Ba giống/dòng lúa đột biến mới được chọn tạo tại bộ môn Di truyền Giống Nông Nghiệp CTUS1-M1-2, CTUS1-M1-3, CTUS1-M1-4 có thời gian sinh trưởng ngắn 101 ngày đã được đánh giá khả năng ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
CHUYÊN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU
MẶN CỦA 3 GIỐNG/DÒNG LÚA
ĐỘT BIẾN NGẮN NGÀY
QUAN THỊ ÁI LIÊN Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 62 62 01 01 Khóa: 2011-2014
Cần Thơ, tháng 5 năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
CHUYÊN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU
MẶN CỦA 3 GIỐNG/DÒNG LÚA
ĐỘT BIẾN NGẮN NGÀY
Người hướng dẫn Nghiên cứu sinh PGs Ts Võ Công Thành Quan Thị Ái Liên MSHV: 62011104
Cần Thơ, tháng 5 năm 2013
Trang 3Chuyên đề luận án Tiến sĩ: “Đánh giá khả năng chịu mặn của 3 giống/dòng lúa
đột biến ngắn ngày”, chuyên ngành Khoa học cây trồng khóa 2011-2014 do
Nghiên cứu sinh Quan Thị Ái Liên thực hiện.
Ý kiến của cán bộ hướng dẫn
Đồng ý bảo vệ trước hội đồng chấm chuyên đề luận án Tiến sĩ
Trang 4CHẤP NHẬN CHUYÊN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA HỘI ĐỒNG
Chuyên đề luận án Tiến sĩ đính kèm theo đây với tên là: “Đánh giá khả năng chịu
mặn của 3 giống/dòng lúa đột biến ngắn ngày” do Nghiên cứu sinh Quan Thị Ái
Liên thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm chuyên đề luận án Tiến sĩ thông
qua
Cần thơ, ngày……tháng…….năm 2013
Trang 5MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Ảnh hưởng của mặn lên giai đoạn giai đoạn mạ 2
1.2 Ảnh hưởng của mặn lên chiều cao cây và chiều dài rễ lúa 3
1.3 Ngưỡng chống chịu mặn của cây lúa 5
1.4 Một số kết quả nghiên cứu trong nước ứng dụng kỹ thuật thanh lọc khả năng chịu mặn giai đoạn cây con 5
1.5 Tính cấp thiết của chuyên đề nghiên cứu 7
1.6 Phạm vi nghiên cứu 8
1.7 Mục tiêu nghiên cứu 8
II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Vật liệu 9
2.1.1 Giống 9
2.1.2 Máy móc, thiết bị 9
2.1.3 Hóa chất 11
2.2 Phương pháp 12
III KẾT QUẢ THẢO LUẬN 15
3.1 Khả năng chịu mặn 15
3.2 Chiều cao cây sau 14 ngày thử mặn 16
3.3 Tỷ lệ sống sau 14 ngày thử mặn 17
IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 19
4.1 Kết luận 19
4.2 Đề nghị 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
PHỤ LỤC 26
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
g
3.1 Kết quả thử mặn của các giống/dòng lúa đột biến ngắn ngày 18
Trang 8TÓM LƯỢC
Những năm gần đây, nước biển đã xâm nhập sâu vào trong nội đồng của Đồng Bằng Sông Cửu Long Vì vậy, khu vực này rất cần một số giống lúa chịu được độ mặn cao Ba giống/dòng lúa đột biến mới được chọn tạo tại bộ môn Di truyền Giống Nông Nghiệp (CTUS1-M1-2, CTUS1-M1-3, CTUS1-M1-4) có thời gian sinh trưởng ngắn (101 ngày) đã được đánh giá khả năng chịu mặn theo phương pháp của IRRI (1997) Thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô phụ, với 5 nghiệm thức gồm
có 3 giống lúa đột biến, 1 giống lúa chuẩn nhiễm IR29 và 1 giống lúa chuẩn kháng
là Đốc Phụng, 3 lần lặp lại, 4 nghiệm thức xử lý muối là 8, 10, 12, 14‰ Kết quả sau thử mặn (IR29 ở cấp 9), cả 3 dòng lúa đột biến có khả năng chịu mặn biến thiên trong khoảng từ 10-12‰.
Trang 9I ĐẶT VẤN ĐỀ
Chọn giống lúa có khả năng chịu mặn đòi hỏi các kỹ thuật thanh lọc đáng tin cậy.Những kỹ thuật này phải nhanh chóng để có thể đánh giá nhanh với số lượng lớncác vật liệu giống được tạo ra Thanh lọc theo điều kiện thực tế là khó khăn dostress không đồng nhất, sự hiện diện của các stress liên quan đến đất và ảnhhưởng đáng kể của các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm tương đối, bức xạmặt trời Những sự phức tạp này, cùng với mức độ kiểm soát mặn và khả nănglặp lại, gây ra khó khăn trong việc phát triển và sử dụng phương pháp đáng tincậy để thanh lọc số lượng lớn các giống/dòng (Gregorio et al., 1997)
Lúa là một trong những cây trồng thích hợp nhất cho đất mặn mặc dù nó thườngđược coi là nhạy cảm trung bình với mặn (Akbar et al 1972, Korkor và Abdel-Aal 1974, Maas và Hoffman 1977, Mori et a1 1987) Đất mặn thường dưới điềukiện ngập nước, các cây trồng khác không thể phát triển được ngoại trừ lúa.Chống chịu mặn thường là sự tăng trưởng bền vững của cây trong môi trường đất
đã thấm NaCl và sự kết hợp nhiều loại muối khác
Các nghiên cứu trước đó được thực hiện trong điều kiện được kiểm soát là mặnlàm tổn thương cây lúa được gây ra bởi sự mất cân bằng thẩm thấu và tích lũyclorua (CI) ion (Iwaki et al 1953, Shimose 1963) Tuy nhiên, nghiên cứu gần đâychỉ ra rằng tổn thương là do natri hấp thu quá mức (Na), và clorua về bản chất làmột anion trung tính, chống chịu trên một phạm vi rộng của nồng độ (Clarkson
và Hanson 1980) Ảnh hưởng của Na+ và vai trò của K+ trong tế bào chất đã làmgiảm độc tính của Cl- Hơn nữa, sự mất cân bằng Na-K ảnh hưởng xấu đến năngsuất hạt (Devitt et al 1981) Cơ chế điển hình của chống chịu mặn trong lúa làloại trừ hoặc giảm hấp thu Na và gia tăng hấp thu của K để duy trì một sự cânbằng tốt Na-K trong chồi
Tuy nhiên, việc phát hiện các tổn thương mặn gây ra là rất phức tạp, ngay cảdưới điều kiện kiểm soát Hơn nữa, nó đòi hỏi phải phân tích mô đắt tiền và tốnthời gian Những triệu chứng nhiễm mặn được quan sát vẫn có thể là thích hợpnhất để thanh lọc hàng loạt Nhiễm mặn thường bắt đầu với giảm diện tích lá.Các lá già nhất bắt đầu cuộn, tiếp theo là các lá già hơn và cứ như vậy Cuốicùng, còn lại những lá non có màu xanh
Trang 10Một số nghiên cứu chỉ ra rằng lúa chống chịu mặn được trong quá trình nảymầm, trở nên rất nhạy cảm trong giai đoạn cây con sớm (giai đoạn 2-3 lá), tăngkhả năng chống chịu trong giai đoạn tăng trưởng thực vật, trở nên nhạy cảmtrong quá trình thụ phấn và thụ tinh, và sau đó ngày càng trở nên dễ thích nghihơn khi trưởng thành (Pearson et al 1966, IRRl 1967) Tuy nhiên, một số nghiêncứu cho rằng giai đoạn ra hoa, lúa không nhạy cảm với mặn (Kaddah et al 1975).
Về năng suất hạt, lúa chống chịu trong quá trình nảy mầm (Heenan et al, 1988),nhạy cảm với độ mặn trong quá trình xuất hiện và tăng trưởng cây giống sớm, trởnên chống chịu hơn trong phát triển thực vật và sau đó có thể trở nên nhạy cảmmột lần nữa trong quá trình tăng trưởng sinh sản (Pearson và Bernstein, 1959;Flower và Yeo, 1981; Khatun và Flower, 1995; Abdullah et al, 2001) Do đó, đểbiết phản ứng của cây lúa với mặn như một tổng thể, thì phải quan sát tất cả cácgiai đoạn khác nhau của sự phát triển của nó, đó là lúc cây con sớm, giai đoạnsinh dưỡng và sinh sản
Một phương pháp thanh lọc khả năng chịu mặn có thể dễ dàng chấp nhận đượckhi dựa trên một tiêu chí đơn giản để lựa chọn, nó có thể thanh lọc nhanh sốlượng lớn các vật liệu và kết quả tái sản xuất Trong giống cây trồng, di truyền vàsinh hóa 2 Division (PBGB), IRRI, kỹ thuật thanh lọc đã được phát triển để sửdụng ở giai đoạn cây con Thanh lọc được thực hiện trong điều kiện có kiểm soát
để giảm thiểu tác động môi trường
1.1 Ảnh hưởng của mặn lên giai đoạn mạ
Cây lúa giành được sự chống chịu trong thời gian sinh trưởng dinh dưỡng, sựchống chịu này thường tương quan với thời kỳ mạ (Iwaki, 1956; Pearson vàBernstein, 1959; Kaddah và Fakhry, 1961) Pearson (1961), cây lúa rất khángmặn trong giai đoạn nảy mầm nhưng lại nhiễm trong thời kỳ có 2 lá đầu tiên vàtính kháng của nó lại tăng lên trong giai đoạn đẻ nhánh, vươn lóng, giảm xuốnggiai đoạn nở hoa, trong giai đoạn chín nó ít bị ảnh hưởng
Đầu giai đoạn mạ, mặn gây ra sự khô và cuộn tròn lá, màu nâu của chóp lá vàcuối cùng là sự chết cây mạ (Tagawa and Ishizaka, 1965) Nhiều nghiên cứu ghinhận rằng tính chống chịu mặn xảy ra ở giai đoạn hạt nẩy mầm, sau đó trở nênrất mẫn cảm trong giai đoạn mạ (tuổi lá 2-3), rồi trở nên chống chịu trong giaiđoạn tăng trưởng, kế đến nhiễm trong thời kỳ thụ phấn và thụ tinh, cuối cùng thể
hiện phản ứng chống chịu trong thời kỳ hạt chín (Pearson et al 1966) Sự nảy
Trang 11mầm khoảng 80-100% xảy ra ở EC = 25-30 mS cm-1 (16-19,2‰), ở 250C của
dung dịch mặn sau 14 ngày (Pearson et al., 1966) Giá trị EC làm giảm 50% số
cây ở một tuần tuổi sau khi cấy dao động từ 20-30 mS cm-1 (12,8-19,2‰) trongkhi mức tới hạn (LD50) của mặn cho sinh trưởng của cây mạ khoảng 5 mS cm-1
(3,2‰) (Pearson et al., 1966) Những thông số như: vật chất khô, chiều cao cây
mạ, chiều dài rễ giảm một cách có ý nghĩa ở 5 – 6 mS/cm, LD50 cho phần trăm
nảy mần và những đặc điểm của cây mạ khác nhau giửa các giống lúa (Ota et al., 1958; Pearson et al., 1966) Cây lúa mẫm cảm nhiều trong giai đoạn cây mạ non
(2-3 lá) hơn trong thời gian nảy mầm (Akbar và Yabuno, 1974; Pearson và ctv.,1966)
Nói chung, triệu chứng gây hại của mặn xuất hiện trước hết trên lá thứ nhất, sau
đó đến lá thứ hai và cuối cùng đến lá trưởng thành Mặn ngăn cản sự kéo dài lá
và hình thành lá mới (Akbar, 1975)
Các giống lúa chống chịu được mặn trong thời gian nảy mầm, do vậy nhiềunghiên cứu tính chống chịu mặn được bố trí ở giai đoạn cây con (Mohammadi-Nejad và ctv., 2008; Sabouri và ctv., 2009)
1.2 Ảnh hưởng của mặn lên chiều cao cây và chiều dài rễ lúa
Akbar et al (1972) cũng cho rằng trong suốt giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng,
chiều cao cây, trọng lượng rơm, trọng lượng khô của rễ và chiều dài rễ tất cả đều
bị ảnh hưởng bất lợi của mặn Theo Akbar et al (1972), sự sinh trưởng ở ngọn
thường bị ngăn cản bởi mặn hơn sự sinh trưởng ở rễ và mặn ảnh hưởng sự kéodài rễ hơn sự sản xuất vật chất khô ở rễ
Lúa rất nhạy cảm với độ mặn ở giai đoạn cây con Chiều cao của nó, chiều dài rễ,
sự xuất hiện của rễ mới, và chất khô giảm đáng kể tại EC (độ dẫn điện) 5-6 dSm-1(Pearson et al 1966, Akbar và Yabuno 1974) Stress mặn biểu hiện giai đoạn đầucủa cây con trên lá đầu tiên, tiếp theo là thứ hai và cuối cùng là lá đang pháttriển Độ mặn ức chế kéo dài lá và hình thành các lá mới Chức năng quang hợp
và chất diệp lục là tỉ lệ nghịch với mức độ mặn (Ota và Yasue 1962) Các kỹthuật thanh lọc phát triển dựa trên khả năng của cây con phát triển trong dungdịch dinh dưỡng mặn
Akita (1986) thì cho rằng thiệt hại do mặn thể hiện trước hết là giảm diện tích lá.Trong điều kiện thiệt hại nhẹ, trọng lượng khô có xu hướng tăng lên trong một
Trang 12thời gian sau đó giảm nghiêm trọng Trong điều kiện thiệt hại nặng hơn, trọnglượng khô của chồi và rễ suy giảm tương ứng với mức độ thiệt hại Ở giai đoạn
mạ, lá già sẽ bị ảnh hưởng sớm hơn lá non
Chiều cao cây thay đổi đáng kể với mức độ mặn khác nhau và chiều cao câygiảm khi mức độ mặn tăng Saxena and Pandey (1981) đã kết luận rằng chiều caocây giảm một cách tuyến tính với việc gia tăng mức độ mặn Shalhevet (1995)báo cáo rằng mặn làm giảm sự sinh trưởng của chồi hơn sự sinh trưởng của rễ
dựa trên việc đo trọng lượng khô hơn việc đo chiều dài Khan et al (1997) đã
tiến hành thí nghiệm với ba giống lúa kết luận rằng chiều cao cây lúa đã bị giảmnghiêm trọng bởi mặn Còn theo Phạm Thị Phấn (1999), ở nồng độ muối càngcao thì chiều cao cây và chiều dài rễ càng giảm
Zelensky (1999), cho rằng sự ức chế cây lúa dưới điều kiện mặn làm cho chiềucao cây thấp hơn Chiều cao cây cho thấy mối tương quan thuận có ý nghĩa vớidiện tích lá cờ và trọng lượng hạt, nó cũng có mối tương quan nghịch với sốbông/buội, số hạt/bông và độ thụ tinh của hạt (Thirumeni và Subramanian, 1999).Nếu lượng muối thừa đi vào trong cây thì nồng độ muối tăng lên tới mức gây độc
ở những lá già hơn gây ra sự già sớm và giảm diện tích lá quang hợp của cây tớimức không thể duy trì sinh trưởng (Munns, 2002)
Còn theo Choi et al (2003), quan sát thì thấy rằng chiều cao giảm ở nước mặn
5‰ trong đất
Có mối tương quan nghịch giữa xử lý mặn với số chồi, chiều cao và sinh khối.Một trong những lý do giảm chiều cao có thể là nồng độ cao thật sự của muốihòa tan trong đất và áp suất thẩm thấu đã tạo ra sự xáo trộn trong việc hấp thu
nước và các chất dinh dưỡng khác (Gain et al., 2004)
Mặn làm giảm sinh trưởng của cây thông qua các ảnh hưởng thẩm thấu, làmgiảm khả năng hấp thu nước và điều kiện này gây ra sự giảm sinh trưởng(Shereen và ctv., 2005)
Chiều cao giảm ở các cây được bổ sung với NaCl và tỷ lệ mất mác của chúng là
tỷ lệ thuận với nồng độ NaCl Sự giảm tối đa được nhận thấy ở các cây nhậnnồng độ muối cao nhất (150mM NaCl), trong đó chiều cao cây bị giảm 11,6 và10,2% ở 60 và 75 ngày tuổi (Khan và ctv., 2007)
Trang 13Độ mặn cao có thể gây ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây lúa như chiều caocây lúa bị ức chế và giảm khoảng 6% so với điều kiện không mặn (Nguyễn ThịBắp, 2009)
Chiều cao cây giảm với việc gia tăng mức độ mặn Ảnh hưởng của mặn lên sựkéo dài của cây ở các giống khác nhau thì khác nhau có thể do khả năng di truyền
của giống (Hasamuzzaman et al., 2009)
Chiều cao cây của các kiểu gen khác nhau bị ảnh hưởng đáng kể từ các mức độmặn khác nhau Phần trăm chiều cao tương đối bắt đầu giảm ở mức độ mặn3dSm-1 (Razzaque và ctv., 2009)
1.4 Ngưỡng chống chịu mặn của cây lúa
Lúa giảm 50% năng suất ở độ mặn đất ECe là 3,6 dSm-1 và sẽ không cho năngsuất ở 18 dSm-1 (Wahhab, 1961)
Có 2 thông số thể hiện khả năng chống chịu mặn đất (ECe): Ngưỡng chịu mặn cónghĩa là độ mặn tối đa cho phép mà không giảm năng suất và độ dốc là tỷ lệ phầntrăm năng suất giảm cho mỗi đơn vị tăng độ mặn vượt quá ngưỡng Ngưỡng chịu
mặn và độ dốc của lúa (Oryza sativa) là 3 dSm-1 và 12%/1 dSm-1 (Mass vàHoffman, 1977)
Lúa được xếp vào nhóm cây trồng tương đối chịu mặn Ngưỡng chống chịu NaClcủa cây lúa là EC = 4 dS m-1 (2,56‰) (Sathish et al., 1997)
Còn theo Grattan et al (2002), thì ngưỡng chống chịu mặn đang được công bố
cho cây lúa có giá trị EC = 3 dS m-1 (1,92‰)
1.3 Một số kết quả nghiên cứu trong nước ứng dụng kỹ thuật thanh lọc khả năng chịu mặn giai đoạn cây con
Võ Quang Minh et al (1990) đã khảo sát ảnh hưởng nồng độ mặn và thời kỳ
nhiễm mặn trên năng suất lúa A96-1 và cho rằng ảnh hưởng của mặn chủ yếulàm gia tăng áp suất thẩm thấu trong dung dịch đất làm cây khó hấp thu nước vàdưỡng chất; từ đó sinh trưởng và phát triển của cây bị ảnh hưởng, nồng độ muốitrong dung dịch đất càng cao và thời gian nhiễn mặn càng sớm thì cây càng phát
Trang 14triển kém Đối với lúa, ở nồng đô 6g/l (6‰) cây bị chết hoàn toàn khi bị nhiễmmặn ở giai đoạn nảy mầm và giai đoạn mạ (15 NSKG), ở nồng độ 2 và 4g/l (2 và4‰) cây lúa vẫn còn sống nhưng năng suất giảm rất nhiều.
Bùi Chí Bửu et al (2000) đã chọn tạo giống lúa cho vùng bị nhiễm mặn ven
biển, thích nghi mực nước sâu 30 – 50 cm, kháng hạn và kháng mặn đầu vụ ởmức 4-6 ds/m Các giống có triển vọng đã được chọn khuyến cáo cho vùngnhiễm mặn là OM2031, OM1490, OM1314 cho nhóm lúa sớm và Tép Hành độtbiến, thuộc nhóm lúa trung mùa
Hai giống Đốc Đỏ và Đốc Phụng cũng đã được đánh giá như nguồn cho gen
kháng mặn ở ĐBSCL (Bùi Chí Bửu et al., 1995), Viện Lúa ĐBSCL đã thanh lọc
418 mẫu giống lúa địa phương trong điều kiện mặn 6-12dS/m, có 44 mẫu giốngchống chịu tốt là Nàng Co Đỏ, Sóc Nâu (Bửu và ctv 1995)
Nguyễn Thị Lang et al (2001) đã nghiên cứu chuyên đề cải tiến giống lúa chống
chịu mặn ở ĐBSCL với vật liệu là các giống lúa địa phương cổ truyền, các giốngcải tiến trong chương trình lai, các giống đối chứng Pokkali và A69-1 (chuẩnkháng), IR28 (chuẩn nhiễm) Kết quả thanh lọc mặn ở giai đoạn mạ sau 3 tuần xử
lý mặn cho thấy hai giống Đốc Đỏ và Đốc Phụng có điểm chống chịu mặn tươngđương với giống chuẩn kháng Pokkali (điểm chống chịu là 3 và 5 ở độ mặn 6dS/m (3,84‰) và 12 dS/m (7,68‰)
Đốc Đỏ, Đốc Phụng, Trái Mây, Cà Đung Trắng chống chịu tốt trong điều kiệnmặn 6-12dSm-1 (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2003)
Nguyễn Thanh Tường (2011) đã nghiên cứu đánh giá sự sinh trưởng và năng suấtcủa 9 giống lúa chống chịu mặn trồng trên đất lúa – tôm tại Bạc Liêu và kiểm trakhả năng chịu mặn của 56 giống lúa mùa có khả năng chịu mặn bằng điện diDNA với vật liệu là các giống lúa mùa thuộc tập đoàn giống của bộ môn Ditruyền giống Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ,
17 giống cao sản ngắn ngày, 1 giống chuẩn kháng đốc phụng và 2 giống chuẩnnhiểm IR28, IR29 Kết quả đã chọn được 3 giống lúa cao sản OM5629,OM6677, OM6377 và 4 giống lúa mùa Nàng thơm Chợ Đào, Tài Nguyên (LA),Tài Nguyên (TG), Một bụi đỏ có khả năng chống chịu EC từ 3 - 3,53 mS/cm.Dương Kim Liên, 2011 Thanh lọc tính chống chịu mặn của một số giống lúa caosản ngắn ngày tại Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn mạ, giai đoạntăng trưởng và sinh sản Tất cả các giống lúa đều có khả năng chịu mặn ở nồng
độ từ 4 - 6‰ Riêng IR29 là giống chuẩn nhiễm nên bị chết hoàn toàn vào giaiđoạn sau 23 ngày tiến hành thanh lọc Kết quả thu được từ năng suất của các
Trang 15giống lúa thí nghiệm đã chọn ra được 4 giống lúa triển vọng là OM 6976, A69-1NCM, OM 5464, OM 5451 có các đặc tính nông học và hình thái tốt, năng suấtvượt trội và có khả năng chịu mặn cao nhất so với các giống còn lại trong thínghiệm.
1.5 Tính cấp thiết của chuyên đề nghiên cứu
Vùng trồng lúa bị nhiễm mặn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) ướckhoảng 700.000 ha Mặn xâm nhập từ tháng 12 đến tháng 5 Nông dân ở đầythường chờ mưa để trồng lúa Tuy nhiên do lượng mưa thất thường, cây lúa vẫn
có thể bị mặn gây hại ở giai đoạn mạ, hoặc giai đoạn trỗ đến chín (Bùi Chí Bửu,Nguyễn Thị Lang, 2003) Vùng canh tác lúa-tôm ở ĐBSCL, vụ nuôi tôm từ tháng
12 đến tháng 5 mặn xâm nhập, người dân canh tác lúa tôm thường chờ mưaxuống để rửa mặn khoảng 2 tháng rồi tiến hành xuống giống, nếu khâu rửa mặnkhông kỹ khi xuống giống, đầu vụ giai đoạn mạ bị ảnh hưởng mặn lúa rất dễ bịchết, và đến cuối tháng 11 mặn bắt đầu xâm nhập nên cần chọn giống lúa ngắnngày để tránh mặn giai đoạn cuối vụ
Trong năm 2011, toàn vùng ĐBSCL gần như không có cơn mưa trái mùa nào nênthời tiết nắng nóng, khô hạn ngày càng quyết liệt, đặc biệt mức độ xâm nhập mặnđang lan rộng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống và sản xuất củangười dân Tại Hậu Giang, Trà Vinh, Long An, các tỉnh vùng Bán đảo Cà Maunhư Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu tình trạng mặn xâm nhập và nước biển dângđang ảnh hưởng trực tiếp đến hàng ngàn hécta đất canh tác lúa - tôm ở vùng đấtnày (Viện khoa học thủy lợi Miền Nam, 2011)
Chính vì những vấn đề nêu trên nên việc chọn ra giống lúa ngắn ngày có khảnăng chịu mặn cao có thể giúp người nông dân chủ động trong việc xuống giốngđúng lịch thời vụ Bên cạnh đó việc tạo ra giống ngắn ngày chịu mặn cao còngiúp tăng vụ, tăng thu nhập cho người dân ở vùng trồng lúa tôm, đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia là vấn đế hết sức cấp thiết Chuyên đề: “Đánh giá khả
năng chịu mặn của 3 giống lúa đột biến ngắn ngày” được thực hiện nhằm mục
tiêu bước đầu đánh giá khả năng chịu mặn của 3 giống lúa đột biến ngắn ngày ởgiai đoạn mạ
Trang 161.6 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 06/2012 đến tháng 12/2012
Địa điểm: Phòng thí nghiệm Di truyền giống Thực Vật, Bộ môn Di Truyền GiốngNông Nghiệp, Khoa Nông Nghiệp & SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ
1.7 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá khả năng chịu mặn của 3 giống lúa đột biến ngắn ngày, chọn đượcgiống có khả năng chịu mặn cao
Trang 17II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
2.1.1 Giống
3 giống/dòng lúa đột biến ngắn ngày từ giống CTUS1 (Lúa Sỏi) Bảng 2.1
Bảng 2.1 Một số đặc tính nông học của 3 giống lúa đột biến ngắn ngày
STT Tên giống/dòng TGST (ngày) Cao cây (cm) A (%) P (%)
Trang 18Hình 2.2 Cân phân tích và micropipette
Tấm xốp (dày 4.25 và 2,5 cm để làm nổi cây giống)
Lưới nylon (loại chống côn trùng)
Thùng chứa: hình trụ nhựa, 50-lít và 100-lít