1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp báo cáo thực hiện nhiệm vụ kiểm lâm địa bàn tại hạt kiểm lâm thị xã phổ yên, tỉnh thái nguyên

55 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Báo cáo thực hiện nhiệm v

Trang 1

LÒ VĂN MIÊN

BÁO CÁO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KIỂM LÂM ĐỊA BÀN TẠI HẠT KIỂM LÂM THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2014 - 2018

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

LÒ VĂN MIÊN

BÁO CÁO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KIỂM LÂM ĐỊA BÀN TẠI HẠT KIỂM LÂM THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Lớp : LN46 - N01

Khóa học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Công Quân

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Mục tiêu của Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên là đào tạo được những kỹ sư không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn phải thành thạo thực hành Bởi vậy, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn không thể thiếu để mỗi sinh viên có thể vận dụng được những gì mình đã học và làm quen với thực tiễn, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và tích lũy những kinh nghiệm cần thiết sau này

Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt

nghiệp với đề tài: “Báo cáo thực hiện nhiệm vụ kiểm lâm địa bàn tại hạt Kiểm lâm Thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”

Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của

cán bộ công nhân viên Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm Nghiệp, Công ty

Cổ phần phát triển nông lâm nghiệp và môi trường, đặc biệt là sự hướng dẫn

chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn: TS Trần Công Quân đã giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình làm đề tài

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn bỡ ngỡ ban đầu trong quá trình hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình thực tập và trình bày khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự giúp

đỡ, góp ý và nhận xét chân thành của quý thầy cô giáo và toàn thể các bạn đồng nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thành hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Lò Văn Miên

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai ở Thị xã Phổ Yên (2018) 12 Bảng 4.1 Hiện trạng tài nguyên rừng theo địa phương ở thị xã Phổ Yên 30 Bảng 4.2 Kết quả nghiên cứu về công tác tham mưu trong quản lý bảo vệ

rừng (2016 – 2018) 32 Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật của Hạt kiểm lâm Phổ

Yên (2016 - 2018) 33 Bảng 4.4 Tổng hợp công tác kiểm tra kiểm soát lâm sản giai đoạn

(2016 - 2018) 34 Bảng 4.5 Kết quả công tác tuyên truyền vận động nhân dân (2016 - 2018) 35 Bảng 4.6 Theo dõi diễn biến rừng tại khu vực nghiên cứu 36

Trang 5

9 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của công việc sinh viên trực tiếp thực hiện 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu công việc sinh viên trực tiếp thực hiện 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu quản lý bảo vệ rừng trên thế giới và ở Việt Nam 4

2.1.1 Tình hình nghiên cứu về QLBVR trên thế giới 4

2.1.2 Tình hình nghiên cứu về QLBVR ở Việt Nam 7

2.2 Tình hình về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 10

2.2.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu 10

2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Thị xã Phổ Yên 15

Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 23

3.1 Thời gian và phạm vi thực hiện 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 23

3.3 Các bước thực hiện đề tài 23

3.3.1 Đánh giá về hiện trạng quản lý tài nguyên rừng của Hạt kiểm lâm Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 23

3.3.2 Thực thi công tác Kiểm lâm địa bàn tại Trạm kiểm lâm Phúc Thuận 24

3.3.3 Xử lý số liệu và viết báo cáo khoá luận 26

Phần 4 KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Hiện trạng công tác quản lý bảo vệ rừng ở hạt Kiểm lâm Phổ Yên 27

4.1.1 Cơ cấu tổ chức của Hạt Kiểm lâm Thị xã Phổ Yên 27

Trang 7

4.1.2 Hiện trạng tài nguyên rừng của thị xã Phổ Yên 30

4.2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao của người Kiểm lâm địa bàn trong quá trình thực tập 31

4.2.1 Kết quả nghiên cứu về công tác tham mưu trong quản lý bảo vệ rừng 31

4.2.2 Kết quả kiểm tra giám sát xử lý vi phạm pháp luật 33

4.2.3 Kết quả công tác tuyên truyền vận động nhân dân 35

4.2.4 Kết quả công tác theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trong khu vực 36

4.3 Một số bài học kinh nghiệm và giải pháp tổ chức thực hiện công tác kiểm lâm địa bàn tại khu vực hạt Kiểm lâm Thị xã Phổ Yên 37

4.3.1 Một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện công việc của Kiểm lâm địa bàn 37

4.3.2 Một số giải pháp tổ chức thực hiện công tác kiểm lâm địa bàn tại khu vực hạt Kiểm lâm Thị xã Phổ Yên 39

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 8

Phần 1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của công việc sinh viên trực tiếp thực hiện

Vai trò của rừng là rất quan trọng trong đời sống, sản xuất, môi trường

và xã hội Tuy nhiên nạn khai thác rừng bừa bãi hiện nay vẫn đang diễn ra từng ngày Nhiều người vì các lợi trước mặt mà bỏ qua lợi ích lâu dài mà rừng đã và đang đem lại

Khi rừng đầu nguồn bị chặt phá sẽ khiến lũ lụt xảy ra liên miên Làm xói mòn đất khiến người dân mất của thậm chí là ảnh hưởng tới tính mạng Các loại cây trồng trong rừng bị chặt phá khiến các loài động vật mất đi chỗ trú ngụ Bên cạnh đó nạn đốt phá rừng làm nương rẫy cũng khiến diện tích rừng bị suy giảm trầm trọng

Do vậy chúng ta cần bảo vệ rừng bằng những hành động thiết thực ngay từ bây giờ Cần tuyên truyền để nâng cao ý thức cho người dân trong việc bảo vệ vai trò của rừng Vùng thường xuyên bị bão lũ, thiên tai cần trồng rừng đầu nguồn Ngoài ra, cần tích cực phủ xanh đất trống đồi trọc Đặc biệt, với nạn phá rừng, Nhà nước cần phải có các chính sách xử phạt nghiêm minh nhằm răn đe mọi người

Bảo vệ rừng là bảo vệ sức khỏe của bản thân, gia đình cũng như xã hội Đây không phải vấn đề của riêng bất kỳ một ai Vì vậy chúng ta hãy cùng chung tay góp sức bảo vệ vai trò của rừng

Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của Nhà nước, có chức năng bảo

vệ rừng, giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng Kiểm tra việc khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản và bảo vệ rừng là công việc chính của cán bộ kiểm lâm Trong đó, những người kiểm lâm địa bàn được phân công nhiệm vụ quản lý,

Trang 9

bảo vệ rừng Các hoạt động nghiệp vụ của kiểm lâm được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật Nhà nước và các quy trình Kiểm lâm nói chung, Kiểm lâm địa bàn nói riêng phải phối hợp với chính quyền địa phương đi tuần tra, kiểm tra trên địa bàn được phân công để phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp (2018) như phá rừng trái phép, khai thác rừng trái phép, săn bắn động vật rừng trái phép, vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy rừng, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản…có biện pháp ngăn chặn kịp thời, tạm thời đình chỉ hoặc đình chỉ những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc những hành động có nguy cơ gây hại đến tài nguyên rừng

Là một sinh viên ngành lâm sinh, tôi cảm thấy cần phải được trang bị những kiến thức của một kiểm lâm địa bàn, để khi ra trường có thể làm việc trong môi trường kiểm lâm thì sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Vì vậy,

tôi chọn đề tài: “Báo cáo thực hiện nhiệm vụ kiểm lâm địa bàn tại hạt Kiểm lâm huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu công việc sinh viên trực tiếp thực hiện

1.2.1 Mục tiêu thực hiện đề tài

- Tham gia vào công việc hàng ngày của các kiểm lâm viên địa bàn và ghi chép viết báo cáo chi tiết các công việc

- Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác kiểm lâm địa bàn tại khu vực quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

1.2.2 Yêu cầu công việc sinh viên thực hiện

Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống

và củng cố lại những kiến thức đã học, đặc biệt những kiến thức về quản lý bảo vệ và phát triển rừng Yêu cầu sinh viên thực hiện phải điều tra ngoài thực

tế, viết một bản báo cáo công việc để hoàn thiện về lý thuyết, thực hành, làm

Trang 10

quen với công việc của những chiến sĩ Kiểm lâm địa bàn khi thực hiện nhiệm

vụ, từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng học tập

Sau khi đi thực tế cùng với các chiến sĩ kiểm lâm địa bàn về viết báo cáo công việc cụ thể phải thực hiện của mỗi chiến sỹ Kiểm lâm địa bàn, phương pháp, cách thức xử lý các vụ việc xảy ra về quản lý bảo vệ và phát triển rừng, sẽ tạo tiền đề gắn những kiến thức đã học vào thực tế, củng cố và rút ra những bài học thực tế cho bản thân người học, cũng như giải quyết các

sự việc cụ thể tại địa phương

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu quản lý bảo vệ rừng trên thế giới

và ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình nghiên cứu về QLBVR trên thế giới

Theo thống kê của tổ chức FAO (1999), những năm cuối thập kỷ XX,

tỷ lệ mất rừng các nước trên Thế giới và đặc biệt ở Việt Nam đang diễn ra ngày càng phức tạp Nếu tính cả thế giới mất đi 56 triệu ha rừng (mỗi năm mất khoảng 11 triệu ha rừng) Trong khi đó diện tích rừng trồng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất đi, chưa kể đến việc mất đi tính đa dạng sinh học [Fao 1999]

- Ở Indonesia: Trong ngành lâm nghiệp đang tồn tại hai thực tế Một

thực tế là những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá, những đầm lầy than bùn bị rút hết nước, rừng bị đốt phá để thay thế bằng những đồn điền cây công nghiệp Trong khi đó, vẫn có một thực tế khác là cây cối đang được trồng lại, rừng được khôi phục với hy vọng giải quyết được vấn đề khí thải trong một tương lai gần

Quan điểm nhất quán về chính sách quản lý rừng ở Inđônêxia là dựa trên nguyên tắc vừa khai thác lợi ích rừng, vừa bảo tồn và phát triển rừng Vì vậy các nhà khoa học đã kiến nghị với Chính phủ đưa ra 3 chương trình mang tính chất quốc gia Đó là:

+ Chương trình kiểm tra, giám sát, du canh, du cư

+ Chương trình phát triển làng, bản

+ Chương trình lâm nghiệp xã hội

Các nhà khoa học Inđônêxia còn đưa ra và thí điểm thành công mô hình đồng quản lý rừng Theo mô hình này, các cơ quan phát triển lâm nghiệp Nhà nước cùng với người dân và cộng đồng địa phương cùng tham gia quản lý

Trang 12

rừng Cụ thể các cán bộ quản lý lâm nghiệp Nhà nước tiếp cận hộ gia đình, cộng đồng địa phương để lựa chọn hệ thống cây trồng, từ đó giúp đỡ nhóm nông dân sản xuất rừng Giúp đỡ nhóm hộ soạn thảo kế hoạch quản lý rừng Người nông dân được khuyến khích trồng rừng trên đất rừng do Nhà nước quản lý, được quyền thu hái sản phẩm phụ Các chương trình lâm nghiệp xã hội đã giúp đỡ người dân tổ chức lại thành nhóm, hiệp hội, tạo mối quan hệ gắn bó giữa các công ty Nhà nước với các cộng đồng địa phương [6]

- Ở Philippin: Đã áp dụng chương trình xã hội Lâm nghiệp tổng hợp cá

nhân, tổ chức, cộng đồng địa phương được giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp, người dân sử dụng đất và có kế hoạch trồng rừng

Các nhà khoa học Philippin đã khẳng định chính sách quản lý lâm nghiệp đổi mới trong những năm gần đây là yếu tố có tính quyết định đến phát triển lâm nghiệp, trong đó có chính sách giao, khoán rừng cho hộ nông dân từ trước năm 1970 Chính sách lâm nghiệp hướng vào việc bảo vệ cho những người được hưởng đặc ân có quyền sử dụng lâm sản cho mục đích thương mại, còn dân cư có cuộc sống phụ thuộc vào rừng thì bỏ qua Đứng trước thực trạng đó, năm 1970 đã có ba chương trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được quy định:

+ Chương trình hộ gia đình tham gia tạo rừng và bảo vệ rừng;

+ Chương trình quản lý rừng đang bị người dân chiếm dụng;

+ Chương trình trồng cây nhân dân;

Để quản lý rừng bền vững, các nhà khoa học đề xuất 3 chương trình: + Chương trình lâm nghiệp xã hội

+ Chương trình trồng rừng và bảo vệ rừng quốc gia

+ Chương trình lâm nghiệp cộng đồng

Từ kinh nghiệm quản lý rừng ở Philippin cho thấy cần kết hợp quản lý Nhà nước với quản lý cộng đồng và hộ gia đình, tạo mọi điều kiện cho cộng

Trang 13

đồng và hộ gia đình để họ thực hiện chức năng quản lý tốt hơn Nhưng nhà nước phải tổ chức đào tạo kiến thức về quản lý, kỹ thuật, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các chủ thể, hỗ trợ về vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vv

- Ở Nêpan: Chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể

khu rừng cộng đồng thông qua sử dụng Panchagal (tổ chức chính quyền cấp sở) để quản lý rừng Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999) tại khu bảo tồn hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng(dẫn

từ Oli Krishna Prasad (ed.), 1999)

- Ở Ấn Độ: Khi chính sách Lâm nghiệp được quốc gia thông qua năm

1998, là việc coi trọng những nhu cầu cơ bản của người dân sống gần kề với rừng như chất đốt, thức ăn gia súc, gỗ làm nhà… và vai trò của họ trong gìn giữ và bảo tồn tài nguyên Và Luật đất đai đã tạo điều kiện gây nên động lực cho cá nhân và cộng đồng trồng cây phân tán, trồng rừng tập trung và quản lý bảo vệ rừng hiện có, đặc biệt đối với những thổ dân có truyền thống và tập tục riêng biệt Có hai hình thức chủ yếu, điển hình đó là rừng cộng quản (JFM) và rừng cộng quản có sự tham gia (JPFM)

- Ở Trung Quốc: Pháp lệnh bảo vệ và phát triển rừng được ban hành

vào đầu năm 1980 đã làm rõ sở hữu đất rừng và rừng Chủ rừng là cơ quan Nhà nước, tập thể và tư nhân Các công trình nghiên cứu gần đây đã phân loại quản lý rừng ra 4 loại hình, đó là:

+ Trang trại, lâm nghiệp làng, bản: Đây là loại hình quản lý rừng chủ yếu hiện nay Ở hình thức này người dân đóng góp ngày công lao động, tiền

Trang 14

vốn để trồng rừng Sau khi trồng xong, làng, bản xây dựng các trang trại vườn, rừng và lựa chọn người có kinh nghiệm trông coi, quản lý Khi có thu nhập, sau khi hoàn trả tiền công, chi phí sản xuất, thu nhập từ rừng đem phân phối cho dân theo sự đóng góp của họ

+ Mô hình tổ hợp: Trong trường hợp một hộ gia đình không đủ khả năng trồng rừng, họ cùng hợp tác lại với nhau với nhiều hình thức, dưới sự hướng dẫn của Nhà nước Đất rừng, tiền vốn, lao động, công nghệ được đóng góp theo mô hình cổ phần Lợi nhuận sau khi trừ chi phí sản xuất được phân phối theo cổ phần

+ Lâm nghiệp hộ gia đình: Đó là những hộ gia đình hợp đồng để trồng rừng hoặc quản lý rừng thuộc sở hữu tập thể hoặc trồng cây trên đất rừng phục vụ cho nhu cầu cần thiết của gia đình, thông thường là cây ăn quả, cây thuốc, cây lâm sinh ngoài gỗ,

Nghiên cứu về quả lý, bảo vệ rừng ở Trung Quốc, các nhà khoa học đã rút ra kinh nghiệm như sau:

Để quản lý rừng và phát triển vốn rừng cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình khác như: phát triển nông thôn, bảo vệ nguồn nước dịch vụ sản xuất và đời sống, chương trình dân số,

Nhà nước cần tăng đầu tư, tín dụng cho phát triển lâm nghiệp và tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế;

+ Hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, thông qua các dự án để cải thiện cuộc sống của người dân để giảm áp lực tới khai thác rừng; Cải tiến hệ thống quản lý rừng từ Trung ương đến địa phương; Phát triển lâm nghiệp cộng đồng

là chiến lược quản lý rừng có hiệu quả [8]

2.1.2 Tình hình nghiên cứu về QLBVR ở Việt Nam

Việt Nam nằm phía đông nam châu Á, diện tích tự nhiên 33.019km2, trong đó 3/4 diện tích lãnh thổ trên đất liền là đất lâm nghiệp Tính đến

Trang 15

31/12/2006 cả nước có 12.530.201ha rừng các loại, độ che phủ của rừng là 37,7% Việt Nam có biên giới đất liền 3.700km và 3.200km bờ biển, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 623km, chỗ hẹp nhất khoảng 42km Rừng và đất lâm nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân và dân tộc Việt Nam Rừng và nghề rừng là một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam

Trải qua quá trình lịch sử, từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX công tác quản lý bảo vệ rừng đã tưng bước hoàn thiện cả về nội dung và tổ chức Trong thời kỳ phong kiến việc quản lý bảo vệ rừng từ chỗ thông qua các sản phẩm cống nộp đã tiến đến đặt ra các lệ thu thuế cho nhà nước phong kiến

Thời kỳ Pháp đô hộ, công tác quản lý bảo vệ rừng bắt đầu đựơc đưa thành các luật pháp và có tổ chức chặt chẽ từ cấp trung ương đến các tỉnh, hạt,

xã Cách mạng tháng 8/1945 thành công sau ký sắc lệnh sát nhập Nha lâm chính

và bộ canh nông Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 20/7/1946 đã ký sắc lệnh số 131 quy định kiểm sát viên kiểm lâm cùng làm nhiệm vụ tư pháp công an lâm nghiệp

Ngày 21/12/1949 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh quy định bổ xung trưởng hạt kiểm lâm chính và trưởng hạt kiểm lâm chính có tư cách uỷ viên có tư pháp công an

Việt Nam đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ đây là tình trạng và nguyên nhân gây mất rừng nhiều nhất Tỷ lệ che phủ của rừng năm 1945 là 43,3% Năm 1976 là 33,8% , năm 1990 giảm xuống còn 27,8% Sự suy giảm về tài nguyên rừng không chỉ làm suy giảm về trữ lượng gỗ, lâm sản mà còn kéo theo là những suy giảm về tính đa dạng sinh học, khả năng bảo vệ nguồn đất và nước

Ngày nay khi đất nước đang trên đà phát triển mạnh trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước mà chúng ta phải từng ngày từng giờ đối phó với vấn đề hết sức nghiêm trọng về môi trường, nạn phá rừng, tài

Trang 16

nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi, sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, thiên tai liên tục xảy ra làm thiệt hại rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội

Để đóng góp tích cực vào việc khác phục những hậu qủa nêu trên, vì lợi ích lâu dài và bền vững của đất nước Nhiệm vụ trước mắt đặt ra là phải trồng cây gây rừng nâng độ che phủ rừng và từ năm 1990 đến nay đảng và Nhà nước ta đã nâng độ che phủ rừng lên đến 33,2% Đây là một sự đánh dấu

một bước phát triển của lịch sử ngành lâm nghiệp Việt Nam

Năm 1943, Việt Nam có khoảng 14,3 triệu ha rừng, trải qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc vĩ đại của dân tộc, diện tích rừng đã bị tàn phá nghiêm trọng, thực tế cho thấy giai đoạn lịch sử như vậy chúng ta đã dồn toàn lực cho cách mạng giải phóng dân tộc, chưa có điều kiện để quan tâm công tác bảo vệ và phát triển rừng Hòa bình lập lại đất nước tập trung ưu tiên phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, những thành tựu đạt được là không thể phủ nhận song chúng ta phải trả giá về mặt môi trường, tài nguyên rừng bị khai thác kiệt quệ, diện tích rừng giảm nhanh chóng

Để bảo vệ rừng, sử dụng rừng hiệu quả, phát triển bền vững tài nguyên rừng, những năm qua, cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách phù hợp với thực tế, được nhân dân tích cực đón nhận, đáp ứng được hiệu quả trước mắt cũng như lâu dài

Luật Lâm nghiệp (2017)…

- Về Lâm nghiệp: Bảo vệ rừng hiện có, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng mới, tạo được những vùng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, khôi phục được môi trường sinh thái kể cả bảo vệ thảm thực vật Có chế độ sử dụng nguồn tài nguyên rừng hợp lý theo yêu cầu của từng loại rừng [10]

Để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép, nhiều Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ đã được ban hành, gần đây nhất là Chỉ

Trang 17

thị số: 12/CT-TTg năm 2003 thực hiện các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản

Thực tế mang lại cho thấy, các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ban hành đã phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả rõ rệt, tác động tích cực đến người dân Tuy còn những tồn tại đó là: Bảo vệ phát triển rừng chưa chú trọng đến chất lượng rừng, chưa phát huy được cây trồng bản địa; tình trạng chặt phá rừng trái phép, cháy rừng vẫn xảy ra; công tác kiểm tra, giám sát chủ rừng chưa được thực hiện triệt để; chênh lệch mức sống giữa miền núi và đồng bằng còn cao; nhân lực hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp vừa thiếu, vừa yếu…

Nhưng trong những năm qua công tác bảo vệ rừng, sử dụng và phát triển rừng đã đạt được những kết quả to lớn Diện tích rừng tăng hàng năm, năm 1999 diện tích rừng toàn quốc 10,9 triệu ha, đến tháng 12 năm 2007, diện tích rừng toàn quốc 12.837.333 ha, trong đó 10.283.965 ha rừng tự nhiên và 2.553.369 ha rừng trồng, độ che phủ đạt 38,2% (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2159/QĐ-BNN-KL ngày 17 tháng 7 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn) Kinh tế – xã hội miền núi được nâng lên rõ rệt, chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững

2.2 Tình hình về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu

2.2.1.1 Vị trí địa lý của Thị xã Phổ Yên

Phổ Yên là thị xã trung du nằm ở vùng phía nam tỉnh Thái Nguyên, giới hạn địa lý có toạ độ từ 21019’ đến 21034’ độ vĩ Bắc, 105040’ đến 105056’

độ kinh Đông;

Ranh giới:

- Phía Tây giáp huyện Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc);

Trang 18

- Phía Bắc, Tây Bắc giáp thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ và thành phố Sông Công (tỉnh Thái Nguyên);

- Phía Đông và Đông Bắc giáp các huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang) và Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên);

- Phía Nam giáp huyện Sóc Sơn (thành phố Hà Nội)

Thị ủy Phổ Yên đặt tại phường Ba Hàng, cách tỉnh lỵ Thái Nguyên 26

km về phía Nam và cách thủ đô Hà Nội 56 km về phía Bắc

Phổ Yên có 04 Phường: Ba Hàng, Bãi Bông, Bắc Sơn, Đồng Tiến

Có 14 xã: Đắc Sơn, Đông Cao, Đồng Tiến, Minh Đức, Nam Tiến, Phúc Thuận, Phúc Tân, Tân Hương, Tân Phú, Thành Công, Tiên Phong, Thuận Thành, Trung Thành, Vạn Phái

2.2.1.2 Địa hình địa vật thị xã Phổ Yên

Thị xã Phổ yên với địa hình núi thấp – đồng bằng và vùng đồi núi Địa hình của Thị xã Phổ Yên thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm

02 vùng rõ rệt:

- Vùng phía Đông gồm 11 xã và 02 thị trấn, có độ cao trùng bình từ

8-15 m, đấy là vùng đồi thấp xen kẽ với đồng bằng

- Phía Tây gồm 04 xã, 01 thị trấn, là vùng núi của Thị xã, địa hình đồi núi là chính, độ cao trung bình 200-300m so với mực nước biển

- Nhóm cảnh quan đồng bằng (thuộc phía Đông Sông Công và xã Vạn Phái) mang đặc trưng cảnh quan của đồng bằng sông Hồng có kết cấu kiểu dân cư làng xã, xen những cành đồng lúa rộng lớn Một số cụm dân cư ven các trục lộ lớn nhe Quốc lộ 3 (cũ và mới, cao tốc Thái Nguyên – Hà Nội) phát triển theo hướng Đô thị hóa Vùng sẽ phát triển theo hướng được dầu tư, nâng cấp, củng cố kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, hình thành các khu công nghiệp, như: Khu công nghiệp Yên Bình; Sam sung Công ty cổ phần Prime Phổ Yên, Công ty cổ phần Elovi Việt Nam, Công ty AVIA .phát triển các khu cơ sở đào tạo, khu văn hóa, thể thao

Trang 19

- Nhóm cảnh quan đồi núi thấp (thuộc các xã phía Tây Sông Công) Mang đặc điểm chung của vùng trung du phía Bắc Địa hình khu vực này phổ biến là đồi bát úp xen kẽ trong những cánh đồng nhỏ và manh mún, dân cư kiểu làng bản những phân tán, tốc độ phát triển đô thị hóa chậm hơn phía Đông Vùng này phát triển chủ yếu các sản phẩm nông nghiệp cung cấp cho các điểm đô thị, khu công nghiệp, phát triển rừng để bảo vệ giữ gìn môi trường sinh thái

2.2.1.3 Tài nguyên đất đai của thị xã Phổ Yên

Đất của Thị xã Phổ Yên chia thành 10 loại chính: Đất đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét; Đất phù sa được bồi và đất phù sa không được bồi; Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, đất phù sa ngòi suối; Đất bạc màu; Đất vàng nhạt trên cát; Đất nâu vàng phù sa cổ; Đất đỏ vàng biến đổi và đất dốc

tụ Trên 50% đất ở Thị xã Phổ yên là đất bạc màu, tầng đất mỏng, đất vàng nhạt trên đất cát, độ phì kém

Tổng diện tích kế hoạch sử dụng các loại đất được tổng hợp vào bảng sau:

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai ở Thị xã Phổ Yên (2018)

(ha)

Tỷ trọng (%) Ghi chú Tổng diện tích tự nhiên 25.886,90 100

2 Đất phi nông nghiệp 13.632,80 52,66

(Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Phổ Yên – 2018)

Số liệu bảng trên cho thấy: Trong tổng số diện tích đất tự nhiên của thị

xã là 25.886,90 ha, đất nông nghiệp chiếm 46,97%; Đất phi nông nghiệp chiếm 52,66%; còn lại là đất chưa sử dụng

Trang 20

Thị xã Phổ Yên là địa danh chuyển tiếp giữa vùng đồi núi và đồng bằng, nên diện tích đất lâm nghiệp không lớn và chỉ tập trung ở phía Tây của Thị xã Tổng diện tích đất lâm nghiệp của thị xã là 7.045,40 ha, chiếm 27,22% tổng diện tích tự nhiên Trong đó rừng tự nhiên của Thị xã là 2.577,90 ha, chiếm 36,59% diện tích đất lâm nghiệp Thảm thực vật tự nhiên gồm các loại cây thân

gỗ, như: Kháo, De, ràng ràng v.v và các loại tre vầu tầng dưới là các loài cây bụi thảm tươi, như: Sim, mua, lau lách và các loại cỏ

Rừng trồng với diện tích bằng 4.467,50 ha, chủ yếu trồng: Bạch đàn, keo các loại trồng theo dự án và tự dân trồng

Về hệ động vật còn nghèo nàn, hiện chỉ có chim, bò sát, lưỡng cư, trong đó lớp chim là nhiều hơn cả

2.2.1.4 Khí hậu, thủy văn của khu vực

 Về thời tiết:

Thị xã phổ Yên chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, mỗi lần gió mùa đông bắc tràn về, nhiệt độ thường hạ xuống đột ngột và hay có giông đi kèm nhất là vào thời kỳ đầu (tháng 9 tháng 10) và cuối (tháng 04 tháng 5) Tuy nhiên do có hệ thống núi cánh cung Bắc Sơn và Ngân Sơn che chắn nên địa bàn Thị xã ít chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa đông bắc

Thời tiết nồm, dộ ẩm lên tới 90%, mỗi năm có tới 25 – 30 ngày nồm, riêng tháng 03 có tới 12 ngày

Tháng 8 và tháng 1 hàng năm có thể xuất hiện thời tiết sương muối ảnh hưởng tới sự phát triển của cây trồng

 Về khí hậu:

Thị xã Phổ Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình trong năm là 250C, tháng 7 là tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình khoảng 29 - 300C, tháng lạnh nhất vào tháng 1, nhiệt độ trung bình khoảng 14

- 150C Khí hậu của thị xã chia làm hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa

Trang 21

từ tháng 9 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau Lượng mưa trung bình trong năm đạt 2.120mm trong đó mùa mưa chiếm 91,6% lượng mưa cả năm Mưa niều nhất vào tháng 7, tháng 8 và có thể sảy ra lũ Tháng 12 và tháng 01 mưa ít, với số ngày mưa trung bình là 6 – 8 ngày Vào mùa khô, lượng bốc hơi thường lớn hơn lượng mưa, gây ra tình trạng khô hạn, độ ẩm không khí tương đối lớn

* Thủy văn

Thị xã Phổ Yên có 02 hệ thống sông:

Sông Công là nguồn cung cấp nước mặt quan trọng cho sản xuất nông nghiệp của các xã vùng cao và giữa thị xã với các huyện lân cận Sông Công chảy quan thị xã Phổ Yên chia thị xã thành 02 khu vực rõ rệt khác biệt về địa hình Sông Công có lưu vực rộng và nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Thái nguyên Lòng sông có chiều rộng trung bình 13 m, độ dốc lưu vực 27,3%, độ dốc lòng sông 1,03% Lưu lượng nước trong mùa mưa là 29,7 m3/s

Hệ thống sông Cầu chảy qua thị xã khoảng 17,5 km, cung cấp nước tưới cho các xã phía Đông và phía Nam của thị xã Sông Cầu còn là hệ thống giao thông thủy cho cả tỉnh nói chung và thị xã và tỉnh Thái Nguyên Sông Cầu chảy dọc địa giới phía Đông, giáp huyện Phú Bình và tỉnh Bắc Giang Sông Cầu có lưu lượng nước lơn, trung bình trong năm 136 m3/s Chế độ nước phù hợp với chế độ mưa Mùa mưa chiếm 75% lượng nước, đồng thời

là mùa lũ kéo dài từ tháng 5 – 10 Mùa cạn chỉ chiếm 25% lượng nước cả năm, phù hợp với mùa khô từ tháng 11năm trước đến tháng 4 năm sau

Ngoài 02 con sông chính chảy qua thị xã Phổ Yên, còn có hệ thống suối, ngòi chảy qua từng vùng, Tổng diện tích mặt nước sông suối của thị xã

là 704,1ha Nhìn chung, chất lượng nước tốt nên khái thác mặt nước để nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, do các nhà máy, như: Giấy Chợ Mới (Bắc Kạn); Hoàng Văn Thụ (Thái Nguyên), nhà máy gang thép Thái Nguyên thải chất

thải làm nước sông chảy qua Thị xã Phổ Yên bị ô nhiễm nặng

Trang 22

2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Thị xã Phổ Yên

2.2.2.1 Tình hình dân số - dân tộc và lao động của thị xã Phổ Yên

- Tình hình dân số

Toàn huyện dân số trung bình năm 2018 là 158.619 người, trong đó dân

số sống ở 3 thị trấn chiếm khoảng 9,5%, dân số nông thôn chiếm khoảng 90,5% Mật độ dân số toàn huyện là 612,7 người/km2 tuy nhiên phân bố dân cư giữa các vùng có sự phân tán Nơi có mật độ dân số cao là thị trấn Ba Hàng, Bắc Sơn cao với trên 2000 người/km2, Bãi Bông và các xã Trung Thành, Tân Phú, Đồng Cao với trên 1000 người/km2 Ngược lại, các xã có mật độ dân số thấp bằng 1/3, 1/2 các xã trên như Thành Công, Minh Đức, Phúc Thuận Đặc biệt có xã Phúc Tân có mật độ dân số chỉ khoảng 100 người km2

Tốc độ tăng dân số toàn Thị xã trung bình hàng năm là khoảng 0,8% Tốc độ tăng dân số Thị xã giai đoạn này được kiểm soát, năm 2018 tốc độ tăng dân số nhanh 110,5% với tổng dân số năm 2018 là 157.329 người

- Dân tộc: Thị xã Phổ yên có trên 6 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó chủ yếu là người Kinh Người kinh 92,42%, người Sán Dìu 6,25%, người Tày 0,59%, Người Dao và người Nùng đều 0,29%, người Mường 0,06%, còn lại 0,1% là người các dân tộc khác Trừ người Dao sống chủ yếu

ở các xã chân dãy núi Tam Đảo, còn người các dân tộc khác sống xen kẽ với nhau Nhân dân các dân tộc Phổ Yên đã sống xen kẽ với nhau từ lâu đời và có truyền thống đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau

- Lao động và việc làm:

Lực lượng lao động phân bố trong các ngành kinh tế chủ yếu làm việc trong ngành nông lâm thủy sản, chiếm 86% Lao đông đang làm việc trong ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 9,7% lao động có việc làm 4,3% lao động có việc làm đang làm trong ngành dịch vụ Số lao động trong độ tuổi không tham gia các ngành kinh tế chủ yếu đang đi học chiếm 80%, còn lại là

Trang 23

làm nội trợ, không làm việc, không có việc làm Lao động trong độ tuổi không có việc làm là 590 người, chiếm 11,16% số lao động trong độ tuổi không tham gia trong các ngành kinh tế Trong những năm qua, huyện đã chú trọng giải quyết việc làm bằng nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên tỷ trọng lao động không có việc làm vẫn còn cao

Năm 2016 GDP bình quân đầu người đến hết năm 2016 đạt 45 triệu đồng/năm, tương đương với 2.143 USD GDP bình quân đầu người năm 2016

so với năm 2008 tăng gấp 7 lần Giải quyết việc làm cho 5.633 người Đào tạo nghề cho lao động nông thôn bình quân mỗi năm được trên 2.000 lao động Từ

đó đã nâng tỷ lệ lao động trong vùng nội thị trong lĩnh vực phi nông nghiệp đến hết năm 2016 lên 65%, đồng thời giảm tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp xuống còn 35%, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 49,27% Giảm tỷ lệ

hộ nghèo (thực hiện theo tiêu chí mới) còn 3,65%, đạt kế hoạch đề ra

Năm 2017: GDP bình quân đầu người đạt 49 triệu đồng/năm, bằng 100% kế hoạch (tăng 4 triệu đồng so với năm 2016).giải quyết các việc làm cho 5.827 lao động, bằng 100% kế hoạch, bằng 103,4% cùng kỳ năm 2016 (tăng hơn so với năm trước 194 lao động) Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 2.03%, giảm 1,62% so với năm 2016

Năm 2018: GDP bình quân đầu người đạt 56 triệu đồng/năm, tăng 7 triệu đồng so với cùng kỳ năm 2017 Giải quyết việc làm cho 6.518 lao động, bằng 111,86% cùng kỳ năm 2017 (thêm 691 lao động) Giảm tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 xuống còn 1,5%, giảm 0,53% so với năm 2017

Căn cứ theo số liệu trên thì có thể kết luận rằng đời sống dân cư thị xã Phổ Yên ngày càng được cải thiện, do đẩy mạnh phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, ngày càng có nhiều nhà máy xí nghiệp được đầu tư xây dựng, từ đó tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy sự tăng trưởng GDP rõ dệt qua các năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 3,56%

Trang 24

năm 2016 xuống còn 1,5% năm 2018, khẳng định chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện nhiều

2.3.2.2 Tình hình sản xuất nông lâm ngư nghiệp của thị xã Phổ yên

Theo báo cáo tại Hội nghị, năm 2018, mặc dù diễn biến thời tiết không thuận lợi, song Ban Chỉ đạo Sản xuất nông nghiệp Thị xã, UBND các xã, phường đã tập trung khắc phục những khó khăn, tích cực chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất theo kế hoạch đề ra và đã giành được những kết quả tích cực Tổng sản lượng lương thực ước đạt trên 60,8 nghìn tấn, bằng 108,7% kế hoạch Tổng diện tích lúa gieo cấy cả năm là 9.681ha, năng suất lúa bình quân đạt trên 52 tạ/ha

Về chăn nuôi, nhờ làm tốt công tác kiểm soát dịch bệnh, chủ động tiêm vắc xin nên đàn vật nuôi phát triển ổn định, ít xảy ra dịch bệnh Năm 2018, Thị xã trồng được 120ha rừng sản xuất (đạt 100% kế hoạch); ngoài ra người dân tự trồng được 83,8ha Thị xã cũng đã khuyến khích người dân nuôi trồng thủy sản theo hướng chuyên canh, bán thâm canh với số lượng ngày càng tăng, đáp ứng thị trường tiêu thụ và nhu cầu người tiêu dùng Năm 2018, Thị

xã có thêm 6 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới nâng tổng

số 14/14 xã hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Năm 2019, Thị xã Phổ Yên đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, như: Tập trung chỉ đạo thu hoạch cây trồng vụ đông, chuẩn bị tốt các điều kiện cho sản xuất vụ xuân năm 2019; thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, ngăn chặn kịp thời các loại giống không đủ tiêu chuẩn chất lượng lưu thông trên địa bàn ; phấn đấu sản lượng lương thực cây có hạt đạt trên 55,2 nghìn tấn; sản lượng chè búp tươi đạt trên 18 nghìn tấn; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 1.450 tấn

Trang 25

2.2.2.3 Sản xuất nông nghiệp

Thị xã Phổ Yên vốn được coi là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp lớn của tỉnh, tuy nhiên những năm gần đây, một phần đất nông nghiệp đã bị thu hồi

để thực hiện các dự án Làm thế nào để giá trị sản xuất nông nghiệp tăng khi diện tích đất ngày càng giảm là một trong những vấn đề Thị xã quan tâm hàng đầu Căn cứ vào thực tế của địa phương, Thị xã đã đẩy mạnh việc tuyên truyền, vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó chú trọng đưa vào gieo trồng các giống lúa, ngô mới, cho năng suất cao Cùng với đó, Thị xã cũng thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật để người dân áp dụng vào sản xuất Đồng thời, chỉ đạo cơ quan chuyên môn triển khai đồng bộ các mô hình trình diễn, nhằm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của người dân trên địa bàn

Theo đó, cơ cấu giống lúa vụ xuân và vụ mùa được duy trì với một số giống lúa lai, lúa thuần cho năng suất cao và ổn định, phù hợp với điều kiện của địa phương như: Khang dân đột biến, Khang dân 18, HT1, HT6, Thiên ưu

8, TH3-3, BTE1… Hằng năm, Thị xã cũng đặc biệt chú trọng triển khai các

mô hình trình diễn giống lúa mới với quy mô hàng chục ha Điển hình có thể

kể đến mô hình trình diễn giống lúa ADI 28 và ADI 168 vụ Xuân 2018, diện tích 1,5ha tại xóm An Miên, xã Thành Công Đây là những giống lúa được chọn lọc từ quần thể gen lúa thuần nhập nội của Trung Quốc qua chọn lọc phả

hệ Tham gia mô hình trên, 20 hộ dân được Trạm Khuyến nông Thị xã hỗ trợ kinh phí mua giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tập huấn khoa học kỹ thuật Sau thời gian gieo cấy, giống lúa ADI 28 và ADI 168 có khả năng đẻ nhánh khá, gọn cây, chống đổ tốt, năng suất đạt xấp xỉ 70 tạ/ha; hạt gạo trong, thon dài Từ hiệu quả của mô hình trên, vụ xuân 2019, xã Thành Công đã nhân rộng với diện tích trên 10ha

Cùng với việc triển khai các giống mới, T.X Phổ Yên cũng thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật để người dân

Trang 26

áp dụng vào sản xuất Năm 2018, cơ quan chuyên môn của Thị xã đã tổ chức

190 lớp tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho cây lúa, ngô, rau màu từng vụ; kỹ thuật trồng và chăm sóc chè an toàn cho trên 11 nghìn lượt hộ nông dân Ngoài ra, Thị xã cũng dành hơn 5 tỷ đồng để hỗ trợ giá giống lúa lai, lúa thuần chất lượng cao; hỗ trợ sản xuất khoai tây, bí xanh,

bí đỏ vụ Đông… Việc đầu tư, hỗ trợ trực tiếp về vốn, giống cây trồng đã góp phần động viên, khuyến khích nông dân yên tâm sản xuất, mở rộng diện tích, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển

2.3.2.4 Tình hình giao thông trong khu vực

 Đường bộ tổng chiều dài là 381,8 Km, gồm:

Đường có quốc lộ 3 từ Km 33 đến Km 48 đi qua trung tâm Thị xã, chiều dài đường là 15 Km, nền đường rộng 9m, mặt đường rộng 7,5m dải bê tông nhựa, tiêu chuẩn kỹ thật cấp 4 Theo kế hoạch của bộ giao thông vận tải, đến năm 2012, đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên xây dựng xong thì tuyến đường này sẽ đi qua địa phận của huyện khoảng 20 Km tại trung tâm huyện

Thị xã Phổ Yên có một tuyến tỉnh lộ nối liền với hai huyện lân cận là Đại Từ và Phú Bình Chiều dài đường là 19 Km, bề rộng nền đường từ 5 – 6,5

Trang 27

đường đất được hình thành từ phong trào làm giao thông nông thôn của địa phương Các tuyến đường xã nhìn chung đều chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, nền đường nhỏ hẹp, hệ thống thoát nước chưa đầy đủ

 Đường sông: Sông Cầu, sông Công đi qua địa phận Thị xã nhưng không phát triển thành tuyến đường thủy, chỉ có 5 Km đường trên sông Công

từ cảng Đa Phúc đến vị trí gặp sông Cầu có khả năng khai thác Các đoạn khác lòng sông có độ dốc lớn, mức nước cạn trong 2/3 thời gian trong năm không tổ chức vận tải quy mô lớn được Cảng Đa Phúc cũng chỉ tiếp nhận được tầu trọng tải 3000 tấn

 Đường sắt: Trên địa bàn Thị xã có tuyến đường sắt Hà Nội – Quán Triều đi qua có chiều dài 15 Km và có 1 nhà ga Nhìn chung, mạng lưới giao thông đường bộ của huyện Phổ Yên có quan hệ chặt chẽ về mặt địa lý, vùng dân số và vùng kinh tế Tuy nhiên, chất lượng còn chưa đồng bộ Tuyến đường sắt có khả năng tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện

2.2.2.5 Hệ thống thông tin liên lạc, điện sinh hoạt

 Hệ thống thông tin liên lạc:

Hệ thống thông tin liên lạc và bưu chính viễn thông trên địa bàn huyện phát triển khá hoàn chỉnh Đến nay, mạng điện thoại cố định đã phủ 18/18 xã, thị trấn; sóng điện thoại và mạng internet có hầu hết các xã và thị trấn trong huyện, điều đó đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc thuận lợi phục vụ sản xuất

và đời sống trên địa bàn huyện

 Điện sinh hoạt:

Thị xã được cấp điện từ nguồn điện lưới quốc gia qua đường truyền tải

110 KV Đông Anh – Thái Nguyên Lưới điện với đường 110KV và 35KV vận hành tốt, các đường 0,4KV đang được cải tạo Hiện nay 100% số thị trấn,

xã của Thị xã có điện Hệ thống điện về cơ bản đảm bảo tốt cho nhu cầu phát triển hiện nay của Thị xã

Ngày đăng: 20/04/2021, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w