1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÁTTRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ KHIẾM THÍNH MẦM NON

146 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 876,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Quan điểm cơ bản của sự tác động ngôn ngữ quy luật, điều kiện; - Nội dung và cấu tạo ngôn ngữ của trẻ khiếm thính; - Các phương pháp giao tiếp đặc biệt của trẻ khiếm thính; - Con đường

Trang 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ KHIẾM THÍNH MẦM NON

Bài 1: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính là một khoa học

1 Khái niệm, đối tượng và nhiệm vụ của PP PTNN cho trẻ khiếm thính mầm non

1.1 Khái niệm:

Phương pháp phát triển ngôn ngữ (PP PTNN) cho trẻ khiếm thính là một bộ môn

sư phạm, dựa trên những nguyên tắc của lý luận dạy học nhằm làm sáng tỏ những vấn đề

cơ bản về hệ thống các phương pháp hình thành ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính có thể xem là một môn khoahọc thuộc ngôn ngữ học ứng dụng Dựa trên cơ sở của ngôn ngữ học và một số ngànhkhoa học cơ bản khác Phương pháp PTNN cho trẻ khiếm thính xác định phương hướng,nội dung, phương pháp trong việc dạy ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính

1.2 Đối tượng: hệ thống phương pháp hình thành ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính

- Quan điểm cơ bản của sự tác động ngôn ngữ (quy luật, điều kiện);

- Nội dung và cấu tạo ngôn ngữ của trẻ khiếm thính;

- Các phương pháp giao tiếp đặc biệt của trẻ khiếm thính;

- Con đường phát triển ngôn ngữ trong điều kiện ngôn ngữ tự nhiên bị cản trở dotổn thương thính giác ở trẻ khiếm thính;

1.3 Nhiệm vụ

- Xây dựng cơ sở lý luận ban đầu về sự hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếmthính dựa trên những nghiên cứu khoa học về sự phát triển tâm - sinh lý và ngôn ngữ

- Phát triển và mở rộng những khái niệm tâm lý, kiến thức về ngôn ngữ và giao tiếp

- Xác định nguyên tắc, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp của hoạt động dạy ngôn ngữcho trẻ khiếm thính

- Tìm hiểu những điều kiện phát triển ngôn ngữ của trẻ bị rối loạn trong phát triển ngônngữ do tổn thương thính giác

- Nghiên cứu và thực hiện việc xác định mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính

từ đó xác định những điều kiện dạy học tương ứng, phân tích chương trình, xây dựng kếhoạch và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính

- Xây dựng hệ thống kỹ năng dạy ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính

- Đưa ra quan điểm tối ưu về khả năng của trẻ trong việc lĩnh hội các biện pháp giao tiếpbằng lời và phát triển hoạt động tư duy ngôn ngữ

2 Mối liên hệ giữa PP PTNN cho trẻ khiếm thính với các ngành khoa học khác

Trang 2

Cũng như các ngành khoa học khác, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻkhiếm thính có quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học: triết học, ngôn ngữ học, tâm

lý học, tâm lý học, giáo dục học, sinh lý học…

2.1 Mối quan hệ với Triết học Mác – Lê nin

Học thuyết Mác – Lênin đã chỉ ra rằng: Ngôn ngữ bắt đầu từ lao động, bắt nguồn

từ nhu cầu giao tiếp giữa con người với con người trong lao động và trong cuộc sống Ởtrẻ khiếm thính, ngôn ngữ phát triển trong quá trình giao tiếp giữa trẻ với môi trườngxung quanh Trẻ bắt chước mọi người nói và được mọi người dạy

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính dựa trên quy luật biệnchứng, nhìn nhận sự phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính như sự chuyển đổi từ lượngthành chất Lúc đầu, ngôn ngữ của trẻ chỉ là những từ riêng lẻ xuất phát từ sự nhận thứcthế giới xung quanh, trẻ chưa thể nói thành câu hoàn chỉnh Qua quá trình tiếp xúc vớimọi người, vốn ngôn ngữ của trẻ tăng lên, trẻ học được cách nói được thành câu hoànchỉnh

2.2 Mối quan hệ với ngôn ngữ học:

Là một khoa học ngôn ngữ ứng dụng, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻkhiếm thính có mối quan hệ khăng khít với ngôn ngữ học Phương pháp phát triển ngônngữ cho trẻ khiếm thính nhằm hướng đến mục đích là giúp trẻ nắm vững ngôn ngữ mẹ

đẻ Trong đó các yếu tố của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ là nội dung của quá trình phát triểnngôn ngữ cho trẻ khiếm thính Nó sẽ quyết định phương pháp và hình thức tổ chức quátrình phát triển ngôn ngữ

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính phải dựa trên những thànhtựu nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ngôn ngữ học để không ngừng cải tiến nội dung

và phương pháp dạy nói cho trẻ khiếm thính

2.3 Mối quan hệ với tâm lý học:

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính sử dụng những thành tựukhoa học của tâm lý học, tâm lý học ngôn ngữ về các quy luật phát triển ngôn ngữ, cácgiai đoạn phát triển ngôn ngữ, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển ngôn ngữcủa trẻ em nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng để xây dựng nội dung, phương pháp,hình thức tổ chức, thiết kế môi trường phù hợp, xác định rõ những điều kiện cần thiết choquá trình phát triển ngôn ngữ ở trẻ khiếm thính

2.4 Mối quan hệ với giáo dục học

Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính là một bộ môn khoa họcchuyên nghiên cứu các qui luật hoạt động sư phạm nhằm hình thành và phát triển ngônngữ cho trẻ khiếm thính Nó là một bộ phận của giáo dục học trước tuổi học Cho nên, nó

có mối quan hệ mật thiết với giáo dục học Cũng như những môn học khác, phương phápPTNN cho trẻ khiếm thính góp phần thực hiện các mục tiêu giáo dục trẻ Từ mục tiêu

Trang 3

chung đó, phương pháp PTNN cho trẻ khiếm thính xác định mục đích của mình là PTNNcho trẻ khiếm thính để giao tiếp

Mặc khác, muốn dạy trẻ đạt kết quả, giáo viên phải đảm bảo các nguyên tắc tronggiáo dục học như: tính khoa học, tính hệ thống, tính trực quan, nguyên tắc vừa sức tiếpthu và nguyên tắc lý luận kết hợp với thực tiễn

Phương pháp PTNN cho trẻ khiếm thính phải dựa trên giáo học pháp đại cương đểlựa chọn những phương pháp đảm bảo cho sự tích cực của đứa trẻ, lựa chọn những điềukiện PTNN cho trẻ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính còn sử dụng những thànhtựu mới trong lĩnh vực giáo dục học như: Khẳng định việc dạy trẻ ở mọi lúc mọi nơi, kếthợp giữa hình thức làm việc tập thể và làm việc cá nhân

Tóm lại, giáo dục học là cơ sở để xác định nội dung và phương pháp tốt nhất đểdạy trẻ khiếm thính giao tiếp

2.5 Mối quan hệ với giải phẫu sinh lý:

Mối liên hệ này được coi là cơ sở tự nhiên của PP PTNN cho trẻ khiếm thính Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: ngôn ngữ là hệ thống tín hiệuthứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não Học thuyết này đảm bảo chophương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính lựa chọn đúng các phương pháptrong việc dạy nói cho trẻ khiếm thính, nhấn mạnh hiệu quả của những phương pháp tíchcực: tích cực nhận thức và tích cực thực hành ngôn ngữ

Chính vì ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ báncầu đại não cho nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính phải liên quan mật thiếtvới việc phát triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung Các nhà giảiphẫu đã khẳng định: trong ba năm đầu là kết thúc sự trưởng thành về mặt giải phẫunhững vùng não chỉ huy ngôn ngữ Vì thế, cần phải phát triển ngôn ngữ đúng lúc mới đạtkết quả tốt

Kết luận: Bộ môn phương pháp PTNN cho trẻ khiếm thính có quan hệ khăng khítvới nhiều ngành khoa học khác Dựa trên cơ sở của các ngành khoa học mà phương phápphát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính tìm ra những cách đúng nhất để dạy trẻ

3 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ khiếm thính:

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người Nhờ ngôn ngữ mà conngười có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm

sự với nhau những nỗi niềm thầm kín v.v…

Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùngqúy báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó” (Ngôn ngữ và lý luận vănhọc - Tài liệu dùng trong các trường sư phạm MG)

Trang 4

Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước, chúng ta càng thấy rõ vaitrò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo trẻ trởthành những con người phát triển toàn diện.

3.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ:

U.Sinxki đã nhận định: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn qúycủa mọi tri thức” (Phát triển ngôn ngữ, Nguyên bản tiếng Nga, NXB Matxcơva, tr.3)

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ Trước hết, ngôn ngữ

là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh Bởi vì, sự phát triển trí tuệ ở trẻchỉ diễn ra khi trẻ lĩnh hội những tri thức về sự vật và hiện tượng xung quanh Song sựlĩnh hội những tri thức đó lại không thể thực hiện được khi không có ngôn ngữ

Ví dụ: Khi dạy trẻ từ “quả cam” chúng ta cho trẻ quan sát, cho trẻ nhận biết về têngọi, đặc điểm của quả cam đó gắn với các từ tương ứng như quả cam, vỏ cam, múi cam,hạt cam, cam ăn có vị ngọt

Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy Trẻ em cónhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh, trong quá trình nhận thứcnhững sự vật và hiện tượng, muốn cho trẻ phân biệt được vật này với vật khác, biết đượctên gọi, màu sắc, hình dáng, công dụng và những thuộc tính cơ bản của vật, nếu chỉ chotrẻ xem mà không dùng từ ngữ để giải thích, hướng dẫn và khẳng định những kết quả đãquan sát được thì những tri thức mà trẻ thu được đó nhất định sẽ hời hợt, nông cạn, có khicòn sai lệch hẳn Trong khi nhận biết các sự vật đó, trẻ phải dùng từ để gọi tên sự vật, têncác chi tiết, đặc điểm, tính chất, công dụng của sự vật, từ đó trẻ biết phân biệt sự vật nàyvới sự vật khác

Khi đứa trẻ đã lớn Nhận thức của trẻ phát triển Trẻ không chỉ có nhận biết những

sự vật, hiện tượng gần gũi với trẻ mà trẻ còn muốn biết những sự vật, hiện tượng trẻkhông trực tiếp nhìn thấy Trẻ muốn biết về quá khứ và tương lai Trẻ muốn biết về côngviệc của người lớn, của bố mẹ Trẻ muốn biết về Bác Hồ, về chú bộ đội …

Để đáp ứng nhu cầu nhận thức đó của trẻ, không có cách nào khác là thông qua lời

kể của người lớn, thông qua các tác phẩm văn học… có kết hợp hình ảnh trực quan

Khi đã có một vốn ngôn ngữ nhất định, trẻ sử dụng ngôn ngữ như phương tiệnbiểu hiện nhận thức của mình Trẻ có thể dùng lời để diễn đạt những hiểu biết, những suynghĩ, những cảm xúc của mình Trẻ hiểu được lời chỉ dẫn của người lớn, của giáo viên thìcác hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy của trẻ được chính xác, kích thích trẻ tích cựchoạt động, kích thích trẻ nói và sự hiểu biết của trẻ càng được nâng lên

Trẻ còn dùng ngôn ngữ để đặt ra muôn vàn câu hỏi, yêu cầu, nguyện vọng, thểhiện biết bao thái độ, tình cảm yêu ghét, thương cảm… Biểu hiện bằng ngôn ngữ giúpcho nhận thức của trẻ đựơc củng cố sâu sắc hơn, tạo cho trẻ được sống trong môi trường

có các hoạt động giao tiếp, trên cơ sở đó nảy sinh ra nhiều suy nghĩ sáng tạo mới Vì vậy,

Trang 5

trong các trường mầm non, khi cho trẻ tiến hành các hoạt động vui chơi, lao động, họctập… cần phải tạo điều kiện và kích thích trẻ nói.

Một trong những phương pháp để kiểm tra nhận thức của trẻ là phải thông quangôn ngữ

Rõ ràng ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ.Thông qua ngôn ngữ, trẻ có thể nhận thức thế giới xung quanh một cách sâu rộng, rõràng, chính xác Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực sáng tạo trong hoạt động trí tuệ Vì vậy, việcphát triển trí tuệ cho trẻ không tách rời với sự phát triển ngôn ngữ

3.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức:

Phát triển và hoàn thiện dần ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non không những có

ý nghĩa to lớn trong việc phát triển trí tuệ mà còn có tác dụng quan trọng đối với việcgiáo dục tình cảm, đạo đức Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầuhiểu biết và lĩnh hội những khái niệm, những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xãhội Tuy mới chỉ là những khái niệm ban đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chấtquyết định đến việc hình thành những nét tính cách riêng biệt của mỗi con người trongtương lai Muốn cho trẻ hiểu và lĩnh hội được những khái niệm đạo đức này, chúng takhông thể chỉ thông qua những hoạt động cụ thể hoặc những sự vật, hiện tượng trực quanđơn thuần mà phải có ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ có thể thể hiện được gần đầy đủnhững nhu cầu, nguyện vọng và tình cảm của mình Cũng nhờ có ngôn ngữ mà nhữngnhà giáo dục và các bậc cha mẹ có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ đó có thể uốnnắn, giáo dục và xây dựng cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức trong sáng nhất

Ví dụ: khi trẻ được nghe kể chuyện “Ba cô gái”, trẻ sẽ nhận ra rằng: Cô Cả và CôHai không thương mẹ nhiều Chỉ có Cô Út mới thực lòng thương mẹ và cô được sốngcuộc đời hạnh phúc Từ đó, trẻ có suy nghĩ và hành động sao cho tốt hơn

Tóm lại: ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ.Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ dồi dào những hiểu biết vềnhững nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tình cảm và hành vi đạođức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống

3.3 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mỹ:

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ thốngnhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên,trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo

Trang 6

đó giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn về giá trị thẩm mỹ, tâm hồn trẻ sẽ nhạy cảm hơn đối với cáiđẹp Và khi cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học, trẻ có thể tìm thấy ở đó nhữnghình tượng nhân vật điển hình, mỗi nhân vật mang một sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng(những nét đẹp về thể chất và tâm hồn) Từ đó, trẻ tự biết mình phải sống như thế nào?

VD: Khi được nghe người lớn kể chuyện “Tấm Cám”, trẻ tìm thấy ở cô Tấmnhững nét đẹp bề ngoài và những nét đẹp trong tâm hồn: Hiền lành, đôn hậu, chịu khó,còn cô Cám lười biếng, độc ác, tham lam … trẻ hiểu rằng phải sống đẹp như cô Tấm

Chúng ta có thể khẳng định rằng ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào quá trìnhgiáo dục cho trẻ những tình cảm thẩm mỹ cao đẹp

3.4 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực:

Giáo dục thể lực trong trường MN là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể trẻ, tổchức cho trẻ vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh, tổ chức tốt chế độ sinh hoạtnhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ phát triển hài hoà, cân đối, sức khoẻ tăng cường đạtđến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất

Để giáo dục thể lực cho trẻ, các nhà giáo dục học đã kết hợp nhiều phương phápkhác nhau Trong đó, ngôn ngữ đóng góp một vai trò quan trọng

Trong chế độ sinh hoạt hàng ngày, giáo viên và người lớn đã dùng ngôn ngữhướng dẫn trẻ thực hiện tốt các yêu cầu do mình đề ra, góp phần làm cho cơ thể trẻ pháttriển Đặc biệt, trong các giờ thể dục, giáo viên đã dùng lời, tạo điều kiện giúp trẻ thựchiện chính xác các động tác thể dục làm cho cơ thể trẻ phát triển cân đối Ngoài chế độsinh hoạt hàng ngày, trẻ còn phải được ăn ngon, ăn đủ chất thì cơ thể trẻ mới được pháttriển hoàn thiện Trong khi trẻ ăn, người lớn cần phải dùng ngôn ngữ động viên, kíchthích trẻ ăn được nhiều và ăn ngon hơn

Kết luận: Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thànhnhững con người phát triển toàn diện Sự phát triển chậm trễ về mặt ngôn ngữ có ảnhhưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ Cho nên, các nhà giáo dục cần phải đề ranhiệm vụ, nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc và phù hợp vớilứa tuổi

4 Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính:

4.1 Nhiệm vụ:

- Hình thành cho trẻ những nhận thức, cảm giác về tiếng mẹ đẻ

- Giúp trẻ có khả năng phát âm đúng các âm, các thanh tiếng mẹ đẻ, biết sử dụng, sắp xếp

từ theo đúng cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt, biết diễn đạt mạch lạc ý nghĩ của mình

- Chuẩn bị cơ sở cho trẻ học môn tiếng Việt ở cấp 1, giúp trẻ có khả năng thực hành tiếngViệt, biết nhận diện chữ cái ghi âm tiếng Việt, biết ngồi đúng tư thế, biết cách cầm bútkhi tập tô chữ cái theo mẫu

Trang 7

4.2 Nội dung:

- Luyện cho trẻ phát âm đúng, rõ ràng, biểu cảm âm thanh tiếng mẹ đẻ

- Làm giàu, củng cố, tích cực hoá vốn từ cho trẻ

- Giúp trẻ nói đúng cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt

- Dạy trẻ nói rõ ràng, mạch lạc

- Giúp trẻ làm quen với chữ cái ghi âm tiếng Việt

4.3 Các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính

Để thực hiện nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính trong trường mầmnon, các nhà giáo dục có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Các phương pháp đóđược tập trung trong ba nhóm chính sau:

4.3.1 Nhóm phương pháp trực quan:

Nhóm phương pháp trực quan được sử dụng nhằm vào các mục đích sau:

- Rèn luyện phát âm cho trẻ Dạy cho trẻ cách thức phát âm

- Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ

- Củng cố kiến thức, củng cố vốn từ

Trikheeva đã nói: “Ngôn ngữ phát triển bằng con đường trực quan cụ thể” Cho nênphương pháp trực quan là cần thiết, không thể thiếu được trong việc PTNN

Trong trường mầm non hiện nay, chúng ta sử dụng các dạng trực quan sau:

4.3.1.1 Trực quan bằng vật thật: Đó là hình thức cho trẻ được tiếp xúc với vật cụ thể (trẻ

được nhìn, được xem, được sờ, nếm, ngửi … vật có trong cuộc sống) Xem xét vật thậtgiúp trẻ nhận biết, tri giác một cách khái quát và cụ thể từng chi tiết của vật

Ví dụ: Chúng ta cho trẻ xem xét quả táo thật Trẻ sẽ có nhận xét: Quả táo trơn, mùi thơm,màu xanh xen lẫn màu đỏ Khi bổ quả táo, trong quả táo có cả hạt … Khi ăn táo, trẻ sẽnói táo ngọt (chua)

Tóm lại: Trực quan bằng vật thật giúp trẻ có nhận xét sâu sắc về vật và từ được gọi chínhxác với vật

4.3.1.2 Quan sát: là phương pháp dạy trẻ sử dụng những giác quan của mình để tích lũy

dần những kinh nghiệm, những hình ảnh, những biểu tượng và kỹ xảo ngôn ngữ Nhữngbài tập về quan sát phải gắn liền với việc cung cấp các từ để củng cố những điều đã thulượm được

Khi tổ chức quan sát, không nên chỉ hướng sự chú ý của trẻ vào các sự vật và hiện tượngriêng lẻ, mà cần phải làm cho trẻ thấy được mối quan hệ giữa chúng Điều đó giúp trẻ suynghĩ mạch lạc và biểu hiện những ấn tượng của mình bằng lời nói trôi chảy Việc vậndụng phương pháp quan sát để làm giàu ngôn ngữ cho trẻ cần phải có hệ thống, kế hoạch.Trẻ lớn hơn, hướng dẫn trẻ kể lại bằng lời kể rõ ràng, mạch lạc hơn

Trang 8

4.3.1.3 Tham quan: là “con đường” đưa các em tới gần vật thể, hiện tượng Tùy theo

từng lứa tuổi, tham quan đi từ những vật thể liên quan tới sinh hoạt cá nhân hàng ngàyđến thế giới rộng hơn Các buổi tham quan cần đạt được yêu cầu sau:

- Nội dung tham quan phải đáp ứng sở thích của trẻ (sở thích cá nhân, sở thích lứa tuổi),phải phù hợp trình độ phát triển cũng như tâm trạng của trẻ lúc ấy

- Phải nắm vững số lượng trẻ trong buổi tham quan

- Tổ chức tham quan phải giúp trẻ chú ý đến cái chính, cái trọng tâm của buổi tham quan,không để cho những yếu tố phụ, không trọng tâm làm lạc hướng cái chính trong suy nghĩcủa trẻ

- Buổi tham quan không nên mang tính chất của buổi học Nó phải được tổ chức thật sinhđộng và hấp dẫn Trẻ không chỉ nhận thức mà còn được vận động, thử nghiệm

- Giáo viên phải chuẩn bị kỹ, phải vạch kế hoạch, phải báo trước cho cơ quan cũng nhưcán bộ nơi đến tham quan biết về tính chất và mức độ của buổi tham quan

- Sau buổi tham quan cần tổ chức những biện pháp củng cố các nhận thức và ấn tượng trẻthu lượm được trong buổi tham quan như trò chuyện, kể lại theo trí nhớ, vẽ tranh …)

- Số lần tham quan trong năm học phải được sắp xếp có kế hoạch, có cơ sở khoa học.Nếu tổ chức tham quan quá nhiều sẽ làm cho trẻ chán và không hứng thú nhận thức,không hứng thú thể hiện ngôn ngữ

4.3.1.4 Xem phim: là hình thức sử dụng máy móc, thiết bị vào quá trình dạy trong điều

kiện cho phép, tạo điều kiện có thể cho trẻ quan sát cảnh vật mà trẻ không thể đi đến nơixem được, hoặc xem lại cảnh quan trong quá khứ

Ví dụ: trẻ xem phim về các con vật sống trong rừng hay sống dưới biển

Nhóm phương pháp trực quan là phương pháp chủ đạo trong quá trình phát triển ngônngữ cho trẻ Vì vậy, phương pháp trực quan được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực dạynói cho trẻ: trên giờ học, ở mọi lúc, mọi nơi

4.3.2 Nhóm phương pháp dùng lời nói:

4.3.2.1 Đọc thơ (ca dao, tục ngữ, đồng dao) cho trẻ nghe

Thơ ca đến với trẻ từ khi mới ra đời Thơ ca mang tính nhịp điệu, vần điệu cao Vì vậy,khi đọc thơ cần đọc chậm rãi vừa phải, chú ý ngắt giọng sau mỗi câu và nhấn vào các từmang vần Đọc thơ giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp điệu của tiếng Việt

4.3.2.2 Kể và đọc chuyện: là phương pháp chủ yếu giúp trẻ làm quen với văn học Khi

đọc, kể chuyện, giáo viên phải thể hiện được tình cảm, sử dụng ngữ điệu giọng nói đểbộc lộ được đặc điểm, tình cảm nhân vật Đọc, kể phải chậm rãi, vừa phải để trẻ lắngnghe được các từ ngữ, câu văn trong truyện

4.3.2.3 Kể lại chuyện: là hình thức cho trẻ kể lại câu chuyện theo mẫu mà trẻ đã được

nghe Kể lại chuyện giúp cho ngôn ngữ mạch lạc của trẻ phát triển và tư duy lôgíc cũngđược phát triển

Trang 9

4.3.2.4 Đàm thoại: là cách sử dụng hệ thống câu hỏi và câu trả lời của trẻ, giúp cho ngôn

ngữ của trẻ phát triển

Đàm thoại được tiến hành nhẹ nhàng, thoải mái và tự nhiên, đáp ứng được yêu cầu củatrẻ Đàm thoại có thể bắt đầu với trẻ 3 - 4 tuổi ở lớp bé Đàm thoại nên tiến hành riêngvới từng trẻ, đồ dùng trực quan của đề tài đàm thoại đặt ra trước mặt trẻ … Câu hỏi đơngiản, dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ lứa tuổi Mục đích đàm thoại là củng cố và

hệ thống hoá bằng công cụ ngôn ngữ những kiến thức mà trẻ đã thu nhận được

4.3.2.5 Mẫu câu của giáo viên: Mẫu lời nói được sử dụng như một phương pháp khi chỉ

cho trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt suy nghĩ của mình

Mẫu câu được sử dụng rộng rãi ở nhà trẻ và trường mẫu giáo (đặc biệt là ở nhà trẻ) trongmọi hình thức dạy Khi sử dụng mẫu, giáo viên phải chú ý không nhắc lại lỗi sai của trẻ

4.3.2.6 Câu hỏi để hỏi trẻ: Câu hỏi được dùng để hỏi trẻ có nhiều loại khác nhau: Câu

hỏi hướng sự chú ý của trẻ tới việc nhận thức đối tượng

Ví dụ: Cái gì đây? … Ngoài ra, còn có loại câu hỏi giúp trẻ tìm kiếm và phát triển kiếnthức hay yêu cầu trẻ có nhận xét, kết luận về sự vật, hiện tượng đó Ví dụ: Để làm gì? Tạisao? …

Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, cô giáo thường đặt câu hỏi kết hợp với trực quan Trựcquan là cơ sở của nhận thức, còn phương pháp dùng lời nói là cách tổ chức cho việc nhậnthức của trẻ chính xác hơn

Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát, nhận biết con gà trống, cô đưa tranh con gà trống cho trẻxem, đặt câu hỏi về con gà trống để trả lời Sau đó cô dựa vào câu trả lời của trẻ để tómtắt thành câu chuyện ngắn

4.3.2.7 Giảng giải: Là phương pháp dùng lời lẽ để nói cho trẻ hiểu về bản chất, đặc

điểm, tính cách… của một vật hoặc một hành động nào đó GV vận dụng vốn hiểu biếtcủa trẻ để giải nghĩa những từ trẻ chưa biết, giúp cho vốn từ của trẻ phát triển Giảng giảiphải rõ ràng, dễ hiểu, chính xác

Trang 10

Giảng giải chỉ sử dụng khi trẻ không hiểu hoặc chưa hiểu ý nghĩa nội dung của từ, câu,câu chuyện…

Ngoài ra trong nhóm phương pháp dùng lời nói, người ta còn dùng một số hình thứckhác: nhắc lại, chỉ bảo, bài tập nói, nhắc nhở… để giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển.Tùy theo điều kiện mà ta sử dụng hình thức này hay hình thức khác cho phù hợp

Tóm lại: Trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non, chúng ta

có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau Trong đó có hai nhóm phương pháp được sửdụng thường xuyên để dạy nói cho trẻ là phương pháp trực quan và phương pháp dùnglời nói Nếu như phương pháp trực quan sử dụng để dạy trẻ nhận biết các sự vật, hiệntượng xung quanh thì phương pháp dùng lời nói sử dụng để dạy trẻ biết sử dụng ngônngữ, biết diễn đạt sự hiểu biết của mình trên cơ sở trẻ nhận thức được

4.3.3 Nhóm phương pháp thực hành:

Là nhóm phương pháp sử dụng các trò chơi, các hoạt động của trẻ vào quá trìnhphát triển ngôn ngữ cho trẻ

4.3.3.1 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua trò chơi

Ngôn ngữ và tư duy liên hệ chặt chẽ với hoạt động, lao động của con người Hoạt độngchính của trẻ là vui chơi Vui chơi được thể hiện qua các trò chơi Trẻ em tích lũy kinhnghiệm qua trò chơi Từ trò chơi, các em khám phá ra những hiện tượng rồi liên hệ đến

từ Trò chơi kích thích mạnh mẽ đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Trong trò chơi, các

em có quan hệ thường xuyên với đồ chơi, nhờ đó mà tên đồ vật, đồ chơi, màu sắc, cấutạo, công dụng của vật thể dễ được tiếp nhận, dễ được ghi nhớ Mỗi vật có tên riêng, mỗihành động có một động từ riêng… Cho nên, GV cần tổ chức tốt hoạt động chơi, cung cấp

đồ dùng, đồ chơi để trẻ có điều kiện tăng cường hoạt động ngôn ngữ, GV đóng vai trò tổchức, hướng dẫn, theo dõi trò chơi, cung cấp cho trẻ những từ mới, nói chuyện với trẻ,làm phong phú ngôn ngữ cho trẻ Vui chơi đã tạo điều kiện để trẻ vận dụng vốn ngôn ngữcủa mình vào việc giao tiếp với bạn chơi, với vai chơi

4.3.3.2 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt động, lao động:

Trong trường mầm non, trẻ được tham gia vào các hoạt động lao động như: Lao độngtrong thiên nhiên, lao động tự phục vụ Ở gia đình trẻ được hoà vào lao động, sinh hoạtcủa người lớn Qua lao động, trẻ biết được cách làm, cách sử dụng một số công cụ laođộng, đồng thời giúp trẻ tiến hành lao động

Trong lao động, người lớn cần đặt ra yêu cầu cung cấp cho trẻ các từ chỉ sự vật, hiệntượng, từ chỉ tên gọi các dụng cụ lao động, đồ vật, tên các hoạt động lao động … Tất cảcác hình thức lao động phù hợp với trẻ đều tạo ra những khả năng làm phong phú ngônngữ của trẻ

Trang 11

5 Các hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính:

Các hình thức tổ chức dạy nói cho trẻ ở trường mầm non hiện nay rất đa dạng.Việc dạy nói cho trẻ không tách rời các mặt giáo dục khác Nó hoà quyện vào nhau chặtchẽ và cùng tồn tại trong các hình thức giáo dục ở các hoạt động của trẻ như: vui chơi,học tập, lao động …

5.1 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua giờ học:

5.1.1 Giờ nhận biết - tập nói (ở lứa tuổi nhà trẻ)

Dạy nhận biết - tập nói là hướng dẫn trẻ quan sát một sự vật, một hiện tượng quen thuộcđối với trẻ Qua đó hình thành khái niệm ban đầu về sự vật, hiện tượng nhằm mục đíchphát triển ngôn ngữ cho trẻ

Ví dụ: Dạy trẻ nhận biết về quả cam là giúp trẻ nhận biết và gọi tên được quả cam cũngnhư gọi tên được các bộ phận công dụng của quả cam

Mỗi một hiện tượng sự vật trẻ vừa lĩnh hội được đều phải củng cố ngay bằng ngôn ngữ.Loại giờ học này tạo nên điều kiện để rèn luyện kỹ năng phát âm, rèn luyện câu theo cấutrúc ngữ pháp và đặc biệt là tăng nhanh vốn từ của trẻ

5.1.2 Giờ làm quen với môi trường xung quanh (ở lứa tuổi mẫu giáo)

Giờ học làm quen với MTXQ giúp trẻ tiếp xúc với các sự vật hiện tượng, biếtđược những đặc điểm, cấu tạo, dấu hiệu, hình dạng, chất liệu… của sự vật

Từ đó hình thành các biểu tượng đúng đắn về các sự vật, hiện tượng xung quanh

và trẻ được nói những điều trẻ biết Như vậy, ở những giờ học này, trẻ được rèn luyện kỹnăng phát âm, rèn luyện câu theo cấu trúc ngữ pháp và vốn từ của trẻ tăng lên rất nhanh,tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ

5.1.3 Giờ học làm quen với các tác phẩm văn học Giờ học này có tác dụng làm giàu vốn

từ, phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ, bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm nghệ thuật

và diễn đạt bằng ngôn ngữ văn học

5.1.4 Các giờ học khác: Các giờ học “tạo hình”, “làm quen với các biểu tượng về toán

học”, “giáo dục âm nhạc”, “giáo dục thể chất”…cũng có tác dụng đối với việc phát triểnngôn ngữ của trẻ Qua các giờ học đó, trẻ được rèn luyện về mặt phát âm, có thêm nhiều

từ mới và hiểu được ý nghĩa của từ Trẻ được rèn luyện thêm về mặt ngữ pháp GV còn

sử dụng các giờ học này như là một phương tiện để củng cố những ngôn ngữ mà trẻ đãthu nhận được

5.2 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động ngoài giờ học:

5.2.1 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động vui chơi

Thông qua trò chơi, các biểu tượng mà trẻ thu nhận trước đây được chính xác hoábằng ngôn ngữ Qua trò chơi, trẻ còn tập trung vận dụng các tri thức đã thu nhận được.Trò chơi đã giúp trẻ nhớ ngôn ngữ, đồng thời tạo ra các tình huống để trẻ sử dụng vốn từngữ đã tích lũy được

Trang 12

5.2.2 Phát triển ngôn ngữ qua hoạt động lao động

Trẻ ở lứa tuổi mầm non chưa phải lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội,nhưng chúng ta phải giáo dục ý thức lao động cho trẻ, cho trẻ tham gia vào các hoạt độnglao động nhẹ nhàng, lao động tự phục vụ mình… Khi tham gia vào các hoạt động laođộng, trẻ được tiếp xúc với thiên nhiên, với đồ dùng lao động, đồ dùng sinh hoạt… Nhưvậy, trẻ có điều kiện hình thành các biểu tượng chưa có và khắc sâu các biểu tượng đã có

Từ đó, trẻ sẽ biết sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động lao động Vốn ngôn ngữ của trẻ sẽtăng lên

5.2.3 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong dạo chơi, tham quan

Dạo chơi, tham quan có tác dụng rất tốt đối với việc mở rộng tầm hiểu biết của trẻ

Vì vậy, dạo chơi, tham quan có tác dụng to lớn trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ

5.2.4 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong sinh hoạt hàng ngày

Ngoài các giờ học, giờ chơi, giờ lao động… trẻ còn có giờ ăn, giờ ngủ, giờ vệ sinh Ởnhững giờ này, GV cũng có thể dạy nói cho trẻ Trong khi giúp trẻ tiến hành công việchàng ngày, GV cần lựa chọn nội dung thích hợp, cần nói tên những công việc hàng ngàycủa mình, nói tên các sự vật liên quan đến công việc đó cho trẻ biết

Tóm lại: Việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non là một nhiệm vụ

cơ bản, thiết thực Những người làm công tác giáo dục ở lứa tuổi mầm non phải biết tậndụng mọi hình thức dạy trẻ nói, dạy nói trên giờ học và dạy nói ở mọi lúc, mọi nơi đểphát triển ngôn ngữ cho trẻ

6 Những phương tiện và điều kiện thực hiện chương trình:

6.1 Yêu cầu đối với giáo viên và người lớn xung quanh trẻ:

6.1.1 Những yêu cầu đối với giáo viên: Giáo viên đóng vai trò qua trọng trong việc thực

hiện nội dung, nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ nên GV cần phải được chuẩn bị vàrèn luyện tốt Để dạy nói cho trẻ, trước hết GV cần phải biết và nắm thật vững tiếng mẹ

đẻ, ngôn ngữ của GV phải mẫu mực Ngoài những yêu cầu về ngôn ngữ, GV cần phảibiết về đặc điểm tâm lý trẻ, về phương pháp giáo dục trẻ nói chung cũng như phươngpháp phát triển ngôn ngữ trẻ nói riêng, GV phải nắm vững mục đích, nhiệm vụ, nội dungphát triển ngôn ngữ cho trẻ và có khả năng thực hiện những nhiệm vụ và nội dung đó.Ngoài ra, giáo viên cần phải được rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết như biếtgiao tiếp với trẻ, biết tổ chức cho trẻ chơi, biết lên kế hoạch công việc, biết điều khiển cáchoạt động của trẻ trong ngày … và cuối cùng, GV phải là người thực sự yêu thương trẻ,yêu nghề nghiệp của mình

6.1.2 Những yêu cầu đối với người lớn xung quanh trẻ:

Nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ cho trẻ không phải chỉ là công việc của cô giáo mà làcông việc của tất cả những người có quan hệ giao tiếp với trẻ (giáo dục không chỉ là côngviệc của nhà trường mà là của toàn bộ xã hội) Cho nên người lớn phải có ý thức trong

Trang 13

công việc này: ngôn ngữ phải chính xác, không ngọng, không lắp, lời nói phải có văn hoálịch thiệp để làm gương cho trẻ bắt chước Mặt khác, người lớn phải có ý thức sửa sai chotrẻ.

Gia đình có vai trò đặc biệt trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trong đó phải

kế đến vai trò của người mẹ Chính người mẹ đã đặt cơ sở cho những thói quen đầu tiêntrong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Ngoài ra, các thành viên khác cũng cần quan tâmđến những nhiệm vụ PTNN cho trẻ như: ông, bà, bố, anh, chị …

Giữa gia đình và nhà trường phải có mối liên hệ chặt chẽ, cùng phối hợp để thựchiện chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hiệu quả

6.2 Chế độ sinh hoạt hàng ngày:

Tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày là yếu tố quan trọng trong việc phát triểnngôn ngữ cho trẻ có hiệu quả Trong khi thực hiện các nhiệm vụ, GV cần tăng cường hoạtđộng ngôn ngữ, tăng cường nói chuyện giao tiếp với trẻ, tạo môi trường ngôn ngữ để trẻđược thực hiện trong mọi tình huống khác nhau Trẻ phải được thoải mái, sung sướng và

tự tin Có như vậy mới kích thích được trẻ nói, ngôn ngữ của trẻ mới được rèn luyện vàphát triển

6.3 Cơ sở vật chất:

Cơ sở vật chất đầu tiên sử dụng để dạy trẻ nói phải kể đến môi trường thiên nhiên

Đó là môi trường tự nhiên tốt nhất Nó có tác dụng mạnh mẽ nhằm thúc đẩy và làm giàungôn ngữ cho trẻ Ngoài ra, GV sử dụng những điều kiện sẵn có ở địa phương như: danhlam thắng cảnh, công trình văn hoá… nhằm mở rộng hiểu biết và phát triển ngôn ngữ chotrẻ

Các trang thiết bị, đồ dùng dạy học trong trường mầm non như đồ chơi, tranh ảnh,phim đèn chiếu… cũng là cơ sở vật chất hết sức quan trọng trong việc phát triển ngônngữ cho trẻ Trong nhà trẻ và nhà trường mẫu giáo cần chuẩn bị tốt nhất các phương tiện,

đồ dùng dạy học phục vụ cho nhiệm vụ PTNN

Kết luận: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non là nhiệm vụ hết sức quan

trọng Những người làm công tác giáo dục trong trường mầm non cần nắm vững nhiệm

vụ, nội dung, phương pháp và các hình thức dạy trẻ nói

Trang 14

Bài 2: Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính

1 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính mầm non

Việc lĩnh hội ngôn ngữ trong điều kiện thính giác bình thường diễn ra theo cơ chếgiao tiếp với bên ngoài và bằng cách bắt chước Ở trẻ khiếm thính (điếc và nghễnhngãng), ngay cả khi đã có những can thiệp, điều chỉnh chuyên biệt về ngôn ngữ thì quátrình này cũng diễn ra rất chậm Những sai lệch cũng tồn tại rất lâu trong cấu trúc ngônngữ đã được hình thành ở trẻ: phát âm không chuẩn, từ vựng nghèo nàn, sai ngữ pháp,mức khái quát của ngôn ngữ thấp

Lời nói hoàn toàn không có hay rất kém phát triển, sự hình thành lời nói hết sứcchậm chạp kèm theo sự thiếu hụt rất lớn là những yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến các quátrình tâm lý và cả các chức năng sinh lý Quá trình nhận thức, tự nhận thức không đầy đủ

do thiếu sự tham gia của ngôn ngữ vào các quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình tưduy

Các trẻ khiếm thính trong giai đoạn đầu tiên vẫn có sự xuất hiện những dấu hiệu giao tiếp, những tiền đề về ngôn ngữ Tuy nhiên những dấu hiệu này có thể sẽ mất đi nếu trẻ

không được hỗ trợ những phương tiện, cách thức tiếp nhận sự tương tác về mặt ngôn ngữ

và giao tiếp từ môi trường xung quanh Chính vì thế, can thiệp sớm có ý nghĩa hết sứcquan trọng để hình thành và phát huy, củng cố những dấu hiệu ban đầu làm tiền đề cho sựphát triển ngôn ngữ này

Không hiếm trường hợp, khi ngồi một mình, trẻ tìm cách phát âm âm tiết (khôngthành tiếng có nghĩa) khi chơi với búp bê hay gấu, hoặc với ảnh người thân hay với mình

ở trong gương

Một số trẻ thường có những phản xạ âm thanh, những tiếng bập bẹ có hoặc không có

ý nghĩa, phát ra những âm tiết giống nhau v.v…Ở một số trẻ khác lại có những âm gầngiống những từ thường nghe thấy được ở xung quanh, hoặc thậm chí là mầm mống của

những câu đơn giản như mẹ ia (mẹ kia), úp ê ơi (búp bê rơi), tam au (nói về bản thân:

Tâm đau)

Phần lớn trẻ từ những gia đình có cha mẹ nghe được, đặc biệt là trong những gia đìnhđiếc thường sớm tìm cách sử dụng những cử chỉ khác nhau, nhằm thỏa mãn được nhữngnhu cầu tự nhiên của mình Trong trường hợp người lớn nói được nhưng không hiểu đượcchúng, những đứa trẻ này có những phản ứng tiêu cực, thất thường, khó điều khiển thậmchí là nổi loạn Một số bà mẹ khi dẫn trẻ đến khám bác sĩ thường báo trước là trongtrường hợp giao tiếp không được thực hiện tốt đẹp thì trẻ có thể chạy, lăn ra sàn ăn vạ,ném tranh ảnh, đồ chơi, nhổ nước bọt, cắn cấu mẹ mình, giẫm chân, đập đầu … Tất cảnhững điều này chính là hậu quả của việc tác động lên đứa trẻ và các yêu cầu không phùhợp đặt ra trong những giai đoạn trước, không có sự giao tiếp ngôn ngữ đầy đủ

Trang 15

Có thể khẳng định rằng không có những trẻ hoàn toàn không thể nói được, thậm

chí trong môi trường hoàn toàn không có ngôn ngữ ở trẻ vẫn xuất hiện những tiền đề phùhợp với từng giai đoạn phát triển ngôn ngữ trước khi có tiếng nói chuẩn Những tiền đề

này (phản xạ với âm thanh, những tiếng bập bẹ, phát âm âm tiết giống nhau, phân âm tiết

vô thức và có chủ ý, sự liên hệ chặt chẽ và mối tương quan giữa hoạt động đồ vật với lờinói, sự phát âm gần giống từ/ câu ngắn, tri giác khuôn mặt người nói một cách thích hợp,

sử dụng các cử chỉ chỉ trỏ sơ đẳng và tiếp thu các cử chỉ của bố mẹ bị điếc…) là những thành phần cơ bản và có căn cứ của khả năng ngôn ngữ của con người, các tiền đề này

được hình thành trong quá trình phát triển giao tiếp và trên cơ sở của hoạt động với đồ

vật Khả năng này không phải là bẩm sinh mà dựa trên các khả năng tâm lí khác như vận

động, thụ cảm ngoại vi, cảm nhận nhịp điệu, bắt chước, tư duy, giao tiếp Theo A.R

Luria, khả năng ngôn ngữ phát triển có trong quá trình áp dụng lời nói Việc áp dụng này

nằm trong nội dung giáo dục điều chỉnh với trẻ có khuyết tật về thính giác

2 Những khó khăn trong phát triển các quá trình phát triển tâm sinh lý có liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ khiếm thính mầm non

Trong sự phát triển nhận thức của con người, tất cả các hiện tượng tâm lí được liên

kết với nhau bằng hoạt động tư duy nhờ vào tiếng nói, bởi vì tư duy được hoàn thiện qua

sự tổng kết và tiếp thu các khái niệm trên cơ sở ngôn ngữ từ vựng Tiếng nói thực hiện

chức năng liên kết trong sự phát triển nhận thức và chức năng giao tiếp, củng cố các kinhnghiệm và tác động trong quá trình xã hội hóa nhân cách Không có ngôn ngữ, không cótiếng nói thì không thể có được nhận thức đầy đủ giá trị và tự nhận thức

Trong khi nghiên cứu toàn diện những trẻ có khiếm khuyết về thính giác đã phát hiệnđược nhiều sai lệch do các rối loạn hữu cơ trong quá trình trưởng thành về sinh lí, cũngnhư sự phát triển về tâm lý

Có thể thấy được sự chậm chạp trong tập bò, ngồi, đứng thẳng, tập đi, cầm nắm đồ

vật ở trẻ do những tổn thương khác nhau trong thời kì phát triển bào thai, và bệnh tật từ

rất nhỏ, đôi khi do tổn thương vùng não bộ Trẻ thiếu các phản ứng cảm xúc khi thấyngười thân “Phức cảm hớn hở” - đặc trưng của trẻ sơ sinh – xuất hiện không thườngxuyên và không bền vững Trẻ ít quan tâm đến đồ vật khi người lớn đưa cho chúng

Các chuyên gia nhận thấy rằng, trong thời kì đầu tuổi mầm non, một số trẻ thường

khó có thể kìm hãm vận động, dễ bị kích động, số khác thì ngược lại, ít vận động, dễ ứcchế, chóng mệt mỏi Về phương diện thể chất và vận động so với những trẻ nghễnhngãng cùng tuổi, những trẻ này chậm phát triển hơn cả về thời gian và về chất lượng hìnhthành các vận động chủ yếu Có thể phát hiện được ở trẻ những sai lệch đặc trưng khácnhau trong thăng bằng, phối hợp, tư thế, dáng đi, các vận động tự do, cũng như dễ nhậnthấy sự suy nhược khi lấy hơi nói, dễ mỏi mệt, không có khả năng bắt chước vận độngcủa người khác của trẻ Đã chứng minh được rằng những trẻ này có sự đình trệ trong việc

Trang 16

phát triển các chức năng vận động từng phần và vận động tinh, điều này có ảnh hưởngđến sự hình thành các mối liên quan giữa các cơ quan thụ cảm, thu hẹp không gian “thânthuộc” của chúng Sự rối loạn định hướng trong không gian và thế giới đồ vật sẽ dẫn tớiviệc hình thành không đầy đủ và không kịp thời khả năng tiếp thu những kinh nghiệm xãhội.

Có những trẻ 5 tuổi, khi chậm tham gia vào hệ thống giáo dục chuyên biệt, khôngbiết đi một cách tự tin nếu không có sự trợ giúp của người lớn Chúng thường ngã ngay

cả ở những chỗ bằng phẳng, không thể di chuyển ở cầu thang, đi nối đuôi mà không vavào nhau, bịt mắt bước một vài bước hay thậm chí đứng nguyên tại chỗ Có thể quan sátđược sự vụng về, thiếu khéo léo khi sử dụng thìa, cốc, khăn ăn, khó khăn khi tiếp thu các

kĩ năng mặc, cởi quần áo, tắm rửa, chải đầu, thậm chí cả nhai và nuốt thức ăn Một sốkhiếm khuyết trong việc thực hiện kĩ năng tự phục vụ có nguyên nhân từ những rối loạncủa cơ thể, thêm vào đó trong việc giáo dục ở các gia đình, khi phụ huynh coi những đứatrẻ này là trẻ khuyết tật và không đặt ra cho chúng bất kì một yêu cầu nào, không bắtchúng phải làm gì phù hợp theo lứa tuổi Sự nuông chiều thái quá trong gia đình đã làmnảy sinh thêm những lệch lạc khác

Các rối loạn nổi trội trong phát triển sinh lí và thể chất không ổn định và có thể vượtqua Việc thay đổi các điều kiện giáo dục, đưa trẻ vào tập thể của chúng, tiến hành các công tác sư phạm có định hướng và tạo một môi trường thính giác - ngôn ngữ sít sao, nhiều khiếm khuyết có thể khắc phục được hoàn toàn hay giảm một cách đáng kể

Sai lệch trong phát triển tâm lí của trẻ điếc và nghễnh ngãng được phân biệt bởi tính

chất đặc thù nổi bật Có thể nhận xét rằng, rối loạn thính giác không chỉ tự nó thu hẹp sựđịnh hướng đối với thế giới xung quanh, bởi cả thế giới âm thanh đối với chúng bị khépkín hoặc rất nghèo nàn, mà còn do ảnh hưởng kìm hãm sự phát triển tiếng nói sẽ dẫn tớiviệc phát triển theo cách của nó các cảm giác, tri giác và khái niệm Sự sa sút trong pháttriển hệ cảm giác đã ảnh hưởng xấu đến các hiện tượng tâm lí khác như chú ý, trí nhớ, tất

cả các dạng tư duy, lĩnh vực ý chí - xúc cảm, cũng như ảnh hưởng tương thích đến việchình thành hoạt động hệ động cơ - nhu cầu và bản thân các kĩ năng thực hành

Khả năng nhận thức nếu không có tác động điều chỉnh sẽ bị thu hẹp đáng kể trong tất

cả các giai đoạn phát triển của những trẻ này, mặc dù có thể nhìn thấy được sự phát triểnyếu ớt của những quá trình này, bởi những trẻ này luôn nằm trong xã hội loài người, vàbằng những phương pháp riêng mình theo mức độ trưởng thành, chúng vẫn tiếp thu đượckinh nghiệm của những người xung quanh

Theo các nhà nghiên cứu, những trẻ này tuy có sự chậm trễ đáng kể theo chuẩn mựclứa tuổi nhưng vẫn hình thành các khái niệm nếu vẫn còn thị giác, còn tính nhạy cảmkhứu giác, xúc giác, cảm giác rung chấn-sờ mó

Trang 17

Khi tiến hành thí nghiệm xếp những bức tranh cắt rời và phục hồi hình mẫu nguyênvẹn bằng cách sử dụng những mảnh thêm vào các đường cắt nhất định, A.A.Kataeva đãnhận ra sự khác biệt giữa trẻ điếc và nghễnh ngãng cùng một độ tuổi trong thời kì đầu củaviệc học (3-4 tuổi), cũng như vào cuối thời kì mẫu giáo Những sự khác biệt này vẫn giữlại cả ở trẻ này hay trẻ khác, mặc dù biểu đồ phát triển tích cực là có sẵn với mỗi loại trẻ.Mức độ thành công khi thực hiện bài tập phụ thuộc vào số lượng các phần cấu thành củabức tranh tổng thể (có 2, 3, 4, 5 phần tranh cắt và số lượng các mảnh thảm) Càng nhiềuphần thì càng khó.

Cơ chế của tri giác thị giác và hình thành các hình ảnh/biểu tượng của khái niệm

phụ thuộc vào chất lượng nhận thức thế giới đồ vật, điều này đòi hỏi có sự khảo sátnhững dạng khác nhau các vật, có cả sự tri giác thính giác Quá trình nắm tổng quát cácdấu hiệu cơ bản của vật cũng được tạo nên bởi mức độ phát triển ngôn ngữ và các khảnăng tự nắm vững các phương tiện của tiếng nói Những điều đó thể hiện khác nhau ở trẻđiếc và nghễnh ngãng Trong cùng một trạng thái gần như nhau của cơ quan thị giác, thìmức độ rối loạn thính giác và khả năng làm chủ được tiếng nói sẽ có những chỉ số khácnhau trong việc hình thành các hình ảnh của khái niệm

Tri giác, sự phân biệt màu sắc, hình khối, kích thước, số lượng, nhiệt độ, trọng lượng và nắm vững các chuẩn xúc giác của trẻ cũng bị chậm hơn do những rối loạn thính

giác Điều này có liên quan tới việc các chuẩn xúc giác được gắn liền với lời nói chứkhông chỉ thông qua các hình thức thụ cảm

Việc hình thành ở những trẻ này khái niệm không gian, thời gian là khó hơn cả.

Điều đã được nhận thấy không chỉ ở trẻ khiếm thính mầm non, mà cả ở lứa tuổi học sinh,thậm chí cả ở người lớn khiếm thính Chức năng nghe có ảnh hưởng trực tiếp đến việchình thành các khái niệm về trình tự các hiện tượng, độ dài của thời gian và không gian,còn tiếng nói ảnh hưởng đến điều này một cách gián tiếp, thông qua con đường khái quátbằng lời

Và cũng nên lưu ý đến những điều kiện tích cực để khắc phục những sai lệch tương

đối rõ hơn cả trong phát triển cảm giác – tri giác của những trẻ này Đó là việc bắt đầu

luyện cảm giác – tri giác cho trẻ thật sớm không chỉ trong các bài luyện tập thính giác ngôn ngữ mà còn trong chế độ sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục thể chất, phát triến cácdạng hoạt động chơi, lao động, tạo hình, xếp hình Việc đáp ứng tất cả các nhu cầu củatrẻ, có định hướng thích hợp và tích cực hóa sẽ dần dần đưa trẻ trở về với hướng pháttriển bình thường

-Trẻ sẽ chú ý nhiều hơn đến các dấu hiệu quan trọng cơ bản của đồ vật, cố địnhtrong trí nhớ cách đạt được mục tiêu đã định, tư duy có thể hơi chậm nhưng diễn ra mộtcách đều đặn trong các mức độ phát triển theo trình tự di truyền, lĩnh vực cảm xúc-ý chí

Trang 18

dần được thăng bằng trở lại dưới ảnh hưởng của các yêu cầu và chỉ đạo hợp lí của ngườilớn và các điều kiện khách quan của hoàn cảnh.

3 Các giai đoạn giáo dục ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính mầm non

Trong các cơ sở giáo dục mầm non, nơi trẻ thực hiện trọn vẹn chương trình pháttriển lời nói và thời hạn dạy, có thể chia ra ba giai đoạn ước lệ sau đây:

- Giai đoạn thứ nhất từ 1,5 - 2 năm đến 4 tuổi gồm các nhóm nhà trẻ và mẫu giáo nhỏ

- Giai đoạn thứ hai từ 4 đến 6 tuổi Bao gồm các lớp mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn.

- Giai đoạn thứ ba từ 6 dến 7 tuổi Chủ yếu là các lớp dự bị chuẩn bị đến trường tiểu học.

Các giai đoạn được phân biệt với nhau bằng các tiêu chí sau

Trước hết ở mỗi giai đoạn lứa tuổi đều tính đến hoạt động chủ đạo Ở giai đoạn

đầu, trò chơi được thực hiện qua các hành động chơi với đồ vật Từ giai đoạn thứ hai có

sự liên quan đến phát triển trò chơi đóng vai có nội dung Giai đoạn thứ ba được đặctrưng bằng sự nổi trội của trò chơi đóng kịch, trò chơi theo qui tắc, các dạng trò chơi trítuệ và học tập Khối lượng tư liệu lời nói và mức độ tổng quát của các hành động chơi và

đồ vật được thay đổi phù hợp với từng giai đoạn

Yếu tố thứ hai cho phép phân biệt những giai đoạn trên là thời hạn giáo dục chuyên biệt khi bắt đầu mỗi giai đoạn Thời gian trẻ được hưởng thụ giáo dục điều chỉnh

ảnh hưởng đến việc quen với những yêu cầu bằng lời trong tất cả hoạt động của trẻ Tốc

độ tri giác và ghi nhớ (có chủ định và không có chủ định) các tư liệu lời nói cũng thayđổi Từ việc tri giác nguyên vẹn, toàn bộ các đơn vị ngôn ngữ của trẻ ngày càng gần đếnvới tri giác phân tích Khi đó mức độ thành công trong tiếp thu lời nói, câu nói phù hợpđược sử dụng tăng lên, mối quan tâm đến lời nói từ ngữ cũng phát triển Các tác độnggiáo dục điều chỉnh liên tục và trong thời gian dài ảnh hưởng đến chất lượng và khốilượng tư liệu lời nói tiếp thu được, nội dung tâm lí của quá trình phát triển cũng thay đổi,

tư liệu ngôn ngữ ngày càng được nhận thức rõ ràng, còn việc áp dụng các tư liệu ngônngữ ấy thì ngày càng có chủ ý Có thể cho rằng, việc trẻ chuyển từ mức độ này sang mức

độ khác có kèm theo việc chuyển từ vùng phát triển gần nhất những gì đã xác định đượcsang vùng phát triển thiết yếu (theo học thuyết của L.X Vưgôtxki về vùng phát triểngần) Hoàn toàn tự nhiên điều này chỉ có thể được trong điều kiện có ảnh hưởng thuận lợicủa các tác động giáo dục điều chỉnh

Yếu tố tiếp theo có ảnh hưởng đến việc phân biệt các giai đoạn nêu trên trong giáo

dục là các đặc điểm của bản thân hệ thống ngôn ngữ và các qui luật lĩnh hội chúng

trong quá trình phát triển lời nói Đó là khi ta nói về các quan hệ giữa các đơn vị ngônngữ ở các mức khác nhau Quan hệ cú đoạn của hệ thống ngôn ngữ (quan hệ giữa âm vị

Trang 19

trong từ, giữa từ trong câu v.v…) giữ vai trò hàng đầu trong lời nói của trẻ qua thực hànhlời nói của người lớn Các quan hệ này được lĩnh hội trong chuỗi lời nói thực tế Trẻ nghe

và tiếp thu lời nói của người lớn xung quanh ở dạng có sẵn, lĩnh hội đúng văn phạm cácmối liên hệ của từ và câu, mà không hề biết đến bất kì qui tắc và qui định ngữ pháp nào.Cũng cần phải đưa cho trẻ khiếm thính biết những câu có sẵn chứ không học cách sắpxếp chúng từ các từ riêng lẻ Chỉ khi nào lượng các câu nói áp dụng cho các trường hợp

cụ thể, lượng các mẫu câu như các công thức cấu trúc ngữ pháp được tích lũy, mới có thể

lưu ý chúng đến việc một từ trong các câu khác nhau (Đây là cái tay Giơ tay lên Hãy nói bằng tay (cử chỉ).

Trong phương pháp chuyên biệt để phát triển lời nói của trẻ khiếm thính mầm non,

ở giai đoạn đầu bài tập ngôn ngữ được xây dựng chủ yếu trên sự tiếp thu các quan hệ cúđoạn của hệ thống ngôn ngữ, có nghĩa là trên sự lĩnh hội toàn bộ các đơn vị của câu

Nhưng theo mức độ phát triển số lượng của tư liệu ngôn ngữ, với kinh nghiệmtương đối bền vững trong sử dụng cần phải thu hút sự chú ý của trẻ tới việc phân tích cácquan hệ cú đoạn Đây là một biện pháp làm chính xác các ý nghĩa của từ Ví dụ: phân biệtcác từ theo nghĩa: ngã, đánh rơi, nhấc lên… Hoạt động đa dạng với lời nói ngày càngchiếm phần lớn trong giai đoạn giáo dục tiếp theo

Nếu trẻ khiếm thính tham gia muộn hơn vào hệ thống giáo dục chuyên biệt cầncân nhắc đến điểm bắt đầu (dựa trên khả năng hiện có của trẻ) để dự tính các giai đoạntrong giáo dục ngôn ngữ cho trẻ Quan trọng là cần phải biết rằng dù thời hạn giáo dụcmầm non như thế nào và mức độ phát triển chung và phát triển ngôn ngữ ra sao, trẻ luôncần phải được xếp vào học theo lứa tuổi của nó Trẻ năm tuổi không nên đưa vào lớp vớinhững trẻ ba tuổi, thậm chí kể cả khi trẻ chưa bao giờ được học cái gì trước đó Do nhiều

lý do, việc bắt đầu công việc chuyên biệt đúng thời hạn với trẻ khiếm thính có thể khôngthực hiện được, nhưng đó không phải là nguyên cớ xếp những trẻ chưa được học vớinhững trẻ nhỏ hơn

Trong những trường hợp như vậy có một chiến lược khác có thể áp dụng đó làchia các giai đoạn giáo dục ra làm 3 thời kỳ dựa trên nhiệm vụ chủ yếu mà mỗi thời kỳthực hiện Thậm chí chỉ thời hạn giáo dục mầm non hai năm cũng có thể chia (tạm chia)như sau:

- Thời kì đầu là thời kì chẩn đoán Trong giai đoạn này trẻ được nghiên cứu trong

quá trình dạy, chứ không chỉ là ghi chép các chỉ số phát triển Tư liệu ngôn ngữ đượctrình bày trong tất cả các dạng thích hợp với trẻ (miệng, viết, ký hiệu, cử chỉ) cả trongdạng tri giác toàn thể cũng như phân tích, và chỉ trong các ngữ cảnh có tổ chức thực tế.Trẻ được kích thích tái hiện liên kết - thể hiện ở dạng nói miệng có dựa trên các bảng có

in chữ cái, sau đó là bằng miệng và cử chỉ, và cuối cùng chỉ bằng lời nói

Trang 20

- Thời kì thứ hai chủ yếu để trẻ tiếp thu toàn bộ tư liệu ngôn ngữ theo chương trình Nó cũng đi kèm tất cả các dạng hoạt động của trẻ và hình thành những qui cách

nhất định trong các giờ học phát triển ngôn ngữ đặc thù Thành phần của tư liệu ngôn ngữchủ yếu là ngôn ngữ hội thoại

- Thời kì thứ ba thực hiện theo kế hoạch đều đặn chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông Ở giai đoạn này chú trọng phát triển lời nói mạch lạc Trẻ đọc những truyện

ngắn, học thuộc thơ, học cách xây dựng những câu chuyện ngắn từ cuộc sống của mình,

mô tả thời tiết, kí các bưu thiếp chúc mừng v.v… Các thẻ chữ cái để ghép thành câu,thành chuyện trên bảng vải được áp dụng rộng rãi hơn Có thể ghi chép các đồ vật và các

sự kiện được mô tả bằng các chữ in Cũng như trong các lớp dự bị ở trường chuyên biệt,nơi trẻ không qua bậc học ở trường mầm non, không dạy trẻ mẫu giáo lớn viết bằng chữviết thường và bồi dưỡng cách viết chữ đúng

Để giải thích bản chất và ý nghĩa các giai đoạn được chia một cách ước lệ trong tổchức giáo dục chuyên biệt cho trẻ khiếm thính và lập kế hoạch đúng đắn cho công tácphát triển lời nói, nhà giáo dục trẻ khiếm thính cần phải tập trung chú ý không chỉ đếnviệc tăng số lượng các phương tiện lời nói từ bậc này đến bậc khác, mà đa dạng nhữngnguyên tắc lựa chọn, các phương tiện áp dụng và hoàn thiện các đơn vị lời nói ở các mứckhác nhau, đa dạng hóa các dạng giao tiếp (theo M.I Lixina)

Sự phân biệt một giai đoạn dạy học này với một giai đoạn dạy học khác giúphướng các nhiệm vụ sư phạm vào việc khắc phục sự yếu kém của trẻ điếc và nghễnhngãng (dựa trên khả năng lứa tuổi của trẻ) so với những trẻ phát triển bình thường, lấpkín những thiếu sót trong các thời kì tiếp thu lời nói sớm Đồng thời sự phân tách giaiđoạn thể hiện được việc phức tạp của quá trình giáo dục ở từng giai đoạn trong nhữngthay đổi mối tương quan giữa các hình thức của lời nói mạch lạc Đến gần cuối giai đoạndạy học, khối lượng các hình thức bổ trợ cho lời nói cũng tăng lên (chữ viết, cử chỉ), ởgiai đoạn này cùng với sự phát triển của lời nói hội thoại, việc đưa nội dung các cách dạylời nói mạch lạc khác nhau là điều có thể thực hiện

Tính chất giai đoạn của quá trình giáo dục lời nói mạch lạc cho trẻ điếc và nghễnhngãng là một phạm trù lí luận dạy học quan trọng trong tổ chức quá trình giáo dục chuyênbiệt

Trang 21

Bài 3: Nguyên tắc phát triển ngôn ngữ

cho trẻ khiếm thính

Nguyên tắc phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính phạm trù cơ bản, là nền móngcủa chiến quá trình sư phạm đối với những trẻ đã được chẩn đoán là có rối loạn thínhgiác Các nguyên tắc ở dạng vắn tắt, rút gọn và khái quát nêu lên bản chất của toàn bộ hệthống thống nhất, mối liên quan giữa các phần chủ chốt trong đó và ý nghĩa cơ bản Nóimột cách khác, đó là chìa khóa cho hệ thống, cho cả nội dung, các phương pháp, cấu trúc

và cơ sở khái niệm của nó

Công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính tuân theo những nguyên tắc giáodục trẻ em nói chung, những nguyên tắc giáo dục trẻ khiếm thính và những nguyên tắcphát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Bên cạnh đó khi thực hiện nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính còncần phải tuân theo những nguyên tắc đặc thù Nội dung và phương pháp của giáo dụcngôn ngữ cho trẻ có rối loạn thính giác dựa trên 3 nguyên tắc: di truyền, hoạt động và cấutrúc ngữ nghĩa

1 Nguyên tắc di truyền (dựa trên quy luật phát triển của ngôn ngữ)

Nguyên tắc di truyền đưa ra một quan niệm cho rằng, dựa trên nguồn gốc pháttriển ngôn ngữ, ở mỗi thời điểm lứa tuổi và trong mỗi thời kì dạy ngôn ngữ cho trẻ, cácyêu cầu sư phạm chỉ có thể được khuyến cáo và hiểu thấu đáo khi nó dựa trên căn nguyênphát triển ngôn ngữ Những yêu cầu này được hình thành trên cơ sở kiến thức về nhữngtiền đề phát triển ngôn ngữ ở trẻ và những giai đoạn nối tiếp Điều đó có nghĩa là, trongmỗi thời điểm nghiên cứu tư liệu ngôn ngữ này hay khác, nhà sư phạm cần trình bày toàn

bộ con đường phát triển ngôn ngữ của trẻ - từ dạng sơ khai đến trạng thái hoàn chỉnh củacác hiện tượng ngôn ngữ

Nguyên tắc di truyền trong điều kiện giáo dục chuyên biệt cho các trẻ không nóiđược và trẻ kém phát triển tiếng nói trầm trọng đòi hỏi phải lập chương trình các tư liệungôn ngữ và biện pháp áp dụng vào thực tế Điều này có liên quan tới những yếu tố đã cótrong quá trình phát triển của cá nhân (phát triển trong cả thời thơ ấu) và trong phát triểnlịch sử (phát triển trong cả chiều dài lịch sử loài người) Những thành quả lịch sử của conngười như một dạng sinh học đặc biệt và việc hình thành cuộc sống của nó, trong môitrường xã hội nhất định đã làm hé mở vai trò của các yếu tố di truyền và xã hội trong sự

phát triển của bất kì cá thể nào Nguyên tắc di truyền thể hiện quá trình dạy ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính cần phải dựa trên lịch sử tiến hóa của riêng các kĩ năng ngôn ngữ Những mầm mống bẩm sinh để hình thành các khả năng khác nhau không thể bị bỏ

qua khi tổ chức dạy bất kì kiến thức nào

Trang 22

Hơn nữa điều này cần phải hiểu lời nói (ngôn ngữ) là một hệ thống tín hiệu khôngphải có ở tất cả các vật thể sống mà chỉ có ở con người Nghĩa là việc phục hồi lời nói từngữ cho người không nói được - đó là con đường cơ bản của việc xã hội hóa, nhân hóacon người đó Để đạt được điều này cần thiết phải xuất phát từ con đường phát triển củalịch sử loài người và tìm hiểu những đặc điểm của nó từ khi phát triển lời nói những tiền

đề nào đã được bảo toàn cho đến sự tồn tại ngày nay

Ở con người, để tiếp thu và sử dụng lời nói, cần có cấu tạo giải phẫu đặc trưng của

cơ thể người, khác với những vật thể sống khác Để hiểu điều này cần chỉ ra được thể tíchnão bộ của người và cấu tạo của nó Như A.R.Luria đã nêu, có thể chỉ ra những vùng củanão bộ đặc biệt thích hợp với việc tiếp thu về phương diện cú pháp và hình thái của hệthống ngôn ngữ Trong lịch sử phát triển của loài người, đã hình thành các cơ quan phát

âm có cấu tạo thích nghi với việc tiếp thu lời nói., thậm chí cả tay có cấu tạo để có thểviết, biểu hiện cử chỉ, điệu bộ, đánh máy v.v…

Ở con người, gồm cả những trẻ khiếm thính, có hệ thống các cơ quan thụ cảm đahình thái để tri giác lời nói và kiểm soát nó (không chỉ là cơ quan thính giác, thị giác, xúcgiác, v.v…), đó là những yếu tố được truyền lại theo con đường di truyền Cùng với mứcphát triển lịch sử của con người, một cá thể của sự thích ứng xã hội với thực tế xungquanh, việc sử dụng lời nói như một khâu trung gian của tất cả các thành tố trong hoạtđộng thực tế và giai đoạn mới trong việc hình thành nhận thức cũng đã xảy ra

Chính thời điểm này đã chỉ ra một vài sự giống nhau (nhưng không trùng nhau)của giai đoạn đầu trong phát triển ngôn ngữ của cá thể và phát triển xã hội Chỉ giốngnhau ở chỗ quá trình phát triển lời nói của trẻ cũng liên quan chặt chẽ với hoạt động thựchành và mối giao tiếp giữa các cá thể Mức độ ban đầu của các khái quát trong thực hành

và ngôn ngữ cũng diễn ra gần tương tự

Như vậy, khi đánh giá khả năng lĩnh hội lời nói của trẻ, không thể không tính đếnyếu tố trẻ đã có được những tố chất để sử dụng lời nói với tất cả các chức năng của nó:giao tiếp, tín hiệu, nhận thức, điều khiển Và thật dễ hiểu, tại sao khi bị rối loạn thính giáccần thiết phải cân nhắc đến tất cả các cơ cấu còn lại và giải quyết vấn đề phát triển lời nóibằng những cách đặc trưng Giáo dục điều chỉnh, sử dụng những gì đã có của phát triển

xã hội và cá thể, có nghĩa là thể hiện nguyên tắc di truyền, đã mở những con đường vòng

mô phỏng con đường tự nhiên của phát triển ngôn ngữ, nhưng không thể trùng lặp hoàntoàn với nó Điếc hay nghễnh ngãng ngay từ thuở bé không chỉ đơn thuần là nhược điểmcủa thính giác, mà là việc xây dựng lại toàn bộ hệ thống chức năng trong phát triển tâm lícủa trẻ

Có hay không việc tổn thương thính giác đã làm xao lãng cơ chế lời nói tronghành động? Trong trường hợp nghe bình thường, lời nói được trẻ nghe và tiếp thu ở dạng

có sẵn theo cách bắt chước những người đã nói Ở trường hợp có khuyết tật về thính giác,

Trang 23

lời nói được đưa vào cùng với việc tạo ra những điều kiện nhân tạo để trẻ bắt chước vàkích thích nhu cầu giao tiếp lời nói với người xung quanh của trẻ.

Không một đứa trẻ nào khi mất thính giác từ rất sớm lại có thể tự nói được Nếukhông có sự hỗ trợ và nghiên cứu đặc biệt thì không một từ ngữ nào có thể tự xuất hiệntrong lời nói của nó

Tuân theo nguyên tắc di truyền, trong khi tiến hành tổ chức dạy ngôn ngữ ở nhữnggiai đoạn ban đầu, thường phải quan tâm đến không chỉ tương lai phát triển mà cả việctheo sát những chỉ số cơ bản trong tiêu chuẩn lời nói của trẻ Ví dụ, cần cân nhắc rằng đểnắm vững được từ ở trẻ bình thường thì hình thành những tiền đề quan trọng như cácphản ứng cảm xúc giọng nói, lời nói bập bẹ, (có liên quan và không liên quan), các điệu

bộ chỉ trỏ, giao tiếp qua hành động với đồ vật, các từ chiết hậu v.v… Sau đó, ở giai đoạntiếp thu những từ đầu tiên, bắt đầu sử dụng tình huống cụ thể và bước đầu khái quát hóa ýnghĩa Nội dung các từ được trẻ và người lớn sử dụng Mức độ khái quát trong lời nóiđược hình thành dần dần và phụ thuộc vào khối lượng giao tiếp với người lớn và hoạt

động với đồ vật của chính đứa trẻ Thậm chí cả những từ gần gũi với trẻ như “mẹ”,

“nhà”, không phải ngay từ đầu đã mang đầy đủ ý nghĩa thực Đã từng có một ví dụ trong giờ dạy với trẻ mầm non bị điếc, khi trong trò chơi dạy học “Ai sống ở đâu?” cần phải đặt câu hỏi thích hợp cho các trẻ khác hay trả lời các câu hỏi (“Chó sói sống ở đâu? - Chó sói sống ở trong rừng”) Và sau đó bất thình lình trẻ nhìn thấy hộp kẹo để gần đó và nói “Kẹo sống ở đâu? - Kẹo sống ở trong hộp “Các loại kẹo”.

Nguyên tắc di truyền còn thể hiện trong việc tuân theo quy luật của các hiện tượnglời nói rất đặc trưng của trẻ Trẻ không phải lúc nào cũng phân tích dòng âm thanh thànhcác đơn vị ý nghĩa, phân biệt câu và từ, xác định số lượng từ trong câu, tách các âm trong

từ Trong vai trò đơn vị giao tiếp có thể có cả từ, cả câu ngắn, cả biểu hiện nét mặt Việcnói gần giống, cũng như hiểu gần giống ý nghĩa của các đơn vị lời nói riêng lẻ, là bậcthang tự nhiên trong phát triển ngôn ngữ của trẻ, hoàn toàn không nên bỏ qua hay đánhgiá không hết vai trò của bậc thang này khi xây dựng chương trình dạy chuyên biệt.Trong giáo dục chuyên biệt ở các giai đoạn lứa tuổi, sẽ không phải chỉ xem lại tiêu chuẩn,

mà còn phải nắm được ý nghĩa các qui luật chung của sự phát triển

Sẽ sai lầm nếu ở các giai đoạn lứa tuổi khác nhau của trẻ mà lại sử dụng cùng mộtloại tư liệu ngôn ngữ và cùng một dạng phương tiện Đó cũng là ý nghĩa của nguyên tắc

di truyền đối với sự phát triển lời nói của trẻ

Không thực hiện nguyên tắc di truyền thì không thể đảm bảo mối liên hệ đầy đủ

có tính kế tục giữa các giai đoạn giáo dục

2 Nguyên tắc hoạt động

Quan điểm cho rằng cần giáo dục lời nói trở thành phương tiện giao tiếp của loàingười cho trẻ khiếm thính có liên quan đến những luận điểm tâm lý học chủ chốt sau đây:

Trang 24

- Giao tiếp là dạng hoạt động đặc biệt;

- Lời nói là ngôn ngữ dưới dạng hành động

- Ngôn ngữ là phần chủ chốt của hoạt động tâm lí của con người

- Hình thành giao tiếp ngôn ngữ như một dạng đặc biệt của hoạt động - đó là khíacạnh quan trọng nhất trong sự phát triển nhân cách của trẻ, là điều kiện để tiếp thu kinhnghiệm lịch sử xã hội, các công cụ “tinh thần” (tâm lí), điều quan trọng nhất trong số đóchính là lời nói

Để phù hợp với nguyên tắc hoạt động, việc dạy ngôn ngữ cho trẻ mầm non khiếmthính được xây dựng trên hai lĩnh vực Thứ nhất, đó là tư liệu ngôn ngữ được đưa ra chotrẻ trong điều kiện hình thành các dạng khác nhau của hoạt động thực hành Trong các cơ

sở mầm non, chương trình có tính đến phát triển các hoạt động chơi, tạo hình, lao độngđơn giản, xếp hình Trong chương trình dành cho các trường 2 năm thuộc trường phổthông dành cho học sinh điếc, có dự kiến cả một chương bổ sung: giáo dục đồ vật - thựchành

Thứ hai, với mỗi bài tập ngôn ngữ và phương tiện tiến hành bài tập phải được xâydựng dựa trên cách tiếp cận ngôn ngữ là dạng đặc biệt của hoạt động

Nguyên tắc hoạt động đặt ra việc bước đầu cho trẻ làm quen với bài tập ngôn ngữkhông phải trên giờ học phát triển lời nói mà là trong điều kiện giao tiếp tự nhiên (nhưngtrong đó các phương tiện lời nói được chọn lựa đặc biệt và bố trí cùng với nội dung hoạtđộng thực tiễn) Bản thân hoạt động thực tiễn thực hiện được khối lượng chủ yếu củaviệc định ra mục tiêu, dự định, tạo động cơ, kích hoạt tất cả các chức năng tâm lí Lờinói, khi phục vụ cho hoạt động này, tự nó không là mục đích Nó trở nên thành thục ởbên trong hoạt động thực tiễn của trẻ như một “sản phẩm phụ” Việc nắm vững lượng từ

và câu cú, được giáo viên (nhà sư phạm, cha mẹ) đưa vào trong hoạt động của trẻ vàđược trẻ tiếp thu không bằng cách học thuộc lòng mà trên cơ sở sử dụng thường xuyêntheo động cơ

Bài tập ngôn ngữ dần dần được đưa vào tất cả các hoạt động sinh hoạt của trẻ, vàotrò chơi, các giờ học nhạc, giáo dục thể chất, làm quen với thế giới xung quanh… baogồm gọi tên tất cả các đồ vật, hành động, tính chất, trạng thái, đặc tính của các hoạt động.Điều đó đòi hỏi các nhà sư phạm và giáo dục phải phân tích rõ ràng toàn bộ tư liệu ngônngữ, đảm bảo tần suất sử dụng chúng trong điều kiện giao tiếp thực tế Đó là điều lý giảitại sao toàn bộ công tác phát triển các dạng hoạt động cho trẻ khiếm thính được xây dựngtheo kiểu các giờ học có tổ chức Bề ngoài, việc dạy trẻ tiến hành theo “chương trình củatrẻ”, nhưng thực chất trong điều kiện các tác động có định hướng nó chỉ đi theo “chươngtrình của nhà sư phạm” Điều đó thể hiện tính đặc thù của giáo dục trẻ khiếm thính

Trong các giờ học phát triển lời nói cần đặc biệt hoàn thiện tư liệu ngôn ngữ, đãđược đưa vào từ trước, trong thực tế giao tiếp, trong các giờ học theo các dạng hoạt động

Trang 25

khác nhau Việc hệ thống hóa tư liệu ngôn ngữ, chuyển sang những điều kiện mới và làmchính xác các ý nghĩa nhờ vào sự tham gia của các đơn vị lời nói trong các ngữ cảnh khácnhau cũng đã xảy ra

Nguyên tắc hoạt động trong công việc với tư liệu lời nói biểu hiện ở chỗ người tadạy các dạng khác nhau của hoạt động lời nói bằng các phương pháp chuyên biệt Đó lànói, đọc, viết, cử chỉ, nói bằng miệng và cử chỉ (lời nói ý nghĩa) và nghe, tri giác thínhgiác - thị giác, “đọc” từ nét mặt người nói, từ tay người thể hiện (lời nói ấn tượng) Hoàntoàn tự nhiên, khi mỗi dạng hoạt động ngôn ngữ có thể được sử dụng ở mức độ nhiều hay

ít tùy thuộc vào điều kiện và nhiệm vụ của giao tiếp Mỗi dạng hoạt động ngôn ngữ baogồm các hành động lời nói đặc biệt và các thao tác cần thiết phải xử lí đặc biệt

Cấu trúc hoạt động ngôn ngữ, theo học thuyết của A.N Lêôchiev, về nguyên tắchoàn toàn như các họat động khác Trong đó có động cơ - nhu cầu, định hướng, hànhđộng, thao tác, kết quả

Đối tượng và động cơ của hoạt động ngôn ngữ là ý nghĩ, nhu cầu truyền đạt hay

thu nhận thông tin, nắm vững nội dung nhất định “Bản thân ý nghĩ – L.X Vưgôtxki đã nói - không được sinh ra từ ý nghĩ khác, mà từ môi trường có lý do thúc đầy nhận thức, bao gồm sự say mê và nhu cầu, mối quan tâm và động cơ, các kích động và cảm xúc của chúng ta” (L.X Vưgôtxki “ Tư duy và lời nói” Tuyển tập - M.1982 - Tr.2) Động cơ và

mục tiêu hoạt động của trẻ không phải thường xuyên nằm trong lĩnh vực tiếp thu lời nói.Nhưng các phương pháp tác động đến lời nói càng đa dạng (quan sát, tác động đồ vật,chơi, trò chơi học tập, các bài tập luyện tập đơn giản khác nhau) thì hứng thú với giờ họccàng bền vững, động cơ dần dần chuyển sang cấu tạo bản thân lời nói (âm thanh, biểu đồ,chuyển động) Đến cuối tuổi mầm non động cơ của hoạt động ngôn ngữ có thể chính làlời nói (mong muốn nói đúng, phát âm rõ ràng các từ, v.v…) Ở trẻ sẽ xuất hiện lời nóichủ động và đánh giá đúng các tác động lời nói của mình và của người khác Theo mức

độ phát triển lời nói, khối lượng từ phong phú thêm giúp cho việc tăng cường các dạnglời nói áp dụng cho các tình huống cụ thể (chuẩn phát triển lời nói “Cháu muốn nói cáchkhác”)

Mối quan hệ qua lại giữa nguyên tắc di truyền và hoạt động biểu hiện ở chỗ:

khả năng quan trọng nhất và độc đáo của con người, lời nói, có thể được biểu hiện vàquan sát trên cơ sở phân tích di truyền, phát triển trong quá trình sử dụng lời nói, có

nghĩa là phát triển trong giao tiếp, trong hoạt động Theo khẳng định của A.R.Luria “Cội nguồn của tiếng nói nên tìm hiểu không phải trong bản thân lời nói mà trong các dạng hoạt động thực tế của trẻ” Vì vậy các nguyên tắc di truyền và hoạt động được gắn với

nhau trong khuôn khổ hệ thống giáo dục nhằm phát triển ngôn ngữ trọn vẹn cho trẻ

3 Nguyên tắc cấu trúc - ngữ nghĩa

Trang 26

Nguyên tắc này định hướng cho việc xác định các phương tiện lời nói (tư liệungôn ngữ), trình tự đưa chúng vào kinh nghiệm giao tiếp của trẻ, phương pháp kết hợpcác hướng khác nhau trong việc tác động đến các đơn vị lời nói và xây dựng theo giaiđoạn trong quá trình phát triển hoạt động tư duy ngôn ngữ của trẻ.

Hệ thống lời nói được xét trên hai khía cạnh: ý nghĩa và hình thức, cấu trúc và ngữnghĩa Hai phương diện này luôn quan hệ với nhau và bổ sung cho nhau Trong cấu trúclời nói người ta chia ra các đơn vị của các cấp độ khác nhau: âm vị, hình vị, từ, cụm từ,câu, đoạn văn Mỗi một đơn vị này có những chức năng ý nghĩa riêng, mặc dù ở mức độkhác nhau Thậm chí mỗi âm vị trong thành phần từ có thể thay đổi ý nghĩa từ vựng hay

ngữ nghĩa (VD: sự thay đổi vị trí của các âm vị tạo ra những từ hoàn toàn khác nhau

an-na, cá – ác, ) Sự khác biệt ý nghĩa còn lớn hơn nữa trong đơn vị câu và lời nói Có thể so

sánh câu với từ có trong mỗi thành phần của lời nói và câu có thành phần từ vựng giốngnhau nhưng trật tự từ khác nhau (Mẹ yêu con Con yêu mẹ) Từ đây đã thấy rõ rằng cấutrúc và ngữ nghĩa, hình thái và ý nghĩa cần thiết phải được nghiên cứu trong sự thốngnhất

Điều giải thích lớn nhất khi phân tích lời nói của trẻ là cú pháp ngữ nghĩa và pha

do L.X.Vưgôtxki đưa ra Cú pháp ngữ nghĩa đi từ câu đến từ, còn pha thì lại từ từ đến câu.

Lời nói của người lớn với trẻ không phải là các từ riêng lẻ mà là một vài câu (thông báo,hỏi, kêu gọi) Từ nguyên vẹn chia ra các phần (các từ riêng lẻ) Bởi vậy ngữ nghĩa là dongười lớn đưa vào Đứa trẻ ban đầu đặt những câu một từ, dần dần mới tiếp thu được cảcâu trong lời nói của người lớn Sự kết hợp cấu tạo và ngữ nghĩa như vậy đặc trưng cho

sự giao tiếp lời nói của người lớn với trẻ

Trong giáo dục chuyên biệt về ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính không nói được cũngnên đi từ nguyên vẹn đến các thành phần chủ yếu Các tài liệu về ngôn ngữ học cho thấycác nhà bác học thường cố gắng tránh cách tiếp cận nhỏ lẻ khi nghiên cứu các đơn vị lờinói và đưa ra việc nghiên cứu tư liệu ngôn ngữ nguyên vẹn, có nghĩa là cả câu, và từ đótách ra thành các đơn vị của những mức độ thấp hơn Vì thế vai trò chủ yếu trong ngônngữ trong và ngoài nước luôn luôn nêu cao vai trò hàng đầu của cú pháp trước hình thái

Trong phương pháp luận về dạy ngôn ngữ cho trẻ điếc và nghễnh ngãng,nguyên tắc này được giải thích bằng cách phân tích qua tổng hợp Ngay từ những giaiđoạn đầu tiên người ta không đơn thuần chỉ cho trẻ đồ chơi hoặc tranh và đưa từng từ

một (bóng, búp bê, gấu…), mà đưa ra cả câu Này bóng đây, Bóng đâu? Bắt bóng nào, Bóng rơi rồi, Cái gì đây?” Chọn từ “bóng” trong các dạng lời nói khác nhau (lời nói miệng, chữ viết, cử chỉ …), đưa các cấu trúc khác (bắt, đâu, rơi, cái gì) vào trong câu.

Nguyên tắc cấu trúc - ngữ nghĩa có đề cập đến mối tương quan của các giai đoạntrong giáo dục Mỗi giai đoạn tiếp thu lời nói trong hệ thống dạy học chung có tổ chứcmang đặc thù nội dung và ngữ nghĩa của mình

Trang 27

Ở giai đoạn ban đầu, cho phép trẻ nói gần giống và nắm được ý nghĩa ngữ cảnh.

Đây là thời kì của tính chất nối liền, toàn bộ, không tách từng từ trong việc khám phá đồvật xung quanh và tư liệu lời nói

Ở giai đoạn tiếp theo, tính chất nối liền, tổng hợp này được thay thế bằng việc

mở rộng phân tích các phương tiện lời nói và cách xem xét nó (ví dụ, đưa cách đọc cácbảng theo chữ cái, đọc bằng ngôn ngữ ký hiệu và chuẩn xác cấu trúc từ) Điều này thíchhợp với những trẻ đã qua giai đoạn đầu

Ở giai đoạn dạy cuối cùng trẻ mầm non đã có thể phân biệt từ và câu, từ và chữ

cái, phát âm chuẩn xác kèm với chỉ lên âm tương ứng, đưa từ vào trong câu mới, sắp xếp

từ theo ngữ nghĩa và cấu trúc, đoán trước ý nghĩa

Có nghĩa là, mỗi giai đoạn dạy học đối với nhà sư phạm đều có khối lượng ngữnghĩa của mình không chỉ trên quan điểm khối lượng tư liệu lời nói, mà còn xuất phát từnội dung tâm lí của quá trình phát triển lời nói và trí tuệ của trẻ ở các thời điểm lứa tuổikhác nhau

Như vậy, nguyên tắc cấu trúc ngữ nghĩa của hệ thống dạy học có quan hệ khôngchỉ với bản thân hệ thống ngôn ngữ, mà cả với cấu tạo quá trình tổ chức giáo dục đặcbiệt Nguyên tắc này mang tính tổng hợp

Trang 28

Chương 2: QUI TRÌNH PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ

CHO TRẺ KHIẾM THÍNH MẦM NON

Bài 1: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN

NGỮ CHO TRẺ KHIẾM THÍNH MẦM NON

I PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ VÀ PHÁT ÂM

1 Phát triển khả năng tri giác ngôn ngữ

1.1 Tri giác âm thanh không phải là ngôn ngữ

- Phát hiện âm thanh

- Nhận biết âm thanh: tiếng xe lửa hay xe máy, tiếng chó sủa hay tiếng mèo kêu

- Tìm hướng phát ra âm thanh: trái - phải, trước mặt - sau lưng

- Phân biệt tính chất âm thanh to-nhỏ, liên tục hay ngắt quãng, dài - ngắn

- Cảm nhận nhịp điệu và vận động theo nhịp

1.1.2 Tri giác âm thanh ngôn ngữ

a Tri giác âm thanh ngôn ngữ bằng thính lực còn lại (Luyện nghe)

- Xác định tính chất của tiếng nói: to - nhỏ, nhanh - chậm, lên - xuống giọng, giọngnam hay nữ, giọng nói hay la hét

- Xác định độ dài của câu, cấu trúc lời nói: từ, câu dài - ngắn VD: bàn, cái bàn, cái bàn mới …

- Phân biệt ngữ điệu

VD: A, mẹ về Này, em có sao không? Ai té thế? Ồ, ngon quá!

- Cách ngắt nghỉ trong câu

VD: Bé Hân bị té, bạn khóc Tuấn, em rửa tay đi!

Làm bài xong, em ra chơi Hân à, lại đây với cô.

- Phân biệt âm tiết

Cùng âm đầu: có, cá, cô, con…

Cùng vần: ông, bông, sông…

Giáo viên cũng nên tổ chức cho trẻ nghe đài truyền thanh, xem vô tuyến, nghe đĩa,nghe băng ghi âm …

 Phân biệt giữa âm thanh là tiếng nói và âm thanh không phải là tiếng nói

1.2 Tri giác âm thanh bằng các giác quan khác hỗ trợ cho việc tri giác âm thanh bằng

thính giác ở trẻ Giúp trẻ có biểu tượng trọn vẹn hơn về âm thanh và cung cấp phươngtiện để trẻ có thể lĩnh hội ngôn ngữ

- Tri giác âm thanh ngôn ngữ bằng xúc giác (cảm nhận độ rung, hơi thở)

VD: cảm nhận sự khác nhau khi phát âm âm /b/ và /ph/ thông qua luồng hơi đi ra từ miệng.

Trang 29

- Tri giác âm thanh ngôn ngữ bằng thị giác (nhìn vị trí cấu âm, biểu hiện của luồnghơi tác động lên các vật bên ngoài)

VD: Khi phát âm âm /m/ hai mối khép chặt, khi phát âm âm /t/ đầu lưỡi phải chạm vào răng cửa hàm trên, miệng hơi hé

- Tri giác âm thanh ngôn ngữ bằng cảm giác vận động (cảm nhận độ rung, cảmnhận sự thay đổi vị trí cấu âm giữa các âm)

VD: Khi phát âm các nguyên âm trẻ phải cảm nhận được độ rung ở dây thanh quản (ở cổ).

2 Luyện phát âm

2 1 Đặc điểm phát âm của trẻ khiếm thính

2.1.1 Phát âm nguyên âm:

Nguyên âm là loại âm dễ tiếp thu nhất đối với trẻ Đây cũng chính là những âm được

định vị đầu tiên ở trẻ khiếm thính Dù bị điếc nặng, trẻ vẫn có thể phát âm được gần đúngcác nguyên âm

- Những âm có độ mở rộng (a, ă) được định vị sớm nhất, trẻ phát ra cũng dễ dànghơn

- Những âm có độ mở trung bình (ê, ô), trẻ khiếm thính khó phát âm và thường phátthành những âm có độ mở lớn hơn cùng hàng VD: ê e hoặc a; ô  o

- Đối với những nguyên âm ngắn, khi phát âm trẻ khiếm thính thường có xu hướngchuyển đổi sang những âm dài cùng vị trí VD: ă thành a; â - ơ

- Với 3 nguyên âm đôi iê, uô, ươ trẻ khiếm thính không phát âm được Tất cả cácnguyên âm đôi đều được chuyển thành nguyên âm đơn và có xu hướng chuyển vềnhững nguyên âm có độ mở lớn VD: iê e, uôô; ươơ hoặc â

Nguyên nhân do hình miệng bị cứng (lưỡi dày và cứng) hoặc do dây thanh bị cứngnên phát âm của các cháu không chuẩn

2.1.2 Phát âm phụ âm

Những phụ âm môi /p, b, m, f, v/, âm đầu lưỡi /t, d, n, th, gi/, âm mặt lưỡi /ch, nh/

… trẻ khiếm thính phát âm dễ dàng hơn

Trẻ hầu như không phát âm được những âm gốc lưỡi /c, k, q, kh, ng, g/, những âmcong lưỡi /s, tr, r/

2.1.3 Phát âm thanh điệu

Là một vấn đề vô cùng khó đối với trẻ khiếm thính Khả năng tiếp thu thanh điệuhoàn toàn phụ thuộc vào sức nghe còn lại của trẻ khiếm thính vì thanh điệu là một hiệntượng hoàn toàn âm học, nó bao trùm lên toàn bộ âm tiết chứ không định vị ở một thànhphần nào trong âm tiết Khác với phụ âm hay nguyên âm, thanh điệu không thể hiện đượcbằng hình miệng và âm sắc của thanh điệu cũng không sờ “được” Do vậy, trẻ khiếm

Trang 30

thính học thanh điệu rất khó Đa số trẻ khiếm thính khó phát âm được thanh điệu hoặcphát âm thành những thanh điệu lẫn lộn Đặc biệt là hai thanh ~, ?, trong đó thanh ~ làmột thanh điệu khó ngay cả đối với trẻ mẫu giáo nghe được Đó là vì cơ chế phát âm củathanh này rất phức tạp Muốn phát âm thanh ~, bắt đầu âm thanh phải cao, sau đó thấpdần đến mức thấp nhất tưởng chừng như tắc họng thì âm thanh lại cao dần lên đến khicao nhất thì kết thúc

Rất nhiều trẻ không thể hiện được sự tắc họng, nên khi phát âm thanh ~, trẻthường phát âm thành thanh sắc (không tắc họng) Lỗi này như là một quy luật của trẻmẫu giáo và trẻ càng nhỏ tuổi thì quy luật này càng thể hiện rõ

2.1.4 Chất giọng: Đây cũng là vấn đề rất quan tâm trong lĩnh vực phát âm của trẻ khiếm

thính Nhiều trẻ khiếm thính nói giọng mũi, cao hoặc nói quá to, hoặc kéo dài giọng,giọng khàn, yếu, giọng óc, hoặc không có giọng Đó là do ảnh hưởng của việc mất thínhlực, trẻ không kiểm soát được hơi thở của mình, không giám sát được giọng nói củamình Tóm lại, trẻ khiếm thính phát âm còn hạn chế, chưa rõ ràng do chưa đặt đúng âmlượng, ngữ điệu, giọng nói …

2.2 Luyện phát âm cho trẻ khiếm thính

a Luyện khả năng tri giác âm thanh và phân biệt âm thanh tiếng mẹ đẻ

Luyện để trẻ nghe thấy và phân biệt âm thanh ngôn ngữ

Đây là quá trình giúp trẻ tập trung chú ý nghe để xác định từng âm thanh ngôn ngữ, sau đó phải ghi nhớ những âm thanh này một cách chính xác

b Luyện cơ quan phát âm

Là tạo điều kiện để trẻ luyện tập làm cho các cơ quan phát âm của trẻ:

 Vận động một cách linh hoạt, nhịp nhàng

 Dễ điều khiển

 Dễ cấu âm khi phát âm

Đây là qúa trình giúp trẻ tri giác được phương thức phát âm Vì vậy, giáo viên phải nói trước mặt trẻ một cách rõ ràng, chính xác, giúp trẻ tri giác đúng.

Mức độ 1:

Luyện để cơ quan phát âm vận động tự do  giúp cơ quan phát âm của trẻ

chuyển động linh hoạt tinh tế  Trẻ khiếm thính nhỏ

 Trình tự củng cố cách phát âm các âm của tiếng mẹ đẻ như sau:

1 Làm chính xác vận động của các cơ quan phát âm.

Trang 31

2 Dạy trẻ phát âm đúng từng âm tiết riêng lẻ

3 Dạy trẻ phát âm đúng các âm trong tiếng, từ

4 Dạy trẻ phát âm đúng các âm tiết trong câu

Thông qua việc giúp trẻ phát âm từng âm, tiếng, từ, câu trong khi học, chơi, đọc

thơ, kể chuyện, hát … nhằm luyện cho trẻ biết ngừng nghỉ, ngắt giọng đúng lúc, đúng chỗ khi nói để người nghe hiểu được trọn ý một cách chính xác

d Luyện giọng: dạy trẻ biết điều khiển giọng nói của mình sao cho rõ ràng, biểu cảm

phù hợp với nội dung và hoàn cảnh nói

Nội dung luyện giọng:

- Luyện cao độ của giọng: cao - thấp

- Luyện cường độ của giọng: to - nhỏ

- Luyện trường độ của giọng: dài - ngắn

- Luyện tốc độ của giọng: nhanh - chậm

2 3 Phương pháp luyện phát âm cho trẻ khiếm thính

 Luyện phát âm theo mẫu:

Luyện phát âm theo mẫu là hướng dẫn trẻ phát âm theo đúng các mẫu âm thanhtiếng mẹ đẻ

Các bước tiến hành dạy trẻ luyện phát âm theo mẫu:

Bước 1: GV phát âm mẫu Trẻ tri giác cách phát âm GV phát âm một cách chậm

rãi, rõ ràng, chính xác từng từ (nếu ở các lớp nhỏ), từng âm vị (nếu ở các lớp nhỡ, lớn).Nhất thiết phải để trẻ nhìn rõ vị trí của môi, răng, lưỡi khi GV phát âm Sau khi phát âmmẫu, ở lớp nhà trẻ và mẫu giáo bé, GV không cần phải giải thích cách cấu âm, còn ở lớpmẫu giáo nhỡ và lớn, GV cần phải giải thích rõ cách cấu âm cho trẻ (vị trí của môi, răng,lưỡi và độ mở của miệng)

Bước 2: Trẻ phát âm theo mẫu

Khi trẻ phát âm, GV cần chú ý xem trẻ phát âm có đúng không? Nếu trẻ phát âmsai, GV phát âm mẫu lại để trẻ bắt chước GV có thể yêu cầu trẻ phát âm lại 2-3 lần Tuynhiên, GV không nên bắt trẻ phát âm lại nhiều lần vì trẻ sẽ càng cuống, líu lưỡi, phát âmsai thêm GV có thể cho trẻ nghỉ hoặc chuyển sang phát âm từ khác có chứa âm cầnluyện GV tuyệt đối không được nhắc lại lỗi phát âm sai của trẻ

Trang 32

 Trò chơi:

Sự phát âm của trẻ phụ thuộc vào bộ máy phát âm của chúng Để dạy trẻ phát âmđúng cần thường xuyên tập luyện một số cơ quan phát âm như: môi, lưỡi, răng, phát triểntính linh hoạt của hàm Cần giúp trẻ biết điều khiển nhịp nhàng các cử động của bộ máyphát âm Sự phát âm rõ ràng các âm, các từ phụ thuộc vào sự chính xác và lực của các cửđộng đó

Rất nhiều trẻ nói không rõ, từ này trộn với từ kia thành một hợp âm khó hiểu.Nguyên nhân là cử động chậm chạp của môi và lưỡi, tính linh hoạt của hàm còn yếu, do

đó miệng của trẻ há không to và các nguyên âm phát ra không đúng Sự phát âm rõ ràngcác từ phụ thuộc vào sự phát âm các nguyên âm có đúng không và sau đó phụ thuộc vào

sự điều hoà các hoạt động của bộ máy phát âm khi xác lập các phụ âm

Tập luyện cơ của bộ máy phát âm là quan trọng và cần thiết như tập thể dục đểphát triển cơ thể

2.3.1 Tập thể dục miệng/luyện cơ quan phát âm: nhằm mục đích luyện các cơ quan

của bộ máy phát âm vận động linh hoạt, chính xác

a Tập lưỡi: Lưỡi đóng vai trò chủ yếu trong việc phát âm

Thực hiện các cử động lưỡi như:

- Giữ lưỡi rộng và phẳng, xem lưỡi ai sạch

- Lè lưỡi, thụt lưỡi, đánh răng bằng lưỡi, chú lưỡi vui tính tập thể dục

b Tập môi

- Chu môi ra trước và mở tròn miệng, bè môi, mím môi, liếm môi, ngậm bánh kẹo,rung môi …

c Tập hàm: Tập các vị trí cấu âm của hàm, tránh miệng mở thái quá hoặc không mở

miệng được, nâng và hạ hàm dưới nhẹ nhàng

- Tập hành động nhai, nhai kẹo cao su, “chú cá đớp mồi”…

2.3.2 Luyện thở: giúp trẻ có luồng hơi khỏe, dài, đủ và liên tục, cách giữ hơi thông qua

việc điều khiển hơi thở

Những bài tập gợi ý:

- Thổi bóng, thổi cho viết chì lăn, thổi thuyền giấy, thổi nến, thổi xốp trong chậu,thổi nước nóng, thổi chong chóng, thổi các con vật bay, dải lụa, ngửi hoa, làm làngió thổi

- Phát âm một hơi dài các âm một âm vị như aaaa và tuyệt đối không lấy hơi

- Đếm một hơi từ 1-10

2.3.3 Luyện giọng: Định hình giọng nói của trẻ (độ cao, độ ngân, âm sắc, độ lớn)

- Bắt chước tiếng kêu của các con vật (VD: trò chơi “chiếc túi kỳ diệu”, “con gì kêuđấy”), tiếng kêu của các đồ vật (tiếng xe, tiếng máy chạy, tiếng tàu lửa, tiếng haivật chạm vào nhau…)

Trang 33

- Phát âm dài - ngắn, nhanh - chậm (các nguyên âm a, e, i, o, u)

Nội dung luyện phát âm được tổ chức thành các giờ cá nhân (ở trường chuyên biệt

và hòa nhập), giờ nhóm nhỏ (ở trường chuyên biệt, hòa nhập), tập thể (trường chuyênbiệt) Những giờ chỉnh âm thường được tổ chức theo hình thức cá nhân

GV có thể thực hiện các nội dung và biện pháp luyện phát âm trên các giờ họckhác, coi đó như là một trong các mục đích yêu cầu của giờ học Ngoài ra, GV cũng cóthể thực hiện các nội dung trên trong các giờ sinh hoạt khác ở trường như: giờ đón trả trẻ,giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ, giờ vệ sinh chăm sóc trẻ, giờ thể dục sáng

Công tác luyện phát âm cho trẻ bao gồm nhiều nội dung có liên quan chặt chẽ vớinhau và được thực hiện ở mọi lúc mọi nơi Các GV cần chú ý tạo mọi điều kiện, tận dụngnhiều hình thức và phương pháp để luyện phát âm đúng cho trẻ

4 Những lưu ý

- Giáo viên cần nắm vững kiến thức ngữ âm cơ bản, nắm cách phát âm tiếng Việt,

hệ thống âm vị, vị trí cấu âm của các âm trong tiếng Việt …

- Người dạy phải phát âm đúng, rõ ràng, thong thả, giọng nói vừa âm lượng, nóitrước mắt trẻ để trẻ tri giác dễ nhất, tốt nhất

- Tùy đặc điểm, mức độ phát triển của từng trẻ mà GV đặt ra những yêu cầu phùhợp trong việc phát âm

- Khi trẻ nói sai một từ nào hay một âm tiết nào, chúng ta nên uốn nắn sửa chữangay, sẽ đem đến những tác dụng nhất định Mặt khác, không nên bắt trẻ tập nhiềulần một âm tiết nào đó trong cùng một lúc vì như vậy trẻ sẽ bị ức chế, nhất là đốivới trẻ khiếm thính nhỏ

- Tần số xuất hiện một từ, một âm tiết có ảnh hưởng lớn đến phát âm của trẻ Bởivậy, muốn trẻ phát âm tốt, nhất là đối với những âm khó, giáo viên phải tìm cáchlàm cho trẻ nghe nhiều, nói nhiều trong cuộc sống hàng ngày về những từ, âm đóbằng cách đưa trẻ vào hoạt động giao tiếp giữa trẻ và bạn bè, giữa trẻ và giáo viênhoặc giữa trẻ với những người xung quanh

- Tránh để trẻ nói đứt đoạn, ngắt quãng làm mất ý nghĩa trong chuỗi lời nói, mà phảinói liên tục trọn ý

- Trò chơi là phương tiện dạy phát âm tốt, đặc biệt đối với những trẻ nhút nhát, ítnói Trò chơi có tác dụng kích thích, gây hứng thú cho trẻ buộc trẻ phải hoạt động,nói năng trên cơ sở đó, giáo viên sẽ dạy và tập cho trẻ phát âm đúng

Bảng đánh giá các loại lỗi phát âm của trẻ

Trang 34

Họ và

tên

Năm sinh

Thanhđiệu(~, ?)

Phụ âmđầu(l, tr, p

n, t, b)

Âmđệm(oan,oat…)

Âmchính(iê, ươ,uô)

Âmcuối(anh,ăn)

Nguyên nhân của

Ví dụ: Trẻ quan sát đối tượng: quả cam với các đặc điểm tròn, xanh (vàng), vỏ sần sùi, có múi, có hột trắng v.v… trẻ hiểu từ “Quả cam”.

Trẻ phải hiểu nghĩa của từ: Nghĩa của từ là khả năng mà từ biểu thị sự vật, hiệntượng, hành động, đặc điểm, tính chất, số lượng, quan hệ v.v…

2 Các mức độ khái quát nghĩa của từ

Ta có thể chia các mức độ khái quát nghĩa của từ như sau:

- Mức chưa có khái quát: Từ chỉ cụ thể sự vật, con người, hay hiện tượng nào

đó như là tên riêng của con người, tên gọi của một đối tượng cụ thể Ví dụ: Tên Lan,

Trang 35

- Mức khái quát thứ hai: Từ biểu thị, gọi chung cho một số đối tượng, hành động,

hiện tượng v.v… VD: Từ “Bóng” được gọi chung cho các quả bóng khác nhau không phụ thuộc vào màu sắc, kích thước, vật liệu làm ra nó “Hoa” chỉ các loại hoa

Trẻ hiểu được nghĩa chung của từ vào cuối năm thứ hai

- Mức khái quát thứ ba: Từ - khái niệm chỉ nghĩa cùng loại như VD: Đồ gỗ : Bàn gỗ, ghế gỗ, tủ gỗ v.v… (chỉ những đồ vật làm bằng gỗ) Đồ chơi : Cục gỗ, búp bê, con gấu v.v…

Trẻ lĩnh hội từ ở mức khái quát thứ ba vào khoảng cuối năm thứ ba và năm thứ

- Mức khái quát thứ tư: Từ chỉ tổng loại, loài VD: Thực vật : Cây ăn quả, cây cảnh, lương thực …

Trẻ khoảng 6 tuổi mới có thể hiểu được từ ở mức độ khái quát này

- Mức khái quát thứ năm: Từ - chỉ nghĩa có tính khái quát, trừu tượng cao VD:

Sự vật, sự việc, hành động, dấu hiệu, chất lượng quan hệ…

Trẻ mẫu giáo chưa thể hiểu được các từ ở mức độ khái quát này

- Ở trường mầm non, việc dạy từ không phải dạy ý nghĩa của từ như ở trườngphổ thông Chúng ta dạy trẻ tên gọi các đối tượng, sự vật, hiện tượng v.v… trẻ làm quenvới các loại từ Giáo viên không chỉ chú ý đến chất lượng, tức là phải chú ý đến việc trẻ

có hiểu nghĩa của từ không? Trẻ tiếp thu có tương ứng với mức độ khái quát của từ ởtừng lứa tuổi không? Trẻ có sử dụng chúng một cách linh hoạt trong giao tiếp hàng ngàykhông?

Trang 36

Quá trình lĩnh hội từ được diễn ra cùng lúc với việc tìm hiểu vật phù hợp với từ đó.Vật mà trẻ quan tâm sẽ đi vào nhận thức của trẻ qua các giác quan Sự nhận thức cảm

tính này sẽ phát triển cùng với các cảm xúc tương ứng kèm theo (thích, không thích, vui, không vui…) Sau đó sự nhận thức cảm tính này cùng với sự từ sẽ được củng cố trong trí

nhớ của trẻ như là một biểu tượng về vật Khi nghe từ gọi vật đó, trước hết sẽ gợi lên ở

trẻ tất cả những cảm giác, cảm xúc mà trẻ đã trải qua khi tiếp xúc với vật ( ví dụ từ “bác sĩ”).

- Sau khi trẻ thu nhận cơ sở cảm xúc của từ, trẻ sẽ có khả năng hiểu nghĩa khái quátcủa từ

b Mở rộng vốn từ phải được tiến hành từ dễ đến từ khó, từ gần đến từ xa, từ cụ thể

đến khái quát, trừu tượng

- Từ mang nghĩa cụ thể, gần gũi với trẻ Các từ này gắn liền với tên gọi - danh từ chỉ

tên người, đồ vật, con vật … gần gũi Ví dụ: Ba, má, anh, chị, ôtô, xoài, cam …

Các từ - động từ chỉ hành động như: đi, chạy, ăn, uống …, các tính từ chỉ màu sắc,hình dáng, kích thước … các loại từ này thường gắn liền với danh từ

- Từ mang ý nghĩa khái quát VD: đồ chơi, đồ gỗ, phương tiện giao thông, rau củ v.v….

- Các từ tượng thanh: róc rách, lộp bộp …

- Các từ tượng hình: lóng lánh, bồng bềnh, lơ lửng…

- Các từ trừu tượng: phấn khởi, ngoan, dũng cảm …

3.2 Củng cố vốn từ :

- Giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ, có khả năng sử dụng từ trong giao tiếp

- Trẻ không chỉ biết từ, mà còn phải hiểu rõ nghĩa của chúng và sử dụng một cách phù

hợp Có trường hợp trẻ biết từ nhưng chưa hiểu hết nghĩa hoặc sử dụng sai Ví dụ: Mẹ ơi! Con bị chảy máu cam (máu tay)

Hoặc trẻ hỏi : Chạy một mạch là sao ?

Trẻ phải được quan sát tỉ mỉ đối tượng, phải cảm nhận được nghĩa của từ, phải đượcnghe lời giảng giải của người lớn

Ví dụ: - Sần sùi, trơn láng phải được trẻ cảm nhận bằng xúc giác

- Chảy máu cam là chảy máu mũi …

3.3 Tích cực hoá vốn từ

Phải giúp trẻ không những biết từ, hiểu từ mà còn phải biết lựa chọn từ để sử dụngmột cách chính xác biểu cảm, làm cho ngôn ngữ của trẻ mang sắc thái tu từ, biết sử dụngcác phương tiện diễn cảm của từ

Ví dụ: Dùng từ chính xác : Rửa ly, tắm cho bé, thay đồ, cởi áo …

Dùng từ đồng nghĩa: mèo đen - mèo mun; chó mực - chó đen …

So sánh : “Trăng hồng như quả chín”, “Trăng bay như quả bóng “…

Trang 37

Ngoài ra trẻ ở lớp mẫu giáo cần phải hiểu và sử dụng một số từ đồng nghĩa mang tính

chất tình cảm trong nghi thức lời nói VD : Mày tao ; tôi bạn ; tớ – ấy, An – xơi dùng …

-Trẻ mang vào trường những từ thô tục, giáo viên phải thay chúng bằng các từ phổthông, lịch sự, giải thích sự khác nhau về mặt thái độ … Việc giải thích cho trẻ chỉ có thể

dựa trên mức độ đạo đức Ví dụ: Bạn nào nói như thế là không ngoan, không ai thích, không ai chơi v.v…

Tóm lại: Ba nhiệm vụ của công tác phát triển từ có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ

với nhau Nhiệm vụ này được thực hiện dựa trên nhiệm vụ kia Nếu không có từ thì takhông thể có điều kiện củng cố trong các tình huống giao tiếp và lựa chọn cách sử dụngmột cách linh hoạt

4 Nội dung vốn từ cần cung cấp cho trẻ

Nội dung vốn từ cần cung cấp cho trẻ khiếm thính mầm non được mở rộng theonhững hướng chính sau :

1 Từ ngữ đặc trưng cho từng lĩnh vực hoạt động cụ thể (thuật ngữ)

VD: nhóm từ nhiều hơn, ít hơn, thêm vào, bớt đi trong giờ làm quen với Toán.

2 Từ ngữ thể hiện chủ đề của hoạt động

VD: Chủ đề Trái cây sẽ có những từ về tên gọi, màu sắc, hương vị … của chúng.

3 Từ ngữ sử dụng trong việc tổ chức giao tiếp trong quá trình hoạt động của trẻ

VD: Trong giờ tạo hình cô và trẻ có thể sử dụng những từ ngữ, câu nói “chú ý nhìn cô vẽ, lấy đồ dùng vẽ ra, cất đồ dùng, rửa bảng pha màu, con vẽ gì thế?”… để nói chuyện với nhau nên trẻ phải được cung cấp những từ ngữ có liên quan để có thể trao đổi, giao tiếp trong khi học tiết này như “lấy ra”, “chú ý nhìn”, “cất”,

“rửa” ….

Dựa vào nội dung hoạt động của trẻ, các chủ đề mà trẻ sẽ học để xây dựng hệ thống từvựng sẽ cung cấp cho trẻ Đồng thời ở mỗi lứa tuổi khối lượng vốn từ sẽ khác nhau, cácmức độ lĩnh hội từ cũng khác nhau

Trong đó cần chú ý cung cấp đa dạng các loại từ (danh từ, động từ, tính từ, trạngtừ…) và tăng dần các mức độ hiểu ý nghĩa của từ (cụ thể – khái quát, từ đồng nghĩa, từtrái nghĩa, từ đồng âm khác nghĩa…, )

5 Phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ

Người ta sử dụng nhiều các phương pháp và biện pháp khác nhau để phát triểnvốn từ cho trẻ Các phương pháp sau đây là những phương pháp cơ bản thường được sửdụng:

5 1 Phương pháp quan sát

Trang 38

a Khái niệm: Là dạy trẻ biết xem xét, phân tích, so sánh để biết kêu tên gọi, tìm ra

những đặc điểm, phẩm chất, thuộc tính… của đối tượng quan sát, đồng thời biết phản ánhnhững nhận biết đó vào ngôn ngữ

b Mục đích: Mở rộng và củng cố vốn từ cho trẻ

c Hướng dẫn sử dụng : Có nhiều hình thức quan sát nhằm phát triển vốn từ cho

trẻ được tiến hành

 Làm quen với từ mới: Tổ chức cho trẻ tri giác đối tượng, đồng thời làm quen với

từ chỉ tên gọi, đặc điểm, tính chất, quan hệ … của đối tượng

Ví dụ: - Cung cấp cho trẻ từ sần sùi khi cho trẻ tri giác quả cam (nhìn, sờ)

- Trẻ được làm quen với từ mới “cao hơn”, “thấp hơn” khi quan sát bức tranh vẽ cây dừa và ngôi nhà

 Củng cố vốn từ: Tổ chức cho trẻ quan sát, tạo điều kiện để trẻ sử dụng từ đã biết

Ví dụ: Cô đặt 2 cái ly (1 bằng thủy tinh, 1 bằng nhựa) lên bàn cho trẻ quan sát rồi hỏi trẻ trong ly có gì ? Vì sao con biết ? Trẻ sẽ dùng từ “trong suốt” mà mình đã biết

để trả lời

 Giúp trẻ hiểu nghĩa của từ trong tình huống, hoàn cảnh: VD: Quan sát quả bóng bay để tìm hiểu từ “lơ lửng”, quan sát chú công nhân làm việc để hiểu từ

“chăm chỉ” …

d Lưu ý khi thực hiện

- Chọn kỹ đối tượng cần quan sát : phải có những đặc điểm nổi bật được thể hiện rõtrong từ cần dạy trẻ ? (chua, ngọt, cứng, mềm …)

- Dành thời gian để trẻ quan sát kỹ, sử dụng các giác quan vào việc nhận thức, kíchthích trẻ tự rút ra nhận xét bằng chính từ ngữ của mình

- Phát âm to, rõ, nhấn mạnh vào từ mới cần cung cấp cho trẻ Giáo viên nên đặt từmới vào các loại câu khác nhau để trẻ cảm nhận được cách sử dụng từ

5 2 Phương pháp đàm thoại :

a Khái niệm: Là quá trình cô và trẻ cùng trò chuyện nhằm giúp trẻ hiểu nghĩa của từ,

tạo điều kiện cho trẻ sử dụng từ (củng cố vốn từ)

b Hướng dẫn thực hiện sử dụng:

Đàm thoại được tiến hành với nhiều mục đích khác nhau:

Bước 1: Giúp trẻ hiểu nghĩa của từ : khi giảng giải nghĩa của từ khó , cô có thể sử

dụng nhiều biện pháp khác nhau như:

+ So sánh đối tượng trong mối liên quan giữa từ với sự vật quen thuộc, gần gũi

Ví dụ: Trăng tròn như cái đĩa

Mặt trời đỏ như lửa

+ So sánh trong hệ thống từ cùng nghĩa nhưng ở các mức độ khác nhau

Ví dụ: Cuồng phong

Trang 39

- Gió nhẹ

- Gió mạnh

- Gió rất mạnh = cuồng phong

+ Dùng ngữ cảnh :

Ví dụ: Bạn Nam bị tiêm đau mà không khóc, bạn Nam rất dũng cảm

+ Dùng các từ hoặc cụm từ đồng nghĩa để giải thích :

Ví dụ: - Chạy một mạch là chạy không dừng lại

Ví dụ: Đây là quả bóng Quả bóng hình tròn, quả bóng màu xanh Con lăn bóng cho cô Ơi bóng lăn vào gầm gường rồi …

5 3 Trò chơi:

Ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với hoạt động của con người Hoạt động chủ đạo củatrẻ là hoạt động chơi Vì vậy trò chơi là phương pháp phát triển từ rất hữu hiệu Trong khichơi trẻ tái tạo những biểu tượng mà trẻ đã tri giác được bằng các hành động và ngônngữ Để củng cố và tích cực hoá vốn từ cho trẻ, ta thường sử dụng các lại trò chơi sau:

a Trò chơi gọi tên: Trò chơi nhằm giúp trẻ gọi tên các đồ vật, đồ chơi, con vật …

củng cố một số danh từ cho trẻ

Ví dụ: - Cái túi kỳ lạ: Trẻ lấy vật ở trong túi ra và gọi tên.

- Thi xem ai nhanh: Cô giơ vật hoặc tranh trẻ gọi tên.

- Đố con gì kêu : Giáo viên giả tiếng kêu, trẻ nêu tên con vật

Các trò chơi thường dùng ở lứa tuổi nhà trẻ Ơ lứa tuổi mẫu giáo, nội dung chơiđược nâng cao hơn như :

- Đố con gì biết nhảy / đi?v.v…

- Con gì biết bay/ mổ/ hí/ hót/ gáy ? v.v…

- Đố con gì bắt chuột ? Hoa gì thơm v.v…

Các trò chơi trên không chỉ củng cố ở trẻ các danh từ, động từ mà còn phát triển

và nâng cao nhận thức tư duy cho trẻ

b Chơi miêu tả:

Trò chơi yêu cầu trẻ miêu tả đặc điểm bên ngoài hình dáng, kích thước, màu sắc,tính chất … việc miêu tả thường gắn liền với việc sử dụng động từ, tính từ Tùy mức độ

có thể dùng cho trẻ lớp mầm, chồi, lá

Trang 40

Ví dụ 1: Bán hàng : Trẻ mua hàng không nói tên mà chỉ nêu các đặc điểm của vật mình cần mua

Ví dụ 2 : Kể đủ các phần : Cô nói cái nồi : trẻ sẽ nói tiếp các bộ phận của cái nồi như : quai nồi, nắp nồi …

c Phân loại :

Trò chơi này có tác dụng củng cố ở trẻ vốn từ có tính chất khái quát cao Trò chơi nàythường dùng cho trẻ lớp mẫu giáo nhử, lớn

Ví dụ: - Cô nói: Phương tiện giao thông - Trẻ nói: Ô tô, máy bay, tàu hoả v.v…

- Cô nói: Rau củ Trẻ nói: Cà rốt, su hào, củ cải trắng, củ dền… hoặc ngược lại

d Nói ngược :

Trò chơi này giúp trẻ hiểu sâu nghĩa của từ, biết tìm ra nữhng từ đối lập để sử dụng.Dùng cho trẻ mẫu giáo

Ví dụ: Cô nói: To Trẻ nói: Nhỏ

Cô nói : Mưa Trẻ nói : Nắng

e Trò chơi đố giải:

Trò chơi này giúp trẻ củng cố vốn từ Khi chọn câu đố, giáo viên cần dựa vào khảnăng hiểu biết của trẻ, chuẩn bị kiến thức trước cho trẻ

g Trò chơi phân vai theo chủ đề, trò chơi đóng kịch:

Thông qua các trò chơi này, vốn từ của trẻ được củng cố Bởi vì khi đóng các vai, trẻ

sẽ phải nói bằng ngôn ngữ của nhân vật

IV Hình thức phát triển vốn từ cho trẻ

1 Làm giàu vốn từ cho trẻ trong giao tiếp hàng ngày:

a Cung cấp từ mới cho trẻ:

- Trẻ thường hay hỏi, nhất là trẻ 3 tuổi muốn biết nhiều thứ, sự tò mò ở giai đoạn nàymang tính chất đặc biệt: Trẻ muốn biết từ gọi tên đối tượng

* Trả lời câu hỏi của trẻ-làm giàu vôn từ cho trẻ (bằng cách trẻ nhìn thấy trực tiếp)

- Những từ biểu thị đối tượng mà trẻ không trực tiếp nhìn thấy như: Biển, sa mạc.v.v…trẻ được biết bằng cách xem tranh, tivi…

* Người lớn cần chú ý sử dụng từ trong nhiều câu khác nhau, trẻ sẽ cảm thấy từ trong câuthay đổi và ở trẻ sẽ phát triển cảm giác ngữ pháp Tuy nhiên không phải lúc nào trẻ cũng hỏi

về những đối tượng xung quanh, nên giáo viên cần thu hút trẻ chú ý đến chúng một cách có

hệ thống theo chương trình

* Giáo viên cần lập bảng từ cần cung cấp cho trẻ trong 1 tuần

Ví dụ: Trẻ lớp cơm thường: 3 - 5 từ

Trẻ lớp mầm: 10 từ Trẻ lớp chồi: 15 từ Trẻ lớp lá: 20 từ (Bài tập : Lập bảng từ cần cung cấp cho trẻ trong 1 tuần, trong 1 lứa tuổi, trong 1 thờigian cụ thể của năm học)

Giáo viên cần chú ý đến trường hợp trẻ có thể không hiểu từ hay không hiểu hình thứcngữ pháp của lời nói

- Trẻ có thể đọc thơ, hát, nói mà không hiểu nghĩa của chúng:

Ngày đăng: 20/04/2021, 20:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w