1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHIA SẺ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ CHƯƠNG TRÌNHVỆ SINH TỔNG THỂ DO CỘNG ĐỒNG LÀM CHỦ Ở VIỆT NAM

35 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 263,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ CLTS là một phương pháp tiếp cận có sự tham gia nhằm đạt được và duy trì tình trạng chấm dứt triệt để đi tiêu bừa bãiđến cộng đồng tự quản lý được p

Trang 1

CHIA SẺ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ CHƯƠNG TRÌNH

VỆ SINH TỔNG THỂ DO CỘNG ĐỒNG LÀM CHỦ Ở VIỆT NAM

Tổ chức hội thảo: Phối hợp bởi Cục Quản lý môi trường Y tế (VIHEMA)

Quan hệ đối tác Cấp nước và VSMT nông thôn (RWSSP) Tầm nhìn Thế Giới (World Vision) Plan International tại Việt Nam

Đà Nẵng 23-24/08/2012

Trang 2

CHIA SẺ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ CHƯƠNG TRÌNH

VỆ SINH TỔNG THỂ DO CỘNG ĐỒNG LÀM CHỦ Ở VIỆT NAM

Giới thiệu hội thảo

Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ CLTS được xem là một cách tiếp cận mớitrong việc thúc đẩy vệ sinh môi trường nông thôn Nhiều quốc gia đã thúc đẩy thựchiện CLTS, và nhờ vào đó góp phần nhân rộng mô hình này trên phạm vi toàn cầucũng như tăng cường tính bền vững của kết quả đã đạt được Tại Việt Nam, CLTS

đã và đang được triển khai thực hiện ở 1 số tỉnh với sự hỗ trợ của các tổ chức phichính phủ Quốc tế, tổ chức phi chính phủ địa phương và các tổ chức đoàn thể Bêncạnh đó, Cục Quản lý Môi trường Y tế VIHEMA, Bộ Y tế dưới sự hợp tác vớiUNICEF cũng thực hiện Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ CLTS

Chương trình Nước sạch, vệ sinh và môi trường là một trong những chương trìnhnhận được sự ưu tiên của cả 2 tổ chức Tầm nhìn Thế Giới Quốc tế tại Việt Nam(WVV) và tổ chức Plan Quốc tế tại Việt Nam (Plan) WVV hỗ trợ thực hiện ở 13 tỉnhthành thông qua chương trình Phát triển khu vực, trong khi đó tổ chức Plan thựchiện tại 5 tỉnh thành thông qua 5 vùng dự án của tổ chức tại Viêt Nam WVV bắt đầuthực hiện CLTS từ năm 2011 với mục tiêu chính tiếp cận 27 thôn thuộc 3 xã của 3huyện: Yên Thủy (Hòa Bình), Như Xuân (Thanh Hóa), Tiên Lữ (Hưng Yên) Bêncạnh những vùng dự án mục tiêu như ở trên, một số huyện ở các tỉnh thành khácnhư: Hướng Hóa, Hải Lăng, Triệu Phong (Quảng Trị); Tủa Chùa (Điện Biên); LangChánh (Thanh Hóa); Trà My, Hiệp Đức, Nông Sơn (Quảng Nam) và Sơn Tây(Quảng Ngãi) cũng thực hiện CLTS

Plan bắt đầu thực hiện CLTS từ cuối năm 2010 Ban đầu, Plan thực hiện CLTS tại

22 thôn thuộc 14 xã ở Hà Giang, Quảng Bình, Quảng Trị và Kon Tum Sau đó,chương trình được mở rộng ra 29 xã thuộc 9 huyện (Xín Mần, Mèo Vạc, Yên Minh,Quảng Ninh, Hướng Hóa, DakRong, Sơn Hà, Ba Tơ và Kon Plong) của 4 tỉnh trên

và tỉnh Quảng Ngãi Tính đến nay, 151 thôn đã được kích hoạt, trong đó 38 thôn đãđạt thôn Chấm dứt tình trạng đi tiêu tự do

WVV và Plan triển khai thực hiện Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ trên cơ sởhợp tác chặt chẽ với cộng đồng và chính quyền địa phương Bên cạnh đó, WVV vàPlan cũng quan tâm đến việc hướng dẫn tập huấn CLTS cho hỗ trợ viên cũng nhưphát triển các tài liệu hướng dẫn CLTS cho đối tác

WVV và Plan cam kết tiếp tục thực hiện Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ ởViệt Nam WVV và Plan phối hợp với Cục Quản lý Môi trường Y tế/Bộ Y tế và Quan

hệ đối tác Cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức hội thảo chia sẻ kinhnghiệm, đóng góp đề xuất kiến nghị để thúc đẩy chất lượng thực hiện chương trình,đảm bảo tính bền vững của giai đoạn hậu ODF (Chấm dứt tình trạng đi tiêu tự do)

và nhân rộng mô hình CLTS trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Trang 3

Kết quả mong đợi qua hội thảo: 1) Chia sẻ, phân tích và tài liệu hóa những thànhtựu đạt được (tiến độ thực hiện), thách thức và bài học kinh nghiệm; 2) Xây dựng vàthống nhất tiêu chuẩn cơ bản trong việc thực hiện và đảm bảo chất lượng CLTS, 3)Các đề xuất chính để nhân rộng mô hình CLTS, thông qua đó góp phần đạt đượcChương trình mục tiêu Quốc Gia giai đoạn 3.

Sau 2 ngày hội thảo với hơn 60 đại biểu bao gồm cán bộ dự án (thực hiện CLTS)của WVV và Plan và các bên liên quan (đối tác cấp tỉnh, huyện, xã) Đại diện củacác cơ quan Chính phủ như Cục Quản lý Môi trường Y tế, Trung tâm Nước sạch Vệsinh môi trường Quốc Gia, Văn phòng Chương trình mục tiêu Quôc gia về NSVSMT

và Quan hệ đối tác Cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đã chia sẻ kinhnghiệm, thảo luận tích cực và hiệu quả Kết quả như sau:

1 CLTS tại Việt Nam

Tại Việt Nam, từ năm 2009 Bộ Y tế, UNICEF, SNV đã thực hiện thí điểm CLTS trực

tiếp tại cộng đồng thuộc các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Kon Tum, NinhThuận, An Giang và Đồng Tháp Năm 2010, Child Fund, Plan International, CWS đãthực hiện mô hình CLTS tại các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Quảng Bình, Kon Tum,Mường Tè -Lai Châu Năm 2011 Tổ chức Tầm nhìn thế giới, Plan International,SNV, EMW, Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam đã thực hiện mô hình này tại các tỉnhHòa Bình, Thanh Hóa, Hưng Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An Trong năm

2011 Bộ Y tế, UNICEF đã tổ chức tập huấn về CLTS cho cán bộ Trung tâm Y tế dựphòng thuộc 30 tỉnh ở 3 miền: Bắc, Trung, Nam Năm 2012 mô hình CLTS được các

tổ chức mở rộng thực hiện tại Gia Lai, Ninh Bình, Hải Dương, Trà Vinh, Bến Tre,Sơn la, lạng Sơn… Sau gần 3 năm thực hiện kết quả thu được từ việc triển khai môhình CLTS đã cho thấy đây là một phương pháp tiếp cận tốt, có khả năng áp dụngtại cộng đồng khác nhau kể cả ở các vùng sâu, vùng xa và các vùng đồng bằngven biển

Vệ sinh tổng thể với mục tiêu đầu tiên là ODF tiến đến sử dụng nhà tiêu hợp vệ

sinh, Quản lý phân gia súc, rác và hành vi vệ sinh một cách bền vững Cộng đồng

làm chủ khi cộng đồng đó tự xác định những khó khăn, vấn đề, cùng nhau bàn

cách giải quyết, lập kế hoạch và thực hiện bao gồm việc phân công và huy độngnguồn lực trong và ngoài cộng đồng Cộng đồng cũng tự giám sát hoạt động, tựđánh giá để rút ra những bài học sẵn sàng giải quyết những vấn đề tiếp theo

Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ (CLTS) là một phương pháp tiếp cận có

sự tham gia nhằm đạt được và duy trì tình trạng chấm dứt triệt để đi tiêu bừa bãiđến cộng đồng tự quản lý được phân người và cuối cùng là vệ sinh môi trường bềnvững thông qua việc hướng dẫn cộng đồng phân tích thực trạng vệ sinh, thói quen

đi vệ sinh và hậu quả của nó Không giống các cách tiếp cận khác trợ cấp bằng tiềnmặt hay vật tư cho hộ gia đình và tập trung vào xây dựng nhà vệ sinh, CLTS tậptrung vào động cơ thay đổi hành vi vệ sinh của cộng đồng Vì vậy CLTS là giải phápphù hợp trong điều kiện khó khăn về ngân sách, nguồn lực từ phía Chính phủ

Trang 4

Điểm khác biệt của mô hình CLTS chính là chú ý đến các động lực thay đổi Đó là

những yếu tố nội tại bên trong mỗi cá nhân, cộng đồng nếu được đánh thức, giảiphóng thì sẽ dẫn đến sự thay đổi về nhận thức và hành vi Một người chỉ có thể thayđổi một cách bền vững khi họ có nhu cầu thay đổi hoặc thực sự mong muốn thayđổi Vì vậy mục tiêu của CLTS là việc kích hoạt, giải phóng những động lực có sẵntrong mỗi cá nhân, mỗi tập thể Tập hợp những động lực dẫn đến sự thay đổi trongnhận thức và hành vi vệ sinh có thể là: sự lo sợ, xấu hổ, kinh tởm, sự riêng tư haydanh dự đối với cá nhân, ô nhiếm môi trường, sức khỏe cộng đồng, thiệt hại kinh tếđối với cá nhân, tập thể hay cộng đồng

Các nguyên tắc Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ bao gồm: Bắt đầu từ

hành vi chấm dứt triệt để đi tiêu bừa bãi đến cộng đồng tự quản lý được phânngười; Tin tưởng và tạo mọi cơ hội để người dân tham gia vào chương trình; Tậptrung vào hỗ trợ người dân thay đổi hành vi vệ sinh hơn là hỗ trợ làm nhà tiêu.Người dân tự quyết định về loại hình và nguyên vật liệu và cách làm nhà tiêu phùhợp trên cơ sở các thông tin được cung cấp; Tập trung vào trao thưởng tôn vinhhơn là cung cấp trợ cấp bằng hiện vật trực tiếp; Nguồn lực của cộng đồng là chủyếu trong việc thực hiện mô hình CLTS công nhận mọi sự tiến bộ trong quá trìnhthay đổi nhận thức và hành vi dù là nhỏ nhất Lấy trẻ em làm trung tâm của chươngtrình, khuyến khích sự tham gia của trẻ em, giảm thiểu nguy cơ ảnh hưởng đến sứckhỏe và đảm bảo sự an toàn cho trẻ em Đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa chínhquyền địa phương với các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức dân sự và các bên liênquan Không cam kết, không hỗ trợ để làm nhà tiêu

Mục đích của mô hình CLTS trên phạm vi cả nước là hướng tới việc thay đổi nhận

thức, hành vi vệ sinh của người dân từ việc xóa bỏ hoàn toàn đi tiêu bừa bãi đếnviệc quản lý được phân người trong cộng đồng, tăng tỷ hộ gia đình có và sử dụngnhà tiêu hợp vệ sinh Trên cơ sở đó cải thiện tình hình vệ sinh môi trường của cáccộng đồng một cách bền vững, góp phần đạt được mục tiêu của Chương trình Mụctiêu quốc gia về Nước sạch và vệ sinh môi trường giai đoạn 2012-2016

CLTS là mô hình hiệu quả Mục đích là tạo cầu vì vậy tạo ra được sự bền vững.

Trong thời gian qua, CLTS đã góp phần tăng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh (NTHVS)nhờ vậy giảm được các dịch bệnh và góp phần tăng thêm sức khỏe cho người dân

2 Tại sao chọn lựa CLTS ?

2.1 Chương trình về Vệ sinh thành công nhất về mặt giá trị so với kinh phí.

CLTS là chương trình về Vệ sinh thành công nhất về mặt giá trị so với kinh phí Vìtiết kiệm hơn so với các chương trình trợ cấp xây nhà tiêu; Nhấn mạnh vào việc tạo

ra nhu cầu vệ sinh; Phương pháp hiệu quả làm thay đổi thái độ và hành vi; Thay đổibền vững (động lực và quyết định thay đổi được tạo ra bởi người dân, vượt ra ngoài

khuôn khổ của chương trình) Báo cáo của SNV

Trang 5

2.2 Sự phù hợp với năng lực của cán bộ thôn, xã Chúng tôi lựa chọn CLTS

vì: (i) Phù hợp với vùng dự án là vùng núi có kinh tế thấp; (ii) Ít tốn kém và dễ thực

hiện, người dân có nhiều sự lựa chọn tùy theo điều kiện kinh tế.(iii) Phương phápthực hiện đơn giản và có sự tham gia của người dân.(iv) Đội ngũ y tế thôn bản, thôntrưởng nếu được tập huấn và hướng dẫn cụ thể sẽ triển khai tốt

Ví dụ: Sau khi tổ chức thực hiện từ tháng 8/2011 đến 4/2012 tại 8 thôn/7 xã vùng dự

án, với số hộ tham gia là 430, hiện đã có 200 hộ làm nhà vệ sinh Báo cáo của Huyện Sơn Tây, Tỉnh Quảng Ngãi.

2.3 Sự hạn chế của các phương pháp truyền thông VSMT hiện có Chất

lượng truyền thông VSMT còn hạn chế: Người truyền thông chỉ áp dụng truyềnthông theo lý thuyết về vệ sinh môi trường, không có những dụng cụ trực quan đểngười dân nắm bắt, chưa có một thực hành thực tế về con đường lây bệnh củaphân người để người dân hiểu và nhớ lâu hơn CLTS là phương pháp có thể giúp

người truyền thông giải quyết vấn đề trên Báo cáo của Xã Trà Nú, Trà My, Quảng Nam

2.4 Sức ép mục tiêu, kinh phí hỗ trợ lớn nhưng tỷ lệ hộ dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tăng chậm là nguyên nhân tìm đến CLTS “Huyện có đề án

100% người dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, chỉ đạo 100% đảng viên phải xâydựng NVS, đó cũng là một mục tiêu mà chúng tôi cần thực hiện Hiện tại tỉ lệ ngườidân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 62.13% Tỉ lệ tăng hằng năm rất thấp (2.13%),

để đạt được chỉ tiêu 100% người dân có hố xí hợp vệ sinh phải mất gần 20 năm.Ngân sách để thực hiện: 8,5 tỉ đồng (với mức hỗ trợ 1 triệu đồng/ hộ) Để thực hiệncác chương trình mục tiêu chỉ có một cách đó là: Huy động sự tham gia của cộngđồng và các thành phần xã hội và CLTS chính là cách mà chúng tôi lựa chọn để

thực hiện.” Ông Nguyễn Phúc Luy, huyện Hải Lăng

2.5 Sự kém hiệu quả của các chương trình hỗ trợ Nhiều chương trình, dự án

đã hỗ trợ nhưng sau nhiều năm tỷ lệ hộ dân có nhà tiêu vẫn rất thấp toàn xã mới có12/689 hộ gia đình có nhà tiêu Như vậy việc hỗ trợ chưa mang lại hiệu quả Để cảithiện tình hình phải tìm đến cách tiếp cận khác Và đó là nguyên nhân thực hiện

CLTS Báo cáo của xã Bình Lương, Huyện Như Xuân, Tỉnh Thanh Hóa.

Trang 6

Được chấp nhận và nhanh chóng mở rộng phạm vi, địa bàn thực hiện Theo

Báo cáo kết quả của Tỉnh Điện Biên Tháng 7/2009 Điện Biên triển khai thí điểm

CLTS tại 15 thôn bản/2 xã Nà Tấu - Điện Biên và xã Quài Cang - Tuần Giáo Năm

2010 triển khai nhân rộng thêm 167 thôn bản/15 xã, trong đó huyện Mường Ảngtriển khai 10/10 xã Năm 2011 tiếp tục triển khai tại 54 thôn bản/5 xã Đến nay tỉnhĐiện Biên đã và đang triển khai CLTS tại 236 thôn bản/22 xã/5 huyện Kết quả tạicác xã thực hiện CLTS:

Năm 2009: Hộ có nhà tiêu trước kích hoạt từ 24,9% tăng lên 82,6% sau khi kích

hoạt Trong đó hộ có NTHVS tăng từ 10,4% lên 61,2%;

Năm 2010: Hộ có nhà tiêu trước kích hoạt từ 43,4% tăng lên 63,4% sau khi kích

hoạt Trong đó hộ có NTHVS tăng từ 10,6% lên 58,6%

Năm 2011: Hộ có nhà tiêu trước kích hoạt từ 30,2% tăng lên 82,0% sau khi kích

hoạt Trong đó hộ có NTHVS tăng từ 8,5%- lên 76,3%

Theo báo cáo của Plan Inernational Việt Nam Kể từ tháng 9 năm 2010, Chương

trình WASH của Plan Việt Nam đã triển khai thực hiện mô hình Vệ sinh tổng thể docộng đồng làm chủ tại 14 xã, 22 thôn của Hà Giang, Quảng Bình, Quảng Tri và KonTum Năm 2011, chương trình đã được mở rộng ra 29 xã ở 9 huyện (Xín Mần, MèoVạc, Yên Minh, Quảng Ninh, Hướng Hóa, Dak Rông, Sơn Hà, Ba Tơ và Kon Plong)thuộc 5 tỉnh (Hà Giang, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi và Kon Tum) Cho đếnnay đã kích hoạt được 151 thôn với sự tham gia của 13.950 hộ Đã có 38 thôn đạtODF

3.2 CLTS ĐÓNG GÓP VÀO KẾT QUẢ CỦA NTP III

3.2.1 Nhanh chóng chấm dứt tình trạng đi tiêu bừa bãi, đạt tiêu chí ODF

Huyện Hướng Hóa đã thực hiện kích hoạt 32 thôn/4 xã (Húc, Thanh, A Xing, Xy)

đến nay có 70% số hộ gia đình từ tình trạng không có nhà tiêu đã tự làm nhà tiêu để

sử dụng Số thôn đạt tiêu chí ODF gồm 8 thôn/3 xã, đã được trao Giấy chứng nhận

cho các tập thể đạt tiêu chí ODF ngày 7/6/2012 Báo cáo của huyện Hướng Hóa,

Tỉnh Quảng Trị.

Trang 7

Xã Húc, Hướng Hóa là xã kinh tế gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao (chiếm

61,6%) Người dân chưa quan tâm đến sức khỏe của bản thân, gia đình và cộngđồng, đến vấn đề nước sạch-vệ sinh môi trường, thói quen phóng uế bừa bãi rấtphổ biến Đây chính là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng tới sức khỏe,đời sống kinh tế của người dân trên địa bàn xã 34 cán bộ xã, thôn tham gia tậphuấn phương pháp "Vệ sinh tổng thể do cộng đồng quản lý - CLTS" trong đó có 18nam, 16 nữ (gồm Y tế xã, y tế thôn, phụ nữ thôn, trưởng thôn và giáo viên) Có20/34 người đã được tập huấn có khả năng tiến hành các buổi kích hoạt tại thôn.09/09 thôn đã được kích hoạt CLTS Có 45 trẻ em tham gia vào quá trình thực hiệnCLTS Có 02/09 thôn đã đạt tiêu chí ODF Thôn Ta Ry 1 đã đạt tiêu chí ODF trong 3

tháng và hơn 5 tháng sau, thôn Húc Ván đã đạt được tiêu chí ODF Báo cáo của Xã Húc, Hướng Hóa, Quảng Trị

Xã Trường Sơn, Phương pháp CLTS đã được Plan Quảng Bình hỗ trợ áp dụng từ

tháng 9 năm 2011 trên địa bàn xã 70 cộng tác viên cấp thôn bản đã được tập huấn

CLTS trong đó 33 nữ Trước khi kích hoạt toàn xã có 471 nhà vệ sinh Sau một nămtriển khai hoạt động đến nay đã có 636 nhà vệ sinh, tăng 165 nhà so với đầu năm.Tính từ thời điểm kích hoạt tháng 1/2012 cho 14 thôn đến thời điểm kiểm tra tìnhtrạng vệ sinh thôn/bản là tháng 5/2012, đã có hai Thôn Long Sơn và Xuân Sơn xã

Trường Sơn đã đạt ODF Báo cáo của xã Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình.

3.2.2 Tăng tỷ lệ hộ gia đình làm nhà tiêu trong một thời gian ngắn

Huyện Ba Tơ, Sơn Hà: Vấn đề thay đổi hành vi của các hộ gia đình ở 03 xã triển

khai dự án rất tích cực, qua số liệu báo cáo hàng tháng của các xã cho thấy tỷ lệ hộgia đình làm công trình vệ sinh tăng lên rõ rệt: xã Ba Xa từ 12% tăng lên 84% sau

04 tháng kích hoạt; xã Ba Tô từ 20% tăng lên 94% sau 05 tháng kích hoạt, xã Sơnthành từ 35% tăng lên 92% sau 05 tháng kích hoạt Hầu hết các thôn đã chấm dứttình trạng đi tiêu bừa bãi, vấn đề vệ sinh nhà cửa và vệ sinh cá nhân cũng được các

hộ gia đình quan tâm hơn rất nhiều Báo cáo kết quả của huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Tỉnh Quảng Ngãi

Huyện Xín Mần, 29 buổi làm mẫu NVS tại 29 thôn của 3 xã đã thu hút được 1,000

lượt hộ dân tham gia Số hộ làm NVS ngay sau khi tham dự buổi làm mẫu đã tăngvọt: xã Nấm Dẩn có 8/12 thôn đạt ODF (5 thôn 100% hộ có hố xí riêng); xã Tả Nhìu

có hơn 85% hộ đã làm NVS Báo cáo của Huyện Xín Mần, Hà Giang

3.2.3 Tăng tỷ lệ hộ gia đình làm nhà tiêu hợp vệ sinh trong một thời gian ngắn Hữu Lợi là một xã thuộc vùng 2 của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình với tổng số dân

là: 3786 khẩu, 866 hộ Dân tộc Mường chiếm 96,13% Toàn xã có 11 thôn Theokhảo sát KAP vào 20/9/2010 chỉ có khoảng 20% hộ gia đình có nhà vệ sinh tuynhiên chỉ có 2,7% đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh tập trung vào gia đình khá giả trong

xã Một vài hộ trong xã có nhà vệ sinh tạm bợ không có mái, không có miếng chexung quanh hoặc chỉ có hai cây tre bắc qua một cái hố nhỏ Những hộ còn lại là đi

Trang 8

vệ sinh ở ngoài đồng ruộng, vườn nhà hoặc lên rừng cạnh nhà Thí điểm tổ chứcphát động kích hoạt nhu cầu về NSVS tại xóm Rộc ( Chỉ trong 02 tháng đã có 64hộ/ 164 hộ làm nhà tiêu hợp vệ sinh Hiện nay trong xóm đã đạt 97 hộ làm nhà tiêuhợp vệ sinh đạt 59,7% so với trước khi kích hoạt là <3%) Nếu tính toàn Xã HữuLợi sau một năm thực hiện CLTS tỉ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh tăng từ 3% lên

40% (7/2011-6/2012) Báo cáo của Xã Hữu Lợi, Yên Thủy, Hòa Bình

3.2.4 Đóng góp vào kết quả của Chương trình mục tiêu Quốc gia về NSVSMT II

và III

CLTS đóng góp vai trò quan trọng trong việc thay đổi nhận thức và hành vi vệ sinhcủa người dân giúp cho việc nâng cao tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng NTHVS tại cáctỉnh thực hiện mô hình CLTS Qua đó đã tham gia đóng góp vào kết quả củaChương trình mục tiêu Quốc gia về NSVSMT II và III

3.3 CLTS GÓP PHẦN XÂY DỰNG NĂNG LỰC CHO CÁC ĐỐI TÁC

Đào tạo được một đội ngũ hỗ trợ viên, thúc đẩy viên/cộng tác viên về CLTS nhiệt tình, có năng lực Đội ngũ này được quản lý, sử dụng thường xuyên trong

các mạng lưới thúc đẩy viên Đây là nguồn lực quan trọng để nhân rộng CLTS

Kể từ tháng 9 năm 2010, Chương trình WASH của Plan Việt Nam đã triển khai thựchiện mô hình Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ Cho đến nay đã kích hoạtđược 151 thôn với sự tham gia của 13.950 hộ Đã có 38 thôn đạt ODF Số thànhviên được tập huấn hỗ trợ viên nguồn ToT về CLTS là 110 người Số người ở cấpthôn, xã được đào tạo Kích hoạt CLTS bởi các giảng viên nguồn là 732 người đang

hoạt động trong 151 mạng lưới thúc đẩy viên CLTS Theo báo cáo của Plan Inernational Việt Nam.

Cán bộ thôn, xã có thể tự thực hiện thành công mô hình CLTS Phương pháp

của CLTS thực hiện đơn giản, vui vẻ và có sự tham gia của người dân Đội ngũ y tếthôn bản, thôn trưởng nếu được tập huấn và hướng dẫn cụ thể sẽ triển khai tốt Saukhi tổ chức thực hiện từ tháng 8/2011 đến 4/2012 tại 8 thôn/7 xã vùng dự án với số

hộ tham gia là 430 hộ và hiện đã có 200 hộ tham gia thực hiện làm nhà vệ sinh

Báo cáo của Huyện Sơn Tây, Tỉnh Quảng Ngãi.

Tăng mức độ tham gia của người dân Ý thức của cộng đồng thay đổi hẳn sau

buổi kích hoạt CLTS, có đến 98% hộ đăng ký thay đổi hành vi Mức độ tham gia xâydựng nhà vệ sinh của cộng đồng thay đổi hẳn, người dân trong thôn tự vận động để100% hộ trong thôn làm nhà vệ sinh: Trong thời điểm kích hoạt thì có 52 hộ đăng kýnhưng khi triển khai làm hố xí thì có 78 hộ xây dựng hố xí dội, khô Mức độ tham giacủa người dân cao hơn hẳn: Người dân đào hố, đóng góp công cùng thợ xây dựng,làm khung và lợp nhà vệ sinh bằng các vật liệu sẵn có tại địa phương một cách vui

vẻ Theo báo cáo của Xã Trà Nú, Trà My, Quảng Nam

3.4 CLTS CÓ THỂ ÁP DỤNG CHO NHIỀU VÙNG KHÁC NHAU

Cần ít nguồn lực tài chính Với CLTS chỉ cần ít nguồn lực tài chính để thực hiện

cách tiếp cận, chủ yếu dựa vào cộng đồng để đạt được mục tiêu Khả thi để nhân

Trang 9

rộng sang các địa phương khác mà không tốn kém kinh phí Báo cáo của xã Hữu Lợi, Yên Thuỷ, Hoà Bình

CLTS tại các vùng đồng bằng, ven biển Đầu năm 2012 theo kết quả khảo sát tại

huyện Hải Lăng thì tỉ lệ người dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 62.13% Huyện

có đề án 100% người dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, chỉ đạo 100% đảng viênphải xây dựng NTHVS Sau khi đã lựa chon mô hình CLTS huyện đã: (i) Tổ chức hộithảo bàn kế hoạch và đề xuất phương án thực hiện với các ban ngành và các xã.(ii)Tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ huyện về CLTS và Tổ chức tậphuấn lại cho các Ban phát triển thôn (VDB) để thực hiện kích hoạt & hậu kích hoạttại cộng đồng (iii) Chọn thôn thực hiện thí điểm để kích hoạt tại 7 thôn Tăng cườngcông tác truyền thông bằng nhiều phương pháp đặc biệt là truyền tải bằng phươngpháp nghệ thuật (iv) Thành lập các ban giám sát và hỗ trợ cộng đồng và tập huấn

kỹ thuật các mô hình xây dựng hố tiêu hợp vệ sinh

Sau 4 tháng thực hiện CLTS đã thu được kết quả: (i)Huy động được nhiều cơ quanban ngành tham gia như trạm y tế, hội phụ nữ, xã và người dân tham gia.(ii) Huyđộng được các nguồn ngân sách để thực hiện các hoạt động truyền thông và nângcao năng lực cộng đồng (iii) 362 hộ gia đình thực hiện xây dựng nhà tiêu hợp vệ

sinh (tại 7 thôn kích hoạt) Theo báo cáo của Huyện Hải Lăng, Quảng Trị.

4 Người dân nói gì về CLTS?

“Thôn tôi có 47 hộ Trong các cuộc họp thôn, trưởng thôn thường tuyên truyền các

hộ dân đào hố xí để đảm bảo vệ sinh môi trường Nhà nào cũng có nhà vệ sinh từ

hố xí đào cho đến hố xí tự hoại Nhà tôi mới đào lại hố xí cách đây 2 tháng vì hố xí

cũ đã đầy Tôi làm nhà tiêu vì không có nhà tiêu thì ô nhiễm môi trường, ruồi nhặng đậu vào phân gây ra các bệnh đường ruột” Chị Trần Thị Oanh, thôn Xuân Sơn, xã

Trường Sơn, Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình (20/08/2012)

“Nếu người dân đi tiêu tự do, ruồi nhặng sẽ đậu vào phân người rồi đậu vào thức

ăn, nước uống Người dân không biết ăn vào sẽ bị bệnh tiêu chảy, ảnh hưởng đường ruột, có thể gây ung thư và các bệnh nội tạng khác Plan đã và đang hỗ trợ người dân xã Trường Sơn thực hiện chương trình NSVSMT thông qua phương pháp tiếp cận CLTS từ năm ngoái đến năm nay Ban Giám sát thôn đã được thành lập với

5 thành viên Mỗi thành viên phụ trách hỗ trợ tuyên truyền, giám sát khoảng hơn 10

hộ dân (trừ Trưởng Ban chịu trách nhiệm tổng hợp số liệu và báo cáo) Nội dung NSVSMT được lồng ghép trong các cuộc họp thôn hàng tháng Trưởng thôn, bí thư,

y tế thôn bản là những người trực tiếp truyền thông về NSVSMT trong các cuộc họp thôn đó Nội dung truyền thông là không đi tiêu tự do, đào hố xí và rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Tôi vẫn thường xuyên rửa tay vào những thời điểm như vậy Tuy nhiên, thỉnh thoảng lại quên dùng xà phòng “ ông Hoàng

Minh Chiên, thôn Xuân Sơn, xã Trường Sơn, Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình(20/08/2012):

Trang 10

“Tôi thấy cái hay của cách tiếp cận này là giúp cộng đồng thay đổi nhận thức và hành vi một cách thực sự, đấy chính là điều thành công Tôi đã thấy nhiều nơi, ngay như cả ở một số xã của Yên Thủy được hỗ trợ nguyên vật liệu, thậm chí xây cho họ dùng nhưng một thời gian sau quay lại thì họ dùng rất bẩn, một số hộ hỗ trợ nguyên vật liệu vẫn xây dựng sai kỹ thuật và không đảm bảo hợp vệ sinh ” Ông Nguyễn

Văn Vinh- Trung tâm y tế dự phòng huyện Yên Thủy, Tỉnh Hòa Bình

“Hoạt động kích hoạt mà TNTG thực hiện rất có ý nghĩa Tuy rất đơn giản nhưng rất phù hợp với đời sống của bà con trong xóm Trước kia động tới nhà vệ sinh thì không ai muốn nghe vì nó bẩn Bây giờ tôi thấy không có nhà vệ sinh còn bẩn hơn gấp ngàn lần ấy chứ”- Bùi Văn Thập- trưởng xóm Cương, xã Hữu Lợi, Huyện Yên

Thủy, Tỉnh Hòa Bình

“Bà con tại Xín Mần đã được nhân viên dự án WASH xuống tận thôn trực tiếp hướng dẫn cách làm NVS “không tốn một xu” sử dụng các vật liệu tự có tại địa phương”, “Đối với bà con dân tộc miền núi, nói thôi là chưa đủ, một phần do bất đồng ngôn ngữ, một phần do bà con khó hình dung được tiêu chuẩn, kích thước, yêu cầu nhà tiêu, nên việc làm mẫu để bà con nhìn thấy tận mắt cách thức làm là rất cần thiết” Long Văn Kiên, chuyên viên khoa YTCC của TTYT Xín Mần, người đã

hỗ trợ kỹ thuật làm NVS cho bà con

Tuy mới thành công ở bước đầu nhưng đã cho thấy một sự đổi thay mạnh mẽ trong nhận thức cộng đồng và cán bộ địa phương, riêng thôn Kon chênh xã Măng cành, các hộ gia đình đã ký cam kết không đi tiêu và chăn thả gia súc tự do “Kết quả trên càng thêm ý nghĩa hơn khi so sánh với những cố gắng của bao chương trình, dự án trước đây đã tốn rất nhiều nhân lực, vật lực nhưng không thể làm thay đổi nhận thức của cộng đồng về việc làm sạch đẹp môi trường sống xung quanh.” Theo nhận định

của nhiều cán bộ tham gia CLTS như: A Nuông, A In, thầy giáo Nguyễn Đình Hợp(xã Măng Cành), già làng A Breo, anh Trần Văn Thành (xã Hiếu)

5 Thách thức của CLTS là gì?

5.1 Người dân Trình độ dân trí hạn chế, phong tục tập quán còn lạc hậu, kinh tế

nghèo Còn thói quen đi tiêu bừa bãi, sử dụng phân tươi trong trồng trọt… Nhậnthức chưa đầy đủ về tác hại của việc sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh Tư tưởngphụ thuộc của các hộ dân vào hỗ trợ của chính phủ - chờ đợi các khoản trợ cấp củaChính phủ làm giảm động lực của người dân

5.2 Hiểu biết chưa đầy đủ về các mô hình Nhà tiêu hợp vệ sinh 90% người

dân tại xã Cương Chính, Tiên Lữ, Hưng Yên chỉ muốn làm nhà vệ sinh tự hoại trongkhi chưa có điều kiện kinh tế thực hiện Đa số người dân tại các xã huyện Hải lăng,Quảng Trị chỉ muốn làm nhà vệ sinh tự hoại vì cho rằng đó mới là nhà tiêu hợp vệsinh Đặc biệt một số thành viên trong ban giám sát vẫn còn duy ý chí về việc mô

hình vệ sinh: “Chỉ có nhà tiêu tự hoại và bán tự hoại mới hợp vệ sinh và phù hợp với

Trang 11

điều kiện của thời đại” Thiếu kiến thức kỹ thuật về xây dựng nhà tiêu và hạn chế về

thông tin về các thiết kế nhà tiêu có thể dẫn đến sự sợ hãi khi xây nhà tiêu và quanniệm rằng xây nhà tiêu rất tốn kém Tư tưởng cho nhà tiêu là bẩn nên chỉ cần làmmột lần thật bền lâu, không muốn phải động đến nhà tiêu Tiêu chuẩn vệ sinh cònthấp, dẫn đến tâm lý chung là "nhà vệ sinh tạm thời" thường bẩn hoặc không antoàn

5.3 Chính quyền các cấp chưa quan tâm sâu sắc đến công tác VSMT Địa

phương không có kinh phí hỗ trợ cho CTV theo dõi giám sát Ban quản lý các cấpcòn có tư tưởng kỳ vọng vào biện pháp khuyến khích và áp lực từ các nhà lãnh đạo

5.4 Vai trò quản lý các cấp yếu, thực hiện cam kết thấp: Có kế hoạch thực

hiện nhưng hành động cụ thể vẫn chưa đạt theo yêu cầu Công tác kiểm tra, giámsát, hỗ trợ chưa làm một cách có hiệu quả và triệt để Sự phối hợp liên ngành chưachặt chẽ, chưa thống nhất

5.5 Kiến thức, nhận thức về NS, VSMT của các thành viên thuộc ban ngành đoàn thể cũng còn hạn chế Khả năng tuyên truyền, vận động của CTV tuyến xã

và thôn bản còn nhiều hạn chế Công tác theo dõi giám sát của CTV ngay sau khikích hoạt chưa sát sao.Hầu hết các thành viên BQL xã, mạng lưới NSVS kiêmnhiệm nhiều nên thường khó khăn trong việc triển khai hoạt động của dự án Cán

bộ y tế thôn có năng lực, trình độ hạn chế, phạm vi quản lý sức khỏe rộng (1 y tế thôn tại thôn Đặng Xá xã Cương Chính phụ trách 400 hộ gia đình về vấn đề sức khỏe, NS, VSMT)

5.6 Do là thí điểm nên việc thực hiện mô hình chưa được thể chế hóa Chưa có

sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể Chưa có cuộc điều tra KAP vềVSMT Do thí điểm sớm nên chưa có tài liệu hỗ trợ truyền thông vận động cộngđồng Chưa có các chỉ số đo lường sự thay đổi hành vi, biểu mẫu theo dõi, giám sátCLTS Đây là một mô hình mới cần nhiều thời gian để giới thiệu, tập huấn chuyênmôn, kỹ thuật cho đối tác Sau đó triển khai hoạt động cho người dân

5.7 Sự chồng chéo, không nhất quán trong việc thực hiện các chương trình

(CT MTQGNSVSMTNT và CT 135), chính sách hỗ trợ tiền mặt cho các hộ nghèolàm nhà tiêu HVS, ảnh hưởng của một số dự án trước đó (cấp phát hoặc hỗ trợ kinhphí cho người dân đã gây cản trở lớn cho việc thí điểm mô hình Sự khác nhau củacác phương pháp tiếp cận giữa các nhà tài trợ/ Chính phủ/ các tổ chức phi chínhphủ và các chương trình cũng là cản trở đến mô hình

5.8 Chia sẻ thông tin và kết nối giữa các nguồn lực can thiệp về NSVSMT còn yếu Năng lực của mạng lưới còn hạn chế, .Các ban ngành đoàn thể trong

thôn /xã /huyện chưa thực sự tham gia nhiệt tình và chưa có sự phối kết hợp vớivấn đề NS, VSMT

5.9 Những hạn chế của nhà tiêu tạm, nhà tiêu chìm đơn giản như: Người

dân còn nghèo, các vật liệu làm nhà tiêu chủ yếu là tự kiếm thô sơ dể bị hư hỏng,

Trang 12

không kín đáo và an toàn cho người sử dụng Tuổi thọ của nhà tiêu tự đào ngắn vàrất dễ sạt lở, các đồ dùng thưng che dễ mục nát, mối mọt, do đó không an toàn.Thiếu giấy vệ sinh và nước (người dân đa số là sử dụng lá cây và que) nên khôngđảm bảo vấn đề vệ sinh trong nhà tiêu Nhà tiêu chìm có nhiều mùi hôi vì nướcmưa, nước tiểu dễ thấm vào do đó không đảm bảo vệ sinh Nhà tiêu chìm có mùihôi nên phải làm xa nhà, không thuận tiện cho trẻ em và phụ nữ mang thai đặc biệt

là buổi tối và mùa mưa Những hạn chế của nhà tiêu tạm, nhà tiêu chìm đơn giảndẫn đến khả năng người dân sẽ thay thế/nâng cấp các nhà tiêu tạm thời bằng nhàtiêu khác hay họ sẽ để xuống cấp và từ bỏ hành vi mới được thiết lập Khả năngngười dân quay trở lại đi tiêu tự do rất cao, vì nhà tiêu sau một thời gian sẽ hưhỏng, có thể có mùi hôi khó chịu khiến người dân ngại sử dụng, nếu ban giám sátkhông hoạt động thường xuyên sẽ không vận động được người dân làm nhà tiêumới

6 Bài học kinh nghiệm

6.1 TỔ CHỨC

6.1.1 Vai trò của các bên trong CLTS. Thực hiện mô hình CLTS theo phươngchâm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhànước đóng vai trò định hướng, ban hành các các chính sách, cơ chế hỗ trợ vàhướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bànbạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Triển khai thực hiện mô hình CLTScần xác định là nhiệm vụ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành,

cơ quan y tế các cấp có nhiệm vụ triển khai trực tiếp và phối hợp với các tổ chức chính trị - xãhội vận động người dân phát huy vai trò chủ thể trong việc thực hiện và nhân rộng mô hìnhCLTS Khuyến khích có sự tham gia của các ban ngành đoàn thể như phụ nữ, thanh niênvào việc đào tào, đào tạo lại, thực hiện và theo dõi giám sát mô hình

6.1.2 Sự vào cuộc của hệ thống chính trị cơ sở, chính quyền địa phương

ngay từ đầu: Sự tham gia nhiệt tình của chính quyền địa phương là rất quan trọng.

Khi họ tham gia một cách tích cực, sự tiến bộ trong thay đổi hành vi và thực hiệncủa người dân địa phương được thể hiện rõ ràng Với sự giúp đỡ của chính quyềnđịa phương, ban dự án CLTS được thành lập để giám sát việc thực hiện CLTS tạicộng đồng Ban dự án thường bao gồm các thành viên nòng cốt của ủy ban nhândân xã, hội phụ nữ và trung tâm y tế xã Ở những vùng dự án mà có triển khai Vệsinh tổng thể do trường học làm chủ SLTS, thì ban dự án còn bao gồm cả giáo viên.Cần sự cam kết mạnh của lãnh đạo các cấp

6.1.3 Vai trò nòng cốt của hệ thống y tế theo ngành dọc và sự tham gia các tổ

chức đoàn thể: Ở cấp huyện, phòng y tế đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ

trợ/hướng dẫn lập kế hoạch và giám sát cấp xã thực hiện CLTS Ở cấp xã, trungtâm y tế xã đóng vai trò quan trọng trong bộ máy giám sát và quản lý bao gồm chínhquyền địa phương (ủy ban nhân dân xã – CPC, trưởng thôn), các tổ chức đoàn thể

Trang 13

(Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên) và trung tâm y tế (trung tâm y tế xã,nhân viên y tế thôn/bản) Các tổ chức đoàn thể (Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoànthanh niên) là những tổ chức có nhiều thuận lợi nhất do bản chất công việc của họcũng có nhiều điểm tương đồng với mục tiêu phát triển của dự án như: hỗ trợ cộngđồng trong phát triển xã hội, bao gồm cải thiện sức khỏe trẻ em và người lớn, bìnhđẳng giới, bảo vệ môi trường trong sạch, giảm nghèo…

6.1.4 Phân công trách nhiệm - kinh nghiệm của Điện Biên: Mỗi thôn bản có

nhóm CTV (trưởng bản, Y tế, phụ nữ, thanh niên) tham gia thúc đẩy tại cộng đồng;thu thập số liệu BC lên xã, huyện và tỉnh Tuyến xã có Ban ĐH, gồm: lãnh đạo xã,

CB Y tế, đoàn TN, phụ nữ, hội nông dân, MTTQ, giáo viên trường tiểu học thực hiệngiám sát hỗ trợ Tuyến huyện có Y tế huyện, thanh niên, phụ nữ thực hiện giám sát

hỗ trợ Tuyến tỉnh: đầu mối XDKH, đào tạo, huy động và kết hợp các nguồn lực,giám sát hỗ trợ là TTYT dự phòng tỉnh phối hợp với tư vấn SNV, tư vấn Unicef.Các tổ chức quốc tế Unicef, SNV hỗ trợ kỹ thuật đào tạo, kích hoạt, giám sát và hỗtrợ kinh phí cho đội ngũ cộng tác viên xã, huyện, tỉnh thực hiện hoạt động giám sát

vận động cộng đồng

6.1.5 Sự tham gia của các tổ chức và cá nhân khác: Bên cạnh đó, tùy thuộc vào

tình hình thực tế, mỗi tỉnh cũng có các tổ chức và cá nhân khác tham gia vào thựchiện CLTS và quá trình giám sát như: Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trườngnông thôn tỉnh (pCERWASS) trực thuộc sở Nông nghiệp và phát triển nông thônDARD, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh (pCMP), trung tâm giáo dục sức khỏe vàtruyền thông (pCHEC) hoặc giáo viên

6.2 XÂY DỰNG NĂNG LỰC

6.2.1 Xây dựng năng lực cho đối tác địa phương yếu tố đảm bảo tính bền vững của chương trình: Giáo viên tập huấn CLTS của trường cao đẳng Nông

nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Bộ thực hiện đào tạo hỗ trợ viên/ giảng viên

nguồn (ToT) cho đối tác địa phương Học viên: Số lượng 20-25 người Bao gồm cán

bộ Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, huyện, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe,

cán bộ sở Y tế, Giáo dục, các hội Hội phụ nữ, hội Nông dân tỉnh, huyện Cấp xã: 2-3

học viên (thuộc xã sẽ kích hoạt một thôn/bản trong chương trình tập huấn) Hỗ trợviên/ giảng viên nguồn sau đó trực tiếp đào tạo lại cho các hỗ trợ viên CLTS cấp xã

và thôn cũng như hỗ trợ họ trong việc thực hiện kích hoạt tại một số thôn trong thời

gian đầu Học viên: Số lượng 20-25 người Bao gồm cán bộ thôn : mỗi thôn bản

gồm 3 người: Trưởng Bản, y tế thôn bản, và 1 người đại diện các ban ngành doànthể trong thôn như Bí thư chi đoàn, chi hội trưởng phụ nữ và cán bộ xã: Đại diệnLãnh đạo xã, Y tế xã; đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên

6.2.2 Năng lực của đội ngũ Giảng viên/ Hỗ trợ viên, cộng tác viên Để đảm bảo

có được một đội ngũ giảng viên có chất lượng tại địa phương Tập huấn ToT chưa

đủ, cần có sự hỗ trợ thêm của địa phương để đảm bảo giải quyết rào cản về ngônngữ để đáp ứng được với yêu cầu đào tạo đề ra

Trang 14

6.2.3 Bình đẳng giới: Phụ nữ là những người được chịu tổn thương nhiều nhất

khi không có nhà tiêu nên ý kiến của họ có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tưxây nhà tiêu hợp vệ sinh cho gia đình Tuy nhiên việc quyết định có làm nhà tiêu haykhông chủ yếu do chủ hộ là nam giới thực hiện Việc kết hợp giữa vai trò vận độngcủa phụ nữ với vai trò quyết định việc làm nhà tiêu của chủ hộ là nam giới cần đượctiến hành

6.2.4 Phụ nữ là những người được chịu tổn thương nhiều nhất khi không có nhà

tiêu nên ý kiến của họ có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư xây nhà tiêu hợp

vệ sinh cho gia đình Tuy nhiên việc quyết định có làm nhà tiêu hay không chủ yếu

do chủ hộ là nam giới thực hiện Việc kết hợp giữa vai trò vận động của phụ nữ vớivai trò quyết định việc làm nhà tiêu của chủ hộ là nam giới cần được tiến hành

6.2.5

6.3 QUY TRÌNH

6.3.1 Kích hoạt CLTS tại thôn/bản: Các bước kích hoạt phải đảm bảo sự tham gia

của các đối tượng trong thôn, bản (nam, nữ thanh niên, người già, trẻ em, vv.) vàtạo được sự quan tâm của người dân Đại diện Ban quản lý xã, Ban lãnh đạo thôn

và toàn thể người dân trong thôn (mỗi hộ ít nhất có một người) Số lượng ngườitham gia nên dưới 100 Những thôn có số hộ nhiều có thể chia thành nhiều buổikích hoạt Nhóm giảng viên tỉnh chia thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm 2 người thựchiện kích hoạt tại một thôn, bản Tư vấn trực tiếp tham dự để hỗ trợ và chia sẻ.Giảng viên tỉnh thực hiện kích hoạt tại các thôn còn lại (tùy theo số lượng thôn đãlựa chọn) Mỗi thôn/bản có một Giảng viên tỉnh hoặc tư vấn vẫn tiếp tục giám sát và

hỗ trợ (một tư vấn phụ trách nhiều thôn)

6.3.2 Giám sát: Một trong những yếu tố quyết định góp phần thành công trong việc

hình thành và duy trì thói quen sử dụng NVS của người dân Đây là nhân tố quantrọng để đảm bảo sự thành công trong việc thực hiện CLTS Thông thường sau khikích hoạt, bên cạnh các hoạt động giám sát của ban dự án CLTS xã, ở mỗi thônnhóm hỗ trợ viên/thúc đẩy viên dưới sự chỉ đạo trực tiếp của trưởng thôn cũng thamgia giám sát Thực hiện trực tiếp là Ban quản lý CLTS thôn Tham gia đôn đốc, giámsát tại cộng đồng là cán bộ y tế xã, cán bộ xã, và đoàn thể tại địa phươ ng Trưởngtrạm y tế xã chịu trách nhiệm giám sát tại xã và thu thập thông tin theo chế độ báocáo để đôn đốc, giám sát, hỗ trợ khi cần thiết Báo cáo giám sát chuyển cho Ban chỉđạo/ Tổ công tác huyện, tỉnh hàng tháng Nhóm giảng viên nòng cốt tỉnh cử mộtgiảng viên hoặc nhóm giảng viên phụ trách một xã và thực hiện giám sát, hỗ trợ chocấp xã, cộng đồng

Mỗi thành viên trong ban giám sát sẽ được phân công nhiệm vụ cụ thể, thôngthường mỗi thành viên sẽ được phân công theo dõi, giám sát tiến trình thực hiện dự

án của khoảng 10 đến 15 hộ gia đình Phát huy vai trò Đảng viên phụ trách nhóm

Trang 15

hộ Việc làm này tăng cường thêm sự sâu sát trong việc giám sát, đôn đốc, thúc đẩyhoạt động dự án.

Các hoạt động sau buổi kích hoạt thôn cần thực hiện ngay như kiểm tra, giám sát,

hỗ trợ các hộ gia đình thực hiện chấm dứt đi tiêu tự do, làm nhà tiêu theo như đăng

ký Ban giám sát thôn không phải chỉ đi giám sát (xem các hộ có làm nhà tiêu hay

không) mà phải phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên hỗ trợ hướng dẫn

trực tiếp cách làm nhà tiêu sao cho đảm bảo quy cách, hợp vệ sinh

Các cuộc họp nhóm sẽ được tổ chức hàng tuần hoặc hàng tháng để báo cáo tiếntrình thực hiện cho trưởng thôn Sau đó, trưởng thôn sẽ báo cáo lại cho ban dự ánCLTS xã về tiến trình thực hiện dự án của thôn mình Dựa trên báo cáo của cácthành viên trong nhóm, ban dự án sẽ tổ chức cuộc họp với tất cả bà con tại thôn màcác vấn đề còn tồn tại, nổi cộm, sau đó các giải pháp đã được nhất trí sẽ được thựchiện

6.3.3 Thực hiện các hoạt động sau kích hoạt hướng tới sự thay đổi bền

vững: Thành lập nhóm giám sát xã 4 thành viên (2 cán bộ UB xã, 2 cán bộ trạm Y

tế xã) hàng tháng giám sát các thôn được phân công, hướng dẫn làm nhà tiêu.Thành lập Ban giám sát thôn 03 người (trưởng thôn, y tế thôn, phụ nữ thôn) phâncông cụm để giám sát và báo cáo lên cho xã, giám sát 4 lần/tháng Đội giám sát các

em học sinh 5 em/thôn đi giám sát 4 lần/tháng, nộp báo cáo hàng tháng cho trưởngthôn Hàng tháng tổ chức họp thôn để nắm bắt tình hình và giải quyết khó khăn, trởngại ở thôn Hàng tháng tổ chức giao ban BĐH xã, BDA xã, ban giám sát thôn, độigiám sát học sinh để cập nhật tình hình làm nhà tiêu, giải quyết các khó khăn,vướng mắc trong quá trình thực hiện

6.3.4 Thực hiện thường xuyên các hoạt động sau ODF Tạo nhận thức & nhu cầu vệ sinh cho hộ dân nông thôn thông qua CLTS là bước đầu tiên Nhưng không phải là cách duy nhất và không đủ để có sự can thiệp thành công Cần sự theo dõi

và nhiều thông tin hơn nữa về các lựa chọn vệ sinh và tiêu chuẩn hợp vệ sinhcủa nhà tiêu Nhu cầu ban đầu cần được liên kết với nguồn cung cấp dịch vụ có chiphí thấp và thiết bị vệ sinh để giúp các hộ di chuyển lên các nấc thang vệ sinh Các cơ quan địa phương dần dần kết hợp thêm thông điệp về hành vi vệ sinh, tậndụng các công cụ truyền thông thay đổi hành vi sáng tạo và tiến xa hơn ngoài việc

"nâng cao nhận thức" Những nỗ lực này có thể được kết hợp vào việc lập kế hoạch

& học hỏi tại địa phương, thu hút sự tham gia của các bên liên quan địa phươngkhác nhau và khuyến khích họ đầu tư vào vệ sinh

Đối với những thôn hoàn thành ODF cần tiếp tục triển khai bước tiếp theo như phát

động vệ sinh thôn bản và vệ sinh cho gia đình/cá nhân Không để cho tiến trình của

CLTS bị gián đoạn đồng thời vận động chính quyền các cấp đưa tiêu chí ODF vàohương ước của thôn bản

Trang 16

Giám sát ở thôn chủ yếu là y tế thôn và y tế xã để nắm tình hình và truyền thông, tưvấn Duy trì họp BĐH, BDA, y tế thôn bản hàng tháng giao ban y tế thôn tại trạm vàhọp thôn lồng ghép các chương trình để truyền thông.

6.3.5 Tiếp thị vệ sinh cần được tiến hành sau CLTS để duy trì bền vững nhu cầu và hành vi vệ sinh mới sau CLTS Giới thiêu loại nhà tiêu đơn giản giá rẻ, phù

hợp vùng miền; Cần có các mô hình trực quan để người dân dể hiểu và lựa chọn;Hướng dân người dân tiếp cận vốn vay, có bảo lãnh của địa phương

6.3.6 Triển khai SLTS: CLTS và SLTS cần được tiến hành song song và bổ sung

cho nhau Các hoạt động truyền thông (rửa tay với xà phòng, đánh răng hàng ngày

và thực hiện vệ sinh cá nhân) đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của gia đình,nhà trường và các em học sinh Đẩy mạnh các hoạt động về NS-VSMT trong nhàtrường để tăng cường sự tham gia của trẻ em, lấy trẻ em là trung tâm và tác nhâncủa sự thay đổi

6.4 PHƯƠNG PHÁP, CÁCH LÀM

6.4.1 Cách tiến hành “ từ điểm nhân ra diện rộng” Bắt đầu từ 1-2 thôn, bản và

sau khi rút ra kinh nghiệm, bài học thì nhân ra diên diện rộng Dự án thực hiện môhình CLTS thí điểm ở thôn Thắng Lộc và sau đó thực hiện nhân rộng từng thôn khác

và trong toàn xã Bình Lương Thực hiện CLTS (10/2010- 3/2012) số hộ dân cóNVS hợp vệ sinh tăng từ 12/689 lên 203/689 hộ, tất cả điểm chính của các trường

tiểu học, trung học cơ sở sử dụng nước giếng khoan đảm bảo chất lượng Báo cáo của xã Bình Lương, Như Xuân, Thanh Hoá

6.4.2 Tin vào người dân Người dân có rất nhiều sáng kiến, vấn đề cơ bản là hỗ

trợ viên phải cung cấp thông tin đầy đủ để học hiểu được bản chất của sự việc để

họ phát huy muốn vậy hỗ trợ viên phải hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn người dân Khibiết phân người phải ủ trên 6 tháng mới dùng được người dân đã đề xuất sử dụng 2ống bi khác nhau để chuyển từ nhà tiêu một ngăn thành 2 ngăn hợp vệ sinh và hỗtrợ viên nhất trí ngay Vì vậy nhóm hỗ trợ phải được nâng cao năng lực về chuyênmôn, kỹ năng truyền thông thay đổi hành vi, giám sát kỹ càng và nhất là thái độ tôn

trọng, tin tưởng vào người dân trước khi triển khai hoạt động Báo cáo của xã Hữu Lợi, Yên Thuỷ, Hoà Bình

6.4.3 Nói đi đôi với làm: Tại Huyện Xín Mần, Hà Giang đã được nhân viên dự án

WASH xuống tận thôn trực tiếp hướng dẫn cách làm NVS sử dụng các vật liệu tự

có tại địa phương để bà con nhìn thấy tận mắt cách thức làm nhà tiêu 29 buổi làmmẫu NVS tại 29 thôn của 3 xã đã thu hút được 1,000 lượt hộ dân tham gia Số hộlàm NVS ngay sau khi tham dự buổi làm mẫu đã tăng vọt: xã Nấm Dẩn có 8/12 thônđạt ODF (5 thôn 100% hộ có hố xí riêng); xã Tả Nhìu có hơn 85% hộ đã làm NVS

6.4.4 Xây dựng mô hình điểm tại mỗi xã: mỗi xã xây dựng thành công tối thiểu 1

đến 2 mô hình điểm (thôn ODF, sạch sẽ, người dân thực hành tốt vệ sinh cá nhân)

Trang 17

Mô hình này sẽ tạo niềm tin cho cán bộ và người dân trong khu vực lân cận thămquan học tập để cải thiện hành vi vệ sinh trong cộng đồng của họ

6.4.5 Phát động thành phong trào tạo sự thay đổi của cả cộng đồng: Sau khi

kích hoạt, không chờ người dân làm NVS một cách tự phát mà cần phát động chiến

dịch “Ngày ra quân làm nhà vệ sinh”, lấy sức mạnh cộng đồng để thay đổi hành vi của từng cá nhân Người dân tập trung làm việc thì sự hỗ trợ lẫn nhau về công sức,

nguyên liệu cũng tốt hơn và cũng thuận tiện hơn trong việc hỗ trợ kỹ thuật, hạn chếtrường hợp đã làm xong nhưng chưa đúng kỹ thuật Cần tổ chức những chiến dịchtruyền thông vệ sinh tổng thể với sự tham gia của cộng đồng để họ nhận thấy sựquan trọng của việc thực hiện các hành vi vệ sinh

6.4.6 Động viên, khen thưởng: Cần có sự động viên, khen thưởng kịp thời đối

với những cá nhân, tập thể hoàn thành nhanh, tốt các hoạt động của dự án Việclàm này không chỉ để ghi nhận sự tham gia tốt của họ mà còn nêu lên tấm gươngcho những người khác noi theo Có thể treo bản đồ đăng ký trên nhà văn hóa,theo dõi và ghi danh những hộ làm NVS trên bảng trong nhà văn hóa thôn, đểmọi người khi đến nhà văn hóa có thể theo dõi sự tiến triển của việc làm NVS

6.4.7 Chứng minh được ý nghĩa của CLTS Các dịch bệnh và tác động môi

trường ảnh hưởng ngày càng lớn đến sức khỏe của người dân CLTS góp phần tíchcực vào đề án của huyện nên được các ban ngành cấp xã quan tâm hỗ trợ, tích cựctham gia CLTS là giải pháp cho việc hoàn thành tiêu chí về vệ sinh môi trường nông

thôn trong bộ tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.Theo báo cáo của Huyện Hải Lăng, Quảng Trị.

6.4.8 Kết hợp CLTS với các cách tiếp cận/các chương trình/dự án khác Các

đơn vị quản lý và các Tổ chức nên có phương pháp tích hợp giữa các mô hình canthiệp CLTS, Tiếp thị vệ sinh (SM), vv và Chương trình mục tiêu Quốc gia NTP đểhiệu quả, chất lượng công việc được tốt hơn Thông tin, chia sẻ các mô hình đạt kếtquả để nhân rộng mô hình giữa các dự án và đơn vị quản lý nhà nước

6.4.9 Hỗ trợ, khuyến khích và huy động sự tham gia của các đoàn thể có mạng

lưới sâu rộng và thành phần hội viên đông đảo như Hội Phụ nữ Chính sách tíndụng của Chương trình sử dụng mô hình Quỹ vay vốn do Hội Phụ nữ quản lý đểcho vay vốn sửa chữa, cải tạo và xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh

6.4.10 Lồng ghép: Kết quả thực hiện CLTS và cải thiện vệ sinh thường được lồng

ghép vào chỉ tiêu “Làng văn hóa” và chương trình phát triển “Nông thôn mới” củachính phủ Chính vì vậy, chương trình CLTS cũng nhận được sự quan tâm nhiềuhơn từ phía lãnh đạo xã, huyện, các tổ chức đoàn thể và sự hỗ trợ của mạng lướithực hiện CLTS (ví dụ: mạng lưới thúc đẩy viên/hỗ trợ viên) Hoàn toàn có thể bổxung nhiệm vụ cho Ban chỉ đạo Nông thôn mới các xã, Ban giám sát cộng đồng vàban phát triển thôn về nông thôn mới

Ngày đăng: 20/04/2021, 21:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w