1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO Đánh giá tác động dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

34 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Đánh Giá Tác Động Dự Thảo Luật Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 499 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo này được thực hiện đối với dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV sau đây gọi tắt là dự thảo Luật và dựa trên cơ sở các phương án chính sách được thể... Báo cáo này sẽ được sử dụng nhằm lấy ý

Trang 1

CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do -Hạnh phúc

BÁO CÁO Đánh giá tác động dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa1

PHẦN 1 - ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CHÍNH

I BỐI CẢNH

Công tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam đã bắt đầu triển khai từ năm 2001 với sự ra đời của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV (đã được thay thế bởi Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ) Trên cơ sở này, nhiều kế hoạch, chương trình, dự án hỗ trợ DNNVV đã được ban hành và triển khai trong thời gian qua

Các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ DNNVV đã và đang từng bước đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức và sự quan tâm đối với công tác hỗ trợ phát triển DNNVV của các Bộ ngành, địa phương, tổ chức hiệp hội và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã hình thành được một đầu mối chính thức về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển DNNVV, tham gia tích cực vào các diễn đàn đa phương như Hợp tác Kinh

tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hợp tác Á-Âu (ASEM); với các tổ chức quốc tế và khu vực như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu

Á (ADB), Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v.

Theo yêu cầu tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008,

cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ “Tổ chức đánh giá tác động và xây dựng báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản Nội dung của báo cáo đánh giá tác động phải nêu rõ các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từng vấn đề đó; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh, chi phí, lợi ích của các giải pháp” (Điều 33) Luật cũng quy định rằng hồ sơ dự án, dự thảo gửi Chính phủ tham gia ý kiến bao gồm: a) Tờ trình về dự án, dự thảo; b) Dự thảo văn bản; c) Bản thuyết minh chi tiết về dự án, dự thảo và báo cáo đánh giá tác động của dự án, dự thảo.

Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 sẽ thay thế Luật

2008 từ ngày 1/7/2016 tới đây cũng quy định cơ quan, tổ chức có trách nhiệm

1 Báo cáo này đã được hoàn thiện, chỉnh lý trên cơ sở ý kiến góp ý của Ủy ban thường vụQuốc hội Khóa XIV tại Phiên họp thứ 4 ngày 06/10/2016

Trang 2

tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, cho ý kiến về dự

án luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới được đề xuất thì cơ quan đề xuất chính sách đó có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan,

tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh, giá tác động thủ tục hành chính; tác động về giới (nếu có) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, soạn thảo dự thảo báo cáo đánh giá tác động; lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo; tiếp thu, chỉnh lý dự thảo báo cáo (Điều 35).

Ngày 14/5/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Theo Nghị định này, tác động của chính sách được đánh giá gồm:

1 Tác động về kinh tế được đánh giá trên cơ sở phân tích chi phí và lợi ích đối với một hoặc một số nội dung về sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, môi trường đầu tư và kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tổ chức và

cá nhân, cơ cấu phát triển kinh tế của quốc gia hoặc địa phương, chi tiêu công, đầu tư công và các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế;

2 Tác động về xã hội của chính sách được đánh giá trên cơ sở phân tích,

dự báo tác động đối với một hoặc một số nội dung về dân số, việc làm, tài sản, sức khỏe, môi trường, y tế, giáo dục, đi lại, giảm nghèo, giá trị văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng, xã hội và các vấn đề khác có liên quan đến xã hội;

3 Tác động về giới của chính sách (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo các tác động kinh tế, xã hội liên quan đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới;

4 Tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo về sự cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý và chi phí tuân thủ của thủ tục hành chính để thực hiện chính sách;

5 Tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh giá trên cơ sở phân tích,

dự báo khả năng về thi hành và tuân thủ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, tác động đối với tổ chức bộ máy nhà nước, khả năng thi hành và tuân thủ của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế.

Báo cáo này được thực hiện đối với dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV (sau đây gọi tắt là dự thảo Luật) và dựa trên cơ sở các phương án chính sách được thể

Trang 3

hiện trong dự thảo Luật Báo cáo này sẽ được sử dụng nhằm lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo đánh giá tác động của chính sách và sẽ tiếp tục được hoàn thiện, chỉnh lý dựa trên cơ sở các ý kiến đóng góp đối với báo cáo và trên

cơ sở những phương án chính sách sẽ được điều chỉnh, bổ sung trong dự thảo Luật trong thời gian tới

Báo cáo này chủ yếu phân tích một cách khách quan, độc lập bằng các phương pháp định tính và định lượng về các tác động tích cực/lợi ích, các tác động tiêu cực/chi phí của các giải pháp chính sách được đưa ra dự thảo Luật

Các phân tích này cũng sẽ tiếp tục được hoàn thiện, bổ sung trong suốt quá trình tham vấn ý kiến (hội thảo, đóng góp ý kiến bằng văn bản, tọa đàm…) nhằm hỗ trợ cho việc tìm ra giải pháp chính sách phù hợp nhất sẽ được đưa vào

dự thảo Luật

II TÓM TẮT TỔNG HỢP NHỮNG TÁC ĐỘNG CHÍNH

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng” trong sự phát triển của đất nước Trong các

kỳ Đại hội trước và nhiều Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, Đảng ta

đã nhiều lần khẳng định kinh tế tư nhân là “một trong những động lực”; tuy nhiên, đây là lần đầu tiên kinh tế tư nhân được xác định là “là một động lực quan trọng của nền kinh tế.” Quan điểm này của Đại hội XII không chỉ là một sự xác nhận vai trò mới của kinh tế tư nhân, mà còn mở ra những cơ hội mới để thành phần kinh tế này phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm sắp tới.

1 Tác động kinh tế

Luật Hỗ trợ DNNVV là một trong những nỗ lực mới nhất nhằm triển khai định hướng này của Đảng Trong bối cảnh dư địa về các nguồn lực cho phát triển ngày càng hạn hẹp (nguồn vốn ODA đã giảm mạnh và trở lên đắt đỏ hơn, cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khu vực doanh nghiệp nhà nước ngày một thu hẹp…), việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển bền vững và khả năng thoát khỏi bẫy các nước có thu nhập trung bình của Việt Nam trong những thập niên tới.

Sau Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, Việt Nam sẽ có một văn bản luật dành cho DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế Đây là một thông điệp mạnh mẽ về việc phát triển các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp

tư nhân tại Việt Nam Trong bối cảnh các dư địa về nguồn lực cho phát triển kinh tế, việc phát triển DNNVV và các doanh nghiệp tư nhân nhằm tiếp tục giải phóng một nguồn lực vô cùng to lớn cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tới

Trang 4

Thứ nhất, cùng với những đột phá của Luật Doanh nghiệp và những cải cách của Luật Đầu tư, các nỗ lực về cải cách điều kiện kinh doanh, giấy phép con đang được Chính phủ tích cực thực hiện và các biện pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 19 (năm 2014, 2015 và 2016), Luật Hỗ trợ DNNVV sẽ có tác động tích cực tới mục tiêu đạt được 1 triệu doanh nghiệp đang thực sự hoạt động vào năm 2020.

Tính đến tháng 10/2016, Việt Nam có 590.000 doanh nghiệp đang hoạt động2 và đang thực hiện các nghĩa vụ thuế (trong tổng số 959.000 doanh nghiệp

đã đăng ký kinh doanh) Với mục tiêu sẽ có 1 triệu doanh nghiệp thực sự đi vào sản xuất kinh doanh và có thực hiện các nghĩa vụ về thuế vào năm 2020, sẽ có thêm 410.000 doanh nghiệp mới được thành lập và thực sự đi vào hoạt động trong vòng 4 năm tới Các doanh nghiệp này sẽ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất kinh tế qua chuyển dịch kinh tế ngành Với quy mô vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp hiện nay là 7.5 tỷ đồng/doanh nghiệp3 thì sẽ có có ít nhất 3.075 ngàn tỷ đồng (136.7 tỷ đô la Mỹ) được đưa vào đầu tư sản xuất kinh doanh4 Nếu con số này được hiện thực hóa trong 4 năm tới (tính đến năm 2020), mỗi năm sẽ có khoảng 34,17 tỷ đô la Mỹ được các doanh nghiệp trong nước đăng ký đưa vào sản xuất kinh doanh (chưa bao gồm con số tăng vốn của các doanh nghiệp hiện tại do các chính sách hỗ trợ DNNVV trở lên thuận lợi hơn) Con số này cao gấp 1,5 lần mức vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam năm 20155 và gấp hơn 2 lần vốn FDI thực hiện trong cùng năm Con số này càng có ý nghĩa hơn khi các nguồn lực cho phát triển từ nguồn vốn ODA ngày càng thu hẹp Nguồn nội lực quan trọng này, nếu được giải phóng, sẽ góp phần trực tiếp cho việc nâng cao năng lực sản xuất, khả năng cung ứng dịch vụ, đóng góp trực tiếp tạo ra sản lượng (yield) và GDP.

Đặc biệt, các doanh nghiệp mới thành lập này sẽ hoạt động chủ yếu trong các ngành chế biến, chế tạo, dịch vụ, công nghiệp… và do vậy sẽ góp phần quan trọng cho việc chuyển đổi cơ cấu ngành, dịch chuyển lực lượng sản xuất sang các ngành và lĩnh vực có hiệu suất sử dụng vốn, lao động, đất đai cao hơn Điều này sẽ đóng góp trực tiếp cho việc cải thiện nâng cao năng suất của Việt Nam và

hỗ trợ đắc lực cho quá trình chuyển đổi, tái cơ cấu nền kinh tế.

2 Theo điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng Cục Thống kê, năm 2014 Việt Nam có 388.000 DNNVV thực sự đang hoạt động Theo ước tính sơ bộ của Tổng Cục Thống kê và Tổng Cục Thuế, con số này tăng lên khoảng 480.000 tính đến giữa năm 2016

3 Theo số liệu mới nhất, tính đến tháng 9/2016 của Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh (Bộ KH&ĐT)

4 Quy mô vốn đăng ký trung bình của 1 doanh nghiệp hiện nay đạt khoảng 7,5 tỷ đồng (Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh, Bộ KH&ĐT, tháng 9/2016).

5 Trong năm 2015, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 24,1 tỷ đô la Mỹ (theo Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ KH&ĐT).

Trang 5

Với mức nộp ngân sách nhà nước (NSNN) của một DNNVV trung bình đạt khoảng 0,5 tỷ đồng/năm thì 410.000 doanh nghiệp mới thành lập và đi vào hoạt động sẽ hình thành một cơ sở nguồn thu thuê mới (tax base) mới vô cùng quan trọng với tiềm năng tạo thêm nguồn thu thuế khoảng 205.000 tỷ hay 51,2 nghìn tỷ mỗi năm (2,3 tỷ đô la Mỹ/năm) trong trung hạn, nếu chỉ lấy mức đóng góp của các DNNVV như hiện nay6 Đây là một tác động quan trọng của các chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV, đặc biệt là Luật Hỗ trợ DNNVV Dự kiến,

số DNNVV có hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp cũng sẽ tăng gấp đôi từ khoảng 52.000 doanh nghiệp hiện nay7 lên hơn 100.000 doanh nghiệp trong 10 năm tới Điều này sẽ góp phần quan trọng cho việc tăng cường tính kết nối giữa cộng đồng doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, giúp DNNVV trực tiếp nắm bắt các cơ hội kinh doanh từ AEC, TPP, EVFTA và các hiệp định thương mại khác mang lại.

Các nội dung hỗ trợ cơ bản được thiết kế trong dự thảo Luật sẽ hỗ trợ trực tiếp cho các DNNVV tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh Với quy định hỗ trợ về tiếp cận thị trường mua sắm công hàng hóa, dịch vụ sẽ mở rộng thị trường cho DNNVV với khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho các cơ quan Nhà nước trị giá xấp xỉ 21 tỷ đô la Mỹ8 Với áp dụng quy định về việc mua sắm công đối với DNNNVV như hiện tại trong dự thảo, đây sẽ là một sẽ là gói kích cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của DNNVV với tổng số tiền 4,2 tỷ đô la Mỹ Đây

là một con số hết sức có ý nghĩa đối với cộng đồng DNNVV tại Việt Nam Theo ước tính, sẽ có khoảng khoảng 40.000 DNNNV có cơ hội được cung cấp dịch

vụ, sản phẩm qua các hợp đồng mua sắm công Thực tế cho thấy, từ tháng 01/2015 đến nay, có khoảng 26.500 gói thầu xây lắp có giá không quá 5 tỷ đồng (chỉ dành cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tham gia đấu thầu) đăng tải thông báo mời thầu với tổng giá trị các gói thầu khoảng 444 nghìn tỷ đồng (ước tính khoảng 26.500 nhà thầu là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ trúng thầu với tổng giá trị hợp đồng vào khoảng 444 nghìn tỷ đồng).

Với các biện pháp tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng và từ các quỹ, các ngân hàng sẽ chú trọng nhiều hơn đối với khách hàng là các DNNVV và sẽ điều chỉnh các chính sách tín dụng, sản phẩm, dịch vụ phù hợp hơn với các DNNVV.

Ngoài ra, các khoảng 27.000 ha đất tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp sẽ được khuyến khích cho DNNVV thuê thông qua các hình thức ưu đãi đầu tư dành cho các nhà phát triển hạ tầng khu công nghiệp như quy định tại dự thảo Luật

6 Trong năm 2013, 359.700 DNNVV trong khu vực tư nhân nộp NSNN (dưới các hình thức như thuế các khoản phát sinh phải nộp trong năm) là 180,2 ngàn tỷ đồng Trung bình một DNNVV trong khu vực tư nhân nộp NSNN khoảng 0,5 tỷ đồng

7 Theo Tổng Cục Hải Quan (2015)

8 Theo ước tính của WB, tổng thị trường hàng hóa dịch vụ mua sắm công của Việt Nam hiện nay đạt khoảng 21 tỷ đô la Mỹ.

Trang 6

Đặc biệt, các biện pháp hỗ trợ cho các DNNVV như được xây dựng trong

dự thảo Luật sẽ góp phần giải quyết một tình trạng hết sức đáng quan tâm hiện nay, đó là khoảng cách ngày càng rộng giữa các doanh nghiệp đăng ký và các doanh nghiệp đang thực sự tồn tại Trong những năm vừa qua, khoảng cách giữa các doanh nghiệp đăng ký và doanh nghiệp thực sự đi vào hoạt động trong năm ngày một lớn Tính trung bình trong giai đoạn 2005-2013, chỉ có 45% doanh nghiệp đã đăng ký là thực sự đi vào hoạt động và vẫn duy trì được hoạt động Cá biệt, có những năm tỷ lệ giữa doanh nghiệp đi vào hoạt động so với doanh nghiệp đăng ký trong năm đạt tỷ lệ rất thấp, ví dụ như năm 2009 tỷ lệ này chỉ đạt 35.2% hoặc năm 2012 đạt 32.7% Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn 2005-2008 cho thấy, sự cần thiết phải có các hoạt động hỗ trợ nhằm nuôi dưỡng và hỗ trợ các doanh nghiệp đã đăng ký đi vào hoạt động và duy trì được các hoạt động một cách bền vững và có các đóng góp thực sự cho nền kinh tế và cho xã hội

Số lượng doanh nghiệp đăng ký so với doanh nghiệp thực sự hoạt động

đề để doanh nghiệp tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, đầu tư mới Qua đó, các biện pháp hỗ trợ về thuế như dự kiến trong dự thảo Luật sẽ góp phần giải quyết thực trạng đáng lo ngại hiện nay là quy mô doanh nghiệp quá nhỏ và thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô vừa

Trang 7

Một số chỉ số về DNNVV khu vực tư nhân của Việt Nam năm 2013

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê (2014)

2 Tác động xã hội

Hiện nay, lao động trong các DNNVV khu vực tư nhân trong nước đạt khoảng 7,1 triệu người9 Với giả định các DNNVV mới được thành lập và đi vào hoạt động trong giai đoạn tới tạo ra thêm khoảng 7 triệu việc làm mới Điều này

sẽ có ý nghĩa quan trọng về mặt xã hội do góp phần làm tăng độ che phủ bảo hiểm y tế từ 70 triệu người lên 78,2 triệu người (đạt độ bao phủ 85,5% so với mức 76,5% hiện nay) và tăng độ che phủ bảo hiểm xã hội lên 50% và độ che phủ bảo hiểm thất nghiệp lên 35% lực lượng lao động.

Với 8,5 triệu việc làm được tạo ra góp phần chuyển dịch hơn 7 triệu lao động từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp, dịch vụ Năng suất lao động tổng thể của nền kinh tế cũng sẽ được cải thiện đáng kể.

Với 1 triệu doanh nghiệp được thành lập và duy trì hoạt động, Việt Nam

sẽ hình thành hàng triệu chủ doanh nghiệp, nhà quản lý doanh nghiệp, nhà đầu

tư vào các doanh nghiệp… Điều này hỗ trợ cho việc hình thành một tầng lớp trung lưu tại Việt Nam Tầng lớp trung lưu này sẽ có mức chi tiêu và tiêu dùng cao hơn và góp phần trực tiếp cho việc mở rộng tiêu dùng, hỗ trợ cho phát triển kinh tế cũng như các mục tiêu về gắn kết xã hội

Bên cạnh đó, với thực tế hiện nay là thu nhập tại khu vực phi nông nghiệp cao gấp 3,2 lần khu vực nông nghiệp (4,8 triệu/năm so với 1,5 triệu/năm)10, tổng thu nhập tăng thêm của người dân nhờ quá trình chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp, nông nghiệp thuần túy sang khu vực doanh nghiệp trong 4 năm tới dự kiến là 22.400 tỷ đồng (1 tỷ đô la Mỹ) Điều này sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở mức 2,31% như hiện nay (Tổng Cục Thống kê, 2015)

9 Tổng Cục Thống kê, (2013)

10 Tổng Cục Thống kê (2013), Bộ LĐTBX (2014)

Trang 8

và hiện đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Điều này sẽ đặc biệt góp phần làm giảm tỷ lệ thiếu việc làm: 2,32% (2015) Việc làm và thu nhập được cải thiện sẽ góp phần giảm các tệ nạn xã hội, đóng góp vào ổn định

xã hội.

3 Tác động về chi phí

Các tác động về chi phí được dự báo dựa trên các giả định về phương án thực hiện và thiết kế của các chương trình hỗ trợ DNNVV như trong dự thảo Luật hiện tại Theo đó, dự kiến chi phí để thực hiện các nội dung hỗ trợ cơ bản

và chương trình hỗ trợ DNNVV trọng tâm dự kiến là 11.902 tỷ đồng, trong đó:

Đơn vị: tỷ đồng

 Quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo ở địa phương 2.079

 Hỗ trợ thuế TNDN (với giả định là thuế đối với DN nhỏ và vừa

thấp hơn 3% và doanh nghiệp siêu nhỏ thấp hơn 5% so với mức

thuế suất thuế TNDN hiện nay quy định tại Luật Thuế TNDN)12

7.546

 Chương trình Hỗ trợ DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh 105

 Chương trình hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 1.250

 Chương trình hỗ trợ DNNVV tham gia cụm liên kết ngành 67

Như vậy, tổng cộng chi phí để thực hiện ước tính từ NSNN khoảng 11.902 tỷ đồng Tuy nhiên, những lợi ích về phương diện kinh tế và xã hội như phân tích ở trên là vô cùng lớn Với các biện pháp và chương trình hỗ trợ này, ngay lập tức có khoảng 265.500 DNNVV được hưởng lợi qua các hình thức ưu đãi thuế13; khoảng 60.000 đến 70.000 hộ kinh doanh cá thể sẽ được hưởng lợi khi chuyển đổi sang doanh nghiệp theo hướng chính thức hóa; khoảng 7.546 tỷ đồng sẽ được các DNNVV bổ sung vào nguồn vốn chủ sở hữu, qua đó mở rộng quy mô doanh nghiệp, quy mô đầu tư và tạo thêm việc làm, giảm chi phí giá thành sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (chi tiết phân tích tại bảng dưới).

11 Cho tới nay đã có 21 Quỹ Bảo lãnh Tín dụng được thành lập tại 21 tỉnh, thành phố Giả định chỉ cần thành lập thêm tại 42 tỉnh còn lại Bên cạnh đó, Quỹ Phát triển DNNVV đã được thành lập, chi phí thực hiện cũng đã được tính toán và dự trù, do vậy chi phí cho việc thành lập Quỹ Phát triển DNNVV không được tính trong tác động của Luật này

12 Vào tháng 6/2016, Bộ Tài chính đã dự thảo Tờ trình Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 35/2016 của Chính phủ về một số giải pháp thuế nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DNNVV Theo đó, Bộ Tài chính dự kiến 2 phương án để xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2016) Cụ thể: phương án 1, áp dụng thuế suất phổ thông 17% từ 1/1/2016 đến hết năm

2020 cho DNNVV; Phương án 2, áp dụng thuế phổ thông 15% từ 1/1/2016 đến 2020 (thuế suất phổ thông hiện là 20%

13 Các biện pháp hỗ trợ giảm thuế thu nhập cho DNNVV sẽ mang lại lợi ích ngay và trực tiếp cho các doanh nghiệp đang làm ăn có lãi Theo điều tra tại Báo cáo DNNVV thường niên của VCCI, năm 2015 chỉ có 55% DNNVV đang làm ăn có lãi Số còn lại đang bị thua lỗ.

Trang 9

Việc bổ sung vốn chủ sở hữu này sẽ trực tiếp tạo ra nguồn thu cho NSNN khoảng 1.312 tỷ đồng ngay vào năm thứ hai sau khi chính sách giảm thuế được thực hiện (trên thực tế hiện nay, tại các doanh nghiệp đang làm ăn có lãi, cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu tăng thêm, sẽ tạo ra 0,25 đồng nộp cho NSNN) Điều này

sẽ làm giảm mức hụt thu NSNN do giảm thuế TNDN từ 7.546 tỷ đồng xuống còn 6.234 tỷ đồng vào năm thứ hai thực hiện giảm thuế TNDN

Ngoài ra, số lượng việc làm tạo ra từ số thuế được miễn giảm là 14.400 việc làm (tại các DNNVV của Việt Nam, mỗi 360 triệu đồng tăng thêm bằng nguồn vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra 1 việc làm) Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng độ bao phủ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

Đặc biệt, ưu đãi thuế này sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, gửi một thông điệp mạnh mẽ tới cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam để những người có ý định thành lập doanh nghiệp, khởi nghiệp sẽ tham gia thị trường, đăng ký doanh nghiệp, chuyển đổi hộ kinh doanh, cơ sở kinh tế cá thể đăng ký thành doanh nghiệp Qua đó, đạt được mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp thực sự đang hoạt động

và đang thực hiện nghĩa vụ thuế vào năm 2020 và tạo ra một nguồn thu thuế mới trong thời gian tới Về tổng thể, lợi ích từ nguồn thu thuế được tạo ra từ các doanh nghiệp mới này sẽ lớn hơn nhiều so với chi phí giảm thu từ giảm thuế Do vậy, khoản giảm thu NSNN này nên được coi là một khoản đầu tư của Nhà nước nhằm hỗ trợ và nuôi dưỡng nguồn thu trong tương lai, chứ không nên được coi

là chi phí.

Mức chi phí này chỉ tương ứng với khoảng 4% tổng thuế và cá khoản nộp NSNN mà các doanh nghiệp ở khu vực ngoài nhà nước đã thực đóng góp mỗi năm14 Việc đầu tư để nuôi dưỡng nguồn thu, mở rộng nguồn thu từ khu vực doanh nghiệp là hết sức cấn thiết

Các chi phí này cần phải được xem xét trên cơ sở cân nhắc và so sánh với khả năng các DNNVV, trong trung hạn, sẽ tăng phần đóng góp thêm cho NSNN mỗi năm khoảng 51,2 nghìn tỷ đồng (2,3 tỷ đô la Mỹ) mỗi năm (như phân tích ở trên) Trong trung hạn, phần chi phí và giảm thu của NSNN chỉ bằng 18% của phần thu NSNN dự kiến sẽ tăng thêm từ chính khu vực DNNVV này mỗi năm Lợi ích như vậy lớn hơn rất nhiều so với chi phí đầu tư bỏ ra

Các chi phí để thực hiện các chương trình hỗ trợ DNNVV trọng tâm là những khoản đầu tư để đạt được các lợi ích này Trong quá trình triển khai, các chương trình này sẽ được thực hiện trong từng điều kiện NSNN, với sự tham gia của khu vực tư nhân và do vậy, làm giảm nhẹ gánh nặng đối với NSNN Đặc biệt, các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hỗ trợ phát triển cụm liên kết ngành là những chương trình có tiềm năng lớn trong việc huy động nguồn vốn từ khu vực tư nhân và từ các nguồn vốn xã hội hóa khác

14 Trong năm 2014, thuế và các khoản đã nộp trong năm của khu vực Doanh nghiệp ngoài Nhà nước

là thuế và các khoản phát sinh phải nộp trong năm là 218.000 tỷ đồng (GSO, 2015)

Trang 10

PHẦN 2 - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHI TIẾT

Tác động kinh tế, lợi ích/chi phí và phân tích tác động xã hội, tác động về thủ tục hành chính của các phương án chính sách trong

TÁC ĐỘNG KINH TẾ

- Tổng dư nợ hiện tại của hệ thống ngân hàng cho nền kinh tế,

khoảng 3.970.550 tỷ đồng (tương đương khoảng 190 tỷ đô la Mỹ

-đầu năm 2015)

- Điều này sẽ khuyến khích các ngân hàng chú trọng hơn đến khác

hàng là các DNNVV và thực hiện điều chỉnh chính sách tín dụng,

điều chỉnh các sản phẩm vay vốn cho phù hợp với DNNVV, qua

đó đa dạng hóa hình thức cấp tín dụng, nâng cao dư nợ tín dụng

cho các DNNVV

- Dự thảo cũng quy định, trong từng thời kỳ, Chính phủ

sử dụng NSNN thực hiện cấp bù lãi suất và các hìnhthức khác để hỗ trợ các ngân hàng cho vay đối với cácDNNVV theo các nội dung hỗ trợ, chương trình hỗ trợDNNVV theo quy định của Luật này

- Trong trường hợp này, các chi phí có thể:

+ Tăng chi NSNN cho phần lãi được cấp bù qua lãisuất ngân hàng

+ Giảm chi NSNN cho các mục tiêu khác do phải dànhkhoản NSNN cho việc cấp bù lãi suất này

Trang 11

Tác động tích cực/lợi ích Tác động tiêu cực/chi phí

- Tác động về tạo việc làm bởi các doanh nghiệp nhỏ: theo ILO, WB

và một số tổ chức quốc tế khác, cứ 0,25 triệu đô la Mỹ tiền vốn

vay từ ngân hàng có thể tạo ra 1 việc làm tại khu vực DNNVV 19

tỷ đô la Mỹ đến với khu vực DNNVV sẽ hỗ trợ cho việc duy trì và

tạo mới khoảng 72.000 việc làm tại các DNNVV trên toàn quốc

- Tác động về tạo thu nhập: Với mức thu nhập khoảng 4 triệu

đồng/tháng, 230.000 việc làm này sẽ mang lại 912 tỷ đồng thu

nhập cho người lao động mỗi tháng, hay 11.000 tỷ đồng mỗi năm

- Tác động về nuôi dưỡng nguồn thu từ DNNVV: Với khả năng tiếp

cận tín dụng lớn hơn, khả năng sinh lời cao hơn và do vậy khả

năng nộp NSNN (thuế VAT, thuế TNDN và thuế thu nhập cá

nhân…)

Ngân hàng chú trọng hơn tới việc đa dạng hóa khách hàng, không

chỉ tập trung cho vay một nhóm đối tượng khác hàng mới Giảm và

đa dạng hóa rủi ro (ví dụ, những trường hợp cho vay một số doanh

nghiệp lớn minh chứng cho rủi ro này: Hoàng Anh Gia Lai,

Vinashin, Vinalines, cho vay doanh nghiệp làm BOT giao

thông…)

TÁC ĐỘNG XÃ HỘI

- Hình ảnh của các ngân hàng được cải thiện: Ngân hàng thân thiện

với DNNVV (ví dụ, VPBank hay Tiên Phong Bank đã thực

hiện…), mức độ rủi ro trong ngân hàng được phân tán…

- Doanh nghiệp khi phát triển đến một quy mô nhất địnhthành doanh nghiệp lớn có thể chia tách để được tiếptục hưởng các ưu đãi về tiếp cận tín dụng và vốn chỉdành cho DNNVV

Trang 12

Tác động tích cực/lợi ích Tác động tiêu cực/chi phí

TÁC ĐỘNG VÀ TƯƠNG THÍCH VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT/HIỆP ĐỊNH QUỐC TẾ/THÔNG LỆ QUỐC TẾ

- Phù hợp với các khuyến khích và định hướng của ngành ngân

hàng: cho vay DNNVV

- Hỗ trợ từ NSNN cho các ngân hàng để cho vayDNNVV: có nguy cơ bị bị kiện nếu vi phạm các quyđịnh về trợ cấp/hỗ trợ gián tiếp cho doanh nghiệp theocác điều ước quốc tế

Phương pháp nào:

- Sử dụng các hình thức hỗ trợ từ NSNN hoặc có thể xemxét trong từng thời kỳ, do Chính phủ quy định cụ thể vàđảm bảo các quy định về an toàn của hệ thống ngânhàng…

- Sử dụng các biện pháp giảm thuế: có tương thích vớicác quy định pháp luật hiện hành về thuế

Trang 13

2 VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH 2: “Hỗ trợ tiếp cận tín dụng từ các quỹ”

Mô tả tóm tắt:

Dự thảo Luật quy định: “Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận…” (khoản 2, Điều 10)

TÁC ĐỘNG KINH TẾ

- Theo quy định hiện hành, vốn điều lệ tối thiểu của mỗi Quỹ BLTD

là 30 tỷ đồng

- Khoảng 2/3 nguồn vốn đóng góp này là từ NSNN (1/3 còn lại là do

ngân hàng, hiệp hội doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp đóng góp)

- Nếu 42 tỉnh thành còn lại chưa thành lập quỹ và sẽ thành lập quỹ

trong thời gian tới, tổng số vốn điều lệ các quỹ sẽ đạt được 840 tỷ

đồng (tối thiểu)

- Theo quy định hiện hành, các quỹ có thể bảo lãnh cho vay gấp 5

lần vốn điều lệ của quỹ Giả định các quỹ chỉ bảo lãnh cho vay gấp

4 lần (80% mức pháp luật cho phép), tổng dư nợ cho vay DNNVV

được tiếp cận vay vốn sẽ đạt 7.560 tỷ đồng, một con số đáng kể đối

với các DNNVV

- Với dư nợ bình quân đối với 1 doanh nghiệp được bảo lãnh là 1,5

tỷ đồng (khảo sát tại Bắc Ninh, Vĩnh Phúc) sẽ có khoảng 5.040

DNNVV tiếp cận được vốn vay nhờ nguồn vốn vốn bảo lãnh

- Nếu 42 tỉnh thành còn lại chưa thành lập quỹ và khảnăng có thể thành lập quỹ trong thời gian tới Ngân sáchđịa phương phải dành riêng một khoản tiền là 840 tỷđồng (tối thiểu) để thành lập Quỹ

Trang 14

Tác động tích cực/lợi ích Tác động tiêu cực/chi phí

TÁC ĐỘNG XÃ HỘI

- Hình thành một hình thức mới, một cơ chế mới để tạo điều kiện

cho DNNVV tiếp cận vốn vay ngân hàng

Tác động về tạo việc làm bởi các doanh nghiệp nhỏ: theo ILO, WB

và một số tổ chức quốc tế, cứ 0,25 triệu đô la Mỹ tiền vốn vay từ

ngân hàng có thể tạo ra 1 việc làm tại khu vực DNNVV Tổng dư

nợ cho vay DNNVV được tiếp cận vay vốn nhờ hoạt động của các

Quỹ Bảo lãnh đạt 7.560 tỷ đồng (335 triệu đô la Mỹ) sẽ góp phần

duy trì hoặc tạo ra 1.340 việc làm mới tại các DNNVV vay vốn

nhờ hoạt động bảo lãnh của các Quỹ

TÁC ĐỘNG VÀ TƯƠNG THÍCH VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT/HIỆP ĐỊNH QUỐC TẾ/THÔNG LỆ QUỐC TẾ

- Phù hợp với các quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp và

thông lệ quốc tế

- Tuy nhiên, các quy định về cơ chế hoạt động hiện nay của Quỹ

BLTD cho DNNVV chưa phù hợp với thông lệ và cách làm quốc

tế (dự thảo Luật có thể cần quy định yêu cầu về việc tuân thủ các

nguyên tắc và thông lệ tốt về BLTD đối với DNNVV khi xây dựng

cơ chế hoạt động của Quỹ)

Trang 15

3 VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH 3: “Hỗ trợ tài chính”

Mô tả tóm tắt:

Dự thảo Luật quy định về hỗ trợ thuế TNDN cho DNNVV: a) Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa theo quy định của Luật này được ápdụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường áp dụng cho doanh nghiệp theo quy định tại LuậtThuế thu nhập doanh nghiệp; b) Doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của Luật này được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp thấp hơn mức thuế suất áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa

TÁC ĐỘNG KINH TẾ

Với giả định là thuế đối với DN nhỏ và vừa thấp hơn 3% và

doanh nghiệp siêu nhỏ thấp hơn 5% so với mức thuế suất thuế

TNDN hiện nay quy định tại Luật Thuế TNDN, các lợi ích cơ

bản sẽ như sau:

Với quy định này, và với giả với DN nhỏ và vừa thấphơn 3% và doanh nghiệp siêu nhỏ thấp hơn 5% so vớimức thuế suất thuế TNDN hiện nay quy định tại LuậtThuế TNDN, các chi phí cơ bản sẽ như sau:

- Ngân sách giảm thu: khoảng 7.546 tỷ đồng/năm đồngnghĩa với việc lợi nhuận DNNNVV được giữ lại (khôngphải đóng): khoảng 7.546 tỷ đồng/năm

- Mức hụt thu NSNN do chính sách giảm thuế này củaNSNN từ 7.546 tỷ đồng xuống còn 6.233 tỷ đồng vàonăm thứ hai của việc thực hiện chính sách giảm thuế dophần thuế giảm thu từ DNNVV sẽ được DNNVV bổsung vốn chủ sở hữu và tái đầu tư, mở rộng sản xuấtkinh doanh và tạo ra nguồn thu mới cho NSNN

Trang 16

Tác động tích cực/lợi ích Tác động tiêu cực/chi phí

- Khoảng 265.500 DNNVV sẽ lập tức được hưởng lợi từ quy định

này

- Mức tăng (%) vốn chủ sở hữu của DNNVV nhờ thực hiện giải

pháp chính sách này (tăng quy mô DNNVV) đạt khoảng 0.18% so

với hiện tại

- Điều này sẽ có tác động trực tiếp đối với doanh nghiệp Nó lập tức

tạo tiền đề tăng vốn chủ sở hữu của các DNNVV và là cơ sở cho

đầu tư mở rộng, tăng tổng tài sản, tăng quy mô Mức lợi nhuận

DNNVV có thể giữ lại là 7.546 tỷ đồng Góp phần cho quá trình

tăng trưởng và tích lũy vốn của doanh nghiệp Đây sẽ là nền tảng

cho mở rộng nguồn thu trong tương lai

- Chi phí vốn/lãi vay DNNVV có thể tiết kiệm được: 7.546 tỷ đồng/

năm và là cơ hội cho việc giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ qua đó

nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Việc bổ sung vốn chủ sở hữu này sẽ trực tiếp tạo ra nguồn thu cho

NSNN khoảng 1.312 tỷ đồng ngay vào năm thứ hai sau khi chính

sách giảm thuế được thực hiện (trên thực tế hiện này, tại các doanh

nghiệp đang làm ăn có lãi, cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu tăng thêm, sẽ

tạo ra 0,25 đồng nộp NSNN) Điều này sẽ làm giảm mức hụt thu

NSNN do chính sách giảm thuế này của NSNN từ 7.546 tỷ đồng

xuống còn 6.234 tỷ đồng vào năm thứ hai của việc thực hiện chính

sách giảm thuế

TÁC ĐỘNG XÃ HỘI

Trang 17

Tác động tích cực/lợi ích Tác động tiêu cực/chi phí

- Ngoài ra, số lượng việc làm tạo ra từ số thuế được miễn giảm là

14.400 (tại các DNNVV củ Việt Nam, mỗi 360 triệu đồng tăng

thêm bằng nguồn vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra 1 việc làm) Điều này có

ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng độ bao phủ về bảo hiểm xã

hội, bảo hiểm y tế…

- Việc mở rộng kinh doanh sẽ đóng góp cho tạo công ăn việc làm,

mở rộng sinh kế, tạo thu nhập cho người lao động

- DNNVV có thể tìm cách để chỉ giữ doanh nghiệp ởquy mô nhỏ và vừa để được hưởng lợi

- Việc thực hiện có thể không công bằng, phụ thuộc vàođịnh nghĩa về DNNVV (ví dụ, một số doanh nghiệp cóthể có doanh thu rất lớn do hoạt động trong lĩnh vựcthương mại, song thực chất vẫn là doanh nghiệp nhỏ vàvừa…)

Ngày đăng: 20/04/2021, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w