1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề tài nguyên cứu: “Nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với người nộp thuế trong tiến trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay”

98 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 721,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, ngành thuế Việt Nam đã và đang thực hiện chiến lượccải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế, tiến tới xây dựng ngành thuế Việt Namtiên tiến, hiện đại và chuyên nghiệp nh

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước, có tác động ảnh hưởngsâu rộng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc huyđộng nguồn lực và tạo môi trường đầu tư nhằm đạt các mục tiêu phát triển kinh tế

xã hội bền vững Hệ thống chính sách thuế tốt chỉ có thể phát huy tác dụng khi cómột hệ thống quản lý thuế phù hợp, hiệu quả Mục tiêu chính của hệ thống quản lýthuế hiện đại trên thế giới là tối ưu hoá các khoản thu thuế và các khoản phải thukhác, phù hợp với luật pháp đồng thời đảm bảo củng cố được niềm tin củangười nộp thuế (NNT) vào hệ thống thuế Một mặt của mục tiêu này là tăngcường các dịch vụ hỗ trợ NNT để nâng cao sự tuân thủ tự giác của NNT; mặtkhác là cơ quan thuế phát hiện các trường hợp không tuân thủ và có các biệnpháp trừng phạt một cách nghiêm minh, đảm bảo công bằng và tạo sự tin cậycủa người nộp thuế

Trong thời gian qua, ngành thuế Việt Nam đã và đang thực hiện chiến lượccải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế, tiến tới xây dựng ngành thuế Việt Namtiên tiến, hiện đại và chuyên nghiệp nhằm đảm bảo thực thi tốt pháp luật thuế;đảm bảo quản lý thuế công bằng, minh bạch và hiệu lực, hiệu quả; phục vụ tốt

tổ chức, cá nhân nộp thuế và phù hợp với chuẩn mực quốc tế, nâng cao tính tựgiác tuân thủ pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân nộp thuế; tăng cường việcthanh tra, giám sát của cơ quan thuế; đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhànước nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kết quảcủa chiến lược cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế đã đem lại những thànhcông nhất định cả về cơ chế quản lý, phương pháp quản lý, tổ chức quản lý,con người quản lý và công cụ quản lý áp dụng thí điểm cơ chế NNT tự kêkhai, tự nộp thuế từ năm 2004 và thực hiện triển khai toàn quốc từ 01/07/2007(được luật hoá tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006),ngành thuế đã đề cao trách nhiệm của NNT, tăng cường dân chủ và tính tự chủ

Trang 2

của NNT trong việc ủy quyền cho NNT thực hiện chức năng tự đánh giá và kêkhai thuế, tự nộp thuế vào ngân sách, đồng thời dưới hệ thống này, công tácthanh tra, kiểm tra đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm với mục tiêu chính là kiểmsoát việc tuân thủ và chấp hành luật thuế của NNT Tuy nhiên, với yêu cầu pháttriển của nền kinh tế thị trường, số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng,đồng thời qui mô, hình thức, cách thức hoạt động của các doanh nghiệp cũng đadạng phức tạp hơn trước, phương thức trốn/tránh thuế cũng tinh vi hơn, các tộiphạm về thuế ngày càng gia tăng, nhất là trong điều kiện mở cửa, hội nhập vàthương mại điện tử ngày càng phát triển, trong khi bộ máy quản lý thuế mới đượcchuyển đổi sang cơ chế quản lý mới, còn chưa thực sự phát huy được tính hiệulực, hiệu quả của nó; hoạt động thanh tra, kiểm tra còn nhiều điểm hạn chế, cầnđược hoàn thiện cho phù hợp với xu thế hiện tại.

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm

tra đối với người nộp thuế trong tiến trình hiện đại hoá công tác quản lý

thuế ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa thiết thực, mang tính thời sự, cấp bách

cả về mặt lý luận và thực tiễn Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giảtập trung nghiên cứu nội dung thanh tra, kiểm tra NNT

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài được nghiên cứu nhằm làm rõ hoạt động thanh tra, kiểm tra NNT

trong cơ chế quản lý mới hiện nay cả về mặt lý luận và thực tiễn; đồng thời

khẳng định vai trò và sự cần thiết khách quan phải tăng cường công tác thanhtra, kiểm tra đối với việc nâng cao tính tuân thủ của NNT, tăng hiệu quả thanhtra, kiểm tra thuế Trên cơ sở đánh giá thực trạng của công tác thanh tra, kiểmtra thuế hiện nay đề xuất những định hướng và giải pháp để hoàn thiện hoạtđộng thanh tra, kiểm tra NNT nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuếtrong điều kiện thực tiễn của Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 3

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và thựctiễn của việc tổ chức, thực hiện hoạt động kiểm tra, thanh tra NNT trong điều kiệnthực hiện cơ chế quản lý thuế mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra,kiểm tra thuế.

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thanh trakiểm tra trong các cơ chế quản lý thuế và tính tuân thủ của NNT trong các cơchế đó Từ nghiên cứu lý luận, đề tài đề cập, đánh giá thực trạng của công tácthanh tra, kiểm tra thời gian qua, chỉ ra các bất cập và nguyên nhân Từ đó, kếthợp giữa lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả côngtác thanh tra, kiểm tra trong điều kiện Việt Nam hiện nay

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 : Thanh tra, kiểm tra thuế và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quảthanh tra, kiểm tra đối với người nộp thuế trong tiến trình hiện đại hoá công tácquản lý thuế ở Việt Nam

Chương 2 : Thực trạng về tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra đối vớingười nộp thuế ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối vớingười nộp thuế trong tiến trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế

Trang 4

Chương 1 THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT TRONG TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 1.1.1 Khái niệm, vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế

1.1.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế

Có nhiều quan niệm hiểu về thanh tra, kiểm tra thuế Sau đây là một số kháiniệm cơ bản được trích dẫn từ các tài liệu chính thống khi định nghĩa về thanh tra,kiểm tra thuế:

Theo từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là "xemxét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [tr 523] Theo Đại từ điển Tiếng Việt

do Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam biên soạn, kiểm tra là "xem xét thựcchất, thực tế" [tr 973] Theo từ điển Luật học, kiểm tra là "xem xét tình hình thực

tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác

cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét " [tr.265]

Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính, ''Kiểm tra thuế làhoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượngkiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượngkiểm tra để có những nhận xét, đánh giá'' [1, tr.411]

Theo giáo sư Michel Bouvier, tác giả cuốn “Nhập môn về Luật thuế đại cương

và lý thuyết thuế”, kiểm tra thuế là ''hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tínhchính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai'' [1, tr.153]

Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế là hoạt động xem xét,đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cánhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọichung là thuế)

Trang 5

Về khái niệm thanh tra, theo từ điển tiếng Việt: "thanh tra là kiểm soát, xemxét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp" [tr.882], thanh tra là ''loạihình đặc biệt của kiểm tra'' [ tr.19]

Theo Luật Thanh tra 2004 thì Thanh tra là " việc xem xét, đánh giá, xử lý của

cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụcủa cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý"

Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính thì thanh tra thuế là''hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quanthuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành

vi trái pháp luật'' [1, tr.437]

Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu :

Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối vớicác hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thựchiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế,nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế

xã hội

Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là một trong các chức năng cơ bản của cơ quanquản lý thuế nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạmpháp luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thờilàm cho người nộp thuế luôn ý thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồntại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế

- Những điểm giống nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế là:

+ Về mục đích: Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luậtthuế

+ Về cách thức tiến hành: Xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phântích, đánh giá, phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật về thuế

+ Về nội dung: đều xem xét doanh thu, chi phí, lợi nhuận

Trang 6

+ Về phương pháp: đều phải phân tích xác định rủi ro, truy lần lại việc xử lý

dữ liệu, tính toán lại và xác minh

- Những điểm khác nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế là:

+ Về đối tượng: Thanh tra áp dụng cho các đối tượng có ngành nghề kinhdoanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng, cơ cấu tổ chức phức tạp, hoặc khi códấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, hoặc để giải quyết khiếu nại tố cáo hoặc theoyêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ Trưởng Bộ Tàichính

+ Về phạm vi nội dung: Thanh tra thường là nội dung rộng, phức tạp, có thểliên quan đến nhiều đối tượng, lĩnh vực khác nhau

+ Về biện pháp áp dụng: thanh tra được áp dụng các biện pháp mạnh hơn (tạmgiữ tang vật, tài liệu; khám nơi cất dấu tang vật, tài liệu theo quy định của Luậtquản lý thuế)

+ Về hình thức tổ chức: Đoàn có thể tổ chức thành các Tổ để đi sâu vào từngnội dung thanh tra

+ Về thời gian: thanh tra thường là không quá 30 ngày, kiểm tra thường khôngquá 5 ngày

1.1.1.2 Vai trò

Thanh tra, kiểm tra có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế

Thứ nhất: Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế,

chính sách pháp luật về thuế

Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắcthuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương phápquản lý thu thuế khác nhau Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đãđược nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước tađang ở thời kỳ chuyển đổi và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới nênkhông trách khỏi những khiếm khuyết, bất cập Chính vì vậy thanh tra, kiểm trathuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân

Trang 7

thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hoànthiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp.

Thứ hai: Thanh tra, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành

vi vi phạm pháp luật thuế và tội phạm nảy sinh trong việc thực hiện pháp luậtthuế

Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liênquan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế,xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế.Theo đó, vừa phòng ngừa các hành vi phạm pháp luật thuế có thể xảy ra; vừa sửdụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm

xử lý và răn đe hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế

Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luậtthuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tội phạm có thểphát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế

Thứ ba: Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc

cải cách thủ tục hành chính thuế

Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thựchiện các thủ tục hành chính thuế Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra phát hiệnnhững người nộp thuế thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chínhthuế để kịp thời chấn chỉnh Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủtục không phù hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lựcpháp luật thuế

1.1.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được xem xét, đánh giáđơn thuần ở khía cạnh vật chất (hiệu quả kinh tế) mà còn được xem xét, đánh giádưới giác độ hiệu quả xã hội, chính trị Vì vậy, các tiêu chí đánh giá hiệu quả côngtác thanh tra, kiểm tra thuế được chia 2 nhóm là:

- Các tiêu chí định lượng: Các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực tế

Trang 8

của nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra đã được tiến hành Đó là kết quả cụ thể của việcthực hiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của các nghiệp vụ thanh tra,kiểm tra Các tiêu chí này thường gồm:

+ Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra về từng chỉ tiêu định lượng của kếhoạch: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ hoàn thành kếhoạch về số đối tượng thanh tra, kiểm tra so với kế hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành

kế hoạch về số thời gian thanh tra, kiểm tra so với kế hoạch năm; Tỷ lệ hoànthành kế hoạch về số vụ việc khiếu tố giải quyết được so với kế hoạch năm; Tỷ lệthanh tra, kiểm tra hàng năm so với tổng số đối tượng thanh tra, kiểm tra

+ Tình hình vi phạm pháp thuế đã phát hiện qua thanh tra, kiểm tra: Đánh giátiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/tổng sốđối tượng thanh tra, kiểm tra; Tổng số tiền thuế truy thu qua thanh tra, kiểm tra;

Số tiền thuế truy thu bình quân/đối tượng thanh tra, kiểm tra

+ Chi phí vật chất và thời gian cho thanh tra, kiểm tra: Đánh giá tiêu chí nàythường dựa vào các chỉ tiêu như: Thời gian bình quân 1 cuộc thanh tra, kiểm tra;

Số đối tượng được thanh tra, kiểm tra bình quân/thanh tra viên hàng năm; Chi phíbằng tiền trực tiếp cho thanh tra, kiểm tra;…

+ Hiệu quả trực tiếp của thanh tra, kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựavào các chỉ tiêu như: Chi phí thanh tra, kiểm tra so với số thuế truy thu được đãnộp NSNN; Tỷ lệ giữ nguyên; sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định truy thu thuế theobiên bản thanh tra, kiểm tra thuế khi giải quyết khiếu nại của đối tượng thanh tra,kiểm tra; Tỷ lệ các trường hợp đối tượng thanh tra, kiểm tra chấp nhận hoàn toànkết luận thanh tra, kiểm tra; Tỷ lệ số thuế truy thu được nộp vào NSNN/tổng sốthuế truy thu…

Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên song thực tế đa

số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của công tác thanh tra,kiểm tra Bên cạnh việc tính toán chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá chính xáchơn tính hiệu quả, cần phải so sánh với những năm cũ để đánh giá xu hướng biến

Trang 9

động của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ của từng khâu côngtác.

- Các tiêu chí định tính: Các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của công tácthanh tra, kiểm tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường lànhững hiệu quả có tính xã hội, chính trị như:

+ Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật thuế Tiêu chí này có thể đolường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng thanhtra, kiểm tra qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được thanh tra, kiểm tra(mức độ tái phạm)

+ Tác dụng trong việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế; tạo sự côngbằng giữa các đối tượng nộp thuế; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Có thểđánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thuthuế và xử phạt hành chính thuế (chia theo hình thức xử phạt)

+ Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan quản lýthuế và tạo lòng tin của nhân dân vào hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Có thểđánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luậttrong thanh tra, kiểm tra; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chia theohình thức); những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xửlý

Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra được đánh giá theo kỳ(quý, năm) và được chia theo sắc thuế; theo hình thức thanh tra; theo loại đốitượng nộp thuế và từng nội dung thanh tra, kiểm tra tương ứng

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế

1.1.3.1 Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí

Xu thế hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực tiến tới toàn cầu hoá kinh tế làtất yếu khách quan Theo đó hội nhập quốc tế về thuế ngày càng sâu rộng, nhằmkhuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại trong khu vực và trên toàn thế giới

Trang 10

Hệ thống luật pháp sẽ dần được hoàn thiện, xây dựng hệ thống chính sách thuếtương thích, công tác quản lý thuế phải được cải cách và hiện đại hoá theo cácchuẩn mực quản lý thuế quốc tế, cơ sở trang thiết bị vật chất kỹ thuật ngày càngđược hiện đại hoá và số lượng người nộp thuế không ngừng tăng lên nhanhchóng Tất cả những biến đổi trên đều tác động lớn tới hiệu quả công tác thanhtra, kiểm tra thuế

Hệ thống pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện, phù hợp với tình hình kinh tế xãhội của đất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động thanh tra, kiểm trathuế đi vào khuôn khổ, đồng thời nó cũng giúp cho người nộp thuế hiểu vànghiêm túc thực hiện theo quy định của pháp luật Ngoài ra, đầu tư trang bị cơ sởvật chất kỹ thuật hiện đại cũng hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế đượctiến hành thuận lợi, có tính chính xác và hiệu quả cao hơn

Cùng với sự gia tăng về số lượng người nộp thuế sẽ là sự đa dạng hoá các loạihình doanh nghiệp và các hình thức kinh doanh, kèm theo đó là sự phức tạp, tinh

vi hơn về thủ đoạn trốn, tránh, gian lận thuế của người nộp thuế, gây khó khăntrong việc phát hiện và xử lý kịp thời các vụ gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu choNSNN Do đó, số lượng người nộp thuế ngày càng tăng sẽ là một thách thứckhông nhỏ đối với công tác thanh tra, kiểm tra

Xã hội ngày càng phát triển, trình độ dân trí được nâng cao, sự hiểu biết vềpháp luật thuế cũng như ý thức tự tuân thủ của người nộp thuế ngày càng được cảithiện, bởi họ hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình khi tham gia vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, cũng vì sự hiểu biết sâu sắc về pháp luậtthuế mà khả năng, thủ đoạn trốn, tránh thuế của người nộp thuế ngày càng tinh vi,phức tạp hơn, gây khó khăn cho cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế trong việc pháthiện ra các gian lận, giảm hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế

1.1.3.2 Mô hình quản lý thuế

Quản lý thuế là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện,thông qua việc tổ chức, điều hành bộ máy ngành thuế, thực hiện hệ thống chính

Trang 11

sách pháp luật thuế và hệ thống các qui trình quản lý thu để động viên một phầnthu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ và từ việclưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN nhằm trangtrải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Quản lý thuế được thực hiện theonhững mô hình quản lý nhất định Mỗi mô hình có những ảnh hưởng khác nhauđến hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế.

Thứ nhất, mô hình quản lý theo sắc thuế

Đây là mô hình được tổ chức sớm nhất trong hoạt động quản lý thuế, được ápdụng dựa trên nguyên tắc “sắc thuế” Theo mô hình này, cơ quan thuế được tổchức thành các bộ phận (phòng, ban) riêng biệt để chuyên trách quản lý một sốsắc thuế cụ thể Mỗi phòng, ban thực hiện tất cả các chức năng, các nghiệp vụ đểquản lý thu đối với một hoặc một vài sắc thuế Mô hình quản lý theo sắc thuế ápdụng có hiệu quả ở cơ quan thuế Trung ương do nhiệm vụ của cơ quan này lànghiên cứu, ban hành chính sách chế độ thu Mô hình này thích hợp đối với nhữngnước sử dụng các vấn đề nghiệp vụ cụ thể và quy trình quản lý khác nhau đối vớimỗi sắc thuế

Mô hình này có tính chuyên môn hoá theo sắc thuế cao nên nó phát huy hiệuquả cao nhất trong trường hợp thanh tra một sắc thuế nhưng đối với thanh tra mộtđối tượng nộp thuế nộp nhiều loại thuế khác nhau lại xảy ra hiện tượng chồngchéo về chức năng thanh tra giữa các phòng, ban Vì phòng quản lý theo sắc thuế

có chức năng thanh tra đối với các ĐTNT có phát sinh sắc thuế do phòng quản lý.Chức năng thanh tra, kiểm tra nằm ở tất cả các phòng trong hệ thống quản lý thuếcấp cơ sở Mặt khác, ở phòng, ban nào cũng có các bộ phận nghiệp vụ thực hiệncác công việc như nhau, dẫn đến biên chế quản lý lớn, làm cho chi phí quản lý thutăng lên, chi phí tuân thủ cao Trong khi đó rủi ro thất thu thuế vẫn cao do cácchức năng, nghiệp vụ quản lý thuế được khép kín, độc lập trong một phòng, banriêng biệt, không có sự liên kết nào giữa các phòng, ban nên hiện tượng thôngđồng để trốn thuế giữa ĐTNT và cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế khó phát hiện

Trang 12

Ngoài ra, trình độ chuyên môn của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế không đượctoàn diện do kỹ năng của họ là một sắc thuế Do vậy, hiệu quả của công tác thanhtra, kiểm tra thuế không cao.

Thứ hai, mô hình quản lý theo chức năng

Theo mô hình này, bộ máy quản lý thuế được tổ chức theo các nhóm chứcnăng, mỗi bộ phận thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất

cả các sắc thuế như: Đăng ký thuế, Xử lý tờ khai thuế và Kế toán thuế, Thanh tra,kiểm tra thuế, Thu nợ Bộ phận thanh tra, kiểm tra được tổ chức theo mô hìnhchuyên môn hóa cao Mỗi phòng (Tổ) thanh tra thực hiện một chức năng riêngbiệt, chỉ thực hiện một chức năng cụ thể của hoạt động thanh tra Cùng với môhình này đòi hỏi thanh tra viên ngoài việc a, hiểu sâu sắc chế độ kế toán pháp luậtthuế còn phải có kỹ năng về tin học, kỹ năng sắp xếp, phân loại dữ liệu, phân tíchđánh giá rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật kịp thời các tiêu chí lựachọn đối tượng thanh tra

Mô hình này thích ứng với mọi sự thay đổi về ĐTNT và tạo ra sự kiểm trachéo giữa các cán bộ thuế ở các bộ phận khác nhau, hạn chế tiêu cực nên giảmnguy cơ gian lận thuế, thất thu thuế bởi bất kỳ sự thông đồng nào giữa ĐTNT vàcán bộ thuế Đồng thời khắc phục được sự trùng lắp về chức năng thanh tra giữacác phòng ban theo mô hình quản lý thu theo sắc thuế và góp phần nâng cao nănglực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thanh tra thuế Tuy nhiên, theo mô hìnhnày, thông tin về ĐTNT bị phân tán nên khi cần thông tin đầy đủ về ĐTNT để tiếnhành thanh tra, kiểm tra phải mất nhiều thời gian để tổng hợp thông tin từ cácphòng, ban chức năng khác nhau làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thanhtra, kiểm tra

Thứ ba, mô hình quản lý thu theo ĐTNT

Đây là mô hình đang được áp dụng tại một số nước phát triển Theo mô hìnhnày, ĐTNT được phân loại để quản lý theo nhóm trên cơ sở đặc điểm và mức độ

Trang 13

tuân thủ pháp luật thuế của ĐTNT Mỗi phòng, ban trong cơ quan thuế sẽ chịutrách nhiệm quản lý một hoặc vài nhóm đối tượng cụ thể

Do có sự chuyên môn hoá theo đối tượng, kết hợp với chuyên môn hoá theosắc thuế nên thông tin về ĐTNT được tập trung khá đầy đủ tại các phòng, bantương ứng và trình độ, năng lực của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế tương đối phùhợp với yêu cầu quản lý nâng cao được hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra mỗinhóm ĐTNT Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ thanhtra, kiểm tra có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao vì họ phải tiếp xúc và xử lýcác vấn đề liên quan đến tất cả các sắc thuế của ĐTNT Ngoài ra, mô hình còn cónhược điểm là ĐTNT chịu sự quản lý của một phòng, ban cụ thể nên vẫn có khảnăng xảy ra tiêu cực trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế

Cán bộ thuế do phải thực hiện công tác quản lý, nếu thực hiện thanh tra, kiểmtra tại cơ sở ĐTNT sẽ không đảm bảo thời gian và hiệu quả của công tác quản lýkhác Đối với phòng thanh tra, phải kiêm nhiệm các chức năng: thanh tra ĐTNT,thanh tra nội bộ, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phối hợp, cộng tác với các banngành có liên quan dẫn tới công tác thanh tra, kiểm tra chưa được chuyên mônhóa cao

Trên cơ sở các mô hình quản lý thuế cơ bản này, mỗi quốc gia sẽ lựa chọn

mô hình quản lý thuế phù hợp theo đặc điểm chính trị - kinh tế - xã hội và trình độquản lý của mình, có thể là một trong số các mô hình cơ bản hoặc mô hình quản

lý thuế kết hợp 2 hoặc cả 3 mô hình cơ bản trên

1.1.3.3 Cơ chế quản lý thuế

Để tiến hành công tác thu nộp thuế, người ta thường chọn một trong hai cơchế: Cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế và cơ sở sản xuất, kinh doanh tựkhai tự nộp thuế

Thứ nhất, cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế

Theo cơ chế này, căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và cácquy định của pháp luật thuế, định kỳ các ĐTNT phải kê khai thuế và nộp tờ khai

Trang 14

cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra và tính thuế, sau đó thôngbáo số thuế phải nộp cho ĐTNT ĐTNT có trách nhiệm nộp đầy đủ tiền thuế theothông báo vào Kho bạc nhà nước trong thời gian quy định Cơ quan thuế kiểm tra,đối chiếu số thuế mà đối tượng đã nộp vào ngân sách với thông báo Cơ chế nàyđảm bảo việc tính toán chính xác số thuế phải nộp vào NSNN của các ĐTNT Tuynhiên, cơ chế quản lý này có một số nhược điểm ảnh hưởng đến công tác thanhtra, kiểm tra sau:

- Cơ quan thuế làm thay các chức năng thuộc trách nhiệm của NNT như: tínhtoán xác định mức thuế để ra thông báo thuế, xác định mức miễn, giảm thuế gây lãng phí nguồn nhân lực, tài chính của cơ quan thuế Hiệu quả quản lý của cơquan thuế thấp do phải làm thay các công việc cho ĐTNT, không đủ điều kiện tậptrung thời gian, nhân lực và tài chính để thực hiện các chức năng chủ yếu củamình: các hoạt động tuyên truyền - hỗ trợ, công tác thanh tra, kiểm tra thuế

- Một số quy định còn rườm rà, phức tạp, chưa rõ ràng, minh bạch gây khókhăn, tốn kém chi phí cho cả NNT và cơ quan thuế, dễ phát sinh tiêu cực trongviệc chấp hành nghĩa vụ thuế

- Nghĩa vụ, trách nhiệm của NNT không cao do số thuế họ phải nộp được xácđịnh theo thông báo của cơ quan thuế ĐTNT có thể tính toán số thuế phải nộpmột cách qua loa, đại khái, nếu cơ quan thuế kiểm tra, tính toán không kỹ thì cóthể dẫn dến xác định sai số thuế phải nộp, làm thất thu ngân sách mà các ĐTNTkhông hề có lỗi

- Mô hình này chủ yếu thanh tra, kiểm tra tại đơn vị nên thường gây ra nhữngphiền nhiễu cho doanh nghiệp và đôi lúc mất thời gian, tăng chi phí

- Phương pháp thanh tra, kiểm tra nhằm vào tất cả các ĐTNT, không dựa trên

cơ sở đánh giá mức độ gian lận của ĐTNT để lập kế hoạch và tổ chức thanh trađúng đối tượng ngay từ đầu Vì thế đối tượng không có hành vi gian lận cũng tổchức thanh tra, kiểm tra vừa gây phiền hà cho ĐTNT, vừa lãng phí nguồn nhânlực, tốn kém cho cơ quan thuế

Trang 15

- Công tác thanh tra, kiểm tra được tiến hành hoàn toàn bằng thủ công, khôngtập trung vào các khâu gian lận, không ứng dụng được tin học vào thanh tra thuế,

do đó các cuộc thanh tra thường kéo dài và kết quả rất hạn chế

- Cơ quan thuế tính thuế và ra thông báo cho ĐTNT, đồng thời cơ quan thuếthực hiện thanh tra, kiểm tra nên hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra chưa đạt kếtquả cao

Nhìn chung, cơ chế này mang tính áp đặt, không nâng cao được tính tự giác,trách nhiệm công dân của ĐTNT Do vậy, công tác thanh tra, kiểm qua thuế gặprất nhiều khó khăn, hiệu quả thu được không cao

Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, hiện nay các quốc gia trên thế giớiđang chuyển sang thực hiện cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế

Thứ hai, cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế (Sơ đồ

Thanh tra thuế đối với một số trường hợp chọn lọc

Nhiệm vụ của người nộp thuế

Nhiệm vụ của cơ quan thuế

Trang 16

Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự giáctuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: người nộp thuế căn cứ các quy định tại cácLuật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế

và nộp thuế đúng thời hạn Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa

vụ thuế của người nộp thuế nếu NNT tự giác tuân thủ nghĩa vụ Cơ quan thuế cótrách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giácthực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuếcủa NNT và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời,đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của NNT

Trong cơ chế TKTN thuế, ĐTNT phải hiểu biết đầy đủ về các quyền và nghĩa

vụ của mình, tự kê khai, tự tính số thuế phải nộp và nộp tờ khai thuế cho cơ quanthuế trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế

mà không cần sự xác nhận trực tiếp của cơ quan thuế Trên cơ sở số thuế đã kêkhai, cơ sở kinh doanh chủ động nộp tiền thuế vào NSNN Đồng thời, ĐTNTđược áp dụng các thủ tục kê khai, nộp thuế đơn giản, thuận lợi và được hướngdẫn, được cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chất lượng cao nhằm tạo thuận lợi cho họ

tự giác tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế theo qui định

Thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, bộ máy quản lýthuế ở cơ quan thuế được tổ chức tập trung theo các chức năng, bao gồm các chứcnăng chính: Tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT; Xử lý tờ khai và kế toán thuế; Thu nợ -cưỡng chế thuế và Kiểm tra, thanh tra thuế Trong đó, chức năng thanh tra, kiểmtra thuế là chức năng trọng tâm của cơ quan thuế trong cơ chế tự kê khai, tự nộpthuế Cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở thu thập đủ cácthông tin cần thiết về ĐTNT (từ tờ khai, báo cáo tài chính và các thông tin từ cácnguồn khác) để phân tích, đánh giá xác định theo các tiêu chí đánh giá rủi ro, từ

đó lựa chọn ĐTNT cần kiểm tra, thanh tra và nội dung, hình thức kiểm tra, thanhtra phù hợp Do đó, các thông tin này phải đầy đủ, chính xác, dễ truy cập, có liênkết chặt chẽ với nhau qua một hệ thống nhận diện duy nhất (MST) Các thông tin

Trang 17

về ĐTNT được thanh tra, kiểm tra được cập nhật ngay khi có biến động trên cơ sở

dữ liệu chung do Tổng cục Thuế quản lý và được chia sẻ, khai thác trên phạm vi

cả nước Thông tin phải mang tính lịch sử và trung thực

Trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế, công tác thanh tra, kiểm tra không phảinhằm tăng số thu, mà mục tiêu chính là nhằm ngăn ngừa, phòng chống ĐTNT viphạm pháp luật thuế Chỉ khi ĐTNT nhận thức rằng cơ quan thuế đang thực hiệncác chương trình thanh tra thuế hiệu quả và nếu gian lận về thuế, họ sẽ bị cơ quanthuế phát hiện và xử phạt nghiêm khắc, ĐTNT mới tự giác thực hiện đúng nghĩa

vụ thuế Do đó, để nâng cao tính tuân thủ pháp luật của ĐTNT, ngoài việc tăngcường công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT, cơ quan thuế cần phải đẩy mạnh vànâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra

Với một nguồn lực hạn chế, cơ quan thuế phải xây dựng một cơ chế thanh tra,kiểm tra để phân bổ hiệu quả nguồn lực nhằm giám sát tốt nhất hoạt động củaĐTNT, kịp thời phát hiện và xử lý ĐTNT vi phạm pháp luật về thuế, vừa nângcao trách nhiệm, tính chủ động của ĐTNT trong việc thực hiện pháp luật thuế vàgiảm phiền hà, tôn trọng, khuyến khích các ĐTNT tuân thủ nghiêm túc pháp luậtthuế Để đáp ứng yêu cầu này, cơ quan thuế đã thực hiện chính sách thanh tra,kiểm tra dựa trên phương pháp quản lý rủi ro tuân thủ Theo đó, trên cơ sở thuthập đầy đủ thông tin về ĐTNT, tiến hành phân tích, đánh giá và phân loại ĐTNTtheo mức độ rủi ro vi phạm về thuế để lựa chọn đối tượng cần thanh tra, kiểm tratheo nguyên tắc:

- Tập trung thanh tra, kiểm tra thường xuyên đối với ĐTNT có dấu hiệu viphạm nghiêm trọng pháp luật thuế; thanh tra, kiểm tra bộ phận hoặc hướng dẫn,nhắc nhở ĐTNT vi phạm không nghiêm trọng; hạn chế tối đa thanh tra, kiểm trađối với ĐTNT chưa phát hiện vi phạm pháp luật thuế

- Tăng cường thực hiện hình thức kiểm tra tại cơ quan thuế; hạn chế thanh tra,kiểm tra tại cơ sở ĐTNT

Trang 18

- Hạn chế thanh tra, kiểm tra toàn diện, tập trung thanh tra, kiểm tra theochuyên đề và nội dung vi phạm (thanh tra, kiểm tra chuyên sâu theo nhóm ngành,nghề, theo lĩnh vực và theo sắc thuế).

Với những nội dung trên, có thể thấy rằng phương thức quản lý thuế mới cótính khách quan hơn và khắc phục được những hạn chế của cơ chế cơ quan thuếtính và ra thông báo nộp thuế và tác động tích cực đến hiệu quả công tác thanh tra,kiểm tra thuế

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT TRONG TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Nội dung hiện đại hoá công tác quản lý thuế

Chiến lược cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế đã được Bộ Chính trị thôngqua vào tháng 8/2004 và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số201/2004/QĐ-TTg về việc phê duyệt các Chương trình cải cách hệ thống thuếtheo từng cụ thể nội dung, lộ trình triển khai cụ thể Trong xu hướng hiện nay,cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Thuế đang rất nỗ lực thực hiệncác chương trình cải cách và hiện đại hoá Có thể nói đây là ưu tiên hàng đầu củacủa Tổng cục Thuế cũng như Bộ Tài chính trong giai đoạn hiện nay cũng nhưtrong một vài năm tới Thực hiện Chỉ thị số 751/CT-TTg ngày 3/6/2009 của Thủtướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-

2015, Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính cũng đang khẩn trương tiến hành xây dựngChiến lược phát triển ngành thuế giai đoạn 2011-2020 Để Chiến lược phù hợp cótính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tế của đất nước, việc đánh giá kết quả thực hiệnchiến lược 2005-2010 là hết sức quan trọng Kết quả thực hiện Chiến lược cảicách hệ thống thuế đến năm 2010 và các bài học kinh nghiệm về sự thành công vànhững nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tồn tại sẽ là cơ sở, nền tảng cho việc đề xuất

và xây dựng các kế hoạch, chương trình hành động cho chiến lược phát triểnngành Thuế giai đoạn 2011- 2020

Trang 19

Hướng chiến lược là hiện đại hoá toàn diện công tác quản lý thuế cả vềphương pháp quản lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ, ápdụng rộng rãi công nghệ tin học để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý,kiểm soát cho được tất cả các đối tượng chịu thuế, hạn chế thất thu thuế ở mứcthấp nhất, bảo đảm thu đúng, thu đủ kịp thời các khoản thu vào Ngân sách Nhànước Nâng cao trình độ quản lý thuế của Việt Nam ngang tầm với các nước tiêntiến trong khu vực.

Nội dung chủ yếu của công tác quản lý thuế là:

- Phải thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống giáo dục, cơquan quản lý thu và dưới nhiều hình thức phong phú để tuyên truyền, giáo dục cácđối tượng nộp thuế hiểu biết đầy đủ các chính sách thuế, trách nhiệm pháp luật.Hướng dẫn kịp thời, đầy đủ các thủ tục kê khai, tính thuế, lập hồ sơ miễn, giảmthuế, quyết toán thuế và nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước để các đối tượng nộpthuế tự mình thực hiện tốt các nghĩa vụ thuế với Ngân sách Nhà nước Giảm thiểucác sai sót do không hiểu biết gây ra

Khuyến khích và phát triển mạnh mẽ các dịch vụ tư vấn thuế, kế toán thuế.Hướng dẫn đối tượng nộp thuế thực hiện tốt công tác kế toán, quản lý chặt chẽhoá đơn chứng từ để hạch toán đúng kết quả kinh doanh và xác định đúng nghĩa

vụ thuế đối với Nhà nước, mở rộng diện nộp thuế theo hình thức kê khai, thu hẹpdần phương pháp nộp thuế theo hình thức khoán Đối với các đối tượng còn phảinộp thuế theo hình thức khoán cần hoàn thiện quy trình xác định mức khoán bảođảm công khai, dân chủ, công bằng giữa các hộ được khoán Chống các hành vitiêu cực trong việc xác định mức khoán đối với hộ kinh doanh nộp thuế khoán

Đề cao trách nhiệm và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong việc tự tính, tựkhai và tự nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước, đồng thời tăngcường trách nhiệm,quyền hạn kiểm tra, kiểm soát của tổ chức quản lý thu và các cơ quan quản lý nhànước trước, trong và sau khi nộp thuế để đảm bảo các luật thuế được thực thinghiêm chỉnh

Trang 20

- Thường xuyên và đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra về thuế, kiểm trasau thông quan nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp viphạm về thuế.

Trong công tác thanh tra phải phân loại các đối tượng để thanh tra theo cấp độ

vi phạm: Đối với trường hợp chấp hành nghiêm chỉnh chính sách thuế chưa mắcsai phạm thì tối thiểu trong 5 năm phải kiêể tra 1 lần; Trường hợp đã có vi phạmnhưng không thường xuyên và không nghiêm trọng thì tối thiểu trong 1 năm phảikiểm tra 1 lần Phân loại các đối tượng nộp thuế như trên sẽ không gây phiềnhàcho người nộp thuế mà ngược lại sẽ làm cho các đối tượng nộp thuế chấp hànhnghiêm chỉnh chính sách thuế, đồng thời sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan bảo vệpháp luật phát hiện và xử lý kịp thời vi phạm chính sách thuế

Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoá đơn, kiểm tra đối chiếu hoá đơn

để việc thanh tra, kiểm tra đạt hiệu quả cao

Tăng cường quyền hạn cho cơ quan quản lý thu: quyền cưỡng chế, điều trakhởi tố cá vụ vi phạm về thuế

Xây dựng và áp dụng các chế tài xử lý và cưỡng chế thuế đối với các hành vigian lận, chây ì, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế

- Đẩy mạnh triển khai công nghệ tin học để áp dụng vào hầu hết các khâuquản lý thuế là quản lý đối tượng nộp thuế (đăng ký, cấp mã số thuế; theo dõi sốliệu kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế); kiểm tra tờ khai, hồ sơ hoàn thuế, đốichiếu hoá đơn; xác định các khoản nợ đọng và thông báo phạt chậm nộp, phạt viphạm về thuế; quản lý hoá đơn, chứng từ trên máy tính; cung cấp dịch vụ thuế quamạng máy tính; Kết nối mạng tin học giữa các cơ quan thuế, hải quan, doanhnghiệp, kho bạc và các tổ chức liên quan khác phục vụ cho công tác quản lý thuế

- Mở rộng uỷ nhiệm thu đối với một số loại thu cho UBND xã, phường gắnvới chi tiêu của chính quyền địa phương để chống thất thu và giảm chi phí quản lýthuế

Trang 21

- Kiện toàn lại hệ thống quản lý thu thuế theo hướng cải cách hành chính thuế,nâng cao quyền hạn, trách nhiệm và hiệu lực của bộ máy quản lý thuế.

Tổ chức lại bộ máy cơ quan thuế các cấp chủ yếu theo chức năng quản lý thuế(tuyên truyền, cung cấp dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế; thanh tra, kiểm tra và

xử lý vi phạm; cưỡng chế thuế, tin học ) kết hợp với tổ chức quản lý theo đốitượng nộp thuế Tổ chức lại Cơ quan Tổng cục Thuế, Tổng cục hải quan theohướng tập trung chỉ đạo có hiệu lực, hiệu quả toàn bộ hệ thống quản lý thu trong

cả nước

Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý thu theo hướng tập trung vào các khâucông việc chính như: Thanh tra kiểm tra,dịch vụ đối tượng nộp thuế, xử lý thôngtin; đào tạo lại và tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về quản lý thuếtheo phương pháp hiện đại nâng cao trình độ nghiệp vụ quản lý hành chính, trình

độ ứng dụng thành thạo tin học đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá công tác quản lýthuế Tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp thuế, thái độ phục vụtận tuỵ, công tâm khách quan, phong cách làm việc khoa học cho cán bộ thuế.Nghiên cứu và tăng cường các biện pháp quản lý thực hiện luân chuyển cán bộ vàluôn phân công việc để chống các tiêu cực nảy sinh trong công tác quản lý thuế

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với NNT trong tiến trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế.

1.2.2.1 Mục tiêu củng cố và hoàn thiện hệ thống thanh tra.

a Mục tiêu tổng quát:

- Xây dựng tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ thanh tra thuế chuyên sâu,chuyên nghiệp và hiện đại; trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quảcủa hoạt động thanh tra thuế, hướng tới mục tiêu người nộp thuế tự giác tuân thủpháp luật thuế, góp phần thực hiện nhiệm vụ thu của ngành do Chính phủ, Bộ Tàichính giao hàng năm

- Đảm bảo thống nhất công tác thanh tra thuế trong toàn ngành, thiết lập mốiquan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan thanh tra thuế các cấp

Trang 22

b Mục tiêu cụ thể:

- Kiện toàn bộ máy tổ chức và bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho

hệ thống thanh tra thuế phù hợp với luật pháp và thực tiễn hoạt động của ngànhthuế

- Tăng cường đội ngũ cán bộ thanh tra thuế; nâng cao năng lực, trình độnghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thanh tra thuế theo yêu cầu chuẩn hoá, có phẩm chấtđạo đức tốt, ứng xử văn minh, lịch sự, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong công tác thanhtra thuế; giải quyết khiếu tố về thuế, gian lận thuế của người nộp thuế

- Hoàn thiện các quy trình, nghiệp vụ thanh tra thuế phù hợp với luật pháp vàthực tiễn hoạt động của đoàn thanh tra

- Tăng cường trang thiết bị và ứng dụng tin học phục vụ cho hoạt động thanhtra thuế; cải tiến phương pháp công nghệ thanh tra đảm bảo tương đồng với cácnước và phù hợp điều kiện Việt Nam

1.2.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với NNT trong tiến trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế.

- Kiểm tra, thanh tra là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan

thuế và luôn được quy định trong các luật thuế Đặc biệt, trong điều kiện ViệtNam hiện nay, khi thực hiện cơ chế quản lý thuế NNT tự kê khai, tự nộp thuế thìchức năng kiểm tra, thanh tra là một trong những trọng tâm của quản lý thuế vớimục tiêu chính là kiểm soát việc tuân thủ và chấp hành luật thuế của NNT

Do yêu cầu phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cảicách và đổi mới cơ chế quản lý, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đòihỏi phải củng cố và hoàn thiện hệ thống thanh tra thuế để nâng cao năng lực, hiệuquả hoạt động thanh tra thuế

Một là, củng cố và hoàn thiện hệ thống thanh tra thuế để nâng cao năng lực,hiệu quả của hoạt động thanh tra thuế, qua đó các cơ sở kinh doanh sẽ nâng cao ýthức và tự giác tuân thủ pháp luật về thuế Thông qua hoạt động thanh tra thuế,kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách thuế nhằm huy động nguồn thu góp phần

Trang 23

hoàn thành dự toán thu hàng năm do Chính phủ, Bộ Tài chính giao cho ngànhthuế;

Hai là, số lượng đối tượng nộp thuế ngày càng tăng do sự phát triển của nềnkinh tế; quy mô kinh doanh của đối tượng nộp thuế ngày càng lớn, ngành nghềkinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp Do yêu cầu phát triển thị trường bấtđộng sản và thị trường chứng khoán một số ngành nghề mới được hình thành như:Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nhà; các sàn giao dịch bất động sản;các công ty đại chúng; công ty niêm yết cổ phiếu; công ty chứng khoán; công tyquản lý quỹ Từ đó đòi hỏi phải củng cố và hoàn thiện hệ thống thanh tra cả về tổchức bộ máy; số lượng; chất lượng cán bộ; trang thiết bị; phương pháp; kỹ năngthanh tra

Ba là, Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nguồn vốn đầu tư nướcngoài vào Việt Nam ngày càng lớn đòi hỏi phải củng cố và hoàn thiện hệ thốngthanh tra thuế chuyên sâu, chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế;không làm cản trở đến quá trình hội nhập quốc tế và đầu tư nước ngoài, tăng sứccạnh tranh của doanh nghiệp trong nước

1.2.3 Kinh nghiệm một số nước về hiện đại hóa công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Những năm cuối cùng của thế kỷ XX chúng ta đã chứng kiến quá trình toàncầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc chưa từng có trong lịch sử Thúc đẩy quátrình đó chính là sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học-côngnghệ Một trong những đặc trưng nỗi bật là sự vượt trội của công nghệ thông tin

đã thúc đẩy sự phát triển một cách sâu rộng hơn và toàn diện hơn quá trình "toàncầu hoá" Cùng với sự tiến bộ vượt bật của công nghệ thông tin thì công nghệInternet ra đời và phát triển nhanh chóng, đã chuyển từ thế giới "một mạng, mộtdịch vụ" sang thế giới "một mạng, nhiều dịch vụ" và trở thành công cụ quan trọngnhất thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng quá trình "điện tử hoá" - từ thương mạiđiện tử, quản trị điện tử, thanh toán điện tử, đến Chính phủ điện tử trên toàn cầu

Trang 24

Ngày nay, điện tử hoá càng trở thành xu hướng chủ yếu trong phương thứckinh doanh quốc tế và thay đổi căn bản cấu trúc thương mại toàn cầu Các doanhnghiệp đã và đang nhanh chóng tái cấu trúc lại chính họ để chuyển từ phươngthức kinh doanh truyền thống sang phương thức trao đổi cung ứng trên Internet -thương mại điện tử Các quốc gia đang tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng thông tinhoá, tri thức hoá và tham gia vào kết mạng toàn cầu, phổ cập Internet Đồng thờivới việc xây dựng Chính phủ điện tử để theo kịp quá trình điện tử hoá về kinh tế

và xã hội đang diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc trên toàn cầu Trong quá trình xâydựng Chính phủ điện tử, các nước đặc biệt coi trọng việc điện tử hoá công tácquản lý thuế (còn gọi là hiện đại hoá công tác quản lý thuế)

Khảo sát kinh nghiệm từ các quốc gia trong hiệp hội SGATAR (gồmAustralia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapo, Malaixia, TháiLan, Philippin, Việt Nam, Hồng Công, Inđonêxia, Niudilân) cho thấy mô hình

hiện đại hoá công tác quản lý thuế bao gồm 4 thành phần chủ yếu: Chiến lược, Tổ chức nhân sự, quy trình tác nghiệp và công nghệ Trong đó Chiến lược là yếu tố

cơ bản của quá trình hiện đại hoá; với mục tiêu, chương trình và kế hoạch thựchiện cụ thể, rõ ràng và thống nhất gắn với từng nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận

trong cơ quan thuế Tổ chức nhân sự phải thay đổi phù hợp với mục tiêu mới; thay

đổi nhận thức mới, phong cách làm việc mới của cán bộ công chức, tập trung đàotạo kỹ năng chuyên sâu, phương pháp nghiệp vụ mới cho tất cả cán bộ thuộc cơ

quan thuế Quy trình nghiệp vụ phải thay đổi theo hướng hiện đại, quản lý bằng kỹ thuật rũi ro Công nghệ là trụ cột cơ bản của quá trình hiện đại hoá cơ quan thuế;

vấn đề thiết yếu là công nghệ phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, phùhợp với trình độ quản lý tổ chức của cơ quan thuế và trình độ kỹ năng của cán bộthuế

Trong quá trình tiến hành cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý thuế, cácquốc gia, vùng lãnh thổ thuộc SGATAR đều đặt trọng tâm vào việc hiện đại hoácông tác thanh tra, kiểm tra thuế:

Trang 25

* Về mục tiêu: hiện đại hoá dựa trên kỹ thuật phân tích quản lý các khả năngthất thu về thuế (còn gọi là quản lý rủi ro) để đổi mới nội dung, phương pháp và tổchức hoạt động thanh tra, kiểm tra, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật ở mức độ cao,nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế

* Về nội dung hiện đại hoá:

- Cùng với việc tin học hoá ngành thuế, hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế đượctrang bị đồng bộ hệ thống máy tính, khai thác mạng nội bộ, kết nối Internet, kếtnối với hệ thống mạng của các cơ quan chính phủ (liên quan đến thanh tra, kiểmtra thuế)

- Xây dựng hệ thống tích hợp thông tin, dữ liệu từ doanh nghiệp (kê khai thuế,hoá đơn hàng hoá bán ra, báo cáo tài chính, báo cáo thu nhập) và thông tin bênngoài (Ngân hàng và tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý vốn, cơ quan Hải quan,hiệp hội ngành nghề, cơ quan thống kê, cơ quan Cảnh sát )

- Xây dựng hệ thống tiêu chí phục vụ kỹ thuật phân tích, đánh giá, quản lý rủi

ro Đồng thời xây dựng các mô hình đánh giá rủi ro theo loại hình doanh nghiệp,lĩnh vực kinh doanh và sắc thuế

- Đổi mới phương pháp, quy trình và chuẩn hoá nghiệp vụ thanh tra, kiểm trathuế

- Thiết kế phần mềm ứng dụng hỗ trợ nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra thuế qua cáckhâu thu thập dữ liệu, chuyển đổi dữ liệu, phân tích xác định rủi ro, đối chiếu kiểmtra trên máy tính, lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra và thanh tra kiểm tra tại đơnvị

- Bổ sung, sửa đổi hệ thống luật cho phù hợp với quá trình xây dựng Chínhphủ điện tử nói chung và hiện đại hoá ngành thuế nói riêng như: xây dựng các vănbản qui phạm pháp luật về thương mại điện tử, về xác nhận chữ ký điện tử, bảo vệ

bí mật; giao dịch hợp đồng trong môi trường thương mại điện tử phi biên giới;xây dựng, bổ sung và sửa đổi các văn bản qui phạm liên quan tới thanh toán, giaodịch ngoại hối, chuyển tiền điện tử; quy định về kế toán điện tử, chứng từ thanh

Trang 26

toán điện tử, về doanh nghiệp cung cấp dữ liệu điện tử cho cơ quan thuế; về traođổi thông tin dữ liệu giữa các cơ quan Chính phủ

- Đổi mới tổ chức và đào tạo cán bộ

* Về các giai đoạn hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế:

Các quốc gia trên thế giới mặc dù với trình độ và điều kiện phát triển khácnhau nhưng nhìn chung quá trình hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuếđược chia thành các giai đoạn chính như sau:

- Giai đoạn 1: Cơ quan thuế các nước tập trung chủ yếu vào việc trang bị và

sử dụng máy tính cho các chức năng xử lý dữ liệu về thuế, thay thế việc xử lý thủcông bởi các ứng dụng trên máy tính Công tác thanh tra, kiểm tra thuế vẫn thựchiện theo phương pháp thủ công truyền thống

- Giai đoạn 2: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cơ sở

dữ liệu đồng bộ Xây dựng phương pháp, quy trình nghiệp vụ thanh tra, kiểm trathuế dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro Xây dựng các phần mềm ứng dụng hỗ trợcho kỹ thuật phân tích, đánh giá rủi ro Triển khai thí điểm kỹ thuật và mô hìnhthanh tra, kiểm tra mới ở một số địa phương Thay đổi tổ chức bộ máy và đào tạo

kỹ thuật chuyên sâu, phương pháp nghiệp vụ mới cho cán bộ thanh tra, kiểm trathuế Trình Nhà nước bổ sung sửa đổi các quy định của pháp luật phù hợp với quátrình hiện đại hoá công tác quản lý thuế nói chung và công tác thanh tra, kiểm trathuế nói riêng

- Giai đoạn 3: Hoàn thiện phương pháp, quy trình, kỹ thuật thanh tra, kiểm

tra Thiết kế các ứng dụng có tính tích hợp cao, khả năng trao đổi thông tin và xử

lý dữ liệu tập trung ở mức cao Triển khai diện rộng mô hình và kỹ thuật thanh tra,kiểm tra mới trên toàn quốc Tiếp tục bổ sung sửa đổi hệ thống pháp luật đồng bộ,

có những nước còn bổ sung chức năng điều tra cho thanh tra, kiểm tra thuế

- Giai đoạn 4: Hiện đại hoá ở mức rất cao.

Khả năng tích hợp thông tin, dữ liệu về đối tượng nộp thuế ở mức cao; việckiểm tra xác định nghi vấn đối với đối tượng nộp thuế phần lớn do công nghệ máy

Trang 27

tính thực hiện; việc lựa chọn các đối tượng thanh tra kiểm tra cũng được thực hiệnbằng công nghệ máy tính.

Mặc dù quá trình hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở các nước cónhững bước đi khác nhau, nhưng nhìn chung đều phải trải qua các giai đoạn nêutrên Hiện nay một số nước đã hoàn thành giai đoạn 3 và đang đi vào giai đoạn hiệnđại hoá ở mức cao như: Hồng Kông (Trung Quốc), Nhật Bản, Australia, Cácnước Đông Nam á và Châu á khác đều đã tiến hành hiện đại hoá công tác thanh tra,kiểm tra thuế và đang ở giữa hoặc cuối giai đoạn 2 như: Hàn Quốc, Xingapo, ĐàiLoan (Trung Quốc), Philippin, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Trung Quốc

Nói chung Hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra thuế là khuynh hướngphổ biến trên thế giới Bởi nó mang lại những lợi ích to lớn cho cả đối tượng nộpthuế - Giảm mạnh những chi phí tuân thủ pháp luật về thuế; cho cơ quan thuế -giảm chi phí hành chính, chi phí nguồn lực, tăng chất lượng, hiệu quả và hiệu lựccông tác thanh tra, kiểm tra thuế; cho Nhà nước - đảm bảo môi trường cạnh tranhbình đẳng về thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao khả năng hội nhập kinh

tế quốc tế và tăng thu cho NSNN

Khả năng áp dụng vào Việt Nam trong điều kiện hiện nay

Để áp dụng được các kinh nghiệm tiên tiến trên của thế giới vào hoạt độngthanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện hiện nay, ngoài việc hoàn thiện nhữngđiều kiện nội tại trong ngành thuế như: xây dựng được một hệ thống quản lý thuếtương đối hiệu quả, hiện đại trên tất cả các lĩnh vực quản lý thuế: các qui trìnhquản lý rõ ràng, đội ngũ nhân viên được đào tạo, hệ thống dịch vụ hỗ trợ đốitượng nộp thuế phát triển, các chế tài thưởng phạt đầy đủ và được áp dụng có hệthống, các hoạt động thanh tra được lập kế hoạch và đặt mục tiêu đúng đắn, ápdụng các kỹ thuật thanh tra tiên tiến, công nghệ thông tin hỗ trợ một cách hiệuquả, hoạt động của hệ thống quản lý thuế và được hiện đại hoá không ngừng thìnhững điều kiện khách quan như trình độ dân trí, đặc biệt là ý thức tuân thủ tự

Trang 28

giác của người nộp thuế; tình hình kinh tế xã hội của đất nước cũng phải đạt đếnmột mức độ phát triển nhất định

Qua nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức hoạt động thanh tra thuế tại một sốnước, những nội dung có thể vận dụng để từng bước hoàn thiện hoạt động thanhtra, kiểm tra của Việt Nam trong thời gian tới là:

- Các tổ chức thanh tra NNT mới cần được cơ cấu theo hướng chuyên mônsâu, hình thành các bộ phận nhỏ chịu trách nhiệm một hoặc một vài khâu trongquy trình thanh tra

- Bổ sung chức năng điều tra tội phạm về thuế

- Chuẩn hoá lực lượng thanh tra cả về số lượng và chất lượng Tuyển chọn vàbồi dưỡng thanh tra viên theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp

- Xem xét, bổ sung các tiêu chí như xu hướng phát triển kinh tế, đặc tínhngành kinh tế khi phân tích, xác định rủi ro

- Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ thanh tra

- Vận dụng phương pháp chọn xác suất một tỷ lệ nhất định để thực hiện thanhtra ngẫu nhiên ĐTNT

- Áp dụng các chuẩn mực thanh tra để nâng cao hiệu quả, hiệu lực thanh tra thuế

- Quy định thời gian thanh tra dài hơn để đảm bảo thanh tra viên có đủ thờigian thu nhập, phân tích thông tin và kiểm định nội dung phân tích

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA,

KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 TỔ CHỨC HỆ THỐNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT Ở VIỆT NAM

Hệ thống thanh tra thuế được tổ chức theo mô hình 3 cấp từ trung ương đến

địa phương (sơ đồ2.1).

Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức hệ thống kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay

Các Ban chức năng Đại diện TCT Ban Thanh tra

Phũng Thanh tra

Trang 30

Hệ thống thanh tra thuế chính thức thành lập dựa trên cơ sở pháp lý quy địnhtại Luật Quản lý thuế Từ khi có Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày29/11/2006, căn cứ vào Mục 3 chương X của Luật Quản lý thuế; Quyết định số76/2007/QĐ-TTg ngày 28/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tàichính và Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng Chínhphủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cụcThuế trực thuộc Bộ Tài chính; Quyết định số 48/2007/QĐ-BTC ngày 15/6/2007

và Quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15/6/2007 của Bộ Tài chính và Quyếtđịnh số 109/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ Tài chính qui định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Thanh tra Tổng cục Thuế Căn cứ cácquy định này, Thanh tra Tổng cục Thuế là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế vàngành thuế đã có cơ sở xác lập được căn cứ pháp lý về công chức ngạch thanh tra

để thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra thuế

- Hoạt động thanh tra thuế được thực hiện theo các điều: Điều 81: “Các trườnghợp thanh tra thuế”; Điều 82 “Quyết định thanh tra thuế, Điều 83 “Thời hạn thanhtra thuế”; Điều 84 “Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra Quyết định thanh tra thuế”;Điều 85 “Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn thanh tra thuế, thành viên đoànthanh tra thuế”; Điều 87 “Kết luận thanh tra thuế”; Điều 88 đến Điều 91 “Các biệnpháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gianlận về thuế” qui định tại định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và được cụ thể hoábằng quy trình thanh tra kèm theo Quyết định số 460/QĐ-TCT ngày 5 tháng 5năm 2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Về tiêu chuẩn trưởng đoàn thanhtra được thực hiện theo Quyết định số 2151/2006/QĐ-TTCP ngày 10 tháng 11năm 2006 ban hành quy chế hoạt động đoàn thanh tra của Tổng thanh tra, Quyếtđịnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế hoạt động đoàn thanh tra số2894/2008/QĐ- TTCP ngày 23 tháng 12 năm 2008 của Tổng Thanh tra Chính phủ

Trang 31

và Thông tư số 02/2010/TT-TTCP ngày 02/3/2010 của Thanh tra Chính phủ banhành Quy định qui trình tiến hành một cuộc thanh tra

Tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc,gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế các cấp Tổ chức bộmáy thanh tra, kiểm tra thuế gồm: Thanh tra Tổng cục thuế; Phòng thanh trathuế và Phòng kiểm tra thuế thuộc Cục thuế, Đội kiểm tra thuế thuộc Chi cụcthuế

* Thanh tra Tổng cục thuế

- Thanh tra Tổng cục Thuế là đơn vị thuộc Tổng cục Thuế, thực hiện chứcnăng thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục Thuế Nhiệm vụ chủ yếu là: thực hiện chức năng thanh tra thuế, kiểm tra thuế đốivới người nộp thuế; thanh tra giải quyết tố cáo về hành vi trốn thuế, gian lận thuếcủa người nộp thuế trong phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục Thuế

- Thanh tra Tổng cục Thuế có có Chánh Thanh tra và một số Phó Chánh thanhtra; làm việc theo tổ chức phòng kết hợp với chế độ chuyên viên Thanh tra viênthuộc Thanh tra Thuế là công chức nhà nước, được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra

để thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa Tổng cục Thuế

* Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế

- Phòng Thanh tra thuế thuộc hệ thống tổ chức Thanh tra thuế, kiểm tra thuế,

là đơn vị thuộc Cục Thuế, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuế trongphạm vi quản lý nhà nước địa phương của Cục Thuế

Phòng Thanh tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng CụcThuế và sự chỉ đạo về công tác nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Tổng cục thuế

- Phòng Thanh tra thuế có nhiệm vụ: giúp Cục trưởng Cục thuế triển khai thựchiện công tác thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giảiquyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuếthuộc phạm vi Cục Thuế quản lý

Trang 32

- Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế có Trưởng Phòng thanh tra và các PhóPhòng thanh tra, cùng với chuyên viên chính hoặc/và kiểm soát viên chính,chuyên viên hoặc/và kiểm soát viên thuộc biên chế của Phòng thanh tra thuế.

- Phần lớn lực lượng cán bộ của Phòng Thanh tra thuế cũng phải là chuyênviên chính hoặc kiểm soát viên chính và/hoặc thanh tra viên thuế

* Phòng kiểm tra thuế thuộc Cục thuế

- Phòng kiểm tra thuế thuộc hệ thống tổ chức Thanh tra thuế, kiểm tra thuế, làđơn vị thuộc Cục Thuế, thực hiện chức năng kiểm tra chuyên ngành thuế trongphạm vi quản lý nhà nước địa phương của Cục Thuế

Phòng Kiểm tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng CụcThuế và sự chỉ đạo về công tác nghiệp vụ kiểm tra của Thanh tra Tổng cục thuế

- Phòng Kiểm tra thuế có nhiệm vụ: giúp Cục trưởng Cục thuế kiểm tra, giámsát kê khai thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuếthuộc phạm vi quản lý trực tiếp của Cục Thuế

- Phòng kiểm tra thuế thuộc Cục thuế có Trưởng Phòng kiểm tra và các PhóPhòng kiểm tra, cùng với chuyên viên chính hoặc/và kiểm soát viên chính, chuyênviên hoặc/và kiểm soát viên thuộc biên chế của Phòng kiểm tra thuế

* Đội kiểm tra thuế thuộc Chi cục thuế

- Đội kiểm tra thuế thuộc hệ thống tổ chức Kiểm tra, Thanh tra thuế, là đơn vịthuộc Chi cục Thuế, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết

tố cáo liên quan đến người nộp thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu thuộcphạm vi quản lý của Chi cục Thuế

- Đội kiểm tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chi cục trưởng Chicục Thuế và sự chỉ đạo về nghiệp vụ kiểm tra của Phòng kiểm tra Cục thuế

- Đội kiểm tra có Đội trưởng, các Phó Đội trưởng và cán bộ kiểm tra thuếthuộc biên chế của Chi cục thuế

* Đội thanh tra thuế thuộc Chi cục Thuế

Trang 33

Đối với Chi cục Thuế thực hiện thu thuế hàng năm từ 300 tỷ đồng trở lên trừthu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế trên 1.000 doanh nghiệp, cơcấu bộ máy sẽ có Đội thanh tra thuế.

- Đội thanh tra thuế thuộc hệ thống tổ chức Kiểm tra, Thanh tra thuế, là đơn vịthuộc Chi cục Thuế, thực hiện công tác thanh tra người nộp thuế trong việc chấphành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liênquan đến người nộp thuế thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý

- Đội thanh tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chi cục trưởng Chicục Thuế và sự chỉ đạo về nghiệp vụ kiểm tra của Phòng kiểm tra Cục thuế

- Đội thanh tra có Đội trưởng, các Phó Đội trưởng và cán bộ thanh tra thuếthuộc biên chế của Chi cục thuế

Tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế được tăng cường phù hợp với tìnhhình thực tế tại mỗi địa phương (chủ yếu tại các Cục thuế) Cục Thuế thành phố

Hà Nội và Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh có không quá 06 Phòng Kiểm trathuế; 04 Phòng Thanh tra thuế, trong đó có 01 Phòng Thanh tra thuế đối vớidoanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có tính chất đặc thù, có phạm vi kinh doanh liênquan đến nhiều địa bàn tỉnh, thành phố Đối với các cục thuế còn lại, số lượngphòng thanh tra, kiểm tra thuế được phép thành lập phụ thuộc vào các ngưỡngmới như số thu hàng năm hoặc số lượng doanh nghiệp trực thuộc sự quản lý củacục thuế thay cho các ngưỡng số biên chế khoán hoặc ngưỡng số thu hàng nămtrước đây Cụ thể, Cục Thuế tỉnh, thành phố có số thu hàng năm từ 3.000 tỷ đồngtrở lên trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế trên 2.000 doanhnghiệp, được tổ chức không quá 03 Phòng Kiểm tra thuế và 02 Phòng Thanh trathuế, trong đó có 01 Phòng Thanh tra thuế đối với doanh nghiệp lớn, doanhnghiệp có tính chất đặc thù Cục Thuế tỉnh, thành phố có số thu hàng năm từ1.000 tỷ đồng đến dưới 3.000 tỷ đồng trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặcquản lý thuế từ 2.000 doanh nghiệp trở xuống, được tổ chức không quá 02 PhòngKiểm tra thuế và 01 Phòng Thanh tra thuế

Trang 34

Trong giai đoạn này, xu hướng chuyên môn hoá hoạt động thanh tra, kiểm traNNT đã hình thành trong tổ chức bộ máy thanh tra thuế các cấp Theo đó, các cơquan thanh tra được chia thành các nhóm chuyên trách như nhóm thanh tra NNT,nhóm kiểm tra NNT Qua thực tế triển khai, mô hình này hoạt động rất hiệu quả

do tính chuyên môn hoá cao nên công việc được xử lý chính xác, phát hiện, ngănchặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT Ở VIỆT NAM

Với quan điểm con người là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành côngcủa một tổ chức, công tác xây dựng và phát triển lực lượng cán bộ Thuế luônđược quan tâm đúng mức Suốt hơn một thập kỷ qua, ngành thuế không ngừngđẩy mạnh công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuế vềnghiệp vụ, phong cách ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, ngoại ngữ, ứng dụng tinhọc Đặc biệt, sau khi Luật Quản lý thuế ra đời, ngành thuế đã hình thành hệthống quản lý thuế theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp, tạo điều kiện áp dụng,phát triển ứng dụng tin học vào từng chức năng quản lý và hạn chế tiêu cực docách quản lý khép kín gây ra Cán bộ công chức được bố trí, sắp xếp lại, đã vàđang được đào tạo, đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên sâu trong từng lĩnhvực Thông qua việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy, đã luân chuyển, luânphiên được 29.639 lượt người vào các vị trí công tác mới; ngoài ra, còn giảmđược 2.756 đầu mối không cần thiết

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong công tác quản lý thuế nói chung và côngtác thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng, ngoài việc tập trung tăng cường số lượngcán bộ thuế có trình độ cao, ngành thuế đã chú trọng hơn vào việc đào tạo chuyênmôn nghiệp vụ cho cán bộ thuế Công tác đào tạo cán bộ thuế ngày càng được chútrọng theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp, bồi dưỡng kỹ năng quản lý thuế đốivới từng ngạch công chức, theo từng chức năng quản lý thuế, ngoài đào tạo vềchuyên môn đã triển khai đào tạo về đạo đức nghề nghiệp và văn hoá ứng xử của

Trang 35

cán bộ, công chức thuế Đã có 77.788 lượt cán bộ, công chức được đào tạo, trong

đó có 64.748 lượt đào tạo chuyên môn nghiệp vụ quản lý thuế, 9.116 lượt đào tạo

về tin học, 63 lượt đào tạo tại nước ngoài theo các chương trình hợp tác quốc tế,2.629 lượt đào tạo lý luận chính trị, quản lý nhà nước, 516 lượt đào tạo về ngoạingữ Đặc biệt phối hợp với Thanh tra Chính phủ để đào tạo và cấp chứng chỉ hoànthành chương trình thanh tra cơ bản cho gần 900 cán bộ làm công tác thanh tra.Nhận thức thanh tra, kiểm tra là một chức năng cực kỳ quan trọng trong công tácquản lý thuế Vì vậy ngay từ khi thành lập, Tổng cục Thuế đã chú trọng xây dựng

hệ thống thanh tra trong phạm vi cả nước Lực lượng thanh tra ngày càng đượctăng cường cả về số lượng và chất lượng Đặc biệt, khi triển khai áp dụng cơ chếTKTN thuế trên toàn quốc, do chức năng thanh tra, kiểm tra được tăng cường vàngành thuế có điều kiện để bố trí, sắp xếp nguồn lực hiệu quả nên một số lượnglớn công chức thuế có trình độ chuyên môn cao được ưu tiên tăng cường cho lựclượng thanh tra, kiểm tra

Tính đến 31/12/2010, tổng số công chức thuế làm công tác thanh tra, kiểm tra

là 8.006 người, chiếm 19,98% tổng số cán bộ ngành thuế, trong đó số cán bộthanh tra là: 1.152 người (chiếm 14,38% tổng số cán bộ thanh tra, kiểm tra; 3,18%tổng số cán bộ toàn ngành thuế; trong đó: thanh tra viên 403 người, chiếm 34,46%lực lượng thanh tra và thanh tra viên chính 53 người chiếm 3,21 lực lượng thanhtra), số cán bộ kiểm tra là: 6.854 người (chiếm 85,6% tổng số cán bộ thanh tra,kiểm tra; 16,8% tổng số cán bộ toàn ngành thuế) Ngoài lực lượng nòng cốt này,hàng năm tuỳ theo yêu cầu quản lý và tình hình thực tế, hoạt động thanh tra, kiểmtra ĐTNT còn được bổ sung một lượng tương đối lớn công chức từ các bộ phậnnghiệp vụ do công tác phối hợp kiểm tra, thanh tra hoàn thuế GTGT, kiểm traquyết toán thuế

Với ưu thế về số lượng, chất lượng và cơ cấu như vậy, lực lượng thanh trathuế đã đáp ứng được phần lớn các yêu cầu đa dạng của hoạt động thanh tra, kiểmtra thuế, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà ngành thuế đặt ra

Trang 36

trong thời gian này.

Trong những năm qua, tuy được tăng cường về cả số lượng và chất lượng

nhưng lực lượng thanh tra, kiểm tra thuế vẫn còn quá mỏng (chiếm 14,38 % trong

tổng số cán bộ thuế), đậc biệt là lực lượng thanh tra chuyên trách mới chiểm

khoảng 3% tổng số cán bộ công chức ngành ở các nước trong khu vực và thế giới

thường từ 25% đến 30% Trong những năm vừa qua, đối tượng quản lý thuế tăng

lên rất nhanh; biên chế cán ngành thuế tăng lên không đáng kể Mặc dù các Cục

thuế đã quan tâm nhiều đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhưng do khó khăn

chung về biên chế cán bộ nên việc tăng cường cán bộ để phục vụ cho công tác này

để đáp ứng cho chỉ tiêu kế hoạch thanh tra 3% số doanh nghiệp mà các Cục

thuế đang quản lý (Biểu số 2.2):

Biểu số 2.2: Số lượng cán bộ thanh tra cần bổ sung để thực hiện chỉ tiêu

thanh tra 3% số doanh nghiệp đang quản lý.

STT Cục Thuế

Số lượng DN đang hoạt động SXKD thuộc đối tượng quản

Nguồn nhõn lực bổ sung

Thực hiện 2010

KH

Số lượn

g CC đảm bảo nhiệ

m vụ KH TTr 2011

Số lượng CC Than

h tra có

Số lượng

Trang 38

yêu cầu quản lý hiện đại: Cục thuế Bình Dương, Đà Nẵng bình quân mỗi cán bộ

kiểm tra từ 80-120 hồ sơ thuế một tháng ; ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội là 150-180

hồ sơ khai thuế Số lượng chuyên viên chính, kiểm soát viên chính ở các phòng

thanh tra ít (ở Hà Nam, Lai Châu, Trà Vinh phòng thanh tra chỉ có 5 đến 6 người)

Tại Thanh tra Tổng cục Thuế có 46 người trong đó 1 người là thanh tra viên cao

cấp, 3 người là chuyên viên chính, 14 thanh tra viên chính, 1 kiểm soát viên chính,

20 thanh tra viên

Tổng cục Thuế đã rất quan tâm đến việc nâng cao trình độ nghiệp vụ cán bộ

thuế nói chung và cán bộ thanh tra, kiểm tra nói riêng song nhìn chung trình độ

chuyên môn của cán bộ thanh tra, kiểm tra các cấp còn thấp Ở tất cả các cấp, cán

bộ thuế còn rất yếu về kỹ năng và nghiệp vụ thanh tra và về khả năng sử dụng các

thiết bị tin học, trình độ ngoại ngữ kém nên không chú ý nhiều đến mảng có vốn

đầu tư nước ngoài Số lượng cán bộ trẻ thiếu kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra lớn

Trang 39

(do chiến lược cải cách ngành thuế, những năm vừa qua ngành đã tuyển dụng hơn1.000 cán bộ trẻ) Thậm chí một số cán bộ thanh tra, kiểm tra còn chưa nắm vữngchính sách thuế, chưa thành thạo về kế toán doanh nghiệp và phân tích tài chínhdoanh nghiệp để phát hiện các gian lận về thuế Ngoài ra, phong cách ứng xử củamột số cán bộ thanh tra, kiểm tra chưa văn minh, lịch sự, cách thức làm việc thiếutính khoa học và chuyên nghiệp

2.3 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH THANH TRA, KIỂM TRA NNT

Hiện nay, việc lập kế hoạch thanh tra hàng năm vẫn thực hiện theo qui trình460/QĐ-TCT ngày 5/5/2009; theo quy trình thanh tra trong cơ chế TKTN thuế, kếhoạch thanh tra được xác định trên cơ sở nguồn thông tin thu thập được về cácĐTNT, nguồn thông tin có được từ các phân tích, đánh giá rủi ro tại các cục thuế,nguồn thông tin có được từ cơ sở dữ liệu quản lý của ngành thuế trên cơ sở phântích các thông tin này dưới các góc độ như: mức độ tuân thủ về kê khai, nộp thuế,phân tích số liệu trên BCTC, phân tích các thông tin có liên quan từ các đối tácgiao dịch mà xác định hình thức thanh tra, quy mô và phạm vi tiến hành thanhtra Điểm khác của quy trình thanh tra trong cơ chế tự khai, tự nộp so với trướcđây là việc thanh tra không tràn lan mà tập trung chủ yếu vào các đối tượng cókhả năng rủi ro về thuế Kết hợp với việc phân tích và công văn hướng dẫn côngtác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm của Tổng cục Thuế, Cục thuế xây dựng

kế hoạch thanh tra hàng năm gửi về Tổng cục Thuế

Bảng 2.3 Công văn chỉ đạo xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm

Công văn chỉ đạo của Tổng cục Thuế về công tác thanh tra, kiểm tra năm:

Công văn 5343/TCT-TTr

ngày 24/12/2007 Công văn 4351/TCT-TTr ngày19/11/2008 Công văn 4809/TCT-TTrngày 23/11/2009 Công văn 4968/TCT-TTrngày 7/12/2010

Tiêu thức xây dựng kế hoạch thanh tra

1 Phân loại theo ngành,

qui mô trên cơ sở doanh thu

và số thuế ĐTNT đã thực

hiện; dựa vào dấu hiệu vi

phạm về thuế.

2 Phương pháp lựa chọn

theo rủi ro về thuế:

- Hiệu quả sản xuất, kinh

doanh của doanh nghiệp;

1 Lựa chọn các tập đoàn, tổng công ty, các đơn vị hoạt động sản xuất, kinh doanh có số thu nộp ngân sách lớn (thép, thuốc tân dược, xi măng, điện lực, gas, ôtô )

2 Các đơn vị có số thuế GTGT được hoàn trong năm 2008 lớn.

3 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lỗ nhiều năm nhưng vẫn

1 Các đơn vị thuộc kế hoạch thanh tra năm 2009 chưa thực hiện.

2 Các đơn vị có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng hoặc có số thu nộp ngân sách lớn (đầu tư xây dựng, kinh doanh phát triển cơ sở

1.Các doanh nghiệp đầu tư nước ngòai có dấu hiệu chuyển giá và có số hoàn thuế lớn.

2.Các doanh nghiệp trong nước có kết quả hoạt động kinh doanh lỗ nhưng có số hoàn thuế lớn, doanh nghiệp có số nợ thuế lớn,

Trang 40

- Quy mô doanh nghiệp;

- Mức độ tuân thủ về nộp

thuế;

- Loại hình doanh nghiệp;

- Cơ cấu tổ chức của DN;

- Số năm chưa thanh tra

của doanh nghiệp.

hạ tầng và xây dựng nhà;

hoạt động trong lĩnh vực tài chính: bảo hiểm, chứngkhóan, ngân hàng và các tổ chức tín dụng ).

qui mô lớn nhưng số thu nộp ngân sách ít

Phân bổ kế hoạch

- Phân bổ kế hoạch dựa

trên nguồn nhân lực

- Phân bổ kế hoạch dựa trên nguồn nhân lực và mục tiêu triển khai công tác thanh tra năm Phải tiến hành dự kiến cụ thể số doanh nghiệp thực hiện thanh tra, kiểm tra năm trên cơ sở hệ thống các chỉ tiêu tính toán đã được xây dựng (tổng nguồn nhân lực; số ngày làm việc.

Phân bổ kiểm tra tại cơ quan thuế, tại trụ sở DN )

- Phân bổ kế hoạch dựa trên nguồn nhân lực

- Phân bổ kế hoạch dựa trên nguồn nhân lực

Nguồn: Tổng cục Thuế

Công tác xây dựng kế hoạch từ đơn giản, hệ thống chỉ tiêu sơ sài, thiếu đánhgiá nguồn nhân lực để phân bổ hợp lý đã tiến đến một phương pháp xây dựng kếhoạch thanh tra khoa học dựa trên các chỉ tiêu đánh giá độ rủi ro, mức độ tuân thủpháp luật thuế của ĐTNT

Việc lựa chọn NNT để lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế, tiến tới xácđịnh danh sách NNT để kiểm tra tại trụ sở NNT được thực hiện theo qui trình số528/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 của Tổng cục Thuế Theo đó, Cục thuế sử dụng dữliệu kê khai của NNT để kiểm tra tất cả hồ sơ khai thuế, phân tích, đánh giá vàlựa chọn các đơn vị có rủi ro về việc kê khai, như: NNT có ý thức tuần thủ phápluật về thuế thấp (nộp hồ sơ khai thuế thường không đầy đủ các tài luệu kèmtheo, nộp không đúng hạn, khai thuế không đúng với số thuế thực tế phải nộp,phải điều chỉnh nhiều lần; thường xuyên nợ thuế ); NNT có các dấu hiệu khôngbình thường về kê khai thuế so với tháng trước so với tháng trước hoặc nămtrước (có số thuế GTGT âm liên tục nhưng không xin hoàn; có đột biến về doanhthu hoặc số thuế phải nộp tăng)

Việc xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã hạn chế được việc thanh tra,kiểm tra ĐTNT tràn lan do hoạt động thanh tra, kiểm tra được thực hiện trên cơ sở

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w