1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁOĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUCÓ HIỆU QUẢ

93 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Đánh Giá Và Đề Xuất Mô Hình Thích Ứng Biến Đổi Khí Hậu Có Hiệu Quả
Tác giả Nguyễn Phú Son, Lưu Hữu Mãnh, Lê Văn Bé, Lâm Mỹ Lan, Lê Văn Dễ, Lê Bửu Minh Quân
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2016
Thành phố Trà Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích và đánh giá mức độ thành công của mô hình dựa trên 9 tiêu chí & sử dụng thang đo Likert để đánh giá: i Tài chính tỷ số lợi nhuận, chi phí, thu nhập tăng thêm, cải thiện năng su

Trang 1

BÁO CÁO

ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT

MÔ HÌNH THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

CÓ HIỆU QUẢ

NHÓM TƯ VẤN: TRUNG TÂM CGCN & DV, TRƯỜNG ĐHCT

- Nguyễn Phú Son (Trưởng nhóm)

Trang 2

MỤC LỤC

NỘI DUNG BÁO CÁO 1

1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh thực hiện 1

Mục tiêu nhằm phân tích, đánh giá các mô hình được đầu tư (i) đề xuất mô hình thành công nhân rộng; (ii) tài liệu hóa các mô hình thành công theo hướng nông dân dạy nông dân trên cơ sở tài liệu tập huấn kỹ thuật mô hình thích ứng đã tập huấn (tài liệu của Trung tâm KN-KN tỉnh biên soạn theo yêu cầu OXFAM) và kết quả tham vấn, đánh giá mô hình, biên soạn tài liệu theo hướng kỹ thuật xuất phát từ nông dân để hướng dẫn lại cho nông dân và (iii) tờ rơi giới thiệu các mô hình thành công và kỹ thuật thực hiện mô hình 2

2.6 Tài liệu hóa các mô hình thành công 5

3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC MÔ HÌNH ĐƯỢC DỰ ÁN AMD HỖ TRỢ 6

A CÁC MÔ HÌNH THỦY SẢN 6

3.1 Mô hình nuôi hàu trong bè nổi 6

B CÁC MÔ HÌNH CHĂN NUÔI 9

3.2 Mô hình nuôi dê 9

3.3 Mô hình nuôi gà thả vườn 12

3.4 Mô hình nuôi bò sinh sản 16

3.5 Mô hình nuôi heo 19

C CÁC MÔ HÌNH TRỒNG TRỌT 22

3.6 Mô hình trồng bắp giống 22

3.7 Mô hình trồng bắp lai 25

3.8 Mô hình trồng bầu 28

3.9 Mô hình trồng bí đao 31

3.10 Mô hình trồng cải xà lách 34

3.11 Mô hình trồng đậu bắp 37

3.12 Mô hình trồng đậu phộng 40

3.13 Mô hình trồng dưa leo 44

3.14 Mô hình trồng hành lá 47

3.15 Mô hình trồng hẹ 50

3.16 Mô hình trồng khổ qua 54

3.17 Mô hình trồng khoai môn 57

3.18 Mô hình trồng ớt 60

4 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH HIỆU QUẢ 63

4.1 Mô hình nuôi hàu giàn bè trên sông 64

4.2 Mô hình nuôi dê 64

4.3 Mô hình nuôi gà thả vườn 64

4.4 Mô hình nuôi bò sinh sản 65

4.5 Mô hình nuôi heo 65

4.6 Mô hình trồng bắp giống 66

4.7 Mô hình trồng bắp lai 66

4.8 Mô hình trồng bầu 66

4.9 Mô hình trồng bí đao 66

4.10 Mô hình trồng xà lách 67

Trang 3

4.11 Mô hình trồng đậu bắp 67

4.12 Mô hình trồng đậu phộng 67

4.13 Mô hình trồng dưa leo 68

4.14 Mô hình trồng hành lá 68

4.15 Mô hình trồng hẹ 68

4.16 Mô hình trồng khổ qua 69

4.17 Mô hình trồng khoai môn 69

4.18 Mô hình trồng ớt 69

5 KẾT LUẬN 70

Phụ lục 1 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi dê 71

Phụ lục 2 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi gà thả vườn 72

Phụ lục 3 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi bò 73

Phụ lục 4 Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi heo 74

Phụ lục 5 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng bắp giống 75

Phụ lục 6 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng bắp lai 76

Phụ lục 7 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng bầu 77

Phụ lục 8 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng bí đao 1

Phụ lục 9 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng cải xà lách 1

Phụ lục 10 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng đậu bắp 2

Phụ lục 11 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng đậu phộng 3

Phụ lục 12 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng dưa leo 1

Phụ lục 13 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng hành lá 2

Phụ lục 14 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng hẹ 3

Phụ lục 15 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng khổ qua 4

Phụ lục 16 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng khoai môn 5

Phụ lục 17 Hiệu quả tài chính của mô hình trồng ớt 1

Phụ lục 18 Xếp hạng thứ tự ưu tiên mô hình được đề xuất nhân rộng 2

Phụ lục 19 Các nông hộ tham gia trả lời phỏng vấn 3

Trang 5

NỘI DUNG BÁO CÁO

1 GIỚI THIỆU

1.1 Bối cảnh thực hiện

Dự án Thích ứng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh TràVinh (Dự án AMD Trà Vinh) do Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) tài trợ.Mục tiêu tổng thể của dự án là xây dựng sinh kế bền vững cho người nghèo nôngthôn trong điều kiện biến đổi khí hậu Mục tiêu cụ thể là nâng cao năng lực thíchứng của cộng đồng để tăng cường khả năng ứng phó biến đổi khí hậu Đối tượngcủa dự án là hộ nghèo và cận nghèo, hộ do phụ nữ làm chủ và hộ người dân tộcKhmer sẽ được ưu tiên

Dự án triển khai tại 30 xã của 7 huyện; ước tính dự án sẽ tạo lợi ích đáng kểcho tối thiểu 62.500 người dân nghèo của 15.000 hộ gia đình nông thôn; thời gianthực hiện dự án là 6 năm, từ năm 2014- 2020

Dự án gồm có 3 hợp phần:

Hợp phần 1 Nâng cao kiến thức về biến đổi khí hậu

Mục tiêu của Hợp phần này là hỗ trợ xây dựng khung quản lý thích ứng biếnđổi khí hậu trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn cho các cộng đồng, các tổ chứctrong tỉnh tham gia Kết quả này sẽ đạt được thông qua hai tiểu hợp phần:

Nâng cao kiến thức về biến đổi khí hậu gồm 3 hoạt động chính (a) Xây dựng

cơ sở bằng chứng cho sự thích ứng, (b) Quan trắc và báo cáo chất lượng nước, (c)Quản lý và tuyên truyền, phổ biến tri thức

Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có lồng ghép yếu tố biến đổi khí hậugồm 2 hoạt động chính (a) Lập kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng dựavào cộng đồng, (b) Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội lồng ghép yếu tố khí hậu

và xây dựng, phát triển chính sách

Trang 6

Hợp phần 2 Đầu tư cho sinh kế bền vững

Mục tiêu của hợp phần là nâng cao tính bền vững và hiệu quả của các khoảnđầu tư thích ứng với BĐKH Hợp phần này có 2 tiểu hợp phần:

Tài chính nông thôn để cải thiện sinh kế gồm các hoạt động: (a) Thành lập các

Tổ tiết kiệm và tín dụng mới (SCG), (b) Chuyển đổi các mạng lưới tín dụng thànhcác Tổ chức tài chính vi mô (MFI), (c) Hỗ trợ vốn cho đầu tư vào thích ứng biến đổikhí hậu và chuỗi giá trị

Đầu tư thích ứng BĐKH gồm các hoạt động (a) Xây dựng cơ sở hạ tầng chocộng đồng nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, (b) Đồng tài trợ cho hoạt độngthích ứng với biến đổi khí hậu (CCA), (c) Quỹ Hợp tác công - tư (PPP)

1.2 Mục tiêu

Mục tiêu nhằm phân tích, đánh giá các mô hình được đầu tư (i) đề xuất môhình thành công nhân rộng; (ii) tài liệu hóa các mô hình thành công theo hướng

Trang 7

nông dân dạy nông dân trên cơ sở tài liệu tập huấn kỹ thuật mô hình thích ứng đãtập huấn (tài liệu của Trung tâm KN-KN tỉnh biên soạn theo yêu cầu OXFAM) vàkết quả tham vấn, đánh giá mô hình, biên soạn tài liệu theo hướng kỹ thuật xuất

phát từ nông dân để hướng dẫn lại cho nông dân và (iii) tờ rơi giới thiệu các mô

hình thành công và kỹ thuật thực hiện mô hình

2 PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu được tiến hành theo 4 bước: (1) Đầu tiên nhóm tư vấn tiến hànhnghiên cứu tài liệu nhằm nắm được những thông tin chung về dự án; (2) Sau đó bộcông cụ khảo sát được xây dựng và làm cho thích ứng với điều kiện của vùngnghiên cứu dựa trên các công cụ đã được phát triển và áp dụng cho các cộng đồng ởĐBSCL; (3) Lập kế hoạch và thực hiện khảo sát thực địa; (4) Phân tích số liệu; (5)Báo cáo, đề xuất; (6) tài liệu hóa

Phân tích và đánh giá mức độ thành công của mô hình dựa trên 9 tiêu chí &

sử dụng thang đo Likert để đánh giá:

(i) Tài chính (tỷ số lợi nhuận, chi phí, thu nhập tăng thêm, cải thiện năng suất, chất lượng);

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu (Áp dụng thang đo likert đểđánh điểm);

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình (yếu tố về lao động, kỹ thuật, thị trường ); (iv) Sinh kế đa thu nhập;

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức;

(vi) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã;

(vii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường;

(viii) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động.

2.1 Nghiên cứu tài liệu

Các tài liệu của Dự án AMD Trà Vinh: Báo cáo thiết kế, văn kiện dự án, mẫuđánh giá lợi nhuận của nông hộ, sổ tay hướng dẫn Quỹ CCA, các báo cáo và các

Trang 8

loại văn bản có liên quan đến quá trình triển khai thực hiện Quỹ; danh sách cáchộ/tổ nhóm được tài trợ CCA đi kèm với KHSXKD được duyệt; các tài liệu có liênquan đến triển khai thực hiện Quỹ của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn(NN&PTNT), danh sách đối tượng được chọn tham vấn theo lĩnh vực và địa bàn vàtài liệu tập huấn kỹ thuật của Trung tâm KN-KN thuộc Sở NN&PTNT để nhóm tưvấn nghiên cứu và triển khai kế hoạch.

2.2 Xây dựng công cụ và lập kế hoạch

a Xây dựng công cụ

Dựa trên các mục tiêu dự án và thông tin thu thập được từ nghiên cứu tài liệu,khung đề cương và bộ công cụ khảo sát và phương pháp thực hiện đề nghị, nhóm tưvấn đã hoàn thiện bộ công cụ cuối cùng Công cụ 1 (thảo luận nhóm các cán bộ cóliên quan tỉnh, huyện, xã và các tác nhân) được kết hợp với công cụ 2 (thảo luậnnhóm nông dân chăn nuôi) Công cụ 3 (thảo luận nhóm nông dân trồng trọt) Công

cụ 4 (thảo luận nhóm nông dân thủy sản), công cụ 5 và 6 phỏng vấn sâu nông dân

am hiểu chăn nuôi, trồng trọt và thủy sản Công cụ 7 và 8 thu thập số liệu thứ cấp ởhuyện xã Công cụ xếp hạng ưu tiên mô hình có tham gia dựa trên tiêu chí

b Kế hoạch khảo sát thực địa

Nhóm nghiên cứu đã xây dựng một kế hoạch khảo sát thực địa chi tiết, trong

đó nêu cụ thể thời gian tiến hành khảo sát định lượng và định tính ở mỗi xã có môhình được đầu tư, xác định rõ vai trò và trách nhiệm của từng cá nhân tại thực địa

Tư vấn đã phối hợp chặt chẽ với các cán bộ dự án, cán bộ khuyến nông tỉnh, huyện

để xây dựng một kế hoạch hiệu quả nhất nhằm đạt được kết quả khảo sát Kế hoạchcũng được gửi đến các cán bộ đầu mối ở tỉnh để góp ý trước khi tiến hành khảo sát

2.3 Thực hiện khảo sát thực địa

Nhóm tư vấn sẽ tiến hành đánh giá toàn diện các mô hình đã đầu tư thí điểm từQuỹ CCA trong lĩnh vực trồng trọt chăn nuôi và thủy sản theo danh mục đầu tư năm

Trang 9

2015 của Dự án; qua đó đề xuất các mô hình thành công có thể nhân rộng thông quacác hoạt động cụ thể như sau:

Thảo luận với PCU xác định hộ/tổ nhóm theo danh mục 18 mô hình, mỗi mô

hình lựa chon ít nhất là 02 hộ cụ thể được đầu tư từ Quỹ CCA

Phỏng vấn trực tiếp các hộ/tổ nhóm thực hiện mô hình; phỏng vấn chuyên sâu

lãnh đạo và cán bộ của dự án và các cán bộ Sở NN&PTNT có liên quan, các tácnhân;

Khảo sát thực địa: mục đích để quan sát đánh giá điều kiện tự nhiên, thu thập

thông tin về các mô hình sinh kế

Mục đích: Nhằm đánh giá hiện trạng của sinh kế dựa vào sản xuất nông nghiệp

tại địa phương, kiểm tra các thông tin và số liệu sẵn có và thu thập thông tin địnhlượng các mô hinh sinh kế

2.4 Phân tích số liệu

Phương pháp phân tích được sử dụng trong đánh giá chủ yếu là phương phápthống kê mô tả, sơ đồ mạng nhện, sử dụng thang đo đánh giá likert và phương pháp

mô tả bằng lời, hình ảnh minh họa

2.5 Hội thảo đánh giá

Hội thảo kỹ thuật hoặc tham vấn với các cơ quan chuyên môn để lấy ý kiếnđóng góp hoàn thiện báo cáo đánh giá từng mô hình cụ thể

Hội thảo cấp tỉnh giới thiệu mô hình thành công nhân rộng trong toàn tỉnh

2.6 Tài liệu hóa các mô hình thành công

Xây dựng bộ tài liệu khuyến nông thích ứng với biến đổi khí hậu đối với các

mô hình thành công từ thực tế của người nông dân theo hướng “nông dân dạy nôngdân” cùng với việc thiết kế các tờ rơi giới thiệu các mô hình thành công và kỹ thuậtthực hiện mô hình dựa trên:

Trang 10

- Trên cơ sở tài liệu tập huấn kỹ thuật mô hình thích ứng đã tập huấn (tài liệucủa Trung tâm KN-KN tỉnh biên soạn theo yêu cầu OXFAM) và kết quả tham vấn,đánh giá mô hình

- Tư vấn cùng đối tượng (hộ) được chọn xem xét bổ sung, hoàn thiện tài liệutập huấn đối với mô hình thành công Biên soạn tài liệu theo hướng kỹ thuật xuấtphát từ nông dân để hướng dẫn lại cho nông dân (chú ý khả năng chịu nhiệt, chịuhạn, độ mặm, giải pháp kỹ thuật…)

3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC MÔ HÌNH ĐƯỢC DỰ ÁN AMD

HỖ TRỢ

A CÁC MÔ HÌNH THỦY SẢN

3.1 Mô hình nuôi hàu trong bè nổi

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 2 tổ hợp tác Đại Thành và Toàn Thắng hiện đang nuôi hàu ở sông Sếp Lầy thuộc ấp Tân Khánh, xã Long Khánh, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh Hiện tại 2 tổ hợp tác này chưa thu hoạch, do chỉ mới thả hàu giống vào tháng 05/2016 Trong khi đó thời gian thu hoạch đến 16-18 tháng kể từ lúc thả hàu giống Mỗi tổ hợp tác nuôi 1 bè có diện tích 90 m 2

Ý tưởng nuôi hàu xuất phát từ các hộ dân nuôi sò huyết Họ phát hiện ra là có hàu giống bám vào đáy ghe có lớp xi măng khi neo đậu trên sông để giữ sò Lúc đầu, họ cặm cây, giăng dây để làm giá thể cho hàu bám vào Tuy nhiên với cách nuôi này rất khó khăn trong khâu chăm sóc, lại phụ thuộc vào thủy triều, cũng như

do sự bồi lắp phù sa làm hạn chế môi trường sống của hàu

(i) Tài chính

Mặc dù cho đến thời điểm khảo sát, mô hình này chưa đến lúc thu hoạch, nênchưa thể đánh giá cụ thể về mặt hiệu quả tài chính Tuy nhiên, qua khảo sát thực tếcác bè nuôi của hai tổ hợp tác và một số bè nuôi khác xung quanh vùng nuôi có thểđưa ra một vài đánh giá ban đầu như sau: vốn đầu tư ban đầu tương đối cao và thời

Trang 11

gian thu hoạch kéo dài, do vậy mô hình này sẽ thích hợp với hình thức nuôi theo tổnhóm; nuôi hàu hầu như không cần vốn lưu động, chủ yếu sử dụng công lao động

để chăm sóc Điều này cho phép các hộ nuôi hàu có thể kết hợp với các hoạt độngkinh doanh khác để đa dạng hóa thu nhập; đầu vào của mô hình này chủ yếu tậndụng nguồn con giống tự nhiên và nhu cầu thị trường cao và có giá cả ít biến động,cho thấy mô hình này có khả năng về mặt tài chính cao; đồng thời mô hình này chắcchắn có thể cải thiện được thu nhập cho hộ bởi trước khi thực hiện mô hình này đaphần các hộ chỉ đi làm thuê, thu nhập bình quân hàng tháng chỉ vào khoảng1.000.000 đồng (dự kiến mô hình này có thể tăng thu nhập thêm khoảng 800.000đồng/tháng cho mỗi hộ tham gia) Tuy với những đánh giá trên cho thấy mô hình cóđược tính khả thi về mặt tài chính, nhưng do chưa có kết quả thu hoạch từ mô hình

nên đối với tiêu chí này chỉ mới đánh giá ở mức trung bình (3 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Hàu thích nghi độ muối từ 2 - 30‰ và nhiệt độ 20 - 30◦C (có thể chịu đựng đến

35◦C) nên khi nồng độ muối và nhiệt độ tăng hàu thích nghi được Ngoài ra, bè cómái lá giúp giảm nhiệt độ nước nuôi hàu Do vậy, trong điều kiện nhiễm mặn dobiến đổi khí hậu hiện nay, mô hình nuôi hàu thể hiện được tính thích ứng cao Chính

vì vậy, chỉ tiêu này được đánh giá ở mức rất thích ứng (5 điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Mặc dù mô hình nuôi hàu không đòi hỏi khắt khe lắm về mặt lao động và kỹthuật nuôi, cũng như có được điều kiện thị trường tốt Tuy nhiên, do chỉ nuôi hàuđược trong khoảng 1 km sông Sép Lầy và chi phí đầu tư đóng bè cao, thích hợp cho

tổ nhóm góp vốn nên khả năng nhân rộng mô hình ở mức độ vừa phải Ngoài ra, khithu hàu sẽ thu từng đợt và dễ dàng bán cho thương lái ở TP.HCM hay thương lại tạiđịa phương; nguồn giống tự nhiên cũng khá nhiều Do vậy, khả năng nhân rộng của

mô hình chỉ được đánh giá ở mức độ vừa phải (3 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Trang 12

Mặc dù nuôi hàu có đóng góp vào thu nhập của hộ gia đình, nhưng do chu kỳkinh doanh của việc nuôi hàu tương đối dài (16-18 tháng), nên chưa được đánh giáthực sự cao về khả năng đa thu nhập để cải thiện sinh kế cho hộ Chính vì vậy, chỉ

tiêu này chỉ được đánh giá ở mức độ vừa phải (3 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Minh Đức và ctv (2016), nuôi hàu không

gây ô nhiễm môi trường nước và phục hồi được môi trường sinh thái rừng ngậpmặn Qua khảo sát các hộ nuôi trong vùng nghiên cứu được biết họ đều ý thức đượcbảo vệ môi trường nước như: họ hạn chế việc thải chất hóa học, thuốc bảo vệ thựcvật từ đồng ruộng ra; sên vết đáy ao thải ra môi trường; biết cách quản lý địch hạibằng cách diệt con vòm xanh bám vào giá đỡ ảnh hưởng đến diện tích giá thể đểhàu giống bám vào Tuy mô hình này đã thể hiện được những ưu điểm của nó,nhưng chưa thể hiện rõ rệt lắm về khả năng cải thiện môi trường và quản lý rủi ro,

nên tiêu chí này được đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Do mô hình phù hợp với hình thức nuôi theo tổ nhóm, nên đã tạo được sự đoànkết, hợp tác giữa các hộ nuôi trong vùng, thể hiện qua sự hợp tác phân công laođộng trong việc chăm sóc, giữ gìn an ninh, trật tự trong vùng nuôi Cũng vậy, dođầu tư ban đầu đòi hỏi vốn cao nên việc hùn vốn với nhau để nuôi hàu cũng đã thểhiện tính cộng đồng tương đối cao Do vậy đã tạo điều kiện cho các hộ nghèo có cơhội tạo thêm thu nhập Chính vì vậy, mô hình nuôi hàu được đánh giá cao về tính lợi

ích cho cộng đồng (4 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Mặc dù nghề nuôi hàu tại địa phương mới chỉ phát triển khoảng 2 năm trở lạiđây, nhưng nó cũng đã thể hiện được sự đóng góp của nghề này vào chiến lượcgiảm nghèo của xã, thông qua việc tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động,

Trang 13

đặc biệt đối với các hộ không có hoặc có ít đất sản xuất nông nghiệp Do vậy, đối

với tiêu chí này mô hình được đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).

(viii) Không phương hại và hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường

Mô hình nuôi hàu không những không làm phương hại đến môi trường, mà còngóp phần cải thiện chất lượng nguồn nước, do hàu ăn lọc tảo, mùn bả hữu cơ trong

nước Do vậy, mô hình được đánh giá ở mức độ rất tốt (5 điểm).

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Mô hình này chưa thể hiện rõ rệt về việc có thể cải thiện được sức khỏe và laođộng nhưng cũng không gây ra tổn hại cho sức khỏe và lao động vì thế tiêu chí này

được đánh giá ở mức trung bình (3 điểm).

B CÁC MÔ HÌNH CHĂN NUÔI

3.2 Mô hình nuôi dê

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 02 hộ:

Lê Văn Bưởi và Nguyễn Thanh Lạc hiện đang nuôi dê ở ấp Tân Khanh, xã Long Khánh, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh mỗi hộ đã nhận nuôi 3 con dê Hiện tại 2 hộ nuôi này đã thu hoạch được 01 lần và

hộ Lê Văn Bưởi đã có 4 con dê con, hộ Nguyễn Thành Lạc 7 con dê con Thời gian

để có dê con bán thịt thì khoảng 9 - 10 tháng kể từ khi bắt dê cái giống.

Ý tưởng nuôi dê: bởi nhận thấy dê là loài động vật dễ nuôi, có khả năng thích nghi tốt, vốn đầu tư ít, nhu cầu thức ăn không lớn đặc biệt có tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên rất đa dạng nên không phải tốn chi phí thức ăn, tận dụng được lao động nhàn rỗi

(i) Tài chính

Mặc dù cho đến thời điểm khảo sát, các mô hình này chưa đến lúc thu hoạchlần thứ 2 nên chưa thể đánh giá hết toàn diện và chi tiết về mặt hiệu quả tài chính

Trang 14

toàn kế hoạch Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế 02 hộ thực hiện có thể đưa ra một vàiđánh giá chung về mô hình như sau: vốn đầu tư ban đầu không quá lớn, phù hợp vớikhả năng tài chánh của nông hộ

Đầu vào của mô hình ngoài chi phí con giống thì vật liệu xây dựng chuồng trại

có thể được tận dụng từ nguồn cây lá tự nhiên Thức ăn cho dê là lá cây và cỏ có thểtận dụng ngoài tự nhiên và trồng thêm cỏ Lao động có thể sử dụng thời gian nôngnhàn, do đó không cần nhiều vốn lưu động Mô hình này thích hợp trong việc kếthợp với nhiều hoạt động kinh doanh khác nhằm đa dạng hóa thu nhập; đồng thời môhình này chắc chắn có thể cải thiện được thu nhập cho hộ bởi trước khi thực hiện

mô hình này thì sinh kế chính của các hộ là làm thuê, thu nhập bình quân hàngtháng chỉ vào khoảng 1.500.000 đồng không đủ để trang trải chi phí gia đình

Nhu cầu thị trường đối với dê thịt và dê sinh sản hiện khá lớn, giá cả ít biếnđộng, đặc biệt mức rủi ro thấp, thể hiện qua tỷ suất lợi nhuận của các hộ nuôi ít biếnđộng Từ các đặc điểm trên có thể cho thấy mô hình này có khả năng đạt hiệu quả

tương đối khá về mặt hiệu quả tài chính ( 4 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Kết quả đánh giá cho thấy mô hình nuôi dê phù hợp với điều kiện biến đổi khíhậu bởi dê là loài động vật có nhu cầu nước uống không nhiều (phù hợp với tìnhtrạng khan hiếm nước ngọt vào mùa khô thường xãy ra trên địa bàn) Nhu cầu vềlượng thức ăn cho dê không lớn, có thể tận dụng lá cây và cỏ tự nhiên còn rất phongphú trong vùng, nên không cần nhiều diện tích đất để trồng cỏ thêm cho dê ăn Tómlại, có thể đánh giá mô hình nuôi dê có thích ứng khá tốt với điều kiện bị tác động

của biến đổi khí hậu (3 điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Mô hình nuôi dê không đòi hỏi nhiều về lao động, lượng thức ăn cũng khônglớn mà tận dụng được nguồn thực vật đa dạng từ tự nhiên, kỹ thuật nuôi tương đốiđơn giản, thị trường hiện tại khá ổn định (do nhu cầu tiêu dùng thịt dê ngày càng

Trang 15

cao nên có thể dễ dàng bán cho các thương lái tại địa phương hay các thương lái từTP.HCM) Tuy nhiên, khi phát triển và nhân rộng qui mô lớn hơn sẽ tiềm ẩn một sốnguy cơ như thị trường đầu ra có thể khủng hoảng vào một số tháng trong năm, dotrùng vào thời điểm xuất chuồng của một số địa phương khác có nuôi nhiều dê như

ở các tỉnh miền đông nam bộ Vấn đề chất lượng con giống và quản lý dịch bệnhcũng chưa được quan tâm đúng mức cho nên có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro khi qui mô

và số hộ nuôi tăng nhanh trong thời gian tới Do những yếu tố trên mô hình được

đánh giá về mức độ nhân rộng ở mức vừa phải (4 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Mô hình nuôi dê có thể xem đang đóng góp đáng kể cho thu nhập của hộ bởi

mô hình này kết hợp được với nhiều hoạt động kinh tế khác trong hoạt động kinh tế

hộ Đặc biệt mô hình phù hợp với các hộ có lao động nhàn rỗi hoặc lao động lớntuổi Chính vì vậy, mô hình này được đánh giá có nhiều khả năng giúp đa dạng hóa

thu nhập cho hộ (4 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Khảo sát thực tế mô hình nuôi dê hiện ít gây ô nhiễm môi trường do phân đượcthu gom, tận dụng tối đa làm phân bón cho cây trồng Các hộ nuôi dê trong vùngđều có ý thức bảo vệ môi trường Nhìn chung mô hình này có ưu điểm là ít gây ônhiễm môi trường nhưng chưa thể hiện rõ rệt lắm về khả năng cải thiện môi trường

và quản lý rủi ro nên tiêu chí này được đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Mô hình hiện tại chỉ phát triển với hình thức hộ cá thể, chưa phát triển theo tổnhóm, do đây là hoạt động kinh tế kết hợp của nông hộ trên cơ sở tận dụng phần lớnnguồn thức ăn tự nhiên sẵn có và lao động nhàn rỗi trong hộ Tuy nhiên, trong quátrình nuôi, các hộ nuôi có thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với nhau về kỹ thuậtnuôi, cách phòng trị bệnh Chính vì vậy, mô hình nuôi dê được đánh giá có mang lại

lợi ích cho cộng đồng ở mức vừa phải (3 điểm).

Trang 16

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Trước đây, nuôi dê được phát triển tương đối lâu trên địa bàn, nhưng chủ yếunuôi theo hình thức chăn thả, giống dê cỏ nên hiệu quả kinh tế còn thấp Khi được

dự án và cán bộ kỹ thuật của địa phương hỗ trợ về mặt tài chính và kỹ thuật nuôitheo mô hình nuôi dê có chuồng trại, chọn giống tốt, nuôi theo quy trình kỹ thuật đãmang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao và ổn định hơn nhiều so với nuôi chăn thả

tự phát trước đây Mô hình đã đóng góp tốt vào chiến lược phát triển kinh tế, giảmnghèo của xã, thông qua việc tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, đặcbiệt đối với các hộ không có hoặc có ít đất sản xuất nông nghiệp Do vậy, đối với

tiêu chí này mô hình được đánh giá ở mức tốt (5 điểm).

(viii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường

Mô hình nuôi dê hầu như không làm phương hại đến môi trường Trong môhình này dự án cũng có đầu tư sử dụng men vi sinh xử lý phân góp phần cải thiện ô

nhiễm môi trường Do vậy, mô hình được đánh giá ở mức độ khá cao (4 điểm).

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Mô hình chưa thể hiện rõ nét tác động trực tiếp đến điều kiện sức khỏe và laođộng của nông hộ Nhưng do mang lại nguồn thu nhập khá cho nông hộ nên môhình này có thể góp phần cải thiện điều kiện sức khỏe và lao động của nông dân nhưnông hộ có điều kiện tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cũng như cóđiều kiện cải thiện chất lượng bữa ăn, nên sức khỏe sẽ được cải thiện tốt hơn Do

vậy, mô hình này được đánh giá ở mức vừa phải đối với tiêu chí này (3 điểm).

3.3 Mô hình nuôi gà thả vườn

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 02 hộ: ông Lý Văn Bunl và ông Lâm Tuấn Bằng hiện đang nuôi gà thả vườn ở ấp 1, xã Phong Thạnh, huyện Cầu Kè, Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh Hiện tại 2 hộ nuôi này đã thu hoạch Mỗi hộ nuôi với quy mô 200 con, loại giống

Trang 17

gà nồi lai, với thời gian nuôi 3,5 tháng Kết quả mang lại lợi nhuận xấp xỉ 5,5 triệu đồng/vụ nuôi Tuy nhiên có hộ bị lỗ nguyên nhân do tỉ lệ hao hụt cao do dịch bệnh (35-40%), cho nên mô hình nuôi gà tuy có lợi nhuận khá nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro từ vấn đề dịch bệnh.

Ý tưởng nuôi gà thả vườn sử dụng đệm lót sinh học: bởi nhận thấy dưới tác động của biến đổi khí hậu nắng nóng khô hạn thiếu nước sản xuất lúa, trồng màu năng suất thấp Hoạt động nuôi gà theo thả lan truyền thống tỉ lệ hao hụt lớn, rủi ro dịch bệnh cũng cao, do thiếu thức ăn nên gà chậm lớn cho nên hiệu quả kinh tế rất thấp Trong khi đó mô hình nuôi gà thả vườn sử dụng đệm lót sinh học có qui mô nuôi lớn, thời gian nuôi ngắn, ít rủi ro dịch bệnh hơn, vốn đầu tư ít, tận dụng được lao động nhàn rỗi Tuy nhiên do khả năng quản lý dịch bệnh trong chăn nuôi còn hạn chế nuôi mô hình nuôi còn gặp phải rủi ro ở điểm tỉ lệ hao hụt do dịch bệnh còn cao.

(i) Tài chính

Khảo sát thực tế 02 hộ đã thu hoạch, có thể đưa ra một vài đánh giá về mô hìnhnhư sau: vốn đầu tư ban đầu không nhiều lắm tương đối phù hợp với khả năng tàichánh của nhiều nông hộ (vào khoảng 17,46 triệu đồng cho đàn 200 con) Đầu vàocủa mô hình ngoài chi phí con giống thì chí phí chuồng trại không cao lắm; nguồnlao động không nhiều Tuy nhiên mô hình này cần nhiều vốn lưu động chủ yếu làchi phí cho thức ăn và thuốc thú y, do đó nông hộ phải có một nguồn vốn nhất định

Mô hình này thích hợp trong việc kết hợp với nhiều hoạt động kinh doanh khácnhằm đa dạng hóa thu nhập Thị trường và giá cả không biến động nhiều nhưng đặcbiệt mức rủi ro về dịch bệnh khá cao, tỉ lệ hao hụt do bệnh tật có thể đến 10% - 35%hoặc cao hơn nữa, nên tỷ suất lợi nhuận của các hộ nuôi cũng biến động nhiều Nhìnchung, nếu quản lý dịch bệnh tốt thì lợi nhuận cao (nếu nuôi đạt thì mức lợi nhuậnbình quân là trên 5 triệu đồng khi nuôi 200 con cao hơn so với mô hình nuôi gàtrước đây chỉ lời khoảng 2 triệu đồng trên 200 con) Từ các đặc điểm trên có thể cho

thấy mô hình này có khả năng đạt hiệu quả về mặt tài chính ở mức khá (4 điểm).

Trang 18

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Mô hình nuôi gà thả vườn tương đối phù hợp với điều kiện biến đối đổi khíhậu bởi gà là loài có nhu cầu nước uống khá thấp, phù hợp với tình trạng khan hiếmnước ngọt vào mùa khô thường xảy ra trên địa bàn; nguồn thức ăn cho gà là thức ăncông nghiệp không phải phụ thuộc vào nguyên liệu tự nhiên tại địa phương, nêntránh được tình trạng khan hiếm trong điều kiện khô hạn và nhiễm mặn Tuy nhiên,tình trạng hạn mặn có tác động xấu đến sự sinh trưởng và sức khỏe của gà Nên cóthể đánh giá mô hình nuôi gà thả vườn tương đối thích ứng với với điều kiện bị tác

động của biến đổi khí hậu ở mức độ vừa phải (3 điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Mô hình nuôi gà thả vườn không đòi hỏi khắt khe về mặt lao động nhưng lạiđòi hỏi về vốn lưu động để mua thức ăn và kỹ thuật nuôi phải chặt chẽ mới ít rủi ro

và thành công Yếu tố nguy cơ lớn nhất là dịch bệnh, kiểm soát được dịch bệnh sẽthành công Bên cạnh đó việc tiêu thụ đầu ra cũng khá dễ dàng khi nhu cầu của thịtrường cao và lực lượng thu mua tại địa phương là khá nhiều Mô hình được đánh

giá khả năng nhân rộng ở mức tốt (4 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Mô hình nuôi gà hiện đang đóng góp đáng kể vào thu nhập của hộ bởi có thểkết hợp với nhiều hoạt động kinh tế khác trong hoạt động kinh tế hộ, đặc biệt môhình phù hợp với các nông hộ có lao động nhàn rỗi Chính vì vậy, tiêu chí này được

đánh giá ở mức độ tốt (4 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Khảo sát mô hình nuôi gà thả vườn hiện ít gây ô nhiễm môi trường do có sửdụng chất độn chuồng, phân gà và chất độn chuồng được tận dụng để làm phân bón.Các hộ nuôi trong vùng đều có ý thức bảo vệ môi trường Mô hình này có ưu điểm

là với qui mô nhỏ chưa gây ô nhiễm môi trường, nhưng khả năng cải thiện môi

Trang 19

trường và quản lý rủi ro thì chưa thể hiện rõ nên tiêu chí này được đánh giá ở mức

vừa phải (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Nuôi gà thả vườn phát triển theo hộ cá thể, sử dụng lao động nhàn rỗi trong hộ,nhưng tạo được thu nhập khá cho các hộ nghèo phát triển vươn lên trong cộng đồng

và do vậy có khả năng đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi chung tại địaphương Mô hình nuôi gà được đánh giá về tính lợi ích cho cộng đồng ở mức vừa

phải (3 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Nuôi gà đã phát triển lâu trên địa bàn nhưng với theo hình thức thả lan với qui

mô nhỏ hiệu quả kinh tế thấp Mô hình nuôi có chuồng trại với quy trình kỹ thuậtchặt chẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao Mô hình đã thể hiện được sự đóng góp vàochiến lược sản xuất phát triển kinh tế của địa phương, góp phần giảm nghèo của xã,tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt đối với các hộ không cóhoặc có ít đất sản xuất nông nghiệp Do vậy, đối với tiêu chí này mô hình được đánh

dự án đầu tư nuôi gà theo mô hình sử dụng đệm lót sinh học nên góp phần hạn chế

ô nhiễm môi trường Do vậy, mô hình được đánh giá ở mức độ vừa phải (3 điểm).

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Mô hình chưa thể hiện rõ nét về tác động trực tiếp trong việc cải thiện sức khỏe

và lao động Nhưng do mang lại nguồn thu nhập khá cho các nông hộ nên nông dân

có điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như cải thiện dinh dưỡng

Trang 20

trong bữa ăn, do đó sức khỏe được tốt hơn Do vậy, mô hình này được đánh giá ở

mức vừa phải đối với tiêu chí này (3 điểm).

3.4 Mô hình nuôi bò sinh sản

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 02 hộ:

bà Lâm Thị Bé Hai và bà Thạch Thị Lan hiện đang nuôi bò ở ấp Rọ Say, xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh Mỗi

hộ nuôi 02 con bò cái sinh sản từ nguồn kinh phí hỗ trợ của dự án, mặc dù chưa thu hoạch nhưng mỗi hộ đã có được 1 bê con.

Ý tưởng nuôi bò: bởi nhận thấy gần đây tình trạng năng nóng và khô hạn kéo dài nên hoạt động sản xuất lúa hay các loại hoa màu khác gặp nhiều khó khăn Trong khi bò là động vật dễ nuôi, thích nghi với điều kiện tự nhiên của địa phương,

hộ có nhiều kinh nghiệm, ít tốn công lao động nên có thể tận dụng được thời gian nhàn rỗi, có nguồn thức ăn đáp ứng tốt từ việc chuyển đổi đất không trồng được lúa.

(i) Tài chính

Qua khảo sát thực tế 02 hộ có thể đưa ra một vài đánh giá nghiệm thu về môhình như sau: vốn đầu tư ban đầu của mô hình này khá cao, chủ yếu chi phí congiống, ngoài chi phí con giống thì chi phí chuồng trại được nhiều hộ nuôi tận dụngmột phần nguyên liệu tự có của hộ và công nhà để làm chuồng; thức ăn từ nguồn cỏtrồng hoặc cắt cỏ tự nhiên; công lao động nhàn rỗi của nông hộ sử dụng cho việc cắt

cỏ nên mô hình này không cần nhiều vốn lưu động Ngoài ra mô hình này có thểthích ứng với điều kiện tự nhiên hiện tại có thể cải thiện được thu nhập cho nông hộkhi mà lợi nhuận từ cây lúa ở mô hình sản xuất trước đó chỉ mang lại lợi nhuậnkhoảng 2.000.000 đồng trong cả năm cho mỗi hộ

Mô hình này thích hợp trong việc kết hợp với nhiều hoạt động kinh doanh khácnhằm đa dạng hóa thu nhập Nhu cầu thị trường đối với bò thịt và bò sinh sản cònnhiều, giá cả khá cao và ít biến động, mức rủi ro thấp Nhưng tỷ suất lợi nhuận giữa

Trang 21

các hộ nuôi có biến động do phụ thuộc vào hộ có đất để trồng cỏ hay không, nếukhông có đất trồng cỏ hộ phải mua rơm làm thức ăn bổ sung nên làm tăng chi phí.Thời gian sinh trưởng của bò thịt dài và lợi nhuận phụ thuộc vào khả năng sinh sảncủa bò cái.Từ các đặc điểm trên có thể cho thấy mô hình này có khả năng đạt hiệu

quả ở mức tương đối khá về mặt tài chính ( 4 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Mô hình nuôi bò tương đối phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu do tận dụngđược đất không sản xuất lúa được do khô hạn, thiếu nước chuyển sang trồng cỏ.Nhưng bò lại có nhu cầu số lượng thức ăn là cỏ tươi hang ngày khá lớn nên các hộkhông có đất sẽ gặp khó khăn Nên có thể đánh giá mô hình nuôi bò tương đối thích

ứng với điều kiện bị tác động do biến đổi khí hậu (3 điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Mặc dù mô hình nuôi bò không đòi hỏi nhiều về mặt lao động và kỹ thuật nuôi,cũng như ít biến động về thị trường thị trường đầu ra do dễ dàng bán được cho cácthương lái, trại bò hay nông hộ có nhu cầu mua bò vỗ béo tại địa phương Tuynhiên, bò lại có nhu cầu lượng thức ăn khá lớn nên các hộ không có đất trồng cỏ sẽgặp khó khăn Trở ngại lớn nhất của mô hình là cần nhiều vốn mua con giống, hộnghèo không đủ tiền nuôi và phải có diện tích đất nhất định để trồng cỏ Nên mô

hình được đánh giá về mức độ nhân rộng ở mức vừa phải (4 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Mô hình nuôi bò có thể xem đang đóng góp đáng kể vào thu nhập của hộ bởi

có thể kết hợp với nhiều hoạt động kinh tế khác trong kinh tế hộ, mô hình phù hợpvới các nông hộ có có lao động nhàn rỗi hoặc hộ có lao động trung niên Thời giannuôi bò khá dài, vòng quay thu nhập chậm, nhiều nông hộ cho đây là một khó khăntrước mắt nhưng thích hợp tích lũy lâu dài của mô hình này Chính vì vậy, chỉ tiêu

này được đánh giá ở mức độ khá (3 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Trang 22

Mô hình nuôi bò hiện ít gây ô nhiễm môi trường do phân bò được tận dụng đểlàm phân bón Khảo sát các hộ nuôi trong vùng đều có ý thức bảo vệ môi trường.Tuy nhiên về mặt khoa học đánh giá bò là loại động vật có lượng phát thải gây hiệuứng nhà kính tương đối cao nên việc phát triển nuôi bò ít nhiều có tác động xấu đếnmôi trường Nhìn chung cho thấy mô hình ít gây ô nhiễm nhưng cũng không thểhiện được về khả năng cải thiện môi trường và quản lý rủi ro, nên tiêu chí này được

đánh giá ở mức điểm (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Hiện mô hình nuôi theo hộ cá thể trong tổ hợp tác nhưng thực tế đây là hoạtđộng kinh tế kết hợp của nông hộ trên cơ sở tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên vànguồn cỏ tự trồng được chuyển đổi từ những diện tích đất không canh tác được lúa

và sử dụng lao động nhàn rỗi trong hộ Mô hình giúp cho các hộ nghèo có cơ hộităng thêm thu nhập, có sự tương trợ của các hộ trong một tổ hợp tác Chính vì vậy,

mô hình nuôi bò được đánh giá tốt về tính lợi ích cho cộng đồng (4 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Nuôi bò là nghề truyền thống ở địa phương Trước đây người dân nuôi giống

bò địa phương, chậm lớn, nhỏ con nên hiệu quả kinh tế thấp Mô hình nuôi bò laiSind, lớn con, năng suất cao, đúng quy trình kỹ thuật nên đạt hiệu quả kinh tế cao

Mô hình đã thể hiện được sự đóng góp vào chiến lược phát triển kinh tế góp phầngiảm nghèo của xã, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt đối vớicác hộ có ít đất sản xuất nông nghiệp Do vậy, đối với tiêu chí này mô hình được

đánh giá ở mức tốt (5 điểm).

(viii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường

Mô hình nuôi bò ít làm phương hại đến môi trường Do vậy, mô hình được

đánh giá ở mức độ vừa phải (4 điểm).

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Trang 23

Mô hình chưa thể hiện rõ nét tác động trực tiếp đến việc cải thiện điều kiện sứckhỏe và lao động Nhưng do mang lại nguồn thu nhập khá cho các nông hộ nênnông dân có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế, cũng như có điều kiện cải thiện bửa ăntốt hơn nên sức khỏe được cải thiện tốt hơn Mô hình được đánh giá ở mức khá đối

với tiêu chí này (3 điểm).

3.5 Mô hình nuôi heo

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 02 hộ của bà Nguyễn Thị Nga và ông Hứa Văn Miền hiện đang nuôi heo ở ấp Ông Rùm 2,

xã Hùng Hòa, huyện Tiểu Cần, Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh Hiện tại 2 hộ nuôi này đã thu hoạch Mỗi hộ nuôi với quy mô 10 con, với thời gian nuôi 5 tháng Kết quả mang lại lợi nhuận từ 5 - 11 triệu đồng, nguyên nhân có sự biến động lớn về mức lợi nhuận là do số lượng heo con được sinh ra bởi heo nái.

Ý tưởng nuôi heo: bởi nhận thấy trước đây có nuôi heo nái nhưng thất bại do thiếu kỹ thuật và thiếu vốn đầu tư Nay được dự án hỗ trợ vốn và tập huấn kỹ thuật nuôi heo Bên cạnh giá heo gần đây tương đối ổn định, heo có chu kỳ sản xuất ngắn thu nhập khá, tận dụng được lao động nhàn rỗi.

(i) Tài chính

Khảo sát thực tế 02 hộ nuôi heo có thể đưa ra một vài đánh giá về mô hình nhưsau: vốn đầu tư ban đầu tương đối cao, thể hiện qua chi phí con giống và xây dựngchuồng trại; mô hình cần khá nhiều vốn lưu động do nhu cầu thức ăn cho heo rất lớn

và toàn bộ phải mua thức ăn công nghiệp; thị trường đối với heo thịt lớn, giá cảtrong những năm gần đây tương đối ổn định, nhưng trong quá khứ giá cả biến độnglên xuống theo chu kỳ sau một số năm ổn định, trong năm khảo sát thì hộ đạt đượclợi nhuận cao hơn đạt từ trên 5 triệu đến gần 11 triệu đồng/lứa (so với trước đây chỉlời khoảng 4 triệu đồng/lứa 10 heo giống) do giá cả thị trường tốt hơn và heo nuôiđạt hiệu quả cao tuy chi phí cũng có phần tăng lên; có rủi ro ở mức vừa phải từ dịchbệnh và khả năng sinh sản của heo nái

Trang 24

Mô hình này thích hợp trong việc kết hợp với nhiều hoạt động kinh doanh khácnhằm đa dạng hóa thu nhập trên cơ sở tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi sẵn

có trong nông hộ Từ các đặc điểm trên có thể cho thấy mô hình này có khả năng đạt

hiệu quả tương đối khá về mặt tài chính (4 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Mô hình nuôi heo khá phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu vì dưới tác độngcủa biến đổi khí hậu các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương như trồnglúa đang gặp nhiều khó khăn do thiếu nước và tình trạng nhiễm mặn thì nuôi heo ít

bị ảnh hưởng của các tác động này Từ đây có thể đánh giá mô hình nuôi heo tương

đối thích ứng với điều kiện bị tác động do tình trạng biến đổi khí hậu (3 điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Nuôi heo có thể nói là một nghề truyền thống của người dân nông thôn Môhình đòi hỏi vốn ban đầu để xây dựng chuồng trại và hầm ủ biogas cộng với tiềnmua con giống Sau đó vốn lưu động cũng cần nhiều cho chi phí thức ăn Dịch bệnhcũng là vấn đề đáng quan tâm, vượt quá tầm kiểm soát của nông hộ và sau cùng làgiá heo biến động theo chu kỳ không biết trước được Tuy nhiên, thịt heo là sảnphẩm truyền thống có nhu cầu thị trường rất cao và heo nuôi tại địa phương cũng dễdang tiêu thụ qua các thương lái và lò giết mổ tại địa phương Nên mô hình được

đánh giá ở mức độ tốt về khả năng nhân rộng (4 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Mô hình nuôi heo hiện cũng đang đóng góp đáng kể vào thu nhập của hộ bởi

có thể kết hợp với nhiều hoạt động kinh tế khác trong hoạt động kinh tế hộ, đặc biệt

mô hình phù hợp với các nông hộ có lao động nhàn rỗi hoặc hộ có lao động lớn

tuổi Chính vì vậy, tiêu chí này được đánh giá ở mức độ tốt (4 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Khảo sát các mô hình nuôi heo cho thấy chất thải nuôi heo nhiều và gây ônhiễm môi trường, do đó chuồng heo phải có hầm ủ biogas để xử lý chất thải đồng

Trang 25

thời sử dụng khí sinh ra làm chất đốt Mô hình ít gây ô nhiễm do đã chú ý đến việc

xử lý phân bằng hầm biogas, nhưng chưa thể hiện rõ rệt về khả năng cải thiện môi

trường và quản lý rủi ro nên tiêu chí này được đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Mô hình nuôi heo là nuôi cá thể, đây là hoạt động kinh tế kết hợp của nông hộtrên cơ sở tận dụng lao động nhàn rỗi trong hộ và tạo được thu nhập khá cho các hộnghèo giúp cải thiện cuộc sống, nâng cao lợi ích cá nhân trong cộng đồng Mô hình

nuôi heo được đánh giá khá về tính lợi ích cho cộng đồng (3 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Nuôi heo là nghề truyền thống của người dân ở địa phương, phát triển tự phát,lâu đời với qui mô nhỏ lẻ (2-3 con/hộ) nhưng không chú ý nhiều đến con giống và

kỹ thuật nên hiệu quả kinh tế còn thấp Mô hình nuôi chuồng trại qui mô tương đối(10 con/hộ), các giống heo năng suất cao, chất lượng tốt; nuôi theo quy trình kỹthuật; dịch bệnh được phòng ngừa nên hiệu quả kinh tế gia tăng rõ rệt Hơn nữa chấtthải nuôi heo được kiểm soát, phát triển bền vững không gây ô nhiễm môi trường

Mô hình đã thể hiện được sự đóng góp tốt cho kế hoạch phát triển kinh tế của xã;giúp các hộ không có hoặc có ít đất nông nghiệp có được có công ăn việc làm Do

vậy, đối với tiêu chí này mô hình được đánh giá ở mức tốt (4 điểm).

(viii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường

Mô hình nuôi heo có hầm ủ biogas nên không gây ô nhiễm môi trường Tuynhiên, chưa thể hiện được việc cải thiện tìn trạng ô nhiễm môi trường Do vậy, mô

hình được đánh giá ở mức độ tốt (4 điểm).

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Mô hình nuôi heo mang lại nguồn thu nhập khá cho các nông hộ nên có thểgóp phần vào việc cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động của người dân Từnguồn thu nhập được nâng lên, nông hộ có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ chăm

Trang 26

sóc sức khỏe cũng như có điều kiện cải thiện chất lượng bữa ăn do đó sức khỏe tốthơn Do vậy, mô hình này chỉ được đánh giá ở mức độ vừa phải đối với tiêu chí này

Mô hình trồng bắp giống được hình thành khi Công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam bắt đầu đến và liên kết với hộ dưới hình thức cung cấp đầu vào và bao tiêu đầu ra Hiện tại, các hộ được khảo sát đã liên kết với Công ty CP giống cây trồng Miền Nam đã được 3 năm Diện tích canh tác lần lượt của 2 hộ này là 4.000 m 2 và 6.000 m 2 Ngoài vụ sản xuất bắp hộ sẽ canh tác các loại hoa màu khác trên diện tích đất này Cả 2 hộ đều là thành viên của THT sản xuất bắp giống ấp Bào Mốt, quy mô THT này là 156.000 m 2 (23 hộ) với tổng chi phí đầu tư là 731 triệu đồng.

- Thời gian canh tác trung bình từ 80 đến 85 ngày, do vậy tương đối phù hợpvới mức tài chính của những hộ nghèo do xoay vòng vốn nhanh

Trang 27

- Tốn khá nhiều công lao động do việc trồng bắp giống phải thực hiện nhiềucông đoạn khác nhau và yêu cầu phải thực hiện trong thời gian ngắn.

- Với mức yêu cầu đầu tư thấp rất phù hợp cho hộ nghèo, năng suất đạt khácao, tuy nhiên lợi nhuận đạt được của mô hình không cao lắm, chỉ vào khoảng 0,6triệu đến 1,6 triệu đồng trên mỗi 1.000 m2 Được biết năng suất trồng bắp trongvùng rất ổn định, nhưng giá cả thu mua của công ty đưa ra quá thấp cho người nôngdân

Qua phân tích có thể thấy mô hình này tuy đạt hiệu quả kinh tế không cao (lợinhuận chỉ đạt từ khoảng 700.000 đến 1.700.000 đồng/công, so với những năm trước

đó thì không cao do năng suất trong năm khảo sát không cao do ảnh hưởng của thờitiết) nhưng mang lại sự ổn định trong thu nhập của nông hộ, chỉ cần đạt được thỏathuận bán ở mức giá cao hơn một ít thì hiệu quả kinh tế trong mô hình trồng bắpgiống sẽ được cải thiện đáng kể vì thế đối với tiêu chí này, mô hình trồng bắp giống

được đánh giá đạt ở mức độ rất tốt (5 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Trồng bắp giống đòi hỏi sử dụng nước tưới khá lớn, một số hộ trồng bắp trênnền ruộng cao sẽ thiếu nước tưới Tuy nhiên, trong điều kiện khí hậu biến đổi khắcnghiệt như hiện nay mô hình trồng bắp giống vẫn cho năng suất rất tốt.Vì thế mô

hình trồng bắp giống được đánh giá ở mức thích ứng rất tốt với biến đổi khí hậu (5

điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Mặc dù mô hình trồng bắp giống yêu cầu về vốn đầu tư không cao, thời giancanh tác phù hợp, được bao tiêu sản phẩm bởi công ty CP giống cây trồng miềnNam và thích ứng với biến đổi khí hậu tốt nhưng cũng chính đầu ra hạn chế (chỉ có

01 công ty bao tiêu) làm cho khả năng nhân rộng của mô hình này bị giới hạn, thậmchí có thể bị thu hẹp do phụ thuộc vào nhu cầu của công ty thu mua Do vậy, khả

năng nhân rộng của mô hình chỉ được đánh giá ở mức độ vừa phải (3 điểm).

Trang 28

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Khi thực hiện mô hình trồng bắp giống nông hộ có thể tận dụng thời gian nhànrỗi để thực hiện các công việc sản xuất, kinh doanh khác Đồng thời do thời gian môhình thực hiện ngắn, gói gọn trong một mùa vụ nên có khả năng xoay vòng với lúa

và hoa màu khác ở hai vụ mùa còn lại

Ngoài ra, mô hình này cũng nhận được lợi ích lớn từ việc bao tiêu sản phẩmcủa công ty và đảm bảo giá không bị ảnh hưởng bởi giá thị trường, giúp thu nhậpcủa hộ được đảm bảo hơn Vì thế, trong chỉ tiêu này mô hình trồng bắp giống được

đánh giá ở mức độ có thể đa dạng hóa thu nhập ở mức tốt (4 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Theo kết quả khảo sát cho thấy mô hình không có tác động làm phương hạiđến nguồn tài nguyên thiên nhiên Qua khảo sát cũng cho thấy các hộ canh tác trongvùng đều có ý thức bảo vệ môi trường như việc hạn chế sử dụng nước ngầm Tuynhiên mô hình này vẫn chưa thể hiện rõ rệt lắm và nhiều về khả năng cải thiện môi

trường và quản lý rủi ro nên tiêu chí này được đánh giá ở mức vừa phải(3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Mô hình cũng đã tạo điều kiện rất nhiều lao động nghèo tại địa phương tạothêm thu nhập khi tham gia vào một số khâu như cải tạo đất, gieo trồng, thu hoạch.Trong quá trình canh tác, các hộ trồng bắp thường xuyên trao đổi và chia sẻ thôngtin kỹ thuật và thị trường với nhau Chính vì vậy, mô hình trồng bắp giống được

đánh giá ở mức độ cao về tính lợi ích cho cộng đồng (4 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Mô hình tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động nghèo tại địaphương, đặc biệt đối với các hộ không có hoặc có ít đất sản xuất nông nghiệp Xâydựng được mô hình liên kết giữa công ty thu mua và THT sản xuất là mô hình liênkết mà trong hầu hết các hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện nay đang hướng đến

Do vậy, đối với tiêu chí này mô hình được đánh giá ở mức khá tốt (4 điểm).

Trang 29

(viii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường

Mô hình này cho đến thời điểm hiện tại chưa cho thấy có khả năng làm phương

hại đến môi trường Do vậy, mô hình được đánh giá ở mức độ vừa phải (3 điểm).

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Mô hình chưa thể hiện rõ nét được việc góp phần giúp cải thiện được điều kiệnsức khỏe và lao động, mặc dù thông qua việc nguồn thu nhập có tăng lên, sẽ gópphần giúp cho các hộ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn và có nhiềuđiều kiện hơn trong bổ sung chất lượng dinh dưỡng tái sản xuất sức lao động tốt

hơn Do vậy, đối với tiêu chí này mô hình này chỉ được đánh giá ở mức vừa phải (3

điểm).

3.7 Mô hình trồng bắp lai

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 01 hộ ông Kim Thanh Dân và bà Sơn Thị Huệ hiện đang trồng bắp lai ở ấp Sóc Tro, An Quảng Hữu, Trà Cú, Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh Hiện tại hộ này đã thu hoạch Hộ sản xuất với quy mô 5.000 – 6.000 m 2 , thời gian nuôi 105 ngày, năng suất đạt khá cao 0,9 tấn/công Tuy nhiên do giá bán sản phẩm đầu ra quá thấp và rất biến động nên dẫn đến hộ sản xuất thu được mức lợi nhuận khá thấp, khoảng 550.000 đồng/công (khi tính chi chi phí lao động gia đình vào tổng chi phí) do đó mô hình này hộ sản xuất chỉ có thể xem như tạo việc làm cho lao động gia đình.

Ý tưởng trồng bắp lai: do nhận thấy để ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu như: nắng nóng kéo dài, thiếu nước vào mùa khô, nên không thể sản xuất lúa làm ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống kinh tế của hộ nên thiếu vốn đầu tư tái sản xuất Bắp lai là cây rất dễ trồng, thích nghi tốt, cho năng suất cao, ít tốn công chăm sóc so với các loại vây màu khác và nông hộ có nhiều kinh nghiệm.

(i) Tài chính (Phụ lục 6)

Trang 30

Trong mô hình này, các hộ được khảo sát đều trồng 1 vụ trong năm Qua kếtquả khảo sát cho thấy:

- Chi phí để đầu tư cho mô hình sản xuất này rất thấp nên rất phù hợp chonhững hộ nghèo Tổng chi phí đầu tư của mô hình khoảng 4,5 triệuđồng/1.000m2/vụ, trong đó các khoảng chi phí nguyên liệu đầu vào 3 triệuđồng/1.000m2/vụ; chi phí thuê mướn ngoài và các khoản chi phí khác khoảng 0,6triệu đồng/1.000m2/vụ; còn lại chủ yếu thể hiện qua giá trị lao động gia đình

- Thời gian canh tác trung bình 105 ngày, tương đối phù hợp với mức tài chínhcủa những hộ nghèo do xoay vòng vốn nhanh

- Mô hình có năng suất thu hoạch đạt khá cao từ 0,9 – 1 tấn bắphạt/1.000m2/vụ, tuy nhiên do giá thị trường bắp hạt hiện rất thấp và rất bấp bênh nênlợi nhuận đạt được của mô hình là khá thấp chỉ khoảng 0,5 triệu đồng/1.000m2/vụ(đã tính chi phí lao động gia đình), trong khi những năm trước đó thì mức lợi nhuậnthấp nhất cũng là 1 triệu đồng/1.000 m2/vụ

Qua phân tích có thể thấy mô hình này tuy cho năng suất cao và ít vốn đầu tưnhưng giá cả đầu ra rất thấp nên thu nhập mang lại cho nông hộ còn rất khiêm tốn

Vì thế trong tiêu chí này, mô hình trồng bắp lai được đánh giá đạt ở mức độ vừa

phải (3 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Trồng bắp lai không đòi hỏi sử dụng nhiều nước, bên cạnh trong điều kiện khíhậu biến đổi khắc nghiệt như hiện nay mô hình vẫn cho năng suất rất tốt và mang lạihiệu quả kinh tế nhất định Vì thế mô hình trồng bắp lai được đánh giá ở mức thích

ứng tốt với biến đổi khí hậu (4 điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Mô hình trồng bắp lai có ưu điểm: nhu cầu về vốn đầu tư không cao, thời giancanh tác phù hợp, nông hộ trên địa bàn có nhiều kinh nghiệm sản xuất, rủi ro sâubệnh ít xảy ra so với các loại cây trồng khác nên năng suất đạt được khá Tuy nhiên

Trang 31

thị trường và giá cả đầu rất bấp bênh do rất ít người mua tại địa phương và cả cácđịa phương lân cận (bởi giá thành cao hơn giá nguyên liệu nhập khẩu) nên lợi nhuậnthu được từ mô hình đạt rất thấp Do vậy, khả năng nhân rộng của mô hình chỉ được

đánh giá ở mức độ thấp (2 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Khi thực hiện mô hình trồng bắp lai nông hộ có thể tận dụng thời gian nhàn rỗi

để thực hiện các công việc sản xuất khác Đặc biệt tận dụng những diện tích đất vàomùa khô thiếu nước sản xuất Đồng thời do mô hình có mức chi phí đầu tư thấp vàthời gian canh tác ngắn, nên rất phù hợp cho hộ nghèo và có khả năng xoay vòngvốn nhanh Vì thế, trong tiêu chí này, mô hình trồng bắp lai được đánh giá ở mức độ

có thể đa dạng hóa thu nhập (3 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Theo kết quả khảo sát mô hình hiện chưa có tác động gì đến việc làm thươngtổn đến nguồn tài nguyên thiên nhiên Qua khảo sát các hộ nuôi trong vùng đều có ýthức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, mô hình này chưa thể hiện rõrệt lắm và nhiều về khả năng cải thiện môi trường và quản lý rủi ro nên tiêu chí này

được đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Mô hình hiện chỉ sản xuất theo hộ cá thể chưa tổ chức sản xuất theo hình thức

tổ nhóm Tuy nhiên mô hình cũng đã tạo điều kiện rất nhiều việc làm cho lao độngnghèo tại địa phương, tạo thêm thu nhập khi tham gia vào một số khâu được thuêmướn trong sản xuất Chính vì vậy, mô hình trồng bắp lai được đánh giá ở mức độ

vừa phải về tính lợi ích cho cộng đồng (3 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Dù hiệu quả kinh tế mang lại còn rất thấp nhưng mô hình tạo thêm nhiều công

ăn việc làm cho người lao động nghèo tại địa phương Nên mô hình đã thể hiệnđược sự đóng góp vào chiến lược sản xuất phát triển kinh tế góp phần giảm nghèo

Trang 32

của xã Do vậy, đối với tiêu chí này mô hình được đánh giá ở mức vừa phải (3

vừa phải (3 điểm)

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Do hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình quá thấp nên chưa góp phần trực tiếpđến việc cải thiện điều kiện sức khỏe và lao động cho người lao động Do vậy, mô

hình này chỉ được đánh giá ở mức vừa phải đối với tiêu chí này (3 điểm).

3.8 Mô hình trồng bầu

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 1 hộ hiện đang trồng bầu 2 vụ trong năm là hộ Kim Thị Sa Ren; hộ được khảo sát ở xã Hòa Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh

Mô hình trồng bầu tưới tiết kiệm nước được hình thành khi việc thiếu nước tưới mỗi năm diễn ra thường xuyên hơn, làm cho việc trồng các loại hoa màu cần nhiều nước tưới bị ảnh hưởng đến năng suất Diện tích canh tác của hộ này là 2.000 m 2 Ngoài 2 vụ sản xuất bầu, hộ còn canh tác các loại hoa màu khác (cùng thuộc dạng dây leo để tận dụng cơ sở vật chất có sẵn) trên diện tích đất này; tổng mức đầu tư cho mô hình này theo ước tính là 41,5 triệu cho 2 vụ sản xuất.

(i) Tài chính (Phụ lục 7)

Trong mô hình này, hộ được khảo sát trồng 1 vụ bầu trong năm Qua kết quảkhảo sát cho thấy:

Trang 33

- Chi phí để đầu tư cho mô hình sản xuất này ở mức trung bình, vào khoảng7,5 triệu đồng cho 1.000 m2, kéo dài trong 65 ngày; khá phù hợp với năng lực tàichính của hộ sản xuất quy mô nhỏ

- Là cây ngắn ngày có thời gian sản xuất khoảng 60 – 65 ngày, do vậy hạn chếđược tối đa các rủi ro về sâu bện, thời tiết và cũng không bị lấn vụ, hộ vẫn có đủthời gian chuẩn bị để sản xuất vụ kế tiếp cho đối tượng khác

- Mô hình này không đòi hỏi nhiều thời gian lao động mỗi ngày, nông hộ cũng

có thể tận dùng thời gian nhàn rỗi còn lại vào các hoạt động sản xuất kinh doanhkhác tạo thêm thu nhập

- Tuy có đủ những điều kiện thuận lợi để thực hiện mô hình này, nhưng hiệuquả kinh tế mà mô hình này đạt được là không cao, thậm chí khi trừ đi hết chi phíthì trên mỗi 1.000 m2 thực hiện sản xuất mô hình trồng bầu này, hộ bị lỗ vốn khoảng3,5 triệu đồng so với tổng chi phí đã bỏ ra Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạngnày là trong năm khảo sát năng suất khá thấp so với những năm trước (vào khoảng1,3 tấn so với 3,5 – 4 tấn trong những vụ trước), và do nhu cầu thị trường của sảnphẩm thấp, giá cả cũng thấp (chỉ 3.000 đ/kg) Vì thế trong tiêu chí đánh giá về tài

chính thì mô hình trồng bầu được đánh giá ở mức rất thấp (1 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

So với những mô hình được hộ thực hiện song song thì mô hình trồng bầu cóphần nổi trội hơn về khả năng tiết kiệm nước tưới, ngoài ra thì loại cây này chưa thểhiện rõ rệt khả năng thích ứng biến đổi khí hậu ở khía cạnh nào khác Vì thế mô

hình trồng bầu được đánh giá ở mức thích ứng vừa phải trong điều kiện hiện tại (3

điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Mô hình trồng bầu có yêu cầu về vốn đầu tư ở mức trung bình, thời gian chămsóc không nhiều, thời gian canh tác ngắn và phù hợp với biến đổi khí hậu tuy nhiênlại đòi hỏi phải có kinh nghiệm, kỹ thuật trồng và phòng trị bệnh cao do cây này có

Trang 34

nhiều loại sâu bệnh tấn công có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất Quantrọng nhất là loại sản phẩm này không có sức hút từ thị trường, bán cho các thươnglái địa phương với giá cả đầu ra thấp không đủ để bù đắp chi phí Do vậy, mô hình

này được đánh giá là không có khả năng nhân rộng (2 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Khi thực hiện mô hình trồng bầu nông hộ có thể tận dụng thời gian nhàn rỗi đểthực hiện các công việc sản xuất, kinh doanh khác Đồng thời do thời gian mô hìnhthực hiện ngắn nên có thể canh tác được 3 vụ trong năm Tuy nhiên, mô hình này lạikhông nâng cao được thu nhập cho hộ do không đạt hiệu quả về kinh tế Vì thế,trong chỉ tiêu này mô hình trồng bầu được đánh giá ở mức độ có thể đa dạng hóa

thu nhập ở mức thấp (2 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Theo kết quả khảo sát mô hình cho thấy việc canh tác không làm phương hạiđến nguồn tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên mô hình này vẫn chưa thể hiện rõ rệtlắm và nhiều về khả năng quản lý rủi ro nên tiêu chí này được đánh giá ở mức vừa

phải (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Mô hình này chủ yếu sử dụng lao động nhà, có thuê mướn lao động trong một

số khâu nhưng không đáng kể Mô hình trồng bầu chưa thể hiện được tính cộngđồng cao Chính vì vậy, mô hình trồng bầu được đánh giá ở mức độ vừa phải về tính

lợi ích cho cộng đồng ( 3 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Tuy mô hình được dự án phê duyệt và hỗ trợ vốn để thực hiện nhưng mô hìnhnày chưa thể hiện được sự đóng góp đến sinh kế của hộ Do vậy, đối với tiêu chí này

mô hình được đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).

Trang 35

(viii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường

Mô hình này cho đến thời điểm hiện tại chưa cho thấy có khả năng làm phươnghại đến môi trường, sử dụng tương đối ít phân bón hóa học và thuốc BVTV Do vậy,

mô hình được đánh giá ở mức độ không phương hại môi trường ở mức khá cao (4

điểm).

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Do hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình quá thấp nên chưa góp phần đáng kểtrong gia tăng thu nhập cho nông hộ, nên mô hình chưa thể hiện rõ nét được việcgóp phần giúp cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động Do vậy, mô hình này

chỉ được đánh giá ở mức vừa phải đối với tiêu chí này (3 điểm).

3.9 Mô hình trồng bí đao

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 01 hộ

là ông Sơn Sa Ri hiện đang trồng bí đao chanh ở ấp Ba Se A, Lương Hòa, Châu Thành, Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh Hiện tại hộ này đã thu hoạch Hộ sản xuất với quy mô 2.000m 2 , loại giống bí đao chanh, với thời gian trồng 45 ngày, năng suất đạt khá cao 3,5 tấn/công Tuy nhiên do giá bán sản phẩm đầu ra quá thấp và rất biến động nên dẫn đến hộ sản xuất hòa vốn (khi tính chi chi phí lao động gia đình vào tổng chi phí) do đó mô hình này hộ sản xuất chỉ có thể xem như tạo việc làm cho lao động gia đình.

Ý tưởng trồng bí đao chanh: do nhận thấy để ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu như: nắng nóng kéo dài, thiếu nước vào mùa khô, nên không thể sản xuất lúa làm ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống kinh tế của hộ Trong khi bí đao chanh rất dễ trồng, thích nghi tốt, cho năng suất cao và nông hộ có nhiều kinh nghiệm.

(i) Tài chính (Phụ lục 8)

Trang 36

Trong mô hình này, các hộ được khảo sát đều trồng 1 vụ trong năm Qua kếtquả khảo sát cho thấy:

- Chi phí để đầu tư cho mô hình sản xuất này là rất thấp so với những mô hìnhtrồng trọt khác Tổng chi phí đầu tư khoảng 3,8 triệu đồng/1.000m2/vụ, trong đó chiphí nguyên liệu đầu vào là khoảng 1 triệu đồng/1.000m2/vụ; chi phí thuê mướnngoài và các khoản chi phí khác 1 triệu đồng/1.000m2/vụ; còn lại chủ yếu thể hiệnqua giá trị lao động gia đình

- Thời gian canh tác trung bình 45 ngày, tương đối phù hợp với mức tài chínhcủa những hộ nghèo do xoay vòng vốn nhanh

- Mô hình cho năng suất đạt khá cao 3,5 tấn/công Tuy nhiên do giá bán sảnphẩm đầu ra quá thấp và rất biến động nên dẫn đến hộ sản xuất bị lỗ khi tính chi chiphí lao động gia đình vào tổng chi phí (trước đó hộ trồng các loại rau màu khác tạolợi nhuận trên dưới 3 triệu đồng/1.200 m2/vụ), do đó mô hình này hộ sản xuất chỉ cóthể xem như tạo việc làm cho lao động gia đình

Qua phân tích có thể thấy mô hình này hiệu quả kinh tế quá kém và chưa đónggóp và mang lại thu nhập ổn định cho nông hộ Vì thế trong tiêu chí này, mô hình

trồng bí đao được đánh giá đạt ở mức độ rất thấp (2 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Bí đao là loại cây trồng có nhu cầu về nước rất ít Trong điều kiện khí hậu biếnđổi khắc nghiệt như hiện nay mô hình trồng bí đao vẫn cho năng suất rất tốt và gópphần tạo việc làm và thu nhập cho các lao động nông hộ tham gia mô hình, tuynhiên còn tương đối thấp Vì thế mô hình trồng bí đao được đánh giá ở mức thích

ứng vừa phải với biến đổi khí hậu ở thời điểm hiện tại (3 điểm).

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Bí đao là đối tượng sản xuất không đòi hỏi kỹ thuật cao, ít vốn đầu tư, có thờigian canh tác ngắn, nông hộ trên địa bàn có nhiều kinh nghiệm sản xuất Nhưnghiện thị trường đầu ra chỉ bán cho các thương lái địa phương cộng với việc rất bất

Trang 37

ổn giá cả, giá quá thấp nên hộ sản xuất phải bị thua lỗ Do vậy, khả năng nhân rộng

của mô hình chỉ được đánh giá ở mức kém (2 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Khi thực hiện mô hình trồng bí đao nông hộ có thể tận dụng thời gian nhàn rỗi.Đặc biệt tận dụng những diện tích đất vào mùa khô thiếu nước sản xuất Đồng thời

do thời gian mô hình thực hiện ngắn, nên có khả năng luân canh với canh tác lúa vàhoa màu khác ở hai vụ mùa còn lại Nhưng hiệu quả kinh tế mang lại quá kém Vìthế, trong tiêu chí này, mô hình trồng bí đao được đánh giá ở mức độ thấp trong việc

góp phần đa dạng hóa thu nhập (2 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Theo kết quả khảo sát mô hình hiện chưa có tác động đến nguồn tài nguyênthiên nhiên Tuy nhiên mô hình này vẫn chưa thể hiện rõ rệt lắm và nhiều về khảnăng cải thiện môi trường và quản lý rủi ro, nên tiêu chí này được đánh giá ở mức

vừa phải (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Bên cạnh việc tạo việc làm và thu nhập cho lao động nhàn rỗi trong nông hộ,

mô hình cũng đã tạo điều kiện rất nhiều lao động nghèo tại địa phương tạo thêm thunhập khi tham gia vào một số khâu như cải tạo đất… Chính vì vậy, mô hình trồng

bí đao được đánh giá ở mức độ vừa phải về tính lợi ích cho cộng đồng (3 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Mô hình góp phần tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động nghèotại địa phương Nhưng qua hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình cho thấy mô hìnhchưa thể hiện được sự đóng góp vào chiến lược sản xuất phát triển kinh tế góp phầngiảm nghèo của xã Do vậy, đối với tiêu chí này mô hình được đánh giá ở mức vừa

phải (3 điểm).

Trang 38

(viii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường

Mô hình này cho đến thời điểm hiện tại chưa cho thấy có khả năng làm phương

hại đến môi trường Do vậy, mô hình được đánh giá ở mức độ vừa phải (4 điểm).

(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động

Do hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình quá thấp nên chưa góp phần đáng kểtrong gia tăng thu nhập cho nông hộ, nên mô hình chưa thể hiện rõ nét được việcgóp phần giúp cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động thông qua việc có thunguồn thu nhập được nâng lên, cũng như tiếp cận các dịch chăm sóc sức khỏe tốthơn và có nhiều điều kiện hơn trong bổ sung chất lượng dinh dưỡng tái sản xuất sứclao động tốt hơn Do vậy, mô hình này chỉ được đánh giá ở mức vừa phải đối với

tiêu chí này (3 điểm).

3.10 Mô hình trồng cải xà lách

Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 02 hộ:

bà Nguyễn Thị Phượng và ông Dương Thanh Bình hiện đang trồng cải xà lách ở ấp Thanh Trì A, Đa Lộc, Châu Thành, Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh Hiện tại hộ này đã thu hoạch Hộ sản xuất với quy mô 1.000 – 2.000 m 2 , thời gian nuôi 45 ngày, năng suất đạt tương đối cao từ 0,7 – 0,8 tấn/công nhưng mô hình đang đối mặt với tình trạng sâu bệnh xuất hiện nhiều nên đã làm tăng chi phí sản xuất và thiệt hại đáng kể đến năng suất Bên cạnh, do giá cả thấp và biến động nên lợi nhuận đạt được của mô hình cũng dao động khá lớn 0,25 – 1,5 triệu đồng/1.000m 2 /vụ (đã tính chi phí lao động gia đình)

Ý tưởng trồng cải xà lách: do các hộ có kinh nghiệm và truyền thống trồng rau

ăn lá, trong thời gian gần đây nhận thấy để ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu như: nắng nóng kéo dài, thiếu nước vào mùa khô, bên cạnh tình hình sâu bệnh xuất hiện nhiều làm ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống kinh tế của hộ nên thiếu vốn đầu tư tái sản xuất Nên hộ mới áp dụng mô hình trồng cải xà lách sử dụng

Trang 39

phân sinh học và hệ thống tưới phun sương, nhằm tiết kiệm lượng nước tưới và góp phần quản lý tốt hơn sâu bệnh.

(i) Tài chính

Trong mô hình này, các hộ được khảo sát đều trồng 3 vụ trong năm Qua kết

quả khảo sát cho thấy (Phụ lục 9):

- Chi phí để đầu tư cho mô hình sản xuất này rất thấp Tổng chi phí đầu tư cho

mô hình khoảng 3,5 - 4 triệu đồng/1.000m2/vụ, trong đó các khoản chi phí nguyênliệu đầu vào là 1,5 triệu đồng/1.000m2/vụ; chi phí thuê mướn ngoài và các khoản chiphí khác từ 0,7 - 1 triệu đồng/1.000m2/vụ; còn lại chủ yếu thể hiện qua giá trị laođộng gia đình

- Thời gian canh tác trung bình 45 ngày, tương đối phù hợp với mức tài chínhcủa những hộ nghèo do xoay vòng vốn nhanh

- Với mức vốn đầu tư thấp rất phù hợp cho hộ nghèo, mô hình có năng suất đạttương đối cao từ 0,7 – 0,8 tấn/công, nhưng mô hình đang đối mặt với tình trạng sâubệnh xuất hiện nhiều nên đã làm tăng chi phí sản xuất và thiệt hại đáng kể đến năngsuất Bên cạnh, do giá cả thấp và biến động nên lợi nhuận đạt được của mô hìnhcũng dao động khá lớn 0,25 – 1,5 triệu đồng/1.000m2/vụ (đã tính chi phí lao độnggia đình), trước đó hộ cũng đạt lợi nhuận khoảng 1,55 triệu đồng/1.000 m2/vụ rau Qua phân tích trên có thể thấy mô hình này đạt hiệu quả kinh tế tương đối thấp

do tình trạng sâu hại và giá cả đầu ra nhiều biến động Vì thế trong tiêu chí này mô

hình trồng xà lách được đánh giá đạt ở mức độ vừa phải (3 điểm).

(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu

Trồng xà lách không đòi hỏi nguồn nước tưới lớn Trong điều kiện khí hậu biếnđổi khắc nghiệt như hiện nay mô hình trồng xà lách vẫn cho năng suất tương đốikhá Nhưng do giá cả đầu ra biến động nên mức đóng góp vào thu nhập cho nông hộcòn khá thấp Vì thế mô hình trồng xà lách được đánh giá ở mức thích ứng vừa phải

với biến đổi khí hậu ở thời điểm hiện tại (3 điểm).

Trang 40

(iii) Khả năng nhân rộng mô hình

Mô hình trồng xà xách có yêu cầu về vốn đầu tư không cao, thời gian canh tácngắn, nông hộ trên địa bàn có nhiều kinh nghiệm sản xuất Tuy nhiên, hiện thịtrường đầu ra tương đối bất ổn và chỉ bán được cho các thương lái địa phương, bêncạnh tình trạng sâu hại xuất hiện rất phổ biến khá phúc tạp, gây thiệt hại đến năngsuất của các hộ trồng rất lớn Do vậy, khả năng nhân rộng của mô hình chỉ được

đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).

(iv) Sinh kế đa thu nhập

Mô hình trồng xà lách hiện cũng đang đóng góp vào thu nhập của hộ bởi có thểkết hợp với nhiều hoạt động kinh tế khác trong hoạt động kinh tế hộ, đặc biệt môhình phù hợp với các nông hộ có ít đất sản xuất (có thể tận dụng diện tích xungquanh nhà) và lao động nhàn rỗi Chính vì vậy, tiêu chí này được đánh giá ở mức độ

vừa phải (3 điểm).

(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức

Theo kết quả khảo sát mô hình hiện chưa có tác động xấu gì đến nguồn tàinguyên thiên nhiên Tuy nhiên đây là mô hình sản xuất sử dụng nhiều phân bón vàthuốc hóa chất do luôn xuất hiện nhiều sâu bệnh, vì thế ít nhiều cũng có tác độngđến môi trường Nhìn chung mô hình này đã thể hiện được những ưu điểm của nónhưng chưa thể hiện rõ rệt lắm về khả năng quản lý rủi ro dịch bệnh dựa vào kiến

thức có được nên tiêu chí này được đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).

(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng

Hiện mô hình chỉ phát triển theo hộ cá thể, chưa phát triển hình thức nuôi tổnhóm Do đây là hoạt động sản xuất trên cơ sở tận dụng lao động trong nông hộ.Chính vì vậy, mô hình trồng xà lách được đánh giá ở mức độ vừa phải về tính lợi

ích cho cộng đồng (3 điểm).

(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã

Ngày đăng: 20/04/2021, 21:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w