1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO TỔNG HỢP TIẾP THU, GIẢI TRÌNH Ý KIẾN GÓP ÝĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT GIÁO DỤC

40 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 295 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Giáo dục Đại học quy định: “Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư”; “Giảng viên có trình độ tiến sĩ, giảng viên có chức danh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO TỔNG HỢP TIẾP THU, GIẢI TRÌNH Ý KIẾN GÓP Ý ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT GIÁO DỤC

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm

2017 của Quốc hội và phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với bộ, ngành và các

cơ quan có liên quan xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục (dự thảo Luật) theo quy định củaLuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáodục, cụ thể như sau:

I TỔNG SỐ Ý KIẾN

Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận được ý kiến của 22 Bộ, ngành, trong đó:

- Có 07/22 cơ quan đồng ý với dự thảo Luật, cụ thể: Đài Truyền hình Việt Nam; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bảo

hiểm xã hội Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam; Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Bộ Tài nguyên và Môi trường.

- Có 15/22 đơn vị có ý kiến góp ý, cụ thể: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và

Truyền thông, Bộ Quốc phòng, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công thương, Ủy ban Dân tộc, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Trang 2

II NỘI DUNG GÓP Ý CỤ THỂ

NÔNG THÔN

a Khoản 1 Điều 4 nên bỏ từ “suốt đời” như sau: “1 Hệ

thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, linh

hoạt, liên thông, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi

người…”

Thực hiện quy định tại khoản 4 mục IIIphần B Nghị quyết số 29 quy định;Điểm a khoản 3 Nghị quyết số 88;Khuyến nghị ngày 13/11/2015 củaUNESCO và nâng các quy định tạiQuyết định số 1981/QĐ-TTg ngày18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo

dục quốc dânvề giáo dục suốt đời.

b Điều 71 nên bỏ từ “đang” để tránh hiểu lầm là khi

không còn giảng dạy, nghiên cứu khoa học thì bị tước,

bỏ mất chức danh giáo sư, phó giáo sư Sửa lại như sau:

“Giáo sư, phó giáo sư là chức danh của nhà giáo trong

việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở cơ sở giáo dục

đại học…”

Chức danh giáo sư, phó giáo sư chỉ dùngcho người đang giảng dạy, nghiên cứukhoa học ở các cơ sở giáo dục đại học

Luật Giáo dục Đại học quy định: “Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo

sư, giáo sư”; “Giảng viên có trình độ tiến sĩ, giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư công tác trong cơ sở giáo dục đại học có thể kéo dài thời gian làm việc kể từ khi đủ tuổi nghỉ hưu để giảng dạy, nghiên cứu khoa học, nếu có đủ sức khỏe, tự nguyện kéo dài thời gian làm việc, đồng thời cơ sở giáo dục đại học

có nhu cầu.”

a Bổ sung nội dung về đánh giá tính tương thích của các

quy định trong dự thảo Luật với các điều ước quốc tế có

Tiếp thu

Trang 3

liên quan mà Việt Nam là thành viên, bao gồm các Hiệp

định về hợp tác giáo dục, các Hiệp định về công nhận

văn bằng mà Việt Nam với các nước; cam kết mở cửa

thị trường đối với dịch vụ giáo dục

b Đề nghị đổi vị trí khoản 24 và khoản 25 Điều 1 (sửa đổi

Điều 88 trước, Điều 99 sau)

Tiếp thu

c Cân nhắc bổ sung quy định sửa Điều 87 từ “theo Hiệp

định ký kết với Nhà nước” thành “theo điều ước quốc tế

mà Việt Nam là thành viên”

Tiếp thu

a Khoản 15 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 48) đề

nghị xem lại quy định “Trường công lập thuộc sở hữu

nhà nước, do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho nhiệm vụ chi thường

xuyên” vì hiện nay đã có nhiều cơ sở giáo dục đại học

công lập đã thực hiện tự chủ chi thường xuyên

Tiếp thu

b Khoản 28 Điều 1 (về sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều

105): đề nghị bổ sung các cơ sở giáo dục công lập thực

hiện tự chủ hoàn toàn được quyền chủ động xây dựng

mức thu học phí bên cạnh các đối tượng đã được quy

định là cơ sở giáo dục ngoài công lập, các cơ sở giáo

dục chất lượng cao Đồng thời, bổ sung khái niệm các

đối tượng là cơ sở giáo dục công lập thực hiện tự chủ/tự

chủ hoàn toàn, cơ sở giáo dục chất lượng cao và các quy

định liên quan vào trong luật

Tiếp thu

c Đề nghị sửa các Điều từ 32 đến 43 của Luật giáo dục

(liên quan đến giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại

học) để chỉnh sửa cho phù hợp vì theo nội dung sửa đổi

tại khoản 2 Điều 1 về hệ thống giáo dục quốc dân đã

phân định rõ giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ

sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo

Tiếp thu

Các Điều từ 32 đếnĐiều 37 đã đượcquy định tại Luậtgiáo dục nghềnghiệp; Các Điều từ

Trang 4

nghề khác; giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại

học, thạc sĩ và tiến sĩ Theo quy định hiện nay thì giáo

dục đại học vẫn bao gồm cả trình độ cao đẳng là không

phù hợp và các nội dung này chưa được sửa đổi trong

dự thảo

38 đến Điều 43 quyđịnh về giáo dục đạihọc sẽ được sửa đôi,

bổ sung tại Luật sửađổi, bổ sung một sốđiều của Luật giáodục đại học

a Đề nghị sửa khoản 1 Điều 5 như sau: “Nội dung giáo

dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực,

hiện đại, có hệ thống và liên thông; coi trọng giáo dục

tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân; kế

thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa

dân tộc, tiếp thu văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn

hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý

lứa tuổi của người học”.

Tiếp thu

b Đề nghị sửa lại Điều 6 như sau: “Chương trình giáo

dục phải bảo đảm tính hiện đại, ổn định, thống nhất,

linh hoạt, thực tiễn, hợp lý và thường xuyên cập nhật

kiến thức mới; kế thừa giữa các cấp học và trình độ

đào tạo;…”

Chương trình giáo dục mang tính ổn

định Từ “hiện đại”, “linh hoạt” đã bao hàm ý “thường xuyên cập nhật kiến thức mới”

c Đề nghị sửa lại điểm a khoản 1 Điều 69 như sau: “a)

Nhóm trẻ độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, nhóm lớp mầm

non độc lập; lớp xóa mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin

học, lớp năng khiếu, lớp dành cho trẻ em vì hoàn cảnh

khó khăn không có điều kiện đi học ở nhà trường…” để

đảm bảo cho các đối tượng trên được phát triển toàn

diện cả thể chất, tinh thần và tri thức

Hiện nay, nhóm lớp mầm non độc lậpđang còn nhiều trên thực tế Vì vậy, cần

thiết phải quy định “nhóm lớp mầm non độc lập”tại Điều này.

a Đề nghị bổ sung quy định điều chỉnh (theo lộ trình)

nâng chuẩn trình độ đối với giáo viên bậc học mầm non,

Tiếp thu tại khoản

20 Điều 1 dự thảo

Trang 5

tiểu học, trung học cơ sở lên 01 bậc so với quy định

hiện nay bởi trên thực tế trình độ của đội ngũ giáo viên

đạt trên chuẩn khá cao Việc nâng chuẩn sẽ củng cố,

nâng cao về chất lượng giảng dạy, mặt khác đảm bảo

quyền lợi đội ngũ giáo viên khi xếp theo thang bảng

lương trình độ tương ứng

Luật giao Chính phủquy định cụ thể

b Đề nghị bổ sung quy định chế độ được hưởng phụ cấp

thâm niên theo nghề đối với đội ngũ giáo viên được tiếp

nhận, điều động làm công chức công tác trong các cơ

quan quản lý trong ngành giáo dục nhằm thu hút công

chức có trình độ chuyên môn và quản lý tốt làm công

Đề nghị bổ sung các vướng mắc, bất cập cụ thể của

Luật giáo dục năm 2005 để làm cơ sở cho sự cần thiết

xây dựng và ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của Luật giáo dục

Tiếp thu

b Đề nghị bổ sung các quy định về giáo dục kỹ năng sống,

trong đó xác định rõ khái niệm, mục tiêu, nội dung của

giáo dục kỹ năng sống, trách nhiệm của nhà trường,

giáo viên trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học

sinh

Điều 45 dự thảo Luật đã quy định cụ thể

về nội dung giáo dục thường xuyên,trong đó quy định về chương trình giáodục đáp ứng nhu cầu của người học;chương trình đào tạo khác có thời gian

đào tạo dưới ba tháng; giáo dục hướng nghiệp; giáo dục khởi nghiệp; cập nhật,

bổ sung những kiến thức, kỹ năng cầnthiết tối thiểu trong cuộc sống; chuyểngiao công nghệ

c Khoản 8 Điều 1 dự thảo (về sửa đổi, bổ sung khoản 1

Điều 26): đề nghị sửa lại thành “Tuổi của học sinh vào

học lớp một là từ sáu tuổi trở lên” “Tuổi của học sinh

vào học lớp sáu là từ mười một tuổi trở lên”, “Tuổi

Đối với các trường hợp học không đúngtuổi, khoản 2 Điều 26 Luật giáo dục hiện

hành đã quy định: “2 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định những

Trang 6

của học sinh vào lớp mười là từ mười lăm tuổi trở

lên”.

trường hợp có thể học trước tuổi đối với học sinh phát triển sớm về trí tuệ; học ở tuổi cao hơn tuổi quy định đối với học sinh ở những vùng có điều kiện kinh tế -

xã hội khó khăn, học sinh người dân tộc thiểu số, học sinh bị tàn tật, khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực và trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi nương tựa, học sinh trong diện hộ đói nghèo theo quy định của Nhà nước, học sinh ở nước ngoài về nước; những trường hợp học sinh học vượt lớp, học lưu ban; việc học tiếng Việt của trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một.”.

d Khoản 23 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 81): đề

nghị sửa thành “Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp

trong nhóm cao nhất thuộc hệ thống thang bậc lương

hành chính sự nghiệp” để đảm bảo tính khả thi.

Tiếp thu

a Về Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

giáo dục:

Đề nghị bố cục lại các mục cụ thể cho rõ nội dung,

gồm:

(1) Thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng,

đồng thời cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm

2013 về giáo dục, đào tạo;

(2) Khắc phục những bất cập của pháp luật trong lĩnh

vực giáo dục, đào tạo;

(3) Tháo gỡ những vướng mắc, đáp ứng yêu cầu cấp

bách và thực tiễn phát triển giáo dục;

(4) Bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt

Tiếp thu

Trang 7

Nam là thành viên.

b

Về Quan điểm chỉ đạo xây dựng dự án Luật:

Đề nghị tách thành năm mục:

(1) Thể chế hóa đầy đủ, đúng đẵn đường lối, chủ trương

của Đảng về lĩnh vực giáo dục, đào tạo;

(2) Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về

giáo dục, đào tạo;

(3) Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng

bộ và khả thi của Luật với hệ thống pháp luật hiện hành,

phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành

viên;

(4) Đảm bảo kế thừa các quy định pháp luật về giáo

dục, đào tạo;

(5) Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của một số

quốc gia trong việc xây dựng pháp luật về giáo dục, đào

tạo; bảo đảm tính dự báo, sự phù hợp, hài hòa với pháp

luật quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày

càng sâu rộng

Tiếp thu

c

Về quá trình soạn thảo:

Đề nghị bố cục theo đúng trình tự quy định của Luật

ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, từ khi

lập chương trình xây dựng Luật; thành lập Ban soạn

thảo, tổ biên tập; tổ chức soạn thảo cho đến khi nghiên

cứu tiếp thu ý kiến của các Bộ, ngành, Trung ương hoàn

thiện dự thảo trình Hội đồng thẩm định trình Chính phủ

Tiếp thu

d Bổ sung quy định giải thích từ ngữ “hệ thống giáo dục

mở, linh hoạt, liên thông”;“giáo dục chính quy”; “giáo

dục thường xuyên”.

Nội dung này đã được quy định cụ thểtại các điều, khoản của các Chương saucủa Luật

e Điều 13:

- Bố cục lại thành 3 khoản: (1) Đầu tư cho giáo dục là

đầu tư phát triển bền vững Đầu tư trong lĩnh vực giáo

Tiếp thu

Trang 8

dục là hoạt động đầu tư đặc thù thuộc ngành, nghề đầu

tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi đầu tư (2)

Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là vùng

khó khăn; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích

hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt

Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước

ngoài đầu tư giáo dục; (3) Ngân sách nhà nước phải

giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn đầu tư cho giáo

dục”.

- Làm rõ tính đặc thù trong lĩnh vực đầu tư trong giáo

dục, đào tạo

- Tách thành quy định riêng về ưu tiên trong giáo dục

vùng đặc biệt khó khăn Trong đó quy định cụ thể

nguyên tắc đầu tư, nguồn ngân sách đầu tư và cơ chế

thu hút đầu tư đối với vùng này

g Khoản 3 Điều 29 dự thảo: đối với sách giáo khoa để sử

dụng dạy bằng tiếng dân tộc trước khi ban hành cần có

ý kiến của Ủy ban Dân tộc

Tiếp thu tại khoản

11 Điều 1 Dự thảoLuật, quy định ở vănbản dưới Luật theothẩm quyền của Bộtrưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo

a Đề nghị xem xét, cân nhắc ban hành Luật giáo dục mới

thay thế Luật giáo dục hiện hành

Dự thảo chỉ tập trung sửa đổi, bổ sungcác vấn đề còn vướng mắc, không cònphù hợp với tình hình thực tiễn

Trang 9

trường dân lập, tư thục để thực hiện mục tiêu đào tạo,

khi đó, trường chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở

hữu Bên cạnh đó, việc quản lý tài sản, tài chính của các

trường nói chung chưa được quy định trong Luật Do

vậy, để đảm bảo tính toàn diện, tạo khung pháp lý cho

quá trình triển khai thực hiện, đề nghị bỏ nội dung quy

định tại Điều 67, bổ sung nội dung về quản lý tài chính,

tài sản của nhà trường với một số quy định cơ bản như

sau:

“Quản lý và sử dụng tài chính, tài sản của nhà

trường

1 Nhà trường thực hiện chế độ tài chính, kế

toán, kiểm toán, thuế và công khai tài chính theo quy

định của pháp luật.

2 Nhà trường có sử dụng ngân sách nhà nước

(NSNN) có trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn NSNN

theo quy định của pháp luật về NSNN.

3 Việc rút vốn và chuyển nhượng vốn đối với

trường tư thục thực hiện theo quy định của Thủ tướng

Chính phủ, bảo đảm sự ổn định và phát triển của

trường.

4 Nhà trường quản lý, sử dụng tài sản được hình

thành từ NSNN theo quy định của pháp luật về quản lý

và sử dụng tài sản nhà nước; tự chủ, tự chịu trách

nhiệm quản lý và sử dụng tài sản hình thành từ các

nguồn ngoài NSNN.

5 Tài sản, đất đai được Nhà nước giao cho

trường dân lập, tư thục quản lý và tài sản mà trường

dân lập, tư thục được tài trợ, viện trợ, ủng hộ, hiến tặng

phải được sử dụng đúng mục đích, không chuyển đổi

mục đích sử dụng và không được chuyển thành sở hữu

Đối với đề nghị

bổ sung nội dung vềquản lý tài chính, tàisản của nhà trường,

Bộ Giáo dục và Đàotạo nhận thấy rằng:

các nội dung Bộ Tàichính đề nghị bổsung đã được quyđịnh tại Điều 66,Điều 67, Điều 68Luật giáo dục hiệnhành Vì vậy, BộGiáo dục và Đào tạogiữ nguyên quy địnhĐiều 67 Luật giáodục hiện hành

Trang 10

tư nhân dưới bất cứ hình thức nào.

6 Tài sản của trường có vốn đầu tư nước ngoài

được nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt

Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ

nghĩa Việt Nam là thành viên.

7 Bộ GD&ĐT, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy

ban Nhân dân các cấp kiểm tra, thanh tra việc quản lý

và sử dụng đúng mục đích nguồn tài chính; việc quản lý

và sử dụng tài sản nhà nước của các trường theo quy

định của Chính phủ.”

b Về việc sửa đổi, bổ sung Điều 81:

Ngày 04/11/2013, Ban Chấp hành Trung ương

Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW

về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp

ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều

kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và

hội nhập quốc tế, trong đó có nội dung Lương của nhà

giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương

hành chính sự nghiệp

Tuy vậy, hiện nay Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối

hợp với các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá hệ thống

thang bảng lương, phụ cấp đối với từng ngành, lĩnh vực,

khu vực Vì vậy, đề nghị Bộ GD&ĐT làm việc với Bộ

Nội vụ để trình Chính phủ, trình Quốc hội phương án

tổng thể về tiền lương và phụ cấp của nhà giáođể đảm

bảo sự tương quan, thống nhất về tiền lương, phụ cấp

với các ngành, nghề khác trong giai đoạn tới

Tiếp thu

Theo phân công củaChính phủ, Thủtướng Chính phủ,

Bộ Giáo dục và Đàotạo sẽ xây dựngphương án tổng thể

về tiền lương và phụcấp của nhà giáo vàlàm việc với Bộ Nội

vụ về vấn đề này

c Về việc sửa đổi, bổ sung Điều 105:

a Giá dịch vụ tuyển sinh (lệ phí tuyển sinh)

Luật Giáo dục quy định Điều 105 Học phí, lệ phí

tuyển sinh Tuy vậy, tại dự thảo Luật sửa đổi, nội dung

Tiếp thu

Trang 11

liên quan tới lệ phí tuyển sinh được Bộ GD&ĐT loại bỏ

nhưng không giải trình lý do

Hiện nay, vấn đề này đang có nhiều vướng mắc

do theo các quy định của Luật Phí, lệ phí và Luật giá thì

nguồn thu từ phí dự thi, dự tuyển không còn là nguồn

thu phí của nhà nước, đồng thời cũng không thuộc danh

mục giá do Nhà nước ban hành mà được chuyển sang

hình thức giá dịch vụ tuyển sinh Tuy nhiên công việc

này hiện vẫn liên quan rất lớn tới công tác quản lý nhà

nước, cụ thể là đối với các công tác tuyển sinh vào đại

học, cao đẳng, khi các cơ sở đào tạo sử dụng kết quả thi

tốt nghiệp trung học phổ thông để làm căn cứ xét tuyển

Nhiều công việc của công tác thi cử và xét tuyển

được thực hiện bởi Bộ GD&ĐT và các Sở GD&ĐT do

vậy phí dịch vụ tuyển sinh đại học, cao đẳng không thể

do cơ sở đào tạo ban hành, mà cần một quy định cụ thể,

thống nhất của Nhà nước Vì vậy, do tính chất đặc thù

của việc tuyển sinh đại học, cao đẳng, đề nghị Bộ

GD&ĐT bổ sung các quy định cụ thể về phí dịch vụ

tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đây là dịch vụ

do nhà nước định giá, không đưa nội dung này ra khỏi

Luật Giáo dục như Bộ GD&ĐT đang dự thảo

b Về quy định học sinh trung học cơ sở không

phải đóng học phí

Nghị quyết số 29-NQ/TW đã nêu: Đối với giáo

dục phổ thông, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục,

thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020 Vì

vậy, trong điều kiện NSNN còn khó khăn, việc cân đối

kinh phí để thực hiện chính sách này là không khả thi

Đề nghị Bộ GD&ĐT không đưa nội dung này vào dự

thảo Luật, đồng thời chỉ xem xét quy định học sinh

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật giáo dục thuộc Chương trìnhxây dựng Luật, pháp lệnh năm 2018 củaQuốc hội, dự kiến có hiệu lực năm 2019

và được áp dụng trong thời gian dài,đảm bảo “từ sau năm 2020” như quyđịnh của Nghị quyết số 29-NQ/TW

Trang 12

trung học cơ sở không phải đóng học phí từ sau năm

2020 khi bắt đầu triển khai giáo dục bắt buộc theo đúng

tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW

c Về quy định cơ sở giáo dục chất lượng cao

được quyền chủ động xây dựng mức thu học phí đảm

bảo bù đắp chi phí và có tích lũy hợp lý.

Đề nghị Bộ GD&ĐT làm rõ khái niệm về “cơ sở

giáo dục chất lượng cao” Đồng thời, đề nghị cân nhắc

việc đưa nội dung này vào Luật do việc quy định giá

dịch vụ đào tạo đảm bảo tính đủ chi phí hợp lý đã được

quy định tại các văn bản Nghị định quy định về quyền

tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập

Tiếp thu

d Về khái niệm giá dịch vụ giáo dục, đào tạo

(học phí)

Theo quy định tại Luật giá, Luật phí và lệ phí thì

không còn khái niệm “học phí” mà chuyển sang “giá

dịch vụ giáo dục, đào tạo”, vì vậy đề nghị Bộ GD&ĐT

nghiên cứu, sử dụng khái niệm “giá dịch vụ giáo dục,

đào tạo” để đảm bảo thống nhất với các văn bản Luật

hiện hành Theo đó sửa đổi, bổ sung điểm 2.4 sửa đổi,

bổ sung Điều 105 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật

giáo dục 2005 như sau:

“Giá dịch vụ giáo dục, đào tạo là khoản tiền của

gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp

phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục

Giá dịch vụ giáo dục, đào tạo được xác định trên

cơ sở nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá quy

định tại Luật giá và văn bản hướng dẫn liên quan.

Chính phủ quy định cơ chế quản lý, sử dụng nguồn

thu từ giá dịch vụ giáo dục đối với cơ sở giáo dục công

lập được nhà nước hỗ trợ chi thường xuyên thuộc trung

Tiếp thu

Trang 13

ương quản lý Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định

mức giá dịch vụ giáo dục đối với cơ sở giáo dục công

lập thuộc cấp tỉnh trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân

dân cùng cấp ”.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 22 Luật giá thì

Chính phủ chỉ quy định 03 loại giá: “a) Khung giá

đất;b) Khung giá cho thuê mặt nước;c) Khung giá cho

thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ” Vì vậy, đề

nghị nghiên cứu không quy định việc Chính phủ ban

hành khung giá dịch vụ giáo dục đào tạo như hiện nay

Thay vào đó có thể phân cấp cho Bộ GD&ĐT chủ trì,

phối hợp với Bộ Tài chính quy định giá dịch vụ giáo

dục, đào tạo (tương tự như đối với quy định về thẩm

quyền ban hành giá dịch vụ y tế được quy định tại Điều

88 Luật Khám bệnh chữa bệnh)

d Về giá sách giáo khoa

Sách giáo khoa thuộc danh mục sản phẩm thực

hiện kê khai giá với Bộ Tài chính Căn cứ Luật Giá và

các văn bản hướng dẫn, Bộ Tài chính đã ban hành

Quyết định số 617/QĐ-BTC ngày 03/4/2017 kiểm tra

việc chấp hành pháp luật về giá trong lĩnh vực Công

nghiệp tiêu dùng; trong đó có kiểm tra việc chấp hành

pháp luật về giá sách giáo khoa tại Nhà xuất bản Giáo dục

Việt Nam Qua kiểm tra, Bộ Tài chính nhận thấy cần có

danh mục sách giáo khoa rõ ràng để làm cơ sở cho đơn

vị thực hiện kê khai giá với Bộ Tài chính và công khai

thông tin về danh mục, giá sách giáo khoa để người tiêu

dùng biết, lựa chọn khi mua sách giáo khoa và sách bổ

trợ, tham khảo

Vì vậy, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo:

- Bổ sung vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật

Nghị quyết số 88/2014/QH13 quy định:

“Thực hiện xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa; có một số sách giáo khoa cho mỗi môn học Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tiêu chí đánh giá sách giáo khoa và phê duyệt sách giáo khoa được phép sử dụng trên cơ sở kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; hướng dẫn việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông Chính phủ ban hành cơ chế tài chính bảo đảm công bằng trong việc biên soạn và sử dụng sách giáo khoa.”

Trang 14

giáo dục 2005 nội dung về khái niệm sách giáo khoa

theo hướng: cụ thể sách giáo khoa bao gồm sách học

sinh và sách giáo viên hay chỉ bao gồm sách học sinh và

phân biệt rõ với sách bổ trợ, sách tham khảo

- Sửa đổi, bổ sung vào Điều 29 Luật giáo dục 2005

như sau: “3 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban

hành chương trình giáo dục phổ thông, ban hành danh

mục sách giáo khoa công khai, ổn định từng thời kỳ,

duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định,

thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo

dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc

gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách

giáo khoa”

a Khoản 14 Điều 1 và điểm b khoản 19 Điều 1:

Đề nghị rà soát lại, đánh giá hoạt động của mô hình các

trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập

cộng đồng, trung tâm ngoại ngữ, tin học quy định tại

điểm a,b,c khoản 14 (sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 46)

và điểm b.1 khoản 19 (sửa đổi, bổ sung Điều 69) để sắp

xếp, tổ chức lại các trung tâm bảo đảm tinh gọn, hoạt

động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với chủ trương của

Đảng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017

của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới

hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng hiệu

quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập

Tiếp thu

b Về tiền lương (khoản 23 Điều 1 dự thảo Luật)

- Điểm c khoản 12 Mục III Kết luận số 21-KL/TW ngày

17/8/2003 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung

ương kháo IX về cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội

và trợ cấp ưu đãi người có công đã ghi: “Đối với cán bộ,

Nghị quyết Hội nghị lần thứ haiBan Chấp hành Trung ương Đảng (khoáVIII) về định hướng chiến lược pháttriển giáo dục - đào tạo trong thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm

Trang 15

viên chức ở các ngành sự nghiệp:áp dụng chung một

bảng lương để làm căn cứ cho việc cấp hoặc hỗ trợ kinh

phí từ ngân sách nhà nước, để đóng – hưởng bảo hiểm

xã hội, đóng bảo hiểm y tế, trả lương ngày nghỉ chế độ

Tiền lương thực trả phụ thuộc vào nguồn thu và kết quả

hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp Các ngành giáo

dục, y tế… được thực hiện chế độ ưu đãi phù hợp”

Căn cứ quy định nêu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị

định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ

tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực

lượng vũ trang và đã ban hành một số văn bản về chế độ

phụ cấp đối với nhà giáo Đến nay, nhà giáo được xếp

lương theo chức danh nghề nghiệp quy định tại bảng 3

(bảng lương chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, viên

chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban

hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP được

hưởng các chế độ phụ cấp lương đối với viên chức trên

cùng địa bàn làm việc và được hưởng phụ cấp ưu đãi

theo nghềmức cao nhất đến 70% và phụ cấp thâm niên

nghề Đây là sự ưu đãi đặc biệt của Nhà nước đối với

nhà giáo

- Tại khoản 2 Mục II Kết luận số 23-KL/TW ngày

29/5/2012 của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung

ương khóa XI về một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm

xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải

cách đến năm 2020 quy định: Áp dụng bảng lương

chung, thực hiện chính sách đặc thù ngành nghề bằng

chế độ phụ cấp, nghiên cứu mở rộng khoảng cách giữa

các bậc lương cho phù hợp; rà soát, xác định rõ các đặc

thù, trên cơ sở đó xây dựng, hoàn thiện các chế độ trợ

cấp, phụ cấp để đảm bảo công bằng, hợp lý, nhất là các

vụ đến năm 2000 khẳng định giáo viên

là nhân tố quyết định chất lượng củagiáo dục và được xã hội tôn vinh:

“Lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm chế độ độ phụ cấp tuỳ theo tính chất công việc, theo vùng do Chính phủ quy định”.

Tại khoản 6 mục 3 phần B Nghị quyết số

29-NQ/TW: “Lương của nhà giáo được

ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp

và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng.”

Trang 16

chế độ phụ cấp theo nghề, công vụ”/

Trong thời gian qua, nhiều bộ, ngành khi xây dựng

luật chuyên ngành đã đưa quy định về tiền lương (cả

phụ cấp) làm phá vỡ thiết kế ban đầu của chế độ tiền

lương trong hệ thống chính trị, làm phát sinh bất hợp lý

giữa các ngành, nghề

Hiện nay, Ban chỉ đạo Trung ương về nghiên cứu cải

cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi

người có công do Phó Thủ tướng Chính phủ Vương

Đình Huệ làm Trưởng ban đang xây dựng Đề án cải

cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức,

viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong

các doanh nghiệp để báo cáo Ban Cán sự Đảng Chính

phủ trình Hội nghị Trung ương 7 khóa XII Vì vậy, Bộ

Nội vụ đề nghị không quy định tiền lương của nhà giáo

tại khoản 23 Điều 1 Dự án Luật Vấn đề này cần phải

được nghiên cứu, xây dựng ban hành đồng bộ khi cải

cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức,

viên chức và lực lượng vũ trang trong hệ thống chính trị

trong thời gian tới, bảo đảm tương quan chung, phù hợp

với khả năng ngân sách nhà nước

c Về học phí (khoản 28 Điều 1)

- Điểm a khoản 3 Mục III Kết luận số 20-KL/TW

ngày 28/11/2008 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành

Trung ương kháo X về cải cách chính sách tiền lương,

bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn

2008-2012 quy định: Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ

chế tài chính trong đó có tiền lương đối với khu vực sự

nghiệp công lập theo hướng đơn vị sự nghiệp được thu

phí dịch vụ tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ các

chi phí khác; đon vị sự nghiệp thực hiện hạch toán thu –

Khoản 2 Điều 61 Hiến pháp năm 2013

quy định: “từng bước phổ cập giáo dục trung học”;Nghị quyết số 29-NQ/TW quy định: “Đối với giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.”

Đồng thời, chế độ thu học phí hiệnnay đã bộc lộ một số hạn chế như sau:Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung

Trang 17

chi, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng, phát triển hoạt

động để vừa phục vụ tốt hơn nhu cầu xã hội, vừa tự cân

đối nguồn thu để trả lương bằng hoặc cao hơn so với

chế độ nhà nước quy định”

- Điểm 2.5 khoản 2 Mục II Kế luận số 23-KL/TW

nêu trên đã quy định: “Đối với khu vực sự nghiệp công,

cần đối mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền

lương gắn với kết quả hoạt động của đơn vị theo Kết

luận Hội nghị Trung ương khóa X; thực hiện cơ chế đặt

hàng, giao nhiệm vụ, giao quyền tự chủ, tự chịu trách

nhiệm cho đơn vị và người đứng đầu”

- Điểm b Mục 3 Kết luận số 63-KL/TW ngày

27/5/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung

ương kháo XI một số vấn đề về cải cách chính sách tiền

lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và

định hướng đến năm 2020 quy định: “Xác định khung

giá, phí các dịch vụ sự nghiệp công lập, từng bước tính

đủ tiền lương, chi phí thường xuyên theo lộ trình phù

hợp với thu nhập của người dân Xây dựng giá dịch vụ

công lập theo 3 mức: Mức giá tính đủ tiền lương; mức

giá tính đủ tiền lương và chi phí quản lý; mức giá tính

đủ lương, chi phí quản lý và khấu hao tài sản cố định

Trên cơ sở đó, phân loại các đơn vị sự nghiệp để thực

hiện theo 3 mức giá cho phù hợp, cá đối tượng thụ

hưởng phải chi, trả theo giá, phí dịch vụ Nhà nước thực

hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người có công,

người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và một số đối

tượng còn khó khăn để được tiếp cận và thụ hưởng các

dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, tạo sự đồng

thuận trong xã hội” Mặt khác tại điểm c Mục 3 Kết

luận số 63-KL/TW quy định: “Chỉ ban hành các chính

một số Điều của Luật Giáo dục (khoản

2, Điều 1) quy định: Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước Tuy nhiên, đến nay nhà

nước mới chỉ thực hiện miễn học phí đốivới giáo dục tiểu học, còn giáo dục mầmnon cho trẻ em 5 tuổi và giáo dục trunghọc cơ sở vẫn chưa được miễn học phí.Điều này gây khó khăn cho việc huyđộng trẻ đến trường, nhất là vùng núi,vùng dân tộc thiểu số Bên cạnh đó,phần lớn học sinh mầm non, trung học

cơ sở, trung học phổ thông sống ở vùngnông thôn, miền núi, thu nhập gia đìnhtương đối thấp, vì vậy mặc dù mức thuhọc phí không quá cao, nhưng cũng làmột gánh nặng đối với gia đình có thunhập thấp, tiệm cận chuẩn nghèo

Đối với giáo dục mầm non cho trẻ

em 5 tuổi có thể chia sẻ chi phí cho cha

mẹ học sinh vì ở lứa tuổi này chăm sóc

là chủ yếu Bên cạnh đó là vì sự khókhăn của ngân sách nhà nước trong thờiđiểm có nhiều chính sách cần được hỗtrợ từ ngân sách nhà nước nên giáo dụcmầm non có thể xã hội hóa và huy độngcác nguồn lực khác trong cộng đồng dân

Trang 18

sách, chế độ mới khi đã bố trí, cân đối được nguồn thực

hiện”

Như vậy, việc quy định: “Học sinh tiểu học, trung

học cơ sở trường công lập không phải nộp học phí” là

chưa phù hợp với quy định tại các Nghị quyết của Đảng

nêu trên và làm tăng chi ngân sách nhà nước trong khi

ngân sách nhà nước khó khăn Vì vậy, đề nghị Bộ Giáo

dục và Đào tạo xây dựng Đề án về việc miễn học phí

đối với cấp Trung học học cơ sở cho phù hợp với quy

định nêu trên của Đảng và Nghị quyết số 19-NQ/TW

ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành

Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ

chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt

động của các đơn vị sự nghiệp công lập

cư phát triển bậc học này Nhưng đối vớigiáo dục THCS cần có chính sách miễngiảm học phí cho đối tượng này, đảmbảo giáo dục cơ bản cho toàn bộ họcsinh có hoàn cảnh khác nhau trong cảnước được tiếp cận với giáo dục phổthông Đồng thời tạo nguồn tuyển sinh

và tăng tỷ lệ học sinh qua đào tạo nghềnghiệp

Miễn học phí đối với học sinh họcTHCS sẽ huy động được học sinh THCSđến trường, định hình việc phân luồnghọc sinh trung học cơ sở và định hướngnghề nghiệp cho học sinh trung học phổthông rõ ràng hơn, khắc phục tình trạngmất cân đối trong cơ cấu trình độ vàngành nghề đào tạo, đáp ứng được nhucầu nhân lực của xã hội và hội nhậpquốc tế

Miễn học phí đối với học sinhTHCS sẽ góp phần tiết kiệm chi phí chomỗi cá nhân, gia đình mà còn tiết kiệmnguồn lực cho cả xã hội

11 BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

a Về cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục:

- Căn cứ phân công của Chính phủ, đề nghị Bộ

Giáo dục và Đào tạo rà soát, chỉnh sửa trong dự thảo

Luật quy định về cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục

như sau: Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ quản

lý nhà nước đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ

thông, giáo dục đại học và các trường sư phạm; Bộ Lao

Dự thảo Luật chỉ tập trung sửa đổi, bổsung các quy định đang còn khó khăn,

vướng mắc Việc sử dụng cụm từ “Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương” và“Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương” như Luật giáo dục

Trang 19

động – Thương binh và Xã hội giúp Chính phủ quản lý

nhà nước về giáo dục nghề nghiệp (trừ các trường sư

phạm)

- Đề nghị rà soát, thay thế trong toàn bộ dự thảo

cụm từ “Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy

nghề” bằng cụm từ “Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương

binh và Xã hội”.

- Tại khoản 26 Điều 1 dự thảo:

+ Đề nghị bổ sung nội dung sửa đổi, bổ sung khoản

2 Điều 100 như sau: Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp

Chính phủ quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non,

giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và các trường sư

phạm; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội giúp

Chính phủ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp

(trừ các trường sư phạm)

+ Đề nghị bổ sung nội dung sửa đổi, bổ sung

khoản 3 Điều 100 như sau: Bộ, cơ quan ngang bộ phối

hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương

binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục

theo thẩm quyền

hiện hành hiện vẫn ổn định theo sự phâncông của Chính phủ giao Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội quản lý nhànước về giáo dục nghề nghiệp Đồngthời, giữ nguyên hai cụm từ nêu trên đểthống nhất với quy định của Luật giáodục nghề nghiệp năm 2014

Tại khoản 4 Điều 100: đề nghị bỏ cụm từ “quy

hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục” nhằm bảo đảm tính

thống nhất, đồng bộ với quy định của Luật quy hoạch

Tiếp thu

b Về Chương trình giáo dục (khoản 4 Điều 1 dự thảo)

- Khoản 1 Điều 6 đề nghị sửa lại thành “chương trình

giáo dục phải thể hiện được mục tiêu giáo dục; quy

định yêu cầu về phẩm chất, năng lực mà người học đạt

được sau khi hoàn thành hoặc tốt nghiệp; phạm vi,

cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức

đào tạo, cách thức đánh giá kết quả học tập đối với

từng môn học hoặc mô đun”.

Tiếp thu

Trang 20

- Khoản 2 Điều 6 sửa đổi đề nghị bổ sung cụm từ “khoa

học” vào trước cụm từ “hiện đại”.

Tiếp thu

c Về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục (khoản 6 Điều

1 dự thảo)

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo căn cứ quy định của

Luật quy hoạch để quy định các nội dung tại khoản này

bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp

luật

Tiếp thu

d Về giáo dục phổ thông (khoản 8 Điều 1 dự thảo)

Theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp, học sinh

tốt nghiệp trung học cơ sở được xét tuyển hoặc thi tuyển

để học trình độ trung cấp Đồng thời, Bộ Chính trị đã có

Chỉ thị 10-CT/TW ngày 05/12/2011 đề ra mục tiêu đến

năm 2020 có ít nhất 30% học sinh sau khi tốt nghiệp

trung học cơ sở đi học nghề và theo quy định tại Nghị

quyết số 24/2016/NQ-QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc

hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn

2016-2020 và Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/2/2017 của

Chính phủ thì mục tiêu đến năm 2020, tỷ trọng lao động

qua đào tạo từ 03 tháng trở lên có bằng cấp đạt khoảng

25%

Do vậy, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề

nghị sửa khoản 1 Điều 26 như sau: “Giáo dục phổ

thông được chia thành giai đoạn giáo dục cơ bản và

giáo dục định hướng nghề nghiệp Giai đoạn giáo dục

cơ bản là cấp tiểu học, giai đoạn giáo dục định hướng

nghề nghiệp gồm cấp trung học cơ sở và cấp trung học

Đồng thời, quy định như dự thảonhằm nâng các quy định của Quyết định

số 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 củaThủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung

cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, theo

đó tại khoản 2 và 3 Điều 2 quy định:

“2 Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở (giai đoạn giáo dục cơ bản) và giáo dục trung học phổ thông (giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp)”.

e Về giáo dục thường xuyên (khoản 3 Điều 1 dự thảo)

Ngày đăng: 20/04/2021, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w