1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em tại việt nam

79 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền Được Chăm Sóc Sức Khỏe Của Trẻ Em Tại Việt Nam
Tác giả ThS. Phạm Thị Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Thể loại Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, đề tài “Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em tại Việt Nam” nhằm mục tiêu tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện các quy định về quyền chăm sóc sức khỏ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE

CỦA TRẺ EM TẠI VIỆT NAM

Chủ nhiệm: ThS PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

chính trị 1966

hội và văn hóa 1966

Trang 3

MỤC LỤC Trang DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM

1.1 Khái quát về trẻ em và quyền của trẻ em 1

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của trẻ em 1

1.1.2 Đặc điểm quyền của trẻ em 3

1.1.3 Nội dung quyền của trẻ em 5

1.2 Khái niệm và nội dung quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 8

1.2.1 Khái niệm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 8

1.2.2 Nội dung quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 11

1.2.3 Mối liên hệ giữa quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và các quyền khác của trẻ em 14

1.3 Cơ sở pháp lý về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 16

1.3.1 Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 16

1.3.2 Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em 19

Trang 4

Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ

EM TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về quyền được chăm sóc sức khỏe

của trẻ em 24

2.1.1 Quy định pháp luật về bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của

trẻ em 27 2.1.2 Cơ chế pháp lý đảm bảo cho quyền được chăm sóc sức khỏe của

trẻ em 37

2.2 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về quyền được chăm sóc

sức khỏe của trẻ em tại Việt Nam 46 2.3 Nhận xét, đánh giá thực trạng quy định pháp luật về quyền được

chăm sóc sức khỏe của trẻ em 55

2.3.1 Đánh giá chung về thực trạng quy định pháp luật về quyền được

chăm sóc sức khỏe của trẻ em 55 2.3.2 Đánh giá chung về thực trạng thực hiện quy định pháp luật 58 2.3.2 Nguyên nhân của thực trạng trên 62

2.4 Một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về quyền được chăm sóc sức

khỏe của trẻ em 64

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người luôn là mục tiêu phấn đấu của loài người để đạt đến văn minh, tiến bộ Chính vì thế mà mỗi thành tựu của khoa học pháp lý về quyền con người là những chỉ dấu, là kết quả của quá trình đấu tranh của cả nhân loại để đạt đến sự tự do

và hạnh phúc thật sự Trong quyền con người thì trẻ em là một đối tượng đặc biệt, được xem là nhóm dễ bị tổn thương vì những đặc trưng về thể chất và tinh thần nên rất cần thiết phải có sự quan tâm và bảo vệ một cách hữu hiệu

Khi Công ước về quyền trẻ em (Convention on the Rights of the Child- CRC) được Liên hợp quốc thông qua thì Việt Nam ta đã nhanh chóng phê chuẩn Công ước này, khẳng định sự quan tâm sâu sát của Đảng và Nhà nước đối với quyền của trẻ em Không chỉ dừng lại ở việc phê chuẩn mà cơ quan lập pháp ở nước ta đã có sự thể chế hóa một cách nhanh chóng các quy định của Công ước và các quy định trong Hiến pháp thành các quy định pháp luật cụ thể có khả năng đi vào cuộc sống Đặc biệt đối với quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em, một lĩnh vực quyền rất quan trọng và thiết yếu đối với nhóm đối tượng này đã rất được chú trọng Nước ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện trong việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em cả ở việc ghi nhận quyền và đảm bảo bằng cơ chế pháp lý cụ thể

Thực tiễn thực hiện các quy định cho thấy trẻ em ở nước ta đã được chăm sóc sức khỏe một cách khá tốt với nhiều thành tựu nổi bật, từ trung ương cho đến địa phương Trẻ em được tiếp cận với các dịch vụ y tế, đặc biệt là các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, được chăm sóc sức khỏe ban đầu… Tuy nhiên, thực tiễn đó cũng không thể phủ nhận những hạn chế còn tồn tại ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tiếp cận một môi trường chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho trẻ em Nói cách khác, trẻ em vẫn chưa được đảm bảo trọn vẹn việc thực hiện quyền này vì nhiều nguyên nhân khác nhau

Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện,

rõ ràng để có những luận cứ khoa học chắn chắn và đề ra các giải pháp hoàn thiện các

Trang 6

2

quy định pháp luật trong việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em nói

chung Vì thế, đề tài “Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em tại Việt Nam” nhằm

mục tiêu tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện các quy định về quyền chăm sóc sức khỏe của trẻ em ở nước ta để không chỉ đảm bảo cho quyền này

mà còn hướng đến đảm bảo cho quyền của trẻ em nói chung một cách hiệu quả nhất, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn khách quan và của pháp luật quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu về quyền của trẻ em là một nội dung quan trọng trong pháp luật quốc tế và cả pháp luật quốc gia Ở nước ta trong những năm qua, quyền của trẻ em nói chung là một đối tượng quan trọng trong khoa học pháp lý Tuy nhiên, các tác giả tập trung nghiên cứu về quyền của trẻ em nói chung hoặc ở những nội dung tư pháp đối với trẻ em và việc đảm bảo quyền cho trẻ em Đó là các tham luận tại các hội thảo khoa

học, các bài viết trên các tạp chí khoa học Ví dụ như: Quyền trẻ em của Viện thông tin

khoa học và trung tâm nghiên cứu quyền con người- Học viện chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh, năm 1999; “Những điều cần biết về quyền trẻ em” của Nhà xuất bản chính trị quốc gia; “Bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên bằng pháp luật hình

sự” luận văn Thạc sỹ luật học của Đỗ An Bình, “Pháp luật hành chính về quyền của

người chưa thành niên” luận văn Thạc sỹ luật học của Lê Thị Ngọc Thanh, “Những điều cần biết về quyền của trẻ em” của Vũ Ngọc Bình…

Có thể thấy, các tác giả tiếp cận quyền trẻ em ở những góc độ khác nhau nhưng chủ yếu là quyền trẻ em một cách chung nhất Tuy nhiên về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em- một lĩnh vực quyền cụ thể rất quan trọng trong rất nhiều quyền mà trẻ

em được hưởng thì cho đến nay ở nước ta chưa có một quyển sách chuyên khảo hay một công trình nghiên cứu mang tính khái quát nào về thực trạng pháp luật ở nước ta,

cả trong quy định lẫn thực tiễn để có thể đánh giá và tìm ra giải pháp hoàn thiện

Trang 7

3

3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nhằm mục đích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến quyền của trẻ em nói chung và quyền được chăm sóc sức khỏe nói riêng Trong đó xuất phát điểm của vấn đề là nhu cầu thực tế phải bảo đảm cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em vì những đặc trưng về thể chất- vấn đề đã được thừa nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

Trên cơ sở lý luận trên, đề tài đi vào tìm hiểu thực trạng các quy định pháp luật

ở nước ta trong việc đảm bảo quyền chăm sóc sức khỏe của trẻ em Từ đó đề tài đánh giá về quá trình thể chế hóa các cam kết quốc tế trong pháp luật của nước nhà, tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại Trên cơ sở phân tích đánh giá một cách tổng thể, đề tài đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật tại Việt Nam trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu pháp luật về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em, trong

đó bao gồm các quy định pháp luật và việc thực hiện các quy định pháp luật này trên thực tế Tuy nhiên, đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về thực trạng quy định pháp luật hiện hành ở nước ta về vấn đề này vì pháp luật là tiền đề quan trọng nhất cho việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em trên thực tế

3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ

em trong pháp luật quốc tế Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành ở nước ta trong việc ghi nhận, bảo đảm thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và thực trạng thực hiện các quy định pháp luật này

Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài không đề cập đến kinh nghiêm bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em ở các nước trên thế giới, cũng như không so

Trang 8

4

sánh việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em ở nước ta với các quốc gia khác

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin

Tác giả còn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tìm hiểu các vấn đề Trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp khi nghiên cứu về cơ sở lý luận, pháp lý của quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Đồng thời tác giả sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê khi nghiên cứu về thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của ở nước ta trong lĩnh vực quyền này của trẻ em Từ đó tác giả có sự phân tích, so sánh và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành nhằm đưa ra các phương hướng hoàn thiện

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống các khía cạnh lý luận, pháp lý và thực trạng pháp luật hiện hành ở Việt Nam về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em; từ đó đưa ra giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về quyền của đối tượng đặc thù này

Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật ở nước ta về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Đây cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành luật và những ai quan tâm đến nội dung này

6 Bố cục của đề tài

Nội dung của đề tài gồm hai phần:

Phần mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu đề tài, mục đích,

nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Trang 9

5

Phần nội dung: được trình bày trong hai chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ

em

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật và thực trạng quy định pháp luật về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em tại Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện

Kết luận

Trang 10

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC

SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM 1.1 Khái quát về trẻ em và quyền của trẻ em

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của trẻ em

“Trẻ em” không phải là một khái niệm xa lạ nhưng lại có rất nhiều quan điểm khác nhau trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Sự ra đời của Công ước về quyền trẻ em1 (Convention on the Rights of the Child- CRC) được xem là một bước ngoặt lớn trong việc bảo vệ quyền trẻ em, là thành quả của một quá trình đấu tranh liên tục của nhân loại Với việc gia nhập CRC thì Việt Nam đã sớm tiếp cận với khái niệm

quyền trẻ em được ghi nhận trong Công ước Điều 1 CRC xác định rõ: “Trẻ em có

nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Như vậy khái niệm trẻ em theo Công ước có các đặc trưng

sau:

- Về độ tuổi: là người dưới 18 tuổi Đối tượng điều chỉnh của Công ước rất rộng

Tuy nhiên, Công ước cũng quy định rất rõ là tùy thuộc vào luật pháp áp dụng với trẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn Như vậy, Công ước đã mở rộng quyền cho các quốc gia thành viên được quy định độ tuổi của trẻ em thấp hơn

18 tuổi tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia

- Về thể chất: trẻ em là những người còn non nớt cả về thể chất và trí tuệ

Do các đặc trưng trên mà trẻ em cần thiết phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt Khái niệm này cũng khẳng định rõ trẻ em không chỉ được ghi nhận trong pháp

1 Công ước về quyền của trẻ em (Convention on the Rights of the Child- CRC) đã được Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11-1989, có hiệu lực từ ngày 02-9-1990 Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước mà không bảo lưu vào ngày 28-02-1990 Sự ra đời của Công ước để ngỏ cho các quốc gia tham gia ký kết, phê chuẩn Hiện nay đã có 197 quốc gia thành viên tham gia – là Công ước có số thành viên tham gia đông đảo nhất (Hoa Kỳ chưa tham gia Công ước này)

Trang 11

7

luật quốc tế mà còn được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia Tuy nhiên trong một số văn bản pháp luật quốc tế khác cũng đưa ra khái niệm quyền trẻ em chính là quyền của

người chưa thành niên “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tùy theo

từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn” 2 Như vậy, khái niệm trẻ em trong pháp luật quốc tế được xây dựng chủ yếu thông qua việc xác định độ tuổi với giới hạn là người dưới 18 tuổi Pháp luật quốc tế chưa xem xét đến các yếu tố khác như các đặc điểm về thể chất, tinh thần

và các đặc điểm về tâm sinh lý của lứa tuổi này Với cách quy định như trên, pháp luật quốc tế đồng thời đưa ra cách thức để các quốc gia trong quá trình thể chế hóa pháp luật nước mình có thể quy định độ tuổi của trẻ em thấp hơn tùy thuộc vào các điều kiện

cụ thể của mỗi quốc gia

Ngay sau khi gia nhập CRC, nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật để thể chế hóa Công ước này đồng thời bảo đảm cho quyền của trẻ em Sự ra đởi của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 đã đánh dấu bước tiến quan trọng này Tại

Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định:“Trẻ em là công

dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Khái niệm trẻ em trong pháp luật nước ta không phân biệt

về giới tính hay bất kỳ đặc điểm thể chất, tinh thần mà chỉ căn cứ vào độ tuổi và là công dân Việt Nam So với quy định trong CRC thì độ tuổi trong luật của nước ta thấp hơn, hay nói cách khác là chúng ta quy định độ tuổi thành niên sớm hơn Vì thế mà sẽ

có quan điểm cho rằng có sự không tương thích khi thể chế hóa cam kết của Công ước vào trong pháp luật quốc gia Tuy nhiên, quy định của Việt Nam không hề trái với tinh thần và nội dung của Công ước bởi vì Công ước cho phép các quốc gia được quy định

độ tuổi khác tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã hội

Như vậy, trẻ em được hiểu là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi, chưa có sự phát triển hoàn thiện cả về thể chất và tinh thần, chưa có sự nhận thức đầy đủ về cuộc sống,

2 Mục a Quy tắc số 2.2, Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh)

Trang 12

8

về các vấn đề xã hội Trẻ em là một trong số các đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong

xã hội, là nạn nhân của những tiêu cực nhưng lại không có khả năng tự bảo vệ Do đó trẻ em cần thiết phải được nhận sự quan tâm, chăm sóc, bảo vệ một cách chặt chẽ và hiệu quả từ Nhà nước, gia đình và xã hội

1.1.2 Đặc điểm quyền của trẻ em

Quyền của trẻ em là một nội dung quan trọng trong quyền con người Quyền trẻ

em rất gắn kết và là một bộ phận của quyền con người vì trước hết trẻ em là một con người, một chủ thể đặc biệt, một thành viên trong xã hội loài người Lịch sử đấu tranh cho quyền con người nói chung cũng chính là quá trình đấu tranh cho quyền của trẻ

em Trẻ em còn là một công dân đặc biệt của mỗi quốc gia vì là một trong những đối

tượng dễ bị tổn thương nhất với những đặc trưng về thể chất và tinh thần

Trẻ em là một bộ phận quan trọng của xã hội loài người, là thế hệ kế thừa, là tương lai của nhân loại Vì vị trí và đặc trưng đó mà việc bảo vệ cho quyền và lợi ích của trẻ em trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia và của toàn thế giới Việc chăm lo cho trẻ em cũng chính là bước chuẩn bị quan trọng cho sự phát triển của con người nói chung Trong thế giới hiện đại, cộng đồng thế giới đang phải đối mặt với những thách thức lớn như nghèo đói, bệnh tật, vô gia cư… và trẻ em lại là một bộ phận không nhỏ phải gánh chịu những thiệt thòi đó Trẻ em là đối tượng rất dễ bị xâm hại, bị tổn thương bởi rất nhiều tác nhân, nhiều chủ thể trong xã hội Họ có thể là nạn nhân của chiến tranh, bạo lực, đói khát và những căn bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS Chính vì thế mà việc bảo vệ quyền trẻ em nói chung càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Suy cho cùng, bảo vệ cho quyền trẻ em cũng chính là sự bảo vệ cho quyền con người nói chung, đảm bảo cho tương lai của cả nhân loại

Quyền của trẻ em là quyền của một chủ thể đặc biệt vì trẻ em có các đặc trưng

về thể chất và tinh thần Về mặt thể chất: trẻ em còn yếu ớt, non nớt, là độ tuổi đang

phát triển thể chất, đang trong quá trình dần hoàn thiện Tuy nhiên, các đặc điểm sinh

lý đang dần hình thành nên trẻ em bắt đầu bước vào giai đoạn khám phá và có ý thức

về mặt giới tính Về mặt tâm lý thì đây là giai đoạn mà tâm lý còn rất nhiều điều chưa

Trang 13

9

ổn định, là giai đoạn kéo dài giữa tâm lý trẻ con và tâm lý của một người chưa trưởng thành về mặt nhận thức3 Cho nên trẻ em luôn có những biểu hiệm tâm lý đặc biệt khi bước vào giai đoạn dậy thì, trẻ em luôn tò mò, thích khám phá Đây cũng chính là giai đoạn hình thành nhân cách của mỗi trẻ, do đó đòi hỏi phải có sự quan tâm sâu sát với mỗi trẻ để đảm bảo trẻ luôn có xu hướng vận động tâm lý theo đúng đường hướng đã định đã có thể hướng đến những gì tốt đẹp, có giá trị Với đặc điểm tâm lý luôn muốn chứng tỏ bản thân, thường chỉ tin vào bản thân và bạn bè rất dễ bị kích động, bị kích động Trong giai đoạn này trẻ em có sự nhận thức non nớt và thiếu kinh nghiệm sống nên rất khó ứng biến với các mối quan hệ xã hội, chịu sự tác động của các yếu tố bên ngoài Vì thế trẻ em thường khó tránh khỏi những cám dỗ và rất dễ bị lôi kéo vào những hành vi vi phạm pháp luật

Quyền của trẻ em mang tính đặc thù và trẻ em không thể tự thực hiện được Trẻ

em được thụ hưởng rất nhiều quyền và có những quyền chỉ có trẻ em mới có như quyền được khai sinh, quyền sống chung với cha mẹ, quyền được học tập Các quyền của trẻ em hầu như được đảm bảo thực hiện thông qua vai trò, trách nhiệm của cha mẹ, người giám hộ, gia đình, xã hội và các cơ quan quản lý nhà nước Bản thân trẻ em chưa thể tự mình thực hiện được tất cả các quyền mà mình được thụ hưởng, bảo vệ

1.1.3 Nội dung quyền của trẻ em

Quyền trẻ em là quyền con người nên trẻ em được hưởng tất cả các quyền của con người nói chung Đó là các quyền về kinh tế, chính trị, văn hóa đã được ghi nhận trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights- ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa 1966 (International Covenant on Economic, Social and Cutural Rights- ICESCR) Ngoài ra với những đặc thù của mình, trẻ em còn được hưởng các quyền

3 Đỗ An Bình (2002), Bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên bằng pháp luật hình sự - Lý luận

và thực tiễn, tr.15

Trang 14

10

được ghi nhận trong CRC Theo CRC này, quyền của trẻ em có rất nhiều nội dung và

có thể phân chia thành bốn nhóm quyền cơ bản sau4:

- Nhóm quyền sống còn: Đây là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, là tiền đề quan trọng cho việc đảm bảo các quyền khác của con người Nhóm quyền này bao gồm quyền được bảo vệ bởi cha mẹ, quyền được sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được hưởng các bảo đảm xã hội, quyền có mức sống đầy đủ cho sự phát triển toàn diện

- Nhóm quyền được phát triển: Nhóm quyền này không chỉ ghi nhận sự phát triển

về thể chất mà còn cả về trí tuệ, tình cảm và đạo đức xã hội, bao gồm quyền được tiếp nhận thông tin, quyền được học hành, quyền được vui chơi, giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật,

- Nhóm quyền được bảo vệ: Đây là nhóm quyền thể hiện sự bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột, bao gồm quyền có tên và quốc tịch, quyền riêng tư, quyền không bị đưa đi nước ngoài bất hợp pháp, quyền được bảo vệ khỏi các hình thức bạo lực, quyền không bị tham gia vào các cuộc chiến tranh

- Nhóm quyền tham gia: Đây là nhóm quyền bao gồm tất cả các quyền giúp trẻ

em được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề liên quan đến bản thân, đảm bảo cho trẻ

em có điều kiện tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, bao gồm quyền thể hiện ý kiến, quyền tự do bày tỏ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do giao kết, hội họp

Như vậy, theo quy định của CRC, quyền của trẻ em thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, thể hiện một cách trọn vẹn quyền của một con người và các quyền đặc thù chủ thể Khi thể chế hóa Công ước, Việt Nam cũng đã ghi nhận và xây dựng các quy định phù hợp Trong hệ thống pháp luật nước ta, nội dung quyền của trẻ em được ghi nhận trong Hiến pháp- văn bản pháp lý có giá trị cao nhất và các văn bản pháp luật có

4 Vietnamese research center for human rights, Children’s rights, Hanoi, 2000, tr 52

Trang 15

11

liên quan trong nhiều lĩnh vực khác nhau Vì thế mà việc tiếp cận ở những góc độ khác nhau sẽ hình thành nên nội dung quyền trẻ em là khác nhau

Thứ nhất, nếu tiếp cận nội dung quyền của trẻ em theo lĩnh vực pháp luật thì có

quyền trẻ em trong lĩnh vực dân sự, quyền trẻ em trong lĩnh vực hành chính, quyền trẻ

em trong lĩnh vực hình sự, quyền trẻ em trong lĩnh vực kinh tế- lao động, quyền trẻ em trong lĩnh vực văn hóa, quyền trẻ em trong lĩnh vực xã hội Các lĩnh vực pháp luật về quyền trẻ em này tạo ra một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh ở nhiều phương diện khác nhau và cùng thống nhất với nhau trong việc tạo tiền đề pháp lý cho việc đảm bảo có hiệu quả quyền của trẻ em nói chung

Thứ hai, nội dung quyền của trẻ em có thể được xác định căn cứ vào quy định

của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 Đây là văn bản pháp lý cụ thể điều chỉnh về việc đảm bảo cho quyền trẻ em và ghi nhận vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức cá nhân Theo các quy định của Luật này thì quyền của trẻ em có các nội dung được thể hiện một cách khái quát nhất bao gồm:

- Quyền được khai sinh và có quốc tịch (Điều 11)

- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng (điều 12)

- Quyền sống chung với cha mẹ (điều 13)

- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự (Điều 14)

- Quyền được chăm sóc sức khỏe (Điều 15)

- Quyền được học tập (Điều 16)

- Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao (Điều 17)

- Quyền được phát triển năng khiếu (Điều 18)

- Quyền có tài sản (Điều 19)

- Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội (Điều 20)

Trang 16

12

Như vậy, việc thể chế hóa các nội dung quyền trẻ em ghi nhận trong CRC vào

hệ thống pháp luật Việt Nam cho thấy: hầu hết các nội dung quyền đều đã được ghi nhận trong pháp luật quốc gia, đặc biệt là những quyền thuộc nhóm quyền được sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển Điều này đã tạo ra một sự nhất quán trong việc hiểu và vận dụng các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia vào quá trình đảm bảo cho quyền của trẻ em nói chung khi mà những quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của trẻ em được thừa nhận trong các quy định pháp luật cụ thể Từ đó, các quyền này sẽ được đảm bảo về mặt pháp lý và được đảm bảo thực hiện trên thực tế

Tuy nhiên, trong nhóm quyền được tham gia thì Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 chỉ mới ghi nhận quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội mà chưa ghi nhận thành nội dung riêng biệt của quyền trẻ em các quyền tự do bày tỏ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do giao kết, hội họp Những quyền này, pháp luật quốc gia thừa nhận trong quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan như là một quyền cơ bản của công dân Trẻ em, trước hết là một công dân nên chắc chắn sẽ được thụ hưởng quyền này Điều này cũng đảm bảo tính thống nhất và toàn diện của hệ thống pháp luật mà vẫn đảm bảo được quyền của đối tượng đặc thù Một số quyền trong nhóm quyền được bảo vệ chưa được ghi nhận cụ thể như quyền riêng tư, quyền không bị đưa đi nước ngoài bất hợp pháp, quyền được bảo vệ khỏi các hình thức bạo lực, quyền không bị tham gia vào các cuộc chiến tranh Các quyền này cũng được quy định trong các quy định pháp luật có liên quan như pháp luật hình sự; luật phòng, chống bạo lực gia đình Để có thể đảm bảo hiệu quả hơn nữa quyền của trẻ em thì cần thiết phải có sự nhất quán trong quá trình xây dựng pháp luật về quyền của trẻ em và cần ghi nhận tất cả quyền cơ bản của trẻ em trong quy định pháp luật về quyền trẻ em

1.2 Khái niệm và nội dung quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe của trẻ em

1.2.1 Khái niệm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Trang 17

13

Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam thì chăm sóc sức khỏe là chăm sóc nhằm duy trì, điều chỉnh và lúc cần thiết phục hồi được các khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mọi người dân5 Trong các nội dung quyền của trẻ em thì quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một nội dung quyền quan trọng thuộc nhóm quyền sống còn của trẻ Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em đã được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế từ rất lâu Quyền được chăm sóc sức khỏe được nêu ra trong tuyên bố Alma Ata năm 1978 và tuyên ngôn Y tế thế giới phê chuẩn bởi hội đồng Y tế thế giới năm 19986 Quyền được chăm sóc sức khỏe là quyền có được các điều kiện xã hội, các qui tắc, pháp luật, chế tài

và một môi trường trợ giúp mà có thể đảm bảo đạt được quyền này

Quyền được chăm sóc sức khỏe là một nội dung trong nội hàm của quyền được

có mức sống thích đáng nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 (Universal Declaration of Human Rights)7 Theo đó, “mọi người có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và sự yên vui của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết” “Các

bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt”8 Quyền được chăm sóc sức khỏe không chỉ là vấn đề chăm sóc sức khỏe phù hợp và kịp thời mà còn gồm các yếu tố khác quyết định sức khỏe tiềm ẩn, như tiếp cận với nước sạch và điều kiện vệ sinh phù hợp, việc cung cấp thực phẩm hợp lý, chế độ dinh dưỡng và nhà cửa, nghề nghiệp, môi trường an toàn cho sức khỏe, và tiếp cận với giáo dục, thông tin về các vấn đề liên quan tới sức khỏe, bao gồm sức khỏe sinh sản và sức khỏe giới tính

Từ khái niệm quyền được chăm sóc sức khỏe nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn thế

giới về quyền con người 1948, có thể hiểu quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là

Trang 18

14

quyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hóa, dịch vụ và điều kiện cần thiết

để đạt được tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất có thể Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền trẻ em có được chế độ chăm sóc sức khỏe phù hợp, được tiếp cận với nước sạch và điều kiện vệ sinh, được cung cấp chế độ dinh dưỡng hợp lý, được sống trong môi trường an toàn cho sức khỏe, tiếp cận với giáo dục, thông tin về các vấn đề sức khỏe, bao gồm sức khỏe sinh sản và sức khỏe giới tính

Điều 12 ICESCR cũng đưa ra khái niệm về quyền được chăm sóc sức khỏe Quyền được chăm sóc sức khỏe được hiểu là quyền có thể đạt tới tiêu chuẩn sức khỏe

về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể có được Quyền được chăm sóc sức khỏe được thực hiện đầy đủ khi thi hành biện pháp nhằm giảm bớt tỉ lệ sẩy thai, tử vong của trẻ sơ sinh và nhằm đạt được sự phát triển lành mạnh của trẻ em; cải thiện mọi mặt về

vệ sinh môi trường và vệ sinh công nghiệp; ngăn ngừa, xử lý và hạn chế các dịch bệnh, bệnh ngoài da, bệnh nghề nghiệp và các loại bệnh khác; tạo điều kiện bảo đảm mọi dịch vụ và sự chăm sóc y tế khi đau yếu

Công ước về quyền trẻ em 1989 dành Điều 24 để quy định về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em “là quyền của trẻ em được hưởng mức độ sức khỏe cao nhất có thể đạt được và các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khỏe”9 Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cần thiết

và phù hợp để trẻ em đạt được mức độ sức khỏe cao nhất có thể Trẻ em được sử dụng các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khỏe khi cần thiết Để trẻ em đạt được những mức độ và tiêu chuẩn như Công ước đề cập đến thì nhà nước phải thi hành các biện pháp thích hợp sao cho “giảm tỷ lệ tử vong trẻ em và trẻ sơ sinh, đảm bảo dành sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe cần thiết cho tất cả trẻ em, chú trọng phát triển công tác công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu; chống bệnh tật và suy dinh dưỡng trong khuôn khổ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, chẳng hạn qua việc áp dụng các công nghệ sẵn có và qua việc cung cấp đầy đủ thức ăn bổ sung và nước uống sạch, có tính đến những nguy cơ ô nhiễm môi trường; đảm bảo chăm sóc sức khỏe thích hợp cho

9 Khoản 1 Điều 24 CRC

Trang 19

15

người mẹ trước và sau khi sinh đẻ; đảm bảo rằng tất cả các tầng lớp xã hội, đặc biệt với những người làm cha mẹ và trẻ em, được thông tin, được tiếp thu giáo dục và được hỗ trợ trong việc sử dụng kiến thức cơ bản về sức khoẻ và dinh dưỡng của trẻ em, những

ưu điểm của việc nuôi con bằng sữa mẹ, vệ sinh, vệ sinh môi trường và phòng ngừa tai biến; phát triển công tác phòng bệnh, hướng dẫn cha mẹ, giáo dục và các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình”10

Trong pháp luật Việt Nam, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em được ghi nhận trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 “Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe” (khoản 1 Điều 15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004) Tuy nhiên trong quy định của Luật này không đưa ra khái niệm về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em có thể được hiểu theo những định hướng mà CRC đã đưa ra Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là quyền được hưởng mức độ sức khỏe cao nhất có thể và các phương tiện chữa bệnh, phục hồi sức khỏe Điều này có nghĩa là trẻ em không chỉ được sử dụng các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khỏe cần thiết cho quá trình chữa trị và phục hồi mà trẻ em còn được đảm bảo chế độ dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh phù hợp, việc cung cấp thực phẩm hợp lý, được sống trong môi trường an toàn cho sức khỏe, được giáo dục và tiếp cận với giáo dục, thông tin về các vấn đề liên quan đến sức khỏe, bao gồm sức khỏe sinh sản

Như vậy, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em có thể hiểu một cách khái

quát nhất là quyền được hưởng một chế độ chăm sóc sức khỏe tốt nhất, không chỉ là sự chăm sóc về mặt y tế mà quan trọng là đảm bảo tất cả các điều kiện cần thiết cho việc đạt được sức khỏe tốt nhất Các điều kiện đó bao gồm cả điều kiện về chất lượng cuộc sống, điều kiện về chế độ dinh dưỡng và tiếp cận thông tin về sức khỏe

10 Khoản 2 Điều 24 CRC

Trang 20

16

1.2.2 Nội dung quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một nội dung cơ bản trong quyền của trẻ em nói chung Trẻ em chỉ có thể phát triển tốt về thể chất và tinh thần khi được chăm sóc và bảo đảm tốt về sức khỏe Đó là điều kiện tiên quyết để tồn tại với tư cách

là một con người trong xã hội Do đó để có thể đảm bảo tất cả các nội dung quyền của trẻ em thì trẻ em cần thiết phải được đảm bảo chăm sóc về sức khỏe Nó là một quyền

tự nhiên và bất khả xâm phạm, không ai được phép tước đoạt hay xâm hại đến sức khỏe của trẻ em Bản thân trẻ em hầu như không có khả năng tự bảo vệ nên quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em chỉ được đảm bảo thực hiện khi được pháp luật thừa nhận và có cơ chế bảo đảm thực hiện Việc xác định nội dung quyền được chăm sóc sức khỏe rất quan trọng vì đây là tiền đề để xây dựng, thể chế hóa các quy định pháp luật phù hợp với các cam kết quốc tế

Điều 24 CRC xác nhận quyền của trẻ em được chăm sóc y tế và được hưởng trạng thái sức khỏe ở mức độ tốt nhất có thể nên để đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em thì các quốc gia thành viên phải chú trọng đến việc giành sự giúp đỡ y

tế và chăm sóc sức khỏe cần thiết cho mọi trẻ em, thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:

- Chăm sóc sức khỏe ban đầu;

- Chăm sóc sức khỏe thích hợp cho bà mẹ trước và sau khi sinh;

- Chống bệnh tật và suy dinh dưỡng;

- Thông tin, giáo dục về chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em;

- Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em;

- Phát triển công tác phòng chống bệnh tật,

- Hướng dẫn cha mẹ cũng như các hoạt động giáo dục và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình;

- Xóa bỏ những tập tục có hại cho sức khỏe trẻ em

Liên quan đến Điều 24 của Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Ủy ban quyền trẻ

em đã có bình luận chung số 4 thông qua tại phiên họp lần thứ 33 năm 2003 trong đó nêu ra nhiều khuyến nghị cụ thể về các biện pháp mà các quốc gia thành viên cần tiến

Trang 21

17

hành để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển của trẻ em11 Theo Ủy ban, để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ em, các quốc gia thành viên phải thực thi các nghĩa vụ bao gồm:

- Tạo ra một môi trường an toàn và cảm thông cho trẻ em kể cả trong gia đình, nhà trường, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em và trong toàn xã hội

- Đảm bảo cho trẻ em được tiếp cận những thông tin cần thiết cho sức khỏe và sự phát triển của chính mình, kỹ năng sống và có cơ hội tham gia vào quá trình ra những quyết định ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em

- Đảm bảo cung cấp các phương tiện, hàng hóa và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bao gồm các dịch vụ hướng dẫn và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần và sức khỏe sinh sản, với chất lượng phù hợp cho trẻ em và các bậc cha mẹ

- Đảm bảo rằng mọi trẻ em đề có cơ hội tham gia tích cực vào việc lập kế hoạch, lên chương trình cho sự phát triển và sức khỏe của chính các em

- Bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức lao động nguy hại thông qua việc loại bỏ tất

cả các hình thức lao động trẻ em và điều chỉnh môi trường, tạo điều kiện làm việc theo các tiêu chuẩn quốc tế

- Bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức tai nạn, thương tích cố ý hoặc vô ý, kể cả những thương tích do bạo lực và tai nạn giao thông

- Bảo vệ các em khỏi mọi hủ tục truyền thống có hại như tảo hôn, giết trẻ em gái

11 Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.355

Trang 22

18

pháp lý quan trọng, nền tảng là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 Quyền được chăm sóc bảo vệ sức khỏe của trẻ em được quy định

“Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe” và

“Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập”

Cụ thể, nội dung quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em trong pháp luật Việt Nam bao gồm tất cả các nội dung ghi nhận trong quy định tại Điều 24 CRC Tuy nhiên, Việt Nam còn thể chế hóa nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu thành nội dung cụ thể bao gồm giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường, nước sạch, sức khỏe bà mẹ trẻ

em và kế hoạch hóa gia đình, tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh dịch địa phương, chữa bệnh và chấn thương thông thường, thuốc thiết yếu, quản lý sức khỏe, xây dựng

và củng cố mạng lưới y tế cơ sở12 Điều này cho thấy nỗ lực của nước ta trong việc ghi nhận và thể chế các cam kết quốc tế vào hệ thống pháp luật nhằm tạo ra một sự nhất quán trong việc hiểu và áp dụng CRC, đảm bảo cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Đồng thời, nhà nước đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến lĩnh vực quyền rất đặc thù này của trẻ em khi đề ra những nội dung cụ thể trong các nội dung quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Việc ghi nhận quyền là cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp bảo đảm trên thực tế

1.2.3 Mối liên hệ giữa quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và các quyền khác của trẻ em

Quyền được chăm sóc sức khoẻ của trẻ em là một quyền trẻ em cơ bản, là tiền đề cho việc thực hiện các quyền khác của trẻ em Với mong muốn bảo vệ trẻ em, bảo vệ

sự phát triển bình thường về tinh thần và thể chất cho trẻ em nên trẻ em được đảm bảo quyền với tư cách là một con người trong xã hội Quyền được chăm sóc sức khoẻ của trẻ em được xây dựng và bảo vệ bởi hệ thống pháp luật quốc gia cũng như quốc tế Thế

12 Tuyên ngôn Alma- Ata 1978 đề ra 8 nội dung trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và Việt Nam bổ sung thêm hai nội dung

Trang 23

19

nhưng, để trẻ có thể phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, để trẻ em có thể được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ về quyền con người của mình thì điều kiện tiên quyết là trẻ em phải tồn tại và có đầy đủ sức khỏe Trẻ em phải còn sống, còn tồn tại thì có thể đề cập đến việc làm thế nào để đảm bảo cho trẻ em một sự phát triển bình thường và toàn diện Vì thế, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một quyền trẻ em cơ bản và nền tảng Chỉ khi quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em được thực hiện và đảm bảo thực hiện trên thực tế thì các quyền khác của trẻ em mới có thể được thực hiện Điều đó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ gắn thiết giữa quyền trẻ em nói chung và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Quyền được chăm sóc sức khoẻ của trẻ em liên quan mật thiết và phụ thuộc vào việc hiện thực hoá các quyền khác của trẻ em Quyền của trẻ em là bao gồm nhiều nhóm quyền như quyền sống, lương thực, nhà ở, giáo dục, nhân phẩm, bình đẳng, không phân biệt đối xử, cấm tra tấn, bảo vệ đời tư, tiếp cận thông tin, và các quyền tự

do lập hội, hội họp, đi lại Đây là những quyền cần thiết để trẻ em có thể sống và phát triển lành mạnh, tạo môi trường sống có lợi nhất cho sự phát triển về thể chất và tinh thần cho trẻ em, thúc đẩy sự phát triển về trí não cũng như là thể chất của trẻ

Trẻ em cần được phát triển toàn diện nên việc đảm bảo quyển không chỉ chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em mà cần quan tâm phát triển các nội dung quyền khác của trẻ phù hợp với xu hướng của thời đại Việc chỉ đề cao hay chú mục đến phát triển sức khỏe thể chất của trẻ mà không quan tâm đến những lĩnh vực khác của quyền con người của trẻ sẽ tạo nên sự lệch lạc trong sự phát triển về thể chất và tinh thần; hình thành nhân cách của trẻ Tuy nhiên, sức khỏe lại là điều kiện tiên quyết

để trẻ em có thể phát triển tốt nhất trên mọi lĩnh vực

Quyền được chăm sóc sức khoẻ của trẻ em sẽ được đảm bảo một cách hiệu quả

và thiết thực khi các quyền khác của trẻ cũng được đảm bảo thực hiện Cá quyền của trẻ em là một tổng thể, bản thân các nhánh quyền khác của trẻ em cũng có sự tác động trở lại đối với quyền được chăm sóc sức khỏe suy cho cùng, trong tổng thể quyền,

Trang 24

20

quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em có mối liên hệ rất chặt chẽ với các quyền khác của trẻ em

1.3 Cơ sở pháp lý về quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe của trẻ em

1.3.1 Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Việc chăm sóc sức khỏe của trẻ em đã trở thành một mối quan tâm đặc biệt của không chỉ riêng một quốc gia, một tổ chức hay cá nhân nào Trẻ em là một trong các nhóm dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, với đặc trưng thể chất và tinh thần chưa hoàn thiện Bản thân trẻ em không thể tự chăm sóc, bảo vệ cho mình, đặc biệt là chăm sóc

về sức khỏe; mà ngược lại việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em là biểu hiện cho tình yêu thương của gia đình, xã hội dành cho trẻ em và cũng là sự thể hiện trách nhiệm của mình Việc chăm sóc trẻ em đặc biệt về sức khỏe là xuất phát từ tình yêu thương, lòng nhân đạo; chưa phải là một nghĩa vụ phải tuân thủ

Chính vì điều này mà khái niệm “quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em đã được đề cập đến khi cộng đồng thế giới bắt đầu dành sự quan tâm đặc biệt cho trẻ em với việc thừa nhận “quyền” của trẻ em Sự ra đời của “quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em” - một nội dung quan trọng trong “quyền trẻ em” đã đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức và xử sự của con người Khi đã thừa nhận đây là “quyền” và ghi nhận trong pháp luật thì đồng thời sẽ có “nghĩa vụ” phát sinh Nói cách khác, với những đặc trưng vốn có của mình, pháp luật đã trở thành công cụ đặc biệt quan trọng trong việc ghi nhận “được chăm sóc sức khỏe” là một quyền cơ bản của trẻ em Pháp luật cũng đồng thời buộc các chủ thể có liên quan thể hiện trách nhiệm của mình trong việc hành động bảo vệ cho quyền này của trẻ em

Với các thuộc tính riêng của mình như phổ biến và bắt buộc chung, việc pháp luật thừa nhận quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em đã đảm bảo những nội dung quyền này được thực hiện, được đảm bảo Bao giờ cũng vậy, để có thể thực hiện được

Trang 25

21

quy định thì pháp luật đồng thời đặt ra cơ chế pháp lý để bảo đảm thực hiện Không phải ngẫu nhiên mà cộng đồng quốc tế mặc dù đã có nhiều điều ước quốc tế hay tuyên ngôn về việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948, ICCPR, ICESCR… nhưng vẫn thông qua CRC Điều này chỉ có thể lý giải được rằng cộng đồng thế giới nhận thức một cách sâu sắc về tầm quan trọng của một văn bản pháp lý mang tính chuyên biệt, đặc thù cho một đối tượng

“rất dễ bị tổn thương” Khi sự quan tâm này đã được ghi nhận bằng một quy định pháp luật, nó không chỉ mang tính thừa nhận mà sẽ đặt ra trách nhiệm các quốc gia thành viên sẽ phải tuân thủ và thể chế hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia Nói cách khác,

dù là pháp luật quốc tế hay pháp luật quốc gia thì văn bản pháp lý ghi nhận về quyền bao giờ cũng là sự bảo đảm toàn diện nhất

Ở nước ta, việc chăm sóc sức khỏe của trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội vừa là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa là quan điểm chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Pháp luật cũng trở thành phương tiện quan trọng nhất trong quá trình chuyển hóa quan điểm truyền thống tốt đẹp đó trở thành quy tắc xử sự chung cho tất cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội và các cơ quan nhà nước Pháp luật cũng là sự ghi nhận quá trình thể chế hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên về việc đảm bảo cho quyền của trẻ em Xuyên suốt tất cả các bản Hiến pháp, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em luôn được ghi nhận Đặc biệt là Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) đã ghi nhận “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe” (điều 61) và “Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” (điều 65) Sự ghi nhận này đã hình thành nên nguyên tắc hiến định mang tính nền tảng cho toàn bộ hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật về lĩnh vực quyền này của trẻ

Trang 26

22

vệ sức khỏe” (Điều 15) Điều 15 cũng quy định “trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập”

Cụ thể hóa quy định này Chính phủ đã ban hành Nghị định 36/2005/NĐ- CP ngày 17/3/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004; Nghị định 71/2011/NĐ- CP ngày 22/8/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (thay thế cho Nghị định 36/2005/NĐ- CP và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/10/2011); Luật Bảo hiểm y tế 2008; Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989… các quy định pháp luật này là cơ sớ pháp lý vững chắc cho việc triển khai thực hiện và đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em trên thực tế vì không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền mà còn quy định rõ ràng về trách nhiệm của các chủ thể khác trong xã hội

Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em còn được đảm bảo thông qua các chương trình hành động quốc gia, các chiến lược quốc gia qua các giai đoạn, các thời

kỳ khác nhau Các chương trình này là một chính sách đúng đắn trong việc đảm bảo cho quyền một cách hiệu quả khi đòi hỏi mục tiêu cụ thể cần đạt được qua một giai đoạn nhất định cụ thể Chính phủ sẽ giữ vai trò trọng tâm trong việc triển khai các chương trình này và sẽ thúc đẩy quá trình thực thi quy định trong các văn bản pháp luật một cách nhanh chóng và thiết thực hơn

Như vậy, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em cần thiết phải được ghi nhận bằng các quy định pháp luật, thể hiện ý chí của nhà nước trong việc thừa nhận quyền và quy định trách nhiệm cho các chủ thể liên quan Có thể khẳng định, ở đâu và khi nào quyền này được ghi nhận như là một quyền pháp lý cơ bản thì mới thể hiện được sự toàn diện trong việc đảm bảo cho quyền của trẻ em và quyền con người nói chung

Trang 27

23

1.3.2 Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

1.3.2.1 Khái niệm cơ chế pháp lý đảm bảo thực hiện quyền của phụ nữ

Theo từ điển Việt Nam thì cơ chế được hiểu là “cách thức sắp xếp tổ chức để

làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện”13, còn theo cách hiểu phổ biến thì cơ chế là sự vận động nhịp nhàng và ăn khớp của một hệ thống nào đó và của các bộ phận cấu thành của hệ thống đó14 Như vậy, có thể hiểu cơ chế là hệ thống các biện pháp, cách thức sắp xếp, tổ chức để làm cơ sở cho việc thực hiện một công việc nào đó có tính phức tạp Nó đòi hỏi phải có một cơ cấu, tổ chức để thực hiện và hoạt động của nó phải có sự phối hợp một cách nhịp nhàng, đồng bộ, không có mâu thuẫn với nhau nhằm đạt mục tiêu chung

Ở góc độ pháp lý, các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng quy định pháp luật, tức là bảo đảm thực hiện bằng hệ thống các cách thức, các biện pháp tổ chức của các

cơ quan nhà nước và các biện pháp ngăn ngừa những hành vi vi phạm Để thực hiện được thì cần có một hệ thống các cơ quan chức năng hoạt động theo một quy trình nhất định mang tính đồng bộ Như vậy, cơ chế pháp lý bao hàm những quy định để các cơ quan chức năng thực hiện từ việc đề ra chính sách pháp luật đến việc đề ra các biện pháp nhằm đảm bảo việc thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật trong thực tế cũng như kiểm tra, giám sát, xử lý việc thực hiện các quy định trong pháp luật một cách nhất quán

Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một quyền cơ bản của trẻ em nên luôn cần có một cơ chế pháp lý để đảm bảo Pháp luật không chỉ là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội mà nó còn được xem là một công cụ rất hiệu quả của Nhà nước trong việc ghi nhận và bảo đảm cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Khi quyền này được pháp luật ghi nhận nó sẽ trở thành

Trang 28

24

các quyền mang tính pháp định, được xã hội thừa nhận, mang tính bắt buộc chung và được đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước thông qua bộ máy nhà nước Nếu có sự vi phạm thì hành vi đó sẽ sớm được phát hiện để có cách thức can thiệp kịp thời, thậm chí bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước Khi đó, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em không còn đơn thuần là một giá trị mang tính xã hội thông thường mà trở thành quyền thực sự

Như vậy, cơ chế đảm bảo thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em được xem là hệ thống các quy định pháp luật nhằm ghi nhận, bảo đảm cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và cách thức để các quy đinh đó được thực hiện trong thực tế Cơ chế này được triển khai theo những trình tự, thủ tục khác nhau Về mặt pháp lý, cơ chế này được ghi nhận trong hệ thống pháp luật ở nước ta từ Hiến pháp cho đến các văn bản pháp luật cụ thể

1.3.2.2 Nội dung cơ chế pháp lý bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của

trẻ em Thứ nhất, pháp luật quy định các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo đảm cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em được thực hiện; quy định thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức; quyền và nghĩa vụ của mọi cá nhân, gia đình trong việc bảo đảm quyền này cho trẻ em Nói cách khác, cơ chế pháp lý bảo đảm cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em trước hết được thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, từ quá trình xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật

Hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước Quốc hội, Hội đồng nhân dân

ban hành ra chính sách pháp luật ghi nhận về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ

em để từ đó các cơ quan quản lý nhà nước thực thi Lập hiến và lập pháp là cơ sở ban đầu, tiền đề cho các hoạt động bảo đảm cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước Đây là cơ quan đóng vai trò trực

tiếp trong việc thực hiện các nội dung quyền trẻ em nói chung và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em nói riêng Các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm: Chính phủ, Bộ,

Trang 29

25

cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, các cơ quan tổ chức, đơn vị sự nghiệp của nhà nước trực thuộc trung ương đóng tại địa phương…Ở đây chủ yếu đề cập đến hoạt động của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân

Chính phủ là cơ quan đóng vai trò chủ đạo trong việc nghiên cứu chính sách, trình Quốc hội ban hành văn bản pháp luật về quyền trẻ em nói chung, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện văn bản pháp luật đó Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Bộ đã thành lập ra Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em- cơ quan có trách nhiệm giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong quá trình triển khai bảo đảm quyền cho trẻ em trong phạm vi cả nước

Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về đảm bảo cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em trong phạm vi địa phương của mình Sở Lao động Thương binh và Xã hội giữ vai trò là cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm trong việc đảm bảo cho quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em trong phạm vi địa phương Đồng thời Sở phân cấp cho các cơ quan chuyên môn cấp dưới của mình thực hiện công tác vì nhiệm vụ chung

Như vậy, thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan quản lý nhà nước nói riêng, chúng ta có thể khái quát về cơ chế pháp lý bảo đảm quyền quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em như sau:

- Chính phủ là cơ quan trình Quốc hội ban hành văn bản pháp luật liên quan đến quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật Trong phạm vi thẩm quyền của mình, các Bộ sẽ chịu trách nhiệm quản lý và bảo đảm cho trẻ em được thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe của mình trong lĩnh vực cụ thể thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật, đánh giá, kiểm tra, xử lý các vi phạm Giữ vai trò trọng tâm là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và cơ quan giúp việc của mình là Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Trang 30

26

- Ủy ban nhân dân là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em trong phạm vi địa phương Sở Lao động Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình với tư cách là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân

Thứ hai, pháp luật quy định trình tự, thủ tục khi thực hiện các nội dung cụ thể của quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em thông qua hoạt động của các chủ thể có liên quan

Thứ ba, pháp luật đặt ra hình thức xử lý các hành vi vi phạm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Việc xử lý có thể bằng các biện pháp cưỡng chế khác nhau tùy thuộc vào tính chất và mức độ Hình thức xử lý phổ biến là áp dụng các biện pháp

xử lý vi phạm hành chính, thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự nhất định Ngoài ra việc vi phạm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em có thể áp dụng các biện pháp xử lý khác

Tóm lại, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một nội dung rất quan

trọng trong quyền trẻ em nói chung, được ghi nhận trong các điều ước quốc tế như là một cam kết của cộng đồng thế giới về sự cần thiết phải bảo đảm ở nhiều lĩnh vực khác nhau Trẻ em có một vị thế, vai trò rất quan trọng cho tương lai của mỗi quốc gia và chưa có sự phát triển hoàn thiện về thế chất tinh thần nên rất cần nhận được sự quan tâm chăm sóc bảo vệ của gia đình, Nhà nước và xã hội Nhận thức sâu sắc điều này, cả pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đã xây dựng nhiều văn kiện pháp lý, làm cơ sở cho việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em một cách hiệu quả và thiết thực nhất Đồng thời các quy định pháp luật còn xây dựng cơ chế pháp lý cụ thể đảm bảo cho quyền của trẻ em thông qua quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 31

27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA TRẺ EM

TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ

em

Đảng và Nhà nước ta luôn quan niệm trẻ em chính là tương lai của đất nước Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu, là chính sách xuyên suốt và thống nhất trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật Với quan điểm

đó, Việt Nam đã sớm gia nhập các điều ước quốc tế về quyền trẻ em, đặc biệt là đã trở thành thành viên thứ hai gia nhập vào CRC15 Điều này cho thấy, nước ta đã đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành hành động trên thực tế, thông qua hoạt động cụ thể, đánh dấu một bước phát triển và khẳng định với các nước trên thế giới về

sự quan tâm của Nhà nước đối với việc đảm bảo các quyền và lợi ích cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này

Sau khi gia nhập CRC, Việt Nam đã có hàng loạt các văn bản pháp luật được ban hành đảm bảo cho quyền của trẻ em nhằm thể chế hóa các cam kết ghi nhận trong CRC, đồng thời là sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn

đề này trong bối cảnh xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN Các quy định pháp luật về quyền của trẻ em nói chung và quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em nói riêng đã được chú trọng xây dựng và hoàn thiện Bởi lẽ, trong số các quyền của trẻ em,

15 Việt Nam là quốc gia thứ hai phê chuẩn CRC trên thế giới Việt Nam cũng đồng thời phê chuẩn Nghị định thư (không bắt buộc) về việc sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và Nghị định thư (không bắt buộc) về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em vào ngày 20/12/2001

Trang 32

28

quyền được chăm sóc sức khỏe là một nội dung quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mỗi trẻ em và để có thể đảm bảo được thì đòi hỏi phải được sự tham gia, chăm sóc, qua vai trò, trách nhiệm của gia đình, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

và cả xã hội

Quyền trẻ em, với tư cách là một bộ phận quan trọng của quyền con người, quyền công dân nên được ghi nhận trong văn bản pháp lý có giá trị cao nhất mang tính nguyên tắc, đó là Hiến pháp Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) quy định tại Điều 61 “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe” Đây là một sự khẳng định quan trọng khi việc hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe được ghi nhận là một

“quyền” và việc ghi nhận này không có sự phân biệt đối xử giữa người thành niên hay trẻ em Trẻ em trước hết là “công dân Việt Nam”16 nên nguyên tắc Hiến định này đã bao hàm chủ thể được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe là trẻ em- một chủ thể đặc biệt được hưởng quyền Điều này lại càng khẳng định quyền được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe là một quyền cơ bản của công dân nói chung và của trẻ em nói riêng

Việc ghi nhận trong Hiến pháp là minh chứng rõ nét nhất cho đường lối chính sách của Nhà nước, đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân cũng chính

là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước qua việc đảm bảo sự phát triển của nguồn nhân lực Không chỉ dừng lại ở nguyên tắc hiến định trên mà Hiến pháp còn ghi nhận quyền được chăm sóc sức khỏe trong quy định “Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em”17 và “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”18 Các quy định này lại càng khẳng định quyền được chăm sóc của trẻ em trong đó có chăm sóc sức khỏe là một nội dung quan trọng Hiến pháp không chỉ ghi nhận bằng quy định về quyền mà còn ghi

16 Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em quy định trong Luật này

là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”

17 Điều 40 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

18 Điều 65, tlđd số 17

Trang 33

29

nhận thông qua quy định về qua vai trò, trách nhiệm hay có thể gọi là “nghĩa vụ” của các chủ thể: Nhà nước, xã hội, gia đình và mỗi công dân trong việc đảm bảo quyển của trẻ em Nói cách khác, vì đặc trưng về thể chất và tinh thần của mình mà trẻ em phải được nhận sự quan tâm và chăm sóc từ các thành viên còn lại của xã hội Các quyền của trẻ em đặt ra nghĩa vụ từ phía các chủ thể khác, đòi hỏi phải có các biện pháp thích hợp để bảo đảm một cách hữu hiệu nhất

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 Văn bản này tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em Điều

15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 ghi nhận: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.” Quy định này thể hiện rõ nội dung của nguyên tắc Hiến định về quyền “hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe” của trẻ em, đồng thời chú trọng đến quyền của trẻ em dưới 6 tuổi qua việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và khám chữa bệnh không phải trả tiền tại cơ sở y tế công lập

Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em còn được ghi nhận trong Luật Bảo

vệ sức khỏe nhân dân 1989 “Trẻ em được y tế cơ sở quản lý sức khỏe, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch, được khám chữa bệnh”19 Cụ thể hóa quyền khám chữa bệnh miễn phí của trẻ em, cũng như được quy định trong Luật Bảo hiểm y tế năm 2008

đã có các quy định cụ thể về việc cấp thẻ bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuối Quyền này còn được ghi nhận trong Luật phòng chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải 2008, Luật người khuyết tật 2010… là các văn bản ghi nhận quyền được chăm sóc sức khỏe cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

19 Xem thêm Điều 46 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989

Trang 34

30

Hệ thống pháp luật không chỉ dừng lại ở quy định về quyền mà còn đặt ra cơ chế pháp lý cho việc đảm bảo các quyền này trên thực tế thông qua vai trò của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội Thông qua việc quy định về trình tự thủ tục để trẻ

em có thể thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của mình, pháp luật đã đặt ra cơ chế đảm bảo, giám sát hoạt động của các cơ quan này để quyền của trẻ em trong lĩnh vực quan trọng này có thể được thực thi một cách hiệu quả nhất Như vậy, về mặt quy định pháp luật, quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em tập trung chủ yếu ở việc ghi nhận về quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em và cơ chế pháp lý để đảm bảo cho quyền này

2.1.1 Quy định pháp luật về bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em

Trước khi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 ra đời thì quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân nói chung đã được ghi nhận trong Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 “Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ” Như vậy, từ rất sớm, pháp luật của nước ta đã dành sự quan tâm cho vấn đề đảm bảo quyền đối với sức khỏe cho công dân nói chung và trẻ em nói riêng Trẻ em thì được y tế cơ sở quản

lý về sức khỏe, được tham gia tiêm chủng phòng bệnh…Việc chăm sóc sức khỏe của trẻ em là một chính sách mang tính xuyên suốt, thống nhất của Nhà nước được ghi nhận trong một điều khoản riêng biệt Trẻ em được bảo vệ sức khỏe tốt nhất, phòng chống lại bệnh tật thông qua các chương trình tiêm ngừa, khám chữa bệnh Quyền này được đảm bảo thông qua vai trò của y tế cơ sở, của ngành y tế nói chung và của bản thân từng cá nhân, gia đình Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 đã thể hiện sự quan tâm sâu sát thông qua quy định rất quan trọng này

Tuy nhiên, Luật chưa có quy định nào đề ra cơ chế pháp lý cụ thể cho việc thực hiện quyền này, chưa có sự ghi nhận cách thức để thực hiện quyền hay quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, Nhà nước trong việc đảm bảo cho quyền Cho nên nhìn chung quy định này chỉ mới dừng lại ở mức độ đề ra nguyên tắc chung,

Trang 35

31

chưa đi vào chi tiết, cụ thể hóa, nhưng nó đã khẳng định một điều rất quan trọng, từ rất sớm quyền của trẻ em đã là đối tượng quan trọng trong chính sách bảo vệ chăm sóc sức khỏe của công dân nói chung

Tiếp tục khẳng định việc đảm bảo quyền của trẻ em là một nội dung quan trọng trong chính sách lập pháp ở nước ta, nhất là trong bối cảnh Hiến pháp 1992 đã có nhiều quy định về vấn đề này và thực tiễn đòi hỏi phải có quy định riêng cho chủ thể đặc thù này, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 ra đời Việc ban hành Luật Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em là bước phát triển về mặt pháp lý, là sự cụ thể hóa các nguyên tắc hiến định của Hiến pháp 1992, là sự tiếp nối nguyên tắc xuyên suốt của Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989, đồng thời là sự nội luật hóa Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn vào ngày 20/2/1990 Như vậy, đây chính là

sự khẳng định cho các cam kết quốc tế, đồng thời là quy định thể hiện cho chính sách đảm bảo quyền và lợi ích cho đối tượng mang tính đặc thù này Bởi lẽ, trẻ em không thể tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của mình mà điều này phải được đảm bảo thực hiện thông qua vai trò chủ đạo của Nhà nước và các cơ quan hữu quan

Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 đã khẳng định nguyên tắc “Trẻ

em có quyền được chăm sóc sức khỏe” Quy định này khẳng định đây là quyền của trẻ

em và mọi trẻ em đều được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Trẻ em ở đây là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính hay các đặc điểm về mặt thể chất tinh thần khác Nói cách khác, mọi trẻ em đều bình đẳng với nhau trong việc thụ hưởng quyền được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe từ Nhà nước và các tổ chức xã hội Quy định này mang tính nguyên tắc và được kế thừa trong các quy định pháp luật khác có liên quan về việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ

em Theo các nội dung của quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em thì việc hưởng quyền này bao gồm cả việc đảm bảo môi trường sống một cách tốt nhất

Quyền được đảm bảo sức khỏe của trẻ em còn được khẳng định qua quy định tại khoản 10 Điều 7 nghiêm cấm việc “Đặt cơ sở sản xuất, kho chứa thuốc trừ sâu, hoá

Trang 36

32

chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ gần cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em.” Quy định này được cụ thể hóa ở Điều 12 Nghị định 36/2005/NĐ- CP, theo đó thuốc trừ sâu, hóa chất độc hại, chất dễ gấy cháy

nổ gồm các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, đất đèn, chất thạch tín, thuốc diệt chuột, xăng dầu, khí ga, chất nổ, chất phóng xạ và các loại hóa chất khác theo quy định của pháp luật hiện hành Điều 12 cũng đồng thời nghiêm cấm đặt cơ sở sản xuất kinh doanh có chất thải độc hại, có tiếng ồn lớn trong phạm vi gây ảnh hướng đến cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em

Đối với trẻ em trong độ tuổi đến trường thì được chăm sóc sức khỏe thông qua chương trình y tế học đường Ngoài ra trẻ trong giai đoạn này cũng là đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, được cấp phát thẻ bảo hiểm y tế để khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ

sở y tế Trẻ em trong giai đoạn này được ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng Bảo hiểm y tế và khi thực hiện việc khám chữa bệnh, trẻ được thanh toán 80% chi phí khám chữa bệnh (điểm d khoản 1 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế 2008)

Với nguyên tắc thứ hai ghi nhận tại Điều 15 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 “Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập” Quy định này bao gồm việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em tức là chuẩn bị và cho trẻ tiếp cận các điều kiện tốt nhất về sức khỏe và y tế trong những năm tháng đầu đời Chăm sóc sức khỏe ban đầu trong đó chú trọng đến việc triển khai tiêm chủng mở rộng, chế độ dinh dưỡng, phòng chống dịch bệnh, môi trường sống và cả sức khỏe của bà mẹ và trẻ em

Trẻ em dưới 6 tuổi còn được hưởng chế độ khám bệnh, chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế công lập Nhà nước thể hiện sự quan tâm đối với sức khỏe của trẻ em và chia sẻ với gia đình xã hội trách nhiệm chăm sóc và đảm bảo cho trẻ được chăm sóc về

y tế một cách tốt nhất Khác với các chủ thể còn lại trong xã hội, trẻ em đòi hỏi phải được yêu thương và chăm sóc đặc biệt vì còn rất non nớt và khả năng thích ứng với xã hội còn yếu ớt Quy định này hướng đến việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe

Trang 37

33

cho đối tượng trẻ em có độ tuổi rất thấp: dưới sáu tuổi, là độ tuổi cần một sự chăm sóc

về mặt y tế, sức khỏe đặc biệt để đảm bảo cho sự phát triển tốt về mặt thể chất sau này Đây chính là biểu hiện cho sự quan tâm đến sức khỏe của trẻ nhỏ trong những năm tháng đầu đời: được chăm sóc sức khỏe và quan trọng là được khám chữa bệnh miễn phí Việc được khám chữa bệnh miễn phí tạo ra cơ hội chăm sóc sức khỏe cho trẻ em được tốt hơn

Cụ thể hóa quy định này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 36/2005/NĐ- CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Nghị định đã cụ thể hóa quy định tại Điều 15 của Luật 2004 Trong đó khẳng định “ trẻ em dưới 6 tuổi là trẻ em dưới 72 tháng tuổi”

và “các cơ sở y tế công lập thực hiện việc khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi gồm

cơ sở y tế thuộc Bộ y tế, các Bộ, cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương”20 Trong một khoảng thời gian dài kể từ khi ra đời, Nghị định 36/20005/NĐ- CP đã xây dựng một cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tiếp cận với các dịch vụ y tế miễn phí Tuy nhiên quy định này lại xuất hiện một hạn chế nhất định, đó

là trẻ em chỉ được khám bệnh, chữa bệnh nếu đúng tuyến (trừ trường hợp cấp cứu có thể vượt tuyến hoặc trái tuyến) và với các dịch vụ, kỹ thuật thông thường Quy định này lại hạn chế quyền tiếp cận với các dịch vu y tế kỹ thuật cao, điều mà trẻ em xứng đáng phải được hưởng để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần; mặt khác trẻ em nếu không phải là thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong tình thế cấp cứu thì sẽ không được miễn phí khi khám,chữa bệnh vượt tuyến, trái tuyến

Nghị định 36/2005/NĐ- CP đã bị bãi bỏ và thay thế bởi Nghị định 71/2011/NĐ-

CP ngày 22/8/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, có hiệu lực từ ngày 10/10/2011 Nghị định 71/2011/NĐ- CP không quy định về quyền được khám bệnh, chữa bệnh miễn phí của trẻ em trong một điều khoản riêng biệt nữa vì trách nhiệm này đã được chuyển giao

20 Xem thêm Điều 18 Nghị định 36/2005/NĐ- CP

Trang 38

24 Điểm a khoản 1 Điều 22, tlđd số 21

25 Điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định 62/2009/NĐ- CP ngày 27/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế 2008

Trang 39

ký nơi khám bệnh, chữa bệnh ban đầu Việc khám bệnh, chữa bệnh của trẻ cũng không

bị hạn chế trong phạm vi các cơ sở y tế công lập như trước đây là mở rộng đến cả các

cơ sở y tế ngoài công lập có đủ điều kiện và có đăng ký Ngoài ra, trẻ em còn có cơ hội được thụ hưởng các dịch vụ y tế kỹ thuật cao trong quá trình điều trị và cũng không phải chịu chi phí cho việc thụ hưởng này

Những nội dung của Luật bảo hiểm y tế 2008 được hướng dẫn thi hành trong Nghị định 62/2009/NĐ- CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế Nghị định này cũng đánh dấu bước chuyển giao trách nhiệm thực hiện công tác khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội sang cho cơ quan Bảo hiểm xã hội Việc chuyển giao được thể hiện rõ ràng trong Công văn số 3940/LĐTBXH- BVCSTE ngày 19/10/2009 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội nhưng Nghị định 62/2009/NĐ-

CP có quy định chuyển tiếp Theo đó quyền lợi của trẻ em dưới 6 tuổi vẫn tiếp tục được bảo đảm theo các quy định của Nghị định 36/2005/NĐ- CP “Tiếp tục thực hiện chế độ khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi theo hình thức thực thanh, thực chi theo quy định tại Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cho đến khi Nghị định này có hiệu lực” (Điều 16 Nghị định 62/2009/NĐ- CP) Tất cả các quy định này đã tạo nên một quy trình tương đối hoàn thiện chặt chẽ nhằm một mục đích để công tác khám bệnh chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế mang lại hiệu quả tốt nhất; đặc biệt là đối với đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi, bảo đảm cho các mục tiêu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
29. Wolfgang Bebedek, (2008), Tìm hiểu về quyền con người, NXB Tư pháp, Hà Nội 30. Võ Bá- Yên Thảo, (2009), Báo động nạn xâm hại tình dục trẻ em, Báo Pháp luật Tp.HCM, ngày 11/9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về quyền con người, "NXB Tư pháp, Hà Nội 30. Võ Bá- Yên Thảo, (2009), "Báo động nạn xâm hại tình dục trẻ em
Tác giả: Wolfgang Bebedek, (2008), Tìm hiểu về quyền con người, NXB Tư pháp, Hà Nội 30. Võ Bá- Yên Thảo
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2009
31. Nguyễn Bá Diến, (2007), “Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền con người”, Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế- Luật, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền con người
Tác giả: Nguyễn Bá Diến
Năm: 2007
32. Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
34. Jacques Mougon, (1995), Quyền con người, NXB Đại học Pháp, Hà Nội, tr.37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người
Tác giả: Jacques Mougon
Nhà XB: NXB Đại học Pháp
Năm: 1995
35. Từ Ninh, (2003), “Nạn buôn bán và bạo hành phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam- nhìn từ quan điểm giới”, Dân chủ và pháp luật, (09) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạn buôn bán và bạo hành phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam- nhìn từ quan điểm giới”, "Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Từ Ninh
Năm: 2003
36. Hoàng Thị Kim Quế, (2001), “Những đặc thù và sự phát triển của pháp luật về phụ nữ, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam”, Nhà nước và pháp luật, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc thù và sự phát triển của pháp luật về phụ nữ, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2001
37. Sách trắng “Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người”, Bộ Ngoại giao, 2009, Lê Minh Thông, (2000), “Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyển con người ở nước ta”, Nhà nước và pháp luật, (08) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người”, Bộ Ngoại giao, 2009, Lê Minh Thông, (2000), “Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyển con người ở nước ta”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Sách trắng “Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người”, Bộ Ngoại giao, 2009, Lê Minh Thông
Năm: 2000
39. Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, (2008), Đại tự điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại tự điển tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2008
41. Viện thông tin khoa học và trung tâm nghiên cứu quyền con người- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (1999), Vì quyền trẻ em và sự bình đẳng của phụ nữ, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì quyền trẻ em và sự bình đẳng của phụ nữ
Tác giả: Viện thông tin khoa học và trung tâm nghiên cứu quyền con người- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 1999
42. Nguyễn Cửu Việt, (2003), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
43. Nguyễn Cửu Việt, (2008), Giáo trình pháp luật hành chính Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật hành chính Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
1. Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) 2. Công ước về quyền trẻ em 1989 Khác
3. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 Khác
4. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội 1966 Khác
5. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 (UDHR) 6. Bộ luật Lao động Khác
12. Luật Phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) 2006 Khác
14. Công văn số 3940/LĐTBXH-BVCSTE ngày 19/10/2009 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện công tác khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi Khác
15. Công văn 1084/BHXH-CSYT về phối hợp chỉ đạo thực hiện bảo hiểm y tế cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành Khác
16. Chỉ thị 23/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác y tế trong các trường học Khác
17. Nghị định 36/2005/NĐ- CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w