1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁOĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TRONG DỰ ÁN LUẬT THỦY SẢN (SỬA ĐỔI)

40 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Đánh Giá Tác Động Của Chính Sách Trong Dự Án Luật Thủy Sản (Sửa Đổi)
Trường học Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
Thể loại báo cáo
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 355 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chức năng, nhiệm vụquản lý nhà nước thuộc về Bộ Thủy sản trước đây nay được giao cho Bộ Nôngnghiệp và PTNT thực hiện nên các quy định về quản lý nhà nước trong Luật Thuỷsản cần được quy

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TRONG DỰ ÁN

LUẬT THỦY SẢN (SỬA ĐỔI)

PHẦN I - GIỚI THIỆU CHUNG

I BỐI CẢNH CHUNG

1 Bối cảnh sửa đổi Luật Thủy sản

Luật Thủy sản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá XI tại kỳ họp thứ tư thông qua vào ngày 26 tháng 11 năm 2003 Luật Thuỷ sản

đã tạo ra khung pháp lý cao nhất và toàn diện nhất cho việc quản lý các hoạt độngthuỷ sản bằng pháp luật, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của Luật Thuỷ sản với cácLuật khác có liên quan, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế mà Việt Nam đã

ký kết hoặc gia nhập Sau khi Luật Thủy sản ra đời, cơ quan nhà nước có thẩm quyền

đã ban hành hơn 200 văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Thực tiễnnhiều năm qua cho thấy, Luật Thuỷ sản và các văn bản dưới luật đã dần đi vào cuộcsống, khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư tham giavào việc khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, kích thích phát triển sảnxuất kinh doanh và nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vựcthuỷ sản; góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho ngư dân vùngnông thôn, phát triển kinh tế của đất nước trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thịtrường và hội nhập kinh tế quốc tế

Luật Thủy sản có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004, cho đếnnay bản thân phần lớn các nội dung của Luật vẫn khẳng định tính hiện đại và phùhợp với thực tiễn của Việt Nam, thông lệ và luật pháp quốc tế mà Việt Nam đã kýkết hoặc gia nhập (như: quy định về giao cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủysản, quy định về ghi nhật ký khai thác và báo cáo khai thác thủy sản…)

Tuy nhiên, sau 13 năm thi hành Luật Thủy sản cũng đã bộc lộc một số hạn chế,bất cập Cụ thể là: Luật Thuỷ sản mang tính chất là luật khung, một số quy định cònchung chung như: Khái niệm về tàu cá quy định quá rộng; quy định về nuôi trồngthủy sản (mới quy định các vấn đề chung trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, chưa

có quy định cụ thể về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này Chưa quy định về nguyêntắc nuôi trồng thủy sản Việc quy định thẩm quyền công nhận vùng, cơ sở nuôi trồngthủy sản an toàn còn thiếu tính khả thi, vì chưa phân cấp thẩm quyền cho Chínhquyền địa phương Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản mới chỉ quy định chung vềnguyên tắc và thẩm quyền xây dựng quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản Chưaphân định rõ về thẩm quyền lập, xét duyệt và phê duyệt quy hoạch của các cơ quan

Trang 2

Chưa quy định căn cứ, điều kiện và thẩm quyền điều chỉnh, thay đổi, bổ sung quyhoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản Quy định mặt nước biển để nuôi trồng thủy sảnmới quy định mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản là vùng nước biển được quyhoạch để nuôi trồng thuỷ sản Bên cạnh đó, Luật Đất đai cũng chỉ mới quy địnhchung là đất để nuôi trồng thủy sản, chưa có quy định và phân định rõ ràng về đất cómặt nước, đất ngập nước, mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản Như vậy, cả phápluật về thuỷ sản và pháp luật về đất đai đều chưa có quy định cụ thể và rõ ràng vềmặt nước biển để nuôi trồng thủy sản Điều này dẫn đến trong quá trình triển khaithực hiện gặp nhiều khó khăn Đây là một trong những lý do mà cho đến nay ngườinuôi trồng thủy sản trên biển chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặtnước biển để nuôi trồng thuỷ sản Thẩm quyền giao, cho thuê, thu hồi mặt nướcbiển: chưa chỉ rõ cơ quan nào giúp việc cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyệntrong việc thực hiện giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản Chính vìvậy, nhiều địa phương có cách hiểu khác nhau Có địa phương cho rằng, cơ quanthực hiện việc giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản là cơ quan về tàinguyên và môi trường, có địa phương lại cho rằng đó là thuộc trách nhiệm của cơquan quản lý về thuỷ sản Trình tự cụ thể của việc giao, cho thuê mặt nước biển đểnuôi trồng thuỷ sản cũng chưa được quy định cụ thể mà chỉ đang vận dụng từ quyđịnh của pháp luật về đất đai Việc triển khai giao, cho thuê mặt nước biển để nuôitrồng thuỷ sản cũng có những điểm đặc thù, ví dụ như máy định vị cũng phải khác

so với đo trên đất liền, phải có phao để neo định vị ranh giới giữa các hộ Do vậy,cần thiết phải được đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nâng cao năng lực cho độingũ cán bộ để tiến hành giao trên thực địa mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản; Về

thời gian giao, cho thuê, thu hồi mặt nước biển mới chỉ quy định thời gian tối đa để

giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản, không quy định thời gian tốithiểu Điều này đã xảy ra trường hợp các địa phương có thể áp dụng tuỳ tiện, có thể

là 3 năm hoặc 5 năm, trong khi có những loài thủy sản phải nuôi 2 năm mới đượcthu hoạch, như vậy chưa đảm bảo cho người được giao, được thuê có điều kiện đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đủ thời gian để thu hồi vốn đầu tư và có lãi trên diện tíchmặt nước biển được giao, cho thuê )

Về Hợp tác quốc tế mới chỉ quy định về nhập khẩu tàu cá mà chưa quy định

về xuất khẩu tàu cá nhưng hiện nay công nghệ đóng tàu của Việt Nam đang ngàycàng phát triển và đã có nhiều công ty nước ngoài thuê doanh nghiệp của Việt Namđóng tàu cho họ

Quản lý nhà nước về thủy sản: Cho đến nay, Bộ Thủy sản (cũ) và Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn đã hợp nhất được hơn ba năm Chức năng, nhiệm vụquản lý nhà nước thuộc về Bộ Thủy sản trước đây nay được giao cho Bộ Nôngnghiệp và PTNT thực hiện nên các quy định về quản lý nhà nước trong Luật Thuỷsản cần được quy định lại cho phù hợp; Chưa quy định vai trò của các hội, hiệp hội,doanh nghiệp trong quản lý hoạt động thuỷ sản; Quy định về thanh tra chuyên ngànhthuỷ sản chưa đủ mạnh Thanh tra chuyên ngành thuỷ sản hoạt động theo LuậtThanh tra không đáp ứng được nhu cầu kiểm soát hoạt động thuỷ sản trên biển Bêncạnh đó, một số quy định của Luật tuy cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tếsong với điều kiện nghề cá của Việt Nam hiện nay lại chưa có đủ các điều kiện triểnkhai trên thực tế nên chưa được áp dụng hoặc tính khả thi chưa cao như (quy định về

Trang 3

bằng thuyền trưởng, máy trưởng với các tiêu chuẩn cụ thể về trình độ văn hóa ứngvới từng loại bằng cấp; quy định về đánh dấu tàu, đánh dấu ngư cụ khai thác….).

Nhìn chung, trong Luật còn thiếu nhiều quy phạm điều chỉnh các hoạt độngliên quan đến thuỷ sản - với tư cách là ngành kinh tế - kỹ thuật, gồm: Hệ thống tổchức quản lý vĩ mô và hệ thống tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh (vi mô), đàotạo và nâng cao nguồn nhân lực thuỷ sản Chính sách đầu tư, tức là định hướng rõhoạt động nào đầu tư từ ngân sách (mang tính công ích), hoạt động nào nhà nước hỗtrợ vốn , hoạt động nào theo quan hệ thị trường vốn Chính sách về khoa học côngnghệ trong thuỷ sản Chế biến, thương mại: quản lý nguồn gốc nguyên liệu, đảmbảo an toàn vệ sinh và chất lượng sản phẩm thuỷ sản; quản lý thị trường nội địa, xúctiến thương mại, tiêu chuẩn và xây dựng thương hiệu chung cho sản phẩm, xã hộihoá các hoạt động: quản lý thực hiện các tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, chứng nhận,thống kê, quản lý thương hiệu, quảng bá sản phẩm, chuẩn mực văn hoá kinh doanhtrong cộng đồng doanh nghiệp theo hướng thân thiện với cộng đồng và môi trường.Vấn đề quản lý chung: quy hoạch, kế hoạch thuỷ sản; thống kê nghề cá, hệ thốngthông tin quản lý tàu thuyền trên biển, bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát tàuthuyền trên biển, truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản

Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, việc nghiên cứu, đánh giátác động của Luật Thủy sản năm 2003 đối với việc phát triển của ngành thủy sản vàtiến hành sửa đổi Luật Thủy sản năm 2003 là cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triểncủa ngành thủy sản nói riêng và của đất nước Việt Nam nói chung Việc sửa đổiLuật Thủy sản lần này nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về thủy sản sao chophù hợp với thực tiễn hơn, đồng thời phù hợp với các cam kết quốc tế, đặc biệt là tạođiều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia và hoạt độngtrong ngành thủy sản, một ngành kinh tế mũi nhọn mà nếu phát triển đúng hướng sẽmang lại nhiều lợi ích phát triển cho đất nước Bên cạnh đó còn góp phần bảo vệ,khẳng định chủ quyền của quốc gia trên biển Luật Thủy sản phải tạo một hành langpháp lý tốt nhằm phát triển thủy sản theo hướng bền vững, qua đó phát triển ngànhthủy sản phải đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế đất nước trước mắt và lâu dài

2 Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong việc sửa đổi Luật Thủy sản

Thứ nhất, Thể chế hoá chủ trương, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng

về thuỷ sản; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá chiến lược phát triển ngành thủy sản Thúcđẩy phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững, phát triển theo chuỗi giá trị,nâng cao giá trị gia tăng, phát triển thủy sản bền vững

Thứ hai, kế thừa những nội dung, quy định đã khẳng định tính phù hợp, đáp ứng

được yêu cầu của thực tiễn trong Luật Thủy sản năm 2003; các nội dung sửa đổi, bổ sungphải đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, sự phát triển của nghề cá hiện nay, khắc phục đượcnhững hạn chế, bất cập trong các quy định của Luật Thủy sản năm 2003

Thứ ba, bảo đảm tính phù hợp, thống nhất với Hiến pháp và các văn bản quy

phạm pháp luật hiện hành thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là phù hợpvới các luật mới được Quốc Hội ban hành

Thứ tư, đáp ứng nhu cầu phát triển, hội nhập ngày cành sâu rộng của Ngành

thủy sản, phù hợp với các Điều ước quốc tế mà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam ký kết hoặc gia nhập, đồng thời vận dụng quy định của các điều ước, tập

Trang 4

quán quốc tế và luật pháp nước ngoài phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luậtViệt Nam và xu thế, thực tiễn của hoạt động thuỷ sản trong nước.

Thứ năm, sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính theo chỉ

đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong thời gian qua, nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho người dân, doanh nghiệp thực hiện hoạt động trong lĩnh vực thủy sản Phâncấp triệt để cho địa phương thực hiện các hoạt động cấp phép Xã hội hóa tối đa các dịchcông

3 Định hướng xây dựng Luật Thủy sản (sửa đổi)

Một là, tiếp tục khẳng định nguồn lợi thuỷ sản là tài nguyên thuộc sở hữu toàndân do Nhà nước thống nhất quản lý Cần quy định rõ hơn quyền định đoạt của Nhànước đối với nguồn lợi thuỷ sản thông qua quyết định mục đích sử dụng nguồn lợithuỷ sản; phê duyệt quy hoạch, kế hoạch phát triển thuỷ sản; thực hiện điều tiết cácnguồn lợi thuỷ sản thông qua các chính sách tài chính; trao quyền sử dụng đất, mặtnước nuôi trồng thuỷ sản thông qua chính sách giao, cho thuê đất và mặt nước cho

tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản

Hai là, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để phát triển mạnh các loại hình nuôi

trồng thuỷ sản trên biển, đảo, ven biển và nội đồng; mô hình quản lý nghề cá venbiển dựa vào cộng đồng; hệ thống sản xuất thức ăn, sản xuất giống tiên tiến, hệthống thú y; thực hiện quản lý chặt chẽ chất lượng giống, thức ăn, vật tư thuỷ sản,chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm từ ao nuôi tới thị trường

Ba là, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, phát triểncác loại tàu có công suất lớn, các phương tiện đánh bắt hiện đại Dần hạn chế vàphấn đấu chấm dứt hoạt động của các nghề ảnh hưởng đến môi trường và nguồn lợithủy sản

Bốn là, tăng cường đầu tư phát triển hệ thống hậu cần dịch vụ cho khai thácthuỷ sản trên biển và ở các hải đảo, như: hệ thống cảng cá, khu neo đậu trú tránhbão, hệ thống thông tin, tìm kiếm cứu nạn; hệ thống sơ chế, chế biến sau thu hoạch;xây dựng các khu bảo tồn thuỷ sản gắn với bảo tồn và phục hồi các loài quý hiếm;phát triển lực lượng kiểm ngư để giám sát, đảm bảo các hoạt động khai thác bềnvững

Năm là, tiếp tục đầu tư công nghiệp chế biến hiện đại, đáp ứng yêu cầu xuấtkhẩu (đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định quốc tế), thựchiện sản xuất theo tiêu chuẩn và xây dựng thương hiệu chung cho sản phẩm thuỷsản Cần tạo khung pháp lý cho hoạt động của các tổ chức cộng đồng, xã hội hoá cáchoạt động quản lý thực hiện các tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, chứng nhận, thống kê,quản lý thương hiệu, quảng bá sản phẩm thuỷ sản

Sáu là, quy định về chính sách đầu tư đào tạo nghề cho lao động khai thácthuỷ sản trên biển; lao động nuôi thuỷ sản và đội ngũ công nhân chế biến thuỷ sản

Có chương trình và chính sách hỗ trợ ngư dân đánh bắt ven bờ chuyển đổi nghề, giảiquyết việc làm, nâng cao nhanh hơn đời sống của ngư dân

Bảy là, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, đảm bảo kỷ cương và trách nhiệm rõ ràng trong sử dụng nguồn lợi thuỷ sản

Trang 5

Tám là, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc xây dựng và củng cố hệthống thông tin dữ liệu về các lĩnh vực liên quan đến quản lý nghề cá trên biển, venbiển, trước hết là nguồn lợi thuỷ sản ở vùng biển ven bờ, xa bờ, các hệ sinh thái vàcác mối quan hệ liên quan đến ngư trường nguồn lợi thuỷ sản.

Phần II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH TRONG DỰ THẢO

LUẬT THỦY SẢN (SỬ ĐỔI)

1 Các mục tiêu chính của việc sửa đổi Luật Thủy sản

Một là, nhằm quản lý, bảo vệ, khai thác nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng thủy sảnhợp lý và bền vững bảo đảm bảo vệ, khai thác nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng thủy sảnhiệu quả góp phần phục vụ phát triển kinh tế đất nước trước mắt và lâu dài;

Hai là, thu hút các nguồn lực trong xã hội nhằm phát triển ngành thủy sảntheo hướng công nghiệp;

Ba là, bảo đảm phát triển thủy sản bền vững, bảo đảm chủ quyền quốc giatrên biển, bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản;

Bốn là, bảo đảm quyền và lợi ích của người dân tham gia hoạt động thủy sản;Năm là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thủy sản

Khi tiến hành nghiên cứu soạn thảo Luật, có những tranh luận về một số nộidung của Dự thảo Luật Do vậy, đánh giá tác động chính sách của Dự thảo Luật cóthể giúp tìm ra một cơ sở chung cho các phương án có lợi nhất Bộu Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn (cơ quan chủ trì soạn thảo Dự thảo Luật) đã thành lập Nhómnghiên cứu gồm một số chuyên gia độc lập, thành viên của Ban Soạn thảo và TổBiên tập để tiến hành đánh giá tác động sơ bộ của Dự thảo Luật

Mục tiêu thực hiện đánh giá tác động của chính sách trong dự thảo Luật,trước mắt là cung cấp cơ sở để trao đổi về nội dung của dự thảo Luật một cách minhbạch và giúp các cơ quan có các cơ quan có thẩm quyền (Ban Soạn thảo, Chính phủ,Quốc hội) có dữ liệu đánh giá lợi ích dự kiến của các phương án đang xem xét vớimục tiêu lâu dài là giúp cho việc thực thi Luật thủy sản có hiệu quả, với các giảipháp cụ thể, rõ ràng và khả thi hơn

2 Các chính sách được xác định để đánh giá tác động

Thực hiện Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn thực hiện đánh giá tác động của một số chính sách quan trọngđược đề ra và thể chế hóa trong Luật Thủy sản (sửa đổi), bao gồm: Nhóm nghiêncứu đã xác định các vấn đề cần ưu tiên đánh giá theo một phương pháp có hệ thống.Trước tiên, Nhóm nghiên cứu đã lên danh sách các chính sách cần ưu tiên và có khảnăng cần đánh giá rồi chấm điểm dựa trên các mục tiêu cơ bản của Luật Sau khi cácchính sách được chấm điểm, Nhóm nghiên cứu đã chọn ra được 06 chính sách quantrọng nhất cần phân tích tác động dự kiến và xác định phương án giải quyết cho từngvấn đề Tổng cộng có 11 phương án được xem xét trong quá trình đánh giá tác độngcủa 05 chính sách được nêu trên Mỗi chính sách sẽ có một giải pháp có tính chấtvạch ranh giới - giải pháp giữ nguyên hiện trạng, tức là không thay đổi tình trạnghiện có của vấn đề Giải pháp giữ nguyên hiện trạng luôn được sử dụng trong Báo

Trang 6

cáo đánh giá tác động bởi phân tích tác động phải luôn tính tới các tác động ngoài lề,nghĩa là phải so sánh tác động của tất cả các giải pháp thay đổi với giải pháp giữnguyên hiện trạng để tìm hiểu rõ hơn tác động bên lề nếu có thay đổi.

Các chính sách được đánh giá, theo Nhóm nghiên cứu, cũng là những vấn đềquan trọng, gắn với các mục tiêu của Dự thảo Luật Thủy sản sửa đổi,cụ thể như sau:

1 Đảm bảo nguồn lực cho điều tra, nghiên cứu đánh giá nguồn lợi thủy sản, thựchiện tái tạo, phát triển nguồn lợi thủy sản

2 Đồng quản lý trong hoạt động thủy sản

3 Chính sách hỗ trợ cho hoạt động khai thác thủy sản xa bờ và hạn chế khai thácthủy sản ven bờ

4 Thực hiện xã hội hóa công tác đăng kiểm tàu cá

5 Quy định về lực lượng kiểm ngư

PHẦN II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ CHÍNH SÁCH TRONG LUẬT

(SỬA ĐỔI)

I Chính sách 1: Nhà nước đảm bảo ngân sách cho hoạt động điều tra, nghiên

cứu, đánh giá nguồn lợi thủy sản, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản Khuyến khích

tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu nguồn lợi thủy sản

1 Nội dung chính sách

1.1 Xác định vấn đề

Nguồn lợi thủy sản hiện nay đang có nguy cơ giảm sút, số lượng tàu cá ngàymột tăng, hiệu quả khai thác ngày càng giảm đã dẫn đến sự cạnh tranh ngày cànggay gắt trong khai thác hải sản, như cạnh tranh giữa các tàu đánh cá nước ngoài vàođánh bắt trộm hải sản và các tàu đánh cá Việt Nam; cạnh tranh giữa các nghề cá quy

mô lớn và quy mô nhỏ Hiện nay, tình trạng cạnh tranh trong khai thác hải sản ởnước ta đang gây tác động xấu đến nguồn lợi Nếu không được giải quyết kịp thời,nguồn lợi ven bờ sẽ bị phá huỷ rất nhanh chóng Vì vậy, việc điều tra, nghiên cứu,đánh giá nguồn lợi thủy sản và hoạt động tái tạo nguồn lợi thủy sản có vai trò rất lớnđối với hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản Mặt khác, nguồn lợi thủy sản được bảo

vệ sẽ giúp cho cụộc sống của ngư dân được ổn định góp phần thúc đẩy sự phát triểncủa ngành thủy sản nói riêng và của nền kinh tế xã hội của đất nước nói chung

Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động điều tra, nghiên cứu, đánh giá nguồnlợi thủy sản và hoạt động tái tạo nguồn lợi thủy sản trên thực tế chưa đạt được kếtquả mong đợi, các số liệu đưa ra mới chỉ mang tính ước lượng theo tính chất cơ học

mà không có cơ sở khoa học và thực tiễn

Tình trạng này xảy ra phải chăng nguồn lực cả về tài chính lẫn con người thựchiện hoạt động này chưa đủ mạnh nên kết quả chưa đạt được như mong đợi của cơquan quản lý nhà nước Vì vậy, cần phải quy định cụ thể về việc đầu tư cho hoạtđộng điều tra, nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi thủy sản và hoạt động tái tạo nguồnlợi thủy sản Nhà nước đầu tư toàn bộ kinh phí cho các hoạt động này hay nhà nướcđầu tư một phần tổ chức, cá nhân đóng góp một phần hay toàn bộ kinh phí này đượchuy động từ tổ chức cá nhân có liên quan đến hoạt động thủy sản

Trang 7

1.2 Xác định mục tiêu

Giúp cơ quan quản lý nhà nước nắm bắt được trữ lượng thực tế của nguồn lợithủy sản để hoạch định chính sách trong khai thác thủy sản phù hợp với nguồn lợinhằm khai thác thủy sản bền vững, góp phần bảo đảm cuộc sống ổn định của nôngngư dân

1.3 Xác định đối tượng của chính sách

- Nhóm đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách: Ngư dân thamgia hoạt động khai thác thủy sản, doanh nghiệp khai thác, chế biến, xuất khẩu thủysản

- Nhóm đối tượng thực hiện chính sách: Cơ quan quản lý nhà nước chuyênngành thủy sản và các cơ quan có liên quan

1.4 Xác định thẩm quyền ban hành chính sách

Chính sách này sẽ tạo nên sự thay đổi mang tính căn bản lên toàn ngành thủysản cả các hoạt động thủy sản trong nước và hoạt động hội nhập với quốc tế tronglĩnh vực thủy sản, do đó chính sách này cần được đưa vào Luật Thủy sản (sửa đổi).Thẩm quyền quyết định chính sách này là thẩm quyền của Quốc hội

2 Đánh giá tác động chính sách

Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng

Phương án 2: Hoạt động điều tra, nghiên cứu đánh giá nguồn lợi thủy sảnđược thực hiện đình kỳ, thường xuyên

Các hướng cơ bản để tăng cường hoạt động điều tra, nghiên cứu đánh giánguồn lợi thủy sản và khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu nguồn lợithủy sản:

- Trước tiên, việc tổ chức thực hiện điều tra, nghiên cứu đánh giá nguồn lợithủy sản là trách nhiệm của Nhà nước để xây dựng quy định quản lý khai thác phùhợp với trữ lượng nguồn lợi thủy sản trong lãnh thổ Việt Nam

- Từ số liệu về trữ lượng nguồn lợi thủy sản đề xuất các chính sách khuyếnkhích khai thác phù hợp, quy định hạn ngạch cho phép khai thác có tính khả thi vàthuyết phục được ngư dân thúc đẩy các nghề còn dư địa khai thác, hạn chế thậm chíngừ khai thác bằng các nghề có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nguồnlợi thủy sản

- Đảm bảo tính phù hợp với việc hội nhập quốc tế và đòi hỏi của một số khuvực là thị trường lớn tiêu thụ các mặt hàng thủy sản của Việt Nam

- Thúc đẩy được tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khaithác nguồn lợi thủy sản có trách nhiệm

- Tận dụng được nguồn lực từ tổ chức, cá nhân trong hoạt động nghiên cứu,đánh giá nguồn lợi thủy sản Thu hút được sự đầu tư, hỗ trợ nguồn lực ngoài khuvực nhà nước

2.1 Đánh giá tác động của Phương án 1 – Giữ nguyên như hiện trạng Nhà nước đầu tư cho hoạt động điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản; tài

chính để tái tạo nguồn lợi thủy sản được hình thành từ ngân sách nhà nước cấp và

Trang 8

đóng góp của tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thủy sản và nguồn ủng hộkhác Tuy nhiên, việc đầu tư không ổn định, tùy thuộc vào chương trình, đề án đượcduyệt Phương án này có thể có ý nghĩa với cơ quan quản lý nhà nước nếu cơ quanquản lý nhà nước mong muốn tổ chức, cá nhân cùng san sẻ trách nhiệm tài chính vớinhà nước trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách công khai

Tuy nhiên, cần quy định rõ số lượng kinh phí đầu tư của nhà nước là baonhiêu phần trăm cho hoạt động này Phương án này sau 13 năm triển khai thực hiện

đã không đem lại kết quả như mong đợi, công tác điều tra nghiên cứu nguồn lợi thủysản chưa mang tính chiến lược; chỉ thực hiện để phục vụ cho mục đích thực hiệnHiệp định hợp tác nghề với Trung quốc trong Vịnh Bắc bộ (Điều tra liên hợp nguồnlợi thủy sản) Việc tái tạo nguồn lợi thủy sản thực hiện có tính chất "phong trào"hàng năm nhân dịp ngày truyền thống ngành thủy sản (1/4) Kinh phí dành cho côngtác này còn hạn chế, và không thường xuyên

2.1.1 Đánh giá tác động về kinh tế

Trong thời gian vừa qua, sản lượng khai thác thủy sản ngày càng tăng theothời gian điều này đã góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản của ViệtNam Phương án này sẽ đảm bảo nhà nước không phải đầu tư kinh phí một cáchthường xuyên cho công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản Nếu phương án nàyđược thực hiện sẽ có những tác động sau:

sự quan tâm thoả đáng của các cơ quan có trách nhiệm, nhà quản lý các cấp chưaquan tâm đúng mức đến các hoạt động thuỷ sản trong vùng nước nội địa và giá trịkinh tế đem lại từ nguồn lợi thủy sản nước ngọt không cao chủ yếu phục vụ nhu cầusinh hoạt hàng ngày của người dân nên chưa được chú trọng thỏa đáng

- Biện pháp bảo tồn, bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thuỷ sản (cấm khai thác,phương thức khai thác) chưa được áp dụng đồng bộ, có hiệu quả tại các địa phương.Tình trạng ngư dân khai thác các loài cấm, loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệtchủng như san hô, cá heo, rùa biển,.… vẫn xảy ra Nguyên nhân của tình trạng này

Trang 9

là do nhận thức của công tác bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản của ngư dân còn hạnchế, đời sống ngư dân còn nghèo, lực lượng kiểm tra kiểm soát còn mỏng, việc bố tríkinh phí và đầu tư cho hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực thuỷ sản cònhạn chế, chế tài xử lý chưa đầy đủ, còn khó khăn, vướng mắc trong nhận thức, ápdụng thực tế, công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm được thực hiện triệt để.

- Hầu hết các địa phương chưa bố trí kinh phí thỏa đáng cho công tác tái tạonguồn lợi thuỷ sản Theo báo cáo của một số tỉnh, hàng năm UBND tỉnh có cấp kinhphí cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mua cá giống thả vào vùng nước tựnhiên Tuy nhiên, nguồn kinh phí này còn rất hạn chế Do vậy, công tác tái tạonguồn lợi thủy sản tại nhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức, chưa đượcthực hiện định kỳ và thường xuyên Bên cạnh đó, việc thực hiện tái tạo nguồn lợithủy sản Việc điều tra nghiên cứu vùng thả giống để tái tạo chưa được các cơ quanquan tâm đúng mức và đặc biệt việc bảo vệ, kiểm soát sau khi thả giống chưa đượcthực hiện, điều này cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của việc tái tạo nguồn lợi thủy sản

Bên cạnh đó, trong thời gian vừa qua Nhà nước đã có nhiều chính sách đểkhuyến khích khai thác thủy sản, ngư dân ngày càng đóng tàu lớn để vươn ra khơi

xa nên trữ lượng khai thác ngày càng lớn Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đếnhiện trạng nguồn lợi thủy sản, nếu cứ tiếp tục khai thác như hiện sẽ làm cho nguồnlợi suy giảm nghiêm trọng và tương lai sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của người dân.Đây chính là lý do dẫn đến tình trạng:

- Ngư dân đi khác thủy sản mà không có hỗ trợ từ Nhà nước thì sẽ bị lỗ vì sảnlượng khai thác đang giảm dần hàng năm

- Nguồn lợi thủy sản không kịp tái tạo, phục hồi dẫn đến tình trạng ngày càngcạn kiệt

- Nguồn lợi giảm sút dẫn đến tình trạng ngư dân đã thực hiện khai thác tráiphép trong vùng biển của một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác, tình trạng này đãđược báo động trong thời gian qua Điều này đã được thể hiện qua các vụ bắt giữ tàu

cá và ngư dẫn của Việt Nam ở một số nước như: Thái Lan, Malaysia, Philippin,Indonexia, New Ghi ne

- Do không có số lượng chính xác về nguồn lợi thủy sản nên không có chínhsách khuyến khích khai thác một cách phù hợp Tàu cá có công suất lớn ngày càngtăng song sản lượng khai thác ngày càng thấp, chi phí sử dụng trong khai thác ngàycàng cao dẫn đến hoạt động khai thác của người dân sẽ kém hiệu quả

- Do không có quy định rõ ràng về việc khuyến khích tổ chức, cá nhân thamgia hoạt động nghiên cứu về nguồn lợi thủy sản nên không huy động được nguồn lực

từ trong dân Mặt khác, việc nghiên cứu của người dân là tự phát và công bố số liệunghiên cứu không chưa được kiểm duyệt đã dẫn đến một số hậu quả không đáng cóxảy ra trong thời gian qua Nếu không quy định rõ ràng sẽ dẫn đến tình trạng ngườidân muốn tham gia nhưng không biết làm thế nào là đúng với quy định của phápluật

2.1.2 Đánh giá tác động về xã hội

Hiện nay, gần 30 triệu dân đang sống dựa vào nguồn lợi thủy sản và có rấtnhiều ngư dân nghèo Nếu phương án này được thực hiện sẽ có những tác động về xãhội như sau:

Trang 10

Tác động tích cực:

Do không có số liệu thường xuyên về nguồn lợi thủy sản do đó người dân khôngđắn đo khi tham gia hoạt động khai thác thủy sản và tích cực tham gia sản xuất trênbiển góp phần tăng cường sự hiện diện của người dân trên các vùng biển của Việt Nam

Tác động tiêu cực

Nếu giữ nguyên phương án này, nguồn lợi thủy sản không được đánh giá mộtcách chính xác để có các biện pháp bảo vệ, tái tạo, phục hồi kịp thời thì nguồn lợi sẽcạn kiệt kéo theo đó là người dân mất việc làm, khai thác nguồn lợi không hiệu quảdẫn đến hàng loạt hệ lụy cho xã hội như: Nợ xấu ngân hàng do ngư dân vay để sảnxuất tăng lên, trẻ em sống ở vùng ven biển không có cơ hội đến trường Cuộc sốngcủa ngư dân cũng không ổn định do không có cơ sở để có phương án sản xuất hiệuquả

Bên cạnh đó, với quy định hiện nay không có số liệu điều tra cụ thể về trữlượng nguồn lợi thủy sản nên việc cấp phép khai thác thủy sản vẫn dựa trên nhu cầucủa ngư dân mà chưa có biện pháp quản lý chặt chẽ đối với hạn mức khai thácnguồn tài nguyên này Do đó, tại vùng biển ven bờ hiện nay nguồn lợi thủy sản đãcạn kiệt Biến đổi khí hậu đang ngày càng ảnh hưởng lớn đến đời sống của ngư dânđặc việt là người dân ven biển, ô nhiễm ngày càng tăng, xâm nhập mặn ngày càngảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân

Dó đó, nếu có số liệu về nguồn lợi chuẩn xác và thường xuyên sẽ giúp chongười dân thấy được cần sự cần thiết phải sử dụng nguồn lợi thủy sản một cách hợp

lý để nguồn lợi thủy sản có thể phát triển giúp cho hoạt động khai thác nguồn lợithủy sản được bền vững, từ đó mới có thể giúp cho đời sống của ngư dân được ổnđịnh

2.2 Đánh giá tác động của Phương án 2:

Nhà nước đầu tư toàn bộ nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động điều tra,nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi thủy sản theo định kỳ hàng năm và 05 năm theo quyđịnh Thực hiện hoạt động điều tra, nghiên cứu, đánh giá theo chuyên đề về nguồnlợi thủy sản Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia nghiêncứu, đánh giá nguồn lợi thủy sản nhà nước sẽ kiểm soát việc sử dụng kết quả điềutra, nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi thủy sản và chỉ được công kết quả khi có sựđồng ý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Như vậy, thực trạng về nguồn lợi thủy sản trên các vùng nước của Việt Nam

sẽ được điều tra, nghiên cứu, đánh giá thường xuyên và xác định được trữ lượng vàsản lượng cho phép khai thác Đây là nguồn đầu vào quan trọng phục vụ cho quản lýtrong lĩnh vực thủy sản nói chung và hoạt động cấp phép khai thác thủy sản nóiriêng góp phần thúc đẩy phát triển khai thác thủy sản theo hướng bền vững và phùhợp với xu hướng quốc tế

Việc xác định trữ lượng nguồn lợi hiện có trong vùng biển Việt Nam sẽ giúpcho việc hoạch định chính sách sử dụng nguồn lợi thủy sản một cách có hiệu quả,đảm bảo hiệu quả sản xuất của ngư dân, góp phần ổn định đờ sống của người dân

2.2.1 Đánh giá tác động về kinh tế

Trang 11

Phương án này sẽ đảm bảo duy trì thường xuyên hoạt động điều tra, nghiên cứunguồn lợi thủy sản và đảm bảo hiệu quả của hoạt động này Qua đó sẽ giúp cho việckhai thác thủy sản của ngư dân theo hướng bền vững và hiệu quả Nguồn lợi thủy sảnđược duy trì, bảo vệ, có khả năng phát triển điều này sẽ giúp cho việc phát triển kinh tếngành thủy sản nói chung và góp phần đảm bảo đời sống của ngư dân hoạt động khaithác thủy sản Nếu phương án này được thực hiện sẽ có những tác động sau:

Tác động tích cực:

Cơ quan nhà nước có nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi thủysản sẽ chủ động trong việc triển khai hoạt động này Mặt khác, trách nhiệm đónggóp của tổ chức cá nhân vẫn được đảm bảo bởi họ đã gián tiếp đóng góp thông quaviệc nộp các loại thuế, phí và lệ phí cho nhà nước

Nhà nước sẽ thu thập được các thông tin cơ bản về nguồn lợi thủy sản để cócác chính sách đối với việc khai thác và nuôi trồng thủy sản hợp lý trên cơ sở nguồnlợi thủy sản hiện có Từ đó, nguồn lợi thủy sản có kế hoạch, biện pháp thực hiện bảo

vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản phù hợp Quản lý hoạt động cấp phép khai thácphù hợp với trữ lượng hiện có và sản lượng cho phép khai thác Giá trị kinh tế thuđược từ hoạt động khai thác thủy sản sẽ giúp cho tăng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam và tạo điều kiện phục vụ hoạt động hội nhập quốc tế của nước ta

Khi người dân năm rõ được trữ lượng nguồn lợi thủy sản sẽ có kế hoạch sảnxuất kinh doanh hiệu quả, điều này sẽ giảm tỷ lệ vi phạm ngay trong vùng biển củaViệt Nam và dần giảm tỷ lệ vi phạm tại vùng biển quốc tế điều này sẽ góp phầngiảm sự đầu tư kinh phí của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đầu tư cho cơ quanthanh tra, kiểm tra và đỡ bị áp lực từ phía nước ngoài khi có vi phạm xảy ra gópphần thúc đẩy hợp tác quốc tế và mở rộng quan hệ quốc tế cũng như hình ảnh củaViệt Nam trên trường quốc tế

Đảm bảo hiệu quả khi tiến hành hoạt động khai thác thủy sản vì nguồn lợi thủysản luôn được xác định trữ lượng, sản lượng cho phép khác Giúp cho ngư dân cân đốiđược hoạt động đầu tư một cách phù hợp cho hoạt động khai khác đảm bảo hoạt động

có hiệu quả, không bị thua lỗ, góp phần đảm bảo đời sống của ngư dân

Tác động tiêu cực

Đối với khu vực Nhà nước: Nhà nước sẽ phải đầu tư một khoản kinh phí khá lớn

chi cho hoạt động điều tra, nghiên cứu nguồn lợi thủy sản nhằm đảm baorvieecj duy trìthường xuyên hoạt động này

Đối với tổ chức, cá nhân có liên quan: Không có tác động tiêu cực đến tổ chức,

cá nhân

2.2.2 Đánh giá tác động về xã hội

Tác động tích cực:

- Việc điều tra, nghiên cứu nguồn lợi thủy sản được thực hiện thường xuyên

Số liệu cung cấp sẽ làm cho người dân ổn định tâm lý khi đầu tư vào hoạt động khaithác nguồn lợi thủy sản

- Các chính sách của Nhà nước để điều chỉnh viêc cấp phép khai thác thủy sản

có căn cứ khoa học vững chắc, điều này sẽ giúp cho người dân thấy được việc khaithác nguồn lợi thúy sản phải căn cứ vào trữ lượng hiện có của nguồn lợi thủy sản

Trang 12

trong lãnh thổ Việt Nam và chấp hành nghiêm các biện pháp của Nhà nước tronghoạt động khai thác ( mùa vụ cấm khai thác, ngư cụ cấm khai thác, phương phápcấm khai thác, hạn chế khai thác ).

- Tại cơ sở khoa học cho việc quản lý nghề cá hiện đại, cấp phép khai tháctrên cơ sở hạn ngạch khai thác nhằm phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới

- Điều này sẽ giúp cho hàng hóa thủy sản của Việt Nam dễ dàng tiếp cận đếnthị trường thế giới đặc biệt các khu vực có yêu cầu cao về hoạt động đánh bắt bấthợp pháp

- Mức sống của người dân được ổn định và ngày càng nâng lên kéo theo sựphát triển về hạ tầng nông thôn đặc biệt là các tỉnh ven biển Trẻ em có điều đếntrường Điều này cũng phần nào hạn chế được tệ nạn xã hội

Tác động tiêu cực

- Nhà nước sẽ phải đầu tư nguồn kinh phí cho hoạt động điều tra, nghiên cứunguồn lợi thủy sản nhiều hơn những năm trước do hoạt động này được diễn rathường xuyên

2.2.3 Đánh giá tác động đến khung pháp lý hiện hành

Chính sách này không có bất cứ mâu thuẫn nào đối với hệ thống pháp hiệnhành do được xây dựng trên cơ sở chủ trương, đường lối chính sách của Đảng vàNhà nước ta, đặc biệt sẽ tạo điều kiện giúp Việt Nam hội nhập với thế giới

3 Kết luận và kiến nghị

So sánh tác động của 2 phương án để có hướng sửa đổi phần quy định về điềutra, nghiên cứu, đánh giá và tái tạo nguồn lợi thủy sản Sau khi cân bằng lợi ích của cácphương án, Nhóm nghiên cứu thấy rằng phương án 2 đem lại nhiều lợi ích hơn cả cho

cơ quan quản lý nhà nước và người dân, đặc biệt là nhà nước dần đạt được mục tiêuphát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững, nguồn lợi thủy sản được bảo vệ và táitạo thường xuyên, góp phần ổn định đời sống của ngư dân, tạo việc làm ổn định chongười dân ven biển

II Chính sách 2 Chính sách hỗ trợ khai thác xa bờ, hạn chế khai thác ven

bờ

1 Nội dung chính sách

1.1 Xác định vấn đề

Luật Thủy sản năm 2003 khuyến khích phát triển các ngành nghề thủy sản trong

đó có khai thác thủy sản và đặc biệt là khai thác xa bờ Tuy nhiên, do sự tăng quá lớncường độ khai thác nên trữ lượng nguồn lợi thủy sản đặc biệt là việc khai thác ởvùng biển ven bờ đã có dấu hiệu bị đe doạ Một số nghiên cứu cho thấy, vùng nướckhai thác truyền thống gần bờ/vùng có độ sâu <50m) có vị trí quan trọng đối vớinghề khai thác hải sản Việt Nam Đây là nơi hoạt động của các tàu đánh cá cỡ nhỏvới số lượng chiếm tới 84% tổng số tàu lắp máy và hàng nghìn thuyền thủ công lànơi làm việc và mang lại nguồn sống cho những ngư dân nghèo mà số lượng của họchiếm tới 88% tổng số lao động đánh bắt hải sản Ở một số địa phương, nguồn lợivùng ven bờ này đang bị khai thác quá mức; đang xảy ra sự mất cân đối giữa khả

Trang 13

năng đánh bắt (số lượng tàu cá) và tiềm năng nguồn lợi tại vùng nước khai tháctruyền thống.

Mật độ quần thể của nhiều giống loài thuỷ sinh vật có giá trị khai thác thươngmại đã giảm dẫn đến năng suất khai thác giảm Một số nghiên cứu cho thấy, năm

1991, năng suất khai thác bình quân là 0,9tấn/CV, đến năm 2005 chỉ còn 0,3 tấn/CV(giảm 70%) Kích thước các loài thuỷ sản khai thác được ngày càng giảm, thuỷ sảnnon, chưa trưởng thành chiếm tỷ lệ cao trong từng mẻ lưới, đặc biệt là đối với nghềlưới kéo, dao động từ 25-40% Tỷ lệ các loài hải sản có giá trị kinh tế, thương mạigiảm dần, số lượng hải sản trở thành quý, hiếm ngày càng gia tăng

Cách tiếp cận khai thác thuỷ sản tự do và thói quen sử dụng công nghệ,phương thức khai thác truyền thống, ít được cải tiến đổi mới hoặc nếu có thì lại thiên

về tăng năng suất, sản lượng không theo hướng thân thiện với môi trường, nguồnlợi, đã tác động mạnh đến mức độ an toàn của môi trường, tài nguyên thuỷ sinh vật

Khảo sát thực tế cho thấy, tỉnh Cà Mau đánh bắt xa bờ đang ở tình thế khókhăn Năm 2007, sản lượng khai thác thuỷ sản trên sông, biển của tỉnh đạt134000tấn, trong đó đánh bắt thuỷ sản xa bờ chỉ đạt 70.000tấn, trong đó tôm biểnchỉ đạt 11.000tấn, giảm 4% so với năm 2006 Tỉnh Cà Mau hiện có đoàn đánh cá xa

bờ 3500 chiếc với tổng công suất 341000CV, trong đó có 1100 chiếc có công suất từ90CV trở lên, đây là loại phương tiện có khả năng ra khơi từ 20-30 ngày, hoặc lâuhơn để khai thác thuỷ sản xa bờ

Như vậy, cần thiết phải có chính sách cụ thể để hỗ trợ khai thác xa bờ và hạnchế khai thác gần bờ một cách hiệu quả, như vậy mới bảo vệ được nguồn lợi thủysản

1.2 Xác định mục tiêu chính sách

Việc quy định cụ thể về chính sách khuyến khích khai thác và bờ và giảm dầnkhai thác gần bờ nhằm thúc đẩy phát triển nghề cá theo hướng hiện đại hóa, bảo vệnguồn lợi ven bờ và giúp người dân có các điều kiện cần thiết để chuyển đổi nghềnghiệp một cách hiệu quả

1.3 Xác định đối tượng của chính sách

- Nhóm đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách: Ngư dân thamgia hoạt động khai thác thủy sản, doanh nghiệp khai thác, đặc biệt là đối tượng ngưdân khai thác tại vùng biển ven bờ

- Nhóm đối tượng thực hiện chính sách: Cơ quan quản lý nhà nước chuyênngành thủy sản và các cơ quan có liên quan

1.4 Xác định thẩm quyền ban hành chính sách

Chính sách này sẽ tạo nên sự thay đổi mang tính căn bản lên toàn ngành thủysản cả các hoạt động thủy sản trong nước và hoạt động hội nhập với quốc tế tronglĩnh vực thủy sản, do đó chính sách này cần được đưa vào Luật Thủy sản (sửa đổi).Thẩm quyền quyết định chính sách này là thẩm quyền của Quốc hội

2 Đánh giá tác động chính sách

Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng

Trang 14

Phương án 2: Quy định cụ thể trong Luật Thủy sản sửa đổi các các chính sách

hỗ trợ khai thác xa bờ và biện pháp để hạn chế khai thác ven bờ như hỗ trợ ngư dânchuyển đổi nghề ( hỗ trợ về đào tạo nghề mới, kinh phí ban đầu khi chuyển sang nghềmới, tư liệu sản xuất …)

Từ quy định của Luật Thủy sản (sửa đổi), Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sẽcăn cứ vào từng thời kỳ để ban hành chính sách hỗ trợ ngư dân phù hợp với từngđối tượng, tình hình sản xuất của ngư dân tại giai đoạn đó

Đẩy mạnh việc đào tạo nghề và chuyển đổi nghề cho ngư dân khai thác tạivùng biển ven bờ sang đầu tư tàu, ngư lưới cụ để thực hiện khai thác xa bờ,thúc đẩynghề cá phát triển theo hướng hiện đại

2.1.Đánh giá tác đông phương án 1: Giữ nguyên như quy định trong Luật

Thủy sản năm 2003, không quy định cụ thể về các chính sách hỗ trợ khai thác xa bờ vàbiện pháp hạn chế khai thác ven bờ

2.1.2 Tác động về mặt kinh tế

Tác động tích cực

Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Nhà nước không phải đầu tư nguồn kinh phí

để thực hiện các chính sách hỗ trợ ngư dân, doanh nghiệp thực hiện đầu tư phát triểnkhai thác xa bờ hoặc chuyển đổi nghề nghiệp

Đối với ngư dân và doanh nghiệp:Ngư dân và doanh nghiệp không được hưởng

lợi từ phương án này

Tác động tiêu cực

Nguồn lợi thuỷ sản đang có xu hướng suy giảm, đặc biệt nguồn lợi thuỷ sảnven bờ Một số nghiên cứu cho thấy, vùng nước khai thác truyền thống gần bờ/vùng

có độ sâu <50m) có vị trí quan trọng đối với nghề khai thác hải sản Việt Nam Đây

là nơi hoạt động của các tàu đánh cá cỡ nhỏ với số lượng chiếm tới 84% tổng số tàulắp máy và hàng nghìn thuyền thủ công là nơi làm việc và mang lại nguồn sống chonhững ngư dân nghèo mà số lượng của họ chiếm tới 88% tổng số lao động đánh bắthải sản Tuy vậy, ở một số địa phương, nguồn lợi vùng ven bờ này đang bị khai thácquá mức; đang xảy ra sự mất cân đối giữa khả năng đánh bắt (số lượng tàu cá) vàtiềm năng nguồn lợi tại vùng nước khai thác truyền thống

Mật độ quần thể của nhiều giống loài thuỷ sinh vật có giá trị khai thác thươngmại đã giảm dẫn đến năng suất khai thác giảm Một số nghiên cứu cho thấy, năm

1991, năng suất khai thác bình quân là 0,9tấn/CV, đến năm 2005 chỉ còn 0,3 tấn/CV(giảm 70%) Kích thước các loài thuỷ sản khai thác được ngày càng giảm, thuỷ sảnnon, chưa trưởng thành chiếm tỷ lệ cao trong từng mẻ lưói, đặc biệt là đối với nghềlưới kéo, dao động từ 25-40% Tỷ lệ các loài hải sản có giá trị kinh tế, thương mạigiảm dần, số lượng hải sản trở thành quý, hiếm ngày càng gia tăng

Nhiều hệ sinh thái (rạn san hô, cỏ biển ) đã bị xâm hại đáng kể, mất dần cácchức năng của chúng trong môi trường tự nhiên Cùng với những biến đổi các hệsinh thái thuỷ sinh, chất lượng môi trường nước cũng có xu hướng giảm, xuất hiệndấu hiệu ô nhiễm ở một số khu vực biển, ven biển

Mất cân bằng sinh thái, nguồn lợi cá nổi nhỏ (cá Trích, Nục, Cơm), các loài

cá tạp sống ở vùng nước ven bờ biển và quanh các đảo có những thay đổi đáng kể về

Trang 15

mật độ quần thể Các ngư trường truyền thống mất dần tính mùa vụ (ngư trườngThanh Hoá- Nghệ An, Ninh Thuận- Bình Thuận- Vũng Tàu ) Điều đó đồng nghĩavới nguồn dinh dưỡng của phần lớn các loài cá kinh tế, cá ăn động vật cũng giảm vàthậm chí sẽ biến mất trong tương lai không xa.

- Cách tiếp cận khai thác thuỷ sản tự do và thói quen sử dụng công nghệ,phương thức khai thác truyền thống, ít được cải tiến đổi mới hoặc nếu có thì lại thiên

về tăng năng suất, sản lượng không theo hướng thân thiện với môi trường, nguồnlợi, đã tác động mạnh đến mức độ an toàn của môi trường, tài nguyên thuỷ sinh vật

Khảo sát thực tế cho thấy, tỉnh Cà Mau đánh bắt xa bờ đang ở tình thế khókhăn Năm 2007, sản lượng khai thác thuỷ sản trên sông, biển của tỉnh đạt134000tấn, trong đó đánh bắt thuỷ sản xa bờ chỉ đạt 70000tấn, trong đó tôm biển chỉđạt 11000tấn, giảm 4% so với năm 2006 Tỉnh Cà Mau hiện có đoàn đánh cá xa bờ

3500 chiếc với tổng công suất 341000CV, trong đó có 1100 chiếc có công suất từ90CV trở lên, đây là loại phương tiện có khả năng ra khơi từ 20-30 ngày, hoặc lâuhơn để khai thác thuỷ sản xa bờ

Các cơ quan quản lý nhà nước không kiểm soát được sự phát triển của tàu cákhai thác thủy sản, không hạn chế được số lượng tàu cá khai thác ven bờ và như vậynguồn lợi thủy sản ven bờ không được bảo vệ

Nhà nước phải đầu tư kinh phí lớn để tái tạo nguồn lợi thủy sản nhằm cải thiệntình trạng cạn kiệt của nguồn lợi thủy sản như hiện nay

Ngư dân và doanh nghiệp không được hỗ trợ để phát triển khai thác xa bờ hoặcchuyển đổi nghề nghiệp Nguồn lợi thủy sản bị cạn kiệt do cường lực khai thác quámức dẫn đến năng suất khai thác thấp và ngư dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếpbởi thu nhập bị giảm sút và dẫn đến chất lượng cuộc sống không được đảm bảo Nhưvậy, nếu vẫn giữ nguyên phương án hiện nay sẽ không giải quyết được tình trạng nguồnlợi thủy sản đang dần cạn kiệt

2.2 Phương án 2: Quy định cụ thể trong Luật Thủy sản sửa đổi các các chính

sách hỗ trợ khai thác xa bờ và biện pháp để hạn chế khai thác ven bờ như hỗ trợ ngưdân chuyển đổi nghề ( hỗ trợ về đào tạo nghề mới, kinh phí ban đầu khi chuyển sangnghề mới, tư liệu sản xuất …)

2.2.1 Tác động về mặt kinh tế

Tác động tích cực

Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Nhà nước có thể kiểm soát được số lượng

tàu, thuyền khai thác thủy sản và thực hiện được năng quản lý nhà nước về bảo vệnguồn lợi thủy sản và hướng tới mục đích phát triển thủy sản một cách bền vững Thuhút được nguồn lao động vào khai thác thủy sản xa bờ góp phần thúc đẩy chuyển dịchdần từ nghề cá dân nhân quy mô nhỏ sang nghề cá công nghiệp hiện đại Nghề cá hiệnđại sẽ góp phần thúc đẩy phát triển công nghệ khai thác hiện đại và sản phẩm đánh bắt

có giá trị cao góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và tăng cường về kim ngạch xuấtkhẩu cho quốc gia

Thúc đẩy cường lực khai thác xa bờ và hạn chế được cường lực khai thác ven

bờ Quy định như phương án này sẽ tạo khung pháp lý cho việc cơ cấu lại nghề khaithác để giảm áp lực đối với nguồn lợi trong vùng biển ven bờ, bằng cách phát triển

Trang 16

khai thác các nguồn lợi còn chưa bị khai thác ở vùng biển xa bờ, đồng thời chuyểnmột bộ phận ngư dân sang những lĩnh vực hoạt động kinh tế khác như nuôi trồng,kinh doanh, cung ứng dịch vụ hậu cần nghề cá, v.v đã tác động đến việc dịchchuyển cơ cấu kinh tế ngành thuỷ sản theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất nuôitrồng thuỷ sản, giảm tỷ trọng giá trị khai thác thuỷ sản.

Khi chính sách được quy định cụ thể trong Luật sẽ giúp cho cơ quan quản lýnhà nước chuyên ngành có cơ sở vững chắc để đề xuất chính sách hỗ trợ cho ngườidân nhằm thúc đẩy hoạt động tổ chức khai thác xa bờ một cách bài bản và tính toán

kỹ đến sự tác động của chính sách đối với người dân và lợi ích của đất nước Thểchế được chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước để thúc đẩy hoạt động khaithác và phát triển nguồn lợi thủy sản theo hướng bền vững và có trách nhiệm

Góp phần thúc đẩy phát triển ngành khai thác thủy sản theo hướng côngnghiệp, hiện đại dần bắt kịp với sự phát triển của thế giới, thúc đẩy phát triển giá trịsản phẩm theo hướng gia tăng giá trị và giảm tổn thất sau thiu hoạch Điều này cũngphần nào góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Đối với ngư dân và doanh nghiệp: Có điều kiện để phát triển thai thác thủy sản

xa bờ, nâng cao năng suất lao động từ đó tăng thu nhập của ngư dân tạo điều kiện đểnâng cao chất lượng cuộc sống của ngư dân

Có điều kiện để thay đổi ngành nghề và có tiền đề để tiếp tục phát triển ngànhnghề mới

Tạo tâm lý yên tâm sản xuất và đặc biệt là tâm lý của ngư dân và doanh nghiệpkhi chuyển sang sản xuất, kinh doanh ngành nghề mới

Có điều kiện để phát triển khai thác thủy sản theo hướng công nghiệp hiện đại,

có đủ điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp

Tác động tiêu cực:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Nhà nước phải đầu tư nguồn kinh phí lớn để hỗ trợ ngư dân đầu tư đóng tàu lớn

và các trang thiết bị hiện đại để tiến hành khai thác xa bờ; hỗ trợ ngư dẫn chuyển đổinghề (kinh phí đào tạo nghề; kinh phí để đầu tư hoạt động trong lĩnh vực mới…) Kinhphí để tuyên truyền, phổ biến các chính sách hỗ trợ này và đặc biệt là đội ngũ cán bộquản lý để kiểm soát việc triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ này

Đối với ngư dân và doanh nghiệp:

Không có tác động tiêu cực đối với ngư dân và doanh nghiệp Tuy nhiên, việc tổchức khai thác nguồn lợi thủy sản của người dân danh nghiệp sẽ phải tăng mức đầu tưcho hoạt động để phù hợp với yêu cầu của khoa học công nghệ, trang thiết bị và trình

độ của ngư dân Ngư dân và doanh nghiệp tăng cường kinh phí đầu tư cho hoạt độngđào tạo, tập huấn nâng cao trình độ, năng lực sản xuất

2.2.2 Tác động về mặt xã hội

Tác động tích cực:

Khi nhà nước có chính sách hỗ trợ ngư dân để phát triển khai thác xa bờ sẽ giúpcho họ yên tâm đầu tư sản xuất và tăng cường bám biển hoạt động khai thác thủy sản

Trang 17

Chính sách khai thác xa bở được quy định sẽ giúp hình thành loại hình về tổchức các hình thức sản xuất trên biển phù hợp để tổ chức, cá nhân phát triển khaithác thuỷ sản xa bờ Trong thời gian vừa qua tại một số địa phương, đặc biệt là cáctỉnh miền Trung và Nam bộ đã hình thành các tổ hợp tác sản xuất trên biển dựa trên

cơ sở cộng đồng làng xã hoặc nghề nghiệp với nhiều tên gọi khác nhau “tổ hợp tácsản xuất” “tổ an toàn sản xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ cá thể dịch vụ trên biển;loại hình chi hội nghề cá cơ sở Các tổ chức sản xuất trên biển đã nhận được sự quantâm hỗ trợ của UBND các địa phương về các thiết bị thông tin về dự báo thời tiết,ngư trường, giá cả thị trường… Các mô hình tổ chức này đã phát huy tác dụngkhông chỉ trong công tác đảm bảo an toàn, mà còn có tác dụng không nhỏ trong việcdảm bảo trật tự, an ninh và chủ quyền quốc gia trên biển, hỗ trợ nhau trong công tácphòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn, mặt khác còn tạo ra mối quan hệ thông tingiữa tàu và bờ, giúp các cơ quan quản lý có thể kiểm đếm và hướng dẫn các tàu đitránh trú bão

Do đó, nếu thực hiện phương án này sẽ giúp cho việc tổ chức sản xuất củangười dân dần ổn định và hoạt động khai thác thủy sản mang tính chất tổ, đội sẽngày càng phát triển và góp phần tăng cường hiệu quả khai thác của ngư dân, sựtương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất

Tác động tiêu cực

Hiện này cả nước có khoảng hơn 700.000 lao động làm việc trên các tàu cá,chủ yếu được đào tạo theo phương thức cha truyền con nối, người lâu năm hướngdẫn lại cho người mới Chất lượng lao động thấp ảnh hưởng trước hết đến hiệu quảhoạt động chung của các tàu cá Do đó, khi phát triển khai thác xa bờ thì người dânkhó khăn trong việc sử dụng các trang thiết bị hiện đại của tàu khai thác xa bờ nênảnh hưởng tâm lý của ngư dân khi bước đầu thực hiện

3 Kết luận và kiến nghị

So sánh tác động của 2 phương án để có hướng sửa đổi phần quy định về điềutra, nghiên cứu, đánh giá và tái tạo nguồn lợi thủy sản Sau khi cân bằng lợi ích của cácphương án, Nhóm nghiên cứu thấy rằng phương án 2 đem lại nhiều lợi ích hơn cả cho

cơ quan quản lý nhà nước và người dân,

Sau khi nghiên cứu những tác động tích cực cũng như tiêu cực của các phương

án, nhóm nghiên cứu đề xuất chọn Phương án 2, vì phương án này mặc dù nhà nướcphải đầu tư nguồn kinh phí khá lớn để hỗ trợ ngư dân và doanh nghiệp thực hiện đầu tưkhai thác xa bờ hoặc chuyển đổi nghề từ khai thác sang nuôi trồng hoặc chế biến thủysản…nhưng đổi lại cả nhà nước, ngư dân và doanh nghiệp lại có được những kết quảlớn: Nhà nước có thể kiểm soát được cường lực khai thác ven bờ, bảo vệ được nguồnlợi thủy sản, thu hút được lao động tham gia khai thác xa bờ…góp phần tăng cườngkhẳng định chủ quyền vùng biển của đất nước đặc biệt là các vùng biển gần các quầnđảo Trường xa và Hoàng Sa…; ngư dân, doanh nghiệp có điều kiện để đầu tư pháptriển khai thác xa bờ, nâng cao năng suất khai thác hoặc có điều kiện để chuyển đổinghề nghiệp và tăng năng suất lao động

III Chính sách 3: Đồng quản lý trong hoạt động thủy sản

1 Xác định vấn đề

Trang 18

Như chúng ta đã biết, Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260 km với vùng biển đặcquyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2, nhiều hệ thống sông, hồ, đầm phá, cửa sông venbiển, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô, các thủy vực nước ngọt… với nguồnlợi thủy hải sản phong phú đa dạng được phân bố trải dài khắp đất nước đã tạo điềukiện cho sự phát triển của hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy hải sản và chế biếnthủy sản.

Bên cạnh đó, Khai thác thủy sản nước ta trong những năm qua đã phát triểnnhanh, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh chủquyền biển đảo của Tổ quốc Năm 2001, cả nước có khoảng 74.495 tàu cá khai thácthủy sản với tổng công suất máy 5.214 CV, sản lượng khai thác khoảng 1,3 triệu tấn,đến năm 2015, số tàu đã tăng lên 110.000 chiếc tăng gần 1,47 lần so với năm 2001,sản lượng khai thác cũng tăng nhanh khoảng 2,8 triệu tấn, tăng gần 2,2 lần so vớinăm 2001 Tuy nhiên, trong 10 năm trở lại đây hoạt động khai thác thủy sản cónhiều vấn đề phát sinh, trong đó có vấn đề là trữ lượng nguồn lợi thủy sản tại vùngbiển Việt Nam đang có dấu hiệu suy giảm, theo kết quả điều tra của Viện nghiêncứu hải giai đoạn 2011- 2015 trữ lượng nguồn lợi hải sản là 4,36 triệu tấn giảm 710nghìn tấn số với giai đoạn 2001 – 2005

Nuôi trồng thủy sản trong những năm qua đã có những phát triển vượt bậc cả

về diện tích và sản lượng Điều này đã đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuấtkhẩu của ngành thủy sản Tuy nhiên, trong hai năm trở lại đây, môi trường nuôingày càng xuống cấp và có nguy cơ ô nhiễm, sự cố môi trường xảy ra đã làm giảmsản lượng nuôi, hoạt động nuôi trồng bị giảm hiệu quả, nhiều khu vực nuôi 10 vụ thìthất bại 06 vụ Hiện trạng này là do việc nuôi trồng tự phát, không tập nên không thểđầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ dẫn đến tình trạng mỗi hộ nuôi làm một kiểu dẫn đếntình trạng ô nhiễm môi trường

Để giảm thiểu tình trạng này, cần thúc đẩy quản lý cộng đồng, khuyến khíchngười dân cùng nhau sản xuất, kinh doanh cùng nhau đưa ra các nội quy quy chế,kiểm tra và giám sát nhau trong quá trình triển khai thực hiện hoạt động thủy sản

Từ đó xuất hiện đồng quản lý hay quản lý cộng đồng trong lĩnh vực thủy sản Sựphân công lao động xã hội trên từng cung đoạn sản xuất sản phẩm thủy sản đã kếtnối, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều tổ chức, cá nhân tạo nên giá trị sản phẩm

“từ ao nuôi, từ thuyền đánh cá đến bàn ăn” dẫn đến yêu cầu quản lý theo chuỗingành hàng với sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều tổ chức cá nhân, đượchưởng lợi, chịu sự tác động, chi phối từ các chính sách của nhà nước Từ đó, xuấthiện nhu cầu phân công, chia sẻ trách nhiệm quản lý, chia sẻ lợi ích xuyên suốtchuỗi sản xuất các ngành hàng giữa nhà nước, cộng đồng và các bên có liên quan

Đồng quản lý (ĐQL) trong lĩnh vực thủy sản được nghiên cứu tại Việt Nam

từ những năm 90 của thế kỷ 20; từ đó đến nay, đã có một số nghiên cứu của cácViện nghiên cứu thuộc Bộ Thủy sản trước đây Trong những năm vừa qua, dưới sựchỉ đạo của Bộ NN&PTNN, sự nỗ lực của các cơ quan nghiên cứu và sự tài trợ củacác tổ chức quốc tế đã có nhiều mô hình đồng quản lý được nghiên cứu, thử nghiệmtrong các lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủysản trên các vùng sinh thái và các địa phương khác nhau trong cả nước

Có thể thẩy rằng, việc triển khai các mô hình đồng quản lý bước đầu đã đemlại lợi ích tích cực; tạo cơ hội mới về việc làm, huy động nguồn lực và kỹ năng chưa

Trang 19

sử dụng của cộng đồng; cũng như nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với việckhai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, tài nguyên thiên nhiên, môi trườngtại địa phương Đối với ngành thủy sản, đây là nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức lạisản xuất, bảo vệ nguồn lợi theo hướng bền vững; đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút các

tổ chức xã hội và cộng đồng ngư dân tham gia khai thác, sử dụng và bảo vệ tàinguyên thủy sản một cách bền vững, hiệu quả; góp phần cải thiện sinh kế, tạo việclàm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống, ổn định việc làm cho cộng đồng ngư dân vàgóp phần giữ vững an ninh, quốc phòng

Trong suốt hai thập kỷ qua, ngành thuỷ sản đã đạt được những thành tựu quantrọng về sản lượng, giá trị sản lượng, giá trị xuất khẩu, giải quyết việc làm cũng nhưgóp phần xoá đói giảm nghèo Bên cạnh các thành tựu đó, ngành thuỷ sản cũng đangphải đối mặt với nhiều thách thức cho sự phát triển bền vững: nguồn lợi ven bờ suygiảm, môi trường sinh thái bị đe dọa bởi sự suy thoái, mâu thuẫn xảy ra giữa cácnghề thủy sản với nhau, mâu thuẫn giữa nghề thủy sản và các nghề kinh tế khác(nông nghiệp, du lịch, công nghiệp…), nhất là đối với vùng nguồn lợi thủy sản ven

bờ, tuyến bờ và tại các vùng nước nội địa có hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS),khai thác thủy sản (KTTS), các làng nghề chế biến thủy sản; trong khi đó nguồn lựccho quản lý còn rất hạn chế cả về nhân lực và vật lực Những thách thức này luôn làmối quan tâm của các nhà quản lý và nghiên cứu phát triển ngành thủy sản Làm thếnào để quản lý hiệu quả nguồn lợi, môi trường cho phát triển thủy sản bền vững – làcâu hỏi luôn được đặt ra và tìm câu trả lời đối với các nhà quản lý và nghiên cứuphát triển thủy sản

Trong những năm qua có rất nhiều các nghiên cứu, các mô hình thử nghiệmđồng quản lý trong lĩnh vực khai thác, bảo vệ nguồn lợi, nuôi trồng thủy sản tại ViệtNam dưới sự tài trợ của nhà nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chínhphủ Qua nghiên cứu cho thấy, đến nay có 29 mô hình được xây dựng và triển khaithực hiện, các mô hình đồng quản lý rất đa dạng về hình thức tổ chức cũng nhưphương thức sản xuất phù hợp với đặc trưng đa loại hình sản xuất và thành phầnkinh tế ngành thủy sản Sự phân loại các mô hình đồng quản lý trong lĩnh vực khaithác thủy sản và bảo vệ nguồn lợi dựa trên cơ sở đặc thù loại hình khai thác, ngưtrường nguồn lợi chỉ mang tính chất tương đối vì trên một diện mặt nước có nhiềuhoạt động cho nhiều mục đích khác nhau

Trên cơ sở các loại hình khai thác thủy sản có thể chia ra nhiều nhóm mô hình

đồng quản lý như: Nhóm mô hình khai thác thủy sản (07/29 mô hình); Nhóm mô

hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (09/29 mô hình); Nhóm mô hình khaithác thủy sản kết hợp NTTS và ngành nghề khác (05/29 mô hình); Nhóm mô hìnhbảo vệ nguồn lợi và khu bảo tồn biển (08/29 mô hình)

Xét về góc độ tổ chức quản lý mô hình, thì có những nhóm mô hình sau:Nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành chi hội nghề cá (04/29 mô hình);Nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành tổ/đội sản xuất, tổ cộng đồng, câulạc bộ (22/29 mô hình); Nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành khu bảotồn biển (03/29 mô hình)

Xét về góc độ loại hình mặt nước thủy vực thì có thể phân thành các nhóm

mô hình đồng quản lý: Nhóm mô hình khai thác xa bờ (04/29 mô hình); Nhóm môhình khai thác kết hợp bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ, đầm phá (10/29 mô hình);

Trang 20

Nhóm mô hình khai thác sông ngòi, hồ chứa (07/29 mô hình); Nhóm mô hình bảo vệnguồn lợi, khu bảo tồn biển (08/29 mô hình).

Như vậy, việc thực hiện ĐQL đã được triển khai trên thực tế bằng các môhình thí điểm tại các địa phương Kết quả triển khai thực hiện các mô hình thí điểmnày là một trong những căn cứ quan trọng để đề xuất chính sách ĐQL trong LuậtThủy sản (sửa đổi)

1.2 Xác định mục tiêu chính sách

Việc quy định về đồng quản lý trong hoạt động thủy sản trong Luật Thủy sảnsửa đổi sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức triển khai thực hiện trên thực tế và gópphần thúc đẩy phát triển thủy sản bền vững và có trách nhiệm Nâng cao được ý thứccủa người dân trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khai thác và nuôi trồng có tráchnhiệm

1.3 Xác định đối tượng của chính sách

- Nhóm đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách: Ngư dân thamgia hoạt động khai thác thủy sả, nuôi trồng, doanh nghiệp khai thác, nuôi trồng thủysản

- Nhóm đối tượng thực hiện chính sách: Cơ quan quản lý nhà nước chuyênngành thủy sản và các cơ quan có liên quan

1.4 Xác định thẩm quyền ban hành chính sách

Chính sách này sẽ tạo nên sự thay đổi mang tính căn bản lên toàn ngành thủysản cả các hoạt động thủy sản trong nước và hoạt động hội nhập với quốc tế tronglĩnh vực thủy sản, do đó chính sách này cần được đưa vào Luật Thủy sản (sửa đổi).Thẩm quyền quyết định chính sách này là thẩm quyền của Quốc hội

2 Đánh giá tác động chính sách

Phương án 1: Giữ nguyên hiện trạng không quy định về đồng quản lý trongLuật Thủy sản

Phương án 2: Quy định trong Luật Thủy sản sửa đổi chế dịnh về đồng quản lý

để tạo cơ sở pháp lý cho việ thành lập và tổ chức đồng quản lý của cộng đồng ngư dântrong hoạt động thủy sản

2.1 Đánh giá tác đông phương án 1: Giữ nguyên như quy định

2.1.1.Đánh giá tác động về kinh tế

Tác động tích cực

Thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản đã điều chỉnhcường độ khai thác với sản xuất giống nhân tạo thả bổ sung vào môi trường tựnhiên, cải thiện môi trường sống của các loài thuỷ sản nhằm tăng mật độ quần thểcủa các giống thuỷ sản đã bị khai thác cạn kiệt, như nguồn lợi tôm biển (tôm sú, tômhùm ), nguồn lợi nhuyễn thể (điệp, sò, nghêu ) vùng biển Nam Trung bộ vàĐông, Tây Nam Bộ; nguồn lợi cá nhỏ (cá trích, cơm ) vùng biển từ Thanh Hoá đếnKiên Giang; nguồn lợi cá nước ngọt, trước hết ở các sông, hồ chứa lớn, thuộc cáctỉnh đồng bằng Nam Bộ, một số khu vực đất ngập nước thuộc đồng bằng Bắc Bộ

Ngày đăng: 20/04/2021, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w