về Luật liên quan đến Lâm nghiệp và Bảo vệ, Phát triển rừngThực hiện Nghị quyết số 22/2016/QH14 của Quốc hội khóa XIV về điềuchỉnh chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2016 và chươn
Trang 1về Luật liên quan đến Lâm nghiệp và Bảo vệ, Phát triển rừng
Thực hiện Nghị quyết số 22/2016/QH14 của Quốc hội khóa XIV về điềuchỉnh chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2016 và chương trình xâydựng Luật, Pháp lệnh năm 2017; Quyết định số 1840/QĐ-TTg ngày 23/9/2016của Thủ tướng Chính phủ về phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạntrình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết được bổ sung vào Chương trình xâydựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm
2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được phân công chủ trì soạn thảoLuật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập báo cáo kinh nghiệm quốc tếnhư sau:
PHẦN I TỔNG THỂ YÊU CẦU NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Sau gần 12 năm thực hiện, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR)năm 2004 đã đi vào cuộc sống, góp phần tạo sự chuyển biến quan trọng từ nềnlâm nghiệp lấy quốc doanh là chủ yếu sang nền lâm nghiệp với nhiều thành phầnkinh tế tham gia; từ chủ yếu dựa vào khai thác, lợi dụng rừng tự nhiên sang bảo
vệ, nuôi dưỡng, gây trồng rừng Nhờ đó đã thúc đẩy, tạo cơ chế, chính sách pháttriển nhanh chóng diện tích rừng từ 12,306 triệu ha năm 2004 lên 14,061 triệu havào năm 2015; tương ứng độ che phủ của rừng toàn quốc từ 37% lên 40,84%.Tuy vậy, quá trình thi hành Luật BV&PTR đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cơbản sau đây:
Một là, Luật BV&PTR chỉ điều chỉnh các hoạt động quản lý, bảo vệ và
một phần của hoạt động phát triển rừng, chưa quy định hay khuyến khích mốiquan hệ giữa các khâu giá trị trong chuỗi giá trị lâm nghiệp, từ quản lý, bảo vệ,phát triển rừng, khai thác, vận chuyển, chế biến, thương mại lâm sản và các dịch
vụ liên quan đến rừng Vì vậy, thực tiễn ngành lâm nghiệp đang thiếu nhữngchính sách khuyến khích cần thiết để phát triển những khâu giá trị cao để từ đóthúc đẩy sự phát triển của các khâu giá trị trước đó; chưa thể hiện được chínhsách khuyến khích liên kết bốn nhà - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.Theo kinh nghiệm của thế giới, vấn đề chính yếu trong một ngành là phải ưutiên và tập trung phát triển những khâu giá trị cao để từ đó gia tăng giá trị củatoàn chuỗi và khuyến khích đầu tư vào các khâu giá trị trong chuỗi
Hai là, các quy định của pháp luật BV&PTR chưa làm rõ cơ chế thực
Trang 2hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu đối vớirừng tự nhiên; các quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi được Nhà nướcgiao, cho thuê rừng.
Ba là, quy định của Luật BV&PTR còn chồng chéo, mâu thuẫn với một
số luật có liên quan, như Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ Môitrường
Bốn là, Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào các hoạt động
thương mai quốc tế nên các quy định của Luật cần tương thích và đáp ứng đượccác yêu cầu của thông lệ quốc tế
Năm là, Luật BV&PTR được ban hành vào năm 2004 nên còn thiếu các
quy định để phù hợp với Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khíhậu và chưa thúc đẩy các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vựclâm nghiệp
Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra những vận hội mới của ngànhlâm nghiệp từ sự thay đổi của bối cảnh ngành, như sau:
Một là, Hiến pháp 2013 đã bỏ khái niệm “rừng núi” rất chung chung ra
khỏi danh sách tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, mở đường cho việc công nhậncông sức và đầu tư của các chủ thể kinh tế ngoài nhà nước, xác lập quyền sở hữu
và quyền tài sản cho các chủ thể đầu tư phát triển rừng, từ đó thu hút các thànhphần kinh tế đầu tư vào phát triển rừng
Hai là, thừa nhận giá trị ngoài lâm sản của rừng, giá trị bảo vệ môi trường
đất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường sống của con người
và phát triển những giá trị này thành hàng hóa – dịch vụ trở thành xu hướng rõnét của thế giới Thị trường chứng chỉ CO2 toàn cầu trong 10 năm qua đã có lúcđạt tới kích thước 120 tỷ đô-la Mỹ/năm và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởngtrong thời gian tới Điều này mở đường cho việc áp dụng trên diện rộng và đầy
đủ chính sách dịch vụ môi trường rừng được Chính phủ cho phép thử nghiệm từnăm 2011 và đã mang lại những thành công nhất định, đóng góp vào thành côngchung của ngành lâm nghiệp Xu hướng này sẽ gia tăng nguồn thu cho ngườilàm nghề rừng, nâng cao đời sống cho họ và góp phần đảm bảo nguồn tài chínhcần thiết cho sự phát triển của ngành lâm nghiệp
Ba là, các hiệp định tự do mậu dịch song phương và đa phương Việt nam
đã ký trong thời gian qua như FTA với EU, Hàn quốc, WTO và sắp tới là TPP
đã mở đường cho sự tăng trưởng xuất khẩu của nhiều ngành hàng, trong đó cóngành đồ gỗ chế biến – đầu ra của lâm sản Việt nam Điều này càng thể hiệnmột cơ hội đặc biệt khi Trung quốc, quốc gia xuất khẩu đồ gỗ chế biến lớn nhấtthế giới, bị nhiều quốc gia áp dụng quy định chống bán phá giá và, theo dự báocủa các chuyên gia kinh tế quốc tế, quy định này sẽ khó được dỡ bỏ trong tươnglai gần Dự báo quốc tế cũng cho rằng Việt nam là một trong những quốc giahưởng lợi nhiều nhất khi TPP có hiệu lực trong thời gian tới
Bốn là, tiềm năng phát triển của ngành lâm nghiệp rất lớn với tổng diện
tích được quy hoạch chiếm gần 50% diện tích đất tự nhiên và dân số phụ thuộc
Trang 3gần 20 triệu người; tuy tiềm năng chưa được khai thác đầy đủ do những hạn chếcủa khung pháp lý điều chỉnh hoạt động lâm nghiệp, phân ngành kinh tế lâmnghiệp trong 5 năm qua đã có mức tăng trưởng cao hơn các phân ngành kinh tếkhác và cao nhất trong ngành kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp Điều này chothấy, nếu có những chính sách phát triển phù hợp, lâm nghiệp hoàn toàn có khảnăng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, tạo ra nhiều việc làm mới, đóng góplớn vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt nam.
Những hạn chế, bất cập của khung pháp lý cũ, những vận hội của bốicảnh mới đòi hỏi ngành lâm nghiệp cần đề ra được những chính sách mới phùhợp hơn và thể chế hóa những chính sách đó thành các quy định pháp luật để tạo
cơ sở cho sự phát triển của ngành trong thời gian tới Đó cũng là những vấn đềlớn cần được nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ các văn bản pháp luật của cácquốc gia khác trên thế giới
PHẦN II NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1 Lựa chọn các luật quốc tế tham khảo
Với những yêu cầu và bối cảnh trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đã lựa chọn nghiên cứu luật về lâm nghiệp của Mỹ, Brazil, Nga, Indonsia,Thụy Điển, Đức, Nhật bản, Trung quốc, Hàn quốc, Phillipines và Malaysia.Việc lựa chọn các quốc gia này dựa trên một số căn cứ sau:
- Các quốc gia đều có diện tích rừng lớn và lâm nghiệp đóng vai trò quantrọng trong phát triển kinh tế xã hội
- Liên bang Nga là quốc gia chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung nên nhiều vấn đề về quản lý rừng trong quá trình chuyển đổi có nhiều giátrị tham khảo đối với Việt Nam
- Indonesia và Brazil đều là các quốc gia đang phát triển và đang đối mặtvới nạn phá rừng, với sự suy giảm mạnh diện tích rừng và đang tìm mọi cáchhoàn thiện pháp luật nhằm ngăn chặn tình trạng này Indonesia vừa ban hành Bộluật lâm nghiệp, còn Quốc hội Brazil hiện đang trình tổng thống phê chuẩn Bộluật lâm nghiệp thay thế cho Luật lâm nghiệp ban hành năm 1965
- Mỹ và Thụy Điển là các quốc gia quản lý rừng bằng pháp luật hiệu quả
và với cách tiếp cận thị trường rất có ý nghĩa đối với Việt Nam
- CHLB Đức: bao gồm luật liên bang và luật của một bang cụ thể Đức làmột quốc gia tiên tiến, có diện tích rừng lớn, ngành công nghiệp chế biến gỗ rấtphát triển, các chuẩn bảo vệ rừng và môi trường rất cao Đức cũng là quốc gia điđầu trong những vấn đề về giảm khí thải nhà kính, ứng phó biến đổi khí hậu
- Nhật bản: Nhật bản là một quốc gia tiên tiến ở châu Á, có nhu cầu cao
về các sản phẩm lâm sản (nhất là gỗ) và những tiêu chuẩn môi trường tươngđương với các quốc gia phát triển Âu – Mỹ Nhật bản cũng là quốc gia đi đầutrong ứng phó biến đổi khí hậu
3
Trang 4- Hàn quốc: Vừa thông qua luật sửa đổi năm 2015, có tính cập nhật caovới tình hình quốc tế;
- Trung quốc: Nền kinh tế Trung quốc có tầm ảnh hưởng rất lớn đến kinh
tế Việt nam, đặc biệt là các sản phẩm nông – lâm – ngư nghiệp Trung quốccũng hiện là quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới với 15% thị phầnnông sản xuất khẩu toàn cầu Tham khảo luật của Trung quốc sẽ giúp cho Việtnam đưa ra những quy định phù hợp với tình hình của nền kinh tế
- Luật của Indonesia, Malaysia và Phillipines: Đây đều là các quốc giatrong khu vực ASEAN, có nhiều điểm tương đồng với Việt nam về điều kiện tựnhiên, trình độ phát triển và, ở một mức độ nào đó, là những đối thủ cạnh tranhtrong nền kinh tế toàn cầu Tham khảo luật của họ có thể giúp Việt nam hoạchđịnh những chính sách, quy định đảm bảo sự phát triển của ngành lâm nghiệpphù hợp với xu thế chung nhưng vẫn giữ được những lợi thế cạnh tranh riêngcủa mình
2 Phạm vi và tính chất báo cáo
Tuy phạm vi nghiên cứu khá rộng nhưng do thời gian và nguồn lực hữuhạn, báo cáo này tập trung tổng thuật các văn bản pháp luật và một số báo cáocủa các chuyên gia của các nước được lựa chọn nghiên cứu, xem xét một số vấn
đề cụ thể thuộc những vấn đề quan tâm đã nêu trên để rút ra các kinh nghiệmcho quá trình xây dựng Luật BV&PTR (sửa đổi) Báo cáo chỉ nhằm mục đíchcung cấp thông tin tham khảo, không có mục đích phát hiện hay hình thành quanđiểm khoa học nên không thích hợp cho các trích dẫn khoa học
PHẦN III TỔNG THUẬT MỘT SỐ LUẬT ĐƯỢC NGHIÊN CỨU
A LIÊN BANG NGA
Liên Bang Nga Liên Bang Nga là quốc gia có diện tích rừng lớn nhất thếgiới Liên bang Nga chiếm 22% rừng của thế giới và 26% diện tích rừng cònnguyên sinh, chưa khai có hoạt động khai thác Chính vì vậy, rừng ở Liên bangNga đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc ổn định khí hậu, giảm khí thảicacbon và tạo môi trường sống cho nhiều loại động vật hoang dã có nguy cơtuyệt chủng Với vai trò quan trọng đặc biệt của rừng trong bối cảnh phát triểncủa nước Nga, Luật về rừng của Liên bang Nga được coi là một trong nhữngvăn bản pháp luật quan trọng đặc biệt Bộ luật về rừng của Nga1 được ban hànhnăm 2006 và có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 2007 với tư cách là đạo luật cơ bảntrong việc bảo vệ, quản lý và kiểm soát rừng ở Liên bang Nga Với 16 chương
và 109 điều Bộ luật rừng của Nga đã điều chỉnh nhiều mối quan hệ liên quanđến hoạt động bảo vệ, quản lý và kiểm soát rừng Điều 1 chương 1 Bộ luật rừngqui định mục tiêu ban hành Bộ luật này như sau: quản lý bền vững rừng, bảo tồn
đa dạng sinh học và các chức năng môi trường của rừng như là nguồn dự trữnước và nơi cư trú của các giống loài, sử dụng hợp lý và đảm bảo không suy
pháp luật về rừng” năm 1993 và Luật về rừng năm 1997
Trang 5thoái tài nguyên rừng, sự tham gia của người dân và xã hội dân sự trong việcban hành các quyết định về giữ gìn và bảo vệ rừng
Bộ luật năm 2006 được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc cơ bản sauđây trong chính sách rừng của Liên bang, cụ thể là: (i) đảm bảo quản lý bềnvững rừng, tăng tài nguyên và tiềm năng sinh thái của rừng; (ii) tăng cường sựđóng góp của rừng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của vùng; (iii)đảm bảo an toàn và ổn định sinh thái phù hợp nhu cầu của nhân dân đối với tàinguyên và dịch vụ
Một trong những khía cạnh mà Bộ luật rừng năm 2006 bị chỉ trích đấy là
xu hướng khai thác thương mại trong các qui định của Bộ luật, nguy cơ tư nhânhóa rừng và việc tạo ra những yếu tố mới trong sở hữu và kiểm soát rừng và vìthế khía cạnh bảo vệ môi trường của rừng bị xem nhẹ Bộ luật về rừng năm 2006
có các qui định hướng đến phi tập trung hóa hoạt động quản lý và kiểm soátrừng, theo đó các chủ thể của Liên bang có thể quyết định tư nhân hóa một sốvùng rừng trong tương lại Điểm yếu của Bộ luật về rừng năm 2006 là thiếu cácqui định đảm bảo việc bảo vệ rừng và môi trường Việc thiếu các qui định đảmbảo việc bảo vệ rừng thể hiện ở việc mở rộng diện rừng được tiếp cận, thay đổiviệc phân loại rừng, việc chuyển các loại rừng bảo vệ thành những rừng có thểkhai thác Một trong những điểm yếu của Bộ luật về rừng năm 2006 là khôngqui định các đảm bảo đối với quyền của những cộng đồng bản xứ được sử dụngrừng và tài nguyên của rừng Bộ luật cũng thiếu các qui định về cơ chế giảiquyết xung đột của những người sử dụng rừng
* Cơ quan quản lý và thực thi pháp luật về rừng
Rừng ở Liên bang Nga được quản lý bởi Cục quản lý rừng Liên bang Cụcquản lý rừng Liên bang quản lý 94% diện tích rừng của Nga, 6% còn lại do các
tổ chức nông nghiệp, Ủy ban bảo vệ môi trường và một số cơ quan nhà nướckhác Cục quản lý rừng Liên bang có chức năng kép trong lĩnh vực lâm nghiệp
là quản lý rừng và kinh doanh rừng Cơ quan này được giao quản lý toàn bộrừng của Liên bang và chịu trách đối với 20% khối lượng gỗ khai thác dưới mọihình thức Như vậy, với Bộ luật mới, Cục quản lý rừng liên bang chuyển từ chứcnăng quản lý sang việc vừa thực hiện chức năng quản lý vừa thực hiện việc khaithác Qui định của Bộ luật rừng dẫn tới nhiều hệ luy không tốt cho hoạt độngbảo vệ rừng và bị phê phán nhiều bởi các tổ chức bảo vệ môi trường trong vàngoài nước
Tuy nhiên, một phần diện tích rừng được quản lý bởi Cục quản lý rừngLiên bang được cho thuê Quan hệ thuê rừng bắt đầu được thực hiện những năm
90 Theo Bộ luật về rừng năm 2006 thì việc chính quyền các vùng được quyềnquyết định cho thuê rừng Những vùng được cho thuê bao gồm Xi bê ri, ViễnĐông, Ural, Arkhalgelsk, Vologda, Kostroma, Primorsk, và Khabarovsk Việccấp phép cho thuê được tiến hành thông qua đàm phán trực tiếp, đấu giá Việcđàm phán, đấu giá này trên thực tế nhiều khi không minh bạch dẫn đến những hệquả xấu cho việc bảo vệ rừng Hiện tại, những tổ chức và các nhân thuê rừngđịnh đoạt một khối lượng gỗ khai thác khoảng 85 triệu m3
5
Trang 6* Sở hữu rừng
Bộ luật rừng năm 2006 vẫn coi rừng là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nướcmặc dù khi soạn thảo Bộ luật này có không ít đề xuất tư nhân hóa rừng Đây làđiểm đáng lưu ý khi Hiến pháp Nga qui định rằng đất và các tài nguyên thiênnhiên khác có thể thuộc sở hữu tư nhân, Nhà nước, sở hữu của các đô thị và cáchình thức sở hữu khác2 Hiện tại, Ủy ban của Duma Nga về tài nguyên thiênnhiên đang dự thảo luật về bổ sung, sửa đổi Bộ luật rừng năm 2006 theo đó đấtrừng vẫn thuộc sở hữu Nhà nước nhưng thẩm quyền đối với việc quản lý gỗ trên
đó được giao cho chính quyền vùng Tuy nhiên, thời hạn cho thuê rừng trong Bộluật rừng năm 2006 đã được tăng lên 49 năm
Trước đây rừng của Liên bang Nga được phân làm 3 loại: Rừng dự trữ(reserved land), rừng khai thác và rừng sản xuất Hiện nay, theo Bộ luật rừngnăm 2006 thì rừng được chia thành 2 loại: rừng cấm và rừng thương mại Việcphân loại rừng nào thuộc rừng cấm và rừng nào là rừng thương mại thuộc thẩmquyền của chính quyền liên bang Bộ luật giao cho các cơ quan hành pháp của
83 chủ thể trong Liên bang các quyền chủ yếu về quản lý rừng, giao cho các chủthuê rừng trách nhiệm quản lý rừng thuê
* Quản lý rừng
Luật rừng của Liên bang Nga hướng tới việc duy trì và bảo vệ rừng thôngqua các giải pháp sau: giảm diện tích rừng bị tổn thất và bị chết; (ii) phân chiatrách nhiệm bảo tồn và bảo vệ rừng giữa Nhà nước và doanh nghiệp và côngchúng; (iii) phân định địa lý và phân chia rừng theo loại rừng và mức độ bảo tồn
và bảo vệ; (iv) hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Nhà nước với doanh nghiệptrong chống cháy rừng và bảo vệ rừng
Chính sách rừng liên quan đến tổ chức kinh tế lâm nghiệp được hoànthiện theo những giải pháp sau: (i) phát triển cơ chếquản lý thị trường trong lĩnhvực lâm nghiệp, trong bảo tồn và bảo vệ và phát triển rừng; (ii)hoàn thiện hệthống phí sử dụng rừng; (iii) tạo cơ chế tài chính rừng hiệu quả; (iv) tạo ranhững đầu tư đảm bảo cho việc bảo tồn, trẻ hóa nguồn tài nguyên rừng
Các hoạt động đầu từ được thức đẩy qua: (i) giảm tải các áp lực thuế đốivới những đầu từ chế biến gỗ hiện đại; (ii) và tách đầu từ cho người sử dụngrừng với các khoản chi trả cho sử dụ rừng
* Nguồn pháp luật về rừng
Bộ luật rừng năm 2006 qui định các chủ thể của Liên bang phải tuân theo
9 văn bản qui phạm pháp luật sau:
- Các trình tự và qui định về việc dân đốn gỗ phục vụ nhu cầu riêng của họ;
- Các trình tự cho việc dân khai thác ở rừng không có tài nguyên gỗ vìnhu cầu cá nhân của họ;
- Trình tự người dân khai thác thực phẩm rừng và hái lượm thảo dược
2 Hiến pháp Liên bang Nga, Điều 9.
Trang 7phục vụ nhu cầu riêng;
- Các nguyên tắc sử dụng rừng cho các cơ sở săn bắn;
- Mức thanh toán trên từng đơn vị khối lượng tài nguyên rừng và mứcthanh toán cho từng vùng rừng mà các chủ thể Liên bang sở hữu
- Các trường hợp khai thác gỗ dựa trên những hợp đồng mua bán gỗ cây;
- Mức thanh toán trên khối lượng gỗ khai thác trên đất thuộc sở hữu củachủ thể Liên bang;
- Mức thanh toán các hợp đồng mua bán gỗ cây phục vụ nhu cầu riêng;
- Trình tự giao kết hợp đồng mua bán gỗ cây
* Cơ quan quản lý rừng
Việc quản lý rừng ở Nga được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau: Sởhữu rừng thuộc Liên bang, quyền hạn quản lý rừng được phân bổ giữa cơ quanquản lý rừng Liên bang ở Trung ương, các chủ thể của Liên bang và các cơ quan
tự quản
Cơ quan quản lý rừng được tổ chức theo nhiều cấp Ở cấp trung ương,chức năng quản lý bảo gồm nhiệm vụ quản lý rừng và duy trì việc thực thi thốngnhất pháp luật bảo vệ rừng; giám sát chất lượng của việc chuyển giao quyền hạn,thống kê rừng, qui hoạch và thực hiện trợ cấp ở cấp chủ thể Liên bang, nhiệm
vụ quản lý rừng cũng tương tự Ở cấp thành phố thì chức năng chủ yếu là quản
lý rừng của thành phố Những người sử dụng rừng có trách nhiệm thực hiệncác giải pháp được xác định trong các qui hoạch rừng được thông qua Trongcác rừng cho thuê thì trách nhiệm quản lý rừng được chuyển giao từ cơ quanquản lý rừng sang cho người thuê rừng
B BRAZIL
Brazil là một trong những nước có diện tích rừng lớn trên thế giới với55,1 triệu ha, bao phủ 65% diện tích của nước này Brazil là nước có diện tíchrừng nhiệt đới lớn nhất thế giới, chiếm 30% diện tích rừng nhiệt đới của thế giới.Rừng ở Brazil rất giàu về đa dạng sinh học Cho đến trước những năm 1960,rừng ở Brazil hầu như không bị động đến Tuy nhiên, hiện nay, rừng Brazil đang
bị khai thác sát giới hạn cho phép Năm 1995, Brazil đã mất 29059 km2 rừng.Brazil là nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất Nam Mỹ Ngành lâm nghiệp của Brazil
là một trong những ngành đóng góp lớn cho thu nhập quốc dân của đất nướcnày Năm 1995, Brazil đã xuất khẩu được 3,2 tỷ đô la gỗ và sản phẩm lâmnghiệp Trước những nguy cơ của sự giảm sút diện tích và độ giàu có của rừng,Brazil đang tìm cách để quản lý và phát triển rừng một cách bền vững
Pháp luật về rừng của Brazil phát triển qua nhiều thời kỳ Văn bản phápluật hiện hành của Brazil vể rừng là Luật lâm nghiệp năm 1965 Những năm gânđây, đứng trước sự giảm sút về diện tích và chất lượng rừng, Brazil tìm cáchhoàn thiện pháp luật về rừng nhằm ngăn chặn tình trạng này Quốc hội Brazil
7
Trang 8năm 2012 đã thông qua Bộ luật lâm nghiệp Tuy nhiên, trước sự phản phê pháncủa nhiều tổ chức bảo vệ môi trường đối với nhiều điều khoản trong Bộ luật nàynên Tổng thống Brazil đã phủ quyết Bộ luật này.
Theo các qui đinh của Luật lâm nghiệp Brazil thì hoạt động quản lý, pháttriển rừng bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
a Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo vệ rừng của Brazil.
Pháp luật Brazil qui định các nguyên tắc cơ bản sau đây trong bảo vệ rừngđược thể hiện trong Bộ luật lâm nghiệp bao gồm:
- Duy trì sự cân bằng giữa nhu cầu môi sinh và các nhu cầu kinh tế xã hộicủa đất nước và của người dân;
- Khẳng định sự cam kết của Brazil bảo tồn rừng của mình
- Đảm bảo tầm quan trọng chiến lược của hoạt động nông nghiệp và củarừng cũng như các loại hình trồng trọt tự nhiên;
- Xác định rõ hành động của Chính phủ trong việc bảo vệ và sử dụng bềnvững rừng;
- Trách nhiệm liên đới của Liên bang, Bang và chính quyền địa phươngtrong việc bảo vệ rừng
- Thúc đẩy các nghiên cứu khoa học và công nghệ trong quản lý, bảo vệ
Việc Liên bang sở hữu tuyệt đại đa số diện tích rừng của đất nước chothấy vai trò của tài nguyên rừng ở Brazil rất lớn và việc quản lý thống nhấtnguồn tài nguyên này được đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quốc gia Bêncạnh đó, dù sở hữu tuyệt đại đa số diện tích rừng, coi đó là rừng quốc gia(Federal public forest), nhà nước liên bang vẫn tôn trọng vai trò của cộng đồng.Trong số 93% rừng quốc gia thì có 58% rừng cộng đồng
Trang 9rất rõ về mặt địa lý bao gồm cả các vùng rừng ven các khu dự trữ nước, dốc núi,các khu rừng ở bình độ cao, các mỏm núi Các vùng rừng được bảo tồn thườngtrực được thành lập hoàn toàn vì mục đích bảo tồn và phải được che phủ tựnhiên Các vùng dự trữ luật định không gắn với phân vùng địa lý và được thànhlập với mục tiêu tổng thể về bảo tồn đa dạng sinh học Các vùng dự trữ luật địnhđược xác định theo tỷ lệ của diện tích đất của các trang trại, của các chủ đất dochủ đất hoặc chủ trang trại đề xuất và được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnphê chuẩn Trong các vùng dự trữ luật định này thì những thảm thực vật tựnhiên phải được giữ nguyên, không được phá để lấy đất canh tác nôngnghiệphay sử dụng vào các mục đích khác Một số giá trị sản xuất nhất địnhđược khai thác song phải gắn với với việc bảo tồn thảm thực vật tự nhiên Nóitóm lại, bất cứ sự chặt phá cây cối trong các vùng này được phép thực hiện Cáckhu rừng dự trữ luật định nằm trong Vùng Amazon chiếm 80% đến 35% cácvùng đất của chủ trang trại hoặc chủ đất.
d Nội dung quản lý rừng
Quản lý rừng ở Brazil được thực hiện thông qua các công cụ sau:
- Đăng ký rừng Đăng ký rừng là hoạt động nhằm đảm bảo rằng khu rừng
đã được đăng ý sẽ được quản lý theo các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững.Đăng ký rừng áp dụng đối với cả rừng tự nhiên và rừng trồng Việc đăng kýrừng là tự nguyện và theo sáng kiến của các công ty, các chủ rừng Việc đăng kýrừng có mục tiêu đảm bảo sự cân bằng các lợi ích kinh tế, môi trường và xã hộitrong quản lý và phát triển rừng Đăng ký rừng được ở Brazil được bắt đầu tưnăm 1996 từ cố gắng thành lập Viện quản lý và đăng ký rừng (Forestmanagement and Certification – IMAFORA), Viện nghiên cứu công nghệ lâmnghiệp (Institute of Techonological Ressearch – IPT) và Hội Lâm sinh Brazil –Brazil Silviculture Society) Ba tổ chức này đã phối hợp xây dựng bộ tiêu chuẩnđăng ký rừng vào năm 2000 và là cơ sở cho việc đăng ký rừng ở Brazil từ đóđến nay
e Hệ thống cơ quan quản lý rừng
Pháp luật về rừng của Brazil bao gồm Luật và các qui chế ban hành theocác qui định của Luật Luật hiện hành là Luật lâm nghiệp 1965 Viện Môitrường và nguồn tài nguyên tái sinh thuộc Bộ Môi trường của của Brazil là cơquan thực thi pháp luật về rừng Viện Môi trường và các chương trình tái phụchồi nguồn tài nguyên thiên nhiên Brazil (Brazil Institute of Environment andRenewable Natural Resources – IBAMA) được trao quyền hạn thực thi phápluật môi trường Nhiều khía cạnh môi trường gắn với rừng với tư cách là nguồn
9
Trang 10tài nguyên thiên nhiên tái sinh nên IBAMA đảm nhiệm việc thực thi pháp luậtliên quan đến bảo vệ rừng
C INDONESIA
Indonesia trong những thập niên gần đây đặc biệt chú trọng đến quản lý
và bảo vệ rừng trước thực tế diện tích rừng của nước này giảm sút với tốc độcao Một trong những công cụ quan trọng và hiệu quả đối với việc bảo vệ vàphát triển rừng là hoàn thiện pháp luật Chính vì lý do đó năm 2006 Indonesia đãban hành Bộ luật Lâm nghiệp (Forestry Code) Bộ luật này qui định khá chi tiếtnội dung quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Nghiên cứu Bộ luật này cho thểnhận thấy một số điểm đáng chú ý sau:
Pháp luật về rừng ở Indonesia luôn tìm cách hướng tới hai tiền đề cơ bảnsau:
1.Việc điều chỉnh các vấn đề rừng phải rất chắc chắn và chính xác để đảmbảo thực hiện hiệu quả việc quản lý rừng
2 Pháp luật về rừng phải được thực thi với sự cam kết triệt để và kỷ luậtnhư là những tiền đề đảm bảo
Trên nền tảng của các tiền đề đó, Indonisia tiến hành hoàn thiện pháp luậtvới đảm bảo thực hiện tốt 4 thành tố sau của quản lý rừng: (i) Các qui chế pháp
lý về rừng và về lâm nghiệp; (ii) thiết chế và phát triển nguồn nhân lực; (iii)kiểm soát tại thực địa; (iv) và thực hiện đánh giá các chủ thể
Hoàn thiện qui chế pháplý về rừng và lâm nghiệp được coi là một yêu cầubức xúc của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý rừng Cũng giống như
ở Việt Nam, ở Indonesi, giữa Luật lâm nghiệp và các qui chế, giữa Luật lâmnghiệp với các Luật khác có những mâu thuẫn Chính những mâu thuẫn này ảnhhưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý rừng Năm 2006 Indonesia đã ban hành Bộluật về lâm nghiệp (Forestry Code) với một số nội dung cơ bản sau:
- Việc quản lý rừng cần hướng tới lợi ích tối đa của cộng đồng dựa trênnguyên tắc bình đẳng và bền vững thông qua những định hướng sau:
(i) Đảm bảo để rừng luôn luôn đủ và được phân bố đồng đều trên cácvùng;
(ii) Hợp lý hóa tính đa dạng về chức năng của rừng bao gồm chức năngbảo tồn, phòng hộ và sản xuất hướng tới sự cân bằng giữa lợi ích môi trường,kinh tế, văn hóa và xã hội;
(iii) Tăng cường khả năng giữ nước của các lưu vực (carrying capacity ofwatershed);
(iv) Hoàn thiện năng lực phát triển các tiềm năng và quyền hạn của cộngđồng thông qua các giải pháp công bằng, thân thiện với môi trường, mang tínhtham gia nhằm hình thành năng lực chịu chống chọi những thay đổi ngoại vi
(v) Đảm bảo việc phân bổ bền vững và công bằng lợi ích
Trang 11Theo Bộ luật Indonesia năm 2006, pháp luật trao quyền cho Chính phủkiểm soát rừng theo các phương thức sau:
(i) Cho phép Chính phủ điều chỉnh và tổ chức mọi vấn đề liên quan đếnrừng và sản phẩm rừng;
(ii) Quyết định các vùng đất là đất rừng hay không phải đất rừng;
(iii) Xác định và điều tiết các quan hệ giữa con người đối với rừng, điềuchỉnh các hành vi liên quan đến lâm nghiệp
Với cách tiếp cận trên, Bộ luật Lâm nghiệp Indonesia đã phân chia rừngthành ba loại:
(i) Rừng bảo tồn (conservation forest) Rừng bảo tổn được chia thành 3loại (1) vùng rừng dự trữ tự nhiên (nature reserve forest area); (2) vùng rừnggbảo tồn thiên nhiên (nature conservation forest area) và (3) các công viên sănbắn (hunting park)
Quản lý rừng theo Bộ luật Lâm nghiệp bao gồm các hoạt động sau:
(i) Qui hoạch rừng (forestry planning) Qui hoạch rừng có mục đích cungcấp các hướng dân vàđịnh hướng nhằm đạt mục tiêu quản lý rừng Qui hoạchrừng bao gồm các hoạt động sau: (1) kiểm kê rừng (forest inventory); (2) Công
bố vùng rừng (forest area gazettment) và (3) sử dụng đất rừng (forest area landuse); (4)thành lập thiết chế quản lý rừng theo khu vực (establishment of forestmanagement area) và (xây dựng qui hoạch rừng (preparation of forestry plans)
(ii) Quản lý rừng (Forest management) Quản lý rửng trong pháp luậtIndonesia bao gồm:
a Tổ chức quản lý và kế hoạch quản lý rừng
b Sử dụng rừng và sử dụng khu vực rừng
c Phục hồi và phân loại rừng
d Bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên
(iii) Nghiên cứu phát triển lâm nghiệp, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực (iv) Giám sát Hoạt động giám sát được qui định nhằm theo dõi, quan trắc
và đánh giá quản lý rừng nhằm đạt được mục tiêu tối đa trong quản lý rừng.Việc giám sát được thực hiện bởi cả chính quyền trung ương lẫn chính quyềnđịa phương Các cộng đồng được tham gia kiểm soát lâm nghiệp Việc giám sátđược phân cấp khá rõ trong Bộ luật lâm nghiệp 2006 theo đó Chính phủ cónghĩa vụ phải giám sát quản lý rừng do các cấp chính quyền địa phương thựchiện Chính phủ và chính quyền địa phương thực hiện giám sát đối với việc quản
lý, sử dụng rừng của các chủ thể thứ ba Chính phủ và các cộng động cùng giámsát việc thực hiện quản lý rừng có tác động quốc gia và quốc tế
Bộ luật lâm nghiệp năm 2006 qui định khá chi tiết các hành vi bị cấm3
Cụ thể:
3 Điều 50 Bộ luật lâm nghiệp 1999
11
Trang 121 Việc hủy hoại hạ tầng và các tiện nghi bảo vệ rừng bị nghiêm cấm.
2 Tất cả những người được cấp giấy phép đối với khu vực rừng, giấyphép sử dụng các dịch vụ môi trường rừng, quyền đối với gỗ và các sản phẩm
gỗ, quyền khai thác gỗ hay các sản phẩm gỗ không được phép tiến hành bất cứhoạt động nào gây tổn hại rừng
3 Không ai được:
a Canh tác và/hoặc sử dụng hay chiếm giữ trái phép diện tíchrừng;
b Xâm hại diện tích rừng;
c Đốn cây với đường kính và khoảng cách đến:
i 500 met từ mép hồ;
ii 200 từ mép nguồn nước và dọc theo triền sông trong vùngngập nước;
iii 100 mét dọc theo triền sông;
iv 50 mét dọc theo triền lạch
v 2 làn chiều sâu của khe suối từ triền suối;
vi 130 lần sự chênh lệch giữa mực thủy triều lên cao nhất vàthủy triều xuống thấp nhất dọc theo bờ biển
k Đưa vàokhu vực rừng những thiết bị thường dùng để chặt, cắt,
xẻ gỗ mà không có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền;
l Ném vào khu vực rừng những chất dễ cháy có thể gây cháy rừnghoặc gây hại đối với tính bền vững của chức năng của rừng;
m Dịch chuyển, chuyên chở các loại thực vật, động vật hoang dã
Trang 13dù chưa được pháp luật bảo vệ ra khỏi khu vực rừng nếu không
có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền
4 Những hoạt động chuyển dịch, vận chuyển, bốc xếp các loài động thựcvật hoang dã được pháp luật bảo vệ sẽ được điều chỉnh bởi các luật vàqui chế hiện hành
Bộ luật lâm nghiệp 2005 qui định các hình phạt và chế tài hành chính đốivới những vi phạm pháp luật về rừng4 Cụ thể như sau:
(i) Người nào cố tình hủy họai hạ tầng và các tiện nghi bảo vệ rừng, tiếnhành bất cứ hoạt động nào gây tổn hại rừng dù được cấp giấy phép đối với khuvực rừng, giấy phép sử dụng các dịch vụ môi trường rừng, quyền đối với gỗ vàcác sản phẩm gỗ, quyền khai thác gỗ hay các sản phẩm gỗ không được phép sẽ
bị tù đến 10 năm và bị phạt tiền đến 5 triệu rupi
(ii) Người nào cố ý đốt rừng sẽ bị phạt tù đến 15 năm và bị phạt tiền đến 5triệu rupi, nếu tác trách gây cháy rừng sẽ bị phạt tù đến 5 năm và phạt tiền đến1,5 tỷ rupi
(iii) Người nào cố tình chặt cây, hái lượm các sản phẩm rừng trong vùngrừng nếu không có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp, nhận, mua bán,đổi hoặc nhận ủy thác, giữ và chế biến bất cứ sản phẩm rừng nào được thuhoạch trái phép sẽ bị phạt tù đến 10 năm và phạt tiền đến 5 tỷ rupi
(iv) Người nào cố tình thực hiện khai thác mỏ lộ thiên trong các khu rừngcấm; thực hiện việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác mỏ trong các vùng rừng nếukhông có sự chấp thuận của Bộ lâm nghiệp sẽ bị phạt tủ đến 10 năm và phạt tiềnđến 5 tỷ rupi
(v) Người nào cố tình Vận chuyển, chiếm hữu hay giữ các sản phẩm rừngkhông có giấy xác nhận hợp pháp sẽ bị phạt tù đến 5 năm và phạt tiền đến 10 tỷrupi
(vi) Người nào cố tình Thả thả gia súc trong khu vực rừng mà cơ quan cóthẩm quyền không cho phép chăn thả gia súc sẽ bị phạt tù đến 3 tháng và phạttiền đến 10 triệu rupi
(vii) Người nào cố tình đưa vào khu vực rừng những thiết bị lớn hay cáccông cụ thường được dùng hoặc sẽ dùng để bốc dỡ những sản phẩm rừng nếukhông có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền sẽ bị phạt tù đến 5 năm vàphạt tiền đến 5 tỷ rupi
(vii) Người nào cố tình đưa vàokhu vực rừng những thiết bị thường dùng
để chặt, cắt, xẻ gỗ mà không có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền sẽ bịphạt tù đến 3 năm và phát tiến đến 1 tỷ rupi
(viii) Người nào cố tình vứt vào khu vực rừng những chất dễ cháy có thểgây cháy rừng hoặc gây hại đối với tính bền vững của chức năng của rừng sẽ bịphạt tù đến đến 3 năm và phạt tiền đến 1 tỷ rupi
4 Điều 78 Bộ luật Lâm nghiệp năm 1999
13
Trang 14(ix) Người nào cố tình dịch chuyển, chuyên chở các loại thực vật, độngvật hoang dã dù chưa được pháp luật bảo vệ ra khỏi khu vực rừng nếu không có
sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền sẽ bị phạt tù đến 1 năm và phát tiền đến
50 triệu rupi
Việc áp dụng những hình phạt trên không ảnh hưởng đến việc bồi thườngcho Nhà nước những thiệt hại liên quan đến việc khôi phục rừng và những chiphí khác có liên quan
Bộ luật lâm nghiệp 2006 qui định một số quyền của cộng đồng truyềnthống được pháp luật thừa nhận (customary law community) Cụ thể, các cộngđồng được hái lượm những sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu hàng ngày củacộng đồng; quản lý rừng phù hợp với tập quán pháp đang thịnh hành và khôngtrái với pháp luật; được quyền nâng cao phúc lợi cộng đồng
Một điểm đáng lưu ý trong pháp luật về rừng của Indonesia là việc quiđịnh về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý rừng5 Các qui định về vai tròcủa cộng đồng trong quản lý rừng là khá chi tiết Cụ thể, cộng đồng có thể:
a Sử dụng rừng và sản phẩm rừng phù hợp với luật và qui chế;
b Được thông báo về các qui hoạch rừng, kế hoạch phân bổ rừng, sửdụng rừng;
c Cung cập thông tin, đưa ra các kiến nghị về phát triển rừng
d Thực hiện việc giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp đối với việc pháttriển rừng
Một điểm nữa đáng lưu ý là pháp luật về rừng của Indonesia trao chokiểm lâm quyền được thực hiện việc điều tra truy tố hình sự Cụ thể Điều 77 Bộluật lâm nghiệp qui định: “Ngoài những nhân viên điều tra của Bộ cảnh sát củaCộng hòa Indonesia, những công chức dân sự có nhiệm vụ và trách nhiệm liênquan đến các vấn đề rừng được trao quyền hạn điều tra được qui định trong Bộluật Tố tụng hình sự” Quyền hạn này bao gồm
a Điều tra các báo cáo và thông tin về các tội phạm hình sự liênquan đến rừng, sản phẩm rừng;
b Thẩm vấn các đối tượng tình nghi phạm tội liên quan đến rừng vàsản phẩm rừng;
c Kiểm tra nhân thân của người xuất hiện trong rừng hoặc vùng rừng
do minh quản lý theo pháp luật;
d Tịch thu các bằng chứng về hành vi phạm tôi liên quan đến rừng,khu vực rừng và sản phẩm rừng;
e Yêu cầu cung cấp bằng chứng người hoặc tổ chức liên quan đếnhành vi phạm tội liên quan đến rừng, khu vực rừng và sản phẩmrừng;
5 Điều 68 Bộ luật Lâm nghiệp năm 1999
Trang 15f Bắt giữ những người bị tình nghi với sự phối hợp và giám sát củanhân viên điều tra của Bộ công an Indonesia phù hợp với các quiđịnh của Bộ luật tố tụng hình sự;
g Lập và ký các báo cáo chính thức
h Chấm dứt điều tra trong trường hợp không đủ bằng chứng về hành
vi phạm tội liên quan đến rừng, khu vực rừng và sản phẩm rừng
D THỤY ĐIỂN
Thụy Điển là nước có diện tích rừng chiếm 68.7% trên diện tích28,203,000 ha của nước này Trong số tổng diện tích rừng của Thụy Điển có9,3% (khoảng 2,609,000 ha) là rừng nguyên sinh và khoảng 3,613,000 ha rừngtrồng Thụy Điển đang chuyển sang các phương pháp quản lý rừng hướng tớiviệc nâng cao các qui trình tự nhiên, hướng tới việc sản sinh các kết cấu rừng tựnhiên thích hợp với môi trường, có lợi cho xã hội và có giá trị về kinh tế ThụyĐiển có trình độ bảo vệ và quản lý rừng cao và hiệu quả Gần 4 triệu ha đất rừngsản xuất được bảo vệ như là vườn quốc gia, khu dự trữ bảo tồn thiên nhiên
Pháp luật về bảo vệ rừng của Thụy Điển không có nhiều văn bản như ởViệt Nam Văn bản pháp luật hiện hành của Thụy Điển về rừng là Luật lâmnghiệp năm 1979 Đây là văn bản luật đầu tiên luật hóa tầm quan trong của bảotồn với các lợi ích công cộng khác Chính vì vậy, quản lý rừng ở Thụy Điểnbuộc phải đạt được nhiều mục tiêu khác nhau, thậm chí có khi còn mâu thuẫnnhau Luật lâm nghiệp năm 1979 chú trọng nhiều đến khai thác rừng với nhiềutiêu chí và qui định luật định cho việc khai thác gỗ, đặc biệt là triệt phá rừng(cleaning) Bên cạnh Luật lâm nghiệp năm 1979, nhiều vấn đề về liên quan đếnrừng ở khía cạnh đất nước, môi trường được điều chỉnh bởi Luật đất đai, Luậtmôi trường Luật Lâm nghiệp khi qui định những vấn đề này đều viện dẫn trựctiếp đến các điều cụ thể của Luật Đất đai, Luật môi trường Cụ thể, Điều 4(section 40 qui định rằng: Luật này cũng như các qui chế ban hành theo Luậtnày không áp dụng nếu như mâu thuẫn với Điều 11 Bộ luật Môi trường và cácqui chế ban hành theo qui định của Bộ luật này
* Sở hữu rừng
Theo pháp luật hiện hành của Thụy Điển thì rừng thuộc sở hữu của nhiềuchủ thể khác nhau Sở hữu rừng tư nhân ở Thụy Điển chiếm tỷ trọng lớn hơn sởhữu nhà nước Sở hữu tư nhân về rừng ở Thụy Điển chiếm 76% tổng diện rừng
ở nước này trong lúc sở hữu nhà nước chỉ chiếm 24% Trong sở hữu tư nhân vềrừng thì sở hữu cá thể chiếm 63%, sở hữu của doanh nghiệp và các tổ chứcchiếm 29%, sở hữu của cộng đồng bản xứ, của địa phương, của bộ lạc chiếm8% Tuy nhiên, dù trao cho cá nhân, tổ chức sở hữu rừng ở mức độ lớn như vậysong quyền quản lý công (public administration) thì do Nhà nước nắm giữ100%
Quản lý rừng của ở Thụy Điển được thực hiện hướng theo những mục tiêu
15
Trang 16chung mà Luật Lâm nghiệp của Thụy Điển qui định Hiện tại, quản lý rừnghướng theo các mục tiêu chính sau:
* Quản lý rừng
- Bảo tồn đa dạng sinh học được thực hiện thông qua các chính sách vàqui định cụ thể về khu bảo tồn và qui trình khai thác, sử dụng rừng Phần lớn cáckhu bảo tồn của Thụy Điển nằm ở phía Bắc Hiện tại ở Thụy Điển có 363000harừng thuộc vườn quốc gia 9national park), 5.529.000ha rừng thuộc khu dự trữthiên nhiên (nature reserve) Viện quản lý khai thác rừng được thực hiện chặtchẽ thực hiện qua xác nhận chủ rừng và việc khai thác Có quan thực hiện việcxác nhận này là Cục Hội đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council) và
hệ thống xác nhận rừng Thụy Điển (Swedish fication Scheme)
- Khai thác gỗ được tính toán rất kỹ lưỡng Thụy Điển tính toán lượng gỗkhai thác gỗ cho cả thế kỷ với sự phân đoạn cho từng thập kỷ Cụ thể, thế kỷXXI, Thụy Điển dự tính khai thác 3.200.000.000-3.400.000.000 m3 gỗ Thập kỷthứ nhất (2000-2009) khai thác 82-87 triệu m3, thập kỷ 2010-2019 khai thác 89-
98 triệu m3 Với những tính toán cụ thể và định hướng lâu dài, Thụy Điển sẽđảm bảo được việc khai thác gỗ song vẫn giữ gìn và duy trì độ che phủ củarừng
- Thu hồi carbon (carbon sequestration) Việc quản lý rừng ở Thụy Điểncũng đặt mục tiêu thu hồi và lưu giữ các bon ở các khu dự trữ nhằm giảm cácbon trong môi trường Mục tiêu này của quản lý rừng ở Thụy Điển đạt nhiềuthành cộng Cộng đồng Châu Âu đã cắt giảm chỉ tiêu phát thải khi carbon xuốngcòn 8% và với thực trạng hiện tại của mình Thụy Điển có thể tăng thêm 4% mứcphát thải khí các bon Chỉ tính đến năm 2000, rừng của Thụy Điển đã hấp thụđược 27,31 Mtonnes khí các bon
- Sản phẩm phi gỗ và giải trí Việc quản lý hướng tới sử dụng rừng đamục đích dẫn tới các qui định về quyền của người dân được tiếp cận rừng để thụhưởng một số sản phẩm rừng 100% rừng ở Thụy Điển được mở cửa cho dân háinấm, quả Việc hái nấm, lượm quả được coi là dạng hoạt động giải trí trongrừng
- Nuôi hươu Thụy Điển có khoảng 250.000 đến 300.000 cá thể tuần lộc.Tuần lộc sống thành đàn và cần diện tích rừng nhất định để duy trì môi trườngsống của tuần lộc Vì thế, mục tiêu của quản lý rừng ở Thụy Điển hướng tới cảviệc đảm bảo môi trường sống cho tuần lộc Pháp luật của Thụy Điển không chophép chủ rừng thay đổi phương thức sử dụng rừng, đất rừng có thể ảnh hưởngđến khả năng sinh sản của tuần lộc
Pháp luật về rừng của Thụy Điển qui định khá chi tiết về việc đốn gỗ(felling) Theo qui định của pháp luật thì việc đốn gỗ được thực hiện để thúc đẩyviệc trồng mới hoặc để phát triển những cây đang sống Để bảo vệ rừng non,Chính phủ hoặc cơ quan được chính phủ ủy quyền có thể ban hành các qui chế
để bảo vệ những cây đang sống trong một thời hạn nhất định cho đến thời điểm
có thể đốn