1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây sói rừng (sarcandra glabra) tại vườn ươm

50 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- NGUYỄN THỊ HỒNG CHẮC ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHE SÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY SÓI RỪNG SARCANDRA GLABRA TẠI VƯỜN ƯƠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN THỊ HỒNG CHẮC

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHE SÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA

CÂY SÓI RỪNG (SARCANDRA GLABRA) TẠI VƯỜN ƯƠM TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN THỊ HỒNG CHẮC

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHE SÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA

CÂY SÓI RỪNG (SARCANDRA GLABR) TẠI VƯỜN

ƯƠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Công Hoan

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ các tiểu luận, luận văn nào trước đây

Thái Nguyên, Ngày… tháng… năm 2019

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Tôi đặc biệt xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm sâu sắc của thầy giáo TS Nguyễn Công Hoan đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm thầy Nguyễn Công Hoan đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở

Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

Trong quá trình nghiên cứu do có những chủ quan và khách quan nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các sinh viên để tôi hoàn thành khóa luận được tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, Ngày… tháng… năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Chắc

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Ý nghĩa nghiên cứu 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Tình hình nghiên cứu dược liệu trên Thế giới và Việt Nam 4

2.1.1 Tình hình trên Thế giới 4

2.1.2 Tình hình ở Việt Nam 6

2.2 Một số nghiên cứu về cây sói rừng 7

2.2.1 Đặc điểm hình thái 7

2.2.2 Công năng, tác dụng dược lý của cây Sói rừng 8

2.2.3 Cách sử dụng cây Sói rừng 9

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 11

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 11

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 13

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 15

3.2.Nội dung nghiên cứu 15

3.3 Phương pháp nghiên cứu 15

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 15

3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 15

3.3.3.Biện pháp kỹ thuật 18

3.3.4 Các chỉ tiêu sinh trưởng được theo dõi trên vườn ươm 18

3.3.5.Phương pháp xử lý số liệu 19

PHẦN 4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

Trang 6

4.1 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tỷ lệ sống của cây Sói rừng tại khu

vực nghiên cứu 20

4.2 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng đường kính (Do) của cây Sói rừng tại khu vực nghiên cứu 22

4.3 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng chiều cao (Hvn) của cây Sói rừng tại khu vực nghiên cứu 25

4.4 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng số lá cây Sói rừng tại khu vực nghiên cứu 28

4.5 Đánh giá chất lượng cây Sói rừng và dự kiến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn 31

4.5.1 Đánh giá chất lượng cây sói rừng 31

4.5.2 Dự kiến tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn 32

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33

5.1 Kết luận 34

5.2.Kiến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Mẫu Bảng 3.1- Sơ đồ bố trí thí nghiệm che sáng 16 Mẫu bảng 3.2 - Các chỉ tiêu sinh trưởng Hvn, D00 chất lượng của cây

Sói rừng 16 Bảng 4.1 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ cây sống 20 của cây Sói rừng tại vườn ươm 20 Bảng 4.2 Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với tỉ lệ sống của cây Sói rừng sau90 ngày theo dõi 22 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng đường kính của cây Sói rừng tại vườn ươm 22 Bảng 4.4 Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với đường kính gốc cây Sói rừng sau 90 ngày theo dõi 24 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng 25 chiều cao của cây Sói rừng tại vườn ươm 25 Bảng 4.6 Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với chiều cao cây Sói rừng sau 90 ngày theo dõi 27 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng 28 Bảng 4.8 Phân tích phương sai một nhân tố đối với động thái ra lá của cây Sói rừng sau 90 ngày theo dõi 30 Bảng 4.9 Kết quả đánh giá chất lượng cây Sói rừng sử dụng các công thức che sáng 31 Bảng 4.10 Dự kiến tỷ lệ xuất vườn cây Sói rừng 33

```

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ dân số dùng dược liệu một số nước trên thế giới 5

Hình 2.2 Hình ảnh cây Sói rừng trong Vườn ươm 8

Hình 4.1.Tỷ lệ % cây Sói rừng sống sau 90 ngày 21

Hình 4.2 Hình ảnh minh họa 21

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của công thức che sáng đến sinh trưởng đường kính gốc cây Sói rừng sau 90 ngày 24

Hình 4.4 Hình ảnh minh họa 24

Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của các công thức che sáng đến sinh trưởng chiều cao cây Sói rừng sau 90 ngày theo dõi 27

Hình 4.6 Hình ảnh minh họa 27

Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của các công thức che sáng đến động thái ra lá cây Sói rừng sau 90 ngày theo dõi 30

Hình 4.8 Hình ảnh minh họa 30

Hình 4.9 Biểu đồ thể hiện phẩm chất của cây Sói rừng 32

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ ngàn xa xưa các phương thuốc chữa bệnh đều được triết xuất từ những loại cây có chứa các thành phần dược liệu tốt cho sức khỏe, vừa có khả năng bồi bổ cơ thể, vừa hỗ trợ điều trị bệnh Và các loại cây thuốc đó được gọi chung là cây dược liệu, vậy cây thuốc là gì, đặc điểm ra sao,vai trò của chúng đối với sức khỏe của con người như thế nào?

Cây thuốc là thực vật được dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể cho con người Những loại cây này có khả năng tự sản sinh các chất hóa học đa dạng để tồn tại ngoài tự nhiên tránh khỏi mọi đe dọa của côn trùng, nấm hay các động vật ăn thực vật Chính những hợp chất hóa học trong cây lại đem lại các tác động có lợi lên cơ thể người Và có chứa nhiều dược tính tương đương với các phương thuốc Tây tiên tiến ngày nay (dẫn theo tài liệu [15])

Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm từ xưa cho đến ngày nay chúng ta đã tìm ra rất nhiều loại cây thuốc quý với các tác dụng vừa có thể bồi

bổ tăng cường sức khỏe vừa chữa bệnh Thậm chí nhiều cây thuốc sở hữu dược tính có ích giúp điều trì các bệnh nan y, hiểm nghèo khó chữa Và trong thời đại này do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ với các công

cụ hỗ trợ hiện đại, chúng ta đã có thể nghiên cứu và phân tích chính xác mọi thành phần có trong cây thuốc một cách chuẩn xác

Ở khắp nơi trên thế giới đều có sự xuất hiện của các cây thuốc, chẳng hạn như ở Châu Âu hiện nay đã có tới 1482 cây được công nhận là có chứa dược tính chữa bệnh.[14] Hay vùng Châu Á nhiệt đới có 3650 cây chữa bệnh với nhiều nhóm công dụng khác nhau Và ngay tại Việt Nam cả nước ước tính

có khoảng 12.000 loài trong đó có khoảng 4.000 loài cây thuốc Chính vì vậy

mà cây thuốc được chia làm nhiều dạng tùy theo từng đặc điểm, đặc trưng.( dẫn theo tài liệu [14])

Trang 10

Dược liệu góp phần không nhỏ giúp chăm sóc, tăng cường sức khỏe, bồi bổ cơ thể và cả điều trị nhiều loại bệnh Ngày nay 80% thành phần dược tính có trong các cây thuốc được triết xuất để làm một số phương thuốc Tây như aspirin, mao địa hoàng, quinine…Xu hướng sử dụng các sản phẩm thuốc

và thực phẩm chức năng từ thiên nhiên để phòng và chữa bệnh đang dần trở nên phổ biến gần đây

Sói rừng - danh pháp hai phần Sarcandra glabra là một loại thực vật có

hoa thuộc họ Hoa sói (Chloranthaceae) (dẫn theo tài liệu [14])

Sói rừng là loài cây bụi thường xanh, có nguồn gốc ở vùng Đông Nam

Á Hiện nay cây phân bổ ở các quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam và Malaysia, tại Việt Nam cây

có thể tìm thấy ở các khu vực Lạng Sơn, Bắc Thái, Hoà Bình, Hà Tây đến Kon Tum, Lâm Ðồng, mọc hoang ở những vùng núi đất, bìa rừng và ven đồi ẩm Cây Sói rừng có chiều cao 1-2 mét, thân nhẵn, các mấu hơi phồng Nhánh cây tròn, không có lông, với các lá mọc đối, phiến dài hình bầu dục hay hình ngọn giáo, chiều dài 7–20 cm và rộng 2–8 cm với 5-7 cặp gân bên Mép lá có răng cưa nhọn và thô, kèm với các tuyến Cuống lá dài 5–

8 mm Bông kép, ít nhánh, nhánh ngắn với hoa nhỏ màu trắng không có cuống và có một nhị Bầu nhụy có hình trứng và không có vòi Cây

ra quả mọng nhỏ, hình gần tròn đường kính 3–4 mm, khi chín có màu đỏ hay

đỏ gạch Cây ra hoa vào tháng 6-7 và quả chín vào tháng 8-9

Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đi sâu nghiên cứu về sự sinh trưởng và phát triển về câydược liệu đó là cây sói rừng, thực trạng và đề xuất phát triển cây sói rừng để phục vụ cho đời sống con người Xuất phát từ nhu cầu lý luận và

thự tiễn trên, đặt ra sự cần thiết để lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng

của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây Sói rừng (Sarcandra glabra)

tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

Trang 11

1.2.Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được chế độ che sáng phù hợp đến sinh trưởng và phát triển của cây Sói rừng trong thời gian nghiên cứu, là cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cây Sói rừng

1.3.Ý nghĩa nghiên cứu

- Nâng cao kiển thức, hiểu biết về loài cây dược liệu Sói rừng cho bản thân

- Rèn luyện các kỹ năng tổng hợp, phân tích, tổng hợp số liệu tiếp thu

và hỏi những kinh nghiệm từ thực tế

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1.Tình hình nghiên cứu dược liệu trên Thế giới và Việt Nam

2.1.1.Tình hình trên Thế giới

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2005),[2] 80% dân số ở các nước đang phát triển việc chăm sóc sức khỏe ít nhiều vẫn còn liên quan đến y học cổ truyền (YHCT) hoặc thuốc từ dược thảo truyền thống để bảo vệ sức khỏe Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, bào chế và sản xuất các chế phẩm có nguồn gốc thiên nhiên từ cây dược liệu để hỗ trợ, phòng ngừa và điều trị bệnh Theo thống kê của WHO (2011),

ở Trung Quốc doanh số thị trường thuốc từ dược liệu đạt 26 tỷ USD (2008, tăng trưởng hàng năm đạt trên 20%), Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản đạt 1,1 tỷ USD (2006), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004), Tính trên toàn thế giới, hàng năm doanh thu thuốc từ dược liệu ước đạt khoảng trên 80 tỷ USD

Những nước sản xuất và cung cấp dược liệu trên thế giới chủ yếu là những nước đang phát triển ở Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Bangladesh ở Châu Phi như Madagasca, Nam Phi ở Châu Mỹ La tinh như Brasil, Uruguay

Những nước nhập khẩu và tiêu dùng chủ yếu là những nước thuộc liên minh châu Âu (EU), chiếm 60% nhập khẩu của Thế giới Trung bình hàng năm các nước EU nhập khoảng 750 triệu đến 800 triệu USD dược liệu và gia

vị Nguồn cung cấp dược liệu chính cho thị trường EU là Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Brazil, Đức

Nhu cầu về dược liệu cũng như thuốc từ dược liệu (thuốc được sản xuất

từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng chất)

có xu hướng ngày càng tăng, nhất là ở các quốc gia đang phát triển Xu thế trên thế giới con người bắt đầu sử dụng nhiều các loại thuốc chữa bệnh và bồi

Trang 13

dưỡng sức khỏe có nguồn gốc từ thảo dược hơn là sử dụng thuốc tân dược vì

nó ít độc hại hơn và ít tác dụng phụ hơn Hơn nữa hiện còn nhiều triệu chứng

và bệnh hiểm nghèo chưa có thuốc đặc hiệu để chữa trị, người ta hi vọng rằng

từ nguồn động thực vật tự nhiên hoặc từ vốn trí tuệ bản địa của các cộng đồng, qua nghiên cứu sàng lọc có thể cung cấp cho nhân loại những hợp chất

có hoạt tính sinh học cao để làm ra các loại thuốc mới có hiệu quả chữa bệnh như mong muốn Nghiên cứu sàng lọc cây dược liệu hiện cũng được chú trọng ở nhiều quốc gia, nhiều lĩnh vực như dược liệu, công nghiệp thực phẩm,

mỹ phẩm

Theo thống kê hiện nay tỷ lệ số người sử dụng YHCT trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh ngày càng tăng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Các nước Châu phi, Ở Trung Quốc chi phí cho sử dụng YHCT khoảng 10 tỷ USD, chiếm 40% tổng chi phí cho y tế, Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc khoảng trên 500 triệu USD

Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ dân số dùng dược liệu một số nước trên thế giới

(Nguồn: Đề án quy hoạch phát triển cây dược liệu toàn quốc đến năm 2020,

tầm nhìn 2030)QĐ-Ttg

Theo thống kê của WHO (2011), những năm gần đây, nhiều nhà sản xuất đã có hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm,hương liệu…Chính vì vậy, sản xuất dược liệu đã và đang mang lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc

Tỉ lệ dân số

Trang 14

2.1.2.Tình hình ở Việt Nam

Việt Nam là một đất nước nằm sát bên cái nôi của nền y học nhân loại, nên chúng ta ít nhiều thừa kế được những kinh nghiệm về y học dân gian của Trung Quốc.[20] Ngoài ra, Việt Nam là một đất nước có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có một nền văn hóa riêng Điều đó càng làm phong phú thêm kho tàng thuốc dân tộc của chúng ta Y học cổ truyền Việt Nam có nhiều bài thuốc chữa bệnh hiệu quả, qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm dân gian đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị

và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân

Từ thời vua hùng dựng nước qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại và qua các truyền thuyết tổ tiên ta đa biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh Cùng với sự phát triển của lịch sử, nền y học cổ truyền Việt Nam cùng vốn kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhân dân cũng

đã dần phát triển, đã gắn liền tên tuổi và sự nghiệp của các danh y.(dẫn theo tài liệu [20] )

Theo Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Nghĩa ThìnViện Dược liệu (2010), [11] số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài.Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc 307 họ thực vật

Năm 2005, Bộ y tế, Vụ y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Cây hoa

cây thuốc”, hướng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác dụng

chữa bệnh thông thường Cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán

bộ và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng.(dẫn theo tài liệu [5])

Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các loại cây thuốc trong tự nhiên.Đểcây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên đang bị cạn kiệt dần Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên

Trang 15

cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc, trong đó có các nghiên cứu như:

Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Duy Thuần (2005),[19] đã hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt sử dụng và chế biến 30 cây thuốc có nhu cầu lớn làm nguyên liệu cho sản xuất thuốc phòng, chữa bệnh xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đại trà trên diện tích lớn, xây dựng vùng dược liệu theo hướng an toàn theo tiêu chuẩn GAP (Good agricultural pratice) Cuốn sách còn cung cấp một

số thông tin cơ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương pháp chế biến theo y học cổ truyền, giúp cho cơ sở trồng trọt đầu tư làm tăng chất lượng của sản phẩm và dễ bảo quản hơn

Như vậy, điểm qua những nghiên cứu về dược liệu trên Thế giới và ở Việt Nam cho thấy cây lâm sản ngoài gỗ là một nhân tố đóng vai trò quan trọng Dược liệu được làm thuốc chữa bệnh, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn nguồn gen và phát triển cây dược liệu nói chung và loài cây Sói rừng nói riêng tại khu vực nghiên cứu trong tương lai ,nâng cao đời sống người dân địa phương

2.2.Một số nghiên cứu về cây sói rừng

2.2.1.Đặc điểm hình thái

Sói rừng còn gọi là "sói nhẵn", "cửu tiết trà", "thảo san hô", "quan âm trà", "tiếp cốt mộc", "cửu tiết phong", "cửu tiết lan", "sơn hồ tiêu", "cốt phong tiêu", "mãn sơn hương", "kê cốt hương", "tiếp cốt trà" , tên khoa học là Sarcandra glabra (Thunb) Nakai, thuộc họ Hoa sói (Chloranthaceae).(dẫn theo tài liệu [16])

Cây mọc hoang ở nhiều nơi, từ các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tây (cũ) đến Kon Tum, Lâm Đồng Hay gặp nhất ở các vùng núi đất, bìa rừng và ven đồi ẩm ướt Một số nơi cũng trồng sói rừng để lấy hoa ướp trà

Trang 16

Sói rừng là loại cây giàu dược tính nên được khai thác để sử dụng làm thuốc chữa trị nhiều bệnh Để làm thuốc, có thể thu hái toàn cây vào mùa hạ, dùng tươi hay phơi khô trong râm (âm can) Rễ thu hái quanh năm, rửa sạch, cắt đoạn phơi trong râm, cũng được dùng tươi làm thuốc

Là loài cây nhỏ, cao 1 – 2m; đốt phồng to, nhánh tròn, không lông, mọc đối Lá mọc đối, có phiến dài xoan bầu dục, dài 7- 18cm, rộng 2 – 7cm, đầu nhọn, mép có răng nhọn, gân phụ 5 cặp; cuống ngắn 5-8mm.Bông kép, ít nhánh, nhánhngắn; hoa nhỏ, màu trắng, không cuống; nhị 1 Quả nhỏ, đỏ gạch, mọng, gần tròn 6x4mm Mùa hoa vào tháng 6 – 7, mùa quả tháng 8 – 9

Hình 2.2 Hình ảnh cây Sói rừng trong Vườn ươm 2.2.2.Công năng, tác dụng dược lý của cây Sói rừng

Theo Đông y, cây Sói rừng có vị đắng cay, tính hơi ấm, có độc; có tác dụng hoạt huyết giảm đau, khư phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc Trong dân gian, rễ cây được ngâm rượu, uống chữa đau tức ngực Lá được sắc uống trị bệnh lao, hoặc giã đắp chữa rắn cắn, ngâm rượu xoa bóp chữa vết thương, mụn nhọt, phong thấp, đau nhức xương Theo Perrot và Hurrier (1906),[16] toàn bộ cây sói rừng cũng được dùng để chữa bệnh động kinh Ở Trung Quốc,

Trang 17

cây được dùng trị ung thư tuỵ, dạ dày, trực tràng, gan, cuống họng, viêm não

B truyền nhiễm, lỵ trực trùng, viêm ruột thừa cấp, bệnh nhọt, ngã tổn thương, gãy xương, thấp khớp tạng khớp, đau lưng Liều dùng 15-30 gam, sắc uống hoặc tán thành bột pha với rượu uống

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, sói rừng có tác dụng ức chế đối với tụ cầu khuẩn vàng staphylococcus aureus, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn bacillus coli, trực khuẩn mủ xanh bacillus pyocyaneus, trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn salmonella typhosa

Lá có tác dụng kháng khuẩn mạnh nhất; rễ và cành tươi có tác dụng mạnh hơn rễ và cành đã khô Đối với các loại tụ cầu khuẩn và trực khuẩn đều

có tác dụng ức chế ở mức độ nhất định Thử nghiệm đối với các bệnh nhân viêm phổi, viêm phế quản, viêm dạ dày ruột cấp tính, lỵ trực trùng hiệu suất trung bình tới 75 – 80%

Một số bệnh nhân, chỉ sau 1 – 2 ngày dùng thuốc, thân nhiệt khôi phục bình thường

2.2.3.Cách sử dụng cây Sói rừng

Dưới dạng sắc nước uống từ 10 – 15g khô (30 – 40g tươi) Hoặc ngâm rượu Dùng ngoài giã đắp hoặc nấu nước rửa

Kiêng kỵ: dùng với người âm hư hỏa vượng và phụ nữ có thai

Ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chưa có một công trình nghiên cứu nào về cây sói rừng một cách đầy đủ và khoa học, để làm sáng tỏ điều này và có kế hoạch điều tra khai thác, bảo tồn cây sói rừng ở Cao Bằng, Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Cao Bằng đã triển khai nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng cây sói rừng (Sarcandra Glabra (Thunb) Nakai) ở Cao Bằng để

hỗ trợ điều trị một số bệnh ung thư”

Qua 3 năm nghiên cứu, nhóm nghiên cứu kết luận: thành phần hóa học của bột sói rừng không chứa Alcaloid, ddooid, Flavonoid, sói rừng có tác dụng điều trị các bệnh lý về xương khớp, bệnh lý về tiêu hóa Từ cao chiết

Trang 18

MeOH của cây sói rừng (Sarcandra glabra), Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh phân lập được 3 hợp chất bằng phương pháp sắc ký kết hợp; phổ cộng hưởng

từ hạt nhân (NMR) và phổ khối lượng (ESI - MS), qua đó đã xác định được cấu trúc hóa học của 3 hợp chất đó là: Chloranoside A, tertorigenin 7-glucoside và 1β; 3β-Dihydroxylup-20(29)-en

Trong thành phần hóa học của bột sói rừng không chứa thành phần Glycosid tim, khẳng định sói rừng không ảnh hưởng tới bệnh lý tim mạch khi

sử dụng trên lâm sàng, bột sói rừng cũng không chứa acid amin; trong thành phần của bột sói rừng có chứa acid béo và nhiều nguyên tố vi lượng có lợi cho

cơ thể và không có các nguyên tố có hại như Pb, Co hay As Sói rừng có tác dụng kháng sinh đối với các chủng nấm mốc (F oxysporum) với nồng độ ức chế tối thiểu MIC = 200 g/ml và nấm men (S cerevisiae) với nồng độ ức chế tối thiểu MIC = 100g/ml Không có tác dụng kháng các vi sinh vật kiểm định còn lại như: vi khuẩn Gr (-) (E coli, P aeruginosa), vi khuẩn Gr (+) (B subtilis, S aureus), nấm mốc Asp Niger và nấm men C albicans

Theo các kết quả nghiên cứu tác dụng kháng các dòng tế bào ung thư người in vitro của cây sói rừng cho thấy sói rừng không có tác dụng gây độc

tế bào đối với ba dòng tế bào thử nghiệm là tế bào ung thư phổi, tế bào ung thư gan và tế bào ung thư cơ vân tim người

Bột sói rừng có hoạt tính kháng gốc tự do trên hệ DPPH Điều này cho thấy sói rừng có thể ứng dụng điều trị trong các bệnh lý về viêm, ung thư, Bệnh viện Y học cổ truyền đã nghiên cứu quy trình bào chế và dạng bào chế thành phẩm từ cây sói rừng, đã thực hiện thành công việc nghiên cứu làm viên tế; thuốc bột (thuốc tán); cao thuốc (cao nước; cốm tan Ở dạng cốm tan được sản xuất theo chuyên luận cốm DĐVN III với phương pháp sát hạt ướt, sấy khô ở nhiệt độ phù hợp với từng loại hoạt chất, đóng gói trong bao bì không hút ẩm Tác dụng điều trị ung thư của cốm sói rừng trên chuột nhắt trắng gây

u rắn S180 ở 4 dạng; Dạng 1: Bao gồm những chuột mà khối u có sự tăng

Trang 19

trưởng bình thường hoặc có ít sự giảm thể tích so với đối chứng; Dạng 2: Khối u vẫn tăng thể tích theo thời gian tuy nhiên có sự giảm sút thể tích rõ rệt

so với đối chứng; Dạng 3: Khối u có sự tăng nhẹ vào thời điểm ban đầu sau điều trị, sau đó nhanh chóng giảm thể tích đến thể tích nhỏ nhất có thể đo được chính xác; Dạng 4: Khối u hầu như không tăng kích thước khi được điều trị với chế phẩm và suy giảm thể tích so với thể tích ban đầu khi bắt đầu điều trị

Như vậy cốm sói rừng có tác dụng ức chế sự phát triển khối u ở 70% chuột tại liều điều trị 20g/kg thể trọng và 50 % ở liều điều trị 10g/kg thể trọng, có tác dụng gây kìm hãm tăng trưởng khối u và suy giảm thể tích khối

u trên 42% chuột ở liều điều trị 20g/kg thể trọng và 50% ở liều điều trị 10g/kg thể trọng Cốm sói rừng còn có tác dụng làm tăng khối lượng của các cơ quan miễn dịch (tuyến ức, lách) lên 30% (liều 20g/kg thể trọng) và 27% (liều 10g/kg thể trọng) so với đối chứng; cốm sói rừng bước đầu cho thấy hiệu quả làm tăng tỷ lệ lympho CD8+ ở cả 2 liều thí nghiệm Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì các lympho CD8+ là thành viên đầu tiên của hệ miễn dịch tham gia vào quá trình nhận biết và tiêu diệt tế bào ung thư, cốm sói rừng không ảnh hưởng đến tỷ lệ tế bào lympho biểu hiện CD19 và hoạt tính CD8, tăng tiết IL-2, không có ảnh hưởng rõ rệt lên sự biểu hiện của TNF-a

2.3.Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

 Vị trí địa lý

Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý Thành phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau:

- Phía Bắc giáp với phường Quán Triều

- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán

- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà

- Phía Đông giáp với khu dân cư trường ĐHNL Thái Nguyên

Trang 20

 Đặc điểm địa hình

Địa hình của trường chủ yếu là đồi bát úp, không có núi cao Độ dốc trung bình 10-150, độ cao trung bình 50-70 m địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam

 Khí hậu thủy văn

Điều kiện ngoại cảnh có liên quan trực tiếp đến đời sống cây rừng nói chung và cây Sa mộc dầu nói riêng

Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng Do đó khí hậu ở đây mang đủ tính chất khí hậu của thành phố Thái Nguyên

Độ trung bình của Thái Nguyên là 25°C; chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tại thành phố Thái Nguyên, nhiệt độ cao nhất và thấp nhất từng được ghi nhận lần lượt là 41,5°C và 3°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô

từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1(trích dẫn theo tài liệu[21])

Nhìn chung khí hậu ở đây nóng ẩm, mưa nhiều lượng mưa lớn, độ ẩm cao, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây trồng tại vườn thực vât

 Điều kiện đất đai

Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm nằm dưới chân đồi, đất không màu mỡ và ít dinh dưỡng vì vậy để phục vụ công tác gieo ươm đóng bầu củ yếu được lấy từ các đồi khác trong trường

Đất đai hầu hết là đất feralit phát triển trên đá sa thạch, do vậy đất ở đây dinh dưỡng không cao, ít màu mỡ Qua bảng 2.3 dưới đây phản ánh hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong đất

Trang 21

Bảng 2.3 Kết quả phân tích mẫu đất

(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL-TN)

Nhìn vào biểu phân tích ta thấy:

Độ PH thấp, ở độ sâu tầng đất 10 – 30 cm có độ PH cao nhất cũng chỉ đạt 3,9

Đất nghèo mùn hàm lượng mùn và N; K20; P205 ở mức thấp, chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế

Thái Nguyên thuộc Vùng trung du và miền núi phía bắc, một vùng được coi là nghèo và chậm phát triển nhất tại Việt Nam[21] Tuy vậy, Thái Nguyên lại có nền kinh tế phát triển, trong đó công nghiệp đóng vai trò chủ yếu Những thành tựu quan trọng có thể kể đến là Thái Nguyên đứng thứ 2 cả nước về tăng trưởng, thứ ba cả nước về giá trị kim ngạch xuất khẩu GDP bình quân đầu người và giá trị sản xuất công nghiệp lần lượt đứng thứ 4 và thứ 3 trong số 10 tỉnh thuộc vùng Thủ đô Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện với chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 7/63 tỉnh, thành phố năm 2016 3 năm liên tiếp, tỉnh Thái Nguyên nằm trong số 10 tỉnh, thành có chất lượng điều hành tốt nhất [21]

Điều kiện xã hội

Thống kê năm (2016).Dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.227.400 người, trong đó nam có 602.700 người và nữ là 624.700 người Tổng dân số đô thị là

Trang 22

421.100 người (34,31%) và tổng dân cư nông thôn là 806.300 người (65,69%) Cũng theo Tổng cục Thống kê, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2016 của Thái Nguyên là 0,99%

Dân cư Thái Nguyên phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc Mật độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai 72 người/km², cao nhất là thành phố Thái Nguyên với mật độ 1.627 người/km ² Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm (1999-2009) dân số tỉnh tăng bình quân 0,7%/năm, thấp hơn mức bình quân của cả nước là 1,2% do có nhiều người di chuyển đi các tỉnh khác, trong đó ba huyện Định Hóa, Đại Từ và Phú Bình có tăng trưởng dân số âm [21]

Trang 23

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1.Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu

-Là cây Sói rừng có tên khoa học là (Sarcandra glabra) Được nhân

giống từ hom, cây Sói rừng được đưa vào nghiên cứu có (Doo trung bình = 0,18cm ; Hvn trung bình = 6,1cm ), chất lượng tốt

- Địa điểm nghiên cứu: tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/01 đến 30 /05/2019

3.2.Nội dung nghiên cứu

- Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tỷ lệ sống của cây

- Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng đường kính (Do) của cây

- Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng chiều cao (Hvn) của cây

- Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của số lá trên cây

3.3.Phương pháp nghiên cứu

3.3.1.Phương pháp kế thừa tài liệu

- Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến cây Sói rừng ở trong

và ngoài nước (về đặc điểm sinh thái, hình thái, sinh trưởng, năng suất, chọn giống, các biện pháp kỹ thuật gây trồng và chăm sóc …) Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng từ các cơ quan, cán bộ ngành, người dân tại khu vực nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Xử lý số liệu thống kê trên Excel

3.3.2.Phương pháp bố trí thí nghiệm

Bước 1: Công tác chuẩn bị:

- Cây con

- Làm đất, lên luống

Trang 24

- Giàn che (lưới đen, cọc tre)

+ CT 1: không che bóng (Đối chứng)

- Phương pháp theo dõi thí nghiệm:Thí nghiệm được bố trí theo

khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại, 30 cây/công thức/1 lần lặp Theo dõi định kỳ 1 lần/tháng và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây con, các chỉ tiêu theo dõi được nghi ở Bảng sau:

Mẫu bảng 3.2 -Các chỉ tiêu sinh trưởng H vn , D 00 chất lượng

của cây Sói rừng

Trang 25

Bước 3: Thực hiện gieo ươm và chăm sóc thí nghiệm

Thí nghiệm che sáng được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ một nhân

tố 3 lần lặp ở 4 mức che bóng khác nhau: không che phủ (ký hiệu là CS), che 25% (CS 25%), che 50% (CS3 50%), che 75% (CS4 75%) Giàn che là lưới nion đen cao khoảng 1m so với mặt luống và rộng hơn mép luống là 40cm Mức che sang (CS%) của giàn che được xác định theo công thức của Nguyễn Hữu Thước (1964)

(X + a)2- X ( X + a)2

Trong đó: CS% Tỷ lệ cần che sáng (%)

X- Khoảng giữa các nan a- Bề rộng các nan (X+a)2 Diện tích cần che bóng Trong thời gian thí nghiệm (5 tháng), các biện pháp chăm sóc áp dụng đồng nhất cho các công thức thí nghiệm, gồm tưới nước định kỳ hàng ngày, làm cỏ định kỳ hàng tháng, bón bằng phân đạm ((NH2)2CO) với nồng độ 0,01% ở dạng dung dịch định kỳ 2 tuần 1 lần bắt đầu từ tháng thứ 3 Các chỉ tiêu về tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc (D00), chiều cao vút ngọn (Hvn) Những biện pháp chăm sóc (làm cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh…) cây con được thực hiện giống nhau trên tất cả các lô thí nghiệm Thời gian theo dõi thí nghiệm là 5 tháng; Trong đó định kỳ đánh giá là mỗi tháng một lần

Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu

Thời gian đo đếm các chỉ tiêu thí nghiệm được tiến hành vào cuối đợt thí nghiệm trong mối ô tiêu chuẩn theo dõi 30 cây được đánh số từ cây số 1 đến cây thứ 30

- Đo đường kính cổ rễ (D00): Dùng thước đo đường kính ở vị trí cổ rễ

- Đo chiều cao (Hvn) sử dụng thước đo chiều cao với độ chính sác của thước là ± 0,1cm, đặt thước sát miệng đến hết ngọn cây

Ngày đăng: 20/04/2021, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quỳnh Anh (2013), “Nghiên cứu ứng dụng cây Sói rừng Sarcandra Glabra (Thunb) Nakai ở Cao Bằng để hỗ trợ điều trị một số bệnh ung thư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng cây Sói rừng Sarcandra Glabra (Thunb) Nakai ở Cao Bằng để hỗ trợ điều trị một số bệnh ung thư
Tác giả: Nguyễn Quỳnh Anh
Năm: 2013
3. Trần Công Khanh (2011), “Cây Sói rừng & Lan kim tuyến”, trên tạp chí Thuốc & Sức khỏe số 431(2011), ISSN 1859-1922, tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây Sói rừng & Lan kim tuyến
Tác giả: Trần Công Khanh (2011), “Cây Sói rừng & Lan kim tuyến”, trên tạp chí Thuốc & Sức khỏe số 431
Năm: 2011
4. Nguyễn Văn Tập (1996), Nghiên cứu bảo tồn những cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam, Luận án phó tiến sỹ khoa học sinh học, Trường ĐH Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bảo tồn những cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 1996
5. Bộ y tế(2005), dược liệu, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: dược liệu
Tác giả: Bộ y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2005
2. Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Văn Thuần (2005), Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc, NXB NN, Hà Nội Khác
6. Viện Dược liệu (2006), Nghiên cứu thuốc từ thảo dược. NXB Khoa học và kỹ thuật Khác
7. Viện Dược Liệu (2006), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam tập 1, NXB Khoa học và kỹ thuật Khác
8. Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội Khác
9. Viện Dược Liệu (2005), Kỹ thuật trồng cây thuốc, NXB Y học Hà Nội Khác
10. Phạm Thị Nhật Trinh (2013), Nghiên cứu thành phần hóa học và thử nghiệm hoạt tính sinh học hai loài thực vật thuộc chi Ráng (Drynaria) họ Dương xỉ (Polypodiaceae) Khác
12. Li X, Zhang YF, Zeng X, Yang L, Deng YH (2011), Chemical profiling Khác
10.1002/rcm.5123. [PubMed] [CrossRef] Khác
17.www.pearson.com/us/higher-education/product/SPSS-SPSS-13-0-for-Windows-Student-Version/9780131867567.html Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w