/TCT (“Thông tư 74”) ngày 20 tháng 10 năm 1997 qui định
về chế độ thuế áp dụng đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến biện pháp chống chuyển giá Thông tư qui định để đảm bảo xác định đúng nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp, trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra báo cáo quyết toán thuế của các doanh nghiệp, nếu phát hiện có các vấn đề bất hợp lý
về giá hoặc tỷ suất lợi nhuận trong giao dịch giữa các bên liên kết, cơ quan thuế sẽ áp dụng các biện pháp chống chuyển giá qui định trong Thông tư để xác định đúng lợi tức chịu thuế của doanh nghiệp Thông tư qui định ba phương pháp (mà theo hướng dẫn của OECD là ba phương pháp được xem là
“truyền thống”) trong việc định giá thị trường trong giao dịch của các bên liên kết
Tiếp theo Thông tư 89/1999/TT-BTC (“Thông tư 89”) ngày 16 tháng 7 năm
1999 thay thế Thông tư 74 nêu trên cũng có qui định tương tự Thông tư 74
về biện pháp chống chuyển giá
Trang 38Thông tư 13/2001/TT-BTC ngày 8 tháng 3 năm 2001 thay thế Thông tư 89 cũng qui định tương tự hai Thông tư trên về biện pháp chống chuyển giá
Tuy nhiên khi Thông tư 13 bị thay thế bởi TT 128 /2003/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2003 của BTC hướng dẫn thực hiện nghị định 164/2003/NĐ-
CP của chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 vấn đề này lại không được qui định
Năm 2005, BTC ban hành Thông tư 117/2005/TT-BTC (“Thông tư 117”) qui định “hướng dẫn xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có liên kết” Đây là lần đầu tiên Việt Nam có văn bản pháp luật riêng qui định về vấn đề chuyển giá Thông tư 117 qui định năm phương pháp xác định giá thị trường trong giao dịch giữa các bên liên kết cũng như những vấn
đề khác liên quan Tuy nhiên nhìn chung Thông tư 117 chưa có những qui định cụ thể cần thiết khác
Mặc dù qui định của pháp luật liên quan đến việc kiểm soát chuyển giá chưa hoàn chỉnh, những cố gắng của các cơ quan chức năng Việt Nam cho thấy sự quan tâm đáng kể cũng như nhận thức được ảnh hưởng của chuyển giá đối với Việt Nam Hiện nay Tổng cục thuế đã thành lập một bộ phận chuyên trách về chuyển giá, một số cán bộ của BTC, Tổng cục thuế đã được cử đi nước ngoài nghiên cứu về chuyển giá và các cơ quan này cũng đã mời một số quan chức thuế từ Úc đến Việt Nam trao đổi kinh nghiệm, tư vấn cho cơ quan thuế Việt Nam kinh nghiệm, nghiệp vụ về kiểm soát chuyển giá BTC vừa qua cũng đã tổ chức tập huấn cho các cục thuế địa phương về kiểm soát chuyển giá theo qui định của Thông tư 117
Ngoài những cơ quan chuyên môn, các cơ quan, cá nhân khác của Việt Nam cũng rất quan tâm đến vấn đề chuyển giá
Trang 39Báo tuổi trẻ ngày 2 tháng 7 năm 2005 đã đăng bài với tiêu đề “ Con báo cáo
lỗ, mẹ hưởng lợi” Nội dung bài báo trích đăng số liệu do Cục thuế Tp Hồ Chí Minh cung cấp liên quan đến tình hình báo cáo tài chính và kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn
Tp Hồ Chí Minh Theo đó Phòng quản lý đầu tư nước ngoài của Cục thuế
Tp Hồ Chí Minh công bố trong hơn 1450 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Tp.HCM, chỉ có hơn 190 doanh nghiệp (tương đương 13%) báo cáo lãi 1260 doanh nghiệp còn lại (tương đương 87%) hạch toán thua lỗ hoặc đang trong giai đoạn triển khai dự án chưa sinh lời Những con
số này được trích từ báo cáo kê khai hạch toán thuế tính đến tháng 6 năm
2005 của tổng số các doanh nghiệp nói trên Đối với cơ quan thuế, đây là vấn
đề tồn tại từ nhiều năm qua của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tức là rất nhiều doanh nghiệp luôn kê khai lỗ Nghi ngờ sự thiếu trung thực trong số liệu kê khai trên, Cục thuế Tp Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hơn 50 doanh nghiệp trên và đã phát hiện nhiều doanh nghiệp khai man lợi nhuận trước thuế, xác định được số thuế truy thu là gần 60 tỉ đồng Cục thuế Tp Hồ Chí Minh xác định rằng tình trạng trên là do nhiều doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng chuyển giá để nâng chi phí đầu vào, hạ thấp giá đầu ra qua chiêu thức chuyển giá để làm giảm hoặc không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam vì thuế suất thuế thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam quá cao – 28% Vì vậy trong khi tại Việt Nam “con” cứ báo lỗ, tại bản xứ, “mẹ” cứ ung dung hưởng lợi
Tình trạng trên đang là thách thức đối với các cơ quan chức năng Việt Nam
vì dù đã ban hành Thông tư 117, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các Nghị định Thông tư về xử lý vi phạm về thuế đã có những qui định xử lý rất nghiêm khắc liên quan đến trốn thuế, khai man thuế nhưng theo các chuyên gia chuyên về lĩnh vực này phải ít nhất 5 năm nữa Việt Nam mới có thể điều tra nổi một công ty đa quốc gia có gian lận chuyển giá hay không và chính
Trang 40BTC cũng thừa nhận hiện nay năng lực, sự hiểu biết của cán bộ thuế về chuyển giá còn rất hạn chế
Ngoài báo Tuổi Trẻ, báo Việt Nam Net ngày 19 tháng 5 năm 2005 đăng bài liên quan đến vụ kiện nhau giữa ngành hải quan và 23 doanh nghiệp nhập khẩu ô tô về giá tính thuế hàng nhập khẩu trong đó đề cập “làm thế nào ngăn chặn chuyển giá và “down giá” Vụ việc này đã được đại biểu Trần Hữu Hậu nêu lên tại kỳ họp Quốc hội năm 2005 với băn khoăn làm sao ngăn được chuyển giá quốc tế, khai khống giá trị hàng nhập khẩu, làm tăng chi phí để giảm thuế thu nhập? làm sao ngăn chặn hành vi “down” giá để giảm thuế nhập khẩu và các nghĩa vụ tài chính khác?
Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 11 tháng 1 năm 2006 đăng bài với tiêu đề “
cơ quan thuế được ấn định thuế để chống chuyển giá” Bài báo nêu để đối phó với tình trạng chuyển giá trong giao dịch mua bán, trao đổi, cho thuê, chuyển giao hoặc chuyển nhượng tài sản giữa các bên liên kết, BTC đã đồng
ý cho cơ quan thuế ấn định mức giá sử dụng để kê khai, tính thuế, ấn định thu nhập chịu thuế hoặc số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong trường hợp cơ sở kinh doanh dựa vào tài liệu, dữ liệu và chứng từ không hợp lệ hoặc không nêu rõ nguồn gốc xuất xứ hàng hóa để xác định mức giá, tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc các tỷ suất sinh lời áp dụng trong giao dịch liên kết Cơ quan thuế cũng được quyền ấn định thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp nếu phát hiện cơ sở kinh doanh tạo ra giao dịch độc lập giả mạo hoặc sắp đặt lại các giao dịch liên kết thành các giao dịch độc lập, v.v…
Như vậy có thể thấy Việt Nam chủ yếu tập trung vào vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dù Thông tư 117 qui định áp dụng đối với cả doanh nghiệp trong nước nếu có giao dịch với các bên liên kết