1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây sâm cau (curculigo orchioides gaertn)

62 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Chế Độ Che Sáng Đến Sinh Trưởng Của Cây Sâm Cau (Curculigo Orchioides Gaertn)
Tác giả Nhữ Văn Thành
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Công Hoan
Trường học Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 3,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng đường kính D00 của cây Sâm cau ở các công thức thí nghiệm .... 29 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng chiều cao Hvn của c

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NHỮ VĂN THÀNH

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHE SÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY SÂM CAU (Curculigo orchioides Gaertn) TẠI VƯỜN ƯƠM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Khóa học : 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NHỮ VĂN THÀNH

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHE SÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY SÂM CAU (Curculigo orchioides Gaertn) TẠI VƯỜN ƯƠM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Công Hoan

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, các số liệu và kết quả thực hiện trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi, điều tra tại cơ sở thực tập hoàn toàn trung thực, khách quan

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2019

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan

TS Nguyễn Công Hoan Nhữ Văn Thành

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

để sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, họ và tên)

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Phân loại cây Sâm sau của Chauhan và cs (2010)……… 15 Bảng 2.2: Kết quả phân tích mẫu đất……… 20 Mẫu Bảng 3.1 - Sơ đồ bố trí thí nghiệm che sáng 22 Mẫu biểu 3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng Hvn, D00 chất lượng của cây

Sâm cau 23 Mẫu Biểu 3.3: Tỷ lệ cây con xuất vườn của các công thức che sáng 26 Bảng 4.1 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tỷ lệ sống của cây Sâm cau ở các công thức thí nghiệm 28

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng đường kính (D00) của cây Sâm cau ở các công thức thí nghiệm 29 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng chiều cao (Hvn) của cây Sâm cau ở các công thức thí nghiệm 32 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến động thái ra lá củacây Sâm cau

ở các công thức thí nghiệm 35 Bảng 4.5 Kết quả đánh giá chất lượng cây Sâm cau sử dụng các công thức che sáng 39

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Thân rễ của cây Sâm cau 16

Hình 2.2 Lá cây Sâm cau 16

Hình 2.3 Đặc điểm cua hoa 17

Hình 3.1 Hộp thoại One way Anova 25

Hình 3.2: Hộp thoại Phost Hoc multiple comparisons 25

Hình 3.3: Hộp Thoại Options 26

Hình 4.1 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tỷ lệ % sống của cây Sâm cau sau 90 ngày theo dõi 28

Hình 4.2 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng đường kính gốc cây Sâm cau sau 90 ngày theo dõi 30

Hình 4.3 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng chiều cao cây Sâm cau sau 90 ngày theo dõi 33

Hình 4.4 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến động thái ra lá cây Sâm cau sau 90 ngày theo dõi 36

Hình 4.5 Tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn 40

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở lý luận về cây dược liệu 5

2.2 Tổng quan về cây dược liệu 5

2.2.1 Trên thế giới 5

2.2.2 Ở Việt Nam 7

2.3 Nghiên cứu về cây Sâm cau ở trên thế giới và Việt Nam 11

2.3.1 Trên thế giới 11

2.3.2 Ở Việt Nam 13

2.4 Giới thiệu chung về cây Sâm cau 14

2.4.1 Nguồn gốc và phân loại của cây Sâm cau 14

2.4.2 Đặc điểm hình thái học của Sâm cau 16

2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 19

Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 21

3.1.1 Vật liệu nghiên cứu 21

3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

3.2 Nội dung nghiên cứu 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 21

3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22

3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 24

Trang 7

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tỷ lệ (%) cây sống của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm 27

4.2 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng đường kính của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm 29

4.3 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng chiều cao của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm 32

4.4 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến số lá/thân của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm 35

4.5 Đánh giá chất lượng cây Sâm cau và dự kiến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn 38

4.5.1 Đánh giá chất lượng cây Sâm cau 38

4.5.2 Dự kiến tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn 39

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Tồn tại 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 8

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một Quốc gia có 3/4 diện tích là rừng, nơi có sự đa dạng về nguồn tài nguyên cây thuốc và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số Quốc gia Chính

sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự

đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh Việc sử dụng những kinh nghiệm dân gian và nghiên cứu thực vật học dân tộc ở Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng là rất cần thiết để góp phần phát triển nền kinh

tế của đồng bào dân tộc [9]

Cũng như hầu hết các nước có nên văn hóa phương Đông, xu hướng sử dụng dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên và được sản xuất trong nước ở Việt Nam ngày càng tăng Điều đó làm cho vị thế của cây thuốc Nam trong tương lai sẽ lơn hơn Tuy nhiên, cũng vì lẽ đó mà trên thực tế việc khai thác không bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc nam sẽ làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái và thế hệ tương lai không còn được hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên này Chính vì vậy, cần phải có những giải pháp vừa đảm bảo phát triển được nguồn tài nguyên cây thuốc Nam ngoài tự nhiên, vừa có được lợi nhuận từ các sản phẩm mà chúng mang lại mà không phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu khai thác từ tự nhiên

Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được biết đên như một loài thảo

dược quý hiếm có nhiều tác dụng đối với y học Theo Đông y, thân rễ Sâm cau có thể trị sốt xuất huyết, chữ tê thấp, đau mình mầy, chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng, chữa cao huyết áp (tiền mãn kinh), bồi bổ tráng

Trang 9

dương, trị nam tinh lạnh, nữ lạnh tử cung, chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thần kinh suy nhược,… Ngày nay, y học hiện đại đã phát hiện trong thân rễ của loài Sâm cau có rất nhiều các hoạt chất hữu ích như có thể sử dụng chữa các bệnh nan y như các hoạt chất oxytocic, preparations, glycosides flavnone, glycosides, curculigoside, steroid, flavonoid, saponin và các hợp chất polyphenolic khác nhau được ứng dụng để chữa vô sinh, ung thư, rối loạn thần kin, … vì vậy đây là loài được nhiều quốc gia trên thế giới và nhiều người quan tâm gây trồng để nghiên cứu chữa bệnh [32]

Ở Việt Nam cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được biết đến

với tên thuốc là Rhizoma Curculiginis, Đông y gọi là Tiên mao và cho rằng

có vị cay, tính ấm, hơi có độc, có đặc tính chống ung thư, bổ thận tráng dương, ôn trung táo thấp, tán ứ, trừ tê, tráng gân cốt Chủ trị tinh lạnh, liệt dương, đái đục ở nữ, bạch đới, người già đái són, lạnh da, thần kinh suy nhược, phong thấp, lưng gối lạnh đau, vận động khó khăn,… [34]

Cây sống lâu năm cao khoảng 30cm hoặc hơn Có từ 3-6 lá, hình mũi mác xếp nếp tựa như lá cau nên gọi là Sâm cau Phiến lá thon hẹp, hai mặt lá nhẵn gần như cùng màu, gân song song, dài 40cm, rộng 2-3,5cm, cống dàu 10cm Thân rễ hình trụ cao, dạng củ, to bằng ngón tay út, có rễ phụ nhỏ, vỏ thô màu nâu, trong nạc màu vàng ngà Rễ có thể thu hái được quanh năm nên

có thể thuận lợi cho việc nghiên cứu nhân giống từ rễ thay vì phải chờ đến mùa thu hái của hạt (tháng 5 - 7) [34]

Việt Nam được ghi nhận là có phân bố của loài Sâm cau tuy nhiên hiện nay loài này đang bị đe dọa nghiêm trọng ngoài tự nhiên do mất đi sinh cảnh sống và sự khai thác quá mức Rất cần có một giải pháp bảo tồn và phát triển loài này tại địa phương [16]

Một trong những giải pháp bảo tồn được loài Sâm cau ngoài tự nhiên, vừa phát triển được nguồn gen quý hiếm có giá trị kinh tế cao này là cần tiến

Trang 10

hành nhân giống, gây trồng loài trên các điều kiện lập địa và trong các môi trường nhân tạo khác nhau

Xuất phát từ thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của chế độ

che sáng đến sinh trưởng của cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” làm cơ sở khoa học

cho công tác nhân giống và gây trồng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được đặc điểm sinh thái cơ bản của cây Sâm cau làm cơ sở

cho việc gây trồng loài theo hướng sản xuất hang hóa

- Cung cấp thêm dữ liệu để đánh giá khả năng và mức độ phát triển

của cây trên từng điều kiện ánh sáng khác nhau

1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

* Ý nghĩa khoa học

Vận dụng những kiến thức thực tế của bản thân làm quen với quá trình nghiên cứu trong thực tế

Tích lũy những kinh nghiệm, những hiểu biết từ đó thấy được những điểm mạnh, điểm yếu cảu bản thân khi đi làm

Nâng cao kiến thức, hiểu biết về loài cây dược liệu Sâm cau cho bản thân Rèn luyện các kỹ năng tổng hợp, phân tích, tổng hợp số liệu tiếp thu và hỏi những kinh nghiệm từ thực tế

* Ý nghĩa thực tiễn

Xác định được ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng và phát triển của cây Sâm cau

Trang 11

Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chính xác

Đề xuất một số giải pháp kiến nghị về phương pháp, cách thức bón phân Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi

ra trường

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về cây dược liệu

Tài nguyên cây dược liệu là một dạng đặc biệt của tài nguyên sinh vật, thuộc tài nguyên có thể tái sinh (phục hồi), bao gồm hai yếu tố cấu thành là cây cỏ và tri thức sử dụng chúng là thuốc để chăm sóc cho sức khỏe Cây thuốc khác với cây cỏ bình thường ở chỗ nó được dùng làm thuốc Suy rộng

ra đối với cây rau, cây để nhuộm, cây gia vị, … cũng như vậy Tính từ đứng sau danh từ “cây” chỉ công dụng của cây đó Với định nghĩa này, một cây thuốc có hai yếu tố cấu thành đó là bản thân cây cỏ là nguồn gen hay yếu tố vật thể và tri thức sử dụng cây cỏ đó để chữa bệnh là yếu tố phi vật thể [13] Hai yếu tố này luôn đi kèm với nhau Các sinh vật quanh ta rất nhiều, nếu không biết sử dụng chúng để làm thuốc (cũng như các công dụng khác trong đời sống) thì chúng chỉ là những thực vật hoang dại ngoài tự nhiên Ngược lại, khi một cây đã biết dùng làm thuốc nhưng sau đó lại để mất tri thức sử dụng (hoặc đưa đến một nơi mà không ai biết dùng) thì nó cũng chỉ là cây cỏ dại trong tự nhiên

Bộ phận cấu thành thứ nhất (cây cỏ) là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài dưới tác động của các yếu tố tự nhiên, do đó liên quan đến các môn học khoa học tự nhiên như sinh học, nông học, lâm học, dược học, [13]

Bộ phận thứ hai (tri thức) là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn của loài người, có từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, được đúc kết, tích lũy

và lưu truyền qua nhiều thế hệ, chịu tác động của các quy luật kinh tế - xã hội, quản lý, do đó liên quan đến các môn học xã hội như dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, …[13]

2.2 Tổng quan về cây dược liệu

2.2.1 Trên thế giới

Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới (WTO), đến năm 1985, trên toàn thế giới đã biết tới trên 20.000 loài thực vật bậc thấp và bậc cao (trong

Trang 13

tổng số 250.000 loài thực vật đã biết) được sử dụng trực tiếp là thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N.R Farnsworth và D.D Soejarto, 1985) Theo Napralert, năm 1998 con số này được ước tính từ 30.000 – 70.000 loài cây thuốc Trong đó ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được xem là loài cây thuốc, Ấn Độ có hơn 6.000 loài, vùng nhiệt đới Đông – Nam khoảng 6.500 loài … [25]

Nguồn gen cây thuốc đang ở trong tình trạng bị đe dọa do mất môi trường sống, nạn phá rừng, thiên tai, sự khai thác cạn kiệt,… Có rất nhiều bằng chứng chỉ ra rằng sự đa dạng nguồn gen thực vật, bao gồm cả cây thuốc, đang bị suy giảm một cách trầm trọng ở nhiều nước trên thế giới Tình trạng này càng trở nên trần trọng ở những nơi có mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, và nạn phá rừng thương xuyên xảy ra Những quốc gia có nguồn gen cây thuốc phong phú cần phải nỗ lực hơn nữa để sưu tập, giữ gìn và bảo tồn nguồn gen quý này để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sử dụng chúng một cách có hiệu quả [4]

Ngày nay, đã là thời điểm báo động về hậu quả mất đi nhanh chóng tính

đa dạng của nguồn tài nguyên sinh học, trong đó có nguồn cây thuốc của mỗi quốc gia Tư liệu từ Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng

số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này thông tin, thì có gần 30.000 loài được coi là bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau Trong tài liệu “Các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ” xuất bản năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong

đó phần lớn số loài là cây thuốc Trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về thực vật của Trung Quốc), năm 1996 cũng giới thiệu gần 200 loài được sử dụng làm thuốc, cần được bảo vệ [15]

Các nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm tài nguyên cây dược liệu được xác định là:

- Tàn phá thực vật

- Hoạt động du canh, du cư

Trang 14

- Khai thác quá mức và sử dụng lãng phí tài nguyên cây thuốc

- Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên

- Khai thác không có kế hoạch và thay đổi cơ cấu cây trồng

- Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hóa và bị thất truyền

Các nước trên giới đang hướng đến chương trình Quốc gia kết hợp bảo tồn và phát triển cây dược liệu Trong tương lai, để phục vụ cho mục đích sức khỏe con người, cho sự phát triển không ngừng của xã hội để chống lại các bệnh nan y, thì cần thiết phải có sự kết hợp giữa Đông – Tây Y, giữa y học hiện đại với kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc Chính những kinh nghiệm truyền thống đó là điểm mấu chốt để nhân loại khám phá ra những loại thuốc chống lại các căn bệnh hiểm nghèo Vì vậy việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây là điều hết sức quan trọng

2.2.2 Ở Việt Nam

Nền y học cổ truyền của nước ta đã được hình thành qua các quá trình lao động và sản xuất của 53 dân tộc anh em trong suốt quá trình lịch sử xây dựng đất nước Trong đó nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao Và những kinh nghiệm dân gian quý báu đó

đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong dân gian

- Đỗ Tất Lợi (1986), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”

- Phạm Hoàng Hộ (2007), “Cây có vị thuốc ở Việt Nam”

- Võ Văn Chi (1997) “Từ điển cây thuốc Việt Nam”

Theo kết quả điều tra trên phạm vi toàn quốc từ 1961 – 1985, Viện Dược liệu đã ghi nhận được ở nước ta có 1.836 loài thuộc 263 họ được sử dụng làm thuốc Trước đó, và năm 1952, các nhà thực vật học và tài nguyên thực vật học Pháp cho biết trên bán đảo Đông Dương có 1.350 loài cây thuộc 160 họ Hiện nay, theo Võ Văn Chi, con số này đã lên tới gần 3.200 loài thuộc 1.200

Trang 15

chi của trên 300 họ, nghĩa là hầu hết các họ trong hệ thực vật Việt Nam ít hoặc nhiều đều có một số loài có thể sử dụng làm thuốc Tuyệt đại đa số các loài là cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [5]

Từ năm 1960 đến nay, hàng năm có tới hơn 200 loài cây thuốc được thương mại hóa Chúng được khai thác từ nguồn tự nhiên hay trồng trọt với khối lượng lên tới 100.000 tấn/năm Một số địa phương như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, những năm trước đấy thường xuyên thu mua 10 loại dược liệu như Ba kích, Sa nhân, Thiên niên kiện, Ngũ gia bì, Chân chim, Lạc tiên, Thổ phục linh, Dạ cẩm, Thảo quyết minh, Ích mẫu, Nhân trần, Bồ bồ Trong các loài cây vừa nêu trên không chỉ phụ vụ nhu cầu địa phương, trung ương mà còn dùng để xuất khẩu qua Trung Quốc [3]

Phần lớn các loài cây thuốc này được đưa vào sử dụng dưới các dạng thuốc của y học cổ truyền (thuốc thang, thuốc cao, thuốc viên, thuốc nước ) Trong số các loài chính thức khai thác, có một số được đưa vào sản xuất công nghiệp, chiết xuất các hợp chất thiên nhiên để làm thuốc như chiết berberin từ Vàng đắng, palmatin từ Hoàng đằng, artemisinin từ Thanh hao, rotundin từ Bình vôi Tuy số lượng loài ít, nhưng khối lượng nguyên liệu đưa vào sản xuất tới trên 2.000 tấn/năm Ngoài ra, hằng năm cũng có tới gần 20 loài khác được cất tinh dầu làm thuốc với khối lượng rất lớn [4]

Rừng nhiệt đới Việt Nam có tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học cho biết: Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, 600 loài nấm, 800 loài rêu và hàng trăm các loại tảo lớn; trong số đó có khoảng 3.200 loài thực vật bậc cao và bậc thấp dùng làm thuốc, chúng phân bố trên khắp các điều lập địa khác nhau của nước ta Theo thống kê chưa đầy đủ của Gia Lai – Kon Tum có khoảng 921 loài cây được người dân sử dụng làm thuốc; Phú Khánh có 782 loài; Đắc Lắc có 777 loài; Quảng Nam - Đà Nẵng có 735 loài; Lâm Đồng 715 loài,…Trong đó có

Trang 16

nhiều loài cây thuốc quý như: Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis), Cẩu tích

(Cibotium azomets), ở Kon Tum; An Khê, Trà My có Vàng đắng (Coscintum usitatum), Sa nhân (Amomum xanthioides), Ngũ gia bì chân chim (Schefflera octophylla); Sìn Hồ - Lai Châu có Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum), Ngũ

gia bì gai (Acanthopanax toifoliatus); Chiêm Hóa - Tuyên Quang có Bình vôi

(Stephania rotunda); Mộc Hóa - Bình Phước có Tràm (Melaleuca leucadendron); Lạng Sơn có Hồi (Illicium vertum), Thanh Hóa có Thanh hao

vàng (Artermisia annua L.), [8]

Theo Lê Thanh Chiến (2005) [6], Lâm sản ngoài gỗ trong đó có cây thuốc với đặc tính dễ trồng, giá trị kinh tế cao có thể cải thiện đời sống của cộng đồng Vì vậy, phát triển Lâm sản ngoài gỗ là một động lực và là yếu tố chủ chốt trong quản lý và bảo vệ rừng

Nghiên cứu về tiềm năm và vai trò Lâm sản ngoài gỗ đối với một số cộng đồng ở một số vùng đệm của Vườn Quốc gia và khu Bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam cho thấy gần 200 tấn cây dược liệu ở Vườn Quốc gia Ba Vì được khai thác năm 1997 – 1998 Dân tộc người Dao ở Ba Vì tham gia thu hái cây thuốc dược liệu được ước tính khoảng 620 % Đây là nguồn thu nhập chính trước đây và hiện nay là nguồn thu nhập thứ hai sau lúa và sẵn [17]

Để phục vụ cho nhu cầu phát triển cây Lâm sản ngoài gỗ nói chung, cây dược liệu nói riêng ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu được công bố như:

Theo Đỗ Tất Lợi (1986) [16], “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” đã mô

tả đặc điểm sinh thái, đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và phân tích thành phần hóa học, công dụng, cách sử dụng hơn 1.000 loài thuốc để chữa bệnh Tác giả cũng đề cập tới kỹ thuật trồng một số loài cây thuốc nhưng không đi sâu vào vấn đề này

Trang 17

Trần Công Khánh (2010) [11], “Tổng quan về cây độc ở Việt Nam”

mô tả đặc điểm nhận biết để phân biệt các loại cây có độc tố cũng như đặc điểm phân bố và khả năng sử dụng chúng dùng làm thuốc trừ sâu cho cây trồng

Nguyễn Ngọc Diệp (1998) [7], “Góp phần điều tra cây thuốc của

người Dao ở Vườn Quốc gia Ba Vì” đã đưa ra danh lục một số loài cây thuộc

chủ yếu mà người Dao thu hái nhưng chủ yêu là tên địa phương và đã đi sâu vào nghiên cứu các khâu chế biến thuốc từ các cây rừng có khả năng chữa bệnh

Trần Văn Ơn (1999) [12], đã đưa ra kết quả tổ chức chọn lọc một số

hộ tham gia sưu tầm cây thuốc hom giống tại nhà với sự hỗ trợ của dự án cây

thuốc (báo cáo về “Thử nghiệm cây thuốc bằng hom tại Ba Vì”)

Trần Khắc Bảo (1994) [1],”Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà

Giang” đã đề cập các vấn đề về chế biến, bảo quản và phát triển cây thuốc ở địa

bàn nghiên cứu

Theo số liệu thống kê giá trị các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu của Việt Nam (năm 1996) đạt 1.510 triệu USD, trong đó cây dược liệu đạt 689,9 triệu USD chiếm 45,64 % [2]

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), giá trị xuất khẩu một số mặt hàng kể cả nguyên liệu và sản phẩm đã qua chế biến của ngành Nông nghiệp và Y tế đã vượt 1 tỷ USD hàng năm, trong đó dược liệu chiếm tới 689,9 triệu USD [18]

Tuy nhiên nguồn gen của các cây dược liệu đang ở tình trạng bị đe dọa, nhiều loài cây dược liệu bị cạn kiệt do tình trạng phá rừng bừa bãi và khai thác tận thu quá mức trong nhiều năm [14] Theo trung tâm nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, sản xuất dược liệu từ Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam hiện nay có tới 60 % nguồn nguyên liệu phải nhập khẩu Theo thống kê, trong số các loài cây nguyên liệu phải nhập khẩu, có 20 loài cây dược liệu vố đã được nhập khẩu về và trồng thành công tại Việt Nam như: Bạch chỉ, Đương quy, Huyền sâm, Thục địa,

Trang 18

Đỗ trọng,… Ngoài ra, có khoảng 45 loài cây thuốc trước đây là thế mạnh của Việt Nam như: Hoắc hương, Hồng hoa, Ý dĩ hiện nay phải nhập khẩu từ nước ngoài Có 25 loài thuốc mọc tự nhiên có giá trị xuất khẩu như: Ba kích, Bồ công anh, Kim ngân hoa, Kim tiền thảo,… đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng nếu không được bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững [23]

Việc mất các nguồn gen quý hiếm, đặc hữu có giá trị cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của đất nước Nếu mất nguồn gen của các loài đặc hữu, ta sẽ giảm tính cạnh tranh của các mặt hàng nông, lâm sản của Việt Nam [14]

Chung quy lại thì những nghiên cứu về cây dược liệu trong và ngoài nước đều đã đề cập khá rõ về việc nghiên cứu cây dược liệu Những kiến thức, kinh nghiệm này chắc chắn sẽ là những bài học quan trọng được sử dụng trong việc bảo tồn và phát triển tài nguyên cây dược liệu đang đứng trước nguy cơ đe dọa ở Việt Nam

2.3 Nghiên cứu về cây Sâm cau ở trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Trên thế giới

Loài Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được sử dụng làm thuốc cổ

truyền, từ lâu nó đã được biết đến như một loại thuốc có vị ngọt, tính mát, nhầy, tăng Kapha và giảm Pitta Daha (cảm giác nóng rát), có hoạt tính kích thích mạnh Thân rễ của loài Sâm cau có thành phần của preparations [7] có tác dụng kích thích tình dục Bên cạnh đó thân rễ còn trị được các bệnh hen

suyễn, còi cọc, vàng da, và tiêu chảy

Khi nghiên cứu về tác dụng của thân rễ loài Sâm cau, tác giả Bhattacharjee (1998) [25], Subramonium và Gayathri 2002 [30], đã cho thấy, bên cạnh tác dụng để điều trị còi cọc, vàng da, hen suyễn, tiêu chảy, trị hạ đường huyết, chống co thắt, cây Sâm cau còn có các đặc tính chống ung thư

và sử dụng như một loài thuốc bổ cho sức khỏe và sức sống do sự hiện diện của glycosides flavnone

Trang 19

Theo các tác giả khi nghiên cứu sản xuất các hợp chất thứ cấp của loài

Sâm cau – Curculigo orchioides Geartn; cho biết dây là một loại thảo dược

sống nhiều năm và đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Ấn Độ Trong tự nhiên loài này xuất hiện trong rừng sau mùa mưa và tàn lụi vào cuối đợt gió mùa sau năm Tỷ lệ tái sinh của cây Sâm cau ngoài tự nhiên là rất thấp

Theo D’henuka và cộng sự (1999) [26] khi nghiên cứu nhân giống từ rễ loài cây này đã kết luận loài này có thể nhân giống vô tính bằng cách sử dụng thân rễ tuy nhiên rất dễ bị nhiễm virus Việc nhân giống bằng hạt thường không đang tin cậy do chất lượng hạt kém và khả năng nảy mầm thấp

Một số phương pháp nhân giống vô tính hiệu quả trong ống nghiệm của loài Sâm cau là sử dụng mô phân sinh đỉnh Nhiều mầm cây đã được nhân lên

từ đỉnh sinh trưởng và phát triển trên Murashige và Skoog (MS) vừa cơ bản vừa bổ sung thêm một số thành phần như BA, sucrose, IBA, IAA vào môi trường nuôi cấy trong nhà kính sau khi cây đã cứng cáp thì chuyển ra cấy trên môi trường đất cát (SalemaValencioFracis, 2007) [29]

Theo tác giả NidhiSoni và cộng sự (2012) [28] đã đưa ra kỹ thuật gây trồng loài Sâm cau như sau: Nguồn giống lấy từ củ, phân đoạn củ kích thước 1,5-2cm, có chứa các chồi đỉnh, được thu thập từ tháng 2 đến tháng 3 để sử dụng nhân giống Cự ly trồng 10 x 10 cm, trồng 600-750 kg củ/ha Làm đất

và bón phân: loài này phát triển tốt trong môi trường đất ẩm và mùn giàu Phân hữu cơ được trộn trước vào luống trồng và luống phải cao để tránh úng ngập Bón phân chuồng khoảng 20 tấn/ha được chuẩn bị vào thời điểm chuẩn

bị đất Trồng và khoảng cách tối ưu: Các phân đoạn củ được trồng trực tiếp theo hang Sau khoảng 2 tháng 70-80% nảy mầm khi trồng ở vùng nhiệt đới

ẩm như Kerala Mật độ trồng tối ưu: nếu trồng thuần thì cự ly trồng là 10 x 10cm hoặc 10 x 15cm; nếu trồng xen cự ly là 20 x 25cm Chăm sóc: cây sinh trưởng tốt trong điều kiện có bóng mát nên trồng xen với cây ăn quả Nếu trồng thần thì phải che bóng mát với độ che bóng là 25% Quản lý sau thu

Trang 20

hoạch: Cây bắt đầu ra hoa 1 tháng sau khi trồng và ra hoa đồng loạt sau tháng thứ 2 và tháng thứ 3 Cây ra hoa quanh năm tuy nhiên tỷ lệ đậu quả hạn chế Cây trồng trong 7-8 tháng có thể thu hoạch rễ củ bằng cách đào rễ, loại bỏ tạp vật, các củ được làm sạch sấy khô trong bóng râm và được lưu trữ trong túi

gunny Năng suất củ khô 1.000 – 1.700 kg/ha

2.3.2 Ở Việt Nam

Nguyễn Duy Thuần và Nguyễn Thị Phương Lan (Năm 2001) [19] đã nhận dạng và nghiên cứu về loài sâm cau mọc hoang ở Sơn Dương, Hà Giang

Huỳnh Bá Công (2015) [21] nghiên cứu gây trồng được loài Sâm cau trên vùng đất cát nội đồng trong điều kiện có áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp

Trần Mai Hương (2016) [20] khi nghiên cứu đã định danh được một số thành phần hóa học trong các dịch chiết rễ sâm cau ở Quảng Ngãi bằng phương pháp phân tích sắc kí khí ghép khối phổ (GC-MS) Cụ thể đã xác định được 10 cấu tử, trong đó có một số cấu tử có hoạt tính sinh học cao như 2H-1-Benzopyran-2- one, 4H-Pyran-4-one,2,3-dihidroxy-6-methyl- đều tìm thấy trong dịch chiết với các dung môi diclometan, metanol Đây là các cấu tử có hoạt tính sinh học mạnh, đặc biệt là khả năng chống oxi hóa

Tại Việt Nam, theo Đỗ Huy Bích và cs (2003) [22] chi Curculigo Gaertn

có 8 loài, sâm cau là loài có hình thái nhỏ nhất Cây phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi phía Bắc từ Lai Châu, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Hòa Bình, Yên Bái, tập trung nhất tại vùng đất màu mỡ, ẩm ướt trong các thung lũng chân núi đá vôi, đặc biệt ở các tỉnh vùng thấp, mưa nhiều của Hà Giang

và một phần Yên Bái Trước những năm 1980, cây thuốc này rất phổ biến và khai thác được với lượng lớn Do không có 18 kế hoạch bảo tổn và phát huy, giống cây này đang hiếm dần và gần đây đã được đưa vào danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam

Trang 21

Hiện nay, một số nơi đồng bào đã bắt đầu tiến hành gây trồng lại giống cây thuốc quý này Trước hết người dân thường đánh các cây con mọc hoang

về trồng, sau đó nhân giống bằng hạt hoặc mầm Thời vụ trồng tốt nhất vào mùa xuân Sâm cau là loài sống rất khỏe, lá xanh tốt quanh năm, vì thế có thể trồng trong chậu, trong bồn như cây cảnh Tại tỉnh Hà Giang sâm cau từ lâu

đã được đồng bào sử dụng như một cây thuốc dùng để bồi bổ sinh lực, hàng năm lượng khai thác vào khoảng vài chục tấn nguyên liệu tươi, tập trung tại một số huyện như Quản Bạ, Bắc Mê…Ngoài một lượng nhỏ sử dụng tại đại phương, hầu hết lượng còn lại được bán cho thương lái Trung Quốc với giá

rẻ, không đúng với giá trị của một loại nguyên liệu quý Từ lâu sâm cau được người dân sử dụng như một vị thuốc quý Theo Y học cổ truyền sâm cau có vị cay tính ấm, có độc, vào hai kinh tỳ và thận, có tác dụng thêm sức nóng, làm hết lạnh, cường dương, mạnh gân xương Sử dụng để chữa nam giới tinh lạnh, liệt dương, người già đái són, lạnh da, kém ăn, tê thấp, lưng gối vận động khó khăn Liều dùng mỗi ngày 15-20 gram dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị khác Còn dùng chữa hen và tiêu chảy Sử dụng chính để làm thuốc bổ, có thể dùng ngoài để chữa lở loét

2.4 Giới thiệu chung về cây Sâm cau

2.4.1 Nguồn gốc và phân loại của cây Sâm cau

Sâm cau đã được ghi nhận trong thực vật chỉ của một số nước từ rất lâu

và ở bậc phân loại loài Theo một số tài liệu, Sâm cau phân bố Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Quốc, Nhật Bản, Úc, các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Thái Lan, Á Cây sinh trưởng, phát triển tốt ở vùng đồng bằng nơi đất màu mỡ, ẩm, từ Malaysia, Ở Ấn Độ, Sâm cau được gọi với tên “Golden eye grass” hoặc “Black Musli” Sâm cau là loài thân thảo, thân củ, kích thước nhỏ Sâm cau có nguồn gốc ở vùng rừng chịu bóng ở Châu độ cao tới 2300 m so với mặt nước biển và đặc biệt trên khe đá, đất đá ong ẩm

Trang 22

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, thân rễ sâm cau được tán thành bột hoặc sắc nước làm thuốc bổ, trị suy nhược cơ thể, đau lưng, viêm khớp và viêm thận mạn tính Ở Ấn Độ, Nepal và Philippin thân rễ sâm cau dùng làm thuốc lợi tiểu, tăng cường chức năng tình dục, chữa bệnh ngoài da, loét da, loét dạ dày, tá tràng, trĩ, lậu…Sâm cau còn là thành phần chính trong bài thuốc cổ truyền điều trị sỏi tiết niệu của Ấn Độ.[22]

Trong “Cây cỏ Việt Nam” [8] theo Phạm Hoàng Hộ chi Curculigo Gaertn được xếp trong họ Amaryllidaceae Ở Việt Nam sâm cau có rất nhiều tên gọi khác nhau như Ngải cau, Cồ nốc lan, Tiên mao, với tên khoa học là Curculigo orchioides Gaertn Trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”

Đỗ Tất Lợi [16] loài Curculigo orchioides Gaertn ở nước ta mọc phổ biến ở nhiều tỉnh miền Bắc Ở Việt Nam cây phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi chủ yếu từ Lai Châu, Tuyên Quang, Cao Bằng đến Tây Nguyên

Theo bảng phân loại của Chauhan và cs (2010) [31], cây Sâm cau được phân loại như sau:

Bảng 2.1: Phân loại cây Sâm sau của Chauhan và cs (2010)

Trang 23

2.4.2 Đặc điểm hình thái học của Sâm cau

- Đặc điểm của thân rễ

Sâm cau là cây thân thảo sống lâu năm chiều cao khoảng 20 - 30 cm, có khi hơn Thân rễ mập, hình trụ dài, mọc thẳng, thóp lại ở hai đầu chiều dài 2,5

- 5 cm, đường kính 1,0 - 4,5 cm, bề mặt bên ngoài màu nâu đen mang nhiều

rễ phụ có dạng giống thân rễ, bên trong có màu kem; vị nhầy và hơi đắng [34]

Hình 2.1 Thân rễ của cây Sâm cau

- Đặc điểm của lá

Lá mọc thành túm từ thân rễ xếp nếp và có gân như lá cau, dài 15 - 45

cm, rộng 2,5 - 3 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn gần như cùng nhau, gân song song, bẹ lá to và dài; cuống lá dài khoảng 10 cm [34]

Hình 2.2 Lá cây Sâm cau

Trang 24

- Đặc điểm của hoa

Cụm hoa mọc trên một cán ngắn ở kẽ lá, mang 3 - 5 hoa nhỏ, màu vàng;

lá bắc hình trái xoan; đài 3 răng có lông, tràng 3 cánh nhẵn, nhị 6 xếp thành hai dãy, chỉ nhị ngắn, bầu hình thoi, có lông rậm [34]

Hình 2.3 Đặc điểm cua hoa

- Đặc điểm của quả và hạt

Quả nang, thuôn, dài 1,5 - 2 cm, rộng 8 mm, 1 - 4 hạt, phình ở đầu, kích thước 1 - 2 mm, màu đen Mùa hoa quả: từ tháng 5 – 7 [34]

2.4.3 Công dụng của sâm cau [22]

Trang 25

các vị khác Còn dùng chữa hen và tiêu chảy Nhân dân ở một số vùng dân tộc thiểu số dùng rễ củ sâm cau làm thuốc bổ Dùng ngoài, rễ giã nát đắp chữa lở loét Sâm cau đã được dùng trong Y học cổ truyền Trung Quốc, nước sắc thân

rễ sâm cau tán bột được dùng làm thuốc bổ chung, thuốc hồi sức để điều trị suy nhược cơ thể, đau lưng, viêm khớp, viêm thận, mãn tính Thuốc còn làm tăng huyết áp và điều kinh Ở Ấn Độ, Nepal và Philipin, thân rễ sâm cau còn được dùng làm thuốc lợi tiểu và kích dục, chữa bệnh ngoài da, loét dạ dày tá tràng, trĩ, lậu, bạch đới, hen, vàng da, tiêu chảy và nhức đầu Ở Ấn Độ, người

ta còn dùng thân rễ sâm cau để gây sẩy thai dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột uống với đường trong một cốc sữa…

Ở Thái Lan, thân rễ sâm cau là thuốc lợi tiểu và trị tiêu chảy Ở Papua Niu Guine, thân rễ và lá sâm cau được hơ nóng cho mềm, rồi chà xát trên cơ thể làm thuốc tránh thai

Một chế phẩm cổ truyền của Ấn Độ được dùng bổ sung cho thức ăn gồm sâm cau và một số nguyên liệu thực vật khác được thử nghiệm cho chuột cống trắng ăn, đã không làm thay đổi lượng thức ăn tiêu thụ, nhưng có tác dụng bảo vệ chống lại khối u gây bởi dimethylbenzo anthracen ở chuột Đã thử nghiệm điều trị cho những cặp vợ chồng vô sinh với nam giới có các chứng giảm tinh trùng, tinh trùng chiết, tinh trùng kém chuyển động và tinh trùng yếu Bài thuốc gồm sâm cau và hai dược liệu khác được cho uống với sữa và đường trong 3 tháng Kết quả có sự thay đổi đáng kể về khả năng sống của tinh trùng Ở tháng thứ hai có sự tăng về số lượng và khả năng chuyển động của tinh trùng, đồng thời số lượng tinh trùng non giảm Sau 3 tháng điều trị, tinh trùng bình thường phát triển ở 80% bệnh nhân nam giới, tương hợp với sự phát triển thai ghén ở phụ nữ, 15 trong 50 bệnh nhân điều trị đã có con

Trang 26

 Một số bài thuốc sử dụng Sâm cau làm chủ vị:

- Chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng:

Sâm cau 10g, sâm bố chính, trâu cổ 12g, cây kỷ tử 12g, ngưu tất 12g, tục đoạn 12g, thạch hộc 12g, hoài sơn 12g, cáp giới 12g, cam thảo nam 8g, ngũ gia bì 8g Tất cả thái nhỏ phơi khô, sắc uống mỗi ngày 1 tháng, chia 2 - 3 lần Hoặc sâm cau 20g, ba kích, phá cổ chỉ, hồ đào nhục, thục địa mỗi thứ 16g, đại hồi hương 4g, sắc uống ngày 1 tháng, chia 2 - 3 lần

- Rượu bồi bổ tráng dương:

Bìm bịp 1 con, tắc kè 2-3 con làm sạch cho ngâm 1.500 ml rượu nếp cho sâm cau 50g Ngâm trong 3 tháng là được Càng lâu càng tốt Ngày uống

2 - 3 lần khai vị trước khi ăn cơm và tố trước khi đi ngủ, mỗi lần uống 1 ly chừng 30 ml Có công hiệu bổ thận tráng dương

- Trị nam tinh lạnh, liệt dương, nữ lạnh tử cung:

Sâm cau 6g, thục địa 8g, ba kích 8g, phá cố chỉ 8g, hồ đào nhục 8g, hồi hương 4g Sắc uống 1 ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần trong ngày

- Chữa phong thấp, lung lạnh đau, thần kinh suy nhược:

Sâm cau 50g, ngâm trong 150 ml rượu trong vòng 7-8 ngày là sử dụng được Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 ly nhỏ (chừng 25 - 30 ml) trong hai bữa

ăn chính

2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu

* Vị trí địa lý: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phía Tây Căn cứ vào bản đồ Thành phố Thái Nguyên thì xác định được vị trí như sau:

Phía Bắc giáp với phường Quan Triều

Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán

Phía Tây giáp xã Phúc Hà

Trang 27

Phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá thuộc trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

* Đặc điểm địa hình: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nằm nhìn chung tương đối bằng phẳng

* Khí hậu thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai màu rõ rệt mùa nóng ẩm và mùa khô lạnh

Lượng mưa trung bình từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí trung bình 82%, mùa mưa khoảng 86%, mùa khô khoảng 70%

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 250 C, chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng 2 - 50C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 30C

* Điều kiện đất đai: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đất không màu mỡ, ít dinh dưỡng

Đặc điểm của đất là đất Feralit phát triển trên đá sa thạch, do vậy đất ở đây dinh dưỡng không cao, ít màu mỡ Qua bảng 2.1 dưới đây phản ánh hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong đất

Bảng 2.2: Kết quả phân tích mẫu đất

Trang 28

Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.1.1 Vật liệu nghiên cứu

Cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được nhân giống từ hom

Cây được đưa vào thí nghiệm là cây sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh, chiều cao từ 5-6 cm, lá xanh thẫm

3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2019 đến 30/5/2019

- Địa điểm: Tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Ảnh hưởng của công thức che sáng đến tỷ lệ (%) cây sống của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm

- Ảnh hưởng của công thức che sáng đến sinh trưởng về đường kính (D00) của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm

- Ảnh hưởng của công thức che sáng đến sinh trưởng về chiều cao (Hvn) của cây Sâm cau trong các công thức thí nghiệm

- Ảnh hưởng của công thức che sáng đến động thái ra lá/thân của cây Sâm cau trong các công thức

- Đánh giá chất lượng cây Sâm cau và dựu kiến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến cây Sâm cau ở trong và ngoài nước (về đặc điểm sinh thái, hình thái, sinh trưởng, năng suất, chọn giống, các biện pháp kỹ thuật gây trồng và chăm sóc …) Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng từ các cơ quan, cán bộ ngành, người dân tại khu vực nghiên cứu

Trang 29

- Kế thừa các tài liệu, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học về cây Sâm

cau trong trung tâm học liệu, thư viện, …

3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Bước 1: Chuẩn bị công cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu

- Cây con, túi bầu, đất tầng A, sàng đất;

- Thước đo cao, thước dây, thước kép ;

- Bảng biểu giấy, bút;

- Phân bón: Phân lân

Bước 2: Bố trí thí nghiệm

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Để nghiên cứu mức độ ảnh của ánh sáng

đến sinh trưởng của cây con, đề tài thử nghiệm 4 công thức thí nghiệm, 30 cây/công thức để xác định mức độ ảnh hưởng của che sáng đến sinh trưởng của cây, từ đó chọn công thức che sáng trội nhất Cụ thể như sau:

+ CT 1: không che sáng (Đối chứng)

Lần lặp 2 Công thức 1 Công thức 4 Công thức 2 Công thức 3

Lằn lặp 3 Công thức 3 Công thức 1 Công thức 4 Công thức 2

- Phương pháp theo dõi thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo khối

ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại, 30 cây/công thức/1 lần lặp Theo dõi định kỳ 1 lần/tháng và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây con, các chỉ tiêu theo dõi được nghi ở Bảng 3.2

Trang 30

Mẫu biểu 3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng H vn , D 00 chất lượng

của cây Sâm cau

Bước 3: Thực hiện gieo ươm và chăm sóc thí nghiệm

Hom Sâm cau được cấy trực tiếp vào bầu, thành phần ruột bầu là 100% đất tầng A, túi bầu làm bằng nhựa Polyme có kích thước 9*13cm Thí nghiệm che sáng được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ một nhân tố 3 lần lặp ở

4 mức che bóng khác nhau: không che phủ (ký hiệu là CS), che 25% (CS 25%), che 50% (CS3 50%), che 75% (CS4 75%) Giàn che là lưới nion đen cao khoảng 1m so với mặt luống và rộng hơn mép luống là 40cm Mức che sáng (CS%) của giàn che được xác định theo công thức của Nguyễn Hữu

(X + a)2- X ( X + a)2

Trong đó: CS% Tỷ lệ cần che sáng (%)

X- Khoảng giữa các nan a- Bề rộng các nan (X+a)2 Diện tích cần che bóng Trong thời gian thí nghiệm (6 tháng), các biện pháp chăm sóc áp dụng đồng nhất cho các công thức thí nghiệm, gồm tưới nước định kỳ hàng ngày, làm cỏ định kỳ hàng tháng, bón bằng phân đạm ((NH2)2CO) với nồng độ 0,01% ở dạng dung dịch định kỳ 2 tuần 1 lần bắt đầu từ tháng thứ 3 Các chỉ

Trang 31

tiêu về tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính gốc (D00), chiều cao vút ngọn (Hvn) Những biện pháp chăm sóc (làm cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh…) cây con được thực hiện giống nhau trên tất cả các lô thí nghiệm Thời gian theo dõi thí nghiệm là 6 tháng; Trong đó định kỳ đánh giá là mỗi tháng một lần

Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu

Thời gian đo đếm các chỉ tiêu thí nghiệm được tiến hành vào cuối đợt thí nghiệm trong mối ô tiêu chuẩn theo dõi 30 cây được đánh số từ cây số 1 đến cây thứ 30

- Đo đường kính cổ rễ (D00): Dùng thước đo đường kính ở vị trí cổ rễ

- Đo chiều cao (Hvn) sử dụng thước đo chiều cao với độ chính xác của thước là ± 0,1cm, đặt thước sát miệng đến hết ngọn cây

- Số lá: Đếm số lá theo thứ tự của các cây đo chiều cao, đường kính cổ

2 Click Analyz – Compare Means – One way Anova

3 Trong hộp thoại One way Anova khai báo Depenet list: Chiều cao trung bình, đường kính trung bình, số lá và Factor: CT

4 Nháy chuột vào Post Hoc: Chọn Bonferroni, Ducan.Trong options chọn Descriptive và Homogeneity of variance test để có các đặc trưng mẫu và kiểm tra sự bằng nhau của các phương sai

5 Ok

Ngày đăng: 20/04/2021, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Khắc Bảo (1994) ,”Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà Giang” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà Giang
2. Hà Chu Chử (2001), “Chương trình hợp tác Lâm nghiệp Việt Nam- Phần Lan”, Dự án Việt Nam - Phần Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hợp tác Lâm nghiệp Việt Nam- Phần Lan”
Tác giả: Hà Chu Chử
Năm: 2001
3. Lê Tùng Châu, Nguyễn Văn Tập (1996), Nguồn tài nguyên di truyền cây thuốc ở Việt Nam, Tài Nguyên di truyền thực vật ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 70-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn tài nguyên di truyền cây thuốc ở Việt Nam, Tài Nguyên di truyền thực vật ở Việt Nam
Tác giả: Lê Tùng Châu, Nguyễn Văn Tập
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Lê Trần Chấn (2003), Tài nguyên cây thuốc Việt Nam, Báo sức khoẻ và đời sống số 24 - Thứ ba 25/2/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Lê Trần Chấn
Năm: 2003
5. Võ Văn Chi (1999), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (tập 1), NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam (tập 1)
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
6. Lê Thanh Chiến (2005) “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
7. Nguyễn Ngọc Diệp (1998) , “Góp phần điều tra cây thuốc của người Dao ở Vườn Quốc gia Ba Vì” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần điều tra cây thuốc của người Dao ở Vườn Quốc gia Ba Vì
8. Phạm Hoàng Hộ (l999), Cây cỏ Việt Nam (quyển I,II,III), NXB trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Nhà XB: NXB trẻ
10. Nguyễn Bá Hoạt (năm 2013), Tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam, Viện dược liệu- Bộ y tế, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam
11. Trần Công Khánh (2010), “Tổng quan về cây độc ở Việt Nam”, Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổng quan về cây độc ở Việt Nam”
Tác giả: Trần Công Khánh
Năm: 2010
12. Trần Văn Ơn (1999) , “Thử nghiệm cây thuốc bằng hom tại Ba Vì” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thử nghiệm cây thuốc bằng hom tại Ba Vì
13. Pham Ha Thanh Tung (2009), Giáo trình thực vật dược- tài nguyên cây thuốc (phần4), 20/9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực vật dược- tài nguyên cây thuốc
Tác giả: Pham Ha Thanh Tung
Năm: 2009
14. Nguyễn Văn Tập (1996), Nghiên cứu bảo tồn những cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam, Luận án phó tiến sỹ khoa học sinh học, Trường ĐH Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bảo tồn những cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 1996
15. Nguyễn Tập (2007) “Nghiên cứu thuốc từ thảo dược, phần I: Điều tra cây thuốc và nghiên cứu bảo tồn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu thuốc từ thảo dược, phần I: Điều tra cây thuốc và nghiên cứu bảo tồn
16. Đỗ Tất Lợi (1986), “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”. NXB Khoa học kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: NXB Khoa học kĩ thuật
Năm: 1986
17. Nguyễn Văn Sản và D.A Gilmour (1999), Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đề xuất những kĩ thuật ban đầu để gây trồng loài Hoàng Liên ô rô (Mahonia nepanensis DC) tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Sản và D.A Gilmour (1999), "Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học "và
Tác giả: Nguyễn Văn Sản và D.A Gilmour
Năm: 1999
18. Nguyễn Xuân Quát, Võ Đại Hải, Hoàng Chương (2003), Tài nguyên rừng, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên rừng
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát, Võ Đại Hải, Hoàng Chương
Năm: 2003
21. Huỳnh Bá Công (2015) Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và thử nghiệm gây trồng loài Sâm cau (curculigo orchioides Gaertn) trên vùng cát nội đồng huyện Quảng Điền Sách, tạp chí
Tiêu đề: (curculigo orchioides
22. Đỗ Huy Bích và cs (2003), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, quyển II, NXB Khoa học và Kỹ thuật. tr.693 – 696 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích và cs
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật. tr.693 – 696
Năm: 2003
23. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (1996), Đề án quy hoạch phát triển vùng cây đặc sản và ngành nông nghiệp chế biến nông lâm đặc sản xuất khẩu giai đoạn 1996 – 2005.B. Tài liệu ngoài nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án quy hoạch phát triển vùng cây đặc sản và ngành nông nghiệp chế biến nông lâm đặc sản xuất khẩu giai đoạn 1996 – 2005
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w