PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP THÁI NGUYÊNTRƯỜNG TIÊU HỌC TÍCH LƯƠNG II MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY CÁC DẠNG BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC TÍCH LƯƠNG II Đề
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG TIÊU HỌC TÍCH LƯƠNG II
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY CÁC DẠNG BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4
TRƯỜNG TIỂU HỌC TÍCH LƯƠNG II
Đề tài thuộc lĩnh vực : CHUYÊN MÔN - TIẾNG VIỆT
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
i
Trang 2MỤC LỤC
A NÊU VẤN ĐỀ……… …… Trang 1
I SỰ CẦN THIẾT TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI……… ……… Trang 1
II PHẠM VI NGHIÊN CỨU……… ……… Trang 1III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… ……… Trang 2
B NỘI DUNG……… ………… Trang 3
I THỰC TRẠNG DAY - HỌC CÁC DẠNG BÀI TẬP" LUYỆNTỪ VÀ CÂU"
CỦA LỚP 4A Trang 3
II CÁC PHƯƠNG PHÁP, GIẢI PHÁP DAY - HỌC CÁC DẠNG BÀI TẬP"
LUYỆN TỪ VÀ CÂU" CỦA LỚP 4 Trang 6III KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC. Trang 19
C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Trang 20
I KẾT LUẬN CHUNG………… Trang 20
II KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT……….………Trang 21
ii
Trang 3A NÊU VẤN ĐỀ
I SỰ CẦN THIẾT TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI.
Bậc tiểu học được coi là "Bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốcdân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ vàthể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diệnnhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa"
Đây là bậc học cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xãhội, trang bị các phương pháp, kĩ năng ban đầu về nhận thức và hoạt động thựctiễn Bồi dưỡng phát huy tình cảm, thói quen và đức tính tốt đẹp của con ngườiViệt Nam Các môn học ở Tiểu học có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ cho nhau.Cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt có vị trí rất quan trọng nó giúp học sinhhình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, nghe, đọc, nói, viết đểhọc tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việcdạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện nghiên cứu thao tác tư duy, cung cấp chohọc sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, con người, về văn hoá, vănhọc của Việt Nam và nước ngoài Đối với học sinh người Việt Tiếng việt làtiếng mẹ đẻ trước khi đến trường học sinh đã biết một số lượng từ, một số kiểucâu, một số quy tắc giao tiếp và đã sử dụng chúng trong giao tiếp ở mức độ tựgiác còn thấp Việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học cần khai thác vốn tiếng việt củacác em (không chỉ vốn từ, vốn câu mà cả vốn văn bản, vốn quy tắc giao tiếptrong khâu lựa chọn nội dung, tổ chức dạy và học để tránh sự nhàm chán, từngbước giúp học sinh ý thức hoá và hoàn thiện điều các em đã biết, cung cấp chohọc sinh những tri thức, kỹ năng mới một cách hữu hiệu Từ đó bồi dưỡng tình
yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
Vì những lý do trên tôi chọn đề tài: "Một số Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Tích Lương 2" làm đề tài nghiên cứu.
II PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1 Địa điểm nghiên cứu.
1
Trang 4Các giờ dạy tiết luyện từ và câu lớp 4A Trường Tiểu học Tích Lương thành phố Thái Nguyên
2-2 Thời gian, mục đích thực hiện.
Thời gian nghiên cứu là 1 năm học (từ ngày 06 tháng 9 năm 2013 đến ngày
30 tháng 4 năm 2014) trong thời gian trên tôi đã thông qua BGH nhà trường, cácgiáo viên trong trường đặc biệt là phụ huynh học sinh của lớp 4A để thu thập sốliệu và thống kê số liệu điều tra để hoàn chỉnh đề tài
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4A Trường Tiểu học Tích Lương 2Phạm vi nghiên cứu đề tài là tìm hiểu sự vận dụng hệ thống phương phápcủa giáo viên, là kết quả học luyện từ và câu của học sinh lớp 4A do tôi dạy.Trong quá trình giảng dạy tôi học hỏi kinh nghiệm của các bạn đồngnghiệp, kết hợp với dự giờ thăm lớp của tất cả các lớp (mỗi tuần 2 tiết trở lên)
đó là tiền đề giúp tôi nghiên cứu đề tài này
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu)
Trang 5B NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG DAY - HỌC CÁC DẠNG BÀI TẬP" LUYỆN TỪ VÀ CÂU" CỦA LỚP 4.
1 Đặc điểm tình hình chung của trường Tiểu học Tích Lương 2
Trường tiểu học Tích Lương 2 được tách ra từ trường cấp 1,2 Tích LươngPhong trào dạy tốt - học tốt sôi nổi và hiệu quả.Những năm gần đây nhà trường
đã có giáo viên dạy giỏi cấp Thành Phố và có học sinh giỏi các cấp Năm học2013-2014 trường có 114học sinh/ 5 lớp Có 13 cán bộ giáo viên trong đó Bangiám hiệu gồm 2 đồng chí Các đồng chí giáo viên đều đạt trình độ chuẩn và trênchuẩn Đa số nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, tay nghề vững vàng và rấtquan tâm đến học sinh
Tập thể giáo viên trong trường luôn đoàn kết giúp đỡ nhau trong mọi lĩnhvực Các đồng chí luôn có ý thức tu dưỡng đạo đức tự học, tự rèn luyện để hoànthiện mình Các em học sinh ngoan, lễ phép và sống rất tình cảm Tuy nhiên,phần đa các em học sinh đều là con nông thôn nên điều kiện kinh tế còn hạnhẹp.Việc học tập của các em chưa được gia đình quan tâm đúng mức
2 Một số đặc điểm chung của lớp 4A năm 2013 - 2014.
Tổng số học sinh lớp 4A: 19 em - Nữ: 6 em
- Số học sinh con hộ nghèo: 5 em
- 100% số học sinh trong lớp đều là con nông thôn nên việc đầu tư cho con
em mình học tập còn hạn chế ít quan tâm vì cha mẹ các em còn mải làm kinh tế Mặt khác phụ huynh thường chỉ quan tâm đến môn Toán và chữ viết ítquan tâm đến phân môn Luyện từ và câu
Với tình hình trên thì đề tài của tôi là thực sự mới đối với các em học sinh,với phụ huynh
3
Trang 63.Điều tra thực trạng dạy và học các dạng bài tập Luyện từ và câu lớp 4
a Đối với giáo viên.
Phân môn Luyện từ và câu tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để họcsinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản
về Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp Từ đó nâng cao các
kỹ năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh Giáo viên là một trong 3 nhân tố cầnđược xem xét của quá trình dạy học "Luyện từ và câu", là nhân tố quyết định sựthành công của quá trình dạy học này Khi nghiên cứu quá trình dạy hướng dẫnhọc sinh làm các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, tôi thấy thựctrạng của giáo viên như sau:
- Phân môn Luyện từ và câu là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫn họcsinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm lýgiáo viên ngại bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn
- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sáchgiáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh
TẬP THỂ LỚP 4ANĂM HỌC 2013-2014
4
Trang 7- Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từcho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt.
- Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mớiphương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này Đồng thời là tiền đềtrong việc phát triển bồi dưỡng những em có năng khiếu Nhưng kết quả giảngdạy và hiệu quả còn bộc lộ không ít những hạn chế
b Đối với học sinh.
Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân
môn Luyện từ và câu nên chưa dành thời gian thích đáng để học môn này
Học sinh không có hứng thú học phân môn này Các em đều cho đây làphân môn khó học…
Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó dẫn đến việcnhận diện phân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầmlẫn nhiều
Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏsót làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài
Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôichảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài khôngđạt yêu cầu Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụđộng và tỏ ra yếu kém thiếu chắc chắn
Do vậy ngay khi dạy tới phần từ ghép, từ láy Tôi đã tiến hành khảo sáthọc sinh lớp 4A bằng bài tập sau
Đề bài: Xác định từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau
Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhạn Rồi tre lớn lên cứng cáp dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người.
Điều đáng nói ở đây là có tới trên 50% số học sinh của lớp chưa biết xácđịnh từ ghép, từ láy, trong quá trình làm học sinh chưa biết trình bày khoa học rõràng, câu trả lời chưa đầy đủ
Qua giảng dạy tôi nhận thấy kết quả chưa cao là do nguyên nhân cả haiphía; Người dạy và người học Do vậy, tôi đã đặt ra cho mình mục tiêu: Phải
5
Trang 8trau dồi kiến thức tìm ra phương pháp đổi mới trong hướng dẫn giảng dạy đểkhắc phục thực trạng trên để kết quả dạy học được nâng lên, thu hút sự chú ýcủa học sinh vào hoạt động học
4 Sơ lược một số dạng bài tập Luyện từ và câu điển hình.
+ Phân tích cấu tạo của tiếng.
+ Tìm các từ ngữ nói về chủ đề.
+ Tìm lời khuyên trong các câu tục ngữ, ca dao.
+ Đặt dấu chấm phẩy vào đoạn văn cho phù hợp.
+ Tìm từ đơn, từ phức và đặt câu với từ tìm được
+ Tìm từ ghép, từ láy và đặt câu với từ đó.
+ Phân biệt động từ, danh từ, tính từ trong đoạn văn.
+ Phân biệt các kiểu câu chia theo mục đích nói, tác dụng của nó.
+ Viết thêm trạng ngữ cho câu
II CÁC PHƯƠNG PHÁP, GIẢI PHÁP DAY - HỌC CÁC DẠNG BÀI TẬP" LUYỆN TỪ VÀ CÂU" CỦA LỚP 4A
1 Phương pháp nghiên cứu.
Với đặc trưng của môn Luyện từ và câu cùng các mâu thuẫn giữa yêu cầu
của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy của giáoviên, việc học của học sinh trường tôi, đồng thời để củng cố nâng cao kiến thức,
kỹ năng làm các bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 Tôi đã nghiên cứu
và rút ra được nhiều kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp, trước hết tôiyêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau
1 Đọc thật kỹ đề bài.
2 Nắm chắc yêu cầu của đề bài Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho
và yếu tố phải tìm.
3 Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt từng yêu cầu của đề bài.
4 Kiểm tra đánh giá.
Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đưa ra từng bước hướng dẫn các phương pháp
rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu Muốn học sinh làm bài
6
Trang 9một cách có hiệu quả, trước hết các em phải nắm chắc kiến thức, vì đó là bướcquan trọng cho cả giáo viên và học sinh
Mỗi một dạng bài tập cụ thể, bài tập riêng đều có một hình thức tổ chứcriêng Có thể theo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân Song song vớicác hình thức đó là phương pháp hình thành giải quyết vấn đề cho học sinh Muốn làm được việc đó trước tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội
dung các chủ điểm mà phân môn Luyện từ và câu cần cung cấp.
- Qua các bài mở rộng vốn từ học sinh được:
Cung cấp thêm các từ ngữ mới theo chủ điểm hoặc nghĩa, các yếu tố hánviệt; rèn luyện khả năng huy động vốn từ theo chủ điểm; rèn luyện sử dụng từ,
sử dụng thành ngữ tục ngữ
- Thông qua các bài tập cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ học sinh được tìmhiểu về cấu tạo của tiếng, nhận diện được hiện tượng bắt đầu từ vấn đề trongthơ, tìm hiểu phương thức tạo từ mới để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp
Học sinh cần tìm hiểu được có 2 cách để tạo từ phức:
1 Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép
2 Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giốngnhau đó là từ láy
- Thông qua các bài tập về từ loại: Học sinh được cung cấp kiến thức sơgiản về danh từ, động từ, tính từ gắn bó với các tình huống sử dụng Cần lưu ý:
+ Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho.
+ Thêm vào các từ rất, quá, lắm vào trước hoặc sau tính từ.
+ Tạo ra phép so sánh.
- Thông qua các bài tập về câu, học sinh được rèn luyện năng lực sử dụngcác kiểu câu tuỳ theo nhu cầu, lĩnh vực giao tiếp
Ví du: Nhiều khi ta có thể sử dụng câu hỏi để thực hiện:
1 Thái độ khen, chê
2 Sự khẳng định, phủ định
3 Yêu cầu, mong muốn
7
Trang 10- Đặc biệt trú trọng đến việc dạy học sinh biết giữ phép lịch sự trong giaotiếp cụ thể: Khi hỏi chuyện người khác cần giữ phép lịch sự.
1 Khi yêu cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự
2 Muốn cho lời yêu cầu, được đề nghị lịch sự, cần có cách xưng hô chophù hợp và thêm vào trước hoặc sau động từ: Làm ơn, giùm, giúp
3 Có thể dùng câu hỏi, kiểu câu nếu yêu cầu đề nghị
2 Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh làm bài tập Luyện từ và câu.
Các kiểu hình thức và kĩ năng cần học trong phân môn Luyện từ và câuđược rèn luyện thông qua nhiều bài tập với các tình huống giao tiếp tự nhiên
a Đối với các dạng bài tập mở rộng vốn từ
Ví dụ: Tìm các từ ngữ:
- Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại
- Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương
- Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại
- Trái nghĩa với với đùm bọc hoặc giúp đỡ
Ngoài việc sử dụng hướng dẫn trong sách giáo khoa Giáo viên yêu cầu học
sinh làm việc theo nhóm (3 nhóm) Mỗi nhóm một yêu cầu, sau khi đại diện
nhóm trả lời cho học sinh làm việc ở lớp
8
Trang 11Nhóm 1 : Lòng thương người, đùm bọc, giúp đỡ
Nêu nghĩa của các từ em tìm được Các nhóm cùng bổ sung, giáo viên chốtlại ý kiến đúng
Liên hệ giữa tình huống học sinh đã làm được trong cuộc sống, quá trình học tập
b Rèn luyện kĩ năng cấu tạo từ dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy.
Ví du: Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây
GIỜ HỌC LUYỆN TỪ
VÀ CÂU LỚP 4A
9
Trang 12Từ bao giờ cũng có nghĩa vì nó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu.
Từ láy, từ ghép đều là từ có nghĩa Từ láy là phối hợp những tiếng có phụ
âm đầu vần (hoặc cả âm đầu và giống nhau) Ghép những tiếng có nghĩa lại vớinhau đó là từ ghép
Dựa vào cấu tạo trên mà học sinh có thể xác định từ ghép và từ láy
Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ:
+ Từ ghép: Cơn mưa, nhà cửa, bông hoa
+ Từ láy: Luộm thuộm, chăm chỉ
c Luyện tập các bài có dạng về tính từ, động từ, danh từ.
Trong đó chương trình sách giáo khoa cũng lựa chọn những tình huốnggiao tiếp gắn bó với cuộc sống gần gũi của học sinh
Ví dụ: Viết họ và tên 3 bạn nam, 3 bạn nữ trong lớp em Họ và tên các bạn
ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? Vì sao?
Với bài này tôi đã gợi ý cho học sinh: Xác định tên của bạn mình, viết, ghi
rõ họ, tên Lưu ý đó là danh từ chung hay danh từ riêng
Cho học sinh làm việc cá nhân, nêu miệng Phần học này học sinh thườnghay mắc lỗi ở vạch danh từ chung
Tôi yêu cầu các em nêu lại danh từ chung là gì? Dùng phép suyđể học sinh
áp dụng vào bài của mình
Ví dụ 2: Gạch dưới các động từ trong đoạn văn sau:
Yết Kiêu đến kinh đô yết kiến vua Trần Nhân Tông
Nhà vua: Trẫm cho nhà ngươi nhận một loại binh khí
10
Trang 13Yết Kiêu: Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt
Ví du 3: Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất được
gạch chân trong đoạn văn sau:
Hoa cà phê thơm đậm và ngọt lên mùi hương thường theo gió bay đi rất xa Nhà thơ Xuân Diệu chỉ có một lần đến đây ngắm nhìn của cà phê đã phải thốt lên
Hoa cà phê thơm lắm em ơi Hoa cùng một điệu với hoa nhài Trong ngà trắng ngọc, xinh và sáng.
Như miệng em cười đâu đây thôi.
Đây là bài tập để rèn luyện về tính từ và bài này hơi trừu tượng với học sinh Cho các em phân tích đề bài trước vì yêu cầu của bài không quen thuộc với
học sinh.
Tìm những từ biểu thị mức độ của đặc điểm tính chất của các từ gạch chân
cụ thể: Hoa cà phê thơm như thế nào? (thơm đậm và ngọt ) nên mùi hương bay
đi ra xa Lần lượt học sinh tìm (trả lời cá nhân theo phương pháp động não):
Thơm - lắmTrong - ngàTrắng - ngọcNhư vậy các em thấy quen thuộc với cách làm của bài này
d Củng cố khắc sâu mở rộng luyện các dạng bài tập về câu.
Với dạng bài này cũng được lựa chọn với thực tiễn sinh động hàng ngày đểhọc sinh biết đặt câu đúng, phù hợp với tình huống giao tiếp, đảm bảo lịch sựkhi đặt câu
11