TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ CAO VĂN ĐỈNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI CÂY BẢN ĐỊA THUỘC HỌ THÔNG TRE PODOCARPACEAE VÀ HỌ MỘC LAN MAGNOLIACEAE TRỒNG TẠI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2015 – 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
CAO VĂN ĐỈNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI CÂY BẢN ĐỊA THUỘC HỌ THÔNG TRE (PODOCARPACEAE)
VÀ HỌ MỘC LAN (MAGNOLIACEAE) TRỒNG TẠI MÔ HÌNH VƯỜN THỰC VẬT KHOA LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : CHÍNH QUY Chuyên ngành : LÂM NGHIỆP Lớp : K47 LÂM NGHIỆP
Khóa học : 2015 – 2019 Giảng viên HD : TS LÊ SỸ HỒNG
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Sỹ Hồng Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai em xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2019
Cao Văn Đỉnh
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
để sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy
cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Lâm nghiệp của trường đã tạo điều kiện, quan tâm giúp đỡ cho em trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận
Em xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới TS Lê Sỹ Hồng là người đã trực tiếp hướng dẫn thực hiện và giúp đỡ em hoàn thành đề tài khóa luận này
Em cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình thực tập, cũng như trong quá trình làm bài báo cáo thực tập, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được
ý kiến đóng góp của thầy, cô để chuyên đề được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Sinh trưởng về đường kính cây Kim Giao trong mô hình 25
Bảng 4.2: Sinh trưởng về đường kính cây Thông Tre trong mô hình 26
Bảng 4.3: Sinh trưởng về đường kính cây Vàng Tâm trong mô hình 26
Bảng 4.4: Sinh trưởng về đường kính cây Giổi trong mô hình 27
Bảng 4.5: Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn cây Kim Giao trong mô hình 29
Bảng 4.6: Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn cây Thông Tre trong mô hình 29
Bảng 4.7: Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn cây Vàng Tâm trong mô hình 30
Bảng 4.8: Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn cây Giổi trong mô hình 31
Bảng 4.9: Sinh trưởng về đường kín tán lá Kim Giao trong mô hình 32
Bảng 4.10: Sinh trưởng về đường kín tán lá cây Thông Tre trong mô hình 33
Bảng 4.11: Sinh trưởng về đường kín tán lá cây Vàng Tâm trong mô hình 33
Bảng 4.12: Sinh trưởng về đường kín tán lá cây Giổi trong mô hình 34
Bảng 4.13: Tình hình sinh trưởng lá cây kim giao trong mô hình 36
Bảng 4.14: Tình hình sinh trưởng lá cây Vàng Tâm trong mô hình 38
Bảng 4.15: Tình hình sinh trưởng lá cây Thông Tre trong mô hình 40
Bảng 4.16: Tình hình sinh trưởng lá cây Giổi trong mô hình 42
Bảng 4.17: Thành phần sâu bệnh hại của 4 loài cây bản địa 44
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Cây Kim Giao trong vườn thực vật 16
Hình 2.2: Cây Thông Tre trong vườn thực vật 17
Hình 2.3: Cây Vàng Tâm trong vườn thực vật 18
Hình 2.4: Cây Giổi trong vườn thực vật 19
Hình 4.1: Kết quả đường kính gốc của 4 loài cây bản địa trong mô hình 28
Hình 4.2: Kết quả về chiều cao của 4 loài cây bản địa trong mô hình 31
Hình 4.3: Tình hình sinh trưởng về đường kính tán lá của 4 loài cây bản địa trong mô hình 35
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Một số nét chung 4
2.1.1Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở việt nam 10
2.2 Khái quát một số đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu 13
2.2.1 Đất đai 13
2.2.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 14
2.3 Khái quát một số đặc điểm của 4 loài cây bản địa được chọn để nghiên cứu 14
2.3.1 Kim Giao (Nageia fleuryi ) 14
2.3.2 Thông Tre (Podocarpus pilgeri) 16
2.3.3 Vàng Tâm (Magnolia fordiana) 17
2.3.4 Giổi (Magnolia hypolampra) 19
Trang 9Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 20
3.3 Nội dung nghiên cứu: 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp luận 21
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 23
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Đánh giá tình hình sinh trưởng về đường kính gốc của 4 loài cây bản địa 25
4.1.1 Đánh giá tình hình sinh trưởng về đường kính gốc cây Kim Giao 25
4.1.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng về đường kính gốc cây Thông Tre 26
4.1.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng về đường kính gốc cây Vàng Tâm 26
4.1.4 Đánh giá tình hình sinh trưởng về đường kính gốc cây Giổi 27
4.2 Đặc điểm sinh trưởng chiều cao của 4 loài cây bản địa 28
4.2.1 Đánh giá tình hình sinh trưởng về chiều cao vút ngọn cây Kim Giao 28
4.2.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng về chiều cao vút ngọn cây Thông Tre 29
4.2.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng về chiều cao vút ngọn cây Vàng Tâm 30
Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn) của cây Vàng Tâm được trình bày tại bảng 4.7 30
4.2.4 Đánh giá tình hình sinh trưởng về chiều cao vút ngọn cây Giổi 30
4.3 Đặc điểm sinh trưởng về đường kín tán lá của 4 loài cây bản địa 32
4.3.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng về đường kín tán lá cây Thông Tre 33
4.3.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng về đường kín tán lá cây Vàng Tâm 33
4.3.4 Đánh giá tình hình sinh trưởng về đường kín tán lá cây Giổi 34
4.4 Đặc điểm sinh trưởng lá của 4 loài cây bản địa trong mô hình 35
4.4.1 Sinh trưởng lá của cây kim giao trong mô hình 36
4.4.2 Sinh trưởng lá của cây Vàng Tâm trong mô hình 37
Trang 104.4.3 Sinh trưởng lá của cây Thông Tre trong mô hình 39
4.4.4 Sinh trưởng lá của cây Giổi trong mô hình 41
4.5 Đánh giá tình hình sâu bệnh hại 43
4.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình vườn thực vật 45
4.6.1 Biện pháp dải lớp nilon không màu trắng xung quanh gốc cây 45
4.6.2 Biện pháp xây dựng thêm hàng rào bảo vệ vườn thực vật 46
4.6.3 Một số giải pháp ngăn ngừa sâu bệnh hại trong vườn thực vật 46
PHẦN V KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Tồn tại 48
5.3 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 11Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá đối với nước ta Ngoài đem lại giá trị về gỗ và lâm sản ngoài gỗ, rừng là yếu tố địa lý không thể thiếu trong
tự nhiên điều hòa khí hậu bảo vệ đất đai chống sói mòn Chính vì vậy rừng không chỉ có chức năng kinh tế - xã hội, mà rừng còn mang giá trị sinh thái cảnh quan, bảo vệ môi trường, du lịch, bảo tồn
Vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Nhà nước đã có nhiều chương trình xúc tiến đẩy mạnh quá trình trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc và trồng rừng kinh tế với hiệu quả ban đầu tương đối khả quan Nhưng do chạy theo xu thế phát triển kinh tế, vốn đầu tư còn hạn chế nên các chương trình trồng rừng ở nước ta mới chỉ tập trung vào các loài cây mọc nhanh như: Keo, Bạch đàn, Bồ đề,.v.v những loài cây này mới chỉ đáp ứng được mục tiêu kinh tế là chính, tính bền vững chưa cao Trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp, nghành Lâm nghiệp đã chú trọng đến việc bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa đang ngày càng bị thu hẹp lại về cả diện tích cũng như số loài do những hiểu biết về chúng ngày càng nhiều những lợi ích to lớn mà các loài cây bản địa mang lại, không chỉ đơn thuần là cung cấp lâm đặc sản mà chúng còn là những loài cây "của tự nhiên", có sự phát sinh và tiến hoá trong thời gian dài nên có khả năng thích nghi cao với điều kiện nơi mọc và có tính bền vững cao, "thân thiện với môi trường sinh thái"
Mô hình vườn thực vật tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được lên kế hoạch và xây dựng vào tháng 03/2017 đến tháng 03/2018 Hiện tại đề tài đã được nghiệm thu và đang được sử dụng với những mục đích ban đầu đặt ra là bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của các loài cây bản địa đang có mức độ nguy cấp cao và bên cạnh đó tạo nơi học tập và nghiên cứu cho sinh viên Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên Kết thúc ở
Trang 12giai đoạn đầu của việc xây dựng thành công 406 cây thuộc 25 loài cây bản địa khác nhau trong đó có các họ như: họ thông tre (Podocarpaceae), họ mộc lan (Magnoliaceae), họ đậu (Fabaceae), họ đay (Tiliacee), họ dầu (Dipterocarpaceae blume) hay họ quả hai cánh (Dipterocarpaceae) [3] Họ long não (Lauraceae), họ Trầm (Thymelaeaceae), họ Bứa (Clusiaceae) được đánh giá là họ có số lượng loài đang có mức độ nguy cấp cao nhiều nhất trong
mô hình vườn thực Các loài cây thân họ Long não (Lauraceae), họ Trầm (Thymelaeaceae), họ Bứa (Clusiaceae) có giá trị rất cao thường được khai thác thân cây nhằm mục đích làm đồ mỹ nghệ và đồ gia dụng cấp cao Bởi giá trị của các loài cây họ Thông Tre (Podocarpaceae) và họ Mộc Lan (Magnoliaceae) đem lại cao nên việc khai thác của con người rất mạnh, đồng thời đẩy các loài thân gỗ họ Thông Tre (Podocarpaceae) và họ Mộc Lan (Magnoliaceae) đến mức nguy cấp tuyệt chủng cao vì vậy việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh trưởng và tình hình sâu bệnh hại cây bản địa thuộc họ Thông Tre (Podocarpaceae) và họ Mộc Lan (Magnoliaceae) tại mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” nhằm đánh giá mức độ sinh trưởng của các loài cây tại mô hình chuyển vị các loài cây trong mô hình vườn thực vật
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng và tình hình sâu bệnh hại một số loài cây bản địa thuộc họ Thông tre (Podocarpaceae) và họ Mộc lan (Magnoliaceae) trồng tại mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên
Trang 13Đánh giá được tình hình sinh trưởng về đường kính tán lá và sinh trưởng lá của 4 loài cây bản địa trong mô hình
Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại của 4 loài cây bản địa trong mô hình
Đề xuất được một số biện pháp nhằm tăng cường khả năng sinh trưởng của 4 loài cây bản địa trong mô hình
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất
- Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để phát triển mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm nghiệp
và phát triển các loài cây bản địa
- Làm cơ sở tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Một số nét chung
Đánh giá sinh trưởng cây rừng nói chung và đánh giá sinh trưởng các loài cây bản địa nói riêng là nội dung quan trọng, cần thiết trong khôi phục rừng và xây dựng các vườn thực vật nhằm lựa chọn các loài cây phù hợp cho từng khu vực để đưa các loài cây này vào công tác trồng rừng và làm giàu nguồn tài nguyên thực vật, do vậy việc xây dựng mô hình vườn thực vật từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Vườn thực vật là: là một nơi trồng cây cối, được chăm sóc tốt thường được trồng từng nhóm theo loại Người ta cũng trồng ở đây các cây từ các nước khác, các vùng khí hậu khác nhau Các vườn thực vật thường được quản
lý bởi các trường Đại học, dùng nó làm cơ sở nghiên cứu khoa học
Các vườn thực vật loài cây bản địa hiện đang được chú trọng và xây dựng nhiều trên thế giới, cũng như Việt Nam không phải ngoại lệ, điều đó chứng minh con người ngày càng quan tâm đến thiên nhiên, quan tâm đến sự hài hòa của cuộc sống Mô hình vườn thực vật tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một ví dụ điển hình cho vườn thực vật bảo tồn các loài cây bản địa, đồng thời lồng ghép giúp sinh viên có nơi học tập và nghiên cứu Với mục tiêu sẽ là một hạt mầm để nhân rộng đến các vùng lân cận nhằm phát triển ngày càng nhiều các mô hình loài cây bản địa như vậy
2.1.1Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.1.1 Nghiên cứu về xây dựng các vườn thực vật
Nhận thấy sự nguy cấp của sự đa dạng các loài thực vật trên thế giới, cùng với đó là trách nhiệm phải bảo tồn những loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng cao đồng thời có thể kết hợp tham quan giải trí và lồng ghép giáo dục về thiên nhiên thay đổi nhận thức và là cơ sở cho con người học tập, nghiên cứu, thư giãn nên trên thế giới con người đã xây dựng các vườn thực vật chuyển vị để góp phần bảo vệ nguồn gen của các loài thực vật
Trang 15Hiện nay có khoảng 1800 vườn bách thảo tại 150 nước thuộc phần lớn tại các vùng có khí hậu ôn hòa Trong đó có 400 vườn ở Châu Âu, 200 ở Bắc Mỹ,
150 ở Nga, và một số càng ngày càng tăng lên ở Đông Á [20]
Những vườn này lôi cuốn mỗi năm khoảng 150 triệu du khách Trong quá khứ, các vườn bách thảo trao đổi các cây cối qua việc ấn hành danh sách các hạt giống Đó là một phương tiện để trao đổi không những các thực vật
mà cả các thông tin giữa các vườn bách thảo với nhau Ở Châu Âu, từ năm
1492 đã có vườn bách thảo Arboretum von Trsteno gần Dubrovnik Tổng diện tích của Arboretum là 28 hecta Trong suốt 5 thế kỷ tồn tại, các yếu tố của thời kỳ Phục Hưng Baroque và Romanticism có thể được nhìn thấy trong kiến trúc cảnh quan Trên một số bậc thang bên cạnh cây trồng ở Địa Trung Hải như ô liu , cây sung hoặc cây có múi cũng có rất nhiều cây cọ , cây bạch đàn , cây laurel , cây xương rồng và các cây kỳ lạ khác [19] Ngoài ra ở Ý vào năm
1544 tại Pisa của Luca Ghini, 1545 ở Padua của Johannes Baptista Montanus cũng như ở Firenze (1545) và Bologna (1568) Điển hình năm 1808 Vườn thực vật Jardim Botnico, ở Rio de Janeiro, Brazil với diện tích 240.000 m2 đây được xem là một trong hai khu vườn đẹp bậc nhất thế giới Với khoảng
6500 loài thực vật, trong đó một số loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng Hay là nằm trên đỉnh Dessert là khu vườn thực vật Kirstenbosch có thể không phải là vườn bách thảo cổ nhất nhưng lại là vườn lớn nhất thế giới Ngự trị trên vùng đất rộng 35,6 hecta, ra đời từ năm 1913, vườn thực vật quốc gia Kirstenbosch của Nam Phi được thành lập cho mục đích bảo tồn hệ thực vật địa phương, khu vườn Kirstenbosch hiện sở hữu hơn 20.000 loài cây [20] Được mở cửa từ năm 1910, vườn hoa Berlin-Dahlem được xem là một trong những địa điểm thu hút du lịch của đất nước này Khu vườn rộng tới 43 hecta
có hơn 43.000 loài thực vật khác nhau Nơi đây được coi như một ốc đảo xinh đẹp, yên bình, nhưng rực rỡ muôn sắc màu, khác biệt với sự bận rộn, hối hả thường ngày của cuộc sống ở thủ đô nước Đức Được thành lập năm 1840 từ một vườn cây ngoại lai tại công viên Kew, vườn thực vật hoàng gia Kew Bộ
Trang 16sưu tập của vườn bao gồm 30.000 loài thực vật sống khác nhau Vườn thực vật Na Aina Kai, Mỹ khoảng 240 loài Vườn thực vật đại học Hokkaido rộng hơn 13 hecta trồng khoảng 4000 loại thực vật được mở cửa vào cuối thế kỷ
19 Bên cạnh đó là rất nhiều vườn thực vật nổi tiếng, lưu giữ nhiều loài thực vật trên thế giới như: Vườn Butchart, British Columbia, Canada, Villa D’este, Italy, Villa Eprhussa de Rothchild, Pháp…xây dựng với mục đích bảo vệ các loài thực vật quý hiếm lồng ghép thăm quan giải trí cho con người Ở Đức vườn bách thảo đầu tiên được thành lập ở Leipzig (1580), Jena (1586), Heidelberg (1593), Gießen (1609) hay Freiburg (1620), thường thuộc về phân khoa Y học là vườn dược thảo Vườn bách thảo Kiel là vườn bách thảo đầu tiên theo nghĩa hiện nay Nó được hình thành bởi Johann Daniel Major vào năm 1669 tại Christian-Albrechts-Universität zu Kiel Ở Bồ Đào Nha vườn bách thảo đầu tiên do bá tước Grafen von Pombal thuộc Universität Coimbra xây vào năm 1772 [20] Tại Châu Á, có vô vàn các vườn thực vật lớn nhỏ của các nước như: Trung Quốc có 152 vườn thực vật điển hình như là Vườn Thực Vật Bắc Kinh - Khu vườn được thành lập năm 1953 và hiện nay có diện tích 564.000 m2 Chúng bao gồm 6.000 loài thực vật, bao gồm 2.000 loại cây và bụi rậm, 1.620 loài thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới và 500 loài hoa Bộ sưu tập này bao gồm một số loài quý hiếm, ngoài ra còn có Vườn thực vật Nam Trung Quốc là một phần của Học viện Khoa học Trung Quốc, trước đây gọi
là Viện Nông Lâm nghiệp, Đại học Sun Yat-Sen, được thành lập vào năm
1929, Vườn Bách thảo Nhiệt đới Xishuangbanna của Học viện Khoa học Trung Quốc được thành lập năm 1959 Vườn thực vật Kadoorie và Vườn Bách thảo Kadoorie và Vườn Bách thảo trải dài trên 148 hecta đất và nằm trên sườn núi phía bắc và chân núi của ngọn núi cao nhất ở Hồng Kông - Tai
Mo Shan, Vườn thực vật Vũ Hán, Nghiên cứu vườn thực vật theo định hướng này là một phần của Học viện Khoa học Trung Quốc và được thành lập vào năm 1956 và mở cửa cho công chúng vào năm 1958 Hơn 10.000 loài thực vật và các giống và có 16 vườn đặc sản Vườn hoa quả hoang dã, Vườn thực
Trang 17vật quý hiếm và Vườn cây thuốc là một trong những vườn lớn nhất Trung Quốc và Vườn Thực vật Xiamen - nằm trên núi Wanshi ở phía đông nam của đảo Hạ Môn Còn được gọi là Vườn Thực Vật Wanshi có diện tích 4,93 km2
và chứa hơn 6.300 loại cây cảnh nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới cộng thêm 10 vườn độc đáo dành riêng nhỏ hơn Ấn độ có 131 vườn thực vật nổi tiếng như Vườn thực vật nhiệt đới Jawaharlal Nehru và Viện nghiên cứu , Trivandrum, Kerala 121 ha ở độ cao 100 m trên mực nước biển Bảo tồn số lượng lớn nhất các bộ sưu tập cây trồng nhiệt đới tại các vườn thực vật ở châu Á, vườn thực vật Acharya Jagadish Chandra Bose được thành lập năm 1786, mục đích của vườn bách thảo hoàng gia là thu thập các cây bản địa và giới thiệu làm cho cây trồng được phục hồi lại từ các nước khác Các vườn cũng là một nguồn cung cấp cây trồng quan trọng cho Kew và các vườn khác của châu Âu Vườn bách thảo Jhansi, Jhansi, Uttar Pradesh, Vườn Bách thảo Saharanpur, Saharanpur, Uttar Pradesh, Vườn thực vật Lloyd's , Darjeeling, Tây Bengal được thành lập vào năm 1878 như là một phụ tùng xa xôi của Vườn thực vật Calcutta Tại Indonesia có 5 vườn thực vật nổi trội đó là Vườn Bách thảo Bali Nhật bản có 64 vườn thực vật đặc biệt phải kể đến đó là Vườn thực vật, Trường đại học Khoa học, Đại học Tokyo Đại học Tokyo Botanical Gardens, Hakusan, Bunkyo-kuTokyo, Nhật Bản Lào có Vườn thực vật Pha Tad Ke xây dựng vào năm 2008 và mở cửa vào năm 2015 Đến với Malaysia phải kể đến Rimba Ilmu Rimba Ilmu là một khu vườn thực vật nhiệt đới, được thành lập tại khuôn viên trường Đại học Malaya ở Kuala Lumpur, Malaysia Rimba IlmuInstitute of Biological Sciences, Đại học Malaya, Kuala Lumpur, Malaysia Singapore có 2 vườn không thể không nhắc đến Singapore Botanic Gardens nằm ở trung tâm thành phố và được thành lập vào năm 1859 Với diện tích gần 74 hecta, khu vườn là nơi nghiên cứu và bảo tồn hơn 30.000 loài thực vật Khu vườn này nổi tiếng trên thế giới với Vườn lan Quốc gia, nơi trưng bày hoa lan nhiệt đới lớn nhất thế giới với hơn 1.000 loài phong lan và 2.000 loại lan lai tạo Nam Triều Tiên có 54 vườn những cái tên thường được
Trang 18nhắc đến như Vườn Bách Thảo Namsan có trụ sở tại Seoul nó chiếm một khu vực 59 m2, có tổng cộng 117.132 cây từ 269 loài trên có 13 khu vườn theo chủ đề Oedo - một vườn thực vật ven biển được xây dựng năm 1969 bởi Lee Chang Ho và vợ ông, trong công viên biển quốc gia được gọi là Vườn Quốc gia Hallyeo Haesang Vườn Sinh thái Eco Yanggu - khai trương năm 2004 Chiếm 189.141 người Đặt tại chân núi Daeamsan Đây là khu vườn sinh thái cực bắc của Hàn Quốc và được phát triển như là một trung tâm khôi phục hệ sinh thái Nam và Bắc Triều Tiên Bao gồm hơn 400 thực vật quý hiếm bao gồm các loài thực vật bản địa Hàn Quốc và được bảo vệ bởi Bộ Môi trường Hàn Quốc Vườn thực vật Yeomiji mở cửa năm 1989 bao gồm 112000 m2, có vườn trong nhà và ngoài trời theo chủ đề trong các khu Một số vườn tạo ra các phong cách được tạo ra ở các nước khác trong quá khứ Tiếp đó là Sri Lanka có các vườn thực vật nổi tiếng như Vườn Bách Thảo Hoàng Gia Sri Lanka, Peradeniya, Kandy có 147 mẫu vật nằm ở độ cao 460 mét so với mực nước biển, bao gồm hơn 4.000 loài thực vật và nổi tiếng với bộ sưu tập hoa phong lan, ngoài ra còn có Vườn Bách thảo Hakgala, Vườn Bách thảo Henarathgoda và Vườn Bách thảo Mirijjawila Đài loan có 5 vườn nổi trội kể đến là Vườn Bách thảo Đài Loan, Đài Loan năm 1896, một vườn ươm chính thức với diện tích dưới 5 ha đã được thành lập gần Xiaonanmen ở phía tây nam thành phố Đài Bắc Điều này đánh dấu sự ra đời của Vườn thực vật Đài Bắc và Thái Lan có 12 vườn thực vật gồm có vườn thực vật Queen Sirikit là vườn thực vật quan trọng nhất và lâu đời nhất ở Thái Lan và là trung tâm nghiên cứu khoa học chính Dành riêng cho việc bảo tồn hệ thực vật Thái Lan Vườn Bách Thảo Queen Sirikit, trước đây gọi là Vườn Bách Thảo Mae
Sa Nằm cách Pattaya 20km về phía Nam tại Thái Lan vườn thực vật Nong Nooch rộng khoảng 2,4 km2 đã sưu tập khoảng 20.000 loại cây nhiệt đới khác nhau đặc biệt tại Nong Nooch có hơn 670 loài hoa lan [5] Tất cả những vườn thực vật kể trên hiện tại ngoài mang nhiệm vụ là nơi bảo vệ được các nguồn
Trang 19gen quý của các loài cây mà còn có thể trở thành nơi thăm quan giải trí và tạo
ra một địa điểm hùng vĩ của các đất nước đó
2.1.1.2 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng các loài cây bản địa
Trong những năm gần đây rất nhiều nơi trên thế giới đã và đang nghiên cứu thử nghiệm và trồng rừng thanh công bằng những loài cây bản địa Trong nhiều loại cây trồng các cây thuộc chi Paulownia đáng được sự quan tâm của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
Tại Malaysia (1999) [21], trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới thiệu cách thiết lập mô hình trồng rừng hỗn loại trên 3 đối tượng: Rừng tự
nhiên, rừng Acacia mangium 10 - 15 tuổi và 2 - 3 tuổi Dự án đã sử dụng 23
loài cây bản địa có giá trị trồng theo băng 30 m mở ra trong rừng tự nhiên,
trồng 6 hàng cây Trong rừng Acacia mangium mở băng 10 m trồng 3 hàng
cây, băng 20 m trồng 7 hàng cây, mở 40 m trồng 15 hàng cây với 14 loài khối
B chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng, chặt 2 hàng trồng 2 hàng, chặt 4 hàng trồng 4 hàng… Trồng 3 loài sau khi chặt 5 năm, trồng 7 loài sau khi chặt 7 năm
Trong 14 loài cây trồng khối A, có 3 loài S roxburrghii; S ovanlis; S
leprosula sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất Tỉ lệ sống không
khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt ở băng 10 m và băng 40 m Băng 20 m không thỏa mãn điều kiện sinh trưởng chiều cao Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng, sinh trưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 và 6 hàng
Ảnh hưởng của mật độ đến sự phát triển của tán lá khá rõ rệt Nghiên
cứu đối tượng rừng trồng loài Pinus patula, Julians Evan (1982) [7], cho thấy
ở rừng 19 tuổi chưa quá tỉa thưa độ dài tán chỉ là 29% tổng chiều dài thân, trong khi cũng ở tuổi này rừng đã tỉa thưa 1 lần vào tuổi 9 chiều dài tán lên tới 40% chiều dài thân Đối với diện tích tán, Hunt (1969) đã so sánh ảnh hưởng
của tỉa thưa đến lâm phần 22 tuổi loài Pinus strobus và kết luận: sau 5 năm
tính từ thời điểm tỉa thưa, tổng trọng lượng lá cây của lâm phần qua tỉa thưa gấp 3 lần tổng trọng lượng lá cây của lâm phần chưa tỉa thưa
Trang 20Nghiên cứu thực sự khác biệt về độ thưa của cây ở các lâm phần có mật
độ khác nhau, Vanlaar (1976) đã chỉ ra rằng, với loài cây Pinus trồng tại Nam
Phi, ở lâm phần có mật độ cao (3000 cây/ha) hình số của cây là 0,565 trong khi
đó ở lâm phần mật độ thấp (125 cây/ha) giá trị hình số tương tự chỉ là 0,495
Qua những nghiên cứu ở trên cho thấy thực sự có mối quan hệ giữa các chỉ tiêu hình thái và chất lượng cây với mật độ của cây Đây là những kết luận quan trọng không những có ý nghĩa lý luận trong nghiên cứu mà còn có ý nghĩa thực tiễn về mặt lâm sinh
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở việt nam
2.1.2.1 Những nghiên cứu về xây dựng vườn thực vật
Tại Việt nam việc bảo vệ các loài động thực vật khỏi sự khai thác trầm trọng của con người cũng đang được chú ý đến thông qua việc xây dựng nên các vườn thực vật nhằm mục đích bảo vệ nguồn gen quý hiếm, bên cạnh đó là nơi để kết hợp cho con người tham quan giải trí và giáo dục về việc bảo vệ thiên nhiên Đồng thời là nơi để học tập và nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên và cả các nhà nghiên cứu khoa học Nổi bật phải kể đến Thảo cầm viên ở thành phố Hồ Chí Minh, Thảo cầm viên còn được mệnh danh là vườn thực vật lâu đời nhất việt nam, được xây dựng vào năm 1864, Thảo Cầm Viên
có 590 loài động vật với 125 loài và 1.830 cây và thực vật của 260 loài, trong
đó có một số loài trên 100 tuổi Bao gồm 20 loài phong lan, 32 loài cây xương rồng và 34 loài cây cảnh Vườn thú và Vườn thực vật Sài Gòn được chia thành khu bảo tồn động vật, khu bảo tồn thực vật, vườn lan và công viên giải trí Khu vườn thực vật có nhiều loài thực vật quý hiếm, một số loài không có nguồn gốc ở Việt Nam Có nhiều loài xương rồng, dương xỉ và thực vật đã được nhập khẩu từ Châu Phi và Mỹ [13] Tiếp đó là Vườn Bách Thảo tại Hà Nội được xây dựng từ năm 1890, do nhiều biến đổi nên hiện tại diện tích chỉ còn 10 ha, tuy diện tích có bị thu lại nhưng tính đa dạng về các loài ở Vườn Bách Thảo Hà Nội không vì đó mà giảm Vườn bách thảo Hà Nội tạo thành một cảnh quan thu nhỏ bao gồm núi, rừng và hồ nước Trên mảnh đất tuy nhỏ
Trang 21hẹp của khuôn viên vườn bách thảo có mặt nhiều loài cây gỗ quý hiếm đặc trưng cho các cánh rừng ẩm nhiệt đới phương Nam Số loài địa phương chiếm trên 2/3 các loài cây hiện hữu, còn lại 1/3 là các loài cây nhập nội từ nhiều châu lục trên thế giới: Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương Các loài cây cũng đại diện cho các họ, bộ của hệ thực vật bậc cao có mạch, nổi bật là các loài cây thuộc ngành thực vật hạt trần và thực vật hạt kín Vào vườn Bách Thảo khách tham quan có dịp chiêm ngưỡng các loài cây thân gỗ có đường kính 2, 3 người ôm; các loại cây thân cột khổng lồ của họ cau dừa; các cây gỗ
có bộ rễ phụ buông dài của nhóm si, đa, đề các loài cây leo thân gỗ, các giò phong lan khoe sắc và các cây cảnh sặc sỡ [14] Bên cạnh đó thì một số vườn thực vật được xây dựng ngay trong các khu bảo tồn vừa phục vụ bảo tồn lại vừa lồng ghép tham quan giải trí, giáo dục đem lại nguồn kinh tế ví dụ như vào năm 2012 vườn thực vật tại thôn Cà Đâng, xã Tà Bhinh diện tích xây dựng vườn thực vật này khoảng 50,3 hecta trên khu đất nương rẫy trồng cây hàng năm Vườn thực vật Phong Nha - Kẻ Bàng có diện tích trên 40 hecta [15] Cùng với đó chúng ta đã xây dựng các vườn thực vật ngay trong trường giúp học sinh có nơi học tập ngoài giờ lý thuyết khô khan, tất nhiên đồng thời vẫn có thể bảo tồn các loài thực vật như vào năm 2008 trường tiểu học Lương Thế Vinh, có diện tích khoảng 300m2 với hơn 100 các loại cây và các trường tiểu học khác gần vùng lân cận trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Nơi lưu giữ các loài thực vật quý hiếm nhiều không kém đó là Vườn Thực vật Cúc Phương, vườn thực vật rộng khoảng 90 ha đến nay đã sưu tập và bảo tồn được
535 loài cây Trong đó có 210 loài cây gỗ Cúc Phương, 85 loài cây gỗ của các vùng khác ở Việt nam, 5 loài nhập nội, 25 loài thuộc họ ráy, 20 loài cây ăn quả 15 loài tre trúc, 15 loài cau dừa, 20 loài cây thuốc và 140 loài lan Các loài cây đều được chăm sóc và theo dõi sinh trưởng để nghiên cứu quá trình sinh trưởng phát triển Nhiều loài đã ra hoa kết quả và cung cấp cây giống cho các chương trình trồng rừng bằng loài cây bản địa Có diện tích nhỏ chỉ khoảng 3 ha Vườn thực vật Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam Nằm trên địa
Trang 22bàn xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, cách Trung tâm thành phố Hà Nội 12
km về phía Nam, được bắt đầu xây dựng và gây trồng cách đây khoảng 50 năm Từ đó đến nay có hơn 4.000 cây thuộc 30 bộ, 60 họ và hơn 200 loài được gây trồng phát triển trong Vườn Trong đó, gần 30 loài có tên trong Sách
đỏ Việt Nam và Thế giới, như Sưa, Thông nàng [16] và còn rất nhiều loài nữa Tất cả những vườn thực vật được liệt kê bên trên đều là những vườn thực vật có khả năng lưu giữ các nguồn gen quý và là nơi tham quan giải trí kết hợp với học tập và nghiên cứu khoa học Từ những vườn thực vật đã và đang xây dựng tại Việt Nam có thể nhận thấy con người đang dần có suy nghĩ tích cực hơn về việc bảo vệ và giá trị của thiên nhiên
2.1.2.2 Nghiên cứu về trồng cây bản địa
Ở nước ta, việc tuyển chọn các loại cây bản địa có những ưu thế sinh trưởng nhanh, có giá trị cao và khả năng bảo vệ tài nguyên đất nước tốt là việc làm mang ý nghĩa thực tiễn và có cơ sở khoa học Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả đi sau nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài cây bản địa ở Việt Nam
Chương trình 327 với định hướng trồng hừng phòng hộ theo hướng hỗn loài 500 cây bản địa + 1000 cây phụ trợ Khi thực thi có hơn 60 tỉnh thành phố
đã trồng rất nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài khác nhau với hơn 70 loài cây
Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất khi nghiên cứu đề tài: “Xác định cơ cấu cây trồng và xây dựng quy định hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ chương trình 327” trong 2 năm 1997 - 1998 đã chọn được tập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng được quy trình, hướng dẫn kĩ thuật cho 20 loài cây như Lát hoa, Muống đen, Trám trắng, Tếch, Dầu rái
Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) đã đưa ra các nghịch lí cơ bản về cây bản địa trong đó có nêu rõ những khó khăn khi đưa cây bản địa vào trồng rừng ở nước ta [9]
Năm 1994 trong hội thảo về tăng cường các công trình trồng rừng ở Việt Nam với sự phối hợp giữa Bộ Lâm nghiệp, dự án tăng cường các chương
Trang 23trình trồng rừng ở Việt Nam (STRAP) và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã đưa ra khuyến nghị quan trọng là cần có nhiều thông tin hơn về loài cây bản địa để cho các địa phương tham khảo và tìm chọn loài cây phục vụ cho trồng rừng Nhằm đáp ứng được phần nào yêu cầu trên, dự án STRAP đã cùng với Viện Khoa học Lâm nghiệp thực hiện một dự án “Xác định các loài cây bản địa chất lượng cao để trồng rừng ở Việt Nam” Kết quả đã đưa ra những thông tin có hệ thống và tổng hợp về 210 loài cây cho gỗ chất lượng cao dùng để làm nhà ở và đồ mộc cao cấp Qua đó cũng thấy tiềm năng của cây bản địa ở từng vùng cũng như trong cả nước rất phong phú nhưng số cây
đã có kĩ thuật, có mô hình, có khả năng trồng rừng còn quá ít Do vậy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu thử nghiệm những cây còn lại mới có thể biến tiềm năng thành hiện thực Ngoài ra cần tập trung nghiên cứu và phát triển những cây có giá trị cao để tạo nguồn cây chủ lực cho từng vùng và cho cả nước
Qua nhiều năm nghiên cứu Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [17], đã đề xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồng rừng phục vụ cho cả 3 loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng 2.2 Khái quát một số đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu
Địa điểm xây dựng mô hình vườn thực vật nằm trong Mô hình khoa Lâm nghiệp và nằm trong diện tích của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Mô hình có diện tích khoảng 0.8 hecta và mô hình nghiên cứu chiếm 0.26 ha trên tổng diện tích [3]
2.2.1 Đất đai
Đất đai của Mô hình khoa Lâm Nghiệp được hình thành do hai nguồn gốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa bồi tụ
Nhóm đất phù sa chiếm tỷ lệ ít, là nhóm đất ở địa hình bằng, được bồi đắp bởi sản phẩm phù sa của dòng chảy của các suối và do thời tiết, thời gian được chia thành Đất phù sa không được bồi tụ hàng năm trung tính ít chua,
Trang 24thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ
Nhóm đất xám bạc màu: phát triển trên đất phù sa cổ có sản phẩm Feralitic trên nền cơ giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ,
dễ bị xói mòn, rửa trôi
Nhóm đất Feralit: Phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, loại đất này diện tích khá lớn
Đất khu vực mô hình khoa Lâm Nghiệp là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu xám đen, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp do đã sử dụng nhiều năm Đất feralit, nguồn gốc của đất xuất phát từ đá sa thạch, độ
pH của đất thấp, đất nghèo mùn Đất có độ màu mỡ thấp nên cây con sinh trưởng và phát triển mức trung bình, đôi khi có cây phát triển kém [10]
2.2.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm nằm trong khu vực xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ các đặc điểm khí hậu của thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông Có 2 mùa chính: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau 2.3 Khái quát một số đặc điểm của 4 loài cây bản địa được chọn để nghiên cứu
Kế thừa các tài liệu nghiên cứu đã có của Viện Khoa học Lâm nghiệp cho thấy một số đặc điểm sinh thái học cơ bản của Kim Giao, Thông Tre, Vàng Tâm, Giổi như sau:
2.3.1 Kim Giao (Nageia fleuryi )
Kim Giao hay còn gọi kim giao núi đá (danh pháp khoa học Nageia
fleuryi) là một loài thực vật trong họ Podocarpaceae Một vài phân loại khoa
học khác trước đây xếp Kim giao vào các chi Podocarpus, Decussocarmus Đến năm 1987 thì người ta bắt đầu xếp loài này ở chi Nageia
2.3.1.1 Đặc điểm nhận biết
Cây gỗ nhỡ cao từ 15-25m Thân thường thẳng và tán cây hình tháp Các cành nhánh của cây thường mọc ngang và rủ xuống Vỏ thân cây màu
Trang 25nâu xám và thường bong mảng Lá cây thường có hình bầu dục hoặc mũi mác, đầu lá hình nhọn, đuôi lá hình nêm Hệ gân lá thuộc dạng đa gân, đặc trưng của thực vật chi Nageia Bề mặt phiến lá thường trơn bóng như chất liệu
da Lá đính đơn và đối xứng nhau qua cành Nón đực thường đính thành chùm 3-4, nón cái thường mọc đơn lẻ Quả hình trụ đường kính từ 1,5 - 2,5 cm [25]
2.3.1.3 Giá trị
Gỗ của Kim Giao có màu trắng sáng rất đẹp và bền (khác xa với gỗ của các loài thuộc chi Podocarpus hiện nay có màu vàng hơn) thường được dùng đóng đồ nội thất Người Á Đông có cả những kinh nghiệm truyền thống về việc dùng gỗ Kim giao để thử độc thực phẩm Lá Kim giao cũng được Đông y
sử dụng như là một phương thuốc chữa ho Tán và lá cây đẹp nên cây cũng được dùng nhiều cho kiến trúc cảnh quan, trồng ven đường, các công trình tôn giáo như đình chùa, nhà thờ, các công trình mang lối kiến trúc cổ Đông Á
2.3.1.4 Bảo tồn
Vì những sử dụng của gỗ Kim giao mà loài này đang bị đe dọa, nhất là tại Việt Nam Theo Viện điều tra quy hoạch rừng Việt Nam (1996) thì loài này hiện đang được bảo vệ nghiêm ngặt tại các khu rừng đặc dụng của Việt Nam
Trang 262.3.1.5 Nguy cấp: sắp bị đe dọa ( NT )
Hình 2.1: Cây Kim Giao trong vườn thực vật
2.3.2 Thông Tre (Podocarpus pilgeri)
Họ Thông Tre tên khoa học là Podocarpus pilgeri là một họ của thực
vật hạt trần Họ này ở Việt Nam xuất hiện nhiều với loài kim giao (thuộc chi nageia) nên trong văn bản người ta thường có thói quen gọi là họ Kim giao
Họ này có khoảng 18-19 chi với 170-200 loài
2.3.2.1 Đặc điểm nhận biết
Chủ yếu là các cây gỗ lớn, gỗ nhỡ, gỗ nhỏ, cây bụi Cành mọc gần vòng Lá hình trái xoan, hình dải, hình ngọn giáo, hoặc hình vảy, mọc xoắn ốc hoặc gần đối, thường vặn cuống và cùng với cành tạo thành mặt phẳng
Thường là nón đơn tính khác gốc Nón đực mọc lẻ hoặc mọc cụm ở nách lá gần đầu cành, nhị nhiều, xếp xoắn ốc, mỗi nhị mang 2 bao phấn Nón cái thường mọc lẻ ở nách lá gần đầu cành ngắn, lá noãn trên cùng mang 1 noãn đảo, các lá noãn khác tự teo ở dạng vảy hoặc dính lại thành đế mập Quả nón 1 hạt, dạng quả kiên hoặc quả hạch, hạt thường có vỏ giả khô hoặc mập bao bọc Các lá noãn phía dưới bật thụ tạo thành đế mập hoặc vảy lợp cuống quả Phôi có 2 lá mầm, nảy mầm trên đất [28]
Trang 272.3.2.2 Phân bố địa lý
Chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nam bán cầu
2.3.2.2 Nguy cấp : ít quan tâm (LC)
Hình 2.2: Cây Thông Tre trong vườn thực vật
2.3.3 Vàng Tâm (Magnolia fordiana)
Vàng Tâm, danh pháp hai phần: Magnolia fordiana (Hu, 1924), đồng nghĩa: Manglietia fordiana (Hemsl.) (Oliv., 1891) là một loài cây gỗ thuộc họ Mộc lan (Magnoliaceae)
2.3.3.1 Đặc điểm nhận biết
Cây gỗ thường xanh, cao 25–30 m, đường kính thân cây 70–80 cm Vỏ màu xám trắng, thịt vàng nhạt, dày 1 cm Cành non, lá non có lông tơ màu nâu Lá chất da, dày, hình mác - bầu dục dài, dày 5–17 cm, rộng 1,5-6,5 cm, đầu nhọn, gốc hình nêm, mép lá nguyên, cuống lá 1,4 cm, màu nâu đỏ Hoa lưỡng tính, mọc đơn độc ở đầu cành Cuống hoa dài 1–2 cm; bao hoa màu trắng; nhị nhiều; lá noãn nhiều, xếp xoắn ốc Mỗi lá noãn chứa 5 noãn Quả hình trứng hay tròn - trứng, dài 4-5,5 cm, gồm nhiều đại Phân quả đại chất thịt, màu
đỏ thẫm; lúc chín hóa gỗ, màu tím, ngoài có nhiều mụn lồi, đấu tròn hay có mũi
Trang 28nhọn nhỏ rất ngắn Mùa hoa tháng 3-5, mùa quả tháng 9-10 Tái sinh bằng hạt tốc độ tăng trưởng trung bình [26]
2.3.3.2 Đời sống và sinh thái :
Mọc rải rác trong rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới, ở độ cao
100 - 700m Cây trung tính, lúc nhỏ ưa bóng, ưa đất hơi chua, ẩm, màu mỡ và sinh trưởng tốc độ trung bình
Trang 292.3.4 Giổi (Magnolia hypolampra)
Giổi hay Giổi ăn quả, còn được gọi là quả Hồng bì (danh pháp khoa học Magnolia hypolampra) là một loài thực vật có hoa trong họ Magnoliaceae [27]
Trang 30Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng
Là 4 loài cây bản địa thuộc họ Thông tre (Podocarpaceae) và họ Mộc lan (Magnoliaceae) được chọn nghiên cứu trong mô hình vườn thực tập khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên:
1 Kim giao (Nageia fleuryi)
2 Thông tre (Podocarpus pilgeri)
3 Vàng tâm (Magnolia fordiana)
4 Giổi (Magnolia hypolampra)
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
Địa điểm: Mô hình khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thời gian: 01/2019 - 05/2019
3.3 Nội dung nghiên cứu:
+ Một số đặc điểm của 4 loài cây bản địa thuộc họ Thông Tre (Podocarpaceae) và họ Mộc Lan (Magnoliaceae) trông trong mô hình vườn thực tập Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Tguyên
+ Đánh giá sinh trưởng đường kính gốc của 4 loài cây bản địa trong họ thông tre (Podocarpaceae) và họ mộc lan (Magnoliaceae) trồng trong mô hình vườn thực tập Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Tguyên
+ Đánh giá sinh trưởng chiều cao vút ngọn của 4 loài cây bản địa trong
họ thông tre (Podocarpaceae) và họ mộc lan (Magnoliaceae) trông trong mô hình vườn thực tập Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Tguyên
+ Đánh giá sinh trưởng đường kính tán lá và sinh trưởng lá của 4 loài cây bản địa trong họ thông tre (Podocarpaceae) và họ mộc lan (Magnoliaceae) trồng trong mô hình vườn thực tập Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Tguyên
Trang 31+ Đánh giá đặc trưng của các nhóm sâu bệnh hại trồng trong mô hình vườn thực tập Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Tguyên
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển mô hình vườn thực tập Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Tguyên
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp luận
Sinh trưởng là sự biến đổi theo tuổi của các nhân tố điều tra, là sự tăng lên của một đại lượng nào đó nhờ kết quả đồng hóa của một vật sống Quá trình sinh trưởng của cây rừng nói riêng, các loài thực vật nói chung là kết quả tổng hợp của nhân tố nội tại và điều kiện ngoại cảnh, vì vậy nếu điều kiện ngoại cảnh đồng nhất thì nhân tố nội tại sẽ quyết định đến quá trình sinh trưởng và phát triển của mỗi loài cây Do đó trong cùng một loài cây ở một điều kiện ngoại cảnh khác nhau nó sẽ sinh trưởng khác nhau vì mỗi loại cây
có phạm vi phân bố về điều kiện ngoại cảnh (khí hậu, đất đai…) nhất định, nếu nằm trong phạm vi phân bố thì cây sinh trưởng phát triển tốt còn nếu xa phạm vi phân bố cây sinh trưởng phát triển kém
+ Trong toàn bộ đời sống của cây rừng, bản thân cây rừng chịu sự chi phối của môi trường quanh chúng Tiểu hoàn cảnh bao gồm tiểu khí hậu và đất Với đối tượng nghiên cứu là cây bản địa trồng trong mô hình nó chịu sự chi phối rất lớn của tiểu hoàn cảnh của các loài cây khác tạo ra Do vậy:
+ Khi nghiên cứu sinh trưởng của cây bản địa phải đặt trong tổng thể của sự tác động của các loài cây khác và các nhân tố hoàn cảnh khác, nghĩa là phải đánh giá cả hiện trạng của thảm thực vật và các nhân tố sinh thái khác
+ Để đánh giá được sinh trưởng của các loài cây trồng trong mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn, đề tài cần phải nắm rõ được các biện pháp kỹ thuật
đã áp dụng, trên cơ sở đó dựa vào các yếu tố môi trường xung quanh như đất đai, khí hậu, thảm thực bì để đánh giá ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố đó đến sinh trưởng của cây trồng Từ đó đề xuất được các biện pháp kỹ thuật tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn
Trang 323.4.2 Phương pháp nghiên cứu
3.4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trong quá trình điều tra số liệu để dễ dàng hơn cho việc thu thập và điều tra, đã sử dụng biện pháp gắn mã số thẻ cho từng cây, gắn biển cây cho mỗi hàng trong mô hình giúp việc thu thập số liệu tốt hơn
Đánh giá sinh trưởng đường kính gốc
Đường kính gốc (D0.0) được đo bằng thước kẹp cơ khí, đo theo 2 chiều Đông – Tây và Nam – Bắc rồi tính trị số bình quân
Đánh giá sinh trưởng chiều cao vút ngọn
Chiều cao vút ngọn (Hvn) được đo bằng thước dây, dùng bút xóa trắng
kẻ 1 đường làm mốc ở gốc cây làm chuẩn rồi dùng thước đo từ điểm chuẩn đến đỉnh ngọn sinh trưởng của cây
Đánh giá sinh trưởng đường kính tán lá
sinh trưởng đường kính tán lá của cây được đo bằng thước dây, đo hai chiều đông - tây và nam - bắc của tán lá, rồi tính trị số bình quân
Theo dõi tình hình sinh trưởng lá
Tiến hành theo dõi định kỳ, lá sau khi xuất hiện từ chồi lá 2 ngày thì tiến hành đo diện tích, mỗi loài theo giỏi 5 cây, mỗi cây theo dõi sinh trưởng của 5 lá, vị trí lá tiến hành theo dõi phải đại diện được phân bố đều trên cây (2
lá ở gốc tán, 2 lá ở giữa tán và 1 lá ở ngọn) Dùng giấy kẻ ô vuông (mỗi ô vuông trong giấy kẻ bằng 0,25cm2) áp vào mặt lá và vẽ phác họa lại lên lên bề mặt giấy để đo diện tích lá qua mỗi lần đo
Đánh giá tình hình sâu bệnh hại
Đối với bệnh hại lá: Tiến hành điều tra tất cả các cây thuộc đối tượng nghiên cứu Trong cây điều tra 5-6 cành (2 cành gốc tán 2 cành giữa tán và 2 cành ngọn ) Nếu số lượng lá quá lớn ta lấy mỗi cành 5-6 lá: 2 lá gốc cành, 2
lá giữa cành, 1-2 lá ngọn cành
Trang 33 Quá trình thu thập số liệu được chia làm 5 đợt, định kỳ 1 tháng đo 1 lần đó là:
∑d: Tổng số đo đường kính các cây
M: Tổng số cây
- Chiều cao trung bình của cây ở mỗi lần đo:
HvnTB = Trong đó: Hvn TB: Chiều cao trung bình của cây
∑h: Tổng số đo chiều cao các cây