1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DỰ ÁN NGUỒN LỢI VEN BIỂN VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGBÁO CÁO ĐÁNH GIÁ XÃ HỘI

130 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các rủi ro này bao gồm: làm việc vất vả để đỡ bị suy giảm thu nhập, thiên tai ngày càngnhiều làm giảm sút thời gian đi biển và thu nhập, sản lượng đánh bắt thực tế ngày một ít, dịch bệnh

Trang 1

DỰ ÁN NGUỒN LỢI VEN BIỂN VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ XÃ HỘI

Trang 3

MỞ ĐẦU

Đánh giá xã hội đã được phát triển như một công cụ cho các nhà lập kế hoạch hiểu được người dân

sẽ tác động và bị tác động như thế nào bởi các hoạt động phát triển Nó được thực hiện để xác địnhnhững người liên quan chính và thiết lập một khung phù hợp cho sự tham gia của họ vào việc lựachọn, thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá dự án Đánh giá xã hội cũng nhằm đảm bảo rằng cácmục tiêu của dự án và động lực cho sự thay đổi có thể được chấp nhận bởi đa số người dân là nhữngngười dự kiến sẽ được hưởng lợi từ dự án và nhằm xác định sớm khả năng tồn tại của dự án cũngnhư những rủi ro có thể xảy ra Một số vấn đề cần tìm hiểu trong đánh giá xã hội bao gồm: (i) nhữngtác động nào của dự án đến các nhóm khác nhau, đặc biệt là phụ nữ và nhóm dễ bị tổn thương; (ii) cócác kế hoạch giảm thiểu tác động bất lợi của dự án không; (iii) những rủi ro xã hội nào có thể ảnhhưởng đến sự thành công của dự án; (iv) những sắp xếp về tổ chức cần thiết cho sự tham gia và phân

bổ dự án; và (v) có các kế hoạch đầy đủ để xây dựng năng lực được yêu cầu ở các cấp tương ứngkhông

Đánh giá xã hội của dự án đã được các chuyên gia của Ngân hàng thế giới thực hiện với sự hỗ trợcủa Ban quản lý các dự án nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (BộNN&PTNT), UBND các tỉnh dự án và Sở NN&PTNT các tỉnh dự án, UBND các huyện và các xã

dự án Đặc biệt, các cán bộ của Ngân hàng Thế giới đã có những đóng góp quan trọng cho việc hoànthành đánh giá này

Báo cáo này được gọi là Báo cáo đánh giá xã hội (SA) của Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững Báo cáo được coi là một tài liệu chuẩn phù hợp với yêu cầu và thủ tục của Ngân hàng Thế

giới Báo cáo cung cấp thông tin và kết quả đánh giá xã hội của dự án cho việc chuẩn bị các tài liệu

về chính sách an toàn như Khung quản lý môi trường và xã hội (ESMF), Khung chính sách tái định

cư (RPF), Khung phát triển dân tộc thiểu số (EMPF), Khung quy trình (PF), Kế hoạch hành động táiđịnh cư (RAP), Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số (EMDP) và Kế hoạch quản lý môi trường(EMP)

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

MỤC LỤC 2

Danh mỤC TỪ VIẾT TẮT 5

TÓM TẮT THỰC HIỆN 6

I GIỚI THIỆU CHUNG 9

1.1 Bối cảnh chung 9

1.2 Thông tin về dự án 10

1.3 Mục tiêu của dự án 10

1.4 Các hợp phần của dự án 10

1.5 Phạm vi của dự án 11

II PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ XÃ HỘI 11

2.1 Mục tiêu đánh giá xã hội 11

2.2 Nhiệm vụ và phạm vi đánh giá xã hội 11

Phạm vi đánh giá 11

III THÔNG TIN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG DỰ ÁN 16

3.1 Đặc điểm tự nhiên và dân số các tỉnh dự án 16

3.2 Đặc điểm mẫu khảo sát 17

IV KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ 20

4.1 Các hoạt động sinh kế chính ở địa bàn nghiên cứu (thực trạng, mức độ phụ thuộc vào các nguồn lợi ven bờ, những thuận lợi và khó khăn) 20

4.2 Phân tích những rủi ro của các hoạt động sinh kế hiện thời (tập trung vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản) 28

4.3 Cơ hội phát triển các nguồn thu nhập và sinh kế thay thế 37

4.4 Khả năng tham gia của các cộng đồng vào những hoạt động của dự án 38

V NHỮNG ĐỀ XUẤT SINH KẾ BỀN VỮNG 42

5.1 Những định hướng chủ yếu về sinh kế bền vững vùng ven biển 42

5.2 Các mô hình sinh kế chuyển đổi nghề khai thác ven bờ 42

5.3 Các mô hình sinh kế dựa vào đất 44

5.4 Các mô hình sinh kế không dựa vào đất 48

5.5 Tổng hợp các mô hình sinh kế đề xuất tại 3 tỉnh dự án 55

VI KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69

6.1 Kết luận 69

6.2 Khuyến nghị 72

PHỤ LỤC 1: KHUNG QUY TRÌNH CỦA DỰ ÁN 75

PHỤ LỤC 2 TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ THAM VẤN CỘNG ĐỒNG 92

PHỤ LỤC 3: THÔNG TIN KTXH CÁC TỈNH ĐƯỢC KHẢO SÁT 106

Trang 5

Mục lục Bảng

Bảng 1: Diện tích đất của các tỉnh dự án 16

Bảng 2: Dân số các vùng và tỉnh dự án năm 2009 17

Bảng 3: Đặc điểm nhân khẩu- xã hội các thành viên hộ gia đình được khảo sát 17

Bảng 4: Số nhân khẩu và lao động bình quân hộ gia đình 19

Bảng 5: Phân tầng xã hội theo thu nhập 19

Bảng 6: Việc làm chính của người lao động (tính tất cả các thành viên của hộ có tham gia lao động) 21

Bảng 7: Tỉ lệ hộ có tàu thuyền đánh bắt, nuôi trồng TS 22

Bảng 8: Tỷ lệ hộ đang canh tác các loại đất (%) 24

Bảng 9: Cơ cấu việc làm chính và việc làm phụ của người lao động (tính tất cả các thành viên của hộ có tham gia lao động) (% số lao động) 24

Bảng 10: Thu nhập trung bình của gia đình trong 12 tháng qua từ các nguồn thu nhập (tính trên số hộ có loại hoạt động kinh tế này) 25

Bảng 11: Đánh giá của người trả lời về sự thay đổi thu nhập trong 2 năm qua (% số hộ) 29

Bảng 12: Tỷ lệ hộ đang canh tác các loại đất (%) 33

Bảng 13: Trình độ học vấn của các thành viên hộ gia đình 34

Bảng 14: Người giúp đỡ lúc khó khăn 40

Bảng 15: Diện tích đất bình quân đầu người đang canh tác (câu 16.4.1) 44

Bảng 16: Tỷ lệ di cư trong nước theo tỉnh (%) 51

Bảng 17: Đặc điểm công việc tự làm và làm thuê 51

Bảng 18: Số nguồn thu nhập bình quân hộ gia đình (%) 54

Bảng 19: Tình trạng thay đổi việc làm 55

Bảng 20: Phân loại tàu thuyền nghề (năm 2009) 110

Bảng 21: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2006-2010 113

Bảng 22: Tình trạng sử dụng đất trong 3 năm qua 120

Bảng 23: Dân số và lao động (năm 2009) 120

Bảng 24: Diện tích gieo trồng năm 2010 121

Bảng 25: Kết quả chăn nuôi của toàn xã trong năm 2010 121

Bảng 26: Tình trạng sử dụng đất 123

Bảng 27: Dân số, lao động 123

Bảng 28: Thành phần dân tộc của dân cư trong xã hiện nay 123

Bảng 29: Tôn giáo 124

Bảng 30: Trường, lớp học của xã 124

Bảng 31: Số học sinh các cấp trong xã năm học 2009-2010 và 2010-2011 124

Bảng 32: Loại cây trồng chính 125

Bảng 33: Kết quả chăn nuôi của toàn xã trong năm 2010 của toàn huyện 125

Bảng 34: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản của các hộ trong toàn xã năm 2010 như bảng dưới: 125

Bảng 35: Số hộ và số lao động làm nghề phi nông nghiệp 126

Bảng 36: Tỷ lệ % hộ nghèo của xã năm 2010 126

Mục lục Biểu đồ Biểu đồ 1: Số nhân khẩu và lao động bình quân của hộ theo nhóm nghề và nhóm thu nhập 20% .18

Biểu đồ 2: Thu nhập bình quân đầu người theo nhóm nghề và nhóm thu nhập 20% 20

Biểu đồ 3: Cơ cấu việc làm chính của tất cả các thành viên lao động của hộ 20

Biểu đồ 4: Tỷ lệ hộ có đất sản xuất theo nhóm nghề và nhóm thu nhập 23

Biểu đồ 5: Đánh giá của người trả lời về sự thay đổi thu nhập từ các nghề thủy sản trong 2 năm qua (% số hộ) 25

Biểu đồ 6: Cơ cấu nhóm nghề theo thu nhập 20% 31

Biểu đồ 7: Thu nhập trung bình các nghề của hộ gia đình trong 12 tháng (ngàn đồng) 43

Trang 6

Biểu đồ 8: Dân số nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước điều tra 2009 của dòng di

cư liên tỉnh theo vùng (Nguồn: dữ liệu TĐTDS&NO 2009) 50

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CHDCND Lào Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

CRSD Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững

DS-KHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình

ĐTMSHGĐ 2008 Điều tra mức sống hộ gia đình 2008

Sở/Bộ NN&PTNT Sở /Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

TÓM TẮT THỰC HIỆN

Mục tiêu dánh giá xã hội: Mục tiêu của đánh giá xã hội (SA) là đưa bối cảnh xã hội vào thiết kế

dự án, nhằm giảm thiểu các tác động xã hội tiêu cực và phát huy tối đa tác động tích cực Các nghiêncứu SA cung cấp đầu vào cho thiết kế các hoạt động của dự án, trong đó có các hoạt động sinh kếthay thế cho những cộng đồng nghèo có sinh kế phụ thuộc rất nhiều vào đánh bắt thủy sản ven bờđang cạn kiệt

Phương pháp đánh giá: Để thu thập thông tin kinh tế xã hội ở cấp hộ gia đình được chính xác vàđầy đủ, cách tiếp cận tham gia đã được sử dụng trong cuộc khảo sát này Theo đó, cả hai phươngpháp định lượng và định tính được sử dụng kết hợp để thu thập thông tin Ngoài ra, phương phápphân tích tài liệu và quan sát trực tiếp cũng đã được sử dụng để thực hiện khảo sát

Phạm vi đánh giá: Ba tỉnh Thanh Hóa, Khánh Hòa và Sóc Trăng.

Các phát hiện chính:

Sự phụ thuộc của cộng đồng vào các nguồn tài nguyên ven biển Các hộ đánh bắt ven bờ thường là

các hộ nghèo, đa số là không có đất hoặc có ít đất sản xuất, trình độ học vấn thấp, kỹ năng và taynghề thấp Sinh kế chủ yếu của họ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên ven biển và là nguồn thu nhậpchính của gia đình Việc làm chính của hầu hết các thành viên có khả năng lao động của các hộ nàyđều dựa vào khai thác tài nguyên ven bờ, trong điều kiện nguồn lợi ngày càng cạn kiệt

Những rủi ro và giải pháp hạn chế rủi ro của các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển.

Những rủi ro của các hoạt động sinh kế hiện thời, biểu hiện tính dễ tổn thương của cộng đồng dân cưven biển Các rủi ro này bao gồm: làm việc vất vả để đỡ bị suy giảm thu nhập, thiên tai ngày càngnhiều làm giảm sút thời gian đi biển và thu nhập, sản lượng đánh bắt thực tế ngày một ít, dịch bệnhtrong NTTS gây thiệt hại nặng nề nhiều năm không khôi phục được, thiếu vốn sản xuất trầm trọnglàm cho không có khả năng chuyển đổi sinh kế hay trang bị ngư cụ mới để đánh bắt hiệu quả hơn,không có khả năng trả nợ do thất bát trong nuôi trồng và đánh bắt, sự ổn định thu nhập kém, viễncảnh kinh tế u ám, tỷ lệ hộ nghèo cao…

Những rủi ro của các hoạt động kinh tế biển hiện nay tại các địa bàn khảo sát chủ yếu xuất phát từcác nguồn lực sinh kế (vốn vật chất, vốn tài nguyên, vốn con người, vốn xã hội, vốn tài chính) thiếuthốn, yếu kém, suy giảm, việc tổ chức quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản chưa tốt, cũng như nhữngtác động bất lợi của các yếu tố bên ngoài như thiên tai, thời tiết xấu, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh,biến động giá cả thị trường của các mặt hàng như xăng dầu, thức ăn chăn nuôi, thuốc phòng trừ dịchbệnh tăng cao

Các cơ hội phát triển sinh kế bền vững bao gồm các cơ hội thị trường và thể chế, các chương trình,

dự án phát triển KTXH địa phương, các nguồn lực khan hiếm chưa được sử dụng và khai thác hiệuquả như đất đai, lao động, vốn xã hội của cộng đồng ven biển…

Những nguyên nhân rủi ro và cơ hội phát triển sinh kế bền vững nói trên phản ánh cái chung của cácđịa bàn ven biển vùng dự án CRSD

Sự khác biệt giữa các địa phương ven biển thuộc vùng dự án, về cơ bản, là sự khác biệt về nhữngnguồn lực sinh kế của cộng đồng, hộ gia đình, trong bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương và khảnăng tận dụng chúng cho việc tạo lập những sinh kế thay thế đánh bắt ven bờ Do vậy việc phân tích

Trang 9

các nguồn lực sinh kế của hộ gia đình và cộng đồng là cơ sở kinh tế - xã hội quan trọng cho việc xâydựng những hoạt động dự án CRSD trên các điạ phương cụ thể.

Những định hướng chủ yếu về sinh kế bền vững vùng ven biển:

* Phát huy mọi nguồn lực sinh kế của hộ gia đình và cộng đồng (vốn con người, vốn tài nguyên, vốnvật chất, vốn tài chính, vốn xã hội), tận dụng mọi cơ hội thị trường và thể chế, cũng như điều kiệnthuận lợi ở từng địa phương nhằm phát triển những nguồn sinh kế bền vững cả về kinh tế, xã hội vàmôi trường

* Đa dạng hóa nguồn thu nhập là một chiến lược sinh kế của các hộ gia đình và cộng đồng ven biểnnhằm khai thác tối đa tiềm năng sinh kế hộ và cộng đồng, làm giảm áp lực lên khai thác ven bờ Đadạng hóa nguồn thu nhập nên dựa trên cách tiếp cận nhu cầu thị trường Đa dạng hóa nguồn thu nhậpcần đi liền với cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh tế vùng ven biển, tạo ra tính liên thông thị trườnggiữa vùng ven biển với các vùng khác, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm, cũng như đào tạonghề, nâng cao nguồn lực con người

* Nếu nút thắt về phát triển của cả nước là CSHT và chất lượng nguồn nhân lực, thì đây cũng là nútthắt đối với phát triển vùng ven biển Trong khuôn khổ dự án CRSD, cần chú trọng việc đào tạo,nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như một giải pháp căn cơ, lâu dài để phát triển vùng ven biển,cũng như phát triển sinh kế bền vững

* Áp lực dân số cao, tình trạng kinh tế chậm phát triển ở vùng ven biển đang tạo áp lực mạnh tronggiải quyết việc làm cũng như dòng di cư tự do lớn đến các vùng kinh tế trọng điểm và vùng TâyNguyên Đây là vấn đề xã hội hàng đầu ở vùng ven biển Vì thế, một trong các giải pháp cơ bản của

dự án CRSD là thiết lập các tổ chức GTVL, cung cấp thông tin thị trường lao động, hướng nghiệp,cung cấp chuyên gia, nâng cao năng lực cán bộ tại các địa phương nhằm tạo ra những nguồn sinh kếthay thế trong điều kiện kinh tế địa phuơng, đặc biệt là lĩnh vực phi nông nghiệp chưa phát triển.Việc kết hợp với các hoạt động đào tạo nghề, hỗ trợ phổ cập giáo dục có thể đem lại hiệu quả tốt vềlâu dài

*Lồng ghép các hoạt động dự án CRSD với các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH trên cácđịa bàn vùng ven biển, nhằm tích hợp những nguồn lực khan hiếm để phát triển vùng ven biển và tạolập những nguồn sinh kế bền vững

* Nghèo đói là một trong những nguyên nhân dẫn tới khai thác cạn kiệt vùng tài nguyên ven bờ Vìthế dự án CRSD nên chú trọng các hoạt động giảm nghèo, tạo sinh kế bền vững cho các nhóm yếuthế như nhóm nghèo, cận nghèo, phụ nữ đơn thân, DTTS

* Vùng ven biển và các hoạt động sinh kế của cộng đồng ven biển thường xuyên chịu đựng nhữngrủi ro lớn Điều đó làm cho một bộ phận lớn trong cộng đồng dễ rơi vào vòng xoáy của sự nghèo đói,tạo nên áp lực lớn đối với khai thác ven bờ Vì thế, các biện pháp bảo hiểm phòng chống rủi ro có thểgiúp hạn chế tác động bất lợi của những rủi ro Dự án CRSD có thể hỗ trợ, thúc đẩy sự tham gia củacộng đồng vào các hoạt động bảo hiểm, cũng như tham gia vào chương trình thí điểm của chính phủ

về bảo hiểm nông nghiệp

* Chiến lược phát triển sinh kế thay thế là một bộ phận quan trọng trong mục tiêu giảm phụ thuộcsinh kế vào đánh bắt ven bờ Chiến lược này cần gắn với mô hình đồng quản lý tài nguyên, cũng nhưnâng cao năng lực quản trị địa phương và tăng cường liên kết liên ngành và liên vùng để thực hiệnmục tiêu giảm đánh bắt ven bờ

Trang 10

* Từ những định hướng trên có thể phân ra 3 nhóm các đề xuất dự án CRSD là nhóm các mô hìnhsinh kế chuyển đổi nghề khai thác trên biển, nhóm các mô hình sinh kế dựa vào đất và các mô hìnhsinh kế không dựa vào đất Những đề xuất mô hình cụ thể tại từng địa phương có thể là sự kết hợpcác định hướng nêu trên

Trang 11

I GIỚI THIỆU CHUNG

1.1 Bối cảnh chung

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km và khoảng 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) Trong nềnkinh tế quốc gia, ngành thuỷ sản đóng một vai trò quan trọng về việc làm và xuất khẩu Hơn nămtriệu người trực tiếp làm việc trong ngành ngành thủy sản; khoảng 8 triệu người (10% dân số cảnước) có được thu nhập chính từ thủy sản; và khoảng 5,03 tỷ đô la Mỹ doanh thu xuất khẩu thủy sảntrong năm 2010 Hiện nay, ngành thủy sản đứng thứ ba về kim ngạch xuất khẩu sau ngành côngnghiệp dệt may và dầu thô, nhưng trên các sản phẩm nông nghiệp khác như gạo và cao su Ngànhthủy sản đã tăng trưởng ổn định kể từ cuối những năm 1980 Từ năm 2000 đến năm 2010, tăngtrưởng của ngành là khoảng 13,6% về khối lượng và khoảng 10,4% về giá trị Đến năm 2010, sảnxuất thủy sản đạt 5,2 triệu tấn (bao gồm 2,5 triệu tấn từ đánh bắt thủy sản và 2,7 triệu tấn từ nuôitrồng thủy sản) Hoạt động kinh tế hộ vẫn chiếm ưu thế trong cả đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.Trước đây 80% sản lượng đánh bắt từ ven bờ, với các tàu thuyền đánh cá<90 CV, sau này phần lớnnông dân có ít hơn 1-2 ha ao nuôi tôm cho mỗi hộ gia đình Trong thập kỷ qua, nuôi trồng thủy sản

là động lực hàng đầu của tăng trưởng, trong khi đánh bắt thủy sản đã bắt đầu suy giảm nhanh chóng

do khai thác quá mức Ví dụ, ở Vịnh Bắc Bộ, tỷ lệ sản lượng đánh bắt trên mỗi đơn vị công suấtgiảm từ 1,13 tấn/CV năm 1986 xuống 0,28 tấn/CV năm 2006

Các khu vực nuôi trồng thủy sản đã bắt đầu sản xuất thương mại xuất khẩu trong những năm 1980với nuôi tôm sú (Penaeus monodon) Trong hai thập kỷ tiếp theo, nuôi tôm mở rộng theo cấp số nhân

và trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng ở tất cả các vùng ven biển Ngoài ra, một số loài nuôi

có tiềm năng tốt đã được nghiên cứu và thực hành Những loài mới bao gồm tôm hùm (Panulirusspp.), Cá giò (Rachycentron canadum), bào ngư (Haliotis spp.), ốc biển lớn ngà voi (Babyloniaareolata), trai ngọc môi bạc (Pinctada maxima spp.), tôm chân trắng (Penaeus vannamei)

Theo thống kê của Bộ NN & PTNT, khoảng 92% diện tích nuôi tôm (590.377 ha) tại các tỉnhĐBSCL, 3% (21.852 ha) ở các tỉnh phía Bắc, và 4% (26.886 ha) trong khu vực miền Trung Tôm súvẫn là loài phổ biến nhất, đặc biệt là ở khu vực ĐBSCL, cho đến gần đây, tôm chân trắng chỉ đượccho phép dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt Trong thập kỷ qua, tôm sú nuôi phải đối mặt với vấn đềnghiêm trọng vì bệnh tật, thường gắn liền với quản lý yếu kém, ô nhiễm nước Tôm chân trắng đãđược giới thiệu lần đầu đến Việt Nam 1996-1997 (mặc dù Chính phủ chính thức phê duyệt trongnăm 2002) là một loài thay thế Giống tôm chân trắng được tuyên bố là chủ yếu nhập khẩu từHawaii, mặc dù các nguồn khác (ví dụ như Thái Lan) cũng được báo cáo Kể từ đó, loài này đượcnhiều nông dân chấp nhận và mở rộng nhanh chóng trong vài năm qua, đặc biệt là ở khu vực miềnTrung (khu vực nông nghiệp và sản xuất tôm chân trắng trong khu vực này năm 2010 đạt 54% và61% tương ứng) Lý do cho sự thành công của tôm chân trắng là ít có khả năng bị ảnh hưởng bởidịch bệnh Tôm chân trắng có thể nuôi với mật độ thả giống rất cao và được đặc trưng bởi thời giansinh trưởng ngắn hơn tôm sú (2,5 tháng so với 4-5 tháng)

Hệ thống nuôi tôm ở Việt Nam có thể chia thành quảng canh, bán thâm canh và thâm canh Hiệnnay, nuôi quảng canh cải tiến, mở rộng, và bán thâm canh, là phổ biến nhất (trên 90% tổng diện tích)trong khi thâm canh, thâm canh cao chiếm ít hơn 10% tổng số diện tích Trái ngược với sự phát triển

ổn định của nghề nuôi tôm nước lợ, nuôi trồng thủy sản biển ở Việt Nam vẫn còn yếu kém Điều nàymột phần do sự hạn chế về thương mại hóa con giống và thức ăn phù hợp Việc nuôi biển phổ biếnnhất bao gồm bẫy giống tự nhiên từ biển và sau đó nâng cao chúng trong lồng hoặc ao để đạt kíchthước thương mại Những giống nuôi biển bao gồm các loài cá mú, cá giò, cá chẽm, tôm hùm, hàu

và nhuyễn thể Nuôi tôm hùm lồng là hoạt động chủ yếu ở Nam Trung Bộ (tức là Phú Yên và KhánhHòa), nơi con giống tự nhiên có sẵn và khu vực này ít bị gió mạnh và bão Nói chung, có hai hệ

Trang 12

thống canh tác: nuôi trồng hải sản quy mô nhỏ, lồng được làm từ vật liệu địa phương và có kíchthước nhỏ (vài mét khối mỗi lồng); nuôi quy mô lớn (ví dụ như trang trại biển), nó được thực hiệntrong lồng lớn (thường được nhập khẩu) Lồng thường nằm trong vịnh để tránh thiệt hại do giómạnh Sản lượng nuôi trồng thủy sản biển trong năm 2010 chỉ khoảng 12.500 tấn mặc dù Quy hoạchnuôi trồng thủy sản ban hành năm 2006 đã đặt ra chỉ tiêu 200.000 tấn vào năm 2010.

Có bốn khu vực đánh cá chính: Vịnh Bắc Bộ; miền Trung Việt Nam, Đông Nam Việt Nam; và TâyNam Việt Nam (một phần của vịnh Thái Lan) Việc khai thác hải sản là cao nhất ở Trung và ĐôngNam Việt Nam ĐBSCL cung cấp hơn 75% bến cá và do đó hầu hết ngành công nghiệp đánh bắt cátập trung ở các tỉnh phía Nam, từ Khánh Hòa đến Cà Mau Các khu vực đánh cá có thể được chiathành thủy sản gần bờ, ven biển và xa bờ Vùng nước gần bờ là những khu vực trong vòng 6 hải lý từ

bờ biển Theo một đánh giá gần đây, tiềm năng thủy sản biển đã được ước tính khoảng 4,2 triệu tấn,trong đó cho phép đánh bắt hàng năm là 1,7 triệu tấn, trong đó có 850 000 tấn cá đáy, 700 000 tấn cátầng giữa; và 120 000 tấn cá nổi Trong năm 2010, tổng sản lượng khai thác biển đạt 2,5 triệu tấn, đãvượt quá ngưỡng cho phép đánh bắt gần 50%

Có một truyền thống về vừa khai thác vừa đánh bắt trực tiếp từ bãi biển hoặc trong rừng ngập mặnnông, cửa sông, đầm phá và vùng đồng bằng sông, nhờ ảnh hưởng của nước thủy triều Một loạt cácngư cụ đơn giản, cũng như tinh vi, được sử dụng để bắt tất cả các loại cá và các loài động vật có vỏ.Điều này cung cấp một lượng đáng kể protein cho người dân ven biển Trong năm 2010, khoảng107.500 tàu thuyền đánh cá nhỏ đang hoạt động gần bờ, trong đó có 5.200 tàu thuyền là không cóđộng cơ (đánh cá dọc theo bờ biển với mức nước 4-5 m ) và còn lại là 102.300 tàu thuyền cơ giớinhỏ (<90 CV, đánh bắt cá trong các khu vực gần bờ) Tất cả những tàu đánh cá hoạt động trực tiếp từbãi biển mà không sử dụng cảng Các ngư cụ phổ biến nhất bao gồm lưới kéo, lưới rê, câu vàng,mành, bẫy Mặc dù nguồn tài nguyên ven bờ được báo cáo là đã bị suy giảm đáng kể trong nhữngthập kỷ qua, số lượng tàu thuyền đánh cá nhỏ hoạt động gần bờ đã không giảm Ngược lại, hiện naytàu thuyền đánh cá nhỏ hoạt động ven bờ có xu hướng tăng trong những năm gần đây, một phần dotrợ cấp giá nhiên liệu của chính phủ

1.2 Thông tin về dự án

Hiện đã có mối quan tâm ngày càng tăng trong chính phủ và các tổ chức liên quan trong việc thúcđẩy phát triển bền vững ngành thuỷ sản để bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn lợi tự nhiên venbiển nhằm bảo đảm khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản và phát triển bền vững nền kinh tế vàsinh kế cộng đồng vùng ven biển Đáp ứng yêu cầu của chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Thế giớichuẩn bị Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD) để cải thiện việc quản lý tàinguyên ven biển, hỗ trợ phát triển bền vững ngành thủy sản ở một số tỉnh ven biển Việt Nam

1.3 Mục tiêu của dự án

Cải thiện quản lý bền vững nghề cá ven biển ở các tỉnh duyên hải được lựa chọn của Việt Nam Mụctiêu này sẽ đạt được thông qua các hợp phần dự án

1.4 Các hợp phần của dự án

(1) Tăng cường năng lực thể chế quản lý bền vững tài nguyên ven biển;

(2) Thực hành tốt nuôi trồng thủy sản ven biển bền vững;

(3) Đánh bắt thủy sản ven bờ bền vững;

(4) Quản lý, giám sát và đánh giá dự án

Trang 13

1.5 Phạm vi của dự án

Dự án thực hiện trên phạm vi 8 trong số 29 tỉnh ven biển Việt Nam, bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An,

Hà Tĩnh ở Bắc Trung Bộ, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa ở Nam Trung Bộ và Sóc Trăng, Cà Mau

ở ĐBSCL

II PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ XÃ HỘI

2.1 Mục tiêu đánh giá xã hội

Mục tiêu của đánh giá xã hội (SA) là đưa bối cảnh xã hội vào thiết kế dự án, nhằm giảm thiểu cáctác động xã hội tiêu cực và phát huy tối đa tác động tích cực Các nghiên cứu SA cũng sẽ cung cấpđầu vào cho thiết kế các hoạt động sinh kế thay thế cho những cộng đồng nghèo phụ thuộc rất nhiềuvào đánh bắt thủy sản đang can kiệt

2.2 Nhiệm vụ và phạm vi đánh giá xã hội

Nhiệm vụ đánh giá xã hội

 Xác định và phân tích mức độ phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên ven bờ, sử dụng vàkhai thác nguồn tài nguyên ven bờ cho các mục đích tiêu dùng và thương mại

 Xác định những rủi ro gắn liền với các hoạt động sử dụng và khai thác hiện tại của cộngđồng địa phương, bao gồm các hoạt động nông nghiệp, thủy sản, đánh bắt dẫn đến sửdụng không bền vững các nguồn tài nguyên

 Tìm hiểu những giải pháp để giảm thiểu những rủi ro thông qua việc thực hiện đánh bắt

và nuôi trồng bền vững

 Tìm hiểu các cơ hội phát triển các sinh kế và thu nhập thay thế

 Đánh giá mức độ tham gia của các cộng đồng địa phương và các nhóm DTTS vào cáchoạt động của dự án trong các hợp phần khác nhau và đề xuất các giải pháp để tăngcường sự tham gia của họ

 Chuẩn bị một Khung xử lý dựa trên kết quả tham vấn với các cộng đồng đánh bắt

Phạm vi đánh giá

Đánh giá xã hội là một hoạt động cần thiết của dự án CRSD Tuy nhiên do điều kiện quĩ thời gian eohẹp, nên đánh giá xã hội chỉ thực hiện ở 3 tỉnh Thanh Hóa, Khánh Hòa, Sóc Trăng Năm tỉnh còn lạicủa CRSD sẽ tự tiến hành đánh giá xã hội để xây dựng các đề xuất cho hợp phần 3 – Khai thác ven

bờ bền vững Báo cáo đánh giá xã hội này là một tài liệu tham khảo cho các tỉnh dự án còn lại để tựthực hiện đánh giá xã hội trên địa bàn tỉnh Báo cáo cũng cung cấp một cơ sở xã hội cho việc xâydựng dự án, các biện pháp giảm thiểu và hạn chế các tác động tiêu cực đồng thời tăng cường các lợiích của dự án

2.3 Phương pháp đánh giá xã hội

Để thu thập thông tin kinh tế xã hội ở cấp hộ gia đình được chính xác và đầy đủ, cách tiếp cận thamgia đã được sử dụng trong cuộc khảo sát này Theo đó, cả hai phương pháp định lượng và định tínhđược sử dụng kết hợp để thu thập thông tin Ngoài ra, phương pháp phân tích tài liệu và quan sát trựctiếp cũng đã được sử dụng để thực hiện khảo sát

2.3.1 Các phương pháp khảo sát

a) Phương pháp “Nghiên cứu tài liệu”

Trang 14

Mục đích của phương pháp này là nhằm hiểu lịch sử phát triển và hoạt động của địa phương thuộc

dự án thông qua phân tích các tài liệu liên quan của địa phương đó Phương pháp này có thể cungcấp thông tin cơ bản về khu vực dự án hoặc một chỉ số cụ thể Đồng thời, nó có thể cung cấp một nềntảng tốt để giải thích về những thay đổi đang diễn ra Đây là một điểm khởi đầu tốt cho việc đánh giá

và có thể phục vụ như một biện pháp thay thế cho điều tra cơ sở Việc xem xét tài liệu ban đầu nhưvậy cũng có thể giúp xác định những lỗ hổng thông tin và các vấn đề chính cần giải quyết trong quátrình phân tích và đánh giá sâu hơn

Tư vấn làm việc với các cơ quan liên quan ở cấp tỉnh/huyện/xã để (i) Xác định và lên danh sách tất

cả các nguồn thông tin hiện có mà có thể tiếp cận, bao gồm tài liệu, các báo cáo phát triển kinh tế xãhội, dữ liệu thống kê hiện có của các xã, huyện và tỉnh thuộc dự án; (ii) Ưu tiên những nguồn có khảnăng cung cấp thông tin hữu ích, xét về hiệu quả chi phí và thời gian; và (iii) Xác định các lỗ hổngthông tin còn tồn tại, sau đó kết hợp với phương pháp định lượng (thông qua phỏng vấn bảng hỏi) vàphương pháp định tính (thông qua phỏng vấn những người cung cấp thông tin chủ chốt và thảo luậnnhóm tập trung) để có thông tin bổ sung cho những chỗ trống đó

Bên cạnh đó, việc thu thập và phân tích các nghiên cứu kinh tế - xã hội có liên quan đến sự phát triểnngành thủy sản và vùng ven biển như “Phân tích kinh tế chiến lược ngành thủy sản”, “Phân tíchnghèo đói trong lĩnh vực thủy sản”, “Nghiên cứu về chiến lược sinh kế hộ”, “Điều tra kinh tế xã hộimột số tỉnh”, các cuộc điều tra quốc gia như “Tổng điều tra dân số và nhà ở”, “Điều tra mức sốngdân cư các năm”, “Điều tra lao động việc làm” cũng cung cấp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn chođánh giá xã hội vùng dự án

b) Phương pháp định lượng

Phương pháp định lượng là phương pháp điều tra chọn mẫu được sử dụng nhằm thu thập thông tin từmột số lượng lớn các hộ gia đình thông qua một bảng hỏi với các câu hỏi cụ thể được thiết kế theocách cho phép triển khai phân tích thống kê Cuộc khảo sát sẽ tạo cơ sở cho những nghiên cứu đánhgiá khác vì nó cho phép thu thập dữ liệu tập trung vào các vấn đề hoạt động cụ thể hoặc các chỉ số từmột mẫu Phương pháp này đòi hỏi một chiến lược chọn mẫu để thực hiện đánh giá về tình trạngkinh tế xã hội của hộ gia đình

c) Phương pháp định tính

Mục đích của phương pháp này là nhằm thu thập thông tin chung, làm rõ hoặc tập hợp ý kiến, quanđiểm về một vấn đề từ một nhóm nhỏ những người được lựa chọn đại diện cho các quan điểm haycác nhóm khác nhau (ví dụ, nhóm đánh bắt ven bờ, nhóm nuôi trồng thủy sản, nhóm buôn bán/dịch

vụ thủy sản, nhóm dân tộc thiểu số hay nhóm phụ nữ, nhóm lãnh đạo chính quyền và các tổ chứcđoàn thể, vv.) Đồng thời, có thể sử dụng phương pháp này để xây dựng một sự đồng thuận củangười dân địa phương về dự án Thảo luận nhóm tập trung là một phương pháp tốt để đánh giá quanđiểm của các bên liên quan về dự án và xác định những vấn đề cần quan tâm Việc áp dụng cácphương pháp phân tích ma trận SWOT (mạnh, yếu, cơ hội và thách thức) và xếp hạng ưu tiên trongcác cuộc thảo luận nhóm có thể xác định những vấn đề và hoạt động dự án ưu tiên đối với các nhóm

xã hội Những hướng dẫn thảo luận đã được chuẩn bị theo các chủ đề và các nhóm khác nhau Bêncạnh thảo luận nhóm, phỏng vấn cá nhân một số người liên quan để hiểu sâu hơn về một số vấn đềquan tâm

d) Phương pháp quan sát trực tiếp

Phương pháp này nhằm thu thập thông tin hữu ích và kịp thời bằng cách quan sát những gì đang diễn

ra tại địa bàn khảo sát để hiểu kỹ hơn về những kết quả đánh giá Phương pháp này là hết sức quan

Trang 15

trọng để bổ sung cho dữ liệu đã thu thập được bằng các phương pháp nêu trên, có thể sử dụng đểhiểu bối cảnh trong đó thông tin được thu thập và có thể giúp giải thích kết quả khảo sát

e) Tham vấn cộng đồng

Các nhóm ngư dân mục tiêu đã được lựa chọn để tham vấn, bao gồm nhóm phụ nữ ngư dân, nhómnam ngư dân, nhóm ngư dân là người DTTS, nhóm nuôi trồng thủy sản, nhóm chế biến/buônbán/dịch vụ thủy sản Nội dung tham vấn bao gồm: thông tin về các hoạt động của dự án (tập trungvào Hợp phần 2 và 3), những tác động tiềm ẩn của dự án (Hợp phần 2 và 3), các biện pháp giảmthiểu tác động như bồi thường, hỗ trợ và cả các sinh kế thay thế do người dân đề xuất

Nhóm dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng tiềm năng đã được lựa chọn để tham vấn riêng Một cuộc thamvấn tự do, tham vấn trước và tham vấn phổ biến thông tin cho người dân tộc Khơme làm nghề đánhbắt ven bờ đã được tổ chức ở ấp Au Thọ B, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng

2.3.2 Chọn mẫu và các thông tin cần thu thập

a) Nguyên tắc chọn mẫu

Đối tượng khảo sát mẫu là các hộ gia đình có sinh kế và nguồn thu nhập phụ thuộc vào đánh bắt vàkhai thác ven bờ Mẫu sẽ được chọn ngẫu nhiên từ danh sách các hộ thỏa mãn tiêu chí này và đãđược phân loại theo các nhóm biến số như giới tính, dân tộc, nghèo, không có đất sản xuất hoặcphương tiện sản xuất tàu, thuyền Những người được lựa chọn khảo sát cần đại diện cho hộ gia đình

và tuổi từ 18 đến 60 Do thời gian và kinh phí có hạn nên cỡ mẫu khảo sát ở mỗi tỉnh sẽ là 60 hộ,tổng mẫu là 180 hộ ở cả 3 tỉnh dự án Theo lý thuyết thống kê, cỡ mẫu này đã đảm bảo độ tin cậy và

Bước 1: Phối hợp với Ban QLDA tỉnh lựa chọn 2 xã đại diện cho các xã dự án ở mỗi

tỉnh, có chú ý tới vị trí địa lí (nằm ven đầm phá và dải ven bờ), thành phần dân cư và tình trạngnghèo khổ của mỗi xã

Bước 2: Dựa vào tiêu chí chọn mẫu nêu trên, lựa chọn 02-03 thôn đại diện trong một xã, tùy

tình hình thực tiễn và lập danh sách các hộ thỏa mãn tiêu chí chọn mẫu

Bước 3: Từ danh sách các hộ đã được lập ở mỗi thôn đã chọn, lựa chọn ngẫu nhiên để

được 30 hộ đảm bảo đại diện cho các nhóm hộ Với các thôn được chọn khảo sát ở 2 xã, tổngmẫu sẽ là 60 hộ

Chọn mẫu định tính

Những người cung cấp thông tin chủ chốt sẽ được lựa chọn để phỏng vấn sâu bao gồm:Phó giám đốc Sở NN&PTNT phụ trách thủy sản, cán bộ phụ trách thủy sản cấp huyện, CT/PCTUBND xã, trưởng thôn, đại diện hộ đánh bắt (ven bờ và xa bờ), đại diện hộ nuôi trồng và đạidiện hộ chế biến và buôn bán, dịch vụ thủy sản

Trang 16

Các thảo luận nhóm bao gồm: (i) nhóm cán bộ chủ chốt xã và các đoàn thể (cán bộ nôngnghiệp, cán bộ địa chính, CT/PCT mặt trận tổ quốc, Hội nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiếnbinh, Đoàn thanh niên); (ii) nhóm dân, gồm đại diện cho các hộ có sinh kế và thu nhập hoàn toànphụ thuộc vào thủy sản (đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và buôn bán, dịch vụ), nhóm các hộ cónguồn sinh kế và thu nhập thứ hai ngoài thủy sản, nhóm thanh niên làm nông-ngư nghiệp Mỗinhóm khoảng từ 8 đến 10 người Các kĩ thuật “Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)” sẽ

được sử dụng để thu thập thông tin như “Lập lịch mùa vụ”, “Lập bản đồ khu dân cư” và “Phân tích mạnh, yếu, cơ hội và thách thức” (SWOT).

2.3.3 Các thông tin và chỉ số cần thu thập

Cấp tỉnh

Các số liệu thống kê về kinh tế xã hội của tỉnh, bao gồm diện tích đất tự nhiên, dân số phân theonam/nữ, thành thị/nông thôn, dân tộc thiểu số, dân số lao động và việc làm, cơ cấu ngành nghề, cơcấu thu nhập và thu nhập đầu người 2008-2010, tình trạng nghèo khổ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xãhội, chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020, trong đó có quy hoạch và

kế hoạch phát triển ngành thủy sản Các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phát triển dântộc thiểu số của tỉnh

Cấp huyện

Các số liệu thống kê về kinh tế xã hội của huyện, bao gồm diện tích đất tự nhiên, hiện trạng sử dụngđất, dân số phân theo nam/nữ, thành thị/nông thôn, dân tộc thiểu số, dân số lao động và việc làm, cơcấu ngành nghề, cơ cấu thu nhập và thu nhập đầu người 2008-2010, tỷ lệ hộ nghèo, cơ sở hạ tầng kỹthuật và xã hội, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020, trong đó có quyhoạch và kế hoạch phát triển ngành thủy sản

Cấp xã

Các số liệu thống kê về kinh tế xã hội của xã, bao gồm diện tích đất tự nhiên, hiện trạng sử dụng đất,hạn mức đất ở và đất nông nghiệp ở xã, dân số phân theo nam/nữ, nông nghiệp/phi nông nghiệp, dântộc thiểu số, dân số lao động và việc làm, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu thu nhập và thu nhập đầu người2008-2010, tỷ lệ hộ nghèo, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, trong đó có cơ sở hạ tầng ngành thủysản, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 Xem chi tiết trong Phụ lục

Cấp hộ gia đình

Chủ hộ: tên, tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, thu nhập, trình độ học vấn; Các thành viên của hộ:

số lượng, tuổi, giới tính, nghề nghiệp, số trẻ em ở độ tuổi đi học và đang đi học, trình độ học vấn củamỗi thành viên; Các hoạt động sinh kế; Đất và tình trạng sử dụng đất; Những rủi ro trong sản xuất;Khả năng tiếp cận đến các dịch vụ và các nguồn lực công cộng; Khả năng chuyển đổi nghề (sinh kếthay thế); Quan điểm và thái độ về dự án

2.3.4 Bộ công cụ thu thập thông tin

Để thu thập thông tin và số liệu nêu trên ở các cấp, một bộ công cụ đã được chuẩn bị(xem Phụ lục), gồm:

 01 Bảng hỏi bán cấu trúc để thu thập thông tin cấp hộ gia đình

 04 Hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm các cấp

Trang 17

 03 Bảng thu thập số liệu thống kê ở cấp tỉnh, huyện và xã.

2.3.5 Xử lý và phân tích số liệu đã thu thập

Số liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm phân tích thống kê SPSS 11.5 (chương trình xử líthống kê) Kết quả định tính được xử lý bằng phần mềm NVivo 8.0

Xử lí và phân tích số liệu định lượng: Số liệu định lượng thu thập được bằng bảng hỏi được xử lý

bằng phần mềm thống kê SPSS Một bảng tần suất cùng với các bảng tương quan được kết xuất đểphân tích và viết báo cáo Các biến độc lập chính là xã, tỉnh, nhóm thu nhập 20%, giới tính của chủ

hộ và DTTS Các xã được chọn khảo sát là những địa phương có tính điển hình của các vùng đất venbiển của dự án CRSD, vừa có những đặc điểm chung về sự phụ thuộc sinh kế vào nguồn thủy sảnven bờ, vừa có những đặc thù về các nguồn lực sinh kế như về điều kiện tự nhiên đầm phá, cù lao,cửa lạch, bờ biển, về khí hậu và nguồn lợi thủy sản, về DTTS, đặc điểm văn hóa vùng miền, nguồnlực đất đai sản xuất, đặc điểm sự phát triển kinh tế thủy sản hay nông nghiệp hàng hóa, và về phươngtiện đánh bắt Những đặc điểm đó có ảnh hưởng khác nhau đến sự phụ thuộc và rủi ro sinh kế, cũngnhư khả năng tạo lập các sinh kế thay thế Ngoài ra, tương quan giữa các biến như thu nhập, việclàm, sinh kế, nghèo khổ, DTTS với các biến độc lập như giới tính, tuổi, học vấn được phân tích đểtìm ra các mối liên hệ và yếu tố tác động Các số liệu thu thập được được lưu giữ trong một cơ sở dữliệu để làm cơ sở dữ liệu ban đầu (baseline) cho việc giám sát và đánh giá trong giai đoạn thực hiện

dự án

Xử lí và phân tích thông tin định tính: Các thông tin thu thập được từ các phỏng vấn sâu và thảo luận

nhóm được xử lí bằng chương trình Nvivo theo các chủ đề cần đánh giá và phân tích Các kết quảđịnh tính sẽ giúp giải thích rõ thêm cho các kết quả định lượng và phản ánh quan điểm cũng như sựđồng thuận hay phản đối của người dân đối với dự án và giúp phát hiện những vấn đề mà người dânquan tâm

2.4 Thực hiện đánh giá

Từ ngày 11/4/2011, nhóm tư vấn đã thực hiện việc thu thập và phân tích các tài liệu có liên quan đếnnhiệm vụ nghiên cứu, làm việc với các cơ quan chức năng có liên quan ở Trung ương và Ngân hàngThế giới để thu thập tài liệu, xây dựng bộ công cụ định lượng và định tính, gửi trước danh mục, nộidung các thông tin, kế hoạch làm việc cụ thể cho các tỉnh khảo sát: Thanh Hóa, Khánh Hòa, SócTrăng (xem thêm phụ lục về kế hoạch khảo sát tại các địa phương)

Kế hoạch thực hiện khảo sát được phân bổ như sau:

Huy động chuyên gia

Thu thập và nghiên cứu tài liệu

Chuẩn bị bộ công cụ

Khảo sát thực địa

Xử lý số liệu

Viết báo cáo (dự thảo)

Trình bày kết quả đánh giá

Hoàn thiện báo cáo trình nộp WB

Nhóm tư vấn đã tổ chức khảo sát thực địa để thu thập thông tin tại Sóc Trăng và Kkánh Hòa từ8/5/2011 đến 20/5/2011 và tại Thanh Hóa từ 22/5/2011 đến 29/5/2011 Với sự hỗ trợ tích cực của SởNN&PTNT các tỉnh Thanh Hóa, Khánh Hòa, Sóc Trăng, lãnh đạo UBND, ban ngành các huyện, xã

và cộng đồng ngư dân đựợc khảo sát, nhóm tư vấn đã thu được hệ thống các thông tin cần thiết cấp

Trang 18

tỉnh, huyện, xã và 194 bảng hỏi hộ, cũng như đã tổ chức 30 cuộc thảo luận nhóm, tham vấn cộngđồng (bao gồm các nhóm đánh bắt, NTTS, chế biến, dịch vụ thủy sản, nhóm phụ nữ, nhóm nghèo,nhóm thanh niên, nhóm DTTS, nhóm cán bộ xã ) Tư vấn đã tổ chức một cuộc tham vấn với nhómDTTS Khơme làm nghề đánh bắt ở ấp Âu thọ B, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh châu Họ là những hộnghèo, không có đất, không có tàu thuyền đánh bắt, sinh kế chính của họ là đánh bắt thủ công (bằngngư cụ cầm tay) ven bờ và đánh bắt thuê cho các chủ tàu nhỏ Ngoài ra khi không đánh bắt được, họ

đi làm thuê bất kể việc gì ở trong và ngoài xã Trình độ học vấn của họ rất thấp (trung bình lớp 3/12).Trong số 15 người dự tham vấn, chỉ có 3 người biết đọc tiếng Việt, nhưng không nói được thôngthạo Số còn lại không hiểu tiếng Việt nên trong quá trình tham vấn, phải cần phiên dịch tiếngKhơme

Nhiều ý kiến của cộng đồng về sự phụ thuộc và những rủi ro sinh kế của đánh bắt và NTTS ven bờ,những cơ hội và loại hình sinh kế thay thế đánh bắt ven bờ, khả năng tham gia của cộng đồng vào dự

án CRSD đã thu được qua các cuộc thảo luận nhóm và tham vấn cộng đồng Các ý kiến đó đã được

sử dụng trong phân tích của báo cáo này Những đề xuất về các hoạt động của dự án CRSD tại địaphương, với sự tham gia tích cực của cộng đồng, đã được xem là cơ sở xã hội quan trọng để xâydựng những đề xuất sinh kế thay thế bền vững của tư vấn được nêu trong Báo cáo này

III THÔNG TIN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG DỰ ÁN

3.1 Đặc điểm tự nhiên và dân số các tỉnh dự án

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Tổng diện tích đất tự nhiên của 8 tỉnh dự án là 5.861.300ha, trong đó đất nông nghiệp và thủy sản là:1.312.400ha, đất lâm nghiệp: 2.657.400ha, đất ở: 111.200ha và đất chuyên dùng: 321.400ha Tổngchiều dài bờ biển của 8 tỉnh là 1.221 km

Đất chuyên

Thanh Hoá 1,113,300 245,700 566,000 67,300 50,200 102 Nghệ An 1,649,100 250,100 915,900 53,200 20,200 82

Hà Tĩnh 602,600 117,500 339,800 34,300 8,200 137 Bình Định 604,000 138,100 259,200 25,300 7,800

Khánh Hoà 521,800 88,600 211,400 82,800 6,200 385 Sóc Trăng 331,200 205,800 11,400 23,300 6,000 72

Trang 19

Bảng 2: Dân số các vùng và tỉnh dự án năm 2009

Nguồn: Số liệu thống kê các tỉnh

3.2 Đặc điểm mẫu khảo sát

Cuộc khảo sát đã thu được 195 phiếu phỏng vấn hộ gia đình, trong đó người trả lời phỏng vấn là chủ

hộ chiếm 80,5%, người dân tộc Khơme chiếm 8,8% 78,5% chủ hộ sinh ra ở địa bàn khảo sát, 12,0%

di cư đến từ 1986 (bắt đầu thời kỳ Đổi mới) 66,7% hộ có người làm nghề đánh bắt và 31,2% hộ có 2ngư dân trở lên

Đặc điểm nhân khẩu- xã hội các thành viên hộ gia đình

Tỷ lệ nam cao hơn nữ đôi chút: 50,4% so với 49,6% Nhóm <15 tuổi chiếm 24,8%, nhóm 15-55 tuổi:66,3%, nhóm trên 55 tuổi- 8,8% Nhìn chung , vùng khảo sát có dân số trẻ, tỷ lệ phụ thuộc khá thấp,nhưng áp lực giải quyết việc làm lớn Tỷ lệ mù chữ: 4,6%, một phần ba có trình độ tiểu học, mộtphần ba nữa đạt trình độ THCS và 13,1% có trình độ THPT 4,9% thành viên đã từng qua đào tạo từngắn hạn đến Đại học (3,2% có trình độ cao đẳng, đại học) Tại khu vực ven biển của ba tỉnh khảosát, tỷ lệ nhóm dưới 15 tuổi của Khánh Hòa (20,5%) và Sóc Trăng (23,0%) thấp hơn đáng kể so vớichỉ số tương ứng vùng nông thôn cả nước (28,3%) của cuộc ĐTMSHGĐ 2008, trong khi tỷ lệ này ởThanh Hóa lại cao hơn (31,3%) Tỷ lệ trên 55 tuổi của khu vực khảo sát tại Thanh Hóa thấp hơnnhiều so với 2 tỉnh còn lại, chỉ bằng một nửa

trở lên làm nghề thủy sản

Trang 20

Bảng 3: Đặc điểm nhân khẩu- xã hội các thành viên hộ gia đình được khảo sát

Đặc điểm nhân khẩu xã hội

Thành viên Tỷ lệ % Thành viên Tỷ lệ % Thành viên Tỷ lệ % Thành viên Tỷ lệ %

Ghi chú: Trong cuộc khảo sát, nhóm đánh bắt là nhóm mà nguồn thu nhập chủ yếu là đánh bắt, nhóm hỗn hợp thuỷ sản là nhóm hộ có nguồn thu nhập chính cả từ đánh bắt lẫn nghề thủy sản khác, nhóm hỗn hợp khác bao gồm

những hộ có nguồn thu nhập chính từ những nghề phi thủy sản.

Tỷ lệ mù chữ của tất cả các thành viên hộ gia đình toàn mẫu khảo sát là 4,6%, đặc biệt cao tại tỉnhSóc Trăng, nơi có khá đông đồng bào Khơme sinh sống -9,5%, so với tỷ lệ thấp ở Thanh Hóa -1,3%

và Khánh Hòa-2,0% Tỷ lệ thành viên trên 14 tuổi có trình độ tiểu học ở Sóc Trăng (38,0%) cao hơnnhiều so với 2 tỉnh kia (hơn 28%) cho thấy vấn đề phổ cập giáo dục THCS ở vùng ven biển các tỉnhĐBSCL là hết sức cấp thiết trong việc tạo nguồn sinh kế thay thế đánh bắt bền vững (xem thêm phầncác rủi ro sinh kế thay thế liên quan đến vốn con người ở dưới đây) Cần có những chính sách đặcbiệt cho nhóm DTTS về vấn đề này-khuyến khích bằng tiền đủ mức để các em đi học và giảm áp lựcsinh kế đối với gia đình các em

Số nhân khẩu bình quân hộ tòan mẫu khảo sát là 5,05 người, trong đó nhóm đánh bắt (4,79) và nhómthu nhập thấp nhất (4,5) có chỉ số này thấp hơn cả Chỉ số này của địa bàn khảo sát cao hơn nhiều sovới số nhân khẩu bình quân vùng nông thôn cả nước (5,05 so với 4,14) trong ĐTMSHGĐ 2008 Sốnhân khẩu bình quân hộ trong mẫu khảo sát thuộc vùng ven biển của 3 tỉnh (Thanh Hóa 5,21; KhánhHòa 4,97; Sóc Trăng 4,97), cũng cao hơn hẳn chỉ số này của các vùng Bắc trung bộ, Duyên hải Namtrung bộ và ĐBSCL (lần lượt là 4,08; 4,11; 4,16) Điều đó cho thấy áp lực sinh kế lớn đối với các hộgia đình và cộng đồng ven biển

Biểu đồ 1: Số nhân khẩu và lao động bình quân của hộ theo nhóm nghề và nhóm thu nhập 20%

Trang 21

Số laođộngbìnhquânhộtòan mẫu khảo sát là 3,05, trong đó nhóm đánh bắt là 2,94, nhóm thu nhập thấp nhất: 2,93, đều lànhóm có chỉ số thấp nhất trong nhóm nghề và nhóm thu nhập Số lao động bình quân hộ của khu vựckhảo sát cao hơn nhiều so với số lao động bình quân hộ khu vực nông thôn cuả cuộc ĐTMSHGĐ

2008 (3,5 so với 2,5) Tuy nhiên, sự khác biệt trên có ảnh hưởng bởi trong mẫu khảo sát tính theo sốlao động có việc làm và thu nhập, chứ không phải theo số người trong độ tuổi 15-60 Thực tế, ở cácvùng ven biển, ngư dân có thể đánh bắt ven bờ từ 13-15 tuổi đến tuổi 70 Nếu phát triển giáo dụcvùng ven biển và khắc phục được tình trạng trẻ em bỏ học sớm thì tỷ lệ lao động có thu nhập trungbình hộ có thể sẽ giảm đi Tại Thanh Hóa, số lao động bình quân thấp nhất so với hai tỉnh Sóc Trăng,Khánh Hòa, nhưng số nhân khẩu bình quân hộ lại cao nhất, tức là tỷ lệ phụ thuộc thực tế cao nhất Sốlao động bình quân hộ ở khu vực khảo sát cao cho thấy vấn đề giải quyết sinh kế thay thế đánh bắt sẽgặp nhiều khó khăn

Bảng 4: Số nhân khẩu và lao động bình quân hộ gia đình

Nhân khẩu Bình quân hộ (người)

Lao động bình quân hộ (người)

Cơ cấu hộ theo quy mô nhân khẩu (%) 1-2 người 3-4 người 5-8 người 9 người trở

Trang 22

có thu nhập bình quân bằng 79,8% chuẩn nghèo (lưu ý là hai phần ba (69,2%) thành viên lao độngcủa nhóm này làm nghề đánh bắt), nhóm thu nhập cao nhất (nhóm 5) có khoảng cách 8,3 lần nhóm 1(nghèo nhất) và gấp 2,5 lần nhóm 4 Sự phân tầng xã hội vùng ven biển năm 2011 thật mạnh và gầnnhư tương đương sự phân tầng theo thu nhập cả nước của cuộc ĐTMSHGĐ 2008 (nhóm 5 gấp 8,9lần nhóm 1 và 2,3 lần nhóm 4)

Bảng 5: Phân tầng xã hội theo thu nhập

Nguồn: Số liệu khảo sát SA và GSO

Thu nhập bình quân đầu người của nhóm hỗn hợp thủy sản cao nhất, rồi đến nhóm đánh bắt và nhómkinh tế hỗn hợp phi thủy sản có chỉ số này xấp xỉ nhau

Biểu đồ 2: Thu nhập bình quân đầu người theo nhóm nghề và nhóm thu nhập 20%

IV KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ

4.1 Các hoạt động sinh kế chính ở địa bàn nghiên cứu (thực trạng, mức độ phụ thuộc vào các nguồn lợi ven bờ, những thuận lợi và khó khăn)

Đặc điểm nghề nghiệp: Trong mẫu khảo sát, 66,7% hộ có người làm nghề đánh bắt và 31,2% hộ có

2 ngư dân trở lên Đánh bắt là việc làm chính của trên một nửa (52,4%) số thành viên có tham gia laođộng Nghề thủy sản khác như NTTS, chế biến, dịch vụ chiếm 10,3% số thành viên Cơ cấu việc làm

có 62,7% lao động liên quan đến nghề thủy sản Trồng trọt và chăn nuôi là nghề chính của 11,2% sốthành viên Công nhân công nghiệp có 4,8%, xây dựng, TTCN có 1,0%, cán bộ nhà nước 3,9% Những dữ liệu trên cho thấy sự phụ thuộc sinh kế lớn của cộng đồng ven biển vào nghề đánh bắt,nhưng khi công cụ chủ yếu cuả họ là tàu thuyền nhỏ (xem phần đặc điểm tài sản) thì sinh kế cộngđồng phụ thuộc chính vào đánh bắt ven bờ

Trang 23

Biểu đồ 3: Cơ cấu việc làm chính của tất cả các thành viên lao động của hộ

Đặc điểm nhân khẩu học của những lao động đánh bắt-nhóm cần chuyển đổi sinh kế:

17,7% lao động đánh bắt là nữ, bao gồm đánh bắt trên xuồng nhỏ ven bờ và khai thác không dùngtàu thuyền Như vậy đối tượng chuyển đổi nghề đánh bắt của CRSD chủ yếu là nam giới, nhưng sốlao dộng nữ làm nghề đánh bắt cũng cần chuyển đổi vì họ tập trung vào khai thác ven bờ

Một phần ba (32,9%) lao động đánh bắt thuộc độ tuổi thanh niên (15-30) là nhóm có nhiều khả năngthích nghi và sức khỏe để chuyển đổi sinh kế dễ dàng hơn, trong đó có đánh bắt xa bờ và đào tạonghề phi thủy sản 13,9% lao động đánh bắt trên 50 tuổi có thể gặp nhiều khó khăn chuyển nghề, mà

họ đã gắn bó nhiều năm trên sóng nước Đa số (53,1%) lao động đánh bắt thuộc lứa tuổi trung niên

-là cột trụ kinh tế chính của gia đình, nhưng cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong chuyển đổi nghềnghiệp, bởi đa số có trình độ học vấn thấp, chưa qua đào tạo nghề nghiệp Việc đào tạo nghề cho họcũng không thuận lợi bởi gánh nặng kinh tế gia đình mà họ đang gánh vác Do vậy, nhóm lao độngđánh bắt lứa tưổi trung niên là nhóm đối tượng đông đảo, chủ yếu đối với chuyển đổi nghề thay thếđánh bắt ven bờ của CRSD

Lao động đánh bắt có 8,2% mù chữ, 36,9% trình độ tiểu học, 42,2% trình độ THCS, 9,8% THPT Sốlao động đã trải qua đào tạo nghề từ học nghề ngắn hạn trở lên của nhóm đánh bắt chỉ có 2,9%, thấphơn tỷ lệ này của các thành viên >15tuổi của toàn mẫu khảo sát-6,3% Trình độ học vấn, trình độnghề nghiệp của lao động đánh bắt thấp như trên là một trong những trở ngại chủ yếu của việcchuyển đổi sinh kế bền vững

Nhóm nữ chủ hộ có tỷ lệ người làm nghề đánh bắt thấp hơn chủ hộ nam ( 40,0% so với 53,5%).Nhóm thu nhập thấp nhất có tỷ lệ thành viên làm nghề đánh bắt cao nhất 69,2% so với các nhómkhác có tỷ lệ tương ứng từ 40,0% đến 56,7% Nhóm DTTS có tỷ lệ làm nghề đánh bắt cao hơn đôichút dân tộc Kinh (55,6% so với 51,8%) Như thế vấn đề chuyển đổi nghề cần chú ý đến các nhómthu nhập thấp nhất và DTTS-các nhóm có tỷ lệ lao động đánh bắt cao

Nhóm đánh bắt có 99,2% thành viên làm nghề đánh bắt, kể cả khai thác thủy sản không bằng tàuthuyền Điều này có nghĩa là con cái của các hộ đánh bắt thường nối nghề của cha mẹ và vấn đề củaCRSD là làm sao để phần lớn con cái ngư dân có khả năng sinh sống bền vững bằng các nghề phiđánh bắt nhằm làm giảm áp lực lâu dài lên các nguồn lợi thủy sản ven bờ

Trang 24

Bảng 6: Việc làm chính của người lao động (tính tất cả các thành viên của hộ có tham gia lao động)

bờ không dùng tàu thuyền và họ là một đối tượng quan trọng để chuyển đổi sinh kế thay thế Nhómchủ hộ nữ có tỷ lệ tàu thuyền đánh bắt là 64,7%, thấp hơn so với nhóm chủ hộ nam -69,4% Đánglưu ý là thu nhập bình quân đầu người tỷ lệ thuận với việc sở hữu tàu đánh bắt theo qui mô côngsuất Nhóm tàu dưới 20CV cho thu nhập trung bình đầu người/tháng: 861,2 ngàn đồng, trong khinhóm tàu 20CV-<90CV cho thu nhập gấp 1,4 lần và tàu >90CV tạo thu nhập bằng 3,1 lần nhóm tàu

Trang 25

<20CV Vì thế thu nhập trung bình đầu người của nhóm đánh bắt (đa số sở hữu tàu thuyền nhỏ

<20CV và dưới 90CV, chỉ đánh bắt ven bờ và trong lộng) thấp nhất, chỉ có 883,3 ngàn đồng/tháng,bằng 70,5% thu nhập bình quân của nhóm hỗn hợp thủy sản và 98,0% nhóm phi thủy sản Nhómđánh bắt DTTS cũng ở trong tình trạng thu nhập thấp nhất bởi chủ yếu khai thác bằng tàu thuyền nhỏ

và phương tiện thủ công ven bờ Do vậy, đầu tư tàu đánh bắt xa bờ có thể là một phương hướng sinh

kế thay thế đánh bắt ven bờ của CRSD, xét về phương diện thu nhập

Bảng 7: Tỉ lệ hộ có tàu thuyền đánh bắt, nuôi trồng TS

Ghe/thuyền máy dưới 20CV

Trang 26

Biểu đồ 4: Tỷ lệ hộ có đất sản xuất theo nhóm nghề và nhóm thu nhập

Trong mẫu khảo sát, chỉ một phần năm hộ có đất nông nghiệp, 19,0% có ao hồ, mặt nước, 7,2% hộthuê đất các loại và còn 4,1% hộ không có đất ở Tỉnh Sóc Trăng (vùng ĐBSCL) có tỷ lệ hộ có đấtnông nghiệp cao nhất 37,0%, tỉnh Khánh Hòa (vùng DHNTB) có tỷ lệ mặt nước NTTS lớn hơn cả31,1% và Thanh Hóa là tỉnh có vẻ khan hiếm các lọai đất nông nghiệp và mặt nước nhất, chỉ có lầnlượt 6,6% hộ có đất nông nghiệp và 14,8% hộ có mặt nước Dân tộc Khơme ở tỉnh Sóc Trăng có41,2% hộ đang sử dụng đất nông nghiệp, trong đó 5,9% hộ thuê đất, còn lại là được cấp đất Khôngphải ngẫu nhiên mà 26,7% hộ Khơme đề nghị hỗ trợ đất sản xuất như phương án sinh kế thay thế.Diện tích đất nông nghiệp trung bình của những hộ có đất trong mẫu khảo sát là không thấp-5.271m2/hộ, hộ Khơme là 4.742,8 m2, nhưng không đủ để phát triển sản xuất hàng hóa Vấn đề là đa

số hộ ven biển, đặc biệt là nhóm làm nghề đánh bắt không có đất nông nghiệp Những đặc điểm trêncho thấy sự phụ thuộc lớn vào đánh bắt ven bờ của cộng đồng ven biển và đất đai, mặt nước là tàinguyên rất khan hiếm ở vùng ven biển và tạo ra thách thức khó vượt qua cho việc chuyển đổi sinh

kế thay thế đánh bắt Vì thế việc nghiên cứu những nguồn đất đai, mặt nứơc chưa được sử dụng hiệuquả ở các vùng ven biển là vấn đề hết sức cấp thiết cho việc hoạch định những hoạt động về sinh kếthay thế của CRSD Trong phần đề xuất sinh kế thay thế dưới đây, phương hướng này rất được coitrọng ở tất cả các tỉnh được khảo sát và đã chỉ ra nguồn lực đất đai, mặt nước khan hiếm đã bị sửdụng lãng phí như thế nào, cũng như phương án tận dụng chúng một cách hiệu quả, tạo ra các hoạtđộng sinh kế thay thế dựa vào cộng đồng

Bảng 8: Tỷ lệ hộ đang canh tác các loại đất (%)

Đất nôngnghiệp

mặt nước

Tỷ lệ hộ cócác loại đất

Tỷ lệ hộ thuêđất

Trang 27

Cơ cấu việc làm trong mẫu khảo sát ở 3 tỉnh cho thấy nghề đánh bắt chiếm tới trên một nửa số việclàm chính, nhưng tổng các nghề có liên quan trực tiếp đến thủy sản như khai thác, nuôi trồng, chếbiến, dịch vụ chiếm tới 62,7% việc làm chính của tổng số các thành viên của hộ gia đình có tham gialao động Trong cơ cấu việc làm phụ của các thành viên lao động gia đình, 22,0% liên quan đến nghềthuỷ sản.

Bảng 9: Cơ cấu việc làm chính và việc làm phụ của người lao động (tính tất cả các thành viên của hộ có tham gia lao động) (% số lao động)

Trồnglúa/màu

Chănnuôi

Nuôitrồngthuỷsản

Đánhbắtthuỷsản

Chếbiếnthuỷsản

Dịchvụthuỷsản

Tiểuthủcôngnghiệp

Xâydựng

Thươngmại,buônbán

Cánbộ

Côngnhâncôngnghiệpkhác

Nguồn: kết quả khảo sát

Thu nhập trung bình của hộ gia đình trong 12 tháng qua ở các hộ khảo sát cho thấy đánh bắt, chếbiến nuôi trồng thủy sản là các nghề cho thu nhập cao nhất, cùng với trồng rau, màu như hành tỏi,mía ở xã Ninh Vân và Sóc Trăng Những điều đó cho thấy, mức độ phụ thuộc lớn của sinh kế vàokhai thác thủy sản của cộng đồng ven biển, và trồng rau màu ở một số địa phương-có nguồn lực đấtnông nghiệp, có thể là một phương hướng sinh kế thay thế đánh bắt ven bờ có hiệu quả

Bảng 10: Thu nhập trung bình của gia đình trong 12 tháng qua từ các nguồn thu nhập (tính trên số hộ có loại hoạt động kinh tế này)

Nguồn: kết quả khảo sát

Tuy nhiên, thu nhập trung bình đầu người/tháng của nhóm đánh bắt lại thấp nhất (883,3 ngàn đồng)

so với nhóm kinh tế hỗn hợp thủy sản (cao gấp 1,42 lần nhóm đánh bắt) và gần tương đương vớinhóm kinh tế hỗn hợp không thủy sản (901,0 ngàn đồng) Điều đó phản ánh xu hướng đa dạng hóanguồn thu nhập, tận dụng mọi lợi thế về nguồn lực sinh kế có thể làm gia tăng thu nhập hộ và đa

Trang 28

dạng hóa nguồn thu nhập có thể và nên là một trong các phương hướng chính trong chiến lược sinh

kế thay thế đánh bắt ven bờ của CRSD Thu nhập từ các nguồn liên quan đến thủy sản có xu hướnggiảm sút mạnh trong 2 năm qua, đặc biệt là 2 nghề sử dụng nhiều lao động nhất là đánh bắt và NTTS(trên dưới 2/3 số hộ bị suy giảm thu nhập từ các nguồn này)

Biểu đồ 5: Đánh giá của người trả lời về sự thay đổi thu nhập từ các nghề thủy sản trong 2 năm qua (% số hộ)

Biểu đồ trên cho thấy các nghề thủy sản có xu hướng suy giảm rõ rệt, trong đó đánh bắt và NTTS làhai nghề giảm sút mạnh nhất Có lẽ đây là cũng là xu hướng chung của các tỉnh ven biển vùng dự án.Nghiên cứu về cơ cấu kinh tế cũng như việc làm, nguồn thu nhập tại các xã khảo sát cho thấy mức

độ phụ thuộc rất lớn của cộng đồng ven biển vào các nguồn lợi ven bờ Ngoài những đặc điểm chung

về sinh thái, kinh tế biển, nguồn lực sinh kế (trong đó có sự yếu kém về chất lượng của vốn conngười…), và rủi ro sinh kế, vùng ven biển còn khá phong phú những đặc trưng riêng của mỗi địaphương Những đặc điểm chung về sự yếu kém các nguồn lực, rủi ro sinh kế có thể hướng đến việcthực hiện một số mô hình chung về sinh kế thay thế như tăng cường giáo dục, đào tạo nghề phi nôngnghiệp, giới thiệu việc làm nhằm làm giảm sức ép dân số và việc làm, đa dạng hóa nguồn thu nhập

và giảm nghèo… Các xã khảo sát trong báo cáo này có những đặc trưng riêng của các xã vùng venbiển như xã thuần ngư (Ngư lộc, Thanh hóa), xã bãi ngang (Hải ninh, Thanh hóa), xã ven đầm phá(Ninh Lộc, Ninh vân, Khánh hòa), xã ven biển có nguồn giống thủy sản phong phú (Vĩnh Hải, SócTrăng), xã ven biển có sản xuất nông nghiệp (trồng trọt) hàng hóa phát triển mạnh (An thạnh 3, VĩnhHải, Sóc Trăng)… Những đặc trưng riêng này có ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn các hoạt độngsinh kế thay thế của cộng đồng, chẳng hạn chuyển đổi các tàu đánh bắt sang mô hình HTX dịch vụvận chuyển hàng hóa chỉ có thể thực hiện ở các xã như An thạnh 3 - nơi sản xuất vài trăm ngàn tấnmía/năm, cũng như nhu cầu vận chuyển hàng ngàn tấn vật tư nông nghiệp Tất nhiên việc lựa chọncác hoạt động sinh kế thay thế cần dựa trên sự tham gia của cộng đồng ven biển

Xã Ngư Lộc ở Thanh Hóa là xã thuần ngư, không có đất sản xuất, mật độ dân số cao, tài sản chủ yếu,của cộng đồng là tàu thuyền và ngư cụ đánh bắt các loại Nguồn sống chính của ngư dân phụ thuộchoàn toàn vào nghề biển, trong đó 2/3 số tàu và ba phần tư sản lượng từ nguồn lợi ven bờ Tuy nhiên,thu nhập bình quân đầu người của xã Ngư Lộc vẫn cao nhất so với 5 xã khác trong cuộc khảo sát.Tổng giá trị đánh bắt bằng 85 tỷ đồng, chiếm 68,0% trong tổng giá trị kinh tế của xã năm 2010,32,0% giá trị còn lại từ hoạt động TTCN, thương mại, dịch vụ Ngư Lộc khá điển hình cho các xãthuần ngư ven biển, đất chật người đông, rất khó khăn khi chuyển đổi sinh kế thay thế đánh bắt,trong điều kiện nguồn lực đất đai sản xuất khan hiếm Vì thế các lọai hoạt động sinh kế thay thế ởđây có thể là chuyển đổi loại hình đánh bắt có hiệu quả và thân thiện môi trường, cũng như thực hiệncác mô hình chung vùng ven biển như tăng cường giáo dục, đào tạo nghề phi nông nghiệp, giới thiệuviệc làm nhằm làm giảm sức ép dân số và việc làm, di dân sang khu dịch vụ công nghiệp nghề cá, đa

Trang 29

dạng hóa nguồn thu nhập và giảm nghèo… Mô hình tăng cường giáo dục, hỗ trợ đào tạo nghề, giớithiệu việc làm có thể là đặc biệt quan trọng đối với những khu vực ven biển, đất chật, người đôngnhư Ngư lộc

Xã Hải Ninh, Thanh Hóa là một xã bãi ngang, đặc biệt khó khăn, có 6/9 thôn làm ngư nghiệp Xã có19,4% số hộ và 21,8% lao động làm nghề đánh bắt, nhưng có 211 hộ, 15 doanh nghiệp, 558 laođộng-6,6% lao động toàn xã tham gia vào các nghề đan lưới, sửa chữa tàu thuyền, chế biến, dịch vụhậu cần thủy sản…Số tàu thuyền tăng lên 264% trong thời gian 2004-2011, với 614 tàu, tổng côngsuất 11.037CV Điều đó làm cho tổng sản lượng khai thác hàng năm đạt 2.890 tấn, chủ yếu từ nguồnlợi ven bờ, là ngành có giá trị sản xuất cao nhất trong xã Hải Ninh còn hàng trăm ha đất bãi ngangven biển chưa được khai thác theo hướng NTTS, trong khi có điều kiện tự nhiên thuận lợi Hải Ninh

có thể là một xã bãi ngang điển hình ven cửa lạch, với đội tàu xuồng nhỏ đánh bắt ven bờ (78,3% tàuthuyền dưới 20CV, trong đó có nhiều thuyền nan, có hay không có động cơ D6, D8) và nhóm nghèođông đảo (44,9% hộ nghèo toàn xã theo chuẩn 2011, trong đó 66,5% hộ nghèo thuộc thôn nghề cá)

Xã có 340 phụ nữ đơn thân nuôi con, chồng mất Với những đặc trưng trên, xã này có thể khai tháchàng trăm ha đất ven biển để nuôi ngao, chuyển đổi lọai nghề đánh bắt có hiệu quả và thân thiện môitrường, cũng như thực hiện các mô hình chung vùng ven biển như tăng cường giáo dục, đào tạo nghềphi nông nghiệp, giới thiệu việc làm nhằm làm giảm sức ép dân số và việc làm, đa dạng hóa nguồnthu nhập và giảm nghèo (chế biến, dịch vụ thủy sản, chăn nuôi…)

Xã Ninh Vân, Khánh Hòa: Cuộc TLN của cán bộ xã Ninh Vân có khái quát tình hình như sau:

“Nguồn kinh tế chủ lực là nông nghiệp và công nghiệp còn lại lao động buôn bán nhỏ, địa bàn xãNinh Vân vừa có đất rừng, đất trồng màu, vừa có biển, thuận lợi du lịch Có một vài dự án du lịch đãhoạt động, nhưng không giải quyết được vấn đề lao động của địa phương vì trình độ lao động thấp,không đủ tiêu chuẩn Ninh Vân đất biển, đất núi chiếm đa số, đất bằng ít, đang chuyển hướng nôngnghiệp sang công nghiệp, đang chuyển đổi đất nông nghiệp sang dịch vụ nên đất để phát triển chănnuôi trồng trọt ít, trong khi đất dành cho du lịch, dịch vụ, bất động sản đang gia tăng Các khu venbiển ưu tiên cho du lịch và dịch vụ Khó khăn là trình độ lao động chưa cao, đánh bắt theo mùa vụ,tài nguyên gần bờ cạn kiệt, trong khi nguồn vốn đánh bắt xa bờ bị hạn chế Đất trồng trọt thì chuyểndần sang kiểu trồng trọt công nghiệp, đất dành cho chăn nuôi theo hướng công nghiệp và trang trại

do thức ăn tự nhiên ít Ninh Vân có 58,0% hộ nông nghiệp và 40,4% hộ đánh bắt Diện tích đất tựnhiên rộng, nhưng chủ yếu đất rừng, đất trồng trọt chủ yếu là đất trồng màu với 47,3 ha và 53,4 đấttrồng cây lâu năm Đất trồng màu ở đây nếu cải tạo có khả năng trồng tỏi giá trị cao, nhưng ngườidân thường không đủ vốn để cải tạo đất Chăn nuôi bò khá phát triển, do có diện tích rừng rộng vàtheo kiểu nuôi thả tự do Đất NTTS có 9,8 ha và 64 ha đã GPMB chuẩn bị cho vùng sản xuất vàkiểm định tôm giống tập trung Ninh Vân do Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư Đây là phần diện tíchtrong khu vực đầm Nha Phu Diện tích mặt nước ven biển có 140 ha, nhưng do có các dự án du lịchnên hầu như khó được phép tổ chức nuôi biển rộng rãi và hiện chỉ có 1 hộ nuôi tôm hùm, dù tômgiống là sẵn có ở vùng biển này Nghề đánh bắt bằng lặn biển khá phát triển ở Ninh Vân và là lợi thế

về lao động, so với các xã ven biển khác Một số lao động trong xã đi lặn thuê ở Quảng Ngãi có thunhập hàng chục triệu đồng/tháng Ninh Vân khá điển hình cho 1 xã ven biển vừa có đầm, vừa cóbiển, vừa có rừng, nhưng dân vẫn nghèo Dự án du lịch nhiều, tuy dân số ít nhưng dân vẫn thiếu việclàm, du lịch chiếm nhiều diện tích đáng ra nên dành cho NTTS biển hay trong đầm Dân hầu như ítđược hưởng lợi từ nguồn tài nguyên biển và đầm khá phong phú, cũng như từ những dự án phát triểnkinh tế Vùng sản xuất và kiểm định tôm giống Ninh Vân có thể là dự án mang lại nhiều việc làmcho địa phương Xã còn có thể phát triển khu sản xuất tỏi tập trung Bên cạnh đó xã có thể tiến hànhnhững mô hình chung cho vùng ven biển như đa dạng hóa nguồn thu nhập và giảm nghèo (chế biến,dịch vụ thủy sản, chăn nuôi, phát triển chăn nuôi bò sinh sản… theo mô hình quĩ quay vòng của cácnhóm phụ nữ, nông dân), tăng cường giáo dục, đào tạo nghề phi nông nghiệp, giới thiệu việc làmnhằm làm giảm sức ép dân số và việc làm

Trang 30

Xã Ninh Lộc-Khánh Hòa có thể là một xã điển hình về sinh kế ven đầm phá Xã nằm kề bên đầmNha Phu, diện tích tự nhiên là 2.945ha, trong đó, đất sản xuất nông nghiệp 497ha, nuôi trồng thủysản 457ha, đất rừng 763ha Vì thế xã có kinh tế nông nghiệp, đánh bắt và NTTS, cũng như một sốnghề thương mại, dịch vụ, do có 3 km quốc lộ 1 chạy qua Xã có 3 thôn thủy sản ven đầm, với sảnlượng đánh bắt và NTTS gần tương đương nhau, với tổng sản lượng khoảng trên 800 tấn/năm (nếukhông bị dịch bệnh NTTS) Ninh Lộc có một thời hoàng kim về NTTS ven đầm Nha Phu đầu nhữngnăm 2000, với sự phát triển nuôi bán công nghiệp hay công nghiệp dẫn đến hàng loạt rừng ngập mặn

bị chặt bỏ để mở rộng diện tích nuôi trồng Nhưng sau đó dịch bệnh mau chóng lây lan, nên ngườinuôi hầu như mắc nợ xấu với ngân hàng và khó có khả năng chi trả Hiện nay, họ chỉ nuôi quảngcanh là chủ yếu, kết hợp đánh bắt theo con nước, nhưng vẫn năm được năm mất, cùng với gánhnặng nợ nần Nghề đánh bắt cũng sa sút do nguồn thủy sản trong đầm Nha Phu cạn kiệt bởi sự tăngnhanh phương tiện đánh bắt trong đầm, cũng như các phương pháp khai thác hủy diệt Trong khi

đó các thôn nông nghiệp của xã phát triển ổn định hơn, tuy không giàu có Bức tranh của Ninh Lộc

có lẽ khá điển hình cho các địa phương ven đầm phá cả nước, khi khai thác cạn kiệt nguồn lợi thuỷsản và làm ô nhiễm vùng nước ven đầm Khôi phục RNM ven đầm, kết hợp NTTS sinh thái có thể

là một giải pháp sửa chữa các sai lầm và khôi phục lại nguồn lợi tự nhiên ven đầm hay dự án môitrường như thu gom rác Xã có thể tiến hành những mô hình chung cho vùng ven biển như tăngcường giáo dục, đào tạo nghề phi nông nghiệp, giới thiệu việc làm nhằm làm giảm sức ép dân số vàviệc làm

Xã Vĩnh Hải, Sóc Trăng có diện tích đất lớn, lao động dồi dào Kinh tế nông nghiệp phát triển với cảnghề trồng lúa (1.000 ha lúa 1 vụ, sản lượng 5.000 tấn/năm), trồng màu (hành tím-3.800 ha, 3 vụmàu/năm), NTTS (cá: 1600 ha nuôi công nghiệp, 800 ha nuôi quảng canh, sản lượng 3.912 tấn/năm).Nghề đánh bắt có 90 tàu <30CV, trong đó 14 tàu <20CV đánh bắt ven bờ, với sản lượng 400tấn/năm Vĩnh Hải còn có bãi nghêu giống trải dài 18km bờ biển và 2.365ha rừng ngập mặn là nơicung cấp nguồn cá kèo giống Đây là nguồn lợi tự nhiên rất lớn của Vĩnh Hải, nhưng đang bị khaithác quá mức và không thể kiểm soát được vì nhiều ngư dân ở nơi khác đến khai thác Hiện xã cóhơn 1.000 hộ Khơme không có đất sản xuất Quỹ đất canh tác của xã cũng không còn Trên địa bàn

xã, có hơn 500ha đất sản xuất thuộc 2 nông trường nhưng đã giải thể Theo lãnh đạo xã, diện tích nàyđang được cho các công ty thuê nhưng sử dụng không hiệu quả vì không được đầu tư cơ sở hạ tầng

và hiện tại đang bị nhiều hộ dân lấn chiếm Nếu UBND huyện thu hồi và đầu tư cơ sở hạ tầng thủylợi để giao khoán cho các hộ không có đất sử dụng thì sẽ giải quyết được tình trạng không có đấthiện nay của hơn 1.000 hộ Khơme Mô hình tái định canh, định cư đã thành công ở dự án rừng ngậpmặn tại Sóc Trăng có thể áp dụng cho Vĩnh Hải hay các xã khác có điều kiện như thế

Xã An Thạnh 3, Sóc Trăng có kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, với trồng mía (1.600 ha, 178.500tấn/năm), thuốc cá (105 ha, 6.020 tấn/năm) là chủ yếu Chăn nuôi có trên 500 bò, hơn 2.600 lợn vàtrên 10 ngàn gà vịt Ngành thủy sản nhỏ bé hơn trồng trọt về lực lựơng lao động (875 người so với2.428 người) NTTS có 160 ha, chủ yếu nuôi công nghiệp Xã có 80 tàu<20CV đánh bắt ven bờ, vớisản lượng 2.600 tấn/năm Số lao động phi nông nghiệp 884 người, tương đương số lao động thủysản Mô hình chuyển đổi tàu đánh bắt sang HTX dịch vụ vận chuyển hàng hóa có thể là tốt cho Anthạnh 3, khi có nhiều trăm ngàn tấn nông phẩm cần vận chuyển hàng năm

Hai xã ở Sóc Trăng có lẽ khá điển hình cho khu vực ven biển vùng ĐBSCL, khi vừa có quĩ đất nôngnghiệp phát triển trồng trọt, chăn nuôi, vừa có biển và nguồn lợi thủy sản ven bờ khá phong phú,thuận lợi cho NTTS và đánh bắt Tuy nhiên, khai thác ven bờ quá mức, với nguồn lợi mở, thiếu quản

lý hiệu quả đang làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản Vì thế đồng quản lý vùng biển ven bờ có thể là giảipháp tốt cho vấn đề này, vừa đảm bảo việc làm và sinh kế, vừa bảo vệ nguồn lợi thủy sản Những môhình HTX nuôi nghêu đã thành công có thể mở rộng ở Vĩnh Hải hay các xã khác có điều kiện tựnhiên tương tự Mặt khác sự phân tầng xã hội ngày một gia tăng, sự nghèo khổ, nhất là của nhómDTTS ven biển đòi hỏi phải có các giải pháp hỗ trợ đặc biệt, ngoài các chính sách xã hội đã có

Trang 31

CRSD cần chú trọng các hoạt động dành cho những nhóm yếu thế, kể cả các hoạt động nâng caonguồn vốn con người như là một giải pháp giảm nghèo bền vững Mô hình chung vùng ven biển nhưtăng cường giáo dục phổ cập, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm có thể là rất quan trọng đối với các xãSóc Trăng, cũng như nhiều xã vùng ven biển ĐBSCL-nơi có vốn con người chất lượng thấp nhất,cũng như tập trung khá đông đảo đồng bào DTTS.

Phần tiếp theo sẽ phân tích những rủi ro và nguyên nhân của tình trạng suy giảm các nghề thủy sản

4.2 Phân tích những rủi ro của các hoạt động sinh kế hiện thời (tập trung vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản)

Những rủi ro của các hoạt động sinh kế hiện thời, biểu hiện tính dễ tổn thương của cộng đồng dân cưven biển Các rủi ro này bao gồm việc phải làm việc vất vả để đỡ bị suy giảm thu nhập, thiên tai ngàymột nhiều làm giảm sút thời gian đi biển và thu nhập, sản lượng đánh bắt và thu nhập thực tế ngàymột ít, dịch bệnh trong NTTS gây thiệt hại nặng nề nhiều năm không khôi phục được, thiếu vốn trầmtrọng, gánh nặng nợ nần làm cho nhiều hộ không có khả năng chuyển đổi sinh kế hay trang bị ngư cụmới hiệu quả hơn, sự ổn định thu nhập kém, viễn cảnh kinh tế u ám, tỷ lệ hộ nghèo cao…

Những rủi ro của các hoạt động kinh tế biển hiện nay tại các địa bàn khảo sát chủ yếu xuất phát từcác nguồn lực sinh kế (vốn vật chất, vốn tài nguyên, vốn con người, vốn xã hội, vốn tài chính) thiếuthốn, yếu kém, suy giảm, việc tổ chức quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản chưa tốt, cũng như nhữngtác động bất lợi của các yếu tố bên ngoài như thiên tai, thời tiết xấu, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh,biến động giá cả thị trường như giá xăng dầu, thức ăn chăn nuôi, thuốc phòng trừ dịch bệnh tăng

CRSD cần hỗ trợ những giải pháp hạn chế rủi ro, tạo lập sinh kế thay thế bền vững, dựa trên việc khai thác tối ưu các nguồn lực hộ gia đình và cộng đồng, tận dụng các cơ hội thị trường và thể chế.

Tàu thuyền cũ, công suất thấp, số lượng lớn, chủ yếu khai thác ven bờ, trong khi nguồn lợi thủy sảnngày càng cạn kiệt, thu nhập hàng năm ngày càng suy giảm Thiên tai, giá xăng dầu cao, nguồn lợithủy sản cạn kiệt là những nguyên nhân chính làm cho thu nhập suy giảm Điều đó cho thấy CRSDcần hỗ trợ các giải pháp vươn khơi, giảm thiểu đánh bắt ven bờ, chuyển đổi nghề có chọn lọc theohướng hiệu quả và thân thiện với môi trường, cũng như các giải pháp sinh kế thay thế không dựa vàobiển

Xã Ngư Lộc, Thanh Hóa là một xã thuần ngư, có số lượng tàu thuyền ngày một tăng, nhưng chủ yếu

là tàu thuyền công suất thấp, tăng 132,1% từ 2006 đến 2010, với hai phần ba hộ đánh bắt ven bờ vàsản lượng thủy sản ven bờ cao gấp 3,0 lần sản lượng đánh bắt xa bờ Sản lượng đánh bắt chủ yếu vẫn

là cá tạp, có giá trị thấp, chiếm khoảng 56,0% sản lượng trong 5 năm 2006-2010 Ngư trường khai thác ngày càng khó khăn, nguồn lợi hải sản ngày càng cạn kiệt, tình trạng thiếu vốn và thiếu lao động ngày một nhiều Vì vậy vấn đề đặt ra là phải tập trung phát triển vùng vươn khơi, trong khi nguồn lực tại chỗ của nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa đủ khả năng để đầu tư khai thác vưon khơi, trình độ khoa học công nghệ áp dụng cho ngành nghề khai thác chưa được đáp ứng (Theo BC UBND xã Ngư Lộc) Xã Hải Ninh, Thanh Hóa có tới 78,3% số hộ và số tàu thuyền đánh bắt ven bờ

có công suất dưới 20CV, trong đó nhiều thuyền thúng, mảng trang bị máy D6, D8 Tuy nhiên, sảnlượng ven bờ chỉ chiếm 37,2% sản lượng đánh bắt năm 2010 và có xu hướng giảm so với năm 2008(39,3%) Ông Vũ Huy Hồng nói rằng: “Thu nhập các năm gần đây giảm sút cả về sản lượng lẫn thunhập, năm ngoái trung bình được 3,3 - 3,5 tạ/tháng, năm nay chỉ được 3 tạ/tháng Cá có giá trị ngày

càng ít, đánh bắt chủ yếu là cá dẹt, cá bơn…” Ông Lê Trung Tuyến có tàu 18CV, cho biết 2 năm nay sản lượng giảm 30%, lượng cá tạp chiếm đến 2/3, trước không có nhiều chuyến lỗ như hiện nay Anh Lê văn Hưng, 30 tuổi, có thuyền thúng, máy D6 có thu nhập chừng 3 triệu đồng/tháng năm

2010, đến nay chỉ thu được 2 triệu đồng/tháng Anh Hồ Minh Sơn sinh năm 1969, nhà có ghe, đã bán ghe 9CV, vì thu nhập không đủ chi, đang thất nghiệp, hiện làm thêm cho thôn (phó trưởng thôn)

Trang 32

mỗi tháng 400 ngàn đồng Bán ghe 9CV được 5 triệu, vợ bán bún phở kiếm tiền tiêu cho cả gia đình, ngày nào bán khá được 70-80 ngàn đồng (TLN đánh bắt thôn Tân Thủy, Ninh Lộc, Khánh Hòa).

Trong số hai phần ba hộ đánh bắt hải sản được khảo sát có tới 54,7% cho biết có gặp những rủi rotrong hoạt động khai thác Ngoài lý do thời tiết và tính mùa vụ làm giảm thời gian hoạt động đánhbắt thực tế, còn có những tác động xấu của thị trường như giá xăng dầu tăng cao, giá thủy sản tăngkhông tương ứng với chi phí sản xuất gia tăng

Trong thôn có khoảng 70 chiếc ghe, đã bán 5-6 chiếc, do không đủ xăng dầu đi lại, sau khi bán ghe,người ta sắm xuồng nhỏ và tiếp tục làm biển Thu nhập trước 100 ngàn, bán ghe, dùng xuồng thunhập 1 ngày 50-60 ngàn Biển bây giờ bị ô nhiễm, tôm cá chết Chồng trước đi biển kiếm được, giờbữa được bữa không, tháng rồi được 500-600 ngàn Nhà không có ghe, dùng xuồng (TLN đánh bắtthôn Tân Thủy, Ninh Lộc, Khánh Hòa)

Gần bốn phần năm (77,9%) người được phỏng vấn cho rằng thu nhập từ đánh bắt thuỷ sản giảm sút

từ 2 năm qua Chỉ có 12,8% cho biết thu nhập từ nguồn này có tăng lên, trong khi chỉ 9,4% cho làvẫn như trước Sự suy giảm thu nhập từ đánh bắt mạnh nhất ở Sóc Trăng (89,9%), tiếp theo là KhánhHòa (71,4%) và cuối cùng là Thanh Hóa (65,4%) Ngư dân xã Ngư Lộc có sự đánh giá lạc quan hơncác xã khác với hai phần năm cho là thu nhập từ khai thác tăng lên, trong khi 16,0% vẫn giữ đượcnhư cũ và thu nhập bình quân đầu người của họ cũng cao nhất trong các xã khảo sát Nhóm đánh bắt,

có lẽ có sự đánh giá khách quan hơn bởi họ hiểu biết ngư trường và nghề khai thác nhất, nhận định

sự giảm sút thu nhập diễn ra với gần chín phần mười (87,3%) số hộ trong nhóm Tác động của việcgiảm thu nhập từ đánh bắt đối với các nhóm thu nhập càng thấp thì càng lớn Ba nhóm thu nhập thấpnhất có tới trên bốn phần năm hộ bị ảnh hưởng so với hơn 65% của nhóm thu nhập cao nhất Lý dogiảm sút thu nhập chủ yếu là thiên tai: 38,3% và giá xăng dầu tăng, sản lượng thu hoạch giảm:30,9%

Bảng 11: Đánh giá của người trả lời về sự thay đổi thu nhập trong 2 năm qua (% số hộ)

Thu nhập từ Nuôi trồng thủy sản

Thu nhập từ Đánh bắt thủy sản

Thu nhập từChế biến thủy sản

Trang 33

có tỷ lệ tương ứng là 24,4%).

Một ngư dân đã phản ánh tâm trạng nhiều người trong cộng đồng đánh bắt ven biển, qua đánh giá

rằng: “Đi nghề biển không còn sống được nữa, cũng không muốn đi làm biển nữa Hi vọng con cái được đi học để có nghề nghiệp ổn định”(TLN đánh bắt xã Hải Ninh-Thanh Hóa) CRSD có thể đáp

ứng nguyện vọng của người dân vùng biển, trước các khó khăn của nghề đánh bắt, bằng các hoạtđộng hỗ trợ phổ cập giáo dục, hướng nghiệp, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho họ và con em họ

Xu huớng gia tăng dịch bệnh NTTS, ô nhiễm môi trường nước, khả năng tái tạo đầu tư NTTS thấp,thu nhập từ nghề này ssuy giảm Điều đó cho thấy CRSD cần hỗ trợ các giải pháp tổng hợp nhằmgiảm thiểu dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nước hướng đến NTTS bền vững

Biểu đồ 6: Cơ cấu nhóm nghề theo thu nhập 20%

Trong báo cáo tổng kết NTTS năm 2010, Sở NN&PTNT Sóc Trăng nhận xét: Năm nay thời tiết, môitrường diễn biến hết sức phức tạp so với mọi năm, nắng nóng gay gắt kéo dài, tạo điều kiện cho một

số vi khuẩn phát triển mạnh, làm phát sinh diện tích nuôi tôm bị thiệt hại đến 16,9% Riêng diện tíchthả sớm bị thiệt hại lớn tới 42,5% do nguồn nước trong các kênh rạch bị ô nhiễm vì thời điểm tậptrung cải tạo ao nuôi

Chi cục NTTS Khánh Hòa đánh giá: Chất lượng môi trường nước có dấu hiệu giảm sút về chấtlượng tại các vùng nuôi Người nuôi thì chủ quan, chưa có ý thức về việc quản lý môi trường ao nuôi

và vùng nuôi (Báo cáo tổng kết NTTS năm 2010) Xã Ninh Lộc, Khánh Hòa có hầu hết người NTTS

Trang 34

gặp rủi ro dịch bệnh và mang công, mắc nợ Báo cáo Tình hình KTXH 5 năm 2006-2010 và kếhoạch phát triển KTXH 5 năm 2011-2015 của xã nhấn mạnh: Việc nuôi trồng thủy sản ở địaphương cũng không đạt hiệu quả cao do nguồn nước bị ô nhiễm, dịch bệnh xảy ra liên tục trongcác vụ nuôi tôm làm nhân dân bị thua lỗ nhiều, khả năng tái tạo đầu tư sản xuất thấp Đầu năm

2011, người dân thả nuôi được 350 ha, trong đó tôm thẻ thả nuôi 245ha, tôm sú 105ha Tuy nhiên,tình hình dịch bệnh đã làm 70 ha thả nuôi bị mất trắng, 100ha đã thu hoạch với năng suất bình quân

là 7 tạ/ha Sản lượng đánh bắt trong quý là 22 tấn (Theo báo cáo tình hình KTXH tháng 5 năm

2011 của UBND xã Ninh Lộc)

Từ những nguyên nhân trên, trong mẫu khảo sát, 66,7% cho biết thu nhập từ NTTS giảm sút so với 2năm trước Tại 3 xã Ninh Lân, Ninh Lộc, An Thạch 3 có NTTS, tỷ lệ đánh giá sự suy giảm thu nhậpNTTS lần lượt là 50,0%, 71,4%, 80,0% Nhóm hỗn hợp thủy sản, bao gồm những hộ NTTS và cóthêm các nghề khác liên quan đến thủy sản, có sự giảm sút thu nhập từ NTTS là 66,7%

Cơ sở hạ tầng yếu kém không phù hợp với NTTS, làm gia tăng rủi ro cho NTTS Báo cáo của Chicục NTTS Khánh Hòa năm 2010 nhận xét về một hạn chế: “Hệ thống kênh mương thủy lợi phục vụNTTS triển khai còn chậm” Báo cáo của UBND xã Ninh Lộc, Khánh Hòa cho biết: “Việc nuôi tômsau các vụ thất thu, khả năng tái đầu tư sản xuất hạn chế, nguồn nước xả ra và đưa nước vào cácvùng nuôi chung một con lạch, từ đó không tránh khỏi dịch bệnh lây lan Lịch thời vụ thả nuôi khôngđồng nhất, việc áp dụng KHKT vào nuôi trồng các loài thủy sản chưa được mở rộng, còn lúng túngnhất là khâu xử lý dịch bệnh”

CRSD cần lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển KTXH của địa phương nhằm giải quyếtmột nút thắt quan trọng trong phát triển bền vững ngành thủy sản ven bờ là CSHT

Thiếu vốn trầm trọng, nợ nần chồng chất khó có khả năng chi trả, khả năng đầu tư mở rộng sản xuấthay chuyển đổi nghề gặp khó khăn Tổng số hộ đang vay nợ trong mẫu khảo sát là 67,7%, chủ yếu

để khai thác, NTTS (chiếm 64,4% số hộ đang vay nợ), và trồng trọt, chăn nuôi (18,9% số hộ vay).Mức vay trung bình cho thủy sản là cao nhất, lên tới 57,7 triệu đồng/hộ, người vay nhiều nhất là 300triệu đồng Vay cho trồng trọt trung bình ở mức 19,2 triệu/hộ 9,5% khoản vay ở mức 100 triệu trởlên và gần một phần tư vay trong khoảng 30-90 triệu

Nguyễn Q H , thôn Tam ích, xã Ninh Lộc-Khánh Hòa, 45 tuổi, trình độ 5/12, có 5 con, chưa con nào có gia đình, nuôi tôm cua bán công nghiệp, diện tích nuôi 35.000m 2 Thế chấp hết rồi, nợ ngân hàng 180 triệu, từ 2003 đã quá hạn Hiện tại nuôi quảng canh, vợ buôn bán phở bún không đủ ăn, 2 con trai đi làm công nhân, 1 đứa đi bộ đội, 2 đứa đi học (TLN)

Báo cáo tổng kết nuôi thủy sản năm 2010 của Sở NN&PTNT Sóc Trăng nhận định rằng: “Do dư nợvốn tín dụng trong dân các năm qua khá lớn, ngân hàng gặp nhiều khó khăn; một số hộ dân sản xuấtthua lỗ của các vụ nuôi trước nên thiếu vốn đầu tư, dẫn đến đầu tư công trình không đảm bảo, nhiều

hộ nuôi diện tích nhỏ không có ao lắng… từ đó không chủ động nguồn nuớc cấp trong quá trình sảnxuất.” UBND xã Hải Ninh, Thanh Hóa cho rằng: “Nghề biển tuy đã có sự phát triển song chưa đượcđầu tư đúng mức, phuơng tiện khai thác còn thô sơ, tỷ lệ tàu thuyền có công suất lớn còn ít, nên hiệuquả đánh bắt thấp Đầu tư cho vay vốn sản xuất của ngành ngân hàng đối với ngư dân chưa đượcquan tâm.” UBND xã Ninh Lộc, Khánh Hòa nhận định trong báo cáo phát triển KTXH năm 2010:

“nguồn đầu tư cho việc nâng cấp tàu thuyền công suất lớn để đánh bắt xa bờ gặp nhiều khókhăn, việc chuyển đổi nghề còn chậm”

Nhóm NTTS thôn Tam Ích, xã Ninh Lộc, Khánh Hòa cho biết: Tất cả các trường hợp đều vay quáhạn và khóa sổ không vay được tiếp, trong đó người vay thấp nhất 40 triệu, người vay cao nhất 180triệu Nay còn đất, hầu hết chỉ nuôi quảng canh Vài người thuê đìa, nay đã trả lại

Trang 35

Người dân trong hoạt động tham vấn thuộc nhóm đánh bắt xã Ninh vân-Khánh Hòa nói rằng:Chính sách hỗ trợ của nhà nước còn nhiều bất cập, số tiền cho người dân nghèo vay để kinhdoanh sản xuất là quá ít, không đủ kinh doanh Điều này làm ngư dân phải đi vay tiền của tưnhân hoặc các đầu nậu Các đầu nậu này không lấy lãi, tuy nhiên họ sẽ mua sản phẩm với giá rẻ,

do hải sản càng ngày càng cạn kiệt nên ngư dân nợ nần chồng chất

Tình trạng thiếu vốn trầm trọng và phổ biến - một nguồn lực quan trọng hàng đầu, cho thấy dự ánCRSD cần phối hợp với các hoạt động ngân hàng mới có thể chuyển đổi sinh kế một cách bền vững.Không phải ngẫu nhiên khi trả lời câu hỏi về việc cần hỗ trợ gì nếu thực hiện dự định sinh kế thay thếđánh bắt ven bờ, thì 87,7% hộ đã đưa ra yêu cầu hỗ trợ vốn

Không có đất sản xuất là một khó khăn to lớn cho việc chuyển đổi nghề của phần lớn hộ ngư dân venbiển Trong mẫu khảo sát, chỉ một phần năm số hộ có đất nông nghiệp Điều đó cho thấy cần tậndụng tối đa nguồn lực đất đai ở mọi vùng dự án như một tài nguyên khan hiếm thay thế cho nguồnlợi thủy sản ngày càng cạn kiệt

Một vấn đề thực tiễn cho thấy, hầu hết hộ ngư nghiệp không được cấp đất nông nghiệp trong nhữngđợt cấp đất nông nghiệp ở các địa phương như ở xã Ninh Vân, Khánh Hòa có tới 20-30% hộ không

có đất sản xuất, xã Vĩnh Hải, Sóc Trăng có hơn một ngàn hộ ngư dân (trong đó phần lớn là ngườiKhơme) không có đất nông nghiệp Mặt khác, điều kiện đất đai nông nghiệp tại các thôn ven biển cónhiều hạn chế như xã Ngư Lộc, Thanh Hóa, 3 thôn ven biển xã Ninh Lộc, Khánh Hòa Trong mẫukhảo sát, không có hộ nào ở Ninh Lộc và Ngư Lộc có đất nông nghiệp và 1 bộ phận đã đi sang địabàn xã khác hay thôn khác thuê nguồn đất công để NTTS Trừ xã An Thạnh 3 có một nửa số hộ cóđất nông nghiệp, các xã còn lại chỉ có khoảng 10 đến hơn 20% hộ có đất nông nghiệp Nhóm đánhbắt và nhóm hỗn hợp thủy sản chỉ có lần lượt 15,5% và 20,2% hộ có đất nông nghiệp Nhóm DTTSchỉ có 35,3% hộ có đất nông nghiệp và 5,9% thuê đất sản xuất Diện tích đất trung bình của các hộvùng ven biển đang sử dụng đất nông nghiệp là 5.386 m 2 đối với dân tộc Kinh và 4.742 m2 đối vớiDTTS chỉ đủ để tồn tại, chứ không đủ để phát triển kinh tế hàng hóa làm giàu Vấn đề nổi bật ở đây

là tình trạng đa số hộ ngư dân không có đất canh tác và là một trở ngại lớn đối với việc chuyển đổinghề thay thế đánh bắt Trong khi đó các địa phưong còn một số nguồn lực đất đai chưa được khaithác hiệu quả, mà chưa được qui hoạch, điều chỉnh quyền sử dụng đất một cách có hiệu quả KT-XH(xem thêm ở phần cơ hội phát triển các nguồn thu nhập và sinh kế thay thế)

Bảng 12: Tỷ lệ hộ đang canh tác các loại đất (%)

Đất nôngnghiệp

Đất ở Ao hồ,

mặt nước

Tỷ lệ hộ cócác loại đất

Tỷ lệ hộthuê đất

Trang 36

Đất nôngnghiệp

Đất ở Ao hồ,

mặt nước

Tỷ lệ hộ cócác loại đất

Tỷ lệ hộthuê đất

Lao động chưa qua đào tạo, trình độ học vấn thấp, thiếu kiến thức, chủ yếu sản xuất theo kinh

nghiệm làm tăng khả năng rủi ro trong sản xuất, cũng như khó chuyển đổi nghề Điều đó cho

thấy đào tạo nghề, phổ cập giáo dục cần là một trong những hoạt động cơ bản của CRSD nhằm chuyển đổi sinh kế vùng ven biển một cách bền vững.

Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên biết chữ là khá cao - 94,0%, so với tỷ lệ dân số 10 tuổi trở lên biết chữcủa cuộc ĐTMSHGĐ năm 2008 ở khu vực nông thôn là 92,0% Tuy nhiên tại xã Vĩnh Hải, SócTrăng - một xã có xấp xỉ 10.000 người Khơme, tỷ lệ biết chữ khá thấp, chỉ đạt 81,8%, tuy tỷ lệkhông biết chữ có thể tập trung vào nhóm người có tuổi Trong nghiên cứu của Dự án rừng ngậpmặn của WB năm 2006, tỷ lệ biết chữ tương ứng toàn mẫu khảo sát tại 4 tỉnh: Sóc Trăng, Trà vinh,Bạc liêu, Cà mau là 86,5%, của dân tộc Khơme là 71,1% và trên một nửa người không biết chữ làhơn 46 tuổi Nhóm đánh bắt có tỷ lệ biết chữ thấp hơn đáng kể so với nhóm nghề hỗn hợp thủy sản(92,4% so với 94,9%) Về cơ bản, tỷ lệ này ở các nhóm thu nhập càng thấp thì càng thấp Nhóm thunhập thấp nhất có tỷ lệ tương ứng là 89,8%, nhỏ hơn nhiều so với nhóm thu nhập cao nhất - 98,8%.Các thành viên của những gia đình chủ hộ nữ cũng thiệt thòi hơn khi tỷ lệ biết chữ thấp hơn - 89,1%

so với tỷ lệ tương ứng 94,5% của các thành viên thuộc nhóm chủ hộ nam

Tỷ lệ cao, các thành viên 15 tuổi trở lên, chỉ đạt trình độ tiểu học ở nhóm đánh bắt, xã thuần ngư nhưNgư Lộc-Thanh Hóa và Sóc Trăng, nơi có đông đảo DTTS Điều đó cho thấy những nhóm này gặpnhiều khó khăn hơn trong việc chuyển đổi sinh kế và CRSD cần thiết kế các hợp phần về đào tạonghề, phổ cập giáo dục, với sự chú trọng đặc biệt tới những nhóm này Mặt khác, gần bốn phầnnăm số trẻ trong độ tuổi đi học (6-18) hiện không đi học bởi lý do chính là gia đình cần lao động

và bởi nghèo, với chi phí học tốn kém Vì thế CRSD nên hỗ trợ bằng tiền cho trẻ em hộ nghèo, cậnnghèo phổ cập giáo dục, theo đuổi chương trình THPT hay đào tạo nghề Đó là một phương cáchgiảm nghèo bền vững, cũng như tạo ra những cơ hội chuyển đổi sinh kế thay thế đánh bắt ven bờcủa thế hệ trẻ, không phải tiếp nối nghề cha anh như nguồn sinh kế duy nhất khi thất học

Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên học hết THPT trong mẫu khảo sát là 17,2%, cũng cao hơn nhiều chỉ số

tương ứng của khu vực nông thôn trong cuộc ĐTMSHGĐ năm 2008: 12,3% Đó là cơ sở quan trọng cho một bộ phận thanh niên có khả năng chuyển đổi sang nghề không đánh bắt.

Tỷ lệ các thành viên trên 15 tuổi đã qua đào tạo nghề chỉ đạt 6,4%, trong đó, 4,0% có trình độ CĐ và

ĐH Tỷ lệ tương ứng qua đào tạo nghề các loại của khu vực nông thôn trong cuộc ĐTMSHGĐ 2008

là 8,6% cao hơn tỷ lệ này trong mẫu khảo sát Điều đó cho thấy nguồn vốn con người ở vùng dự ánthấp hơn khu vực nông thôn cả nước Các xã thuộc Sóc Trăng có vẻ yếu thế hơn các xã khác tronglĩnh vực đào tạo nghề

Tỷ lệ qua đào tạo nghề của nhóm đánh bắt cũng thấp hơn so với nhóm nghề hỗn hợp thủy sản (5,4%

so với 6,3%) Nhóm thu nhập thấp nhất cũng có tỷ lệ thành viên trên 15 tuổi qua đào tạo nghề thấp

hơn nhiều các nhóm thu nhập khác: 1,6% so với 12,8% của nhóm thu nhập cao nhất Điều đó cho thấy dự án CRSD nên chú trọng hoạt động đào tạo nghề cho nhóm thu nhập thấp nhất, nhóm đánh bắt, đặc biệt ở Sóc Trăng, vùng ĐBSCL nhằm tăng cường cơ hội chuyển đổi nghề về lâu dài cho họ.

Trang 37

Bảng 13: Trình độ học vấn của các thành viên hộ gia đình

Dân số

15 tuổitrở lên

Dân số

15 tuổitrở lênbiếtchữ

Trình độ học vấn cao nhất của dân số

từ 15 tuổi trở lênTiểu

học

chuyênnghiệp

Học nghềngắn hạn

Họcnghề dàihạn

CĐ/ĐHtrở lên

Khác

Tổng mẫu 752

76,2

70594,0

23931,9

28538,0

12917,2

50,7

50,7

70,9

334

10,1

Theo xã

6 xã: Ninh

Vân 15,9120 92,0117 26,331 38,145 19,523 3,44 3,44 1,72 5,97 0,81Ninh Lộc 127

16,8 96,1122 29,938 48,061 14,218 00 00 00 3,95 00

15,5

11396,6

4034,2

3933,3

1916,2

10,9

10,9

00

1210,3

00

12,9

97100

1818,6

5354,6

2121,6

00

00

00

55,2

00Vĩnh Hải 159

21,1

13081,8

6440,3

3421,4

2415,1

00

00

42,5

42,6

00

An Thạch 132

17,6

12695,5

4836,4

5340,2

2418,2

00

10,8

00

00

00

Theo tỉnh

Khánh

Hòa

24732,8

23997,6

6928,2

10643,3

4116,7

41,6

41,6

20,8

124,9

10,4Sóc Trăng 284

37,7

25088,0

10838,0

8529,9

4816,9

00

10,4

41,4

41,4

00Thanh

Hoá

22129,3

21697,7

6228,1

9442,5

4018,1

10,5

10,5

94,1

177,8

00

9741,1

8335,2

2510,6

10,4

52,1

31,3

31,2

10,4Hỗn hợp

thuỷ sản

41555,2

39394,9

12029,0

16640,1

8019,3

30,7

00

30,7

204,9

00Hỗn hợp

22032,1

26438,5

11717,1

50,7

50,7

71,0

284

10,1

8,6

5789,1

1929,7

2132,8

1218,8

00

00

00

57,8

00

11489,8

4636,2

5543,3

118,7

00

00

00

21,6

00

Trang 38

Dân số

15 tuổitrở lên

Dân số

15 tuổitrở lênbiếtchữ

Trình độ học vấn cao nhất của dân số

từ 15 tuổi trở lênTiểu

học

chuyênnghiệp

Học nghềngắn hạn

Họcnghề dàihạn

CĐ/ĐHtrở lên

5035,0

5941,3

1913,3

10,7

10,7

10,7

53,5

00Nhóm 5

(giầu nhất)

17423,1

17198,8

5230,1

5431,2

4324,9

10,6

10,6

31,7

169,3

10,6

Nguồn: Kết quả khảo sát

Rủi ro sinh kế vùng ven biển còn do ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản kém Tư duy “bóc ngắn, cắn dài” chi phối người dân ven biển vì sinh kế trước mắt, làm cho nguồn lợi thủy sản suy kiệt, thu nhập từ đánh bắt ngày càng giảm sút

Sở NN&PTNT Thanh Hóa đánh giá: “Vùng biển ven bờ của tỉnh có diện tích hơn 1.200 km 2 , tập trung các bãi đẻ của các loài cá, tôm có giá trị kinh tế như: bãi tôm Hòn Nẹ đến ngang cửa Lạch Ghép, bãi cá, tôm Đông Nam Hòn Mê,… thường tập trung gần 80% tàu cá của tỉnh để khai thác, có một số đối tượng thường lén lút sử dụng các dụng cụ kết hợp có tính chất hủy diệt để khai thác hải sản ở ngư trường ven bờ, đặc biệt nhiều ngư dân sử dụng tàu cá công suất lớn hoạt động sai vùng biển để khai thác tận thu nguồn lợi, làm thay đổi hệ sinh thái vùng ven bờ”.

Báo cáo của UBND xã Ninh Lộc, Khánh Hòa năm 2010 cho biết: “trong những năm qua, sản lượng đánh bắt đạt thấp vì nguồn thủy sản ven bờ đã cạn kiệt, do ngư dân dùng các phương tiện xung điện, giã cào khai thác, bà con chưa cải tiến phương tiện đánh bắt Tổng sản lượng đánh bắt trong các năm 2006-2009, hàng năm đạt 95,5% so với kế hoạch giao” Một ngư dân trong xã này cho rằng: ”Lờ, nờ (2 loại ngư cụ được dùng khá phổ biến ở đây) làm cạn kiệt tài nguyên, ở Cam Ranh đã cấm Lờ” Báo cáo tổng kết nuôi thủy sản năm 2010 của Sở NN&PTNT Sóc Trăng cho biết: một số nơi ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường chưa thực hiện tốt là ảnh hưởng đến vùng nuôi, diện tích thả sớm, tỷ lệ thiệt hại phát sinh khá cao (42,5%) Chi cục NTTS Khánh Hòa cũng đánh giá: Ý thức của người nuôi chưa cao trong công tác quản lý môi trường và chất lượng nước nuôi nên khi bệnh xuất hiện thì tốc độ lây lan nhanh, khó khăn trong việc khoanh vùng để quản lý dịch bệnh.

Thiếu sự phối hợp, liên kết trong tổ chức sản xuất, các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng, mô hình tổ đội sản xuất trên biển chưa được triển khai trong thực tế làm tăng rủi ro trong khai thác, NTTS và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Sở NN&PTNT Thanh Hóa nhận xét: “Việc tổ chức sản xuất khai thác trên biển theo mô hình tổ, đội chưa có hiệu quả; chưa có chính sách hỗ trợ phát triển tổ, đội sản xuất trên biển Xây dựng

mô hình quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng chưa được quan tâm triển khai” Thực hành đồng quản lý tài nguyên ven biển cần là một bộ phận hợp thành gắn liền với hợp phần sinh kế thay thế bền vững của CRSD.

Tại Ngư Lộc, thời kỳ dịch bệnh tả-việc cấm buôn bán, sử dụng mắm tôm đã làm suy sụp nghề chế biến mắm tôm- một nghề truyền thống của xã.

Những rủi ro như trên dẫn tới tình trạng việc làm không ổn định trở nên phổ biến Gần hai phần

năm (38,8%) tổng số thành viên lao động trong các gia đình được khảo sát có việc làm không ổn

Trang 39

định, xấp xỉ hai phần ba (69,7%) số việc làm phụ của họ cũng không ổn định Tại các xã Ninh vân,

Ninh Lộc-Khánh Hòa, tỷ lệ việc làm chính không ổn định rất cao, lần lượt là 61,5% và 64,2%.Tính chất ổn định trong việc làm chính của các nhóm đánh bắt, nhóm đánh bắt hỗn hợp với cácnghề thủy sản khác thấp hơn so với nhóm các nghề phi đánh bắt: 50,0% và 64,8% so với 70,6%.Nhìn chung, tính ổn định của việc làm chính tỷ lệ thuận với mức thu nhập Nghĩa là nhóm thunhập càng cao thì tỷ lệ hộ có việc làm chính ổn định càng lớn và ngược lại Nhóm thu nhập thấpnhất có tỷ lệ hộ có việc làm chính ổn định chỉ là 34,3%, chưa bằng một nửa tỷ lệ tương ứng củanhóm thu nhập cao nhất -74,3% Nhóm dân tộc Khơme có tỷ lệ hộ có việc làm chính ổn định chỉ

là 44,4%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ này ở nhóm dân tộc Kinh-63,7% Nhóm lao động nam có tỷ

lệ ổn định về việc làm chính cao hơn nhiều so với lao động nữ: 62,1% so với 50,0% Điều đó cho thấy CRSD cần hỗ trợ các hoạt động tạo lập việc làm bền vững, không chỉ là các hoạt động sinh

kế thay thế trước mắt, mà bao gồm cả các hoạt động tăng cường giáo dục lớp trẻ, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, giảm nghèo bền vững, liên kết các nhóm nghề trong các mô hình… Các hoạt động hỗ trợ của CRSD cần chú ý đặc biệt tới các nhóm yếu thế như nghèo, cận nghèo, lao động

nữ, DTTS.

Các rủi ro về di cư, đào tạo không phù hợp nhu cầu thị trường, làm mất chi phí cơ hội.

Di cư tuy tạo ra những cơ hội về việc làm và thu nhập, đem lại lợi ích kinh tế cho gia đình và cộngđồng xuất cư, nhưng cũng chứa đựng những rủi ro Nhiều tài liệu nghiên cứu liệt kê các rủi ro từ di

cư, bao gồm việc làm không ổn định và tiền lương thấp, không được tham gia các lọai bảo hiểm xãhội, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, nhất là trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, rủi ro về an ninh,

về tệ nạn xã hội khi rời xa sự kiểm soát của cộng đồng làng xóm, về chi phí sinh hoạt đắt đỏ nơi thịthành, trẻ em xa cha mẹ, ảnh hưởng đến sự giáo dục và phát triển nhân cách Vì thế, khi xác định di

cư như một chiến lược tạo việc làm và giảm áp lực khai thác ven bờ, CRSD nên hỗ trợ những người

di cư ven biển tìm kiếm việc làm bền vững, khắc phục, hạn chế những rủi ro họ có thể phải đối diện Với chất lượng thấp của hệ thống giáo dục Việt Nam hiện tại, từ giáo dục phổ thông đến đào tạonghề hay cao đẳng, đại học, với công tác hướng nghiệp chưa tốt, hệ thống thông tin về giáo dục, đàotạo, về thị trường lao động chưa phát triển thì tình trạng đào tạo không đáp ứng nhu cầu thị trường làkhá phổ biến và làm lãng phí cơ hội việc làm bền vững của giới trẻ trên phạm vi cả nước, cũng nhưcủa thanh niên vùng biển Trong số những người thất nghiệp và thiếu việc làm hiện nay, khoảng27,0% là những người đã qua đào tạo, đặc biệt là thanh niên Điều đó cho thấy những lỗ hổng tronghướng nghiệp giáo dục, đào tạo (tinkinhte.com, 30/03/2010) Điều đáng nói là đối với phần lớn thanhniên vùng biển, đặc biệt là các hộ nghèo, cận nghèo, con đường học tập của họ trải đầy chông gai, và

họ chỉ vượt qua với nghị lực tràn đầy, cùng mồ hôi, nước mắt của cha mẹ họ Vì thế lãng phí các cơhội việc làm bền vững của họ là điều xót xa, day dứt Tại các xã khảo sát, một số thanh niên sau khitốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học không tìm được việc làm ở thành phố đã trở về quê, tìm việclàm tạm thời, không liên quan đến nghề được đào tạo như phát thanh viên, công tác đoàn ở xã, làmcác công việc tự làm ở gia đình… CRSD có thể và cần thiết hỗ trợ các hoạt động hướng nghiệp, đàotạo nghề sát nhu cầu thị trường, lựa chọn các cơ sở đào tạo có uy tín, cung cấp thông tin thị trường

lao động, giới thiệu việc làm cho giới trẻ

4.3 Cơ hội phát triển các nguồn thu nhập và sinh kế thay thế

Những cơ hội phát triển các nguồn thu nhập và sinh kế thay thế ở các khu vực dự án có thể khá rộngrãi như sự phát triển thị trường lao động tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, cáckhu công nghiệp, đô thị tại những tỉnh dự án, nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội củachính phủ và địa phương, có khả năng lồng ghép trên các địa bàn dự án, nhiều chính sách hỗ trợ việclàm, giảm nghèo, đào tạo nghề đã được ban hành… Một đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam

là vẫn còn phổ biến tình trạng chia cắt, phân mảng lao động giữa khu vực nông thôn và thành thị,giữa các ngành nghề, thành phần kinh tế; trong đó chiếm chủ yếu là lao động trong khu vực nông

Trang 40

nghiệp Do đó nếu CRSD tổ chức tốt hoạt động cung cấp thông tin thị trường lao động, giới thiệuviệc làm, kết nối giữa thanh niên, phụ nữ ngư dân có nhu cầu việc làm với các doanh nghiệp cầntuyển dụng thì có thể tạo ra nhiều việc làm thay thế cho ngư dân vùng ven biển Hiện nay hàng nămcác thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà nội, các tỉnh kinh tế phát triển như Bình Dương, ĐồngNai… tuyển dụng từ 100.000 đến 300.000 lao động, trong đó có nhiều lao động phổ thông Nhiềugiai đoạn vấn đề thiếu lao động phổ thông trở nên trầm trọng tại những khu vực này Việc tổ chứckết nối cung cầu lao động trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong việc giải quyết việc làm, bêncạnh việc đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tận dụng tốt các cơ hội thị trường.

Nguồn lợi thủy sản cạn kiệt, thu nhập suy giảm và thấp, thiếu việc làm, sự nghèo khổ cũng là độnglực thúc đẩy một bộ phận người dân đi làm ăn xa quê, dù người dân vùng biển thừơng không mong

muốn Chẳng hạn: Trong 5 năm gần đây, xã có khoảng 2.000 người di cư, khoảng 200 hộ đi làm ăn

xa, một số mang theo con cái, một số để con cái ở nhà Ở đây nếu không đi làm ăn xa thì không có việc làm, buộc phải đi (TLN cán bộ xã Ngư Lộc, Thanh Hóa) Vấn đề là cần định hướng quá trình di

dân sao cho giải quyết nhiều việc làm, giảm thiểu rủi ro và chi phí cho người lao động di cư, đặc biệt

là lao động nữ và DTTS Bên cạnh mạng lưới xã hội của người di cư, CRSD có thể tổ chức trungtâm GTVL làm nhiệm vụ kết nối cung cầu lao động vùng dự án, tốt hơn những mô hình GTVL hiện

có Đây là một phương hướng đầy triển vọng nếu tổ chức tốt, vì không tốn nhiều chi phí, nhưng đòihỏi nhiều công sức, trí tuệ, có thể giải quyết số lượng lớn việc làm thay thế đánh bắt, đặc biệt đối vớithế hệ trẻ-rất đông đảo

Nhiều khu công nghiệp, du lịch như Nghi Sơn, Thanh Hóa, Ninh Thủy, Khánh Hòa… đang mở ratại các địa phương vùng dự án, tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực thấp tại các xã ven biển đang làtrở ngại cho việc tận dụng cơ hội này CRSD cần chú ý xây dựng các hoạt động hướng nghiệp, đàotạo nguồn nhân lực, đặc biệt là thanh niên con em ngư dân, con em hộ nghèo theo định hướng phục

vụ cho kinh tế biển, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động khu vực

Mặt khác, bản thân các khu vực dự án còn những nguồn lực chưa khai thác hết như 200 ha đất nuôitrồng thủy sản không hiệu quả thuộc xã Ninh Lộc-Khánh Hòa quản lý, khoảng 47 ha đất –khu đèoBãi Trướng có thể trồng tỏi Lý Sơn giá trị cao (nếu được cải tạo đất, 24 ha người dân đã cải tạo đất

và sản xuất có hiệu quả (lãi 270 triệu/ha năm 2010, đã trừ chi phí), còn 23 ha chưa cải tạo) tại xãNinh Vân-Khánh Hòa hay 46 ha vịnh Thanh Bình và 60 ha dải đất ven biển thuộc xã Hải Ninh, đang

bỏ trống, có thể cải tạo nuôi ngao, với điều kiện tự nhiên thuận lợi Tại xã Vĩnh Hải, Sóc Trăng cóhơn 500 ha đất của 2 nông trường đã giải thể, hiện đang cho các công ty thuê, có thể giải quyết cấpđất cho hàng ngàn hộ ngư dân thiếu đất canh tác CRSD có thể xây dựng các mô hình sinh kế thaythế dựa trên việc khai thác các nguồn lực đất đai chưa được sử dụng hiệu quả này

Một cơ hội khác cho các nguồn sinh kế thay thế đánh bắt là chính các hoạt động xây dựng CSHT củaCRSD Những đề xuất của các địa phương thuộc CRSD bao gồm nhiều công trình CSHT như cảng

cá, chợ đầu mối, khu dịch vụ thủy sản, đường giao thông, hệ thống thoát nước, trồng rừng ngập mặn,NTTS sinh thái, khu sản xuất và kiểm định tôm giống … có thể tạo hàng vạn việc làm, trong đó cónhiều việc làm phổ thông Chẳng hạn vùng sản xuất và kiểm định tôm giống Ninh Vân, nếu hoànthành có thể tạo ra khoảng 3.000 việc làm, trong đó sử dụng khoảng 2.400-2.500 lao động địaphương (theo tính toán của một cán bộ thủy sản Khánh Hòa) Các mô hình của CRSD theo hướngđồng quản lý cũng sẽ tạo nhiều việc làm thay thế đánh bắt hay đánh bắt thân thiện với môi trường

4.4 Khả năng tham gia của các cộng đồng vào những hoạt động của

dự án

Ngư dân đi biển thường thành lập các tàu với chủ tàu và nhóm ngư dân “đi bạn”, sau khi trừ chi phí

và khấu hao tàu (có thể khoảng 30%-50%), còn lại mọi người chia nhau theo số lao động Đó là cơ

sở xã hội để có thể mở rộng khả năng liên kết trong các hoạt động tổ nhóm vùng ven biển

Ngày đăng: 20/04/2021, 21:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các Đối tác phát triển. Báo cáo phát triển Việt nam 2011. Quan lý tài nguyên thiên nhiên, 2010 Khác
2. CIEM, DERG. Phân tích kinh tế chiến lược của ngành thủy sản Việt nam ,2010 3. CRSD. AIDE MEMOIRE, Preparation Mission, April 14 – May 4, 2011 4. GSO. Khảo sát mức sống hộ gia đình 2008 Khác
6. GSO, UNFPA,Di cư và đô thị hóa ở Việt nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt, 2010 Khác
8. IOS. Người nhập cư ở Hà nội-Những vấn đề đặt ra, 2000 Khác
11. UBND Thanh Hóa, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng 5 năm 2011- 2015 tỉnh Thanh Hóa (Dự thảo) Khác
12. UBND Thanh Hóa, Qui hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Thanh Hóa đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Khác
13. UBND Thanh Hóa, Định hướng phát triển kinh tế đến năm 2020 Khác
14. UBND Thanh Hóa, Chương trình hành động triển khai thực hiện Chiến lược phát triển KTXH 2011-2020 Khác
15. Sở KH&amp;ĐT Thanh Hóa, Báo cáo qui hoạch tổng thể phát trioển KTXH vùng ven biển đến năm 2020 Khác
16. Sở NN&amp;PTNT Thanh Hóa, Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác thủy sản năm 2010, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2011 Khác
17. Sở NN&amp;PTNT Thanh Hóa, Tình hình thực hiện kế hoạch nuôi trồng thủy sản năm 2010, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2011 Khác
18. Sở NN&amp;PTNT Thanh Hóa, Tình hình thực hiện kế hoạch năm 2009, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển thủy sản năm 2010 Khác
19. UBND huyện Tĩnh gia, Báo cáo tổng kết ngành thủy sản năm 2010, phuơng hướng, mục tiêu, giải pháp năm 2011 Khác
20. UBND huyện Tĩnh gia, Qui hoạch sử dụng đất đến năm 2020 Khác
21. Chi cục thống kê Tĩnh gia, Niên giám thống kê 2010 Khác
22. UBND huyện Hậu Lộc, kế hoạch phát triển CN-TCN và thuơng mại 2010-2015 huyện Hậu Lộc Khác
23. UBND huyện Hậu Lộc, Báo cáo tổng kết ngành thủy sản năm 2010, phuơng hướng, mục tiêu, giải pháp năm 2011 Khác
24. Chi cục thống kê Hậu Lộc, Niên giám thống kê 2010 Khác
25. UBND xã Ngư Lộc, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010 và dự kiến kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2011-2015 Khác
27. UBND xã Hải Ninh, Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND xã khóa XVII về phát triển KT-XH-QP-An ninh nhiệm kỳ 2004-2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w