31 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng chiều cao của cây Sói rừng trong các CTTN .... 34 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của số lá trên cây Só
Trang 1- -
QUÁCH THANH HẢI
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ BÓN PHÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA
CÂY SÓI RỪNG (Sarcandra glabra) TẠI VƯỜN ƯƠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2- -
QUÁCH THANH HẢI
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ BÓN PHÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA
CÂY SÓI RỪNG (Sarcandra glabra) TẠI VƯỜN ƯƠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Công Hoan
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ các tiểu luận, luận văn nào trước đây
Thái Nguyên, Ngày… tháng… năm 2019
TS Nguyễn Công Hoan Quách Thanh Hải
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi đặc biệt xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm sâu sắc của thầy giáo TS Nguyễn Công Hoan đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình anh Nguyễn Công Hoan đã giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Trong quá trình nghiên cứu do có những chủ quan và khách quan nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các sinh viên để tôi hoàn thành khóa luận được tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày… tháng… năm 2019
Sinh viên
Quách Thanh Hải
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục đích của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 3
PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2.Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới 5
2.2.1 Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới 6
2.3 Tài nguyên cây dược liệu ở Việt Nam 7
2.3.1 Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam 7
2.3.2 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam 8
2.4 Một số đặc điểm của cây Sói Rừng 9
2.4.1 Phân loại khoa học 9
2.4.2 Đặc điểm hình thái 10
2.4.3 Đặc điểm sinh thái 10
2.4.4 Phân bố địa lý 11
2.4.5 Giá trị kinh của cây Sói rừng 11
2.5 Kết quả nghiên cứu cây Sói rừng 12
2.6 Tổng quan khu vực nghiên cứu 14
2.6.1 Điều kiện tự nhiên 14
Trang 62.6.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 16
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Vật liệu - địa điểm, thời gian nghiên cứu 18
3.1.1 Vật liệu nhiên cứu 18
3.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 19
3.2 Nội dung nghiên cứu 19
3.3 Phương pháp nghiên cứu 19
3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 19
3.3.3 Các chỉ tiêu sinh trưởng được theo dõi trên vườn ươm 21
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 23
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến số lượng và tỷ lệ sống của cây Sói rừng qua các tháng tuổi 26
4.2 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng đường kính (D00)của cây Sói rừng (cm) 29
4.3 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng chiều cao (Hvn) của cây (cm) 32
4.4 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của số lá trên cây 35
4.5 Đánh giá chất lượng cây Sói rừng và dự kiến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn 38
4.5.1 Đánh giá chất lượng cây Sói rừng 38
4.5.2 Dự kiến tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn 39
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC
Trang 7CFU : Đơn vị hình thành khuẩn lạc
Ppm : Mật độ, dành cho các mật độ tương đối thấp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất 16 Bảng 3.1: Công thức và nội dung thí nghiệm 20 Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm bón phân 20 Bảng 3.3: ĐIỀU TRA ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ BÓN PHÂN ĐẾN
SINH TRƯỞNG CỦA CÂY SÓI RỪNG 22 Bảng 4.1: Ảnh hưởng của các CTTN đến tỷ lệ sống của cây Sói rừng 26 Bảng 4.2 Phân tích phương sai một nhân tố đối với tỷ lệ sống cây Sói rừng
giai đoạn 3 tháng tuổi 28 Bảng 4.3: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng đường kính (D00)
của cây Sói rừng trong các CTTN 29 Bảng 4.4 Phân tích phương sai một nhân tố đến sinh trưởng đường kính (D00)
của cây Sói rừng giai đoạn 3 tháng tuổi 31 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng chiều cao của cây
Sói rừng trong các CTTN 32 Bảng 4.6 Phân tích phương sai một nhân tố đến sinh trưởng chiều cao (Hvn)
của cây Sói rừng giai đoạn 3 tháng tuổi 34 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của số lá trên cây
Sói rừng trong các CTTN 35 Bảng 4.8 Phân tích phương sai một nhân tố đến sinh trưởng của số lá trên cây
Sói rừng giai đoạn 3 tháng tuổi 37 Bảng 4.9 Chất lượng cây Sói rừng sau 3 tháng tuổi ở các CTTN 38 Bảng 4.10 Dự kiến tỷ lệ xuất vườncủa cây Sói rừng sau 3 tháng theo dõi 40
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Hộp thoại One way Anova 24
Hình 3.2: Hộp thoại Phost Hoc multiple comparisons 25
Hình 3.3: Hộp Thoại Options 25
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của cây Sói rừng sau 3 tháng theo dõi ở các CTTN 27
Hình 4.2: Ảnh hưởng của công thức bón phân đến đường kính (D00) cây Sói rừng giai đoạn 3 tháng tuổi 30
Hình 4.3: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng đường kính ( 00) của cây Sói rừng (cm) sau 3 tháng tuổi 31
Hình 4.4: Ảnh hưởng của công thức bón phân đến chiều cao (Hvn) cây Sói rừng giai đoạn 3 tháng tuổi 33
Hình 4.5: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của cây Sói rừng sau 3 tháng tuổi tại vườn ươm 34
Hình 4.6: Ảnh hưởng của công thức bón phân đến số lá của cây Sói rừng giai đoạn 3 tháng tuổi 36
Hình 4.7: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của số lá trên cây Sói rừng sau 3 tháng tuổi tại vườn ươm 37
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện phẩm chất của cây Sói rừng 39
Hình 4.9 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ xuất vườn dự kiến cây Sói rừng 40
Trang 10PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết
Tài nguyên rừng là bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống xói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
Cây dược liệu, chúng không những đem lại các nguồn lợi ích kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội và chính trị, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay thì
nó lại càng trở nên quan trọng hơn Bởi vậy chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa về việc quản lý nguồn tài nguyên quý này
Chúng ta có 2,2-2,5 triệu ha rừng tự nhiên (và khoảng 0,8 triệu ha rừng trồng) có tiềm năng cho thu nhập cao từ Lâm sản ngoài gỗ Cây lâm sản ngoài
gỗ rất đa dạng (gần 4000 loài cây làm dược liệu, 500 loài cung cấp tinh dầu,
200 loài tre nứa, 30 loài song mây ), trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao, đáp ứng cả nhu cầu tiêu thụ tại chỗ, trong nước lẫn xuất khẩu [22]
Trước đây việc quản lý các sản phẩm ngoài gỗ, một lượng lâm sản ngoài
gỗ bị buông lỏng trong một thời gian dài, nhưng những năm gần đây, do tác động của cơ chế thị trường đã làm thay đổi tình hình sử dụng các nguồn lâm sản ngoài gỗ này Cùng với sự thay đổi đó, nhu cầu thự hiện các quyền sử dụng nguồn lâm sản ngoài gỗ đặc biệt là một lượng lớn các sản phẩm từ cây dược liệu ngày càng cấp thiết Nhà nước ta đã và sẽ ngày càng hoàn thiện các chính sách pháp luật để thiết lập một hệ thống hồ sơ các loài cây dược liệu hoàn chỉnh trên phạm vi cả nước, làm cơ sở nắm chắc, quản lý chặt chẽ các loài cây dược liệu, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
Trang 11Cùng với sự phát triển chung của cả nước và nhu cầu hoàn thiện về hệ thống sơ đồ các loài cây dược liệu, tại vườn ươm của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tiến hành thực hiện quá trình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sự sinh trưởng và phát triển của loài cây dược liệu Sói rừng Cây dược liệu là nguồn tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của đồng bào các dân tộc miền môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của núi
Nói đến cây Sói, người ta thường nghĩ tới cây Sói cảnh, hay trồng
để lấy hoa ướp trà Thực ra, ở nước ta còn nhiều loài sói khác mọc hoang Trong số những cây sói mọc hoang trong rừng, có một loài rất giàu dược tính và những năm gần đây thương lái nước ngoài đến thu mua rất nhiều, đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt Đó là cây mà sách thuốc gọi là ''sói rừng''
Theo Đông y, cây Sói rừng (Sarcandra glabra) có vị đắng cay, tính hơi
ấm, có độc; có tác dụng hoạt huyết giảm đau, khư phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc Trong dân gian, rễ cây được ngâm rượu, uống chữa đau tức ngực Lá được sắc uống trị bệnh lao, hoặc giã đắp chữa rắn cắn, ngâm rượu xoa bóp chữa vết thương, mụn nhọt, phong thấp, đau nhức xương Theo Perrot và Hurrier (1906), toàn bộ cây sói rừng cũng được dùng để chữa bệnh động kinh
Ở Trung Quốc, cây được dùng trị ung thư tuỵ, dạ dày, trực tràng, gan, cuống họng, viêm não B truyền nhiễm, lỵ trực trùng, viêm ruột thừa cấp, bệnh nhọt, ngã tổn thương, gãy xương, thấp khớp tạng khớp, đau lưng [27]
Cây dược liệu không chỉ cho chúng ta những bài thuốc quý mà chúng còn có giá trị về kinh tế, có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học Với những lí do đó, việc chọn đề
tài: “Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của cây Sói rừng
là rất cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn sản xuất
Trang 12Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chínhxác
Đề xuất một số giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phù hợp với điều kiện thực tế
Nâng cao kiến thức thực tế, sự hiểu biết của bản thân để phục vụ cho công tác sau khi ra trường
Trang 13PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
Mục đích của việc bón phân là nhằm làm cho cây phát triển và đạt năng suất cao, có phẩm chất tốt, cho nên bón phân phải phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng mới phát huy tối đa tác dụng của phân bón Sinh trưởng và phát triển của cây trồng có quan hệ mật thiết với điều kiện bên ngoài
Nguyễn Tuấn Bình, (2002) [2] Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây Phân bón có thể là sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công nghiệp Trong cả hai cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác dụng như nhau đối với sinh trưởng của cây
Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực vật, nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của cơ thể thực vật
Nguyễn Văn Sở, (2004) [9] Theo nhiều tài liệu trên thế giới, chỉ sử dụng phân bón chiếm 30% Việc kết hợp cân đối nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, thể thống canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản suất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
Thomas D Landis, (1985) [21] Phân bón là chất dùng để cũng cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây Phân bón có thể là một sản phẩm thiên nhiên học được chế tạo trong công nghiệp Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác động như nhau đối với sinh trưởng của cây, trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời
Trang 14gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể
sẽ đảm bảo năng xuất cao, chất lượng tốt
FAO, (1994) [3] Các loài phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời gian ngắn Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối
đa hiệu lực của phân bón
2.2 Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới
2.2.1 Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới
Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (2005) [8] đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants) Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới
Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc, dùng làm dược liệu Khoảng 2500 cây được buôn bán trên thế giới Có ít nhất
2000 cây được sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543 Ở Châu Á có
1700 loài ở Ấn Độ, 5000 loài ở Trung Quốc Trong đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây dược liệu, cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt [1]
Thấy được tầm quan trọng của việc phải bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc, cây dược liệu và đáp ứng lời kêu gọi của các tổ chức trên, rất nhiều nước trong đó có các nước đang phát triển với những điều kiện kinh
tế xã hội gần tương đồng với nước ta cũng đã xây dựng những Vườn bảo tồn cây dược liệu
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (1985) [8] trong tổng
số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau Trong đó, Ấn Độ
Trang 15được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới
Theo nghiên cứu của Paul E Berry, (2008) [12] họ Hoa Sói
(Chloranthaceae) là loại thực vật nhưng không xảy ra ở lục địa châu Phi (tuy
nhiên, nó xảy ra trên đảo Madagascar gần đó) Các loài thuộc chi Chloranthus đã được sử dụng như một loại trà và để chống lại cơn sốt,
và Sarcandra glabra được trồng làm cảnh
Smilax glabra được sử dụng trong thảo mộc Trung Quốc [12] nó cũng là một thành phần quan trọng trong món tráng miệng y tế Trung Quốc, sử dụng tài sản của nó để thiết lập một số loại thạch
Institute of Traditional Medicine, National Yang-Ming University (2017)
[20] Sarcandra glabra (Thunb) Nakai (Chloranthaceae) là một cây thuốc dùng
làm trà thảo dược hoặc thực phẩm bổ sung để tăng cường sức khỏe của con người Chúng tôi đã phân lập 14 hợp chất phenolic từ phần n-butanol của S glabra và nghiên cứu khả năng chống viêm của chúng bằng cách sử dụng các đại thực bào RAW264.7 được kích hoạt bằng lipopolysacarit (LPS) Chúng tôi đã chứng minh rằng methyl isorine, một hợp chất chưa được khử trùng trước đây trong S glabra, có thể ức chế hoạt hóa NF-κB và làm giảm sự biểu hiện của iNOS và COX-2 cũng như sự phosphoryl hóa IκB trong các tế bào RAW264.7 được xử lý LPS Ngoài ra, việc sản xuất hai cytokine gây viêm (IL-6 và TNF-α), cũng như giải phóng các loại oxy phản ứng, trong các đại thực bào kích thích LPS cũng bị ức chế bởi hợp chất này Hơn nữa, các mối quan hệ hoạt động cấu trúc của tất cả các hợp chất phenol bị cô lập có mặt đã được phân tích Nhìn chung, nghiên cứu này đã tiết lộ một số hợp chất chống viêm có trong S glabra và kết quả cho thấy các hợp chất phenolic đa dạng
này có liên quan đến tác dụng chống viêm của S glabra
Caoshanhu là toàn bộ cây khô Sarcandra glabra (Thunb) Nakai (S.glabra) [29] là một loại cây bụi phân bố rộng rãi ở Trung Quốc và các
Trang 16nước châu Á khác Trong TCM, S glabra thường được sử dụng để điều trị
các bệnh khác nhau liên quan đến nhiễm độc nhiệt, đặc biệt là viêm phổi, viêm não dịch B, viêm ruột thừa, shigellosis và ung thư [16] Tuy nhiên, tất cả các bệnh này đã được đề nghị có liên quan đến stress oxy hóa, trong sinh học
và y học gốc tự do [18] Điều này ngụ ý rằng S glabra sẽ có thể đóng một vai trò trong việc sửa chữa apoptosis của các MSC trong quá trình cấy ghép Nghiên cứu hóa sinh đã chỉ ra rằng, S glabra chứa ít nhất 50 thành phần
có thể được phân loại thành năm loại: axit hữu cơ, dẫn xuất caffeoyl, flavonoid, coumarin và terpenoid [19] [17] Các dẫn xuất và flavonoid của Caffeoyl mới được báo cáo là các hợp chất hoạt tính sinh học chính đầu tiên; trong khi isofraxidin (một coumarin) được coi là hợp chất hoạt tính sinh học chính thứ hai [16] Như vậy, axit rosmarinic (RA) và astilbin (AS) đã được chọn là hai hợp chất hoạt tính sinh học điển hình trong nghiên cứu này Điều đáng chú ý là isofraxidin được sử dụng làm hợp chất đánh dấu của người Hồi giáo trong Zhongjiefeng Tablet trong Dược điển Trung Quốc [17] Tuy nhiên, isofraxidin thực sự ít liên quan đến nghiên cứu hiện tại
Những kiến thức truyền thống về cây dược liệu, cây thuốc và kinh nghiệm bản địa trong việc sử dụng cây thuốc không những góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn các giá trị văn hóa và đa dạng sinh học mà còn
mở ra một triển vọng cho việc phát triển thuốc mới Vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng những kiến thức bản địa về cây cỏ làm dược liệu của cộng đồng các dân tộc sẽ mang lại một tương lai đầy hứa hẹn cho việc chăm sóc sức khỏe của cộng đồng
2.3 Tài nguyên cây dược liệu ở Việt Nam
2.3.1 Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam
Việt Nam có một nền y học cổ truyền hết sức đa dạng, đặc sắc với bề dày lịch sử hàng nghìn năm và từ đó hình thành nên nền y học dân tộc không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử Trong đó, nhiều cây thuốc, cây dược
Trang 17liệu là bài thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao Các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân
Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có tiềm năng lớn về dược liệu trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới
Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật trong nền y học nước nhà là danh y Hải Thượng lãn ông – Lê Hữu Trác [6] Ông đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong sử dụng các loại dược liệu chữa bệnh trong bộ sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển
Nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, đa dạng và vốn tri thức bản địa chính
là kho tàng quý báu để Việt Nam triển khai các nghiên cứu nhằm tạo ra các sản phẩm từ dược liệu phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế
Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng trên thế giới, Thêm vào đó, cộng đồng 54 dân tộc ở nước ta sở hữu những kinh nghiệm quý báu trong việc sử dụng các loài cây cỏ sẵn có để làm thuốc chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Đây là một kho tàng đầy tiềm năng trong nghiên cứu tạo ra các sản phẩm phục vụ nhân dân
Theo thống kê của ngành Y tế, (2013) [25] nhu cầu sử dụng dược liệu ở Việt Nam vào khoảng 60.000 - 80.000 tấn dược liệu/năm Lĩnh vực sản xuất
và kinh doanh dược liệu đã và đang mang lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc Tuy nhiên, một phần lớn khối lượng dược liệu hiện nay vẫn phải nhập khẩu, trong khi Việt Nam lại là quốc gia có tiềm năng về nguồn tài nguyên dược liệu Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30.10.2013 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”
2.3.2 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam
Nghiên cứu cây dược liệu của các dân tộc không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên của đất nước, làm phong phú thêm tri thức sử
Trang 18dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của cả dân tộc mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các căn bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là một hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai
Theo Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Nghĩa Thìn, Viện Dược liệu (2010) [8] số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc 307 họ thực vật
Trương Thị Tố Uyên, (2010) [10], khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật
và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 56 họ, 107 chi, 135 loài và phân loại được 13 nhóm cây thuốc Trong đó có 28 cây thuốc thông tiểu, thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22 cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21 cây thuốc chữa ho hen; 16 cây thuốc có tác dụng cầm máu; 17 cây thuốc có tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt;
14 cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa; 9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 cây thuốc trị giun sán; 3 cây thuốc giúp hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh về mắt và 2 cây thuốc có tác dụng chữa ung thư
Hiện nay, nhiều loài cây thuốc quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác quá nhiều Vì vậy cần phải có biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hoá thực trạng sử dụng cây dược liệu của các dân tộc và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
2.4 Một số đặc điểm của cây Sói Rừng
2.4.1 Phân loại khoa học
Tên khoa học là: Sarcandra glabra
Giới (regnum): Thực vật (Plantate)
Bộ (ordo): Hoa sói (Chloranthales)
Họ (Familia): Hoa sói (Chloranthaceae)
Chi (Genus): Sarcandra
Trang 19Loài (species): Thổ phục linh (S glabra)
Tên gọi khác: Tên gọi khác: Sói Nhẵn, thảo san hô, sói làng
Hình ảnh cây Sói rừng
2.4.2 Đặc điểm hình thái
Mép lá có răng cưa nhọn và thô, kèm với các tuyến Cuống lá dài 5–
8 mm Bông kép, ít nhánh, nhánh ngắn với hoa nhỏ màu trắng không có cuống và có một nhị Bầu nhụy có hình trứng và không có vòi Cây
ra quả mọng nhỏ, hình gần tròn đường kính 3–4 mm, khi chín có màu đỏ hay
đỏ gạch Cây ra hoa vào tháng 6-7 và quả chín vào tháng 8-9 [5]
2.4.3 Đặc điểm sinh thái
Cây Sói rừng sinh trưởng tương đối nhanh, cây Sói rừng có chiều cao
1-2 mét, thân nhẵn, các mấu hơi phồng Nhánh cây tròn, không có lông, với các lá mọc đối, phiến dài hình bầu dục hay hình ngọn giáo, chiều dài 7–20 cm
Trang 20và rộng 2–8 cm với 5-7 cặp gân bên Ra hoa vào tháng 6, tháng 7 và ra quả vào tháng 8, tháng 9 [16]
2.4.4 Phân bố địa lý
Loài của Trung Quốc, Triều tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam và Malaixia.Cây mọc hoang ở nhiều nơi, từ Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hoà Bình,
Hà Tây (cũ) đến Kon Tum, Lâm Đồng [27]
Mọc nhiều nhất ở các vùng núi đất, bìa rừng và ven đồi ẩm ướt Để làm thuốc, có thể thu hái toàn cây vào mùa hạ thu, dùng tươi hay phơi khô, rễ thu hái quanh năm, rửa sạch, cắt đoạn, phơi trong bóng râm, cũng có thể dùng tươi [23]
2.4.5 Giá trị kinh của cây Sói rừng
Theo Đông y, cây Sói rừng có vị đắng, cay, tính hơi ấm, hơi có độc, có tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm, khu phong trừ thấp, hoạt huyết chỉ thống Chủ trị viêm phổi, viêm phế quản, viêm ruột thừa cấp tính, viêm dạ dày ruột cấp tính, lỵ nhiễm khuẩn, phong thấp đau nhức, đòn ngã tổn thương, gãy xương [23]
Với vị đắng, tính ẩm có chút độc, trong đông y tác dụng của cây sói rừng được dùng trong việc giảm đau, khư phong, trừ thấp, giải độc gan thận Một số địa phương người dân thường ngâm rượu cùng rễ sói rừng để chữa đau tức ngực, dùng để xoa bóp khớp Lá cây còn được sắc uống thay trà để giải độc, trị lao, mụn nhọt cũng như đau nhức xương khớp Nếu bị rắn cắn bạn có thể giã nhỏ lá đắp vào vùng bị thương để giải độc [24]
Các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra rằng lá cây sói rừng có tác dụng rất tốt trong việc kháng khuẩn Lá và rễ cây tươi làm ức chế đối với tụ cầu khuẩn vàng staphylococcus aueus, trực khuẩn bacillus coli, trực khuẩn có mủ xanh cũng như trực khuẩn thương hàn và phó thương hà [24]
Công dụng của cây sói rừng rất tốt trong điều trị ho và suy nhược cơ thể, viêm khớp, đau nhức xương hay dùng để nắn bó gãy xương, hỗ trợ tăng
Trang 21cường chức năng tuyến tụy và đau dạ dày Thực tế cho thấy rất nhiều bài thuốc khẳng định tác dụng cây sói rừng chữa ung thư biến chứng nhiễm khuẩn rất tốt Một số thực nghiệm thấy kết quả khá tốt trong việc điều trị hỗ trợ ung thư dạ dày, ung thư gan hay tuyến tụy, bệnh bạch cầu và sarcom lưới
dòng lympho [24]
2.5 Kết quả nghiên cứu cây Sói rừng
Theo đề tài nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Anh, (2013) [1] Bệnh viện
Y học cổ truyền tỉnh Cao Bằng đã triển khai nghiên cứu thành công đề tài
“Nghiên cứu ứng dụng cây Sói rừng [Sarcandra Glabra (Thunb) Nakai] ở Cao Bằng để hỗ trợ điều trị một số bệnh ung thư” Sau 3 năm nghiên cứu đề tài đã đạt được mục tiêu đề ra, kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học, một số hoạt tính sinh học, độc tính và tác dụng điều trị ung thư trên động vật thực nghiệm của bột và lá cây Sói rừng Sarcandra glabra (Thunb) Nakai, thu hái ở vùng rừng núi xã Bạch Đằng, huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng [1]
Nghiên cứu thành phần hóa học và một số hoạt tính sinh học của cây Sói rừng thu hái ở vùng núi xã Bạch Đằng, huyện Hòa An, Cao Bằng Kết quả như sau: Thành phần hóa học của bột Sói rừng không chứa Alcaloid, tuy nhiên trong nghiên cứu chỉ xác định bằng phương pháp định tính, chưa định lượng, so sánh được trong bột cây Sói rừng ở các địa phương khác [1]
Thành phần hóa học của bột Sói rừng gốc chứa thành phần Flavonoid, kết quả này phù hợp với kinh nghiệm điều trị trong nhân dân, Sói rừng có tác dụng điều trị các bệnh lý về xương khớp, bệnh lý về tiêu hóa Trong thành phần hóa học của bột Sói rừng không chứa thành phần Glycosid tim, khẳng định Sói rừng không ảnh hưởng tới bệnh lý tim mạch khi sử dụng trên lâm sàng [1]
Trong thành phần hóa học của bột Sói rừng không chứa acid amin; với thành phần acid béo cho thấy bột Sói rừng cho kết quả dương tính (có vết mờ trên giấy lọc) điều này chứng tỏ rằng trong thành phần hóa học của bột Sói rừng có chứa acid béo; đối với thành phần các nguyên tố vi lượng cho thấy
Trang 22trong bột cây Sói rừng có chứa nhiều nguyên tố vi lượng có lợi cho cơ thể và không xuất hiện các nguyên tố có hại như Pb, Co hay As [1]
Sói rừng có tác dụng kháng sinh đối với các chủng nấm mốc (F oxysporum) với nồng độ ức chế tối thiểu MIC = 200 mg/ml và nấm men (S cerevisiae) với nồng độ ức chế tối thiểu MIC = 100mg/ml Không có tác dụng kháng các vi sinh vật kiểm định còn lại như: vi khuẩn Gr (-) (E coli, P aeruginosa), vi khuẩn Gr (+) (B subtilis, S aureus), nấm mốc Asp Niger và nấm men C albicans [1]
Kết quả nghiên cứu tác dụng kháng các dòng tế bào ung thư người in vitro của cây Sói rừng theo các số liệu nghiên cứu cho thấy Sói rừng không có tác dụng gây độc tế bào đối với ba dòng tế bào thử nghiệm là tế bào ung thư phổi, tế bào ung thư gan và tế bào ung thư cơ vân tim người Bột Sói rừng có hoạt tính kháng gốc tự do trên hệ DPPH Điều này cho thấy Sói rừng có thể ứng dụng điều trị trong các bệnh lý về viêm, ung thư [1]
Cốm Sói rừng có tác dụng ức chế sự phát triển khối u ở 70% chuột tại liều điều trị 20g/kg thể trọng và 50 % ở liều điều trị 10g/kg thể trọng và có tác dụng gây kìm hãm tăng trưởng khối u và suy giảm thể tích khối u trên 42% chuột ở liều điều trị 20g/kg thể trọng và 50% ở liều điều trị 10g/kg thể trọng Cốm Sói rừng còn có tác dụng làm tăng khối lượng của các cơ quan miễn dịch (tuyến ức, lách) lên 30% (liều 20g/kg thể trọng) và 27% (liều 10g/kg thể trọng) so với đối chứng; cốm Sói rừng bước đầu cho thấy hiệu quả làm tăng
tỷ lệ lympho CD8+ ở cả 2 liều thí nghiệm Điều này có ý nghĩa rất quan trọng
vì các lympho CD8+ là thành viên đầu tiên của hệ miễn dịch tham gia vào quá trình nhận biết và tiêu diệt tế bào ung thư, cốm Sói rừng không ảnh hưởng đến tỷ lệ tế bào lympho biểu hiện CD19 và hoạt tính CD8, tăng tiết IL-
2, không có ảnh hưởng rõ rệt lên sự biểu hiện của TNF-a [1]
Trang 23Một số bài thuốc từ cây Sói rừng
- Phòng cảm mạo: Dùng sói rừng 10 – 15g, mùa đông thêm tía tô 6g,
mùa hè thêm kim ngân hoa 6g, sắc nước uống thay trà trong ngày
- Chữa các chứng viêm nhiễm (có tác dụng chống viêm rất tốt): Mỗi ngày dùng 30 – 40g cành lá sói rừng tươi, sắc lấy nước, chia 3 lần uống, liên tục 2 – 3 ngày hoặc có thể kéo dài ngày hơn
- Chữa đau lưng: Dùng cành lá sói rừng 10 – 15g, sắc với nửa rượu nửa nước, chia ra uống trong ngày
- Chữa đòn ngã tổn thương, gãy xương, viêm khớp xương do phong thấp: Dùng cây tươi, giã nát, sao rượu, đắp; hoặc dùng 15-30g rễ sắc với nước hoặc ngâm rượu uống
- Chữa ngoại thương xuất huyết: Dùng cây tươi, giã nát, đắp; hoặc dùng 15-30g rễ, ngâm rượu uống
- Chữa vết thương loét, không liền miệng: Dùng cành lá, lượng thích hợp, nấu nước rửa, ngày 1- 2 lần
- Chữa trị bỏng: Dùng lá sói rừng, phơi khô, tán mịn, trộn thêm 2 phần dầu hạt sở hoặc dầu vừng; hàng ngày bôi vào chỗ bị bỏng [22]
2.6 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.6.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý Thành phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau:
- Phía Bắc giáp với phường Quán Triều
- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường ĐHNL Thái Nguyên
Trang 24 Đặc điểm địa hình
Địa hình của trường chủ yếu là đồi bát úp, không có núi cao Độ dốc trung bình 10-150, độ cao trung bình 50-70 m địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Khí hậu thủy văn
Điều kiện ngoại cảnh có liên quan trực tiếp đến đời sống cây rừng nói chung và cây Sa mộc dầu nói riêng
Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng Do đó khí hậu ở đây mang đủ tính chất khí hậu của thành phố Thái Nguyên
Độ trung bình của Thái Nguyên là 25°C; chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tại thành phố Thái Nguyên, nhiệt độ cao nhất và thấp nhất từng được ghi nhận lần lượt là 41,5°C và 3°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô
từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 [32]
Nhìn chung khí hậu ở đây nóng ẩm, mưa nhiều lượng mưa lớn, độ ẩm cao, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây trồng tại vườn thực vât
Điều kiện đất đai
Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm nằm dưới chân đồi, đất không màu mỡ và ít dinh dưỡng vì vậy để phục vụ công tác gieo ươm đóng bầu củ yếu được lấy từ các đồi khác trong trường
Đất đai hầu hết là đất feralit phát triển trên đá sa thạch, do vậy đất ở đây dinh dưỡng không cao, ít màu mỡ Qua bảng 2.1 dưới đây phản ánh hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong đất
Trang 25Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất
(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL-TN)
Nhìn vào bảng phân tích ta thấy:
Độ PH thấp, ở độ sâu tầng đất 10 – 30 cm có độ PH cao nhất cũng chỉ đạt 3,9 Đất nghèo mùn hàm lượng mùn và N; K20; P205 ở mức thấp, chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng
Như vậy: Qua kết quả đã phân tích ta có thể đánh giá đươc đất ở vườn ươm của trường Đại học Nông Lâm là đất chua, nghèo dinh dưỡng không đủ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trong giay đoạn vườn ươm Vì vậy cần phải bổ xung chất dinh dưỡng cho cây qua các biện pháp bón phân là hiệu quả Chính vì đó bón phân sẽ cung cấp lượng dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, phát triển, nâng cao khả năng chống chịu của cây con trong giay đoạn vườn ươm
2.6.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế
Thái Nguyên thuộc Vùng trung du và miền núi phía bắc, một vùng được coi là nghèo và chậm phát triển nhất tại Việt Nam [32] Tuy vậy, Thái Nguyên lại có nền kinh tế phát triển, trong đó công nghiệp đóng vai trò chủ yếu Những thành tựu quan trọng có thể kể đến là Thái Nguyên đứng thứ 2 cả nước về tăng trưởng, thứ ba cả nước về giá trị kim ngạch xuất khẩu GDP bình quân đầu người và giá trị sản xuất công nghiệp lần lượt đứng thứ 4 và thứ 3 trong số 10 tỉnh thuộc vùng Thủ đô Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện với chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 7/63 tỉnh,
Trang 26thành phố năm 2016 3 năm liên tiếp, tỉnh Thái Nguyên nằm trong số 10 tỉnh, thành có chất lượng điều hành tốt nhất [32]
Thống kê năm (2016) [32] Dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.227.400 người, trong đó nam có 602.700 người và nữ là 624.700 người Tổng dân số
đô thị là 421.100 người (34,31%) và tổng dân cư nông thôn là 806.300 người (65,69%) Cũng theo Tổng cục Thống kê, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2016 của Thái Nguyên là 0,99%
Dân cư Thái Nguyên phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc Mật độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai 72 người/km², cao nhất là thành phố Thái Nguyên với mật độ 1.627 người/km ² Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm (1999-2009) dân số tỉnh tăng bình quân 0,7%/năm, thấp hơn mức bình quân của cả nước là 1,2% do có nhiều người di chuyển đi các tỉnh khác, trong đó ba huyện Định Hóa, Đại Từ và Phú Bình có tăng trưởng dân số âm [32]
Trang 27PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu - địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nhiên cứu
Là cây Sói rừng có tên khoa học là: Sarcandra glabra, thuộc họ Hoa sói (Chloranthaceae), cây được nhân giống từ hom Cây con đưa vào thí nghiệm có:
= 0,2 (cm), = 2,437 (cm), Chất lượng trung bình, không sâu bệnh
Sử dụng ba loại phân bón: Phân N-P-K*KS, phân Đầu trâu, phân Vi sinh
Phân N-P-K 5:10:3*KS
Thành phần của phân bón N-P-K 5:10:3*KS gồm có: N:5% (Nitơ); P2O5:10% (Lân); K2O:3% (Kali oxit); S:8-10% (Lưu huỳnh); CaO:18-20% (Canxi); MgO:2-2,5% (Magie oxit); SiO2:4-5% (Silic điôxít); Cu:20-30ppm (Đồng); Zn:40-50ppm (Kẽm) Loại phân này chủ yếu dùng để bón lót
Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh
Thành phần hóa học phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh gồm có: Hàm lượng chất hữu cơ:15%; Axit Humic:1,5%; P2O5: 3% (Lân); SiO2:2,5% (Silic điôxít); CaO:2,5% (Canxi); MgO:2% (Magie oxit)
Hàm lượng vi sinh vật: Azotobacter sp:1x106 CFU/g; Bacillus
sp:1x106 CFU/g; Streptomyces sp:1x106 CFU/g
Ngoài ra còn có một số nguyên tố trung vi lượng cần thiết cho cây trồng Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh có tác dụng: Cung cấp các dưỡng cân đối cho cây trồng, giúp cây phát triển nhanh, toàn diện, chắc khỏe, Giúp cây
đẻ nhánh, trổ hoa, lá mượt
Phân Đầu trâu
Thành phần hóa học của phân bón đầu trâu siêu tăng trưởng gồm có:
Nts:18% (Đạm); P2O5:14% (Lân); K2O:7% (Kali); S:10% (Lưu huỳnh);
CaO:1% (Canxi); SiO2:0,05% (Silic điôxít); Fe:180ppm (Sắt); Cu:15ppm
Trang 28(Đồng); Zn:30ppm (Kẽm); B:200ppm (Bo); Mo:110ppm (Molypden); Auxin (NAA):100ppm; Chất điều hòa sinh trưởng (GA3): 15ppm
Phân Đầu trâu siêu tăng trưởng có công dụng:
- Giúp cây ra rễ mạnh, nẩy trồi nhanh, dẻ nhánh khỏe, nhiều nhánh hữu hiệu;
- Cây khỏe mạnh, tăng sức chống chịu với các điều kiện bất thuận như rét, hạn hán, ngập úng
- Nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tăng lợi nhuận cho nông dân
3.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm nhiên cứu: Tại vườn ươm của trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên
Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 đến ngày 30
tháng 05 năm 2019
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến tỷ lệ sống (%) của cây Sói rừng
- Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng đường kính gốc của cây Sói rừng (D00) (cm)
- Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng chiều cao của cây Sói rừng (Hvn) (cm)
- Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của số lá cây Sói rừng
- Đánh giá chất lượng cây Sói rừng và dự kiến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến cây Sói rừng ở trong
và ngoài nước (về đặc điểm sinh thái, hình thái, sinh trưởng, năng suất, chọn giống, các biện pháp kỹ thuật gây trồng và chăm sóc …) Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng từ các cơ quan, cán bộ ngành, người dân tại khu vực nghiên cứu
Trang 29- Giấy A4, bút, bảng biểu;
- Thước 2 loại (thước đo chiều cao; thước kẹp kính)
Bố trí thí nghiệm
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Để nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ
bón phân đến sinh trưởng của cây con, đề tài thử nghiệm 4 công thức thí nghiệm,
30 cây/công thức để xác định mức độ ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của cây, từ đó chọn công thức bón phân trội nhất Cụ thể như sau:
Bảng 3.1: Công thức và nội dung thí nghiệm Công thức Nội dung thí nghiệm
CT.4 Không bón phân (CT.Đối chứng) Các công thức CT.1; CT.2 và CT.3 được tưới phân cùng một nồng độ giống nhau Nồng độ 0,2% (cứ 0,2kg phân bón hòa tan trong 10 lít nước tưới/1 lần lặp – tưới 1 lần/tháng)
Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm bón phân Lần lặp lại Công thức thí nghiệm
Trang 30- Phương pháp theo dõi thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu
nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại, 30 cây/công thức/1 lần lặp Theo dõi định kỳ 1 lần/tháng và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây con,
- Đo đường kính gốc (D00): Dùng thước đo đường kính ở vị trí gốc
- Đo chiều cao (Hvn) sử dụng thước đo chiều cao với độ chính sác của thước là ± 0,1 đặt thước sát miệng đến hết ngọn cây
- Số lá: Đếm số lá theo thứ tự của các cây đo chiều cao, đường kính gốc của các công thức
Đặc điểm cây giống được thí nghiệm: Giống cây Sói rừng được nhân giống từ hom có kích thước trung bình là:
Làm đất:
Đất có tầng canh tác dày trên 40 cm, thoát nước tốt; không ngập úng Đất được làm kỹ, sạch cỏ, tơi xốp
Tiến hành làm cỏ dại, phá váng (15 ngày/ lần)
Lên luống cao 25-30 cm
Chăm sóc và Phòng trừ sâu bệnh: Sau khi trồng xong tiến hành tưới nước
đủ ẩm để cây có thể bén rễ nhanh
3.3.3 Các chỉ tiêu sinh trưởng được theo dõi trên vườn ươm
- Chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính (D 00 ): 30 ngày đo 1 lần, dùng thước
kẹp kính để đo