hỗ trợ từ bên nhượng quyền, một trong những nghĩa vụ chính của bên nhận quyền trong quan hệ kinh doanh này.1.1.2 Khái niệm nhượng quyền thương mại của Hội đồng thương mại liên bang Hoa K
Mục tiêu và đối tƣợng nghiên cứu
Mục tiêu đặt ra của đề tài là dựa vào thực tiễn xét xử tranh chấp nhƣợng quyền thương mại tại Hoa Kỳ để đưa ra hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, đồng thời rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quan hệ kinh doanh nhượng quyền thương mại hiện nay, đặc biệt là các quan hệ kinh doanh với đối tác Hoa Kỳ Đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận là một số vấn đề pháp lý về nhƣợng quyền thương mại tại Việt Nam, Hoa Kỳ và các tranh chấp điển hình trong loại hình kinh doanh này tại Hoa Kỳ hiện nay.
Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua, từ thực tiễn nhượng quyền thương mại phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam đã có khá nhiều bài viết chuyên khảo cũng nhƣ các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ nghiên cứu về lĩnh vực này, cụ thể nhƣ Khóa luận tốt nghiệp “Nhƣợng quyền kinh doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Minh Châu năm 2006, Luận văn “Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Hồ Vĩnh Long năm 2006, bài viết “Hoàn thiện khung pháp lý về nhượng quyền thương mại” của Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 103, tháng 8 năm 2007 và một số các bài nghiên cứu khác Đa phần các bài nghiên cứu trên đều tập trung viết về mặt kinh tế của việc kinh doanh nhƣợng quyền, về bản chất của hợp đồng nhượng quyền thương mại và về các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam hiện nay Tính đến thời điểm hiện nay chƣa có đề tài nghiên cứu nào tập trung phân tích về các vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp có khả năng phát sinh trong quan hệ kinh doanh nhượng quyền thương mại giữa các bên, đặc biệt là tranh chấp với các đối tác nước ngoài - mặc dù đây là một vấn đề quan trọng và cần thiết có sự nghiên cứu, điều chỉnh của pháp luật nhằm đảm bảo quan hệ nhượng quyền thương mại diễn ra một cách phù hợp và giúp các doanh nghiệp
Việt Nam tránh vướng phải những rủi ro không đáng có do thiếu kiến thức và kinh nghiệm về pháp luật nhượng quyền thương mại trong quá trình kinh doanh của mình.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận
Trong khóa luận, tác giả sử dụng ba phương pháp cơ bản là tổng hợp, phân tích và so sánh các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại của Việt Nam và Hoa Kỳ; tác giả cũng sẽ vận dụng phương pháp phân tích án lệ để tìm hiểu các thực tiễn tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại tại Hoa Kỳ, từ đó so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam.
Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay khi nhượng quyền thương mại đang trên đà phát triển và sẽ tiếp tục lớn mạnh tại Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới, đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần giúp cho hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, đặc biệt là các quan hệ nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài phát triển tích cực; doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh nhƣợng quyền có điều kiện nhận biết đƣợc các trường hợp có khả năng phát sinh mâu thuẫn, tự bảo vệ mình tránh vướng phải tranh chấp và thiệt hại trong quá trình kinh doanh Trên cơ sở đó bài viết cũng đưa ra phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại, thúc đẩy loại hình kinh doanh này phát triển lâu dài và bền vững tại Việt Nam.
TỔNG QUAN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Khái niệm nhượng quyền thương mại
1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại của một số tổ chức quốc tế trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại là một loại hình kinh doanh mới và hiện đang phát triển rất mạnh mẽ đưa nhiều thương hiệu vươn rộng ra khỏi biên giới lãnh thổ quốc gia mình phát triển khắp thế giới Kinh doanh nhượng quyền thương mại đòi hỏi sự giao thương và liên kết giữa các nhà đầu tƣ trong từng khu vực cũng nhƣ trên toàn cầu Nhiều tổ chức nhượng quyền thương mại trên thế giới đã được thành lập với mục đích là cầu nối giúp thương nhân của các quốc gia khác nhau tìm hiểu được thông tin về những hệ thống nhƣợng quyền mình mong muốn tiến hành đầu tƣ cũng nhƣ thúc đẩy kinh doanh nhƣợng quyền phát triển toàn cầu Với những tôn chỉ mục đích hoạt động khác nhau, các tổ chức này tiếp cận nhượng quyền thương mại dưới những góc độ khác nhau, do vậy mỗi tổ chức có một khái niệm riêng về nhượng quyền thương mại
Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế (International Franchise
Organisation), 7 một tổ chức đại diện cho nhượng quyền thương mại lớn nhất và lâu đời nhất trên phạm vi toàn cầu hiện nay có cách tiếp cận về khái niệm nhƣợng quyền thương mại như sau:
Nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận hoặc sự cấp phép giữa hai thực thể độc lập về mặt pháp lý, trong đó cho phép một người hoặc một nhóm người (bên nhận quyền) quyền được kinh doanh một sản phẩm hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hoặc tên thương mại của một doanh nghiệp khác (bên nhượng quyền), bên nhận quyền được quyền tiến hành kinh doanh một sản phẩm hoặc dịch vụ theo phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền và bên nhận
7 Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế hiện đại diện cho hơn 1.300 hệ thống nhượng quyền và 10.000 đơn vị nhận quyền trên toàn thế giới Trải qua lịch sử phát triển hơn năm mươi năm, Hiệp hội đã thực hiện được nhiều hoạt động nhằm bảo vệ, tăng cường và thúc đẩy nhượng quyền thương mại phát triển trên toàn thế giới Theo http://en.wikipedia.org/wiki/International_Franchise_Association (truy cập ngày 31/5/2012) quyền có nghĩa vụ phải trả cho bên nhượng quyền những khoản phí cho các quyền này; bên nhượng quyền có nghĩa vụ phải cung cấp các quyền nói trên và hỗ trợ cho các bên nhượng quyền 8
Với nội dung của định nghĩa trên, có thể thấy Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế cho rằng nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận giữa các bên, đồng thời nhấn mạnh vào mối quan hệ độc lập, ràng buộc của bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền; khái niệm cũng đã nêu đƣợc những đối tƣợng của thỏa thuận nhƣợng quyền là nhãn hiệu, tên thương mại và phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền Tuy nhiên khái niệm chưa nêu được một đặc trưng của nhượng quyền thương mại là tính đồng bộ (uniformity) của hệ thống nhƣợng quyền, bên nhận quyền có nghĩa vụ tuân thủ đúng các quy định của toàn hệ thống dưới sự kiểm soát của bên nhượng quyền Theo quan điểm của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới (World
Franchise Council), tổ chức phi lợi nhuận của các Hiệp hội nhượng quyền thương mại các quốc gia trên thế giới, nhượng quyền thương mại được định nghĩa là “một chiến lược phát triển thương mại dựa trên mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thương nhân độc lập, bên nhượng quyền và các bên nhận quyền, trong đó bên nhượng quyền và bên nhận quyền cam kết cùng nhau hướng đến thành công chung của cả hai bên” 9
Khái niệm của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới xem nhượng quyền thương mại như một hoạt động thương mại, “một chiến lược phát triển thương mại” Nội dung khái niệm đƣa ra khá đơn giản, chỉ khái quát đƣợc hai chủ thể chính trong quan hệ kinh doanh là bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền mà chƣa làm nổi bật đƣợc quyền và nghĩa vụ của các bên cũng nhƣ những đặc trƣng cần phân biệt giữa loại hình kinh doanh phức tạp này với các hình thức kinh doanh khác
8 http://franchise.org/franchiseesecondary.aspx?idR625 (truy cập ngày 09/5/2012) (Nguyên văn bằng tiếng Anh đƣợc cung cấp trong phần Phụ lục 1)
9 Nguyên tắc đạo đức của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới, Phần II (The World Franchise Council‟s principles of ethics) (Nguyên văn bằng tiếng Anh đƣợc cung cấp trong phần Phụ lục 1)
Liên đoàn nhượng quyền thương mại châu Âu (European Franchise Federation) trong khi đó đưa ra khái niệm về nhượng quyền thương mại như sau:
Nhượng quyền thương mại là một hệ thống tiếp thị hàng hóa và/hoặc dịch vụ và/hoặc công nghệ dựa trên sự hợp tác chặt chẽ và liên tục giữa các doanh nghiệp độc lập và tách biệt về mặt pháp lý và tài chính, bên nhượng quyền và các bên nhận quyền riêng lẻ của bên nhượng quyền, theo đó bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền riêng lẻ của mình quyền và đồng thời áp đặt nghĩa vụ phải tiến hành kinh doanh theo quan niệm của bên nhượng quyền
Quyền được cấp cho phép và bắt buộc bên nhận quyền, nhằm đổi lại sự bù đắp về mặt tài chính trực tiếp hoặc không trực tiếp, sử dụng tên thương mại và/hoặc nhãn hiệu thương mại và/hoặc dấu hiệu dịch vụ, bí quyết kinh doanh, phương thức kinh doanh và phương thức kỹ thuật, hệ thống thủ tục và các quyền công nghiệp và/hoặc các quyền sở hữu trí tuệ khác, được giúp đỡ thông qua các hỗ trợ thương mại và kỹ thuật liên tục, trong khuôn khổ và theo thời hạn của một hợp đồng nhượng quyền thương mại bằng văn bản được ký kết giữa các bên nhằm mục đích này 10
Theo quan điểm của Liên đoàn nhượng quyền châu Âu, nhượng quyền thương mại phải được xem là một hoạt động thương mại, “một hệ thống tiếp thị hàng hóa và/hoặc dịch vụ và/hoặc công nghệ” Khái niệm nhượng quyền thương mại do Liên đoàn nhƣợng quyền châu Âu đƣa ra đã đề cập tới một số đặc tính cơ bản của hoạt động nhƣợng quyền, bao gồm chủ thể, đối tƣợng, quyền và nghĩa vụ của các bên, đặc biệt khái niệm nhấn mạnh tới yếu tố nghĩa vụ bên nhận quyền phải tuân thủ những quy định thống nhất của hệ thống nhƣợng quyền Tuy vậy khái niệm lại không đề cập đến vấn đề phí nhƣợng quyền mà bên nhận quyền phải trả để có thể nhận đƣợc các quyền và sự
10 Quy tắc đạo đức nhượng quyền thương mại của châu Âu (European Codes of Ethics for Franchising) Phần II.IV.1 (sửa đổi, bổ sung ngày 05/12/2003) (Nguyên văn bằng tiếng Anh đƣợc cung cấp trong phần Phụ lục 1) hỗ trợ từ bên nhƣợng quyền, một trong những nghĩa vụ chính của bên nhận quyền trong quan hệ kinh doanh này
1.1.2 Khái niệm nhượng quyền thương mại của Hội đồng thương mại liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commission)
Hội đồng thương mại liên bang Hoa Kỳ đưa ra khái niệm về nhượng quyền thương mại trong Phần 16 CFR 436 (FTC Rules, 16 CFR 436 - Disclosure Requirements and Prohibitions Concerning Franchising and Business Opportunities) nhƣ sau:
Nhượng quyền thương mại là bất kỳ một quan hệ thương mại liên tục hoặc một thỏa thuận, không phân biệt tên được gọi, trong đó các điều khoản của thỏa thuận hoặc của hợp đồng quy định, hoặc bên nhượng quyền thương mại cam kết hoặc tuyên bố, bằng cách nói miệng hoặc bằng văn bản, rằng:
(1) Bên nhận quyền có quyền tiến hành kinh doanh dưới thương hiệu được nhận diện hoặc có liên kết với bên nhượng quyền, hoặc được quyền cung cấp, bán, hoặc phân phối hàng hóa, dịch vụ hoặc các loại mặt hàng được nhận diện hoặc có liên kết với thương hiệu của bên nhượng quyền;
Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại là một loại hình kinh doanh mang lại nhiều lợi thế cho các bên tham gia cũng như đáp ứng được tối đa nhu cầu của người tiêu dùng trong thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay Tuy nhiên kinh doanh nhƣợng quyền không đảm bảo một sự thành công hoàn hảo Do mang trong mình rất nhiều ƣu điểm cũng nhƣ lợi thế kinh doanh nên tính chất của nhượng quyền thương mại rất phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro mà nếu các bên không cẩn thận trong quá trình kinh doanh hoặc không lường trước được các tình huống có thể phát sinh thì tranh chấp sẽ rất dễ xảy ra
1.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp trong nhượng quyền thương mại
Trong kinh doanh, tranh chấp tiềm ẩn nhƣ một vấn đề tự nhiên và tất yếu mà kinh doanh nhượng quyền thương mại cũng không thuộc trường hợp ngoại lệ Có rất nhiều lý do làm phát sinh tranh chấp trong quan hệ kinh doanh, một trong những lý do đó là sự hạn chế của hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại hiện nay Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong quan hệ kinh doanh và chế tài cho những vi phạm liên quan, vì vậy sự yếu kém và chƣa hoàn thiện của các quy định pháp luật sẽ dẫn tới khả năng các bên vi phạm hợp đồng Bên cạnh đó, các bên hiện nay chƣa có sự quan tâm đúng mực đến việc soạn thảo hợp đồng, dẫn đến các quy định trong hợp đồng còn lỏng lẻo, không chặt chẽ và khi mâu thuẫn xảy ra các bên không thống nhất đƣợc cách giải quyết, nảy sinh tranh chấp Một lý do khác là không phải lúc nào trong quá trình kinh doanh các bên cũng tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và các thỏa thuận hợp đồng một cách nghiêm chỉnh, điều này cũng là cơ sở làm mâu thuẫn phát sinh Trong thực tiễn quan hệ kinh tế, số lượng các tranh chấp thường gia tăng t lệ thuận với sự gia tăng của khối lượng các giao dịch Đáng chú ý là trong lĩnh vực kinh doanh thương mại quốc tế, khi mà các bên có sự khác biệt về ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và cả tập quán kinh doanh thì khả năng xảy ra tranh chấp lại càng gia tăng Đối với lĩnh vực nhượng quyền thương mại, các tranh chấp còn có thể phát sinh từ các yếu tố đặc thù khác, nhƣ tính dài hạn của hợp đồng, sự phức tạp trong quy trình chuyển giao các quyền thương mại và sự phức tạp trong quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền
1.2.1.1 Hợp đồng mang tính chất dài hạn
Hợp đồng nhượng quyền thương mại thông thường là những hợp đồng dài hạn Bên nhận quyền sẽ không sẵn sàng đầu tƣ cơ sở vật chất cho một cửa hàng kinh doanh nhƣợng quyền nếu họ không có đƣợc bảo đảm rằng họ có thể sử dụng những quyền thương mại của bên nhượng quyền trong thời gian dài và thu được lợi nhuận từ nguồn vốn lớn mà mình đã đầu tƣ 12 Đi kèm trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng là các nghĩa vụ phải thực hiện thường xuyên hoặc định kỳ ràng buộc cả hai bên Vậy với thời hạn hợp đồng lâu dài nhƣ lý giải ở trên, khả năng hai bên vi phạm các nghĩa vụ hoặc xảy ra mâu thuẫn trong quá trình thực hiện hợp đồng là rất cao
1.2.1.2 Hợp đồng bao gồm việc chuyển giao các quyền thương mại
Về cơ bản “…hoạt động NQTM [nhượng quyền thương mại] thực chất là hoạt động chuyển giao quyền kinh doanh (quyền thương mại) gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả quảng cáo, tiêu chuẩn hàng hoá, đào tạo người lao động, khuyến mại,
12 Lê Nết, Vũ Thanh Minh, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại”, LCT Lawyers, tr 5 v.v…” 13 Trong hợp đồng nhƣợng quyền luôn có điều khoản bắt buộc quy định về vấn đề chuyển quyền thương mại, bao gồm việc chuyển giao các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp của bên nhƣợng quyền cho bên nhận quyền 14 Tuy nhiên pháp luật Việt Nam về nhượng quyền thương mại hiện nay không có quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này mà dẫn chiếu đến áp dụng pháp luật về sở hữu công nghiệp, cụ thể là Luật Sở hữu trí tuệ của Quốc hội số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, sửa đổi bổ sung theo Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 (“Luật Sở hữu trí tuệ
2005”) và các văn bản hướng dẫn thi hành, 15 do vậy quan hệ kinh doanh nhượng quyền thương mại sẽ phải đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu trí tuệ - một lĩnh vực đang gặp khó khăn trong việc thực thi trên thực tế tại Việt Nam hiện nay 16 Theo ông Albert Kong - Giám đốc điều hành Công ty Asiawide Franchise, một chuyên gia về nhượng quyền thương mại ở Châu Á thì "[v]ấn đề vướng lớn nhất ở thị trường N [ iệt Nam là quản lý sở hữu trí tuệ khi nhượng quyền thương mại." 17 Thực tế tại Việt Nam hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ chƣa đƣợc xã hội quan tâm đúng mực cũng như chưa được Nhà nước bảo hộ một cách thích đáng Do vậy một khi nhượng quyền thương mại phát triển, kèm với việc chuyển giao các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và kết hợp với hiện trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta như hiện nay, mâu thuẫn và tranh chấp trong loại hình kinh doanh mới này sẽ rất dễ phát sinh và gây thiệt hại cho các bên
13 Bùi Ngọc Cường, “Hoàn thiện khung pháp lý về nhượng quyền thương mại”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 103/2007
16 Theo ông Trần Việt Hùng, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam
[http://khoahoc.baodatviet.vn/Home/KHCN/Bat-cap-trong-bao-ve-quyen-so-huu-tri-tue/20114/141413.datviet] (truy cập ngày 18/7/2012)
17 http://www.vietfranchise.com/index.php?Module=Content&Action=view&id'9&Itemid (truy cập ngày 03/5/2012)
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa bên nhƣợng quyền – bên nhận quyền
Một thực tế hiện nay là tuy kinh doanh nhượng quyền thương mại đã xuất hiện tại Việt Nam được hơn một thập niên và đang phát triển rất sôi động, nhiều người vẫn còn nhầm lẫn hình thức kinh doanh này với một số loại hình kinh doanh tương đồng như hoạt động cấp li-xăng hay chuyển giao công nghệ và đặc biệt là hình thức kinh doanh chuỗi cửa hàng của cùng một công ty – bên nhận quyền bị nhầm lẫn là nhân viên của bên nhƣợng quyền, dẫn đến khả năng có thể phát sinh nhiều mâu thuẫn tai hại Đặc điểm nổi bật nhất của kinh doanh nhƣợng quyền là sự đồng bộ giữa các cửa hàng nhƣợng quyền từ nhãn hiệu, chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ, cơ sở vật chất cho đến đồng phục của nhân viên… Sự giống nhau đến y đúc như vậy làm cho nhiều người nhầm tưởng các cửa hàng này là của chung một công ty Mặc dù thực tế là bên nhượng quyền và bên nhận quyền có mối quan hệ rất chặt chẽ; tuy nhiên mọi hoạt động của cửa hàng là do bên nhận quyền tự bỏ tiền đầu tƣ và đứng ra làm chủ Bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền là hai thực thể pháp lý độc lập, không có mối quan hệ ràng buộc nhƣ chủ cửa hàng - nhân viên làm thuê trong quan hệ kinh doanh chuỗi cửa hàng Điểm cần lưu ý thứ hai là trong quan hệ kinh doanh nhượng quyền thương mại, bên nhƣợng quyền có nhiều quyền hạn cũng nhƣ nhiều trách nhiệm với hoạt động của cửa hàng nhƣợng quyền hơn quan hệ cấp phép li-xăng hay chuyển giao công nghệ Trong quan hệ kinh doanh nhƣợng quyền, bên nhƣợng quyền có quyền yêu cầu và kiểm soát việc bên nhận quyền thực hiện kinh doanh theo đúng quy định của hệ thống nhƣợng quyền Đồng thời, trong suốt quá trình nhƣợng quyền, bên nhận quyền có quyền yêu cầu sự hỗ trợ, hướng dẫn trực tiếp từ bên nhượng quyền để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả Ngược lại, trong hợp đồng cấp phép li-xăng, người cấp phép chỉ quan tâm đến khoản phí li-xăng họ thu đƣợc và giám sát liệu giấy phép của họ có đƣợc sử dụng đúng mục đích hay không 18 Còn “[t]rong hoạt động chuyển giao công nghệ,
18 Xem Lý Quý Trung (2006), chú thích số 1 về nguyên tắc, sau khi chuyển giao công nghệ xong, bên chuyển giao sẽ không còn nghĩa vụ hỗ trợ/hoặc kiểm soát thêm đối với bên nhận chuyển giao…” 19 Nhƣ vậy, mối quan hệ của bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền không giống nhƣ mối quan hệ của các bên trong hợp đồng li-xăng hay hợp đồng chuyển giao công nghệ Kinh doanh nhượng quyền thương mại đòi hỏi sự hợp tác và kết nối chặt chẽ hơn giữa các bên tham gia
Có thể thấy bản chất của hợp đồng nhượng quyền thương mại rất phức tạp, nó chứa đựng nhiều ƣu điểm so với các loại hình kinh doanh khác, dẫn tới lợi thế kinh doanh rất lớn cho các bên, hạn chế đƣợc nhiều rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên đi kèm với các ƣu thế cạnh tranh đó là nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn rất cao mà nếu nhƣ các doanh nghiệp không lường trước được và không có biện pháp đề phòng thì khi xảy ra tranh chấp, bên bị thiệt hại sẽ phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề
1.2.2 Nhận dạng những lý do làm phát sinh tranh chấp giữa các chủ thể trong quan hệ kinh doanh nhượng quyền thương mại
Khi tham gia vào quan hệ nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều hướng đến những mục đích riêng khác nhau Một bên mong muốn nhân rộng thương hiệu của mình ra thị trường, tập trung vào đầu tư phát triển và giữ vững chất lượng thương hiệu Bên kia lại hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong kinh doanh Do vậy các dạng tranh chấp phát sinh từ mỗi bên là khác nhau Căn cứ vào chủ thể làm phát sinh tranh chấp, ta có thể liệt kê các dạng tranh chấp có thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại như sau:
- Các tranh chấp phát sinh từ bên nhượng quyền gồm: bên nhận quyền không tuân thủ đúng quy định của hệ thống nhƣợng quyền, chậm trả phí
19 Nguyễn Hải Vân “Nhượng quyền thương mại – Nhận diện sự khác biệt với một số hình thức kinh doanh khác” [http://www.vietfranchise.com/index.php?Module=Content&Action=view&id(4&Itemid] (đăng nhập ngày 04/5/2012) nhƣợng quyền, hoặc vi phạm các quy định về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các quyền thương mại của bên nhượng quyền
- Các tranh chấp phát sinh từ bên nhận quyền gồm: bên nhƣợng quyền vi phạm các quy định tiết lộ thông tin về hệ thống nhƣợng quyền, bên nhận quyền không đồng ý với các yêu cầu sửa đổi quy định của hệ thống nhƣợng quyền, bên nhượng quyền không hỗ trợ, hướng dẫn bên nhận quyền trong quá trình kinh doanh nhƣợng quyền
Ngoài ra còn một số tranh chấp khác có thể phát sinh liên quan đến các quy định hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại, vấn đề chấm dứt hoặc gia hạn hợp đồng, vấn đề chuyển giao hợp đồng nhƣợng quyền, v.v…
1.2.3 Một số tranh chấp phổ biến trong hoạt động kinh doanh nhƣợng quyền 1.2.3.1 Tranh chấp về quyền sửa đổi những quy định trong hệ thống kinh doanh nhƣợng quyền của bên nhƣợng quyền trong thời hạn của hợp đồng
Bản chất của hợp đồng nhượng quyền thương mại là mang tính thống nhất và tồn tại trong nó những quy định bắt buộc mà khi ký kết hợp đồng, bên nhận quyền phải nhất trí với những nội dung đó, đồng thời phải có nghĩa vụ tuân thủ đúng những quy định đã cam kết trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện hợp đồng đã ký, do nhu cầu thực tế phát sinh, bên nhƣợng quyền có thể yêu cầu bên nhận quyền sửa đổi những quy định trong hệ thống nhƣợng quyền mà hai bên đã thỏa thuận trước đây nhằm phù hợp với sự chuyển biến của nền kinh tế - xã hội và đảm bảo tính thống nhất của toàn hệ thống nhƣợng quyền
TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬA ĐỔI NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NHƢỢNG QUYỀN TRONG THỜI HẠN HỢP ĐỒNG
Quy định của pháp luật Việt Nam
2.1.1 Quy định của pháp luật nhượng quyền thương mại
Hiện nay, vấn đề sửa đổi quy định của hệ thống kinh doanh nhƣợng quyền trong quá trình thực hiện hợp đồng giữa các bên không được quy định trong Luật Thương mại 2005 cũng như trong Nghị định 35 Tại Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại đƣợc ban hành kèm theo Thông tƣ 09 (“Bản giới thiệu NQTM”), văn bản quy định một số thông tin bắt buộc mà bên nhƣợng quyền phải công khai cho bên dự kiến nhận quyền biết trước khi tiến hành ký hợp đồng, liên quan đến nghĩa vụ của bên nhận quyền phải mua hoặc thuê những thiết bị để phù hợp với hệ thống kinh doanh do bên nhƣợng quyền quy định có điều khoản bắt buộc công khai “Liệu có thể chỉnh sửa những quy định của hệ thống kinh doanh nhượng quyền thương mại không” 22 và “Nếu được phép chỉnh sửa hệ thống kinh doanh nhượng quyền thương mại, nói rõ cần những thủ tục gì” 23 Ngoài ra, Nghị định 35 Điều 8 khoản 2 cũng có quy định về nghĩa vụ của bên nhƣợng quyền nhƣ sau: “Bên nhượng quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho tất cả các Bên nhận quyền về mọi thay đổi quan trọng trong hệ thống nhượng quyền thương mại làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại của Bên nhận quyền.” Tuy nhiên thay đổi nhƣ thế nào đƣợc xem là “quan trọng” và “làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại của Bên nhận quyền” hiện nay chưa có quy định hướng dẫn
Vậy, với các quy định như trên, trong quan hệ kinh doanh nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam, các bên cần thiết phải thỏa thuận vấn đề cho phép hay không việc sửa đổi quy định của hệ thống nhƣợng quyền Tuy nhiên giới hạn bắt buộc thỏa thuận chỉ trong phạm vi bên nhận quyền phải mua hoặc thuê những thiết bị để phù hợp với toàn hệ thống kinh doanh, trong khi đó hệ thống kinh doanh nhƣợng quyền còn bao gồm rất nhiều các yếu tố khác nhƣ chất lƣợng, giá thành sản phẩm, các chương trình ưu đãi hoặc chiến lược kinh doanh… mà các yếu tố này cũng có thể sẽ đƣợc quy định đồng nhất trên toàn hệ thống nhƣợng quyền (theo từng loại hình nhƣợng quyền) và nếu một trong các yếu tố này thay đổi cũng sẽ có khả năng gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của bên nhận quyền
2.1.2 Các quy định khác có liên quan
Quay về các quy định điều chỉnh hợp đồng nói chung, Bộ luật Dân sự của Quốc hội số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 (“Bộ luật dân sự 2005”) Điều 423 khoản
1 quy định “Các bên có thể thoả thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Theo nhƣ quy định này, bên
22 Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại được ban hành kèm theo Thông tư số 09, Phần B, Mục V, Điều 2
23 Xem chú thích số 22, Điều 3 nhƣợng quyền có quyền sửa đổi các quy định của hệ thống nhƣợng quyền trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu thỏa thuận đƣợc với bên nhận quyền, ngƣợc lại nếu hai bên không thể đạt đƣợc thỏa thuận thì việc sửa đổi là không phù hợp Điều này có nghĩa là quyền của bên nhƣợng quyền đối với chính hệ thống nhƣợng quyền của mình bị hạn chế và chỉ đƣợc thực hiện việc điều chỉnh nếu có sự đồng ý của bên nhận quyền
Vậy, với các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, ta có thể thấy tƣ duy của nhà làm luật đã đặt vấn đề này vào thẩm quyền thỏa thuận của các bên (có thể thỏa thuận trước hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng, khi phát sinh nhu cầu cần sửa đổi) Việc sửa đổi chỉ được lưu ý bắt buộc thỏa thuận trong một trường hợp như đã được phân tích tại Mục 2.1.1, còn lại rất nhiều các trường hợp có khả năng thay đổi khác hiện nay vẫn chƣa đƣợc pháp luật điều chỉnh
2.2 Quy định của pháp luật Hoa Kỳ trong so sánh với pháp luật Việt Nam
2.2.1 Tổng quan về hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại tại Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, mỗi tiểu bang có riêng một hệ thống pháp luật độc lập áp dụng trong phạm vi lãnh thổ của bang mình Bên cạnh các phần chung đƣợc điều chỉnh tại Quy định của Hội đồng thương mại liên bang Hoa Kỳ (FTC Rules), nhượng quyền thương mại còn đƣợc quy định tại một số văn bản khác nhau phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của mỗi tiểu bang Tuy nhiên, nhìn chung quy định của các tiểu bang hiện nay đều khá tương đồng về những vấn đề cơ bản điều chỉnh hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại
Pháp luật nhượng quyền thương mại tại Hoa Kỳ hiện nay chủ yếu điều chỉnh ba nội dung sau: (1) các quy định về việc công khai tiết lộ thông tin của hệ thống nhƣợng quyền; (2) các quy định về đăng ký nhượng quyền thương mại; và (3) mối quan hệ giữa bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền Trong đó, phần (1) đƣợc quy định và hướng dẫn chi tiết trong cả luật liên bang 24 và luật các bang, phần (2) và (3) được điều chỉnh bởi các quy định riêng của từng bang 25
Về mối quan hệ giữa bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền, đa số các tiểu bang đều ban hành những quy định hạn chế quyền của bên nhƣợng quyền trong việc sửa đổi các quy định của hệ thống nhƣợng quyền, cụ thể nhƣ sau:
Tại bang California, Bộ luật Doanh nghiệp, Luật kinh doanh nhƣợng quyền thương mại quy định bên nhượng quyền không được quyền tiến hành các sửa đổi quan trọng (material modification) liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại trước khi thực hiện việc thông báo bằng văn bản cho bên nhận quyền về yêu cầu thay đổi trong thời hạn năm ngày làm việc trước khi quyết định sửa đổi có hiệu lực áp dụng với bên nhận quyền, và bên nhận quyền, thông qua thông báo bằng văn bản chậm nhất là năm ngày làm việc kể từ ngày thỏa thuận sửa đổi dự kiến có hiệu lực, có quyền hủy bỏ thỏa thuận liên quan đến việc sửa đổi 26 Luật nhượng quyền thương mại tại các bang North Dakota và Tennessee cũng có các quy định hạn chế tương tự 27
Tại bang Hawaii, Luật đầu tư nhượng quyền thương mại quy định việc yêu cầu sửa đổi của bên nhƣợng quyền không đƣợc là sửa đổi quan trọng và hệ quả của việc sửa đổi phải đảm bảo cơ hội thành công cho bên nhận quyền, vì lợi ích chung của toàn hệ thống nhƣợng quyền, đồng thời yêu cầu sửa đổi không đƣợc bất hợp lý (unreasonable) và mang tính độc đoán (arbitrary) 28 Các quy định tương tự cũng được áp dụng tại bang Michigan, bang New Jersey và bang Rhode Island 29
24 Phần 16 CFR 436, Quy định của Hội đồng thương mại liên bang Hoa Kỳ FTC Rules
25 http://franchiselaw.net/startups/usfranchiselawbasics.html (truy cập ngày 09/7/2012)
26 Điều 31101(c)(2) và Điều 31125(d) Bộ luật Doanh nghiệp của bang California (California Corporate Code) (Nguyên văn bằng tiếng Anh đƣợc cung cấp trong phần Phụ lục 1)
27 Điều 51-19-04(d) Bộ luật Century của bang North Dakota (North Dakota Century Code), Điều 47-25-1505 Bộ luật của bang Tennessee đã đƣợc chú giải (Tennessee Code Annotated)
28 Điều 482E-4(b) và Điều 482-6(2)(H) Đạo luật của bang Hawaii đã đƣợc sửa đổi (Hawaii Revised Statutes) (Nguyên văn bằng tiếng Anh đƣợc cung cấp trong phần Phụ lục 1)
29 Điều 455.1506 Luật đầu tư nhượng quyền thương mại của bang Michigan, Điều 56:10-7(e) Luật của bang New Jersey (New Jersey Statutes Annotated), Điều 19-28.1-6 Pháp luật chung của bang Rhode Island
(General Laws of Rhode Island)
2.2.2 So sánh pháp luật nhượng quyền thương mại Hoa Kỳ và Việt Nam
Với các quy định nêu trên, ta có thể thấy pháp luật nhượng quyền thương mại tại các tiểu bang của Hoa Kỳ hiện nay đã ban hành đƣợc một số quy định điều chỉnh vấn đề sửa đổi các quy định của hệ thống nhƣợng quyền trong quan hệ kinh doanh của các bên Các quy định của mỗi bang là khác nhau, tuy nhiên nhìn chung tất cả đều tập trung điều chỉnh hai nội dung chủ yếu: (1) thủ tục tiến hành việc sửa đổi của bên nhƣợng quyền và thời hạn chấp nhận hoặc từ chối của bên nhận quyền; và (2) điều kiện đƣợc sửa đổi áp dụng cho bên nhƣợng quyền Tại Việt Nam hiện nay, vấn đề này chƣa được quy định trực tiếp trong pháp luật nhượng quyền thương mại mà được hướng dẫn cho các bên tự thỏa thuận tại Bản giới thiệu NQTM, tuy nhiên những quy định của hướng dẫn này cũng chưa thật sự đầy đủ và chưa bao hàm được toàn diện các yếu tố của hệ thống nhƣợng quyền Điểm chung của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ hiện nay là cho phép các bên tự thỏa thuận quyết định tiến hành việc sửa đổi, xuất phát từ bản chất của hợp đồng phải đảm bảo sự tự do thỏa thuận giữa các bên Tuy nhiên, theo pháp luật Hoa Kỳ, các bên chỉ đƣợc tiến hành thỏa thuận trong giới hạn pháp luật đã đặt ra; trong khi đó tại Việt Nam pháp luật chỉ đặt ra quy định bắt buộc thỏa thuận mà không có các quy định hướng dẫn thi hành trên thực tế cũng như giới hạn áp dụng, dẫn đến hệ quả khi các bên vận dụng quy định này sẽ có khả năng phát sinh hai trường hợp: (1) các bên lúng túng không biết thỏa thuận nhƣ thế nào do chƣa có quy định pháp lý để làm cơ sở áp dụng; hoặc (2) bên nhượng quyền, thường ở vị thế cao hơn, sẽ áp đặt những thỏa thuận sửa đổi bất lợi cho bên nhận quyền Và cả hai trường hợp trên đều là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn phát sinh trong quá trình kinh doanh nhƣợng quyền của các bên sau này Với những so sánh trên, ta có thể nhận thấy hệ thống các quy định pháp luật tại Việt Nam hiện nay còn đơn giản và chƣa đƣợc toàn diện nhƣ hệ thống quy định của các bang tại Hoa Kỳ về cùng vấn đề này Sự đơn giản của hành lang pháp lý hiện hành có thể sẽ tạo ra những rào cản lớn cho việc điều chỉnh một cách hiệu quả các quan hệ nhượng quyền thương mại phức tạp trong bối cảnh phát triển hiện nay.
Thực tiễn tranh chấp và giải quyết tranh chấp tại Hoa Kỳ
Thực tiễn kinh doanh nhượng quyền thương mại cho ta thấy các sửa đổi thực tế phát sinh trong quá trình kinh doanh, cũng nhƣ theo dự đoán của các bên khi thỏa thuận ký kết hợp đồng kinh doanh nhượng quyền thương mại phần lớn là vì lợi ích phát triển chung của cả hai bên, tuy nhiên đôi khi vẫn có những trường hợp bên nhượng quyền muốn tiến hành việc sửa đổi vì lợi ích riêng của mình, theo chiều hướng thỏa mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng thông qua kênh hệ thống nhượng quyền và từ đó phát triển mở rộng thương hiệu của mình Xu hướng này có thể ban đầu mang lại nhiều khách hàng hơn cho hệ thống nhượng quyền nhưng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của bên nhận quyền, dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh
Với những quy định trong hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại Hoa Kỳ theo như tác giả đã phân tích ở trên, bên nhận quyền dường như được bảo vệ hơn trong mối quan hệ nhƣợng quyền – nhận quyền liên quan đến vấn đề sửa đổi các quy định của hệ thống nhượng quyền thương mại Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử các tranh chấp liên quan đến vấn đề này tại Hoa Kỳ, các cơ quan xét xử của các tiểu bang vẫn có xu hướng bảo vệ quyền lợi của bên nhượng quyền
Trong vụ tranh chấp In re Conoco Phillips Co Service Station Rent Contract, 30 bên nhƣợng quyền yêu cầu tăng tiền thuê và đòi bên nhận quyền trả tiền phí xử lý thẻ tín dụng khi hai bên thỏa thuận gia hạn hợp đồng nhượng quyền thương mại Bên nhận quyền không đồng ý với các yêu cầu sửa đổi đó và kiện ra tòa cho rằng bên nhƣợng quyền đã vi phạm Điều 31101 của Luật đầu tư nhượng quyền thương mại bang California (xem thêm Mục 2.2) Tòa án quận của liên bang tại California bác bỏ yêu cầu của bên nhận quyền với lý do Điều 31101 không được áp dụng trong trường hợp
30 In re Conoco Phillips Co Service Station Rent Contract, 2010 WL 2231875 (N.D Cal June 2, 2010) gia hạn hợp đồng nhượng quyền thương mại; đồng thời đưa ra giải thích về quy định tại Điều 31101 nhƣ sau: Bên nhận quyền, sau khi nhận đƣợc thƣ thông báo về việc sửa đổi từ bên nhƣợng quyền, kể cả những sửa đổi quan trọng, đƣợc lựa chọn một trong hai giải pháp sau: (1) phản đối các sửa đổi đó và rời bỏ hệ thống nhƣợng quyền hoặc (2) chấp nhận yêu cầu sửa đổi của bên nhƣợng quyền và tiếp tục kinh doanh theo các quy định mới Điều 31101 không quy định cho bên nhận quyền quyền đƣợc khởi kiện đòi bồi thường khi không chấp nhận yêu cầu sửa đổi từ bên nhượng quyền 31
Một ví dụ khác là vụ kiện Trail Burger King, Inc v Burger King of Miami, Inc., 32 bên nhƣợng quyền trong quá trình kinh doanh muốn điều chỉnh một số quy định tiêu chuẩn của hệ thống nhƣợng quyền, trong đó có yêu cầu bên nhận quyền tăng thêm số lƣợng thịt trong bánh hamburger Bên nhận quyền không đồng ý với yêu cầu đó và kiện ra tòa cho rằng những quyết định sửa đổi nhƣ vậy cần phải đƣợc hai bên lập thành một thỏa thuận đồng ý (mutual agreement) bằng văn bản Tuy nhiên, tòa không chấp nhận lập luận của bên nhận quyền và đƣa ra quan điểm nhƣ sau: Mục tiêu mà hợp đồng nhượng quyền thương mại hướng đến là sự đồng bộ giữa các cửa hàng của thương hiệu Burger King; và để đạt đƣợc mục tiêu đó, hợp đồng cho phép bên nhƣợng quyền đƣợc đặt ra các tiêu chuẩn và các chi tiết, đặc điểm kỹ thuật mà các bên nhận quyền có nghĩa vụ phải tuân theo, nếu bên nhận quyền không đồng ý thực hiện, hợp đồng nhƣợng quyền thương mại với bên nhận quyền đó sẽ bị chấm dứt Đáng lưu ý là mặc dù tranh chấp này được xét xử trước khi các quy định về nhượng quyền thương mại của Hội đồng thương mại liên bang Hoa Kỳ cũng như quy định của các bang được ban hành, kết quả xét xử này hiện vẫn đƣợc dẫn chiếu đến để áp dụng trong nhiều vụ tranh chấp sau này, điển hình nhƣ vụ tranh chấp Economou v Physicians Weight Loss Centers of
31 Quentin R Wittrock, Iris F Rosario, The GPMemorandum, số 133/2010, tr 4
32 Trail Burger King, Inc v Burger King of Miami, Inc., 187 So 2d 55 (Fla Dist Ct App 1966)
America, 756 F Supp 1024 (N.D Ohio 1991), tranh chấp La Quinta Corp v Heartland Props LLC 603 F.3d 327, 337-38 (6 th Cir 2010) 33
Với hai ví dụ trên, ta có thể thấy quan điểm của các Tòa án khi tiến hành xét xử hướng đến bảo vệ quyền lợi cho bên nhượng quyền mà không xem xét đến các thiệt hại có thể xảy ra cho bên nhận quyền khi phải thực hiện theo yêu cầu sửa đổi của bên nhƣợng quyền Tuy nhiên, đó chỉ mới là một mặt của hoạt động xét xử trong thực tiễn tại Hoa Kỳ hiện nay Đường lối giải quyết tranh chấp này hiện nay là không thống nhất, mỗi tòa có một cách giải thích vấn đề khác nhau (different analyses) và dẫn đến nhiều kết quả xét xử không thống nhất (different outcomes)
Ngƣợc lại với cách giải quyết thiên về bảo vệ bên nhƣợng quyền nhƣ các tranh chấp được giới thiệu ở trên, chỉ một số rất ít các tranh chấp khác đi theo hướng bảo vệ quyền lợi bên nhận quyền, điển hình là tranh chấp Bird Hotel Corp v Super 8 Motels,
Inc 34 Trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, hai bên có thỏa thuận như sau:
BÊN NHƯỢNG QUYỀN và BÊN NHẬN QUYỀN cùng nhận thức được sự sáng suốt và tính thực tế của tất cả các quy định áp dụng cho hệ thống nhượng quyền cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung theo thời gian như kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, do đó hai bên đồng ý rằng BÊN NHƯỢNG QUYỀN có quyền xem xét lại hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định của hệ thống nhượng quyền áp dụng thống nhất cho toàn hệ thống Super 8 Motels, bao gồm cả các khách sạn do BÊN NHƯỢNG QUYỀN sở hữu và đứng ra thành lập, và BÊN NHẬN QUYỀN đồng ý tuân thủ theo đúng các sửa đổi, bổ sung đó 35
Theo thỏa thuận đó, bên nhƣợng quyền yêu cầu các bên nhận quyền phải áp dụng chương trình khuyến mãi mới của hệ thống, trong đó cho phép những người tham gia được quy đổi điểm thưởng và sử dụng cho những dịch vụ khác nhau của hệ thống
33 James W Denision, “Why it‟s tough to have hard-and-fast-rules about operations manuals”, Franchise Law
Journal, Volume 30, Number 4, Spring 2011, tr 241
34 Bird Hotel Corp v Super 8 Motels, Inc., 2010 WL 572741 (D.S.D Feb 16, 2010)
35 Xem chú thích số 34, tr 10 (Nguyên văn bằng tiếng Anh đƣợc cung cấp trong phần Phụ lục 2) nhƣợng quyền, bao gồm khuyến mãi miễn phí một đêm ở tại khách sạn của bên nhận quyền hoặc bất kỳ khách sạn nào khác trong toàn hệ thống Và bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền thêm một khoản tiền tương đương năm phần trăm (5%) của
“tổng số tiền phòng thu được” (gross room sales) để tham gia vào chương trình mới 36 Bên nhận quyền Bird Hotel Corp đã phản đối quy định mới này của hệ thống nhƣợng quyền và kiện ra tòa cho rằng việc bên nhƣợng quyền yêu cầu bên nhận quyền phải chấp nhận các sửa đổi của hệ thống mới đƣợc tiếp tục kinh doanh nhƣợng quyền của Bird Hotel là không phù hợp với thỏa thuận ban đầu của các bên trong hợp đồng Trong quá trình xét xử, bên nhƣợng quyền căn cứ vào điều khoản bên nhận quyền cam kết chấp nhận các sửa đổi, bổ sung ở trên để phản đối yêu cầu của bên nhận quyền Tuy nhiên, Tòa án quận của liên bang đặt tại South Dakota đƣa ra phân tích nhƣ sau:
…các điều khoản của Hợp đồng không quy định cho bên Super 8 được áp đặt thêm khoản phí 5 phần trăm trên tổng số tiền phòng thu được lên các thành viên TripRewards khi họ tham gia vào chương trình khách hàng thân thiết Hợp đồng chỉ quy định cho phép bên nhượng quyền được thu bên nhận quyền một khoản phí tương đương 2 phần trăm, không phải 7 phần trăm để tham gia vào chương trình khách hàng thân thiết của hệ thống nhượng quyền 37 Điều khoản cam kết chấp nhận sửa đổi liên quan đến hệ thống nhƣợng quyền mà bên nhƣợng quyền đƣa ra ở trên không quy định cho phép bên nhƣợng quyền đƣợc đơn phương đưa ra một khoản phí mới cao hơn thỏa thuận ban đầu của hai bên Hơn nữa, tòa án đồng ý với bên nhận quyền rằng sửa đổi này không đƣợc coi là sửa đổi quy định trong hệ thống nhƣợng quyền theo nhƣ thỏa thuận đã cam kết của các bên mà là sự sửa đổi điều khoản quan trọng của hợp đồng và cần có sự đồng ý của bên nhận quyền trước
36 Theo thỏa thuận ban đầu, bên nhận quyền chấp nhận tham gia chương trình khuyến mãi của hệ thống với các quy định yêu cầu bên nhận quyền phải trả cho bên nhƣợng quyền hai phần trăm (2%) số tiền phòng và giảm giá mười phần trăm (10%) tiền phòng cho khách hàng tham gia chương trình
37 Xem chú thích số 34, tr 11-12 (Nguyên văn bằng tiếng Anh đƣợc cung cấp trong phần Phụ lục 2) khi đƣợc tiến hành Với các lý do nêu trên, Tòa án liên bang South Dakota đƣa ra kết luận rằng bên nhƣợng quyền đã vi phạm hợp đồng và yêu cầu của bên nhƣợng quyền áp đặt một khoản phí mới cao hơn thỏa thuận ban đầu của hai bên lên bên nhận quyền là không phù hợp (impermissible) và không đƣợc chấp nhận
Một số vụ tranh chấp khác lại đƣợc Tòa xem xét trên cơ sở “sửa đổi hợp lý” và
“thiện chí” Điển hình tại tranh chấp Beilowitz v General Motors Corp., 38 hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa hai bên có thỏa thuận cho phép bên nhận quyền được phân phối sản phẩm của General Motors không giới hạn trong bất kỳ địa giới hành chính nào trong thời hạn hai mươi năm Đến năm 2002, bên nhượng quyền tiến hành một chiến lƣợc marketing mới và yêu cầu hạn chế lại phần địa giới hành chính bên nhận quyền đƣợc phép kinh doanh Quyết định sửa đổi của bên nhƣợng quyền theo nhƣ nhận định của Tòa liên bang tại New Jersey là không hợp lý vì quy định mới này yêu cầu bên nhận quyền phải hy sinh khoản lợi nhuận về doanh số tương đương 1 triệu đô la và chấp nhận khoản thiệt hại từ 1 đến 1,6 triệu đô la để áp dụng chương trình mới của bên nhƣợng quyền trong vòng ba năm đầu Đây rõ ràng là một „quy định không hợp lý‟ theo Đạo luật của bang New Jersey về hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại [NJFPA] khi yêu cầu một bên nhận quyền tiến hành kinh doanh với những thiệt hại về tài chính trên thực tế để bên nhượng quyền thực hiện một chiến lược marketing mới và chưa được kiểm chứng” 39
Hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm cho các doanh nghiệp kinh
Với thực tiễn xét xử như trên, ta có thể thấy tuy pháp luật nhượng quyền thương mại của Hoa Kỳ hiện nay đã có một số quy định điều chỉnh vấn đề sửa đổi các quy định trong hệ thống nhƣợng quyền, trên thực tế việc giải quyết tranh chấp vẫn gặp nhiều rắc rối và chƣa thật sự áp dụng đƣợc hiệu quả các quy định của pháp luật Trong khi đó tại Việt Nam, các nhà làm luật hướng cho các bên tự thỏa thuận vấn đề này trong hợp đồng Với trình độ soạn thảo hợp đồng của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đặc biệt là hợp đồng nhượng quyền thương mại, một loại hình kinh doanh còn rất mới ở nước ta thì các bên hầu như chưa có được kinh nghiệm thực tế và do đó chưa thể lường trước được các rủi ro tiềm ẩn phát sinh trong quá trình kinh doanh nhượng quyền lâu dài, đặc biệt là trong quan hệ với các thương hiệu nhượng quyền nước ngoài Trong thời gian tới, các tranh chấp liên quan đến vấn đề điều chỉnh quy định của hệ thống nhƣợng quyền nhƣ trên rất có khả năng sẽ phát sinh trên thực tế tại Việt Nam nếu nhƣ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có sự quan tâm điều chỉnh kịp thời cũng nhƣ các doanh nghiệp không nhận thức đƣợc những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong quan hệ kinh doanh phức tạp này
Với các lý do nêu trên, theo quan điểm của tác giả, pháp luật nhƣợng quyền thương mại tại Việt Nam hiện nay cần có một số điều chỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu
41 Ví dụ nhƣ các bản án Carlock v Pillsbury Co., 719 F Supp 791, 812 (D Minn 1989); Economou v
Physicians Weight Loss Centers of America 756 F Supp 1024 (N.D Ohio 1991); La Quinta Corp v Heartland Properties LLC 603 F3d 327, 337-38 (6 th Cir 2010) phát triển của kinh doanh nhƣợng quyền cũng nhƣ đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam trước các đối tác đầu tư dày dặn kinh nghiệm từ nước ngoài
2.4.1 Hướng hoàn thiện pháp luật nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
(1) Khẳng định quyền được sửa đổi các quy định trong hệ thống nhượng quyền của bên nhượng quyền: Thực tiễn hiện nay cho ta thấy yêu cầu điều chỉnh, sửa đổi các quy định trong hoạt động kinh doanh là cần thiết nhằm đáp ứng kịp thời xu thế phát triển thay đổi của xã hội cũng nhƣ đảm bảo khả năng cạnh tranh của thương hiệu trên thị trường; do vậy nhu cầu sửa đổi các quy định trong hệ thống nhƣợng quyền của bên nhƣợng quyền là hoàn toàn chính đáng Pháp luật nhượng quyền thương mại Việt Nam cần thiết có quy định khẳng định cho phép bên nhƣợng quyền đƣợc quyết định việc sửa đổi những quy định trong hệ thống nhƣợng quyền của mình trong quá trình kinh doanh phù hợp với quy định giới hạn cụ thể của pháp luật
(2) Giới hạn mức độ sửa đổi: Bên nhƣợng quyền có quyền quyết định các sửa đổi liên quan đến hệ thống nhƣợng quyền của mình, tuy nhiên đây không phải là quyền tuyệt đối Pháp luật cần thiết đặt ra giới hạn quyền sửa đổi của bên nhƣợng quyền trong một phạm vi hợp lý, chẳng hạn nhƣ việc sửa đổi không đƣợc áp đặt thêm nghĩa vụ tài chính cho bên nhận quyền hoặc việc sửa đổi chỉ đƣợc phép tiến hành trong một phạm vi giới hạn nhất định nhằm hạn chế ảnh hưởng đến tài chính cũng như hoạt động bình thường của bên nhận quyền so với thỏa thuận ban đầu của hai bên Quy định cụ thể của pháp luật về giới hạn mức độ sửa đổi nhƣ trên sẽ tạo cơ sở cho các bên thỏa thuận việc sửa đổi của mình một cách phù hợp, hạn chế tranh chấp phát sinh
(3) Về nghĩa vụ thông báo của bên nhượng quyền: Bản giới thiệu NQTM có quy định bắt buộc hai bên phải thỏa thuận những thủ tục cần thiết khi tiến hành việc sửa đổi Tuy nhiên, khi ký kết hợp đồng, các bên thường ít quan tâm đến vấn đề này dẫn đến thỏa thuận thường sẽ rất sơ sài và dễ gây mâu thuẫn khi phát sinh nhu cầu sửa đổi trên thực tế Do vậy pháp luật cần thiết có quy định cụ thể hơn về nghĩa vụ của các bên, nhƣ nghĩa vụ thông báo của bên nhƣợng quyền, gồm thời hạn thông báo, hình thức, nội dung của thông báo… cũng nhƣ nghĩa vụ của bên nhận quyền khi nhận đƣợc thông báo sửa đổi của bên nhƣợng quyền gồm thời hạn trả lời tính từ ngày nhận đƣợc thông báo, hình thức trả lời, nội dung chấp nhận hoặc từ chối việc sửa đổi…
2.4.2 Một số lưu ý đối với các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền
Hiện nay, khi vấn đề sửa đổi quy định của hệ thống nhƣợng quyền chƣa đƣợc pháp luật nhượng quyền thương mại Việt Nam điều chỉnh một cách hoàn chỉnh, các bên tham gia cần thiết tự mình lưu ý về các điều khoản cam kết của hợp đồng, đảm bảo quyền lợi của mình đƣợc bảo vệ theo các thỏa thuận cụ thể này
(1) Hạn chế cam kết giao toàn quyền quyết định việc sửa đổi cho bên nhượng quyền: Bên nhận quyền khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại cần thiết lưu ý đến các điều khoản giao toàn quyền quyết định việc sửa đổi quy định của hệ thống nhƣợng quyền cho bên nhƣợng quyền nhƣ trong một số tranh chấp tại Hoa Kỳ Do hiện nay pháp luật Việt Nam chƣa có quy định điều chỉnh vấn đề này, một khi có tranh chấp phát sinh, các quy định của hợp đồng rất có thể sẽ đƣợc Tòa sử dụng để điều chỉnh giải quyết mâu thuẫn, quyền lợi của bên nhận quyền sẽ không đƣợc bảo đảm
(2) Hợp đồng nên đặt ra giới hạn về quyền được sửa đổi của bên nhượng quyền, nếu có thể nên thỏa thuận luôn về một giới hạn định lượng cụ thể:
Các thỏa thuận về giới hạn việc sửa đổi là một sự lựa chọn bảo đảm cho cả hai bên trong quan hệ kinh doanh nhƣợng quyền hiện nay, đó có thể là giới hạn về phần trăm sửa đổi hoặc một khoản chi phí nhất định mà bên nhƣợng quyền chỉ đƣợc phép tiến hành việc sửa đổi trong phạm vi đó mà thôi Các quy định cụ thể này sẽ là công cụ hiệu quả giúp các bên giải quyết mâu thuẫn phát sinh một cách nhanh chóng và đạt hiệu quả cao
Một đặc điểm quan trọng của hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại là tính đồng bộ giữa các cửa hàng nhƣợng quyền và các bên nhận quyền khi tham gia vào quan hệ kinh doanh này phải có nghĩa vụ cam kết thực hiện theo đúng các quy định của toàn hệ thống nhƣợng quyền Tuy nhiên do yêu cầu thực tế của quá trình vận động và phát triển, nhu cầu tiêu dùng cũng như phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền là tất yếu có sự thay đổi, từ đó nảy sinh yêu cầu điều chỉnh các quy định mà hai bên đã cam kết khi ký kết hợp đồng Và đây là một trong những nguyên nhân điển hình làm phát sinh tranh chấp trong hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại hiện nay Pháp luật nhượng quyền thương mại tại Hoa Kỳ, nơi loại hình kinh doanh này phát triển mạnh mẽ nhất, tuy đã ban hành được một số quy định hướng dẫn các bên tiến hành việc sửa đổi hệ thống nhƣợng quyền, nhƣng trên thực tế việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hiện nay vẫn chƣa thật sự đƣợc hiệu quả Với thực tế nhượng quyền thương mại đang trên đà phát triển rất mạnh mẽ tại Việt Nam hiện nay, tác giả đã căn cứ vào những mâu thuẫn đang tồn tại trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sửa đổi các quy định của hệ thống nhƣợng quyền tại Hoa Kỳ để đƣa ra một số biện pháp hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước, giúp các bên tham gia nhận thức đƣợc mức độ rủi ro của hoạt đông kinh doanh mới này Trong thời gian pháp luật nhượng quyền thương mại Việt Nam vẫn đang trên hướng hoàn thiện và phát triển, biện pháp tối ƣu đối với các doanh nghiệp hiện nay là tự mình nhận thức các rủi ro tiềm ẩn và soạn thảo các thỏa thuận cam kết về việc sửa đổi quy định của hệ thống nhƣợng quyền trong hợp đồng một cách chặt chẽ và hợp lý Nếu làm đƣợc nhƣ vậy, việc thực hiện hợp đồng sẽ đƣợc thuận lợi, hạn chế mâu thuẫn phát sinh và nếu nhƣ trên thực tế có xảy ra tranh chấp thì các cơ quan sẽ có đƣợc căn cứ giải quyết hiệu quả.