1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP VÀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 9 THÁNG ĐẦU NĂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 3 THÁNG CUỐI NĂM 2017

37 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 285,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2017 kinh tếViệt Nam có một số kết quả nổi bật về cải thiện môi trường kinh doanh, pháttriển doanh nghiệp, công nghiệp, xuất khẩu, thu hút khách quốc tế và đầ

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: /BC-BCT Hà Nội, ngày tháng năm 2017

BÁO CÁO TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

VÀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 9 THÁNG ĐẦU NĂM,

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 3 THÁNG CUỐI NĂM 2017

PHẦN THỨ NHẤT BỐI CẢNH TÌNH HÌNH 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2017

Ngành Công Thương bước vào năm 2017 với một số thuận lợi nhưngcũng phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức Kinh tế thế giới khởi sắc ởhầu hết các khu vực, với sự chuyển biến tích cực nhờ đà tăng trưởng khả quan ởTrung Quốc, châu Âu và Nhật Bản Theo đó, IMF dự báo, kinh tế toàn cầu sẽtăng trưởng 3,5% trong năm 2017 (giữ nguyên mức dự báo trong báo cáo Triểnvọng Kinh tế toàn cầu đưa ra hồi tháng 4) Hoạt động thương mại và đầu tư toàncầu phục hồi trở lại là những yếu tố tác động tích cực đến sản xuất trong nước.Tuy nhiên, căng thẳng địa - chính trị, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng có thể làm giánđoạn tiến trình phục hồi thương mại toàn cầu ảnh hưởng tới cơ hội xuất khẩucủa Việt Nam và một số nước trong khu vực

Kinh tế trong nước đang từng bước được cải thiện, nhưng vẫn đối mặt vớinhững khó khăn, thách thức để đạt mục tiêu đề ra Tăng trưởng kinh tế 9 thángnăm 2017 cải thiện đáng kể do tăng trưởng GDP quí III cao hơn nhiều so với quí

I và quí II (GDP quí I, II, III tăng trưởng lần lượt là: 5,15%, 6,28%, 7,46%, Tínhchung 9 tháng GDP tăng 6,41%); lạm phát bình quân có chiều hướng chậm lại

và có khả năng được kiểm soát theo mục tiêu 4% của Quốc hội, tuy nhiên trongbối cảnh giá hàng hóa thế giới biến động khó lường, giá lương thực, thực phẩmtrong nước có thể tăng trở lại, cùng với việc thực hiện lộ trình tăng giá các hànghóa, dịch vụ, đòi hỏi các Bộ, ngành cần phải tiếp tục theo dõi sát để giữ vữngđược mục tiêu kiểm soát lạm phát Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2017 kinh tếViệt Nam có một số kết quả nổi bật về cải thiện môi trường kinh doanh, pháttriển doanh nghiệp, công nghiệp, xuất khẩu, thu hút khách quốc tế và đầu tưnước ngoài, tuy nhiên với mục tiêu đạt tăng trưởng kinh tế 6,7% vẫn còn nhiềukhó khăn và thách thức, đòi hỏi các cấp, các ngành, người dân, doanh nghiệpđồng lòng, quyết tâm thì mới đạt được

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt cácngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017,

Trang 2

đồng thời ban hành Chỉ thị số 24/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếuthúc đẩy tăng trưởng các ngành, lĩnh vực nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởngkinh tế năm 2017 Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội đang chuyển biến tích cực.Kết quả đạt được của ngành công thương trong 9 tháng đầu năm như sau:

PHẦN THỨ HAI ĐÁNH GIÁ CÁC MẶT CÔNG TÁC CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG

9 THÁNG ĐẦU NĂM 2017 VÀ DỰ KIẾN CẢ NĂM 2017

I Về sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành (IIP) 9 tháng đầu năm 2017 tiếp

tục xu hướng tăng trưởng khá, tháng sau cao hơn tháng trước, đặc biệt là sự tăngtrưởng vượt bậc trong 9 tháng: 9T/2017 tăng 7,9%; 8T/2017 tăng 6,7%; 7T/2017tăng 6,5%; 6T/2017 tăng 6,2%, cao hơn các mức tăng 5,7% của 5T/2017, 5,1%của 4T/2017; 4,1% của 3T/2017; 3,3% của 2T/2017

Qua đó, có thể thấy tăng trưởng sản xuất công nghiệp ngày càng được cảithiện đáng kể, mức tăng trưởng của toàn ngành đã cao hơn 0,5 điểm % so vớimức tăng cùng kỳ năm trước và cao hơn 1,2 điểm % so với 8T năm 2017.Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng khá cao (cao hơn sovới mức tăng cùng kỳ) và là động lực tăng trưởng chung của toàn ngành, phùhợp với định hướng tái cơ cấu mô hình tăng trưởng (hạn chế phụ thuộc vào khaithác tài nguyên, thiên nhiên) Kết quả này phần nào phản ánh những giải phápthúc đẩy và hỗ trợ sản xuất trong thời gian qua của Bộ Công Thương đã pháthuy tác dụng

Về tình hình tiêu thụ: Chỉ số tiêu thụ của toàn ngành công nghiệp chế

biến, chế tạo 8T/2017 tăng 9,8% (cao hơn mức tăng 8,3% của cùng kỳ năm

2016 so với 2015) 9 tháng đầu năm, tiêu thụ của ngành thuận lợi và có xuhướng tăng, tất cả các ngành thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo cómức tăng trưởng tiêu thụ cao hơn so với cùng kỳ ở mức từ 5,5% đến trên 30%,nhiều ngành đạt tăng trưởng ở mức 2 con số, điển hình như: Dệt, sản xuất trangphục, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, sản xuất thuốc, hóa dược vàdược liệu, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic, sản xuất kim loại, sản xuất sảnphẩm điện tử, mát vi tính và sản phẩm quang học, sản xuất giường tủ, bàn ghế Một số ngành gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ trong những tháng đầu nămnay cũng đã được cải thiện (sản xuất đồ uống; sản xuất sản phẩm thuốc lá )

Về tình hình tồn kho: Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/9/2017 tăng 9,9% sovới năm 2016 (cùng kỳ năm 2016 tăng 9%) Xét từng ngành thuộc nhóm chothấy đây là mức tăng tồn kho hợp lý, phù hợp với tình hình sản xuất, tiêu thụ củangành và là mức tồn kho theo kế hoạch để chuẩn bị cho vụ tiêu thụ trong thờigian tới Tuy nhiên, vẫn có một số sản phẩm có mức tồn kho cao, cụ thể như:tồn kho của ngành sản xuất đồ uống, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và

Trang 3

sản phẩm quang học cho thấy thị trường tiêu thụ mặc dù đã được cải thiện nhiều,nhưng ngành vẫn còn một số khó khăn nhất định.

Tình hình cụ thể ở các ngành như sau:

1 Nhóm ngành khai khoáng

Sản xuất ngành khai khoáng còn gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởngtiếp tục suy giảm so với cùng kỳ Chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng9T/2017 giảm 8,1% so với cùng kỳ năm 2016 (cùng kỳ giảm 4,1%)

1.1 Đối với dầu thô và khí

Trong tháng 9, ngoại trừ chỉ tiêu khai thác khí không hoàn thành kếhoạch đề ra (bằng khoảng 88% kế hoạch tháng - so với kế hoạch Chính phủ giao

bổ sung), các chỉ tiêu còn lại hoàn thành vượt mức kế hoạch từ 2%-21% kếhoạch đề ra

Sản lượng khai thác dầu thô trong nước tháng 9 đạt 1,06 triệu tấn, vượt

1,4% kế hoạch tháng, tính chung 9 tháng đầu năm ước đạt 10,24 triệu tấn, vượt3,0% so với kế hoạch giao bổ sung 9 tháng và vượt 10,0% so với kế hoạchChính phủ giao đầu năm Khai thác dầu thô trong và ngoài nước ước đạt 11,7triệu tấn, giảm 10,3% so với cùng kỳ

Khai thác dầu thô và khí vẫn còn gặp nhiều khó khăn do: (1) Một số mỏđạt sản lượng khai thác 9 tháng thấp hơn so với kế hoạch đề ra, gồm: mỏ Bạch Hổ-Rồng (VSP) (9 tháng ước đạt 3,59 triệu tấn/kế hoạch là 3,70 triệu tấn, (hụt 105nghìn tấn, ≈ bằng 97,2% KH); cụm mỏ Sử Tử Đen- Sư Vàng- Sư Tử Trắng- Sư TửNâu (lô 15-1), bằng 97,7% kế hoạch (ước 9 tháng đạt 1,94 triệu tấn/kế hoạch 1,98triệu tấn)…(2) Một số mỏ ở trong nước hiện tại có độ ngập nước cao sẽ ảnh hưởnglớn đến sản lượng khai thác dầu những tháng cuối năm 2017 và những năm tiếp

theo, gồm: Hải Sư Trắng, Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Rạng Đông, Hải Thạch- Mộc Tinh (lô 05-2&05-3)…; (3) Công tác phát triển các lô: 67- Peru,

Junin 2- Venezuela đã tạm dừng và chưa xác định thời gian triển khai trở lại; (4)Sản lượng huy động khí từ EVN đạt thấp hơn so với kế hoạch Chính phủ giao bổsung (tăng 1,0- 1,5 tỷ m3 so với kế hoạch đầu năm) do tình hình thủy văn thuận lợi,EVN/A0 ưu tiên huy động sản lượng điện từ các nhà máy thủy điện Dự báo nhữngtháng cuối năm giá dầu thô diễn biến khó lường, tình hình khai thác khó khănhơn do mùa gió chướng sẽ tác động đến khả năng sản xuất và kinh doanh củadoanh nghiệp Tuy nhiên, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục chỉ đạo PVN tập trungmọi nguồn lực, phối hợp chặt chẽ với các Nhà thầu Dầu khí nước ngoài và có kếhoạch cụ thể chi tiết bảo đảm khai thác hơn 1,3 triệu tấn dầu thô và khoảng 1 tỷ

m3 khí so với kế hoạch được giao, qua đó phấn đấu cả năm đạt trên 13,58 triệutấn dầu thô và 9,8-9,9 tỷ m3

1.2 Đối với than đá

Sản lượng than khai thác tăng trưởng thấp, 9 tháng 2017 sản lượng thansạch ước đạt 28,6 triệu tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2016, bằng 71,3% kếhoạch năm Trong đó, sản lượng than sạch của Tập đoàn Công nghiệp Than -Khoáng sản là 25,14 triệu tấn, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước

Trang 4

Sản lượng than sạch tăng trưởng thấp chủ yếu do nhu cầu than cho điện

và xi măng giảm mạnh

Thị trường tiêu thụ than của TKV tiếp tục gặp khó khăn Ở trong nước,EVN đã điều chỉnh mua than từ TKV từ 19,92 triệu tấn xuống còn 17,92 triệutấn, như vậy tiêu thụ than của TKV giảm đi 2 triệu tấn Dự kiến những tháng cuốinăm sẽ giảm tiếp khoảng 1,3 triệu tấn do dự báo tăng trưởng nhiệt điện thấp hơn

so với kế hoạch Thị trường có thêm 2 đơn vị cung cấp than cho các nhà máynhiệt điện (dự kiến khoảng 2,5 triệu tấn năm 2017) ngoài TKV và Tổng công tyĐông Bắc

Bên cạnh đó, than tiêu thụ trong nước không đạt kế hoạch đối với các hộ

xi măng, hoá chất phân bón, hộ khác do các hộ gặp khó khăn trong công tác tiêuthụ sản phẩm nên phải giảm sản lượng sản xuất; Than xuất khẩu chưa đạt kếhoạch do thị trường thế giới suy giảm; ngoài ra do chính sách hạn chế xuất khẩuthan nên các hộ sử dụng than nước ngoài đã tìm kiếm nhà cung cấp khác từ năm

2016 Than xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc bị hạn chế bởi hàng rào kỹthuật của phía Trung Quốc nên hiện chưa thực hiện được Vì vậy những thángcuối năm tiêu thụ than sẽ rất khó khăn, nếu không điều chỉnh giảm sản lượng thìtồn kho than sẽ tăng cao

Năng lực sản xuất của ngành còn dư địa để gia tăng sản lượng Tuy nhiên,việc gia tăng sản lượng hiện nay tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường (đặc biệt

là của các hộ tiêu thụ lớn ở trong nước) Trong khi nhu cầu thị trường trongnước còn thấp, xuất khẩu cũng gặp khó khăn do giá thành cao, nguồn cung trênthị trường dồi dào Trong trường hợp EVN, PVN nhận than theo đúng kế hoạch

đã đăng ký từ đầu năm và có kế hoạch nhận thêm sản lượng khai thác tăng thêmtheo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Dự kiến sản lượng khai thác than củatoàn ngành cả năm 2017 đạt 39 triệu tấn

1.3 Đối với các loại khoáng sản khác

Trong 9 tháng năm 2017, khai thác và chế biến khoáng sản nói chung đãkhắc phục được một số khó khăn, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng khác 9tháng tăng 4,2% so với cùng kỳ

- Sản xuất, tiêu thụ alumin 9 tháng tăng trưởng cao so với cùng kỳ, sảnxuất tăng do giá sản phẩm tăng, dự án Alumin Nhân cơ hoạt động tốt hơn so với

kế hoạch dự kiến, 9 tháng sản xuất Alumin quy đổi đạt 768.400 tấn đạt 78,4%

kế hoạch và bằng 199,2% so với cùng kỳ Dự kiến cả năm sản lượng alumintăng thêm 100 nghìn tấn so với kế hoạch năm đạt khoảng 1.080 ngàn tấn gópphần vào tốc độ tăng trưởng sản xuất của toàn ngành

- Khai thác quặng Apatit giảm (giảm khoảng hơn 5% so với cùng kỳnguyên nhân do nhu cầu tiêu thụ phân bón giảm

- Đến ngày 20/9/2017 đã xuất khẩu được khoảng 700.000 tấn quặng sắtcác loại, đạt 35% về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu đạt 32 triệu USD

Trang 5

Bộ Công Thương vẫn đang tiếp tục khẩn trương rà soát hồ sơ để cácdoanh nghiệp sớm thực hiện được các đơn hàng xuất khẩu ở mức tối đa theo nhucầu thị trường

2 Nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo

Sản xuất công nghiệp của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo là điểmsáng dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành, trong những tháng đầu năm ngành luôntrong xu hướng tăng trưởng tháng sau cao hơn tháng trước và đặc biệt là đã tăngtrưởng cao hơn so với cùng kỳ năm 2016: Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP 9T/2017của nhóm này tăng 12,8% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 10,4%); Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP 8T/2017 của nhóm này tăng 10,8% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 9,7%); Chỉ

số sản xuất công nghiệp IIP 7T/2017 của nhóm này tăng 10,6% so cùng kỳ (cùng

kỳ tăng 9,9%); Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP 6T/2017 của nhóm này tăng 10,5%

so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 10,2%); 5T/2017 tăng 9,7%; 4T/2017 tăng 9,2%; 3T/2017

tăng 8,3%; 2T/2017 tăng 7,9%) Trong bối cảnh ngành khai khoáng giảm, đây lànhóm đóng vai trò quan trọng, là điểm sáng dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành

Tình hình cụ thể một số ngành như sau:

2.1 Nhóm hàng dệt may, da giày

- Ngành dệt may: Trong 9 tháng đầu năm, cầu về dệt may vẫn có xu

hướng giảm Ảnh hưởng bởi cầu thế giới giảm, kim ngạch xuất khẩu của hầu hếtcác quốc gia cạnh tranh xuất khẩu hàng dệt may với Việt Nam đều giảm (TrungQuốc giảm khoảng 8%; Bangladesh giảm 3,2%; Indonesia giảm khoảng 6% ).Trong bối cảnh đó, ngành dệt may của Việt Nam đã vượt qua khó khăn, tháchthức để đạt tốc độ tăng trưởng tương đối khả quan Cụ thể là:

Sản lượng sản xuất các sản phẩm chủ yếu của ngành dệt may 9 thángnăm 2017 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm 2016, cụ thể: sản lượng vải các loạităng khoảng trên 15%; sản lượng quần áo các loại tăng khoảng 9% Về xuấtkhẩu, ước tính kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt 19,26 triệu USD, tăng 8,6% sovới cùng kỳ năm 2016; xuất khẩu xơ, sợi đạt 2,62 tỷ USD, tăng 23,3% so vớicùng kỳ năm 2016

Ngành dệt may tiếp tục gặp những khó khăn như: khả năng các quốc giacạnh tranh xuất khẩu với Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trợ dệt may thông qua cácchính sách thuế, phá giá đồng nội tệ… để kéo khách hàng, đơn hàng nhằm đẩymạnh xuất khẩu Trong khi đó, tình hình đàm phán các đơn hàng của Việt Namgặp khó khăn (đối với cả doanh nghiệp lớn và nhỏ): khách hàng yêu cầu giảmgiá khoảng 10%, các đơn hàng bị chia nhỏ theo các mã sản phẩm làm tăng chiphí sản xuất; Việc thiếu đơn hàng cho sản xuất kinh doanh vẫn tiếp tục tăng; Chiphí đầu vào tiếp tục có xu hướng tăng…

Mặt hàng sợi đang phải đối mặt với khó khăn do giá sợi giảm Thổ Nhĩ

Kỳ áp thuế bán chống phá giá đối với ngành sợi Trung Quốc có nhiều thay đổichính sách đối với ngành dệt may, giảm lượng nhập khẩu sợi từ Việt Nam khiếncho các doanh nghiệp hàng đầu về sợi của Việt Nam bị lỗ; ngành may nhiềudoanh nghiệp lớn đã có đơn hàng đến hết năm nhưng những doanh nghiệp nhỏ

Trang 6

thiếu đơn hàng chủ yếu là: sơ mi, quần, jacket, veston Sức mua của các thịtrường lớn như Hoa Kỳ, Châu Âu giảm, thị trường Nhật cầm chừng

Tuy nhiên, ngành dệt may đang khai thác tốt các thị trường như HànQuốc, Trung Quốc, đặc biệt là đang khai thác tốt các thị trường của các nướcliên minh Kinh tế Á - Âu như Nga và một số nước khác Dự kiến sản lượng một

số sản phẩm chính của ngành như sau: vải dệt từ sợi tự nhiên đạt 369,61 triệu

m2, vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo đạt khoảng 728 triệu m2, quần áo mặcthường ước đạt hơn 3.900 triệu cái Xuất khẩu cả năm dự kiến tăng khoảng 8 -9%

Trong ngành,

- Ngành da giày

Tính chung 9 tháng đầu năm 2017 sản lượng giày dép da tăng nhẹ so vớicùng kỳ năm 2016 Cụ thể là, sản lượng sản xuất giày dép da ước đạt 197 triệuđôi, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2016 Về xuất khẩu, ước đạt 10,6 tỷ USD, tăng12,7% so với cùng kỳ năm 2016

Trung Quốc tiếp tục chủ trương cắt giảm ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực dagiày để tập trung cho các ngành có công nghệ cao hơn, nên có khả năng một sốđơn hàng gia công giầy dép, túi xách sẽ chuyển dịch từ Trung Quốc sang ViệtNam Tuy nhiên, thị trường cũng sẽ có nhiều biến động, do đó doanh nghiệpphải luôn bám sát thị trường, nắm bắt thông tin nhằm điều chỉnh định hướng sảnxuất, kinh doanh kịp thời Dự kiến sản lượng giày dép da các loại cả năm 2017đạt 275,9 triệu đôi, xuất khẩu đạt khoảng

2.2 Nhóm sản xuất đồ uống: Sản lượng tăng thấp hơn so cùng kỳ, chỉ số

sản xuất đồ uống 9 tháng tăng 5%, thấp hơn mức tăng 9,6% của cùng kỳ nămtrước Nguyên nhân chủ yếu do:

+ Đối với bia: do tác động từ các chính sách phòng chống tác hại đồ uống

có cồn đến hành vi và mức tiêu dùng của người uống bia và thuế suất thuế tiêuthụ đặc biệt tăng 5% từ ngày 01/01/2017 (mức tăng từ 55% lên 60%) Áp lựccạnh tranh ngày càng lớn giữa các hãng bia, đặc biệt là sự xâm nhập thị trườngcủa các hãng bia nổi tiếng với lợi thế về mặt thương hiệu và tiềm lực tài chính

+ Đối với nước giải khát: mặc dù thị trường được đánh giá khá tiềm năngnhưng sản xuất đồ uống đang có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại Một phần là dophải cạnh tranh với sản phẩm nước uống đóng chai ngoại nhập đang ồ ạt chiếmlĩnh thị trường Dự báo thời gian tới, nước ngọt có thể sẽ bị tính thuế tiêu thụđặc biệt 10% do Bộ Tài chính đề nghị bổ sung nước ngọt vào đối tượng chịuthuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm các loại nước ngọt có ga, không ga, tăng lực, thểthao, trà, cà phê uống liền được đóng gói theo dây chuyền sản xuất nước ngọt

+ Đối với rượu, sản xuất rượu công nghiệp trong nước đang gặp nhiềukhó khăn, lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm 2016 do nhu cầu tiêu thụ đốivới rượu công nghiệp sản xuất trong nước giảm và thuế suất thuế tiêu thụ đặcbiệt tăng theo lộ trình

Trang 7

Dự kiến sản xuất ngành chế biến thực phẩm sẽ đạt mục tiêu tăng trưởng

cả năm trên 8% Tuy nhiên, ngành đồ uống do tình hình thời tiết mát, sản xuấtcạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, dự kiến sản xuấttăng trưởng cả năm trên 5%

2.3 Ngành sản xuất thuốc lá: tính chung 9 tháng đầu năm 2017, sản

lượng thuốc lá đạt khoảng 4.091,1 triệu bao, tăng nhẹ so với cùng kỳ 2016

Dự báo, ngành sản xuất thuốc lá vẫn gặp nhiều khó khăn trong thời giantới do thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm thuốc lá điếu dự kiến sẽtiếp tục tăng và tình trạng nhập lậu thuốc lá vẫn còn diễn biến phức tạp

Sản lượng sản xuất sản phẩm của ngành tăng trưởng không cao Dự báo,trong thời gian tới, ngành sản xuất thuốc lá vẫn gặp nhiều khó khăn như: Thuếsuất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm thuốc lá điếu được dự kiến sẽ tiếptục tăng, nhập lậu thuốc lá vẫn diễn biến phức tạp Vì vậy, dự kiến sản lượngcủa ngành thuốc lá năm 2017 đạt 5.554,2 triệu bao, tăng trưởng khoảng 4%

2.4 Ngành giấy: Trong 9 tháng đầu năm, tình hình sản xuất và tiêu thụ

của ngành giấy ổn định, riêng giấy in và giấy viết có mức tiêu thụ tốt do họcsinh bước vào năm học mới Chỉ số sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăngkhoảng hơn 10% so với cùng kỳ năm ngoái (sản lượng sản xuất giấy của riêngTổng công ty Giấy tăng khoảng 3%)

Trong những tháng cuối năm, bên cạnh những thuận lợi thì ngành giấyvẫn phải đối mặt với với sự cạnh tranh gay gắt với giấy nhập khẩu Cụ thể là:Thuế nhập khẩu giấy từ các nước ASEAN, Trung Quốc về 0% và Nhật Bản là1%, do vậy lượng giấy nhập khẩu liên tục tăng và giá bán giảm để chiếm lĩnh thịtrường Tiêu thụ giấy in, viết (đặc biệt là mặt hàng giấy Tissue) bị cạnh tranh rấtmạnh trên thị trường, giá bán giảm; bên cạnh đó việc xuất hiện hàng giả, hàngnhái có chiều hướng tăng cũng là yếu tố làm giảm sản lượng tiêu thụ của ngành.Với những yếu tố như trên, đòi hỏi ngành giấy phải tập trung mọi nguồn lựcphấn đầu hoàn thành mục tiêu kế hoạch đã đề ra từ đầu năm, tăng trưởng đạt

%

2.5 Nhóm hàng điện tử, máy vi tính và thiết bị điện: Nhóm hàng thiết bị

điện nhu cầu tiêu thụ nội địa đã bước vào giai đoạn bão hòa nên tăng trưởng sảnxuất không cao Chỉ số sản xuất ngành thiết bị điện tăng 7,8% Xuất khẩu củanhóm hàng điện thoại di động và linh kiện, máy vi tính và linh kiện điện tử tăngtrưởng cao khiến cho sản xuất tăng cao (tăng 25,1%), Hiện nay, Tập đoànSamsung có 6 nhà máy tại Việt Nam chuyên sản xuất các sản phẩm điện tử, thiết

bị điện tử thông minh, điện gia dụng, nghiên cứu phát triển và chuyển giao côngnghệ với tổng vốn đầu tư 15 tỉ USD Đến nay, Samsung Việt Nam đã xuất khẩusản phẩm tới 52 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch năm 2016 đạt khoảng 40

tỉ USD, tạo việc làm cho gần 137.000 lao động Dự kiến đến cuối năm nay, sốlao động của Samsung sẽ nâng lên 150.000 người; kim ngạch xuất khẩu đạt hơn

50 tỉ USD; tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm của Samsung tại Việt Nam đạt khoảng50% Đây sẽ là yếu tố đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành điện tử

Trang 8

2.6 Ngành thép:

Trong 9 tháng năm 2017, sản xuất kinh doanh của ngành còn gặp nhiềukhó khăn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trong ngànhcòn hạn chế Tuy nhiên, sản xuất của ngành vẫn đạt mức tăng trưởng khá, một

số sản phẩm như sắt thép thô; thép cán; thép thanh, thép góc có mức tăng trưởng

khá cao (tăng khoảng 11%-28% so với cùng kỳ) Một số sản phẩm chính củangành hiện đang có đà tăng trưởng tốt Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệpngành thép đang tiếp tục các chính sách chiết khấu và bảo lãnh giá, điều này làmcho thị trường thép trong nước gặp khó khăn Cùng với đó, thép cuộn ngoạinhập với giá rẻ cũng gây khó khăn cho các nhà sản xuất nội địa Các doanhnghiệp cần giữ ổn định thị trường; bãi bỏ chính sách bảo lãnh giá, giảm và hạnchế các chính sách hỗ trợ bán hàng; thường xuyên trao đổi thông tin với nhau đểcùng phối hợp, giữ vững môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh Đồngthời, thúc đẩy hợp tác giữa các nhà sản xuất với nhau, tạo chuỗi liên kết đồng bộbền vững giữa các nhà sản xuất ở khâu luyện và cán thép

Sản xuất thép trong năm 2017 gia tăng sản lượng do nhà máy Formosa đivào hoạt động đóng góp vào giá trị sản xuất toàn ngành, dự kiến tăng 1,5 triệutấn thép Với sự đóng góp của Formosa và các dự án thép khác (Posco FS, HòaPhát, Việt Đức…) dự kiến sản lượng thép sản xuất các loại toàn ngành năm

2017 tăng khoảng trên 20% Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành cảnăm 2017 là: sắt thép thô đạt khoảng 5,880 triệu tấn, thép cán đạt khoảng 6,422triệu tấn, thép thanh, thép góc đạt khoảng 5,390 triệu tấn

2.7 Ngành phân bón, hóa chất: Do ảnh hưởng của thời tiết biến động

thất thường tác động làm giảm năng suất tại các khu vực sản xuất trồng trọt thúcđẩy nhu cầu tăng đầu tư phân bón để bảo vệ năng suất cây trồng, vì vậy, sản

xuất phân bón tăng, tính chung 9 tháng đầu năm 2017, ước sản lượng phân đạm urê tăng khoảng 16%; phân DAP tăng 43,8% so với cùng kỳ so với cùng kỳ.

Nhập khẩu phân bón 9 tháng đầu năm 2017 tăng 42,9% về số lượng và 39,2%

về trị giá

Một số sản phẩm chính của ngành tăng trưởng tốt, dự kiến ngành có khảnăng đạt mục tiêu kế hoạch năm, cụ thể: sản lượng sản xuất ure 2,38 triệu tấn;sản lượng sản xuất DAP 325.400 tấn; sản lượng sản xuất phân lân 1,8 triệu tấn

2.8 Sản xuất ô tô: Sản xuất ô tô 9 tháng năm 2017 đạt thấp hơn so với

cùng kỳ (bằng khoảng 95% so với cùng kỳ) do phải cạnh tranh với ô tô nhậpkhẩu, nhu cầu tiêu thụ giảm do tâm lý đợi đến năm 2018 thuế nhập khẩu ô tôbằng 0% (theo hiệp định thương mại tự do AFTA), dẫn đến các nhà máy cũngphải điều chỉnh sản xuất

để phù hợp với nhu cầu thị trường Vì vậy, để đạt được mục tiêu kế hoạchngành cần nỗ lực đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Dự kiến sản lượng sản xuất đạtkhoảng 230 nghìn chiếc

3 Nhóm ngành sản xuất và phân phối điện:

Trang 9

Ngành điện đã đảm bảo cung cấp điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

và sinh hoạt của nhân dân Công tác vận hành lưới điện ổn định cấp điện chophụ tải mùa khô được duy trì Việc khai thác nguồn điện được thực hiện tối ưu.Theo đó, sản xuất của ngành duy trì tăng trưởng khá, nhưng tốc độ tăng trưởngcòn thấp hơn mức tăng của cùng thời điểm năm trước Chỉ số sản xuất ngành sảnxuất và phân phối điện 9 tháng 2017 tăng 8,9%, thấp hơn mức tăng 11,8% củacùng kỳ 9 tháng năm 2016 so với năm 2015

Nguyên nhân ngành điện tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ do nhu cầutiêu thụ điện của nhóm quản lý và tiêu dùng dân cư tăng rất thấp (khoảng 3,9%,thấp hơn nhiều so với mức tăng của cùng kỳ năm 2016 là 9,94%), trong khinhóm chiếm khoảng 33% tổng sản lượng điện thương phẩm Điện thương phẩmcho nhóm công nghiệp - xây dựng vẫn tăng cao 12,27% (cùng kỳ năm 2016 tăng11,5%)

Việc xây dựng kế hoạch sản xuất năm 2017 dựa trên khả năng khai thácnguồn điện theo dự báo tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ điện của kinh tế - xã hội.Tuy nhiên, năm 2017 thời tiết mát mẻ, nhu cầu tiêu dùng điện thấp, đặc biệt tiêuthụ điện của nhóm quản lý và tiêu dùng dân cư tăng thấp hơn nhiều so với cùng

kỳ khiến nhu cầu phụ tải tăng thấp hơn so với kế hoạch, dự kiến trong 3 thángcuối năm nếu không có đột biến, tình hình tiêu thụ điện vẫn như các tháng cuốinăm của những năm trước, khả năng điện sản xuất và phân phối điện tăngkhoảng 9,4 - 9,8%

Nhận xét chung:

Tăng trưởng sản xuất công nghiệp ngày càng được cải thiện, 9 tháng đầunăm 2017 chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng cao hơn so với mức tăngcủa cùng kỳ năm trước (tăng 0,5 điểm phần trăm), đóng góp tích cực vào tăngtrưởng GDP

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng khá cao (caohơn so với mức tăng cùng kỳ) và là động lực tăng trưởng chung của toàn ngành

Mặc dù tăng trưởng sản xuất công nghiệp bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảmcủa ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện nhưng về cơ bản, sảnlượng sản xuất đều đạt và vượt mức chỉ tiêu kế hoạch, tiêu thụ ổn định, Bêncạnh đó, ngành công nghiệp khai khoáng cũng đã nỗ lực, phấn đấu đạt các chỉtiêu Chính phủ giao

- Dự báo sản xuất công nghiệp các tháng cuối năm tăng trưởng tích cực,

do các yếu tố thuận lợi từ nền kinh tế thế giới và kinh tế trong nước như sau:

+ Các nền kinh tế lớn trên thế giới đang có chuyển biến tích cực, tạo điềukiện thuận lợi cho sản xuất trong nước;

+ Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định và tăng trưởng GDP đã có sự bứt phá;+ Tăng trưởng sản xuất công nghiệp có nhiều cải thiện, với xu hướng tíchcực tháng sau cao hơn tháng trước Nhiều ngành sản xuất vào vụ sản xuất đểchuẩn bị cho dịp cuối năm nên sản xuất tăng cao;

Trang 10

+ Ngành dầu khí dự kiến khai thác dầu thô trong nước phấn đấu hoàn kếhoạch Chính phủ giao khai thác tăng thêm khoảng 1,3 triệu tấn dầu thô Chínhphủ cho phép xuất khẩu một số loại quặng tồn kho tạo điều kiện thúc đẩy sảnxuất; Nhà máy Formosa đi vào hoạt động từ tháng 7 dự kiến sản xuất 1,5 triệutấn thép trong năm 2017, góp phần thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành

+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với xu hướng tăng trưởng khá vàđóng góp chính vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp

+ Các nhóm hàng dệt may, da giày…một số doanh nghiệp lớn đã có đơnhàng đến cuối năm, nhu cầu khách hàng vẫn tăng góp phần thúc đẩy sản xuấtphát triển

+ Việc tham gia các Hiệp định Thương mại tự do sẽ mở ra nhiều cơ hộihơn thương mại và đầu tư cho các doanh nghiệp Việt Nam

+ Những ngành kinh doanh có điều kiện được quy định cụ thể hơn giúpdoanh nghiệp thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Với các yếu tố như trên, Bộ Công Thương cho rằng khả năng từ nay đếnhết năm, các chỉ tiêu về sản xuất công nghiệp sẽ có thể đạt mức như sau:

Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP toàn ngành năm 2017 tăng khoảng 8,35% - 8,5% so với cùng kỳ năm 2016 Trong đó:

- IIP nhóm ngành khai khoáng cả năm đạt khoảng 93,5% - 94,9

- IIP nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt khoảng 12,5% - 13%

- IIP nhóm ngành sản xuất và phân phối điện đạt khoảng 9,4 - 9,8%

II Về xuất nhập khẩu

1 Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại

1.1 Xuất khẩu

Theo số liệu ước của liên Bộ, kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2017ước đạt 154,03 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ Trong đó, khối doanhnghiệp trong nước xuất khẩu 43,16 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ, khốidoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 110,86 tỷ USD (tính cả dầu thô xuấtkhẩu) tăng 21,0% Đi vào chi tiết các nhóm hàng và mặt hàng như sau:

a) Nhóm hàng nông sản, thủy sản

Trong 9 tháng đầu năm 2017, Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 19,33 tỷUSD, chiếm 12,55% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 18,9% so với cùng kỳ.Trong đó, các mặt hàng rau quả, gạo, hạt điều, thủy sản…tăng trưởng cao vớitốc độ tăng trưởng trên 20%

- Đối với mặt hàng rau quả:

Rau quả là mặt hàng có kim ngạch tăng trưởng mạnh nhất trong nhómnông, thủy sản Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 2,67 tỷ USD, tăng 45,6% so vớicùng kỳ Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng này là do quá trình hội

Trang 11

nhập khu vực ASEAN của Việt Nam và của ASEAN với các quốc gia khác Đếnnay, hoa quả Việt Nam đã thâm nhập được vào nhiều thị trường có yêu cầu chấtlượng cao như Hoa Kỳ (đã cho phép nhập khẩu thanh long ruột trắng, ruột đỏ,chôm chôm, nhãn, vải); Nhật Bản (thanh long ruột trắng, ruột đỏ, xoài), HànQuốc (thanh long ruột trắng, ruột đỏ, xoài), New Zealand (xoài, thanh long ruộttrắng và đỏ), Úc (vải, xoài),…

- Đối với mặt hàng gạo:

Xuất khẩu gạo trong 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 3,8 triệu tấn với tổnggiá trị xuất khẩu ước đạt 2,03 tỷ USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ 2016 Xuấtkhẩu gạo tăng so với cùng kỳ năm 2016 cả về số lượng và trị giá nhờ sự tăngtrưởng xuất khẩu tại các thị trường Trung Quốc, Malaysia, Philippines,Bangladesh, theo cả hợp đồng tập trung và hợp đồng thương mại và cả sự tăngtrưởng ở các khu vực thị trường mới, còn nhiều tiềm năng.Tại thị trườngMalaysia, đã ký được các hợp đồng tập trung với tổng khối lượng 150 nghìn tấn;tại thị trường Bangladesh ký được các hợp đồng tập trung với tổng khối lượng là

250 nghìn tấn; tại thị trường Philippines, 4 thương nhân Việt Nam đã trúng thầucung cấp 175 nghìn tấn gạo

Giá gạo xuất khẩu tăng trong các tháng gần đây và duy trì ở mức cao đãgóp phần tiêu thụ lúa gạo hàng hóa với mức giá cao, có lợi cho người nông dânsản xuất lúa Thời điểm ngày 01/6/2017, giá gạo 5% tấm là 370-380 USD/tấn vàgạo 25% tấm là 340-350 USD/tấn Có thời điểm trong tháng 7, giá gạo 5% tấmcủa Việt Nam đã đạt mức 405-415 USD/tấn và gạo 25% là 380-390 USD/tấn.Thời điểm 25/8, giá gạo 5% tấm xuất khẩu là 380-390 USD/tấn và và gạo 25%tấm là 360-370 USD/tấn (vẫn cao hơn thời điểm đầu tháng 6 từ 10-20 USD/tấn)

Cơ cấu gạo xuất khẩu tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực Xuất khẩu giảmmạnh ở phân khúc gạo cấp trung bình và cấp thấp; tăng mạnh ở dòng gạo caocấp, các loại gạo chất lượng cao, giá trị cao (gạo nếp, japonica, gạo lứt), phù hợpvới định hướng phát triển thị trường xuất khẩu

b) Xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản trong 9 tháng đầu nămước đạt 3,38 tỷ USD, tăng 35,0% so với cùng kỳ và tăng ở tất cả các mặt hàng,trong đó nổi bật nhất là mặt hàng than đá, tăng 194% về giá trị và 122.5% vềkhối lượng xuất khẩu; dầu thô tăng 33,4% về giá trị; nhóm quặng và khoáng sảnkhác tăng tới 118,7% về khối lượng

c) Nhóm hàng công nghiệp chế biến 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 123,9

tỷ USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 80,44% tổng kim ngạch xuấtkhẩu và tăng ở tất cả các mặt hàng, ngoại trừ quý và kim loại (giảm 43,3%),trong đó nổi bật là sự tăng trưởng cao trên 20% của một số mặt hàng có kimngạch xuất khẩu lớn như: sắt thép các loại (tăng 49,7%), máy vi tính, sản phẩmđiện tử và linh kiện (40,8%), điện thoại các loại và linh kiện (21,4%), máy móc,thiết bị và phụ tùng (30,1%), giấy và sản phẩm từ giấy (32,7%)và khả năng duytrì ở mức ổn định cao của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may(8,6%), da giày (12,7%)

Trang 12

- Đối với mặt hàng máy tính, linh kiện điện tử và điện thoại, linh kiệnđiện thoại: Đây là nhóm mặt hàng duy trì tăng trưởng ổn định từ năm 2011 đếnnay, đóng góp cao vào kim ngạch xuất khẩu Trong 9 tháng đầu năm, nhóm mặthàng máy tính, linh kiện điện tử và điện thoại, linh kiện điện thoại là hai mặthàng có đóng góp nhiều nhất vào kim ngạch xuất khẩu với tổng kim ngạch ướcđạt 49,45 tỷ USD), trong đó:

+ Đối với các mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện ước đạt 31 tỷUSD, tăng 21,4% so với cùng kỳ Dự báo trong những tháng tiếp theo, xuấtkhẩu điện thoại và linh kiện sẽ tiếp tục tăng trưởng do những nhà máy sản xuấtđiện thoại và linh kiện của các hãng lớn trên thế giới đang đầu tư sản xuất tạiViệt Nam dần đi vào ổn định

+ Đối với các mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: kimngạch xuất khẩu ước đạt 18,46 tỷ USD, tăng 40,8% so với cùng kỳ Đóng gópvào mức tăng trưởng ấn tượng của nhóm mặt hàng này là do các doanh nghiệp

đã thành công trong việc phát triển và mở rộng thị phần, đẩy mạnh xuất khẩuhàng máy tính, linh kiện điện tử sang các nước và khu vực khác như Hàn Quốc,ASEAN, Canada, Trung Quốc, Đài Loan, Nga,…, bên cạnh việc duy trì đà tăngtrưởng xuất khẩu sang các thị trường truyền thống Trung Quốc, Hoa Kỳ, NhậtBản Mặt hàng này được dự báo có rất nhiều cơ hội để tiếp tục tăng trưởng vàphát triển ở các thị trường mới Đặc biệt ở những thị trường nhỏ, chưa có nhữngthương hiệu nổi tiếng, sẽ là cơ hội để ngành máy tính, linh kiện điện tử ViệtNam xuất khẩu

- Nhóm các sản phẩm dệt may: Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm

2017 ước đạt 19,25 tỷ USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ Xuất khẩu xơ sợi là điểmsáng trong xuất khẩu hàng dệt may với mức tăng trưởng mạnh 23,3% so vớicùng kỳ năm trước (kim ngạch ước đạt 2,61 tỷ USD)

- Mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ: Năm 2016, xuất khẩu gỗ tăng trưởng kháthấp (tăng 1,1%), chỉ đạt xấp xỉ 7 tỷ USD Tuy nhiên, 9 tháng đầu năm 2017,xuất khẩu gỗ đã lấy lại đà tăng trưởng cao của những năm trước đây, ước đạt5,53 tỷ USD, tăng 11,00% so với cùng kỳ 2016 Xuất khẩu mặt hàng này đanghướng tới mục tiêu 7,5 tỷ USD cả năm 2017

d) Về thị trường xuất khẩu: Các thị trường xuất khẩu chính có mức tăngtương đối mạnh, thị trường Châu Á là thị trường truyền thống, tuy nhiên ướcxuất khẩu 9 tháng đầu năm có mức tăng khá với cùng kỳ năm 2016 (26,9%),chiếm tỷ trọng 52,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; tiếp theo là khu vực thị trườngkhu vực Châu Mỹ với tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 38,46 tỷ USD, tăng13,1% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu vào thị trường khu vực châu Âuước đạt 30,47 tỷ USD (tăng 15,1%); các thị trường còn lại có mức tăng nhẹ;Đóng góp vào mức tăng của các thị trường là do các nhà xuất khẩu đã tận dụngcác cam kết, ưu đãi từ các Hiệp định đã ký kết để tiếp tục khai thác thị trườngnày như Hàn Quốc (kim ngạch ước đạt 10,65 tỷ USD, tăng 27,3%; Trung Quốc(kim ngạch ước đạt 21,87 tỷ USD, tăng 44,7; Thái Lan (kim ngạch ước đạt 3,5

tỷ USD, tăng 29%); và tăng trưởng ổn định ở các thị trường lớn như EU (tăng

Trang 13

15,1%); Hoa Kỳ (kim ngạch ước đạt 31,23 tỷ USD, tăng 10,5%).%); Nhật Bản(kim ngạch ước đạt 12,49 tỷ USD, tăng 16,9%).

1.2 Nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm ước đạt 154,48 tỷ USD, tăng23,1% so với cùng kỳ Trong đó, khối doanh nghiệp trong nước đạt 61,25 tỷUSD, tăng 18,7% so với cùng kỳ, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiđạt 93,22 tỷ USD, tăng 26,1% Chi tiết đối với các nhóm hàng và mặt hàng nhậpkhẩu như sau:

a) Nhóm hàng cần nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm

2017 ước khoảng 138 tỷ USD, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng kim ngạchnhập khẩu với 89,33%, tăng 24,3% so với cùng kỳ Trong đó, đáng chú ý lànhập khẩu tăng cao trên 20% đối với nhóm nông sản như hạt điều (tăng 86,6%),thủy sản (tăng 35,0%); các sản phẩm cso kim ngạch nhập khẩu lớn của ngànhcông nghiệp chế biến, chế tạo như than đá (53.6%); xăng dầu các loại (tăng42%); hoá chất và các sản phẩm hóa chất (tăng khoảng 25,4%); máy tính, sảnphẩm điện tử và linh kiện (tăng 28,3%); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng(32,9%) Trong đó:

- Đối với nhập khẩu máy móc, thiết bị: đạt khoảng 27 tỷ USD, tăng 32,9%

so với cùng kỳ năm 2016 Nhập khẩu máy móc, thiết bị có sự tăng trưởng mạnhtrong các tháng đầu năm, chủ yếu do tăng nhập khẩu của các Công ty thuộc Tậpđoàn Samsung (trong đó có Samsung Display đẩy mạnh nhập khẩu máy mócthiết bị để phục vụ Dự án mới được điều chỉnh tăng vốn); các Tập đoàn, công tytrong lĩnh vực năng lượng như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công ty TNHHĐiện lực Vĩnh Tân 1; Tổng công ty Viettel nhập khẩu phục vụ dự án 4G,

- Nhóm máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Kim ngạch nhập khẩuước đạt 25,85 tỷ USD, tăng 28,3% Đây cũng là những sản phẩm đầu vào chosản xuất hàng xuất khẩu

- Đối với mặt hàng sắt thép và các sản phẩm từ thép: Tổng kim ngạchnhập khẩu ước đạt 9 tỷ USD, trong đó mặt hàng thép các loại ước đạt 6,8 tỷUSD và sản phẩm thép ước đạt 2,2 tỷ USD Đóng góp vào tăng trưởng cao củanhập khẩu thép chủ yếu là do giá nhập khẩu tăng

b) Nhóm hàng cần kiểm soát: Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 9,04 tỷUSD, chiếm 5,82% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 9,3% so với cùng kỳ.Trong đó, đáng lo ngại là nhập khẩu rau quả tăng tới 80,5%, phế liệu sắt théptăng 55,7% Tuy nhiên, mặt hàng ô tô nguyên chiến dưới 9 chỗ đã giảm dần quacác tháng gần đây sau thời kỳ tăng bùng nổ vào các tháng đầu năm Trong 9tháng đầu năm chỉ tăng 12% so với cùng kỳ

- Đối với mặt hàng rau quả: Nhập khẩu rau quả 9 tháng đầu năm ướckhoảng 1,17 tỷ USD, tăng 80,5% so với cùng kỳ với sự gia tăng nhập khẩu củacác mặt hàng như nhãn, măng cụt, sầu riêng, bòn bon, mít, me, phong lan từThái Lan; táo, cam, lê, kiwi, cherry (từ New Zealand, Úc, Hoa Kỳ); tỏi, nấm

Trang 14

Hương, lê, táo, hành tây, mộc nhĩ, khoai tây, quýt, nấm kim châm,… từ TrungQuốc.

Một số nguyên nhân làm gia tăng nhập khẩu rau quả trong thời gian vừaqua: (i) Nguồn cung một số sản phẩm rau quả giảm do ảnhhưởng của tình trạnghạn hán và xâm ngập mặn; (ii) Thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoặc cắt giảm theocam kết của Việt Nam với các nước đối tác ký kết FTA, tạo ra lợi thế cạnh tranhcho sản phẩm nhập khẩu (theo các FTAs như ATIGA, AANZFTA, ACFTA,AKFTA, VKFTA… thuế nhập khẩu đều là 0% cho các loại trái cây); (iii) Giánhập khẩu một số loại trái cây ôn đới như táo, lê, nho…giảm mạnh khi vàochính vụ thu hoạch làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ nội địa Ngoài ra, việc doanhnghiệp Việt Nam tăng cường nhập khẩu trái cây từ Thái Lan để xuất sang cácnước, đặc biệt là quả nhãn và quả sầu riêng đã làm gia tăng kim ngạch nhậpkhẩu rau quả từ thị trường này

- Đối với mặt hàng phế liệu sắt thép: Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đàunăm ước đạt 929 triệu USD, tăng 55,7% so với cùng kỳ, chủ yếu là do giá tăng(lượng chỉ tăng 11,9%)

c) Về thị trường nhập khẩu: Thị trường Châu Á vấn tiếp tục chiếm tỷtrọng và tốc độ tăng trưởng cao nhất (tương ứng là 80,16% và 23,1%); Tiếp theo

là thị trường châu Âu với Mỹ với Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 11,49 tỷ USD,tăng 15,1% so với cùng kỳ; thị trường châu Âu với kim ngạch nhập khẩu ướcđạt 10,82 tỷ USD, tăng 13,5%

Đối với các quốc gia có kim ngạch nhập khẩu lớn, Hàn Quốc là quốc gia

có tốc độ tăng trưởng cao nhất (kim ngạch ước đạt 34 tỷ USD, tăng 46,5%), tiếptheo là Trung Quốc (kim ngạch ước đạt 41,6 tỷ USD, tăng 15,6%); Hoa Kỳ (kimngạch ước đạt 6,9 tỷ USD, tăng 16,3%); Thái Lan (kim ngạch ước đạt 7,52 tỷUSD, tăng 21,1%)

1.3 Cán cân thương mại

Cán cân thương mại 9 tháng đầu năm được kiểm soát tốt với nhập siêuthấp, ước đạt 442 triệu USD, chỉ bằng 0,29% kim ngạch xuất khẩu

- Nhập siêu chủ yếu đến từ khu vực thị trường châu Á với tổng mức nhậpsiêu ước đạt 45,27 tỷ USD, trong đó, từ các nước thuộc khối ASEAN ước đạt4,54 tỷ USD; từ thị trường Hàn Quốc là 23,26 tỷ USD; Trung Quốc là 19,73 tỷUSD; Đài Loan là 7,45 tỷ USD; Thái Lan là 4.01 tỷ USD

- Việt Nam vẫn tiếp tục xuất siêu vào thị trường các nước phát triển nhưHoa Kỳ (24,32 tỷ USD); châu Âu (19,66 tỷ USD); Nhật Bản ( 671 triệu USD)

2 Đánh giá chung

- Về xuất khẩu:

+ Xuất khẩu 9 tháng năm 2017 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao , ổnđịnh so với cùng kỳ, đặc biệt là nhóm mặt hàng có quy mô xuất khẩu lớn Trongđó: (1) Nhóm công nghiệp chế biến đạt tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với mức tăng

Trang 15

trưởng tốt, đóng góp vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung như: Máy vitính, điện tử và linh kiện; sắt thép các loại; máy móc thiết bị, phụ tùng Giầy dépcác loại; Điện thoại các loại và linh kiện; (2) Nhóm nông sản, thủy sản đạt mứctăng trưởng cao, trong đó nổi bật là sự tăng trưởng cao của nhóm rau quả, sao

su, thủy sản và nhân hạt điều; (3) Nhóm nhiên liệu, khoáng sản có sự phục hồitốt với mức trưởng cao, trong đó nổi bật là mặt hàng than đá và dầu thô

+ Xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước tiếp tục đạt mức tăngtrưởng khá và đây cũng là điểm tích cực trong hoạt động xuất khẩu của 9 thángđầu năm

+ Thị trường xuất khẩu tiếp tục được duy trì và mở rộng, kim ngạch xuấtkhẩu sang các khu vực thị trườngđều đạt mức tăng trưởng dương, đặc biệt tăngcao ở những thị trường có FTA với Việt Nam như xuất khẩu sang ASEAN; HànQuốc, Trung Quốc

Tuy nhiên, xuất khẩu 9 tháng vẫn còn điểm đáng lưu ý đó là khu vựcdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng xuất khẩu chủ đạo và

có mức tăng trưởng cao hơn doanh nghiệp trong nước Yếu tố đóng góp vào sựphục hồi của xuất khẩu khối này là tăng trưởng của nhóm hàng nông sản, thủysản

- Về nhập khẩu:

+ Kim ngạch nhập khẩu tăng cao nhưng tập trung chủ yếu ở nhóm hàngcần nhập khẩu, gồm máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất,xuất khẩu, chủ yếu là nhập khẩu cho các dự án đầu tư như các dự án của Tậpđoàn Điện lực Việt Nam, Điện lực Vĩnh Tân 1, Nhiệt điện Thăng Long; dự áncủa Samsung

+ Tuy nhiên, nhập khẩu vẫn còn điểm đáng lưu ý là nhập khẩu vẫn tiếptục tăng đối với một số mặt hàng cần kiểm soát nhập khẩu gồm rau quả, ô tônguyên chiếc dưới 9 chỗ và từ khu vực thị trường châu Á đặc biệt là mức tăngcao từ thị trường Hàn Quốc, Thái Lan…; giá nhập khẩu nhiều mặt hàng tăng sovới cùng kỳ, kéo theo kim ngạch nhập khẩu tăng cao như giá xăng dầu, giá than

đá giá sắt thép

Dự báo xuất nhập khẩu trong những tháng cuối năm

Hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu phục hồi trở lại là những yếu tốtác động tích cực đến sản xuất trong nước Tình hình thu hút và giải ngân vốnFDI tiếp tục tăng; những cải thiện mạnh mẽ về môi trường đầu tư kinh doanhthông qua những tiến bộ trong cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục đầu tư,đổi mới hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp được Chính phủ quyết liệt chỉ đạotrong thời gian qua đã phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy sản xuất trongnước, đẩy mạnh xuất khẩu trong những tháng cuối năm 2017

Hoạt động xuất nhập khẩu trong 3 quý đầu năm 2017 đã đạt được nhữngkết quả tích cực Tăng trưởng xuất khẩu ở mức cao, nhập khẩu tăng cao trongnhững tháng đầu năm trong đó tập trung vào các mặt hàng nguyên liệu phục vụ

Trang 16

sản xuất và máy móc thiết bị phục vụ các dự án, điều này tạo tiền đề cho tăngtrưởng xuất khẩu trong những tháng tiếp theo

Xuất khẩu điện thoại, máy tính là hai nhóm mặt hàng đã đạt được tốc độtăng trưởng cao trong 3 quý đầu năm 2017 Dự kiến trong những tháng cuốinăm, xuất khẩu mặt hàng máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện vẫn có khảnăng tăng trưởng do Dự án Samsung Display (mới được tăng vốn đầu tư trongnhững tháng đầu năm 2017) đã có sản phẩm xuất khẩu ngay từ những tháng cuốinăm 2017

Mặc dù có nhiều yếu tố thuận lợi nhưng vẫn còn một số yếu tố bất lợi cóthể ảnh hưởng đến xuất khẩu, đặc biệt là nhóm nông thủy sản, cụ thể là: (i) Thịtrường thế giới diễn biến khó lường, đặc biệt là sự điều chỉnh chính sách thươngmại của các đối tác lớn gây bất lợi đến xuất khẩu; (ii) Xu hướng bảo hộ và tựphát triển sản xuất gia tăng thông qua kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản phẩm,

áp dụng hàng rào kỹ thuật và phòng vệ thương mại; (iii) Các nước đối thủ tăngcường đẩy mạnh xuất khẩu, cạnh tranh gay gắt về giá và chất lượng; (iv) Nguồncung trong nước chưa ổn định (thừa sản phẩm không được thị trường chấp nhận,thiếu sản phẩm thị trường có nhu cầu nhưng không đáp ứng được về số lượng,chất lượng); (v) Giá nguyên liệu trong nước (cá tra và tôm) tăng làm giá thànhsản xuất cao, kém cạnh tranh so với các đối thủ khác; sự phụ thuộc vào nguồnnguyên liệu nhập khẩu (nhân điều) dẫn đến thiếu chủ động, tăng chi phí do giánhập khẩu đang tăng cao và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm xuất khẩu dochất lượng nguồn nguyên liệu nhập khẩu không đồng đều; (vi) Tình trạng mởrộng diện tích vượt quy hoạch, không tuân thủ quy trình canh tác sạch, sử dụngthuốc bảo vệ không đúng quy định, kiểm soát quản lý chất lượng chưa chặt chẽ

và triệt để gây ảnh hưởng đến chất lượng xuất khẩu làm các nước siết chặt cácquy định kiểm soát chất lượng (như hồ tiêu, rau quả), dẫn đến việc mất dần thịphần tại Hoa Kỳ, EU, Ấn Độ;

Với các yếu tố như đã nêu trên, dự kiến xuất khẩu cả năm 2017 có thể đạt

207 tỷ USD, tăng 17,2% so với năm 2017 Nhập khẩu năm 2017 ước khoảng

208 tỷ USD, tăng 19% Nhập siêu năm 2017 ước khoảng 1 tỷ USD, bằng 0,5% kim ngạch xuất khẩu (thấp hơn mục tiêu 3,5% của Quốc hội đề ra).

III Về phát triển thị trường trong nước

1 Kết quả đạt được

Thị trường hàng hóa trong tháng 9 không có biến động lớn, giá nhiều loạihàng hóa thiết yếu như nhiên liệu năng lượng, thực phẩm tương đối ổn địnhhoặc tăng giá nhẹ so với tháng trước Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long năm nay

lũ về sớm khiến diện tích gieo trồng giảm so với năm trước, tác động tăng đếngiá rau màu giúp người trồng có lãi khá Chuẩn bị bước vào năm học mới nêncác cửa hàng, hệ thống siêu thị, trung tâm thiết bị trường học bên cạnh việcchuẩn bị nguồn hàng phong phú, mẫu mã đẹp, giá cả cạnh tranh còn đưa ranhiều chương trình khuyến mại với khối lượng lớn

Trang 17

Ngoài ra, mặc dù còn hơn tháng nữa đến Tết Trung thu nhưng các doanhnghiệp bánh kẹo đã bắt đầu sản xuất và tập trung vào 02 yếu tố chính là an toànthực phẩm và sức khỏe cho người tiêu dùng.

Đặc biệt đối với thành phố Hồ Chí Minh, để tăng cường năng lực quản lý,kiểm soát chất lượng, nhận diện và truy xuất nguồn gốc thịt - trứng gia cầm chănnuôi, giết mổ, vận chuyển và kinh doanh thịt - trứng gia cầm, kể từ ngày 01tháng 9 năm 2017, thành phố Hồ Chí Minh sẽ triển khai truy xuất nguồn gốc thịt

và trứng gia cầm trên địa bàn

Nhìn chung cả nước công tác ổn định thị trường, cung cầu hàng hóa đượcđảm bảo Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được đẩy mạnh nhằm ngănchặn các hành vi tăng giá bất hợp lý, buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàngnhập lậu, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 9 ước đạt 336.585 tỷ đồng,tăng 1,3% so với tháng 8 nhưng tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước

Tính chung 9 tháng đầu năm, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ vàdoanh thu dịch vụ tiêu dùng của cả nước đạt 2.917.545 tỷ đồng, tăng 10,5% sovới cùng kỳ năm 2017, cao hơn mức tăng 9,4% của cùng kỳ năm 2016

Xét theo thành phần kinh tế, tất cả các nhóm thương nghiệp và dịch vụđều tăng từ 8,9% - 14,4%

Dự báo thương mại nội địa trong những tháng cuối năm:

- Tình hình sản xuất các mặt hàng nguyên vật liệu và lương thực, thựcphẩm thiết yếu vẫn đang diễn biến theo chiều hướng ổn định Dịch bệnh trên vậtnuôi đang được chủ động khống chế Thời tiết năm nay dự báo sẽ thất thườngtrong những tháng cuối năm ảnh hưởng lớn tới phát triển ngành nông nghiệp củanước ta

- Một số hàng hóa, dịch vụ do nhà nước quản lý giá tiếp tục điều chỉnhtheo lộ trình Trong 4 tháng cuối năm, sức mua sẽ tăng trưởng cao hơn nhữngtháng đầu năm do chuẩn bị cho năm học mới, lễ tết ; các chương trình xúc tiếnthương mại thị trường trong nước, các hoạt động hưởng ứng "Cuộc vận độngNgười Việt Nam ưu tiên hàng Việt Nam" tiếp tục được triển khai rầm rộ hơn,nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá được thực hiện

Với các yếu tố như trên, dự báo diễn biến thị trường năm 2017 về cơ bảngiữ được ổn định, cung cầu hàng hóa thiết yếu được đảm bảo Theo đó, dự kiếntổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội tăng khoảng 10-11% sovới năm 2016

2 Hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những yếu tố về sức mua trên thị trường chưa được cải thiệnnhư đã nêu trên, lưu thông hàng hóa trên thị trường nội địa ở nước ta thời gianqua còn bị hạn chế bởi một số nguyên nhân mang tính chủ quan cơ bản như sau:

Trang 18

Một là, hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại nhìn chung còn lạc hậu và

thiếu đồng bộ, tính kết nối chưa cao; chưa hình thành được một hệ thống cácchợ đầu mối, trung tâm phân phối hàng hóa lớn, hoạt động có hiệu quả; hạ tầngthương mại ở khu vực nông thôn, miền núi chưa phát triển…, do vậy chưa tạođược thuận lợi cũng như kích thích lưu thông hàng hóa phát triển

- Số lượng chợ, siêu thị và trung tâm thương mại tăng nhanh nhưng phân

bố không đều, tập trung chủ yếu và phát triển mạnh ở các thành phố, thị xã, thịtrấn Ở nông thôn, miền núi mạng lưới chợ còn thưa thớt; siêu thị, trung tâmthương mại còn ít

- Hệ thống chợ, siêu thị chủ yếu thiên về chức năng bán lẻ và đa số chợ cóqui mô nhỏ; ở vùng nông thôn đa số là chợ hạng III, cơ sở vật chất - kỹ thuậtcòn sơ sài, lạc hậu (hiện còn khoảng 28% số chợ ở trong tình trạng lều lán, tạm

bợ, thậm chí có tới 15% số chợ còn họp ngoài trời) Chợ đầu mối, chợ tổng hợpqui mô lớn có chức năng bán buôn, thu gom và phát luồng hàng hoá còn ít (cảnước chỉ có 68 chợ đầu mối, chiếm 0,79% tổng số chợ) Vì vậy, hệ thống chợchưa tương xứng với vị trí và vai trò của chợ và chưa đáp được đầy đủ nhu cầucủa sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân

Hai là, công tác xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch các vùng sản

xuất hàng hóa gắn với nhu cầu của thị trường còn nhiều hạn chế Vấn đề chấtlượng của các quy hoạch và thực hiện theo đúng quy hoạch không được bảođảm dẫn đến hàng hóa sản xuất ra bị dư thừa hoặc thiếu hụt so với nhu cầu củathị trường

Ba là, cơ chế, chính sách về đầu tư, khơi thông nguồn lực sản xuất cho

khu vực nông nghiệp nông thôn mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực trong thờigian gần đây nhưng chưa phát huy được hết tiềm năng của khu vực có nhiều lợithế này của Việt Nam Sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, áp dụng công nghệcao chiếm tỷ trọng nhỏ khiến cho hàng hóa sản xuất ra không bảo đảm về tiêuchuẩn chất lượng để tham gia vào các hệ thống phân phối bền vững

Bốn là, hội nhập quốc tế với việc thực thi các cam kết mở cửa thị trường

tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp phân phối trong nước Theo

số liệu của Tổng cục Thống kê, mặc dù trong tổng mức lưu chuyển hàng hóabán lẻ, thành phần kinh tế trong nước chiếm 96%, thành phần kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài chiếm khoảng 4%, tuy nhiên trong phân khúc bán lẻ theo phươngthức hiện đại, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có ước tính chiếm khoảng

30 - 40% thị phần

Năm là, nguồn lực nhà nước đầu tư cho cơ sở hạ tầng thương mại chưa

thực sự được quan tâm thỏa đáng Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhànước cho thương mại trong nước không đáng kể và có xu hướng giảm dần

Sáu là, tình trạng phụ thuộc của nhóm ngành nông sản đối với xuất khẩu

tiêu thụ sang thị trường Trung Quốc Nguyên nhân chủ yếu do nông sản ViệtNam vẫn còn nhiều hạn chế so với các nước ASEAN về xuất khẩu nông sảnchính ngạch, có thương hiệu

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w