Luật Giáo dục Đại học quy định: “Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư”; “Giảng viên có trình độ tiến sĩ, giảng viên có chức danh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO TỔNG HỢP TIẾP THU, GIẢI TRÌNH Ý KIẾN GÓP Ý ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT GIÁO DỤC
Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm
2017 của Quốc hội và phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với bộ, ngành và các
cơ quan có liên quan xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục (dự thảo Luật) theo quy định củaLuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáodục, cụ thể như sau:
I TỔNG SỐ Ý KIẾN
Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận được ý kiến của 22 Bộ, ngành, trong đó:
- Có 07/22 cơ quan đồng ý với dự thảo Luật, cụ thể: Đài Truyền hình Việt Nam; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bảo
hiểm xã hội Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam; Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Có 15/22 đơn vị có ý kiến góp ý, cụ thể: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và
Truyền thông, Bộ Quốc phòng, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công thương, Ủy ban Dân tộc, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Trang 2II NỘI DUNG GÓP Ý CỤ THỂ
NÔNG THÔN
a Khoản 1 Điều 4 nên bỏ từ “suốt đời” như sau: “1 Hệ
thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, linh
hoạt, liên thông, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi
người…”
Thực hiện quy định tại khoản 4 mục IIIphần B Nghị quyết số 29 quy định;Điểm a khoản 3 Nghị quyết số 88;Khuyến nghị ngày 13/11/2015 củaUNESCO và nâng các quy định tạiQuyết định số 1981/QĐ-TTg ngày18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo
dục quốc dânvề giáo dục suốt đời.
b Điều 71 nên bỏ từ “đang” để tránh hiểu lầm là khi
không còn giảng dạy, nghiên cứu khoa học thì bị tước,
bỏ mất chức danh giáo sư, phó giáo sư Sửa lại như sau:
“Giáo sư, phó giáo sư là chức danh của nhà giáo trong
việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở cơ sở giáo dục
đại học…”
Chức danh giáo sư, phó giáo sư chỉ dùngcho người đang giảng dạy, nghiên cứukhoa học ở các cơ sở giáo dục đại học
Luật Giáo dục Đại học quy định: “Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo
sư, giáo sư”; “Giảng viên có trình độ tiến sĩ, giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư công tác trong cơ sở giáo dục đại học có thể kéo dài thời gian làm việc kể từ khi đủ tuổi nghỉ hưu để giảng dạy, nghiên cứu khoa học, nếu có đủ sức khỏe, tự nguyện kéo dài thời gian làm việc, đồng thời cơ sở giáo dục đại học
có nhu cầu.”
a Bổ sung nội dung về đánh giá tính tương thích của các
quy định trong dự thảo Luật với các điều ước quốc tế có
Tiếp thu
Trang 3liên quan mà Việt Nam là thành viên, bao gồm các Hiệp
định về hợp tác giáo dục, các Hiệp định về công nhận
văn bằng mà Việt Nam với các nước; cam kết mở cửa
thị trường đối với dịch vụ giáo dục
b Đề nghị đổi vị trí khoản 24 và khoản 25 Điều 1 (sửa đổi
Điều 88 trước, Điều 99 sau)
Tiếp thu
c Cân nhắc bổ sung quy định sửa Điều 87 từ “theo Hiệp
định ký kết với Nhà nước” thành “theo điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên”
Tiếp thu
a Khoản 15 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 48) đề
nghị xem lại quy định “Trường công lập thuộc sở hữu
nhà nước, do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho nhiệm vụ chi thường
xuyên” vì hiện nay đã có nhiều cơ sở giáo dục đại học
công lập đã thực hiện tự chủ chi thường xuyên
Tiếp thu
b Khoản 28 Điều 1 (về sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều
105): đề nghị bổ sung các cơ sở giáo dục công lập thực
hiện tự chủ hoàn toàn được quyền chủ động xây dựng
mức thu học phí bên cạnh các đối tượng đã được quy
định là cơ sở giáo dục ngoài công lập, các cơ sở giáo
dục chất lượng cao Đồng thời, bổ sung khái niệm các
đối tượng là cơ sở giáo dục công lập thực hiện tự chủ/tự
chủ hoàn toàn, cơ sở giáo dục chất lượng cao và các quy
định liên quan vào trong luật
Tiếp thu
c Đề nghị sửa các Điều từ 32 đến 43 của Luật giáo dục
(liên quan đến giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại
học) để chỉnh sửa cho phù hợp vì theo nội dung sửa đổi
tại khoản 2 Điều 1 về hệ thống giáo dục quốc dân đã
phân định rõ giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ
sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo
Tiếp thu
Các Điều từ 32 đếnĐiều 37 đã đượcquy định tại Luậtgiáo dục nghềnghiệp; Các Điều từ
Trang 4nghề khác; giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại
học, thạc sĩ và tiến sĩ Theo quy định hiện nay thì giáo
dục đại học vẫn bao gồm cả trình độ cao đẳng là không
phù hợp và các nội dung này chưa được sửa đổi trong
dự thảo
38 đến Điều 43 quyđịnh về giáo dục đạihọc sẽ được sửa đôi,
bổ sung tại Luật sửađổi, bổ sung một sốđiều của Luật giáodục đại học
a Đề nghị sửa khoản 1 Điều 5 như sau: “Nội dung giáo
dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực,
hiện đại, có hệ thống và liên thông; coi trọng giáo dục
tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân; kế
thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa
dân tộc, tiếp thu văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý
lứa tuổi của người học”.
Tiếp thu
b Đề nghị sửa lại Điều 6 như sau: “Chương trình giáo
dục phải bảo đảm tính hiện đại, ổn định, thống nhất,
linh hoạt, thực tiễn, hợp lý và thường xuyên cập nhật
kiến thức mới; kế thừa giữa các cấp học và trình độ
đào tạo;…”
Chương trình giáo dục mang tính ổn
định Từ “hiện đại”, “linh hoạt” đã bao hàm ý “thường xuyên cập nhật kiến thức mới”
c Đề nghị sửa lại điểm a khoản 1 Điều 69 như sau: “a)
Nhóm trẻ độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, nhóm lớp mầm
non độc lập; lớp xóa mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin
học, lớp năng khiếu, lớp dành cho trẻ em vì hoàn cảnh
khó khăn không có điều kiện đi học ở nhà trường…” để
đảm bảo cho các đối tượng trên được phát triển toàn
diện cả thể chất, tinh thần và tri thức
Hiện nay, nhóm lớp mầm non độc lậpđang còn nhiều trên thực tế Vì vậy, cần
thiết phải quy định “nhóm lớp mầm non độc lập”tại Điều này.
a Đề nghị bổ sung quy định điều chỉnh (theo lộ trình)
nâng chuẩn trình độ đối với giáo viên bậc học mầm non,
Tiếp thu tại khoản
20 Điều 1 dự thảo
Trang 5tiểu học, trung học cơ sở lên 01 bậc so với quy định
hiện nay bởi trên thực tế trình độ của đội ngũ giáo viên
đạt trên chuẩn khá cao Việc nâng chuẩn sẽ củng cố,
nâng cao về chất lượng giảng dạy, mặt khác đảm bảo
quyền lợi đội ngũ giáo viên khi xếp theo thang bảng
lương trình độ tương ứng
Luật giao Chính phủquy định cụ thể
b Đề nghị bổ sung quy định chế độ được hưởng phụ cấp
thâm niên theo nghề đối với đội ngũ giáo viên được tiếp
nhận, điều động làm công chức công tác trong các cơ
quan quản lý trong ngành giáo dục nhằm thu hút công
chức có trình độ chuyên môn và quản lý tốt làm công
Đề nghị bổ sung các vướng mắc, bất cập cụ thể của
Luật giáo dục năm 2005 để làm cơ sở cho sự cần thiết
xây dựng và ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật giáo dục
Tiếp thu
b Đề nghị bổ sung các quy định về giáo dục kỹ năng sống,
trong đó xác định rõ khái niệm, mục tiêu, nội dung của
giáo dục kỹ năng sống, trách nhiệm của nhà trường,
giáo viên trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh
Điều 45 dự thảo Luật đã quy định cụ thể
về nội dung giáo dục thường xuyên,trong đó quy định về chương trình giáodục đáp ứng nhu cầu của người học;chương trình đào tạo khác có thời gian
đào tạo dưới ba tháng; giáo dục hướng nghiệp; giáo dục khởi nghiệp; cập nhật,
bổ sung những kiến thức, kỹ năng cầnthiết tối thiểu trong cuộc sống; chuyểngiao công nghệ
c Khoản 8 Điều 1 dự thảo (về sửa đổi, bổ sung khoản 1
Điều 26): đề nghị sửa lại thành “Tuổi của học sinh vào
học lớp một là từ sáu tuổi trở lên” “Tuổi của học sinh
vào học lớp sáu là từ mười một tuổi trở lên”, “Tuổi
Đối với các trường hợp học không đúngtuổi, khoản 2 Điều 26 Luật giáo dục hiện
hành đã quy định: “2 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định những
Trang 6của học sinh vào lớp mười là từ mười lăm tuổi trở
lên”.
trường hợp có thể học trước tuổi đối với học sinh phát triển sớm về trí tuệ; học ở tuổi cao hơn tuổi quy định đối với học sinh ở những vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn, học sinh người dân tộc thiểu số, học sinh bị tàn tật, khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực và trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi nương tựa, học sinh trong diện hộ đói nghèo theo quy định của Nhà nước, học sinh ở nước ngoài về nước; những trường hợp học sinh học vượt lớp, học lưu ban; việc học tiếng Việt của trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một.”.
d Khoản 23 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 81): đề
nghị sửa thành “Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp
trong nhóm cao nhất thuộc hệ thống thang bậc lương
hành chính sự nghiệp” để đảm bảo tính khả thi.
Tiếp thu
a Về Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
giáo dục:
Đề nghị bố cục lại các mục cụ thể cho rõ nội dung,
gồm:
(1) Thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng,
đồng thời cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm
2013 về giáo dục, đào tạo;
(2) Khắc phục những bất cập của pháp luật trong lĩnh
vực giáo dục, đào tạo;
(3) Tháo gỡ những vướng mắc, đáp ứng yêu cầu cấp
bách và thực tiễn phát triển giáo dục;
(4) Bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt
Tiếp thu
Trang 7Nam là thành viên.
b
Về Quan điểm chỉ đạo xây dựng dự án Luật:
Đề nghị tách thành năm mục:
(1) Thể chế hóa đầy đủ, đúng đẵn đường lối, chủ trương
của Đảng về lĩnh vực giáo dục, đào tạo;
(2) Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về
giáo dục, đào tạo;
(3) Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng
bộ và khả thi của Luật với hệ thống pháp luật hiện hành,
phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên;
(4) Đảm bảo kế thừa các quy định pháp luật về giáo
dục, đào tạo;
(5) Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của một số
quốc gia trong việc xây dựng pháp luật về giáo dục, đào
tạo; bảo đảm tính dự báo, sự phù hợp, hài hòa với pháp
luật quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng
Tiếp thu
c
Về quá trình soạn thảo:
Đề nghị bố cục theo đúng trình tự quy định của Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, từ khi
lập chương trình xây dựng Luật; thành lập Ban soạn
thảo, tổ biên tập; tổ chức soạn thảo cho đến khi nghiên
cứu tiếp thu ý kiến của các Bộ, ngành, Trung ương hoàn
thiện dự thảo trình Hội đồng thẩm định trình Chính phủ
Tiếp thu
d Bổ sung quy định giải thích từ ngữ “hệ thống giáo dục
mở, linh hoạt, liên thông”;“giáo dục chính quy”; “giáo
dục thường xuyên”.
Nội dung này đã được quy định cụ thểtại các điều, khoản của các Chương saucủa Luật
e Điều 13:
- Bố cục lại thành 3 khoản: (1) Đầu tư cho giáo dục là
đầu tư phát triển bền vững Đầu tư trong lĩnh vực giáo
Tiếp thu
Trang 8dục là hoạt động đầu tư đặc thù thuộc ngành, nghề đầu
tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi đầu tư (2)
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là vùng
khó khăn; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước
ngoài đầu tư giáo dục; (3) Ngân sách nhà nước phải
giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn đầu tư cho giáo
dục”.
- Làm rõ tính đặc thù trong lĩnh vực đầu tư trong giáo
dục, đào tạo
- Tách thành quy định riêng về ưu tiên trong giáo dục
vùng đặc biệt khó khăn Trong đó quy định cụ thể
nguyên tắc đầu tư, nguồn ngân sách đầu tư và cơ chế
thu hút đầu tư đối với vùng này
g Khoản 3 Điều 29 dự thảo: đối với sách giáo khoa để sử
dụng dạy bằng tiếng dân tộc trước khi ban hành cần có
ý kiến của Ủy ban Dân tộc
Tiếp thu tại khoản
11 Điều 1 Dự thảoLuật, quy định ở vănbản dưới Luật theothẩm quyền của Bộtrưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo
a Đề nghị xem xét, cân nhắc ban hành Luật giáo dục mới
thay thế Luật giáo dục hiện hành
Dự thảo chỉ tập trung sửa đổi, bổ sungcác vấn đề còn vướng mắc, không cònphù hợp với tình hình thực tiễn
Trang 9trường dân lập, tư thục để thực hiện mục tiêu đào tạo,
khi đó, trường chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở
hữu Bên cạnh đó, việc quản lý tài sản, tài chính của các
trường nói chung chưa được quy định trong Luật Do
vậy, để đảm bảo tính toàn diện, tạo khung pháp lý cho
quá trình triển khai thực hiện, đề nghị bỏ nội dung quy
định tại Điều 67, bổ sung nội dung về quản lý tài chính,
tài sản của nhà trường với một số quy định cơ bản như
sau:
“Quản lý và sử dụng tài chính, tài sản của nhà
trường
1 Nhà trường thực hiện chế độ tài chính, kế
toán, kiểm toán, thuế và công khai tài chính theo quy
định của pháp luật.
2 Nhà trường có sử dụng ngân sách nhà nước
(NSNN) có trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn NSNN
theo quy định của pháp luật về NSNN.
3 Việc rút vốn và chuyển nhượng vốn đối với
trường tư thục thực hiện theo quy định của Thủ tướng
Chính phủ, bảo đảm sự ổn định và phát triển của
trường.
4 Nhà trường quản lý, sử dụng tài sản được hình
thành từ NSNN theo quy định của pháp luật về quản lý
và sử dụng tài sản nhà nước; tự chủ, tự chịu trách
nhiệm quản lý và sử dụng tài sản hình thành từ các
nguồn ngoài NSNN.
5 Tài sản, đất đai được Nhà nước giao cho
trường dân lập, tư thục quản lý và tài sản mà trường
dân lập, tư thục được tài trợ, viện trợ, ủng hộ, hiến tặng
phải được sử dụng đúng mục đích, không chuyển đổi
mục đích sử dụng và không được chuyển thành sở hữu
Đối với đề nghị
bổ sung nội dung vềquản lý tài chính, tàisản của nhà trường,
Bộ Giáo dục và Đàotạo nhận thấy rằng:
các nội dung Bộ Tàichính đề nghị bổsung đã được quyđịnh tại Điều 66,Điều 67, Điều 68Luật giáo dục hiệnhành Vì vậy, BộGiáo dục và Đào tạogiữ nguyên quy địnhĐiều 67 Luật giáodục hiện hành
Trang 10tư nhân dưới bất cứ hình thức nào.
6 Tài sản của trường có vốn đầu tư nước ngoài
được nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt
Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
7 Bộ GD&ĐT, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy
ban Nhân dân các cấp kiểm tra, thanh tra việc quản lý
và sử dụng đúng mục đích nguồn tài chính; việc quản lý
và sử dụng tài sản nhà nước của các trường theo quy
định của Chính phủ.”
b Về việc sửa đổi, bổ sung Điều 81:
Ngày 04/11/2013, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế, trong đó có nội dung Lương của nhà
giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương
hành chính sự nghiệp
Tuy vậy, hiện nay Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối
hợp với các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá hệ thống
thang bảng lương, phụ cấp đối với từng ngành, lĩnh vực,
khu vực Vì vậy, đề nghị Bộ GD&ĐT làm việc với Bộ
Nội vụ để trình Chính phủ, trình Quốc hội phương án
tổng thể về tiền lương và phụ cấp của nhà giáođể đảm
bảo sự tương quan, thống nhất về tiền lương, phụ cấp
với các ngành, nghề khác trong giai đoạn tới
Tiếp thu
Theo phân công củaChính phủ, Thủtướng Chính phủ,
Bộ Giáo dục và Đàotạo sẽ xây dựngphương án tổng thể
về tiền lương và phụcấp của nhà giáo vàlàm việc với Bộ Nội
vụ về vấn đề này
c Về việc sửa đổi, bổ sung Điều 105:
a Giá dịch vụ tuyển sinh (lệ phí tuyển sinh)
Luật Giáo dục quy định Điều 105 Học phí, lệ phí
tuyển sinh Tuy vậy, tại dự thảo Luật sửa đổi, nội dung
Tiếp thu
Trang 11liên quan tới lệ phí tuyển sinh được Bộ GD&ĐT loại bỏ
nhưng không giải trình lý do
Hiện nay, vấn đề này đang có nhiều vướng mắc
do theo các quy định của Luật Phí, lệ phí và Luật giá thì
nguồn thu từ phí dự thi, dự tuyển không còn là nguồn
thu phí của nhà nước, đồng thời cũng không thuộc danh
mục giá do Nhà nước ban hành mà được chuyển sang
hình thức giá dịch vụ tuyển sinh Tuy nhiên công việc
này hiện vẫn liên quan rất lớn tới công tác quản lý nhà
nước, cụ thể là đối với các công tác tuyển sinh vào đại
học, cao đẳng, khi các cơ sở đào tạo sử dụng kết quả thi
tốt nghiệp trung học phổ thông để làm căn cứ xét tuyển
Nhiều công việc của công tác thi cử và xét tuyển
được thực hiện bởi Bộ GD&ĐT và các Sở GD&ĐT do
vậy phí dịch vụ tuyển sinh đại học, cao đẳng không thể
do cơ sở đào tạo ban hành, mà cần một quy định cụ thể,
thống nhất của Nhà nước Vì vậy, do tính chất đặc thù
của việc tuyển sinh đại học, cao đẳng, đề nghị Bộ
GD&ĐT bổ sung các quy định cụ thể về phí dịch vụ
tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đây là dịch vụ
do nhà nước định giá, không đưa nội dung này ra khỏi
Luật Giáo dục như Bộ GD&ĐT đang dự thảo
b Về quy định học sinh trung học cơ sở không
phải đóng học phí
Nghị quyết số 29-NQ/TW đã nêu: Đối với giáo
dục phổ thông, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục,
thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020 Vì
vậy, trong điều kiện NSNN còn khó khăn, việc cân đối
kinh phí để thực hiện chính sách này là không khả thi
Đề nghị Bộ GD&ĐT không đưa nội dung này vào dự
thảo Luật, đồng thời chỉ xem xét quy định học sinh
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật giáo dục thuộc Chương trìnhxây dựng Luật, pháp lệnh năm 2018 củaQuốc hội, dự kiến có hiệu lực năm 2019
và được áp dụng trong thời gian dài,đảm bảo “từ sau năm 2020” như quyđịnh của Nghị quyết số 29-NQ/TW
Trang 12trung học cơ sở không phải đóng học phí từ sau năm
2020 khi bắt đầu triển khai giáo dục bắt buộc theo đúng
tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW
c Về quy định cơ sở giáo dục chất lượng cao
được quyền chủ động xây dựng mức thu học phí đảm
bảo bù đắp chi phí và có tích lũy hợp lý.
Đề nghị Bộ GD&ĐT làm rõ khái niệm về “cơ sở
giáo dục chất lượng cao” Đồng thời, đề nghị cân nhắc
việc đưa nội dung này vào Luật do việc quy định giá
dịch vụ đào tạo đảm bảo tính đủ chi phí hợp lý đã được
quy định tại các văn bản Nghị định quy định về quyền
tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập
Tiếp thu
d Về khái niệm giá dịch vụ giáo dục, đào tạo
(học phí)
Theo quy định tại Luật giá, Luật phí và lệ phí thì
không còn khái niệm “học phí” mà chuyển sang “giá
dịch vụ giáo dục, đào tạo”, vì vậy đề nghị Bộ GD&ĐT
nghiên cứu, sử dụng khái niệm “giá dịch vụ giáo dục,
đào tạo” để đảm bảo thống nhất với các văn bản Luật
hiện hành Theo đó sửa đổi, bổ sung điểm 2.4 sửa đổi,
bổ sung Điều 105 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật
giáo dục 2005 như sau:
“Giá dịch vụ giáo dục, đào tạo là khoản tiền của
gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp
phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục
Giá dịch vụ giáo dục, đào tạo được xác định trên
cơ sở nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá quy
định tại Luật giá và văn bản hướng dẫn liên quan.
Chính phủ quy định cơ chế quản lý, sử dụng nguồn
thu từ giá dịch vụ giáo dục đối với cơ sở giáo dục công
lập được nhà nước hỗ trợ chi thường xuyên thuộc trung
Tiếp thu
Trang 13ương quản lý Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định
mức giá dịch vụ giáo dục đối với cơ sở giáo dục công
lập thuộc cấp tỉnh trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân
dân cùng cấp ”.
Đồng thời, theo quy định tại Điều 22 Luật giá thì
Chính phủ chỉ quy định 03 loại giá: “a) Khung giá
đất;b) Khung giá cho thuê mặt nước;c) Khung giá cho
thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ” Vì vậy, đề
nghị nghiên cứu không quy định việc Chính phủ ban
hành khung giá dịch vụ giáo dục đào tạo như hiện nay
Thay vào đó có thể phân cấp cho Bộ GD&ĐT chủ trì,
phối hợp với Bộ Tài chính quy định giá dịch vụ giáo
dục, đào tạo (tương tự như đối với quy định về thẩm
quyền ban hành giá dịch vụ y tế được quy định tại Điều
88 Luật Khám bệnh chữa bệnh)
d Về giá sách giáo khoa
Sách giáo khoa thuộc danh mục sản phẩm thực
hiện kê khai giá với Bộ Tài chính Căn cứ Luật Giá và
các văn bản hướng dẫn, Bộ Tài chính đã ban hành
Quyết định số 617/QĐ-BTC ngày 03/4/2017 kiểm tra
việc chấp hành pháp luật về giá trong lĩnh vực Công
nghiệp tiêu dùng; trong đó có kiểm tra việc chấp hành
pháp luật về giá sách giáo khoa tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam Qua kiểm tra, Bộ Tài chính nhận thấy cần có
danh mục sách giáo khoa rõ ràng để làm cơ sở cho đơn
vị thực hiện kê khai giá với Bộ Tài chính và công khai
thông tin về danh mục, giá sách giáo khoa để người tiêu
dùng biết, lựa chọn khi mua sách giáo khoa và sách bổ
trợ, tham khảo
Vì vậy, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Bổ sung vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật
Nghị quyết số 88/2014/QH13 quy định:
“Thực hiện xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa; có một số sách giáo khoa cho mỗi môn học Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tiêu chí đánh giá sách giáo khoa và phê duyệt sách giáo khoa được phép sử dụng trên cơ sở kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; hướng dẫn việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông Chính phủ ban hành cơ chế tài chính bảo đảm công bằng trong việc biên soạn và sử dụng sách giáo khoa.”
Trang 14giáo dục 2005 nội dung về khái niệm sách giáo khoa
theo hướng: cụ thể sách giáo khoa bao gồm sách học
sinh và sách giáo viên hay chỉ bao gồm sách học sinh và
phân biệt rõ với sách bổ trợ, sách tham khảo
- Sửa đổi, bổ sung vào Điều 29 Luật giáo dục 2005
như sau: “3 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành chương trình giáo dục phổ thông, ban hành danh
mục sách giáo khoa công khai, ổn định từng thời kỳ,
duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định,
thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo
dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc
gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách
giáo khoa”
a Khoản 14 Điều 1 và điểm b khoản 19 Điều 1:
Đề nghị rà soát lại, đánh giá hoạt động của mô hình các
trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập
cộng đồng, trung tâm ngoại ngữ, tin học quy định tại
điểm a,b,c khoản 14 (sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 46)
và điểm b.1 khoản 19 (sửa đổi, bổ sung Điều 69) để sắp
xếp, tổ chức lại các trung tâm bảo đảm tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với chủ trương của
Đảng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017
của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới
hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng hiệu
quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập
Tiếp thu
b Về tiền lương (khoản 23 Điều 1 dự thảo Luật)
- Điểm c khoản 12 Mục III Kết luận số 21-KL/TW ngày
17/8/2003 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung
ương kháo IX về cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội
và trợ cấp ưu đãi người có công đã ghi: “Đối với cán bộ,
Nghị quyết Hội nghị lần thứ haiBan Chấp hành Trung ương Đảng (khoáVIII) về định hướng chiến lược pháttriển giáo dục - đào tạo trong thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm
Trang 15viên chức ở các ngành sự nghiệp:áp dụng chung một
bảng lương để làm căn cứ cho việc cấp hoặc hỗ trợ kinh
phí từ ngân sách nhà nước, để đóng – hưởng bảo hiểm
xã hội, đóng bảo hiểm y tế, trả lương ngày nghỉ chế độ
Tiền lương thực trả phụ thuộc vào nguồn thu và kết quả
hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp Các ngành giáo
dục, y tế… được thực hiện chế độ ưu đãi phù hợp”
Căn cứ quy định nêu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ
tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực
lượng vũ trang và đã ban hành một số văn bản về chế độ
phụ cấp đối với nhà giáo Đến nay, nhà giáo được xếp
lương theo chức danh nghề nghiệp quy định tại bảng 3
(bảng lương chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, viên
chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban
hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP được
hưởng các chế độ phụ cấp lương đối với viên chức trên
cùng địa bàn làm việc và được hưởng phụ cấp ưu đãi
theo nghềmức cao nhất đến 70% và phụ cấp thâm niên
nghề Đây là sự ưu đãi đặc biệt của Nhà nước đối với
nhà giáo
- Tại khoản 2 Mục II Kết luận số 23-KL/TW ngày
29/5/2012 của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung
ương khóa XI về một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm
xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải
cách đến năm 2020 quy định: Áp dụng bảng lương
chung, thực hiện chính sách đặc thù ngành nghề bằng
chế độ phụ cấp, nghiên cứu mở rộng khoảng cách giữa
các bậc lương cho phù hợp; rà soát, xác định rõ các đặc
thù, trên cơ sở đó xây dựng, hoàn thiện các chế độ trợ
cấp, phụ cấp để đảm bảo công bằng, hợp lý, nhất là các
vụ đến năm 2000 khẳng định giáo viên
là nhân tố quyết định chất lượng củagiáo dục và được xã hội tôn vinh:
“Lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm chế độ độ phụ cấp tuỳ theo tính chất công việc, theo vùng do Chính phủ quy định”.
Tại khoản 6 mục 3 phần B Nghị quyết số
29-NQ/TW: “Lương của nhà giáo được
ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp
và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng.”
Trang 16chế độ phụ cấp theo nghề, công vụ”/
Trong thời gian qua, nhiều bộ, ngành khi xây dựng
luật chuyên ngành đã đưa quy định về tiền lương (cả
phụ cấp) làm phá vỡ thiết kế ban đầu của chế độ tiền
lương trong hệ thống chính trị, làm phát sinh bất hợp lý
giữa các ngành, nghề
Hiện nay, Ban chỉ đạo Trung ương về nghiên cứu cải
cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi
người có công do Phó Thủ tướng Chính phủ Vương
Đình Huệ làm Trưởng ban đang xây dựng Đề án cải
cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức,
viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong
các doanh nghiệp để báo cáo Ban Cán sự Đảng Chính
phủ trình Hội nghị Trung ương 7 khóa XII Vì vậy, Bộ
Nội vụ đề nghị không quy định tiền lương của nhà giáo
tại khoản 23 Điều 1 Dự án Luật Vấn đề này cần phải
được nghiên cứu, xây dựng ban hành đồng bộ khi cải
cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức,
viên chức và lực lượng vũ trang trong hệ thống chính trị
trong thời gian tới, bảo đảm tương quan chung, phù hợp
với khả năng ngân sách nhà nước
c Về học phí (khoản 28 Điều 1)
- Điểm a khoản 3 Mục III Kết luận số 20-KL/TW
ngày 28/11/2008 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành
Trung ương kháo X về cải cách chính sách tiền lương,
bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn
2008-2012 quy định: Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ
chế tài chính trong đó có tiền lương đối với khu vực sự
nghiệp công lập theo hướng đơn vị sự nghiệp được thu
phí dịch vụ tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ các
chi phí khác; đon vị sự nghiệp thực hiện hạch toán thu –
Khoản 2 Điều 61 Hiến pháp năm 2013
quy định: “từng bước phổ cập giáo dục trung học”;Nghị quyết số 29-NQ/TW quy định: “Đối với giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.”
Đồng thời, chế độ thu học phí hiệnnay đã bộc lộ một số hạn chế như sau:Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung
Trang 17chi, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng, phát triển hoạt
động để vừa phục vụ tốt hơn nhu cầu xã hội, vừa tự cân
đối nguồn thu để trả lương bằng hoặc cao hơn so với
chế độ nhà nước quy định”
- Điểm 2.5 khoản 2 Mục II Kế luận số 23-KL/TW
nêu trên đã quy định: “Đối với khu vực sự nghiệp công,
cần đối mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền
lương gắn với kết quả hoạt động của đơn vị theo Kết
luận Hội nghị Trung ương khóa X; thực hiện cơ chế đặt
hàng, giao nhiệm vụ, giao quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm cho đơn vị và người đứng đầu”
- Điểm b Mục 3 Kết luận số 63-KL/TW ngày
27/5/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung
ương kháo XI một số vấn đề về cải cách chính sách tiền
lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và
định hướng đến năm 2020 quy định: “Xác định khung
giá, phí các dịch vụ sự nghiệp công lập, từng bước tính
đủ tiền lương, chi phí thường xuyên theo lộ trình phù
hợp với thu nhập của người dân Xây dựng giá dịch vụ
công lập theo 3 mức: Mức giá tính đủ tiền lương; mức
giá tính đủ tiền lương và chi phí quản lý; mức giá tính
đủ lương, chi phí quản lý và khấu hao tài sản cố định
Trên cơ sở đó, phân loại các đơn vị sự nghiệp để thực
hiện theo 3 mức giá cho phù hợp, cá đối tượng thụ
hưởng phải chi, trả theo giá, phí dịch vụ Nhà nước thực
hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người có công,
người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và một số đối
tượng còn khó khăn để được tiếp cận và thụ hưởng các
dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, tạo sự đồng
thuận trong xã hội” Mặt khác tại điểm c Mục 3 Kết
luận số 63-KL/TW quy định: “Chỉ ban hành các chính
một số Điều của Luật Giáo dục (khoản
2, Điều 1) quy định: Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước Tuy nhiên, đến nay nhà
nước mới chỉ thực hiện miễn học phí đốivới giáo dục tiểu học, còn giáo dục mầmnon cho trẻ em 5 tuổi và giáo dục trunghọc cơ sở vẫn chưa được miễn học phí.Điều này gây khó khăn cho việc huyđộng trẻ đến trường, nhất là vùng núi,vùng dân tộc thiểu số Bên cạnh đó,phần lớn học sinh mầm non, trung học
cơ sở, trung học phổ thông sống ở vùngnông thôn, miền núi, thu nhập gia đìnhtương đối thấp, vì vậy mặc dù mức thuhọc phí không quá cao, nhưng cũng làmột gánh nặng đối với gia đình có thunhập thấp, tiệm cận chuẩn nghèo
Đối với giáo dục mầm non cho trẻ
em 5 tuổi có thể chia sẻ chi phí cho cha
mẹ học sinh vì ở lứa tuổi này chăm sóc
là chủ yếu Bên cạnh đó là vì sự khókhăn của ngân sách nhà nước trong thờiđiểm có nhiều chính sách cần được hỗtrợ từ ngân sách nhà nước nên giáo dụcmầm non có thể xã hội hóa và huy độngcác nguồn lực khác trong cộng đồng dân
Trang 18sách, chế độ mới khi đã bố trí, cân đối được nguồn thực
hiện”
Như vậy, việc quy định: “Học sinh tiểu học, trung
học cơ sở trường công lập không phải nộp học phí” là
chưa phù hợp với quy định tại các Nghị quyết của Đảng
nêu trên và làm tăng chi ngân sách nhà nước trong khi
ngân sách nhà nước khó khăn Vì vậy, đề nghị Bộ Giáo
dục và Đào tạo xây dựng Đề án về việc miễn học phí
đối với cấp Trung học học cơ sở cho phù hợp với quy
định nêu trên của Đảng và Nghị quyết số 19-NQ/TW
ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành
Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ
chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của các đơn vị sự nghiệp công lập
cư phát triển bậc học này Nhưng đối vớigiáo dục THCS cần có chính sách miễngiảm học phí cho đối tượng này, đảmbảo giáo dục cơ bản cho toàn bộ họcsinh có hoàn cảnh khác nhau trong cảnước được tiếp cận với giáo dục phổthông Đồng thời tạo nguồn tuyển sinh
và tăng tỷ lệ học sinh qua đào tạo nghềnghiệp
Miễn học phí đối với học sinh họcTHCS sẽ huy động được học sinh THCSđến trường, định hình việc phân luồnghọc sinh trung học cơ sở và định hướngnghề nghiệp cho học sinh trung học phổthông rõ ràng hơn, khắc phục tình trạngmất cân đối trong cơ cấu trình độ vàngành nghề đào tạo, đáp ứng được nhucầu nhân lực của xã hội và hội nhậpquốc tế
Miễn học phí đối với học sinhTHCS sẽ góp phần tiết kiệm chi phí chomỗi cá nhân, gia đình mà còn tiết kiệmnguồn lực cho cả xã hội
11 BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
a Về cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục:
- Căn cứ phân công của Chính phủ, đề nghị Bộ
Giáo dục và Đào tạo rà soát, chỉnh sửa trong dự thảo
Luật quy định về cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục
như sau: Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ quản
lý nhà nước đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục đại học và các trường sư phạm; Bộ Lao
Dự thảo Luật chỉ tập trung sửa đổi, bổsung các quy định đang còn khó khăn,
vướng mắc Việc sử dụng cụm từ “Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương” và“Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương” như Luật giáo dục
Trang 19động – Thương binh và Xã hội giúp Chính phủ quản lý
nhà nước về giáo dục nghề nghiệp (trừ các trường sư
phạm)
- Đề nghị rà soát, thay thế trong toàn bộ dự thảo
cụm từ “Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy
nghề” bằng cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội”.
- Tại khoản 26 Điều 1 dự thảo:
+ Đề nghị bổ sung nội dung sửa đổi, bổ sung khoản
2 Điều 100 như sau: Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp
Chính phủ quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và các trường sư
phạm; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội giúp
Chính phủ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp
(trừ các trường sư phạm)
+ Đề nghị bổ sung nội dung sửa đổi, bổ sung
khoản 3 Điều 100 như sau: Bộ, cơ quan ngang bộ phối
hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục
theo thẩm quyền
hiện hành hiện vẫn ổn định theo sự phâncông của Chính phủ giao Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội quản lý nhànước về giáo dục nghề nghiệp Đồngthời, giữ nguyên hai cụm từ nêu trên đểthống nhất với quy định của Luật giáodục nghề nghiệp năm 2014
Tại khoản 4 Điều 100: đề nghị bỏ cụm từ “quy
hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục” nhằm bảo đảm tính
thống nhất, đồng bộ với quy định của Luật quy hoạch
Tiếp thu
b Về Chương trình giáo dục (khoản 4 Điều 1 dự thảo)
- Khoản 1 Điều 6 đề nghị sửa lại thành “chương trình
giáo dục phải thể hiện được mục tiêu giáo dục; quy
định yêu cầu về phẩm chất, năng lực mà người học đạt
được sau khi hoàn thành hoặc tốt nghiệp; phạm vi,
cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
đào tạo, cách thức đánh giá kết quả học tập đối với
từng môn học hoặc mô đun”.
Tiếp thu
Trang 20- Khoản 2 Điều 6 sửa đổi đề nghị bổ sung cụm từ “khoa
học” vào trước cụm từ “hiện đại”.
Tiếp thu
c Về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục (khoản 6 Điều
1 dự thảo)
Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo căn cứ quy định của
Luật quy hoạch để quy định các nội dung tại khoản này
bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp
luật
Tiếp thu
d Về giáo dục phổ thông (khoản 8 Điều 1 dự thảo)
Theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp, học sinh
tốt nghiệp trung học cơ sở được xét tuyển hoặc thi tuyển
để học trình độ trung cấp Đồng thời, Bộ Chính trị đã có
Chỉ thị 10-CT/TW ngày 05/12/2011 đề ra mục tiêu đến
năm 2020 có ít nhất 30% học sinh sau khi tốt nghiệp
trung học cơ sở đi học nghề và theo quy định tại Nghị
quyết số 24/2016/NQ-QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc
hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn
2016-2020 và Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/2/2017 của
Chính phủ thì mục tiêu đến năm 2020, tỷ trọng lao động
qua đào tạo từ 03 tháng trở lên có bằng cấp đạt khoảng
25%
Do vậy, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề
nghị sửa khoản 1 Điều 26 như sau: “Giáo dục phổ
thông được chia thành giai đoạn giáo dục cơ bản và
giáo dục định hướng nghề nghiệp Giai đoạn giáo dục
cơ bản là cấp tiểu học, giai đoạn giáo dục định hướng
nghề nghiệp gồm cấp trung học cơ sở và cấp trung học
Đồng thời, quy định như dự thảonhằm nâng các quy định của Quyết định
số 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 củaThủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung
cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, theo
đó tại khoản 2 và 3 Điều 2 quy định:
“2 Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở (giai đoạn giáo dục cơ bản) và giáo dục trung học phổ thông (giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp)”.
e Về giáo dục thường xuyên (khoản 3 Điều 1 dự thảo)