Nằm trong vùng phân bố của loài, Việt Nam được ghi nhận là có phân bố của Sâm cau, tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về loài cây này còn rất hạn chế.. Xuất phát từ thực tế trên, tôi t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HỨA THỊ HỢP
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ BÓN PHÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG
CỦA CÂY SÂM CAU (Curculigo orchioides Gaertn)
TẠI VƯỜN ƯƠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóahọc : 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HỨA THỊ HỢP
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ BÓN PHÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG
CỦA CÂY SÂM CAU (Curculigo orchioides Gaertn)
TẠI VƯỜN ƯƠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóahọc : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Công Hoan
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ các tiểu luận, luận văn nào trước đây
Thái Nguyên, Ngày… tháng… năm 2019
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4cô giáo đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của
thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Công Hoan đã trực tiếp hướng dẫn để em
hoàn thành khóa luận này Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy
em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày …tháng … năm 2019
Sinh viên
Hứa Thị Hợp
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất 18 Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm phân bón 22 Bảng 3.6: Điều tra ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của cây Sâm Cau 24 Bảng 4.1: Ảnh hưởng của các CTTN đến tỷ lệ (%) cây sống của cây Sâm cau 28 Bảng 4.2: Phân tích phương sai một nhân tố đối với tỷ lệ sống cây Sâm cau sau 90 ngày theo dõi 30 Bảng 4.3: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng đường kính (D00 ) của cây Sâm cau trong các CTTN 31 Bảng 4.4: Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với đường kính gốc cây Sâm cau sau 90 ngày theo dõi 33 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng chiều cao của cây Sâm cau trong các CTTN 33 Bảng 4.6: Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với chiều cao cây Sâm cau sau 90 ngày theo dõi 35 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến động thái ra lá của cây Sâm cau trong các CTTN 36 Bảng 4.8: Phân tích phương sai một nhân tố đối với động thái ra lá 38 Bảng 4.9: Kết quả đánh giá chất lượng cây Sâm cau sử dụng các công thức phân bón 39 Bảng 4.10: Dự kiến tỷ lệ xuất vườn cây Sâm cau 40
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Cây Sâm cau trong vườn ươm 14
Hình 3.1: Hộp thoại One way Anova 27
Hình 3.2: Hộp thoại Phost Hoc multiple comparisons 27
Hình 3.3: Hộp Thoại Option 27
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của cây Sâm câu sau 90 ngày theo dõi ở các CTTN 29
Hình 4.2: Ảnh hưởng của công thức phân bón đến sinh trưởng đường kính gốc cây Sâm cau sau 90 ngày 32
Hình 4.3: Đường kính cây Sâm câu ở các CTTN 32
Hình 4.4: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến sinh trưởng chiều cao cây Sâm cau sau 90 ngày theo dõi 35
Hình 4.5: Chiều cao cây Sâm câu ở các CTTN 35
Hình 4.6: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến động thái ra lá cây Sâm cau 37
Hình 4.7: Động thái ra lá của cây Sâm cau ở các giai đoạn 38
Hình 4.8: Tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn 40
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới 4
2.2.1 Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới 4
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới 5
2.3 Tài nguyên cây dược liệu ở Việt Nam 7
2.3.1 Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam 7
2.3.2 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam 10
2.4 Tổng quan về cây Sâm cau 13
2.4.1 Phân loại khoa học 13
2.4.2 Đặc điểm hình thái 13
2.4.3 Đặc điểm sinh thái 14
2.4.4 Phân bố địa lý 15
2.5 Kết quả của việc nghiên cứu cây Sâm cau 15
Trang 92.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15
2.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
2.6 Tổng quan khu vực nghiên cứu 17
2.6.1 Điều kiện tự nhiên 17
2.6.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 19
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
3.1.1 Vật liệu nhiên cứu 20
3.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 21
3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.3.3 Các chỉ tiêu sinh trưởng được theo dõi trên vườn ươm 24
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 25
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến tỷ lệ sống của cây 28
4.2 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng đường kính của cây 30
4.3 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng chiều cao của cây 33
4.4 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của số lá trên cây 36
4.5 Đánh giá chất lượng cây Sâm cau và dự kiến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn 39
4.5.1 Đánh giá chất lượng cây Sâm cau 39
4.5.2 Dự kiến tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn 39
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam với ¾ diện tích tự nhiên là vùng đồi núi, chịu sự ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Chính điều kiện khí hậu và địa hình như vậy
đã tạo nên cho đất nước chúng ta một hệ thực vật rừng phong phú và đa dạng,
có nhiều loại gỗ và lâm đặc sản có giá trị cao, trong đó có các loài cây dược liệu Dược liệu khác với cây cỏ bình thường ở chỗ nó được dùng làm thuốc Với định nghĩa này một cây thuốc có hai yếu tố cấu thành đó là bản thân cây
cỏ, là nguồn gen hay yếu tố vật thể và tri thức sử dụng cây cỏ đó để chữa bệnh, là yếu tố phi vật thể [16]
Cũng như hầu hết các nước có nền văn hóa phương Đông, xu hướng sử dụng dược phẩm có nguồn gốc thiên nhiên và được sản xuất trong nước ở Việt Nam ngày càng tăng Điều đó làm cho vị thế của cây thuốc Nam trong tương lai sẽ được nâng cao, có nghĩa là lợi ích mà chúng mang lại cho người nông dân sẽ lớn hơn Tuy nhiên, cũng vì lẽ đó mà trên thực tế việc khai thác không bền vững nguồn tài nguyên thuốc Nam sẽ làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái và thế hệ tương lai không còn hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên này Chính vì vậy, cần phải có những giải pháp vừa đảm bảo phát triển được nguồn tài nguyên cây thuốc Nam tự nhiên, vừa có được lợi nhuận từ các sản phẩm mà chúng mang lại không phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu khai thác
từ tự nhiên
Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được biết đến như một loại
thảo dược quý hiếm có nhiều tác dụng đối với y học Theo Đông y, thân rễ của Sâm cau có thể trị sốt xuất huyết, chữa tê thấp, đau mình mẩy, chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng, chữa cao huyết áp (tiền mãn kinh), bồi bổ tráng dương, trị nam tinh lạnh, nữ lạnh tử cung, chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thần kinh suy nhược,
Trang 11Ở Việt Nam cây Sâm cau được biết đến với tên thuốc là Rhizoma Curculiginis, Đông y gọi là Tiên mao và cho rằng có vị cay, tính ấm, hơi có độc, có tính chống ung thư, bổ thận tráng dương, ôn trung táo thấp, tán ứ, trừ
tê, tráng gân cốt Chủ trị tinh lạnh, liệt dương, đái đục ở nữ, bạch đới, người già đái són, lạnh da; thần kinh suy nhược, phong thấp, lưng gối lạnh đau, vận động khó khăn Cây sống lâu năm cao khoảng 30cm hoặc hơn, lá hình mũi mác xếp nếp tựa như lá cau nên gọi là Sâm cau Phiến lá thon hẹp, hai mặt lá nhẵn gần như cùng màu, gân song song, dài 40cm, rộng 2 - 3,5 cm, cuống dài
10 cm Thân rễ hình trụ cao, dạng củ, to bằng ngón tay út, có rễ phụ nhỏ, vỏ thô màu nâu, trong nạc màu vàng ngà Rễ có thể thu hái được quanh năm nên
có thể thuận lợi cho việc nghiên cứu nhân giống từ rễ thay vì phải chờ đến mùa thu hái của hạt (tháng 5 – 7)
Nằm trong vùng phân bố của loài, Việt Nam được ghi nhận là có phân bố của Sâm cau, tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về loài cây này còn rất hạn chế Một số thử nghiệm gần đây của Trường Đại học Nông Lâm Huế cho thấy Sâm cau có biên độ sinh thái khá rộng và có triển vọng gây trồng trên các vùng đất kém thuận lợi, kể cả đất cát nội đồng Tuy nhiên hoạt động này mới dừng lại ở mức độ thăm dò, chưa có kết luận đủ tin cậy để triển khai mở rộng sản xuất
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn ) tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được chế độ bón phân phù hợp nhất đến sinh trưởng của cây Sâm cau trong giai đoạn vườn ươm, từ đó làm cơ sở khoa học cho công tác làm và nhân rộng giống cây dược liệu quý
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Là tài liệu trong học tập cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan
Trang 12- Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
- Nắm được phương pháp nghiên cứu
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Xác định được sự sinh trưởng, phát triển của loài cây Sâm cau trong các điều kiện bón phân khác nhau
- Đề xuất một số giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phù hợp với điều kiện thực tế
- Nâng cao kiến thức thực tế, sự hiểu biết của bản thân để phục vụ cho công tác sau khi ra trường
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
Từ ngày xưa ông cha ta đã đúc kết “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” hay “Người đẹp vì lụa lúa tốt vì phân” để thấy được vai trò quan trọng của phân bón trong canh tác nông, lâm nghiệp và sự phát triển cân đối, ổn định
Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng của cây trồng Sử dụng phân bón cân đối hợp lý sẽ thúc đẩy các quá trình sinh trưởng của cây, đẻ nhánh, cành lá phát triển, thúc đẩy cây ra hoa nhiều và đồng loạt, tỷ lệ đậu quả cao Tạo điều kiện rễ phát triển, rễ ăn sâu, rộng gíup hạn chế đổ ngã Tăng sức đề kháng và khả năng chống chịu của cây trồng
Ngoài việc cung cấp các dưỡng chất cần thiết, phân bón còn tác động đến toàn bộ hệ sinh thái nông, lâm nghiệp, thúc đẩy các quá trình như phân hủy, chuyển hóa các chất,…tăng khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng, phân giải các chất khó hấp thụ thành các chất dễ hấp thụ, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển khỏe mạnh
Nếu thiếu hụt phân bón cây trồng sẽ không phát triển hay phát triển kém, cây còi cọc, khả năng đẻ nhánh thấp, cành lá ra ít, lá nhỏ, lá vàng, không
ra hoa hoặc ra hoa ít, tỷ lệ đậu quả thấp, bộ rễ kém phát triển, dễ bị sâu bệnh tấn công, khả năng chống chịu kém đối với các yếu tố bất lợi
Theo FAO (1994), các loài phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời gian ngắn Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón [31]
2.2 Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới
2.2.1 Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới
Sự kết hợp giữa con người và động vật với thực vật rõ ràng có nguồn gốc từ sự khởi đầu của sự sống trên trái đất khi cây cỏ cung cấp nhiều nơi trú
Trang 14ẩn, oxy, thức ăn và thuốc men cần thiết cho các dạng sống cao hơn Ở giai đoạn khởi đầu của xã hội, con người đã giành hết thời gian để học cách nhận biết và phân loại thực vật phù hợp để sử dụng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Trong số những thứ cần thiết này, việc sử dụng thảo mộc và chiết xuất từ thảo dược cho khả năng chữa bệnh của chúng có thể được truy nguồn từ huyền thoại, truyền thống và các bài viết được sử dụng để
mã hoá các cây trồng có thể giảm đau và điều trị bệnh Sự phát triển của các
hệ thống y tế trên cơ sở cây trồng, chủ yếu dựa trên thực vật trong một khu vực địa phương, đã tạo ra các hệ thống y học cổ truyền nổi tiếng, Ayurvedic
và Unani của tiểu lục địa Ấn Độ, Trung Quốc và Tây Tạng của các khu vực khác của Trâu Á, Bắc Mỹ, Amazonian ở Nam Mỹ và một số hệ thống địa phương ở Châu Phi
Năm 2838 Trước công nguyên, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách
“Thần nông bản thảo” Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử
dụng Đây là cuốn sách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay [2]
Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây
thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục” Đây là
cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ [2]
Năm 348 – 322 Trước công nguyên, Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về cây cỏ của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với tác
phẩm “Lịch sử vạn vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của
chúng Tuy tác phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này [27]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1985 [1], trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000
Trang 15loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc
Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [30], đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants) Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới
Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài
vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/năm [15]
Ở Trung Quốc, có 940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với
6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt
600 triệu USD [20]
Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế
Nguồn gen cây thuốc đang ở trong tình trạng bị đe dọa do mất môi trường sống, nạn phá rừng, thiên tai, sự khai thác cạn kiệt,… Có rất nhiều bằng chứng chỉ ra rằng sự đa dạng nguồn gen thực vật, bao gồm cả cây thuốc, đang bị suy giảm một cách trầm trọng ở nhiều nước trên thế giới Tình trạng
Trang 16này càng trở nên trần trọng ở những nơi có mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, và nạn phá rừng thương xuyên xảy ra Những quốc gia có nguồn gen cây thuốc phong phú cần phải nỗ lực hơn nữa để sưu tập, giữ gìn và bảo tồn nguồn gen quý này để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sử dụng chúng một cách có hiệu quả
Trên thế giới có rất nhiều loài thực vật quý hiếm nhưng do các hoạt động khai thác bừa bãi của con người nên chúng đã dần cạn kiệt và có nhiều loài đã bị tuyệt chủng Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn 100 năm trở lại đây có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài có thể gặp rủi ro hoặc sự tồn tại của chúng là rất mong manh vào giữa thế kỷ tới, nếu chiều hướng này vẫn cứ tiếp tục thì các loài thực vật này càng có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng Trong số này có nhiều loài cây được dùng làm thuốc
Ngày nay, đã là thời điểm báo động về hậu quả mất đi nhanh chóng tính đa dạng của nguồn tài nguyên sinh học, trong đó có nguồn cây thuốc của mỗi quốc gia Tư liệu từ Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này thông tin, thì có gần 30.000 loài được coi là bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau [15] Trong tài liệu
“Các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ” xuất bản năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn số loài là cây thuốc Trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về thực vật của Trung Quốc), năm 1996 cũng giới thiệu gần 200 loài được sử dụng làm thuốc, cần được bảo vệ
2.3 Tài nguyên cây dược liệu ở Việt Nam
2.3.1 Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam
Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Từ xa xưa, ông cha ta đã biết
sử dụng các loài cây thuốc sẵn có trong tự nhiên với các phương pháp bào chế khác nhau để sử dụng chữa bệnh cho mọi người Trải qua hàng nghìn năm
Trang 17lịch sử, từ thế hệ trước truyền cho thế hệ sau đã đúc kết được các kinh nghiệm
từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý luận về các phương pháp phòng và chữa bệnh
Từ thời Hồng Bàng và các Vua Hùng (2879-257 Trước công nguyên), người dân đã có tục ăn trầu và nhuộm răng đen với mục đích bảo vệ răng, làm chắc răng Việc sử dụng gừng, tỏi, ớt, sả làm gia vị trong các bữa ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt, phòng trừ các bệnh đường ruột [13]
Cuối thế kỷ III Trước công nguyên, ở Nam Việt giao chỉ đã phát hiện
và sử dụng các loại cây thuốc để chữa bệnh như sắn dây, gừng, riềng, đậu khấu, ích trí, lá lốt, sả, quế, vông nem…[2]
Dưới các thời phong kiến, các ty Thái y, viện Thái y đã hình thành để chữa bệnh cho vua, quan và nhân dân Dưới triều Trần, danh y Tuệ Tĩnh
(Nguyễn Bá Tĩnh) đã nói “Nam dược trị Nam nhân”, ông cũng đề xuất việc
trồng cây thuốc và chữa bệnh trong nhân dân Ông đã biên soạn cuốn sách
“Nam dược thần hiệu”, mô tả 499 vị thuốc và các phương thuốc để chữa 184 bệnh Năm 1717, “Nam dược thần hiệu” đổi tên thành “Hồng nghĩa giác lĩnh
tư y thư” gồm 590 vị thuốc [2]
Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật trong nền y học nước nhà là danh y Hải Thượng lãn ông – Lê Hữu Trác Ông đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong
sử dụng các loại dược liệu chữa bệnh trong bộ sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển [4]
Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây cỏ để làm thuốc
Theo Phạm Hoàng Hộ (1991), số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc
307 họ thực vật [11]
Trang 18Trương Thị Tố Uyên (2010) [21], khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật
và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 56 họ, 107 chi, 135 loài và phân loại được 13 nhóm cây thuốc Trong đó có 28 cây thuốc thông tiểu, thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22 cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21 cây thuốc chữa ho hen; 16 cây thuốc có tác dụng cầm máu; 17 cây thuốc có tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt;
14 cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa; 9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 cây thuốc trị giun sán; 3 cây thuốc giúp hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh về mắt và 2 cây thuốc có tác dụng chữa ung thư
Năm 2005, Bộ y tế, Vụ y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Cây hoa cây thuốc”, hướng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác dụng
chữa bệnh thông thường Cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán
bộ và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng [2]
Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các loại cây thuốc trong tự nhiên Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên đang bị cạn kiệt dần Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc, trong đó có các nghiên cứu như:
Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Văn Thuần (2005) đã hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt sử dụng và chế biến 30 cây thuốc có nhu cầu lớn làm nguyên liệu cho sản xuất thuốc phòng, chữa bệnh xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đại trà trên diện tích lớn, xây dựng vùng dược liệu theo hướng an toàn theo tiêu chuẩn GAP (Good agricultural pratice) Cuốn sách còn cung cấp một số thông tin cơ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm [10]
Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương pháp chế biến theo y học cổ truyền, giúp cho cơ sở trồng trọt đầu tư làm tăng chất lượng của sản phẩm và dễ bảo quản hơn [8]
Trang 192.3.2 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam
Nền y học cổ truyền của nước ta đã được hình thành qua các quá trình lao động và sản xuất của 53 dân tộc anh em trong suốt quá trình lịch sử xây dựng đất nước Trong đó nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao Và những kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong dân gian
Đỗ Tất Lợi (2004) “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
Phạm Hoàng Hộ (1999) “Cây cỏ Việt Nam”
Võ Văn Chi (1999) “Cây cỏ có ích ở Việt Nam”
Theo kết quả điều tra trên phạm vi toàn quốc từ 1961 – 1985, Viện Dược liệu đã ghi nhận được ở nước ta có 1.836 loài thuộc 263 họ được sử dụng làm thuốc Trước đó, và năm 1952, các nhà thực vật học và tài nguyên thực vật học Pháp cho biết trên bán đảo Đông Dương có 1.350 loài cây thuộc
160 họ [24] Hiện nay, theo Võ Văn Chi, con số này đã lên tới gần 3.200 loài thuộc 1.200 chi của trên 300 họ, nghĩa là hầu hết các họ trong hệ thực vật Việt Nam ít hoặc nhiều đều có một số loài có thể sử dụng làm thuốc Tuyệt đại đa
số các loài là cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [6]
Từ năm 1960 đến nay, hàng năm có tới hơn 200 loài cây thuốc được thương mại hóa Chúng được khai thác từ nguồn tự nhiên hay trồng trọt với khối lượng lên tới 100.000 tấn /năm Một số địa phương như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, những năm trước đấy thường xuyên thu mua 10 loại dược liệu như Ba kích, Sa nhân, Thiên niên kiện, Ngũ gia bì, Chân chim, Lạc tiên, Thổ phục linh, Dạ cẩm, Thảo quyết minh, Ích mẫu, Nhân trần, Bồ bồ Trong các loài cây vừa nêu trên không chỉ phụ vụ nhu cầu địa phương, trung ương mà còn dùng để xuất khẩu qua Trung Quốc [3]
Phần lớn các loài cây thuốc này được đưa vào sử dụng dưới các dạng thuốc của y học cổ truyền (thuốc thang, thuốc cao, thuốc viên, thuốc nước )
Trang 20Trong số các loài chính thức khai thác, có một số được đưa vào sản xuất công nghiệp, chiết xuất các hợp chất thiên nhiên để làm thuốc như chiết berberin từ Vàng đắng, palmatin từ Hoàng đằng, artemisinin từ Thanh hao, rotundin từ Bình vôi Tuy số lượng loài ít, nhưng khối lượng nguyên liệu đưa vào sản xuất tới trên 2.000 tấn/năm Ngoài ra, hàng năm cũng có tới gần 20 loài khác được cất tinh dầu làm thuốc với khối lượng rất lớn [4]
Rừng nhiệt đới Việt Nam có tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học cho biết: Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, 600 loài nấm, 800 loài rêu và hàng trăm loài loài tảo lớn; trong số đó có khoảng 3.200 loài thực vật bậc cao và bậc thấp dùng làm dược liệu, chúng phân bố trên khắp các điều kiện lập địa khác nhau trên cả nước
ta Theo thống kê chưa đầy đủ của Gia Lai – Kon Tum có khoảng 921 loài cây được người dân sử dụng làm thuốc; Phú Khánh có 782 loài; Đắc Lắc có 777 loài; Quảng Nam – Đà Nẵng có 735 loài; Lâm Đồng có 715 loài, …[5]
Theo Lê Thanh Chiến (2005) [8], lâm sản ngoài gỗ trong đó có cây thuốc với đặc tính dễ trồng, giá trị kinh tế cao có thể cải thiện đời sống của cộng đồng Vì vậy, phát triển lâm sản ngoài gỗ là một động lực và là yếu tố chủ chốt trong quản lý và bảo vệ rừng
Nghiên cứu về tiềm năm và vai trò lâm sản ngoài gỗ đối với một số cộng đồng ở một số vùng đệm của Vườn Quốc gia và khu Bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam cho thấy gần 200 tấn cây dược liệu ở Vườn Quốc gia Ba Vì được khai thác năm 1997 – 1998 Dân tộc người Dao ở Ba Vì tham gia thu hái cây thuốc dược liệu được ước tính khoảng 620% Đây là nguồn thu nhập chính trước đây và hiện nay là nguồn thu nhập thứ hai sau lúa và sẵn [18]
Để phục vụ cho nhu cầu phát triển cây lâm sản ngoài gỗ nói chung, cây dược liệu nói riêng ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu được công bố như:
Trang 21Đỗ Tất Lợi (1896) [15], “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” đã mô tả
đặc điểm sinh thái, đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học và phân tích thành phần hóa học, công dụng, cách sử dụng hơn 1.000 loài thuốc để chữa bệnh Tác giả cũng đề cập tới kỹ thuật trồng một số loài cây thuốc nhưng không đi sâu vào vấn đề này
Trần Công Khánh (2010) [13], “Tổng quan về cây độc ở Việt Nam” mô
tả đặc điểm nhận biết để phân biệt các loại cây có độc tố cũng như đặc điểm phân bố và khả năng sử dụng chúng dùng làm thuốc trừ sâu cho cây trồng
Nguyễn Ngọc Diệp (1998) [9], “Góp phần điều tra cây thuốc của
người Dao ở Vườn Quốc gia Ba Vì” đã đưa ra danh lục một số loài cây thuộc
chủ yếu mà người Dao thu hái nhưng chủ yêu là tên địa phương và đã đi sâu vào nghiên cứu các khâu chế biến thuốc từ các cây rừng có khả năng chữa bệnh
Trần Khắc Bảo (1994) [3], ”Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà Giang” đã đề cập các vấn đề về chế biến, bảo quản và phát triển cây thuốc ở
địa bàn nghiên cứu
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), giá trị xuất khẩu một số mặt hàng kể cả nguyên liệu và sản phẩm đã qua chế biến của ngành Nông nghiệp và Y tế đã vượt 1 tỷ USD hàng năm, trong đó dược liệu chiếm tới 689,9 triệu USD [1]
Tuy nhiên nguồn gen của các cây dược liệu đang ở tình trạng bị đe dọa, nhiều loài cây dược liệu bị cạn kiệt do tình trạng phá rừng bừa bãi và khai thác tận thu quá mức trong nhiều năm Theo trung tâm nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, sản xuất dược liệu từ lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam hiện nay có tới 60% nguồn nguyên liệu phải nhập khẩu Theo thống kê, trong số các loài cây nguyên liệu phải nhập khẩu, có 20 loài cây dược liệu vốn đã được nhập khẩu về và trồng thành công tại Việt Nam như: Bạch chỉ, Đương quy, Huyền sâm, Thục địa, Đỗ trọng,… Ngoài ra, có khoảng 45 loài cây thuốc trước đây là thế mạnh của Việt Nam
Trang 22như: Hoắc hương, Hồng hoa, Ý dĩ hiện nay phải nhập khẩu từ nước ngoài Có
25 loài thuốc mọc tự nhiên có giá trị xuất khẩu như: Ba kích, Bồ công anh, Kim ngân hoa, Kim tiền thảo,… đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng nếu không được bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững [1]
Việc mất các nguồn gen quý hiếm, đặc hữu có giá trị cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của đất nước Nếu mất nguồn gen của các loài đặc hữu, ta sẽ giảm tính cạnh tranh của các mặt hàng nông, lâm sản của Việt Nam
Tóm lại thì những nghiên cứu về cây dược liệu trong và ngoài nước đều
đã đề cập khá rõ về việc nghiên cứu cây dược liệu Những kiến thức, kinh nghiệm này chắc chắn sẽ là những bài học quan trọng được sử dụng trong việc bảo tồn và phát triển tài nguyên cây dược liệu đang đứng trước nguy cơ
đe dọa ở Việt Nam
2.4 Tổng quan về cây Sâm cau
2.4.1 Phân loại khoa học
Tên khoa học Curculigo orchioides Gaertn
Họ Tỏi voi lùn (Hypoxidaceae)
Tên khác: Ngải cau, Tiên mao, Cồ nốc lan, Thài lèng, Sọong cà (Tày) Nam sáng ton (Dao)
2.4.2 Đặc điểm hình thái
Cây thân thảo, sống lâu năm, cao 20-30 cm,có khi hơn Thân rễ, hình trụ dài,mọc thẳng,thót ở hai đầu, mang nhiều rễ phụ nhỏ, vỏ thô màu nâu, trong nạc màu vàng ngà [30]
Lá mọc từ thân rễ, xếp nếp như lá cau, phiến thuôn hình mũ mác hẹp, dài khoản 25-50 cm (bao gồm cả cuống), rộng 2,5- 3cm, gốc thuôn, đầu nhọn, hai đầu nhẵn gần như cùng màu, gần song song rất rõ, bẹ lá to và dài
Phát hoa ở mặt đất, cụm hoa nằm trên một trục ngắn và mảnh giữa các
bẹ lá, gồm 3-5 hoa, lá bắc hình trái xoan nhọn, bao hoa nằm đầu một cái mỏ
Trang 23dài cảu bầu Lá đài 3, có lông dài ở lưng Cánh hoa 3, cùng dạng lá đài, nhẵn Nhị 6, xếp 2 dây, bằng nhau, chỉ nhị ngắn hơn bao phấn Bầu hình thoi, có lông xồm xoàm, kéo dài thành mỏ, đầu nhụy hình trái xoan, chia 3 nhánh mập
Quả nang thuôn dài 1,2-1,5 cm, chứa 1-4 hạt phình ở đầu phía dưới có một phần phụ hình liềm
Mùa hoa quả: Tháng 5-7
Hình 2.1: Cây Sâm cau trong vườn ươm 2.4.3 Đặc điểm sinh thái
Sâm cau là loài cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên những nơi đất còn tương đối màu mỡ trong thung lũng, chân núi đá vôi hoặc ven nương rẫy Cây sinh trưởng tốt trong mùa mưa ẩm, phần thân rễ chính dạng củ, cắm sâu xuống đất, hoa quả hàng năm, khi già tự mở để hạt phát tán ra xung quanh
Trang 242.4.4 Phân bố địa lý
Trên thế giới, Sâm cau phân bố ở một số tỉnh phía nam Trung Quốc, Lào, Việt Nam và một vài nước khác ở Đông Nam Á Ở nước ta, mọc phổ biến ở miền Bắc, có gặp từ Hà Tây ( nay là Hà Nội) vào tới Lâm Đồng
Trước năm 1980, các tỉnh Sơn La, Hòa Bình thường khai thác được nhiều cây thuốc này và hiện nay trở nên hiếm dần Gần đây, cây được đưa vào Danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam
2.5 Kết quả của việc nghiên cứu cây Sâm cau
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Loài Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được sử dụng làm thuốc
cổ truyền, từ lâu nó đã được biết đến như một loại thuốc có vị ngọt, tính mát, nhầy, tăng Kapha và giảm Pitta Daha (cảm giác nóng rát), có hoạt tính kích thích mạnh Thân rễ của loài Sâm cau có thành phần của preparations có tác dụng kích thích tình dục Bên cạnh đó thân rễ còn trị được các bệnh hen suyễn, còi cọc, vàng da, và tiêu chảy và trên pimples nó đã được sử dụng như antioxidant, spermatogenic [8]
Khi nghiên cứu về tác dụng của thân rễ loài Sâm cau Bhattacharjee
1998 [26]; Subramonium và Gayathri [30]; đã cho thấy, bên cạnh tác dụng để điều trị còi cọc, vàng da, hen suyễn, tiêu chảy, trị hạ đường huyết, chống co thắt, cây Sâm cau còn có các đặc tính chống ung thư và sử dụng như một loài thuốc bổ cho sức khỏe và sức sống do sự hiện diện của glycosides flavnone
Theo các tác giả khi nghiên cứu sản xuất các hợp chất thứ cấp của loài
Sâm cau – Curculigo orchioides Geartn; cho biết dây là một loại thảo dược
sống nhiều năm và đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Ấn Độ Trong tự nhiên loài này xuất hiện trong rừng sau mùa mưa và tàn lụi vào cuối đợt gió mùa sau năm Tỷ lệ tái sinh của cây Sâm cau ngoài tự nhiên là rất thấp
Một số phương pháp nhân giống vô tính hiệu quả trong ống nghiệm của loài Sâm cau là sử dụng mô phân sinh đỉnh Nhiều mầm cây đã được nhân lên
Trang 25từ đỉnh sinh trưởng và phát triển trên Murashige và Skoog (MS) vừa cơ bản vừa bổ sung thêm một số thành phần như BA, sucrose, IBA, IAA vào môi trường nuôi cấy trong nhà kính sau khi cây đã cứng cáp thì chuyển ra cấy trên môi trường đất cát (SalemaValencioFracis 2007) [29]
Nhóm tác giả NidhiSoni và cộng sự 2012 [28]; đã đưa ra kỹ thuật gây trồng loài Sâm cau như sau: Nguồn giống lấy từ củ, phân đoạn củ kích thước 1,5 – 2 cm, có chứa các chồi đỉnh, được thu thập từ tháng 2 đến tháng 3 để sử dụng nhân giống Cự ly trồng 10 x 10 cm, trồng 600 – 750kg củ/ha Làm đất
và bón phân: loài này phát triển tốt trong môi trường đất ẩm và mùn giàu Phân hữu cơ được trộn trước vào luống trồng và luống phải cao để tránh úng ngập Bón phân chuồng khoảng 20tấn/ha được chuẩn bị vào thời điểm chuẩn
bị đất Trồng và khoảng cách tối ưu: Các phân đoạn củ được trồng trực tiếp theo hang Sau khoảng 2 tháng 70 – 80% nảy mầm khi trồng ở vùng nhiệt đới
ẩm như Kerala Mật độ trồng tối ưu: nếu trồng thuần thì cự ly trồng là 10 x 10
cm hoặc 10 x 15 cm; nếu trồng xen cự ly là 20 x 25 cm Chăm sóc: cây sinh trưởng tốt trong điều kiện có bóng mát nên trồng xen với cây ăn quả Nếu trồng thần thì phải che bóng mát với độ che bóng là 25% Quản lý sau thu hoạch: Cây bắt đầu ra hoa 1 tháng sau khi trồng và ra hoa đồng loạt sau tháng thứ 2 và tháng thứ 3 Cây ra hoa quanh năm tuy nhiên tỷ lệ đậu quả hạn chế Cây trồng trong 7 – 8 tháng có thể thu hoạch rễ củ bằng cách đào rễ, loại bỏ tạp vật, các củ được làm sạch sấy khô trong bóng râm và được lưu trữ trong túi gunny Năng suất củ khô 1.000 – 1.700kg/ha
2.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Căn cứ vào kết quả điều tra thực tế, từ năm 1996 đến nay loaì Sâm cau được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam Loài cây này luôn được xếp vào nhóm những loài cây thuốc bị đe dọa, cần ưu tiên bảo tồn ở Việt Nam
Trang 26Nguyễn Duy Thuần và Nguyễn Thị Phương Lan (2001) [21] đã nghiên
cứu về cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn), đã nhận dạng được loài
Sâm cau mọc hoang ở Sơn Dương – Tuyên Quang Kết quả nghiên cứu đã cho thấy dịch chiết polyphenol toàn phần (5% nước) có tác dụng chống oxy
hóa in vitro tương đối cao (64,1%) và tăng lực đối với chuột cống tráng ở liều
0,2299g/kg chuột
Nguyễn Thị Út và cs (2010) [24] nghiên cứu “ Ảnh hương của chất
kích thích sinh trưởng đến khả năng nhân nhanh chồi in vitro cây Sâm cau
(Curculigo orchioides Gaertn) Kết quả cho thấy 6-benzyladenine (BA),
Kinetin (Ki), Ảnh hưởng đến khả năng nhân nhanh chồi in vitro cây Sâm cau
từ chồi đỉnh
Võ Châu Tuấn và Nguyễn Thị Út (2011) [22], “Nhân giống in vitro cây
Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) - Một loài thuốc quý”, nghiên cứu
ảnh hưởng của hàm lượng chất kích thích tăng trưởng đến khả năng nhân nhanh chồi cây Sâm cau
2.6 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.6.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên Nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phía Tây Căn cứ vào bản đồ Thành phố Thái Nguyên thì xác định được vị trí như sau:
Phía Bắc giáp với phường Quan Triều
Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
Phía Tây giáp xã Phúc Hà
Phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá thuộc trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
* Đặc điểm địa hình: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên nằm nhìn chung tương đối bằng phẳng
Trang 27* Khí hậu thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai màu rõ rệt mùa nóng ẩm và mùa khô lạnh
Lượng mưa trung bình từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí trung bình 82%, mùa mưa khoảng 86%, mùa khô khoảng 70%
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 250 C, chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng 2 - 50C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 30C
* Điều kiện đất đai: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên, đất không màu mỡ, ít dinh dưỡng
Đặc điểm của đất là đất Feralit phát triển trên đá Sa Thạch,do vậy đất ở đây dinh dưỡng không cao, ít màu mỡ Qua bảng 2.1 dưới đây phản ánh hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong đất
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất
(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNLTN)
Nhìn vào biểu phân tích ta thấy:
Độ PH thấp, ở độ sâu tầng đất 10 – 30 cm có độ PH cao nhất cũng chỉ đạt 3,9
Đất nghèo mùn hàm lượng mùn và N; K20; P205 ở mức thấp, chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng
Như vậy: Qua kết quả đã phân tích ta có thể đánh giá đươc đất ở vườn ươm của trường Đại học Nông Lâm là đất chua, nghèo dinh dưỡng không đủ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trong giay đoạn vườn ươm Vì vậy cần phải
bổ xung chất dinh dưỡng cho cây qua các biện pháp bón phân là hiệu quả Chính
Trang 28vì đó bón phân sẽ cung cấp lượng dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, phát triển, nâng cao khả năng chống chịu của cây con trong giay đoạn vườn ươm
2.6.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Điều kiện kinh tế
Thái Nguyên thuộc Vùng trung du và miền núi phía bắc, một vùng được coi là nghèo và chậm phát triển nhất tại Việt Nam Tuy vậy, Thái Nguyên lại có nền kinh tế phát triển, trong đó công nghiệp đóng vai trò chủ yếu Những thành tựu quan trọng có thể kể đến là Thái Nguyên đứng thứ 2 cả nước về tăng trưởng, thứ ba cả nước về giá trị kim ngạch xuất khẩu GDP bình quân đầu người và giá trị sản xuất công nghiệp lần lượt đứng thứ 4 và thứ 3 trong số 10 tỉnh thuộc vùng Thủ đô Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện với chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 7/63 tỉnh, thành phố năm 2016 Ba năm liên tiếp, tỉnh Thái Nguyên nằm trong số 10 tỉnh, thành có chất lượng điều hành tốt nhất
* Điều kiện xã hội
Thống kê năm (2016), dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.227.400 người, trong đó nam có 602.700 người và nữ là 624.700 người Tổng dân số đô thị là 421.100 người (34,31%) và tổng dân cư nông thôn là 806.300 người (65,69%) Cũng theo Tổng cục Thống kê, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2016 của Thái Nguyên là 0,99%
Dân cư Thái Nguyên phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc Mật độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai 72 người/km², cao nhất là thành phố Thái Nguyên với mật độ 1.627 người/km² Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm (1999-2009) dân số tỉnh tăng bình quân 0,7%/năm, thấp hơn mức bình quân của cả nước là 1,2% do có nhiều người di chuyển đi các tỉnh khác, trong đó ba huyện Định Hóa, Đại Từ và Phú Bình có tăng
trưởng dân số âm
Trang 29PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nhiên cứu
Vật liệu trong đề tài nghiên cứu là cây Sâm cau, được nhân giống từ hom Cây được đưa vào thí nghiệm có: D00 = 0,3 (cm), Hvn = 7,5 (cm), cây sinh trưởng tốt, không sâu bệnh
Sử dụng ba loại phân bón (phân NPK; phân Đầu trâu; phân Vi sinh)
* Phân NPK
Thành phần của phân bón N-P-K-S 5:10:3-8 có (P2O5 hữu hiệu 10%, N:5%, K2O:3%, S:8-10%, CaO:18-20%, MgO:2-2.5%, SiO2: 4-5%, Cu: 20-30ppm, Zn: 40-50ppm) Loại phân này chủ yếu dùng để bón lót
* Phân vi sinh
+ Mật độ vi sinh hữu ích: 1,0-109 tb/gr
+ Hàm lượng chất hữu cơ : 30%
+ Acid Humic : 9%
+ Ngoài ra còn có một số nguyên tố trung vi lượng cần thiết cho cây trồng
* Phân Đầu trâu
Thành phần hóa học của phân bón đầu trâu 20-20-15+TE có: Đạm tổng
số (Nts): 20%; Lân hữu hiệu (P2O5hh): 20%; Kali hữu hiệu (K2Ohh): 15%; Kẽm (Zn): 50ppm; Bo (B) : 50ppm; Độ ẩm : ≤2,5%
3.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 đến ngày 30
tháng 05 năm 2019
Trang 303.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ (%) cây sống của cây Sâm cau theo các công thức thí nghiệm
- Ảnh hưởng của công thức bón phân đến sinh trưởng về chiều cao (Hvn) của cây Sâm cau ở các công thức thí nghiệm
- Ảnh hưởng của công thức bón phân đến sinh trưởng về đường kính (D00) của cây Sâm cau ở các công thức thí nghiệm
- Ảnh hưởng của công thức bón phân đến động thái ra lá của cây Sâm cau ở các công thức
- Đánh giá chất lượng cây Sâm cau và dự kiến tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến cây Sâm cau ở trong
và ngoài nước (về đặc điểm sinh thái, hình thái, sinh trưởng, năng suất, chọn giống, các biện pháp kỹ thuật gây trồng và chăm sóc …) Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng từ các cơ quan, cán bộ
ngành, người dân tại khu vực nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bước1: Công tác chuẩn bị
- Cây con, túi bầu, tầng đất A, sàng đất;
- Làm đất, lên luống;
- Giàn che;
- Giấy A4, bút, bảng biểu;
- Thước 3 loại (thước đo chiều cao, thước kẹp kính, thước dây)
Bước2: Bố trí thí nghiệm