1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy và chữa cháy rừng tại huyện

101 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy và chữa cháy rừng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Tác giả Lương Ngọc Sơn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Thái
Trường học Đại Học Thái Nguyên Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa thời tiết và độ ẩm vật liệu cháy nhằm phát triển một phương pháp dự báo mức độ nguy hiểm của lửa rừng đã được năm 1929 và xuất bản hệ thống bảng biểu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG NGỌC SƠN

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHÁY

VÀ CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN

LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

THÁI NGUYÊN, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG NGỌC SƠN

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHÁY

VÀ CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN

LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Thái

THÁI NGUYÊN, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm – Trường Đại học

Thái Nguyên theo chương trình Đào tạo Thạc sĩ Lâm nghiệp khóa học 2014 - 2015

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự

quan tâm, giúp đỡ của Khoa Sau đại học cũng như của các thầy giáo, cô giáo Khoa

Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Trường Đại học Thái Nguyên , Chi cu ̣c

Lâm nghiê ̣p tỉnh Yên Bái , Hạt kiểm lâm huyện Lục Yên Nhân dịp này tác giả xin

chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo

TS Nguyễn Văn Thái - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình

giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quí báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác

giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tác giả xin cảm ơn, Hạt kiểm lâm huyện Lục Yên đã tạo điều kiện về mọi

mặt để tôi có thể hoàn thành đề tài

Mặc dù đã cố gắng nhiều nhưng do điều kiện hạn chế về thời gian, kinh phí

và trình độ nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi kính

mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các thầy

giáo cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Lương Ngọc Sơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là

thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Lương ngọc Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

4.1 Ý nghĩa khoa học 4

4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.1.1 Nghiên cứu về bản chất của cháy rừng 6

1.1.1.2 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng 7

1.1.1.3 Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng 11

1.1.1.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng 12

1.1.1.5 Nghiên cứu về phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng 13

1.1.2 Ở Việt Nam 14

1.1.2.1 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng 14

1.1.2.2 Nghiên cứu về các công trình phòng cháy rừng 18

1.1.2.3 Nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng 20

1.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 24

1.2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới 24

1.2.1.2 Địa hình, địa thế 24

1.2.1.3 Khí hậu 25

1.2.1.4 Sông suối, thuỷ văn 26

1.2.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 28

1.2.2 Kinh tế - xã hội 28

1.2.2.1 Dân số, dân tộc, lao động 28

1.2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế 29

1.2.2.3 Cơ sở hạ tầng 32

Trang 6

1.2.3 Nhận xét và đánh giá chung 34

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Nội dung nghiên cứu 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp luận 36

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38

2.2.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu 38

2.2.2.2 Phương pháp điều tra thực địa 39

2.2.2.3 Phương pháp điều tra vật liệu cháy 40

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 41

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42

3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái42 3.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng huyện Lục Yên 42

3.1.2 Đặc điểm vật liệu cháy tại khu vực nghiên cứu 53

3.1.2.1 Thành phần và khối lượng vật liệu cháy dưới các trạng thái rừng 53

3.1.2.2 Độ ẩm tự nhiên của vật liệu cháy ở dưới các trạng thái rừng 55

3.2 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến cháy rừng trên địa bàn huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 57

3.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên 58

3.2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi ranh giới 58

3.2.1.2 Địa hình 58

3.2.1.3 Khí hậu, thuỷ văn 59

3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội 60

3.2.2.1 Đặc điểm về kinh tế 60

3.2.2.2 Phân bố dân cư, dân tộc, lao động 61

3.2.2.3 Yếu tố xã hội 61

3.3 Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa bàn huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 63

3.3.1 Bộ máy và công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ PCCCR 63

3.3.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng cháy 67

3.3.3 Các biện pháp phòng cháy rừng đã thực hiện 68

3.3.3.1 Về công tác tuyên truyền giáo dục 68

3.3.3.2 Công tác dự báo cháy rừng 69

3.3.3.3 Xác định các vùng trọng điểm cháy rừng 70

Trang 7

3.3.3.4 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 70

3.3.3.5 Trang thiết bị, công trình phòng cháy 70

3.3.3.6 Xây dựng, tổ chức lực lượng chữa cháy rừng 70

3.3.3.7 Về công tác tập huấn diễn tập PCCCR 71

3.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Lục Yên 71

3.4.1 Phân tích SWOT 71

3.4.1.1 Điểm mạnh 71

3.4.1.2 Điểm yếu 72

3.4.1.3 Cơ hội 72

3.4.1.4 Thách thức 73

3.4.2 Bài học kinh nghiệm 75

3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 77

3.5.1 Về công tác tổ chức 79

3.5.2 Về Thể chế 81

3.5.3 Tuyên truyền, tập huấn và diễn tập PCCCR 82

3.5.4 Xây dựng các công trình phòng cháy, trang thiết bị chữa cháy rừng 83

3.5.5 Giải pháp làm giảm vật liệu cháy bằng thủ công 84

3.5.6 Giải pháp xã hội hoá nghề rừng 84

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Tồn tại 88

3 Kiến nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

I Tài liệu tiếng Việt 89

II Tài liệu tiếng nước ngoài 90

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Phân cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ số I 8

Bảng 1.2 Phân cấp cường độ cháy theo Byram 9

Bảng 1.3 Phân cấp cháy rừng Thông theo chỉ tiêu P (Quảng Ninh) 15

Bảng 1.4 Chỉ số P mới sau khi đã nhân với hệ số gió 16

Bảng 1.5 Cấp cháy cho rừng Thông của Việt Nam (theo A N Cooper, 1991) 16

Bảng 3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng huyện Lục Yên 42

Bảng 3.2 Diện tích rừng trồng theo đơn vị hành chính xã và theo loài cây trồng 46

Bảng 3.3 Thành phần và khối lượng vật liệu cháy dưới các trạng thái rừng 54

Bảng 3.4 Độ ẩm tự nhiên của vật liệu cháy dưới một số trạng thái rừng 56

Bảng 3.5 Thống kê những nguyên nhân gây cháy rừng trên địa bàn nghiên cứu 62

Bảng 3.6 Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Ban chỉ đa ̣o cấp huyện 66

Bảng 3.7 Cơ cấu bộ máy điều hành của BCĐ cấp xã 66

Bảng 3.8 Các công việc ưu tiên và những biện pháp giảm thiểu tối đa số vụ cháy, thiệt hại do cháy rừng gây ra 78

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 37

Hình 3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng phòng hộ huyện Lục Yên 43

Hình 3.2 Hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng sản xuất huyện Lục Yên 44

Hình 3.3 Phân bố diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất huyện Lục Yên 44

Hình 3.4 Diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất phân theo đơn vị hành

chính xã 45

Hình 3.5 Phân bố diện tích các loài cây trồng rừng trên địa bàn nghiên cứu 47

Hình 3.6 Phân bố diện tích rừng Keo tai tượng theo đơn vị hành chính xã 48

Hình 3.7 Phân bố diện tích rừng Mỡ theo đơn vị hành chính xã 48

Hình 3.8: Phân bố diện tích rừng trồng Quế theo đơn vị hành chính xã 49

Hình 3.9 Thành phần và khối lượng vật liệu cháy dưới các trạng thái rừng 55

Hình 3.10 Độ ẩm tự nhiên của vật liệu cháy ở các trạng thái thảm thực vật 57

Hình 3.11 Sơ đồ Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng của huyện Lục Yên 65

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cháy rừng là một thảm họa thiên tai gây tổn thất to lớn, nhanh chóng về kinh tế

và môi trường sinh thái Nó tiêu diệt gần như toàn bộ các giống loài trong vùng bị cháy, thải vào khí quyển khối lượng lớn khói bụi cùng với những khí gây hiệu ứng nhà

tăng quá trình biến đổi khí hậu trái đất và các thiên tai hiện nay Ảnh hưởng của nó không những tác động đến một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến khu vực và toàn cầu Trong vài thập kỷ gần đây, biến đổi khí hậu với những đợt nắng nóng kéo dài, bất thường đã làm cho cháy rừng trở thành thảm họa ngày càng nghiêm trọng Mặc dù công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ngày càng hiện đại nhưng cháy rừng vẫn không ngừng xảy ra, thậm chí ngay cả ở những nước phát triển nhất Đấu tranh với cháy rừng đang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách của thế giới để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống

Ở Việt Nam mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ cháy thiêu hủy hàng ngàn ha rừng, gây thiệt hại lên đến hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái,… Theo báo cáo của Cục Kiểm Lâm từ năm 2005 - 2012, ở nước ta xảy ra 6.412 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 42.607 ha, hàng năm Nhà nước phải giành một nguồn kinh phí khá lớn cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) (chỉ tính riêng năm 2005, Cà Mau đã chi 6,5 tỷ đồng, Kiên Giang 2,4 tỷ đồng, Lâm Đồng 6 tỷ đồng, Gia Lai 1,4 tỷ đồng,…) [1], [8], [9] Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều vụ cháy rừng gây nhiều tổn thất lớn về kinh tế, môi trường Năm 2002, Vụ cháy rừng Tràm ở Vườn Quốc Gia U Minh Thượng và U Minh Hạ làm thiệt hại trên 5.200 ha rừng, chi phí cho công tác chữa cháy lên tới 7 - 8 tỷ đồng; năm 2007, tỉnh Yên Bái cháy 643 ha rừng, Lân Cận cháy

230 ha,… Chỉ tính riêng đến tháng 3 năm 2007, cả nước bị cháy 512 ha, trong đó có 237

ha rừng trồng phòng hộ Hiện nay, nước ta có hơn 333.000 ha rừng dễ cháy và rất dễ cháy thuộc 114 vùng trọng điểm, trong đó có 35.000 ha là rừng trồng [9]

Rừng là một nguồn tài nguyên quan trọng đối với Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào trên thế giới, là nguồn sống của người dân và có vai trò quan trọng đối với

Trang 12

nền kinh tế và môi trường sinh thái: giữ đất, giữ nước, chống xói mòn rửa trôi, Bảo

vệ nguồn nước cho sinh hoạt, cho các hoạt động công nghiệp, tạo không khí trong lành cho sự sống của con người, góp phần hạn chế thiên tai lũ lụt, Rừng cung cấp nguyên, vật liệu cho các ngành: chế biến lâm sản, ngành xây dựng, công nghiệp khai thác than, hoạt động du lịch, cung cấp các lâm sản quý Đặc biệt rừng có vai trò quan trọng trong chiến lược thế trận quốc phòng toàn dân góp phần đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Vì vậy, cháy rừng với quy mô và mức độ thiệt hại nghiêm trọng đã trở thành mối quan tâm không chỉ của những người làm lâm nghiệp hay những người sống gần rừng, có cuộc sống gắn bó với rừng mà của cả những nhà khoa học, những nhà quản lý của nhiều ngành nhiều cấp và toàn xã hội Nhận thức được vấn đề đó, trong những thập kỷ qua Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác PCCCR

từ việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đến việc tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách về công tác PCCCR nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại

do cháy rừng gây ra

Huyện Lục Yên có tổng diện tích tự nhiên 80.898,36 ha, đất lâm nghiệp 49.716,90 ha trong đó rừng phòng hộ 12.885,3 ha, rừng sản xuất 36.831,6 ha, đất khác là 18.485,1 ha, đất sản xuất nông nghiệp 8.688,6 ha, tỷ lệ che phủ rừng năm

2013 đạt 66,4 % Đây cũng là nơi thường xảy ra cháy rừng, nguyên nhân chủ yếu là

do người dân tự ý mang lửa vào rừng, đốt nương làm rẫy, không tuân thủ quy trình PCCCR Theo thống kê từ năm 2005 trở lại đây trên địa bàn huyện Lục Yên xảy ra

29 vụ cháy rừng làm thiệt hại 30,05 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên bị cháy là 20,05

ha, rừng trồng cháy là 10,00 ha Có thể thấy số lượng các vụ cháy rừng ở huyện Lục Yên tuy không lớn nhưng mức độ ảnh hưởng và tác động rất lớn, đặc biệt là trong 3 năm gần đây Hiện nay, huyện Lục Yên đã chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật bảo vệ rừng, tổ chức ký cam kết thực hiện nội quy, quy chế PCCCR nâng cao nhận thức của người dân và chủ rừng Tuy nhiên, số vụ cháy rừng vẫn tiếp tục xảy ra

và có tính chất gia tăng trước tình hình biến đổi khí hậu khác thường, nguy cơ xảy ra cháy rừng tại các khu vực rừng giáp ranh giữa các huyện trong tỉnh , hiệu quả của công tác PCCCR chưa cao, do đó đã gây thiệt hại nhiều về tài nguyên rừng, kinh tế

và môi trường Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Nghiên cứu và đề xuất một số giải

Trang 13

pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy và chữa cháy rừng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái” đặt ra là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 Mục tiêu của đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trạng thái rừng điển hình (Ic, IIa, IIb, rừng Keo tai tượng 3 tuổi, rừng Mỡ 3 tuổi và rừng Quế 5 tuổi) tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

- Cháy rừng là một hiện tượng diễn ra phức tạp dưới ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố Nghiên cứu PCCCR có nhiều nội dung, đòi hỏi đầu tư công sức và kinh phí lớn Trong khuôn khổ luận văn này với những hạn chế nhất định về thời gian và điều kiện nghiên cứu đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu hiện trạng tài nguyên rừng và tình hình thực hiện các biện pháp PCCCR trên địa bàn huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Liên quan tới vâ ̣t liê ̣u cháy , đề tài chỉ giới hạn trong việc xác định khối lươ ̣ng thảm khô (vâ ̣t rơi ru ̣ng) và sinh khối cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng Đây là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng phương án PCCCR phù hợp, sát với tình hình thực tế ở địa phương

Trang 14

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

- Làm rõ được đặc điểm tài nguyên rừng và vật liệu cháy tại huyện L ục Yên, tỉnh Yên Bái

- Xác định được một số luận cứ khoa học (các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã

hô ̣i) cho viê ̣c đề xuất các giải pháp PCCCR ta ̣i huyê ̣n Lục Yên, tỉnh Yên Bái

4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề xuất đươ ̣c các giải pháp PCCCR cho huyê ̣n L ục Yên, tỉnh Yên Bái, trong đó xác đi ̣nh được các công viê ̣c ưu tiên và các giải pháp làm giảm nguy cơ cháy rừng

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cháy rừng là một hiện tượng phổ biến, thường xuyên xảy ra trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhiều khi nó là những thảm họa khôn lường, gây thiệt hại to lớn về người và tài nguyên rừng cũng như tài sản của người dân sống gần rừng, v.v Vì vậy, nghiên cứu phòng cháy chữa cháy rừng và giảm thiểu những thiệt hại do nó gây ra đã được đặt ra như một yêu cầu cấp bách của thực tiễn với hoạt động nghiên cứu khoa học Những nghiên cứu về PCCCR đã được tiến hành từ nghiên cứu định tính đến định lượng, nhằm tìm hiểu bản chất của hiện tượng cháy rừng và mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra cháy với nhau và với môi trường xung quanh, từ đó đề ra những giải ph9 áp PCCCR phù hợp Tuy nhiên, với sự phức tạp

và khác nhau về trạng thái rừng cũng như các điều kiện tự nhiên khác mà quy luật ảnh hưởng của các nhân tố đến cháy rừng và giải pháp PCCCR cũng không hoàn toàn giống nhau ở các địa phương

Vì vậy, mỗi khu vực, mỗi quốc gia thường phải tiến hành nghiên cứu trong điều kiện cụ thể của mình để xây dựng được những giải pháp PCCCR có hiệu quả nhất Có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như sau

1.1 Những nghiên cứu về phòng cháy chữa cháy rừng

PCCCR, phương pháp chữa cháy rừng, và phương tiện chữa cháy rừng

Trang 16

1.1.1.1 Nghiên cứu về bản chất của cháy rừng

Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, cháy rừng là hiện tượng ôxy hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt đồng thời của

3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy Tùy thuộc vào đặc điểm của các yếu

tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown A.A,1979; Chandler C., Cheney P., Thomas P., Trabaud L., Wiliams D., 1983) [24], [25] Vì vậy, về bản chất những biện pháp phòng cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy

Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau:

(1) - Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng: là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất;

(2) - Cháy tán rừng: là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác;

(3) - Cháy ngầm: là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn Trong một đám cháy rừng có thể xảy ra một hoặc đồng thời hai ba loại cháy trên và tùy theo loại cháy rừng mà người ta đưa

ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown A.A,1979; Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., Luke R.H.,1986; Timo V Heikkila; Roy Gronquist; Mike Jurvelius, 2007) [24], [27], [30], [33]

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế - xã

đám cháy Loại rừng ảnh hưởng tới tính chất vật lý, hóa học, khối lượng và phân bố của vật liệu cháy qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành và tốc độ lan tràn của đám cháy và hoạt động kinh tế - xã hội của con người như: sản xuất nương rẫy, săn bắn thú rừng và du lịch sinh thái,… đều có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và

Trang 17

phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy Phần lớn các biện pháp phòng cháy rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm 3 yếu tố trên trong hoàn cảnh

cụ thể ở địa phương (Laslo Pancel Ed, 1993; Richmond R.R, 1976) [29], [32]

1.1.1.2 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng

Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm vật liệu cháy và khả năng xuất hiện cháy rừng Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hằng ngày của lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí (Chandler C, 1983; MiBbach K, 1972) [25], [31] Ở một số nước khi dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR) ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng còn căn cứ vào một số yếu tố khác; chẳng hạn, ở Đức và Mỹ sử dụng thêm độ

ẩm của vật liệu cháy (Brown A.A, 1979), ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu trong đất và độ ẩm của vật liệu cháy, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió

khi sử dụng các yếu tố khí tượng để DBNCCR; chẳng hạn: ở Thụy Điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày; trong khi đó, ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (Brown A.A, 1979) [24]

Năm 1920, hệ thống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay,

nó đã được cải tiến tương đối hoàn chỉnh Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để dự báo khả năng cháy rừng cho các loại vật liệu cháy khác nhau trên cơ sở phân loại vật liệu cháy ra các nhóm chính và kết hợp quan sát điều kiện khí tượng, địa hình, độ

ẩm vật liệu cháy từ đó đưa ra mô hình dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và quy

mô đám cháy (Brown A.A, 1979) [24]

Ở Canada, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng được tiến hành từ những năm 20 của thế kỷ XX Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa thời tiết và độ ẩm vật liệu cháy nhằm phát triển một phương pháp dự báo mức độ nguy hiểm của lửa rừng đã được năm 1929 và xuất bản hệ thống bảng biểu đầu

Trang 18

tiên để dự báo mức độ nguy hiểm của lửa rừng cho Canada năm 1933 Hệ thống bảng biểu này được xây dựng dựa trên cơ sở kết quả của những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố thời tiết với độ ẩm của vật liệu cháy trong mùa cháy rngf và mức độ thiệt hại do lửa rừng gây nên Hệ thống đó đã được áp dụng ở một số nước như Tây Ban Nha, Mehico, Veneduela, Achentina, Chile, v.v [25]

Ở Australia, hiện đang tồn tại một số hệ thống xác định mức độ nguy hiểm của cháy rừng, nhưng hệ thống do Mc Arthur xây dựng (1966, 1979) được sử dụng phổ biến nhất Hệ thống này được xây dựng dựa trên số liệu thu thập qua nhiều lần đốt thử nghiệm các loại vật liệu cháy trong những điều kiện thời tiết khác nhau và

có kết hợp với kinh nghiệm thực tế

Ở Thụy Điển, công tác dự báo cháy rừng cũng dựa trên cơ sở các chỉ tiêu khí tượng, thông qua chỉ số Angstrom (I) [2], [25], cụ thể như sau:

I =

R +

Sau khi tính toán được chỉ số I theo công thức trên, tiến hành phân mức nguy

cơ cháy rừng theo các cấp như bảng 1.1 sau:

Bảng 1.1 Phân cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ số I

Phương pháp dự báo này không tính đến ảnh hưởng của các nhân tố khí tượng: nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí, lượng mưa, thời gian mưa và gió nên

Trang 19

chưa phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí với vật liệu cháy và ảnh hưởng đến cháy rừng

Tuy nhiên, đây là phương pháp đơn giản, dễ tính toán nên phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ số Angstrom vẫn được áp dụng rộng rãi ở Bồ Đào Nha và nhiều nước thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha

Nghiên cứu của Byram cho biết, khối lượng vật liệu cháy ảnh hưởng đến cường độ đám cháy biểu thị qua công thức (Trích theo Bế Minh Châu, 2001 [4]):

I =

H.W.R

(1.2)

600 Trong đó:

I - Cường độ cháy (KW/m);

H - Nhiệt lượng cháy của vật liệu cháy (KJ/kg);

W - Khối lượng vật liệu cháy có sẵn (tấn/ha);

R - Tốc độ cháy lan của ngọn lửa phía trước (m/phút)

Theo đó cường độ cháy được chia thành 4 cấp theo bảng 1.2 sau:

Bảng 1.2 Phân cấp cường độ cháy theo Byram

Trang 20

phương pháp dự báo cháy rừng thông qua chỉ tiêu tổng hợp P do V.G.Nesterov đưa

ra từ năm 1939 [25] Theo V.G.Nesterov, chỉ tiêu tổng hợp P là tổng của tích số giữa nhiệt độ không khí và độ chênh lệch bão hòa độ ẩm không khí lúc 13h (giờ địa phương) của tất cả những ngày không mưa hoặc có mưa dưới 3mm kể từ sau ngày mưa cuối cùng mà có lượng mưa lớn hơn 3mm

Ở Trung Quốc, phần lớn những nghiên cứu về dự báo cháy rừng được bắt đầu vào thập kỷ 60 và mới thật sự được chú trọng từ những năm 80, nhưng đến nay

đã đạt được những kết quả tốt Trên cơ sở tham khảo một số mô hình dự báo cháy rừng của Nga, Mỹ, Nhật Bản và một số nước khác, kết hợp với những nghiên cứu

cụ thể, các chuyên gia đã tiến hành lập biểu cấp cháy rừng cho từng địa phương dựa trên chỉ tiêu bén lửa và chỉ tiêu làn tràn [4] Đặc biệt để có cơ sở khoa học cho việc xác định cấp cháy rừng ở vùng Đông bắc Trung Quốc, Ju Ende cùng một số nhà khoa học khác đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy với các yếu tố khí tượng Vật liệu cháy được phân làm hai loại khô và tươi với các kích cỡ khác nhau Nghiên cứu được tiến hành ở một số loại hình rừng chủ yếu tại khu vực Đông bắc Các nhân tố khí tượng được nghiên cứu bao gồm: nhiệt

độ không khí, độ ẩm không khí, tốc độ gió, lượng mưa, số ngày không mưa và lượng bốc hơi Qua nghiên cứu các tác giả đi đến kết luận là hàm lượng nước của vật liệu cháy cỡ nhỏ (đường kính < 0,6 cm) có mối quan hệ chặt chẽ nhất với các nhân tố khí tượng và họ cho rằng để dự báo cấp nguy hiểm của cháy rừng, trước hết cần phải tiến hành dự báo độ ẩm của vật liệu cháy ở trong [4]

Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong đó có cả những yếu tố kinh tế - xã hội

và NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (Asian Biodiversity, 2001) [22]

Mặc dù, có những nét giống nhau nhưng đến nay, vẫn không có phương pháp DBNCCR chung cho cả thế giới mà ở mỗi quốc gia, thậm chí ở mỗi địa phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng Ngoài ra, vẫn còn rất

ít phương pháp DBNCCR có tính đến nhân tố kinh tế - xã hội và loại rừng Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả và hiệu lực của phòng cháy rừng (PCR) ngay cả ở những nước phát triển

Trang 21

Từ những năm thuộc thập kỷ 20 lĩnh vực dự báo cháy rừng đã có chuyển biến mạnh Các công trình nghiên cứu về phương pháp dự báo cháy rừng của nhiều nước

đã đưa ra được các thang cấp dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng trong mối quan hệ giữa độ ẩm vật liệu cháy với các yếu tố khí tượng có ảnh hưởng tới quá trình cháy Trong đó một số phương pháp đã được nghiên cứu để áp dụng cho từng loại rừng, từng loại vật liệu cháy cụ thể, đồng thời tính đến ảnh hưởng của yếu tố địa hình

Đặc biệt trong những năm gần đây, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các mô hình dự báo cháy rừng được đưa vào lập trình trên máy vi tính, việc

sử dụng chúng trở nên đơn giản và tiện lợi, góp phần dự báo cháy rừng nhanh chóng và hiệu quả cao hơn

1.1.1.3 Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng

Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng (Gronquist R et al., 1993) [27] Người ta đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng trên băng cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập để làm giảm nguy cơ cháy rừng Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở một số nước Châu Âu đã nghiên cứu và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng các băng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng trên đó có trồng các loài cây lá rộng; ở Nga đã thiết lập những băng cây xanh chịu lửa khép kín với kết cấu nhiều loài cây, tạo thành nhiều tầng để ngăn lửa cháy từ ngoài vào các khu rừng thông, bạch đàn, sồi,… Các nước khác tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công trình nhất vẫn là Đức, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Mỹ, Canada, Nhật Bản và Trung Quốc,… (Phạm Ngọc Hưng, 2001) [14]

Nhìn chung, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu hiệu quả của nhiều kiểu công trình phòng cháy rừng Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình đó Những thông số kỹ thuật đưa ra đều mang tính gợi ý và luôn được điều chỉnh theo ý kiến của các chuyên gia cho phù hợp với đặc điểm của mỗi loại rừng và điều kiện địa lý, vật lý địa phương

Trang 22

1.1.1.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng và chữa cháy rừng

Việc nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng người ta chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa:

(1)- Giảm nguồn lửa bằng nhiều cách: Tuyên truyền vận động không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn lửa sau khi dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy với phần rừng còn lại;

(2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy trong rừng hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lan tràn để cô lập đám cháy Các công trình nghiên cứu về đốt trước làm giảm vật liệu cháy đã được nhiều nước áp dụng ngay từ đầu thế kỷ XX Các nước tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công trình nhất là Đức, Mỹ, Nga, Canada và Trung Quốc,… Đối tượng rừng được đưa vào đốt trước làm giảm vật liệu có cả rừng tự nhiên và rừng trồng Thường các chủ rừng đốt theo đám ở những diện tích rừng có nhiều vật liệu cháy, có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa cháy, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng cháy lan đến khu rừng lân cận (Brown A.A,1979; Gronquist R et al., 1993; Mc Arthur A.G and Luke R.H.,1986) [24], [27], [30] Năm 1968, Stoddard - một trong những người đầu tiên đề xuất ý kiến đốt rừng có kế hoạch nhằm giảm nguy cơ cháy, tăng sản lượng gỗ và chim thú Năm

1968, Morris đã cho thấy, việc đốt cỏ gà Cynodon dadyion vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân có tác dụng như bón phân làm tăng sản lượng sinh khối Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, có một số nước đi đầu trong lĩnh vực lửa rừng của thế giới như: Australia, Mỹ, Nga, Canada, Indonexia, Thái Lan,… đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra được những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồng thuần loài có nguy cơ cháy cao Biện pháp đốt trước có điều khiển đã được sử dụng tương đối phổ biến và được coi là biện pháp quan trọng trong công tác quản lý lửa rừng ở những nước này Năm 1993, có một số tác giả người Phần Lan đã đưa ra các vấn đề về khối lượng, độ ẩm vật liệu cháy, thời tiết, diện tích, địa hình và các vấn đề về kinh phí, tổ chức lực lượng một cách khá toàn diện trong đốt trước có điều khiển cho các vùng rừng trọng điểm cháy dựa trên

Trang 23

nghiên cứu về đặc điểm nguồn vật liệu cháy và việc đốt thử trên những diện tích rộng lớn (Gronquist R et al., 1993) [27]

(3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với ôxy không khí (nước, đất, cát, hóa chất dập cháy v.v…)

Nhìn chung, các nghiên cứu về vấn đề này, thường được tiến hành nhiều ở các nước đang phát triển, như: Đức, Mỹ, Nga, Úc, Canada, Trung Quốc,… Còn các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu, áp dụng những công trình này, để phù hợp với điều kiện mỗi nước Vì vậy, cần có những nghiên cứu thực tế áp dụng cho công tác PCCCR ở mỗi quốc gia và mỗi địa phương

1.1.1.5 Nghiên cứu về phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng

Những năm gần đây các phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy

Các phương pháp dự báo đã được mô hình hóa và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của công tác dự báo Việc ứng dụng viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích dược những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khă năng xuất hiện cháy rừng và phát hiện sớm lửa rừng trên vùng rộng lớn Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh, báo địa phương và trung ương, vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v…

Những phương tiện dập tắt đám cháy rừng được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phương tiện cơ giới như cưa xăng, máy kéo, mát gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, náy phun bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa v.v…

Mặc dù các phương tiện chữa cháy rừng đã được nghiên cứu và phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng cháy, chữa cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc,

Trang 24

Nga,… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả

Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng (Cooper, 1991) [26] Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu được tập chung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, hình phạt dối với người gây cháy rừng Trong thực tế còn ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, nhận thức và kiến thức của người dân đến cháy rừng Cũng còn rất ít nghiên cứu về nguyên nhân cháy rừng do hậu quả sinh thái của sự phát triển kinh tế

xã hội gây nên, về những giải pháp lồng ghép hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng với hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường khác Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng

1.1.2 Ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng

Những nghiên cứu về dự báo cháy rừng ở nước ta bắt đầu được tiến hành từ năm

1981 và chủ yếu theo hướng nghiên cứu áp dụng phương pháp dự báo theo tiêu chí tổng hợp của V.G.Nesterov (Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng, 1988) [10] Đây là phương pháp đơn giản, cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị khí tượng tổng hợp (P) bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13 giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm Theo kết quả nghiên cứu Phạm Ngọc Hưng (1988) [13] cho thấy, phương pháp của V.G Nesteror có độ chính xác cao hơn nếu tính giá trị P kể

từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm Trên cơ sở nghiên cứu cải tiến hệ số điều chỉnh K theo lượng mưa ngày a để tính toán và xây dựng cấp dự báo cháy rừng Thông cho tỉnh Quảng Ninh với công thức như sau:

Trong đó:

P: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng;

Trang 25

ti: Nhiệt độ không khí lúc 13h (0C);

di: Độ chênh lệch bão hòa độ ẩm không khí lúc 13h (mb);

n: Số ngày không mưa hoặc mưa < 5mm;

k: Hệ số điều chỉnh theo lượng mưa ngày a, k có hai giá trị:

k = 0 khi a ≥ 5mm;

k = 1 khi a < 5mm

Sau đó tác giả căn cứ vào số vụ cháy rừng thống kê trong nhiều năm để chỉnh lý phân cấp cháy rừng ở Quảng Ninh như sau:

Bảng 1.3 Phân cấp cháy rừng Thông theo chỉ tiêu P (Quảng Ninh)

Phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ tiêu tổng hợp hiện này đang được áp dụng rộng rãi trên quy mô cả nước

Ngoài ra, trên cơ sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục (H) (số ngày liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, tác giả Phạm Ngọc Hưng, (2004) [15] đã đưa ra phương pháp DBNCCR theo số ngày khô hạn liên tục với công thức nhau sau:

Trong đó: Hi – Số ngày khô hạn liên tục tính đến ngày dự báo;

Hi – 1 – Số ngày khô hạn liên tục tính đến trước ngày dự báo;

n – Số ngày liên tục không mưa hoặc mưa < 5mm của đợt dự báo;

K – Hệ số điều chỉnh theo lượng mưa ngày

Trang 26

Công thức (1.4) dùng để dự báo cháy rừng cho từng ngày, còn công thức (1.5) có thể dự báo cháy rừng cho nhiều ngày (thường trong khoảng 5 – 10 ngày)

đã lập sẵn cho địa phương trong 6 tháng mùa cháy

Từ năm 1989 đến 1991, tổ chức UNDP đã hỗ trợ Dự án tăng cường khả năng phòng cháy chữa cháy rừng cho Việt Nam A.N.Cooper, chuyên gia về đánh giá mức độ nguy hiểm cháy rừng của FAO đã cùng các chuyên gia Việt Nam nghiên cứu, soạn thảo phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ tiêu tổng hợp của V.G.Nesterov nhưng có bổ sung thêm yếu tố gió [4] A.N Cooper cho rằng, đối với nhiều vùng ở Việt Nam, gió có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của các đám cháy rừng Do vậy, ông đã đề nghị sử dụng phương pháp V.G.Nesterov nhưng cần phải tính tới tốc độ gió Tốc độ gió được đo vào thời điểm 13 giờ ở độ cao 10 – 12m so với mặt đất [26]

Sau khi tính chỉ tiêu P, tiến hành nhân thêm với hệ số gió như sau:

Bảng 1.4 Chỉ số P mới sau khi đã nhân với hệ số gió

Sau khi tính chỉ tiêu P thì giá trị P mới (Pm) áp dụng ở Việt Nam như sau:

Bảng 1.5 Cấp cháy cho rừng Thông của Việt Nam (theo A N Cooper, 1991)

màu

Yếu tố gió được đo vào lúc 13h hàng ngày ở độ cao 10m trên đỉnh đồi

Trang 27

Tuy nhiên, do đặc tính của gió là có thể thay đổi nhanh cả về hướng gió và tốc độ nên hệ số gió thường chỉ có thể có giá trị cao nhất 24 giờ kể từ khi đo tính Tuy vậy đến nay phương pháp này vẫn đang được thử nghiệm và nghiên cứu tiếp

Theo Võ Đình Tiến (1995) [20] đã đưa ra phương pháp DBNCCR cho từng tháng tại Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ không khí trung bình, lượng mưa trung bình, độ ẩm không khí, tốc độ gió, số vụ cháy rừng, lượng người vào rừng (tất cả đều lấy giá trị trung bình) Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy rừng cho từng tháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố kinh tế - xã hội liên quan đến nguy cơ cháy rừng (NCCR) Tuy nhiên, vì căn

cứ vào số liệu khí tượng trung bình năm nên cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi theo thời gian của lịch mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Vì vậy, nó mang ý nghĩa của phương pháp xác định mùa cháy nhiều hơn là DBNCCR Kết quả nghiên cứu Vương Văn Quỳnh (2005) [19] đưa ra phương pháp dự báo phát hiện sớm cháy rừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên Các kết quả cũng chỉ ứng dụng cho các khu vực nói trên, chưa được ứng dụng rộng rãi cho cả nước

Theo Bế Minh Châu (2001) [4] đã khẳng định phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa Trong những trường hợp này, thì mức độ lên hệ của chỉ tiêu tổng hợp P và chỉ số ngày khô hạn liên tục H với độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp Từ 1989 - 1991, dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho Việt Nam của UNDP, Cooper A N, (1991) [26] đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của V G Nesterop nhưng thêm yếu tố gió; chỉ tiêu P của V G Nesterop sẽ được nhân với hệ số là: 1.0, 1.5, 2.0 và 3.0, nếu tốc độ gió tương ứng là: 0 - 4, 5 - 15, 16 - 25 và trên 25 km/giờ Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu vẫn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm

Cho đến nay, trên cả nước có trên 50 tỉnh và đa phần các vườn Quốc gia đã xây dựng được cấp dự báo cháy rừng theo hướng tổng hợp, với hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là chỉ tiêu tổng hợp P áp dụng trong điều kiện của Việt Nam

và chỉ số ngày khô hạn liên tục H Việc phân chia cấp cháy và các hình thức huy

Trang 28

động lực lượng, phương tiện phòng và chữa cháy rừng theo mỗi cấp cháy một cách phù hợp cho từng tỉnh, từng khu vực là cần thiết Nhờ đó các địa phương có cơ sở

để tiến hành dự báo và chủ động trong công tác chữa cháy rừng

Nhìn chung, đến nay nghiên cứu về phương pháp DBNCCR ở Việt Nam còn

rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, kiểu rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và yếu tố kinh tế, xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng cho mỗi địa phương Ngoài ra, hiện vẫn chưa áp dụng được một cách hiệu quả kỹ thuật của tin học, viễn thám và các phương tiện truyền thông hiện đại vào dự báo, phát hiện sớm

và thông tin về cháy rừng

1.1.2.2 Nghiên cứu về các công trình phòng cháy rừng

Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình PCR; mặc

dù, trong các quy phạm PCR có đề cập đến tiêu chuẩn của các công trình phòng cháy như: đưa ra một số loài cây trồng sử dụng tạo băng xanh cản lửa phòng cháy, song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu nước ngoài và kinh nghiệm, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hưng, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão, 1992) [2]

Các công trình PCR ở nước ta chủ yếu xây dựng đường băng trắng và đường băng xanh cản lửa hạn chế cháy lan mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây rừng Theo Phạm Ngọc Hưng (2001) [14], đường băng xanh được trồng cùng với việc trồng rừng trong năm trên những diện tích rừng có độ dốc 25 độ Đối với đai cây xanh xung quanh các điểm dân cư, xung quanh những vùng đất sản xuất nông nghiệp,… nằm ở trong rừng và ven rừng Đai rừng phòng cháy có chiều rộng từ 20 - 30m, nếu xây dựng theo đường phân khoảnh thì chiều rộng đai rừng chỉ cần từ 15 - 20m là

đủ Thường những đường băng cản lửa lợi dụng những chướng ngại vật tự nhiên như: sông, suối, hồ nước, đường mòn, đường dông, những công trình nhân tạo (đường sắt, đường giao thông, đường điện cao thế, đường vận xuất, đường vận chuyển,…) để làm băng Trong những trường hợp này, đường băng thường chỉ xây dựng dọc theo hai bên đường bằng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, có bề

Trang 29

rộng từ 6 - 10m Những loài cây được giới thiệu đưa vào trồng thành băng hoặc đai xanh cản lửa tại nhiều địa phương ở nước ta như sau:

- Cây Tống quá sủ (Alnus nepalensis): Ưa khí hậu á nhiệt đới, thường trồng ở

vùng núi cao dọc theo biên giới Yên Bái, Lân Cận, Sơn La, Cao Bằng

- Cây Dứa bà (Agave americara): Chịu nước quanh năm, có khả năng ngăn

cháy lan mặt đất, có thể trồng rộng rãi nhiều nơi, như: Lâm Đồng, Quảng Ninh,…

- Cây Vối thuốc răng cưa (Schima superb Gardn et Champ): Cây cao, thân

thẳng, mọc nhanh tiên phong trên đồi trọc hoặc tái sinh sau nương rẫy,… phân bố nhiều ở miền Đông Bắc, cây có tác dụng ngăn lửa tốt cho rừng thông

- Cây Me rừng (Phyllanthus emblica L): Loại cây bụi, thân chứa nhiều nước,

mọc nhiều ở vùng đồi núi trọc nên có thể chọn làm đai vản lửa ở nơi đồi trọc

- Cây Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk): Cây bụi hoặc cây nhỏ, mọc phổ

biến ở đồi trọc, bãi hoang, nới rừng nghèo kiệt, phân bố vừng Bắc Bộ và Trung Bộ

- Cây Đỏ ngọn (Cratoxylon pruuolium Dyer): Cây cao cỡ 6 - 10m, vỏ khi già

xốp có nhiều vảy, có khả năng phòng cháy, cây thường gặp ở các tỉnh Lạng Sơn, Hà Bắc, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

- Cây Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.): Là loại cây nhỡ, mọc rải

rác trong rừng thứ sinh tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ

- Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild): Là loài cây có thể trồng ở hầu

hết khắp nơi trên nhiều loại đất; cây có tán khép kín, thường trồng ở đồi núi ở các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai,…

và có khả năng tạo ra đai xanh khép kín nhiều tầng, tẩng trên là Keo tai tượng, tầng dưới là 1 số ít cây bụi thường xanh, tạo nên môi trường râm ẩm, có khả năng ngăn ngừa lửa cháy lan từ ngoài vào rừng và ngăn cháy lướt trên ngọn cây rừng

- Một số loài cây trồng trên kênh mương tạo băng cản lửa ở rừng tràm vùng

đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Dứa (thơm), Dừa nước (Nypa fruticans Wurb), Chuối, Đào lộn hột (điều) (Anacardium occidentale L)

Trang 30

- Một số loài cây keo thuộc họ đậu mọc nhanh, xanh quanh năm, có tác dụng

cản lửa, tạo môi trường râm, ẩm, cải tạo đất tốt như: Keo dậu (Leacaena leucocepha

De wit.), Keo gai, Keo philippin,… dùng để trồng đai cây xanh ở vùng đồi núi và vừng rừng Tràm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, miền Bắc rất tốt

1.1.2.3 Nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng

Biện pháp KTLS là một trong những yêu cầu bắt buộc ngay khi tiến hành quy hoạch, thiết kế trồng rừng và trong suốt quá trình kinh doanh lợi dụng rừng Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng (KTLSPCR) chủ yếu hướng vào:

(1) - Trồng rừng hỗn giao nhiều loài để hạn chế thực bì là tầng cây bụi và lớp thảm tươi sinh trưởng và phát triển Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số ít các loài cây như: Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa,… Gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, các tác giả đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như: Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn urophylla, Thông caribe,… Các công trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến là nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm nhiều Cụ thể:

Theo Phùng Ngọc Lan (1991) [16] đã gây trồng rừng trồng hỗn giao Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm, Bạch đàn trắng ở Núi Luốt - Xuân Mai Theo Nguyễn Hữu Vĩnh và cs., (1994) [21] đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn giao giữa loài Bạch đàn trắng và Keo lá tràm, có kết luận: Keo lá tràm và Bạch đàn trắng là cây ưa sáng ngay từ khi mới trồng, sinh trưởng nhanh; song mức độ ưa sáng, tốc độ sinh trưởng và các đặc tính sinh vật học khác nhau của chúng không giống nhau; Keo lá tràm là cây họ đậu, hệ rễ có nhiều nốt sần, do đó bước đầu có thể khẳng định cây Bạch đàn trắng và cây Keo lá tràm có thể trồng hỗn giao với nhau; đến năm thứ 3, phương pháp hỗn giao cách tổ trong hang làm cho các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Keo lá tràm và cây Bạch đàn tốt hơn phương pháp hỗn giao với các loài khác

Trang 31

Theo kết quả nghiên cứu Trần Nguyên Giảng (1985) [12] thí nghiệm trồng rừng hỗn giao trên đối tượng đất trống, trọc sau khí phá rừng để trồng cây lương thực, đất phát triển trên nền đá vôi; thực bì gồm cỏ là xen cỏ tranh, lau, găng gai,… Tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm với mật độ 3.300 cây/ha làm áo che phủ; khi keo được 2 tuổi, tác giả đã đưa vào trồng 10 loài cây lá rộng bản địa là: Lát hoa, Sấu, Nhội, Giổi, Kim giao, Trám trắng, Gội trắng, Muồng đỏ, Lim xẹt và giữa hai hàng keo theo phương pháp hỗn giao các loài theo hàng, cự ly 2m x 2m

Trong thời gian qua, các loài cây bản địa được trồng nhiều và đã được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu đến Theo Nguyễn Bá Chất (1994) [3] nghiên cứu cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng của Chính phủ Trong thời gian qua, nhiều tác giả đã nghiên cứu và thử nghiệm trồng rừng hỗn giao ở nhiều vùng bằng nhiều loài cây với phương thức trồng khác nhau Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được

áp dụng vào thực tiễn sản xuất; mặt khác, việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phương thức trồng và thời điểm hỗn giao cũng rất phức tạp Việc gây tạo rừng hỗn giao là mong muốn của nhiều nhà lâm học đã và đang nỗ lực nghiên cứu thí nghiệm tạo ra các lâm phần hài hòa, ổn định, bền vững về sinh thái và có giá trị cao về kinh tế

(2) - Đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy trong rừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa khô, nhưng có sự điều khiển của con người để không gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của lửa gây ra Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa được áp dụng phổ biến rộng rãi ở nước ta Việc tiến hành đốt trước khá phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng, phương tiện dập lửa (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002) [5]

Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu thử nghiệm về biện pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy Cụ thể:

Trang 32

Năm 1986, Bộ Lâm Nghiệp nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn

đã đưa ra quy định tạm thời về điều kiện đốt trước vật liệu cháy có điều khiển dưới tán rừng thông Các vấn đề cần chú ý trước khi tiến hành đốt trước vật liệu cháy rừng được đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về lửa rừng Việt Nam Vì vậy, vẫn còn một số hạn chế như một số nghiên cứu nêu trên

Theo Phó Đức Đỉnh (1996) [11] cho rằng, rừng Thông non nhất thiết phải phát, gom vật liệu cháy ra băng chừa hay ô trống trong lô, cách xa gốc trên 0,8m, giập đống vật liệu cháy sát mặt đất để đốt Đốt vào đầu mùa khô (tháng 10, 11, 12

và tháng 1 năm sau), thời gian đốt trong ngày từ 8 – 10 giờ và sau 17 giờ trong điều kiện độ ẩm không khí cao, trời nhiều mây (cấp cháy rừng I, II và III) Không đợi vật liệu cháy khô hẳn rồi mới đốt mà khô đến đâu đốt đến đó, đốt nhiều lần, ít nhất 2 –

3 lần với ngọn lửa cháy âm ỉ, chiều cao ngọn lửa không quá 0,5m, vật liệu cháy còn lại 1 – 3 tấn/ha Ở Lâm Đồng, biện pháp đốt trước vật liệu cháy đã được xây dựng thành qui trình đốt trước có điều khiển cho rừng Thông ba lá tuổi non Tuy nhiên, việc đốt trước vật liệu cháy ở Lâm Đồng trong thự tế còn nhiều tồn tại như cây bị cháy xém lớn, ảnh hưởng đến tỷ lệ cây sống và sinh trưởng của cây rừng

Theo Phan Thanh Ngọ (1996) [18] đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới tán rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt (Lâm Đồng); tác giả cho rằng, với rừng thông lớn tuổi không cần phải thu gom vật liệu cháy trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt và có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số loại rừng ở địa phương khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắk và Gia Lai

Theo Thái Thành Lượm (1996) [17] cho biết, đối với rừng Tràm, PCCCR là một biện pháp rất quan trọng và khó khăn nhất trong công tác bảo vệ và quản lý lửa rừng Qua nhiều năm theo dõi cho thấy, nếu rừng Tràm bị cháy, nhưng sau đó nhiều năm không bị tác động xấu (cháy lại, chặt phá, v.v ) thì rừng Tràm có thể phục hồi lại Từ thực tế này, tác giả cho rằng có thể áp dụng lửa rừng có điều kiện để thúc đẩy cây Tràm tái sinh Cụ thể là: Khai thác có chọn lọc, chừa cây mẹ gieo giống, có

độ tàn che 0,3 – 0,5 theo đúng yêu cầu kỹ thuật, sau đó áp dụng biện pháp đốt trước

có điều khiển đúng thời điểm (khoảng tháng 1 – 3) nhằm giảm độ che phủ, tạo ra

Trang 33

lớp tro trên mặt đất làm cho hạt giống nảy mầm tốt, hình thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng Khi lớp cây tái sinh phát triển ổn định, tiến hành khai thác cây mẹ để lại

Qua thực tiễn hoạt động và đức kết kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực lửa rừng trong thời gian từ năm 2001 - 2004, Phạm Ngọc Hưng và Bế Minh Châu đã tiến hành đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) ở Việt Nam, từ việc tham khảo các công trình nghiên cứu đã được áp dụng trên thế giới và trong nước Các tác giả đã cho rằng, một trong những biện pháp PCR quan trọng là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng biện pháp đốt trước có điều khiển Trên cơ sở đó, tác giả đã tổng hợp các vấn đề liên quan và cách tiến hành đốt trước vật liệu cháy áp dụng cho Việt Nam một cách khá toàn diện Tuy nhiên, do đặc điểm khí hậu của các khu vực rất khác nhau nên việc áp dụng các kết quả này vẫn còn nhiều hạn chế

Vương Văn Quỳnh (2005) [19], mùa đốt trước ở Tây Nguyên bắt đầu vào giữa tháng 1 và kết thúc vào giữa tháng 2 hàng năm Vật liệu cháy còn lại sau khi đốt từ 30 – 50% vì lúc này vật liệu cháy còn nhiều nước, khó cháy, ngọn lửa cháy chậm, dễ bị tắt ở nơi vật liệu cháy còn ẩm hơn hay ở nơi ít vật liệu hơn Thời điểm đốt trước khết thúc trước 9 giờ và bắt đầu sau 18 giờ hàng ngày, khi độ ẩm vật liệu cháy ở rừng trồng 30 – 50%, rừng khộp 20 – 25% Khi tiến hành đốt trước nhất thiết phải phát vật liệu cháy và thu gom vật liệu cháy vào giữa các hàng cây, cách xa gốc tối thiểu 2 lần chiều cao ngọn lửa Việc đốt trước với rừng mới trồng được tiến hành qua các bước sau: Cắt và làm khô cỏ ở giữa những hàng cây trồng, đốt cỏ lần một

và đốt cỏ lần hai Sau hai lần đốt, phần lớn gốc cỏ cùng với chồi mới mọc của chúng ở băng trống đã bị cháy, tạo thành băng, ngăn sự lan tràn của các đám cháy

có thể hình thành trong thời kỳ có nguy cơ cháy cao Những ô cỏ tươi không bị cắt

có tác dụng che chở cho cây trồng Ngọn lửa do đốt trước tạo ra làm cho chúng bị cháy táp một phần và không còn vật liệu cháy nguy hiểm để tạo thành đám cháy lớn trong thời kỳ có nguy cơ cháy rừng cao

Theo Nguyễn Đình Thành (2010), khi nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm giảm thiểu nguy cơ cháy rừng trồng ở Bình Định cho thấy, mô hình

áp dụng biện pháp đốt trước có hiệu quả tổng hợp cao hơn mô hình áp dụng biện

Trang 34

pháp vệ sinh rừng, tuy nhiên mức độ cao không đáng kể Vì vậy, khi áp dụng cần phải xem xét cụ thể chức năng và mục đích sử dụng rừng để chọn biện pháp thích hợp (Trích theo Bế Minh Châu, 2011 [7])

Có thể nói rằng, những công trình nghiên cứu về biện pháp PCR ở nước ta có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước nguồn vật liệu cháy dưới tán rừng của các tác giả cho đối tượng rừng thông ở Tây Nguyên và rừng Tràm ở vùng Tứ giác Long Xuyên là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả của đốt trước vật liệu cháy để giảm nguy cơ cháy rừng cũng như lượng hóa các tác động của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng trồng Vì vậy, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao

1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

1.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới

Huyện Lục Yên nằm ở phía đông bắc tỉnh Yên Bái, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Yên Bái 93 km Tổng diện tích tự nhiên là 80.898,36 ha, bằng 11,7 % diện tích tự nhiên của tỉnh, gồm 24 đơn vị hành chính xã, thị trấn Độ cao trung bình

+ Phía Đông giáp huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

+ Phía Tây giáp huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

+ Phía Nam giáp huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

1.2.1.2 Địa hình, địa thế

Nhìn chung, địa hình khá phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi nhiều sông suối lớn tạo thành các kiểu địa hình khác nhau:

Trang 35

Trên địa bàn huyện Lục Yên có hai dãy núi chính chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hữu ngạn sông Chảy là dãy Con Voi có độ cao trung bình là 300 - 400

, bề mặt địa hình núi bị các khe suối chia cắt thành các thung lũng nhỏ, bồn địa bằng phẳng là nơi dân cư tập trung sản xuất và sinh sống từ lâu đời

Phía tả ngạn sông Chảy là dãy núi đá lớn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ cao trung bình là 935m, đỉnh cao nhất có độ cao là 1.035m, độ dốc lớn,

, rất hiểm trở, hầu hết được bao phủ bởi rừng tự nhiên

Giữa hai dãy núi là thung lũng sông Chảy với các cánh đồng phì nhiêu và hồ Thác Bà trong ranh giới huyện Lục Yên rộng trên 4.500 ha

vẫn chiếm trên 53% tổng diện tích tự nhiên nên mức độ khai thác lãnh thổ khá thuận tiện

Tóm lại, với địa hình chủ yếu là đất đồi núi bị chia cắt mạnh tạo nên các tiểu

vùng, đã ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là với

hệ thống cơ sở hạ tầng và phân bố dân cư Do đó việc xác định khối lượng, tiến độ,

cơ cấu loài cây, nguồn vốn, định mức đầu tư cũng phải sát với thực tế, mà cơ sở là các đơn vị hành chính xã phân theo tiểu vùng sinh thái

1.2.1.3 Khí hậu

Huyện Lục Yên nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm

Thời gian chiếu sáng của mặt trời dao động trong ngày từ 10 - 12 giờ, tổng

Lượng mưa trung bình năm tương đối lớn từ 1.500 - 2.200 mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình các năm 1.867,6 mm/năm

Trang 36

Lượng nước bốc hơi cả năm là 629 mm Hệ số ẩm ướt trung bình K = 3,4 thuộc vùng có độ ẩm cao

Nhìn chung, với tổng số giờ nắng và lượng mưa tương đối lớn, chế độ nhiệt

phong phú, khí hậu Lục Yên thích hợp với nhiều loài thực vật, trong đó có nhiều loài cây trồng lâm nghiệp đạt suất tăng trưởng hàng năm khá cao Ngành lâm nghiệp có thể phát huy lợi thế đó để tổ chức sản xuất hợp lý theo từng tiểu vùng khí hậu, bên cạnh đó cần chú ý những yếu tố bất lợi về thời tiết, khí hậu để hạn chế những rủi ro trong sản xuất và xác định thời vụ trồng rừng chính cho phù hợp để thực hiện đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế cao

1.2.1.4 Sông suối, thuỷ văn

Hệ thống sông Chảy là hệ thống sông chủ yếu trên địa bàn huyện, mật độ

nhiều chi lưu lớn như ngòi Trúc Lâu, ngòi Vàn, ngòi Đại Cại, ngòi Biệc

Hồ Thác Bà trên địa bàn huyện là hồ lớn đem lại nhiều lợi ích kinh tế, trong

đó có tiềm năng du lịch Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có 153 hồ thuỷ lợi lớn nhỏ khác phục vụ tưới cho 1.487/2.520 ha đất canh tác nông nghiệp của huyện và phục

vụ các nhu cầu dân sinh kinh tế khác

1.2.1.5 Đặc điểm địa chất, đất đai

a) Địa chất

Theo tài liệu Địa chất miền Bắc Việt Nam, nền địa chất huyện Lục Yên có lịch sử nguồn gốc kiến tạo cuối kỷ Palacosoic, đầu kỷ Mesozoic Địa hình kiến tạo chịu nhiều ảnh hưởng của hoạt động tạo sơn Indexin ở kỷ Triat thuộc đại trung sinh Núi đá vôi trên địa bàn huyện có tuổi địa chất trẻ ( Kỷ đệ tam ), quá trình bào mòn địa chất tự nhiên không mạnh mẽ

Đá mẹ: Đá mẹ trên địa bàn huyện có 3 nhóm chính:

- Đá trầm tích mà đá vôi, Phiến thạch sét, Sa thạch, Đá diệp thạch, Quazt, Cuội sỏi kết là đại diện cơ bản

Trang 37

- Đá Mácma axít (Macma silic), với các loại phổ biến như Granit, Gnai, Amphibolit, Đá hoa cương, Sa thạch thối,…

- Đá biến chất với nhiều loại khác nhau như: Đá sét, Phấn sa, Filit…nhưng không nhiều

Sự đa dạng về đá mẹ đã tạo ra nhiều loại đá quý và nhiều loại đất với nhiều chủng loại khác nhau

b) Đặc điểm một số loại đất chính

- Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng những năm 1972 và 1989 Huyện Lục Yên

có các loại đất đều có nguồn gốc Feralít gồm nhóm đất đỏ vàng chiếm 73% diện tích đất tự nhiên, đặc điểm loại đất này là hàm lượng đạm và mùn thấp Trong đó:

+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất và sét, diện tích chiếm khoảng 12,5%, loại đất này có tỷ lệ đạm, mùn trung bình, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình và nặng, có khả năng phát triển nông lâm nghiệp và chăn nuôi

+ Đất Feralít (Biến đổi do canh tác) loại đất này chiếm khoảng 8% có thành phần cơ giới nhẹ rẽ bị rửa trôi, nghèo đạm

+ Các loại đất khác chiếm khoảng 7% có tầng dầy trung bình có khả năng phát triển các cây lương thực, thực phẩm

Nhìn chung đất trên địa bàn huyện là cát pha tới sét nhẹ, có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, kết cấu viên nhỏ và có độ mùn từ trung bình đến khá, tơi xốp, có độ

ẩm cao còn tính chất đất rừng, rất thuận lợi cho quá trình phát triển và phục hồi rừng

Nhận xét: Điều kiện lập địa huyện Lục yên khá đa dạng, phong phú, phân bố trên nhiều kiểu khí hậu, địa hình khác nhau rất thích hợp cho việc sản xuất nông - lâm nghiệp đặc biệt là xây dựng hệ thống rừng sản xuất (nguyên liệu cho công nghiệp chế biến) ở khu vực đồi và núi thấp, rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng đặc dụng (ở khu vực núi trung bình và núi cao), làm cơ sở xác định đối tượng ưu tiên đầu tư, khuyến khích đầu tư góp phần phát triển kinh tế của ngành nói riêng và của huyện nói chung

Trang 38

1.2.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên

- Diện tích rừng lớn, đặc biệt là rừng tre nứa tự nhiên và rừng trồng là nguồn cung cấp nguyên liệu dồi dào cho các ngành công nghiệp trong và ngoài huyện

b) Khó khăn

- Địa hình chia cắt, độ dốc lớn là một yếu tố bất lợi cho sản xuất lâm nghiệp

và đời sống của nhân dân miền núi

- Vị trí của huyện nằm sâu trong nội địa, xa các cảng biển, xa cửa khẩu nên việc lưu thông hàng hoá, thu hút vốn đầu tư bên ngoài gặp nhiều khó khăn

Như vậy: Từ những yếu tố tự nhiên thuận lợi, khó khăn nêu trên để đầu tư

hiệu quả cần ưu tiên đầu tư vào vệ toàn bộ diện tích rừng hiện có, phát triển rừng sản xuất tập trung, rừng nguyên liệu bằng các loài cây tiến bộ kỹ thuật như keo lại, keo nhập nội và các loài cây đặc sản như quế, mỡ ở các xã vùng thấp

Đầu tư khoanh nuôi gắn với làm giầu rừng cho đối tượng là rừng tự nhiên nghèo kiệt còn khả năng phục hồi; Trồng rừng phòng hộ bằng các loài cây bản địa

có giá trị kinh tế cao (Quế, mỡ, lát, giổi, chỏ chỉ ) trồng rừng và khoanh nôi rừng

ở các xã vùng cao của huyện

1.2.2 Kinh tế - xã hội

1.2.2.1 Dân số, dân tộc, lao động

- Dân số: Dân số toàn huyện năm 2014 là 106.822 người Mật độ dân số bình

Trang 39

- Dân tộc: Lục Yên có 16 dân tộc anh em trong đó dân tộc Tày chiếm 53,3%, Kinh 21,2%, Nùng 10,4%, còn lại là các dân tộc khác

- Lao động: Năm 2011, số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân là 61.371 người, chiếm 58,8% dân số; năm 2012 là 63.800 người chiếm 60,5% dân số; năm 2013 là 64.500 người chiếm 60,6% dân số; năm

2014 là 69.600 người chiếm 60,7% dân số Hàng năm tạo việc làm mới cho khoảng 3.000 người từ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội

1.2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế

* Thực trạng phát triển kinh tế chung

- Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2011 - 2015 đạt 16,7% Trong đó: Ngành Nông lâm nghiệp: 5,7%; Ngành Công nghiệp – Xây dựng: 20,8%; Ngành Dịch vụ: 20,8% Cụ thể kết quả thực hiện qua các năm như sau:

+ Năm 2011 đạt 16,7% (Nông lâm ngư nghiệp: 5,8%; Công nghiệp, xây dựng: 25,3; Dịch vụ: 22,0%);

+ Năm 2012 đạt 17,1% (Nông lâm ngư nghiệp: 6,0%; Công nghiệp, xây dựng: 22,3; Dịch vụ: 21,4%);

+ Năm 2013 đạt 16,8% (Nông lâm ngư nghiệp: 5,7%; Công nghiệp, xây dựng: 20,8; Dịch vụ: 21,5%);

+ Năm 2014 đạt 16,4% (Nông lâm ngư nghiệp: 5,5%; Công nghiệp, xây dựng: 19,3; Dịch vụ: 21,2%);

+ Năm 2015 ước đạt 16,1% (Nông lâm ngư nghiệp: 5,5%; Công nghiệp, xây dựng: 20,2; Dịch vụ: 17,70%);

Như vậy, so với mục tiêu đã đề ra tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 -

2015 đạt và vượt mục tiêu kế hoạch đã đề ra, một trong những nguyên nhân tác động đến tốc độ tăng trưởng đó là tổng vốn đầu tư toàn xã hội được huy động cao hơn mức dự kiến, các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng, số lượng và chất lượng nguồn lao động được nâng lên, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn luôn được chú trọng phát triển Tuy nhiên, tốc độ

Trang 40

tăng trưởng trong những năm qua chưa thực sự bền vững, yếu tố chính tác động đến tăng trưởng kinh tế là tổng mức đầu tư và chủ yếu là đầu tư từ bên ngoài Sự tác động của việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, việc phát triển các ngành, hàng có thế mạnh chưa mạnh và chưa thực sự rõ nét

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ (tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp giảm 16,4%, ngành công nghiệp - xây dựng tăng 16,1%, ngành thương mại - dịch vụ tăng 0,3% so với năm 2010)

* Thực trạng phát triển các ngành

a) Ngành Nông lâm nghiệp

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp (tính theo giá so sánh 2010) năm 2011 đạt

593 tỷ đồng, năm 2012 đạt 628,5 tỷ đồng, năm 2013 đạt 665 tỷ đồng, năm 2014 đạt 702,2 tỷ đồng, dự kiến năm 2015 đạt 740 tỷ đồng

Trong sản xuất nông lâm nghiệp cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch tích cực, giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi và lâm, ngư nghiệp Các vùng sản xuất tập trung dần được hình thành, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã được nhân dân quan tâm Các cây, con có giá trị kinh tế đã được người dân đầu tư phát triển Xu hướng phát triển sản xuất, chăn nuôi theo hướng hàng hoá và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đã được người dân quan tâm

Tuy nhiên, do điều kiện địa hình miền núi nên việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn còn gặp nhiều khó khăn; Năng suất lao động nhìn chung còn thấp, trình độ lao động nông lâm nghiệp cũng còn nhiều hạn chế; Năng suất, chất lượng sản phẩm đã có nhiều tiến bộ, song việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa được áp dụng sâu rộng, nhiều địa phương chưa thay đổi được tập quán sản xuất, chăn nuôi kiểu cũ, vì vậy năng suất chất lượng sản phẩm còn thấp, nhiều sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Việc phát triển các cây, con có giá trị kinh tế cao đã được người dân tiếp cận và hưởng ứng, song thực tế việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là

về vốn, kỹ thuật và khả năng tiếp cận của người dân còn hạn chế

Ngày đăng: 20/04/2021, 19:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010), Báo cao tổng kết công tác phòng cháy chữa cháy rừng từ 2005 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cao tổng kết công tác phòng cháy chữa cháy rừng từ 2005 - 2010
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2010
2. Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hƣng, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (1992), Quản lý bảo vệ rừng I, II, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý bảo vệ rừng I, II
Tác giả: Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hƣng, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1992
3. Nguyễn Bá Chất (1994), “Những nguyên tắc trồng rừng hỗn loài”, Tạp chí Lâm nghiệp, 1994 (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những nguyên tắc trồng rừng hỗn loài”, Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Bá Chất
Năm: 1994
5. Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa (2002), Lửa rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lửa rừng
Tác giả: Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Bế Minh Châu, Vương Văn Quỳnh (2008), Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp dự báo và phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp ngành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp dự báo và phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam
Tác giả: Bế Minh Châu, Vương Văn Quỳnh
Năm: 2008
7. Bế Minh Châu (2011), “Nghiên cứu khả năng áp dụng một số phương pháp xác định độ ẩm vật liệu cháy phục vụ công tác dự báo cháy rừng”, Tạp chí NN&amp;PTNT, kỳ 1, tháng 12/2011, tr 85 – 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu khả năng áp dụng một số phương pháp xác định độ ẩm vật liệu cháy phục vụ công tác dự báo cháy rừng”, Tạp chí NN&PTNT
Tác giả: Bế Minh Châu
Năm: 2011
8. Cục Kiểm lâm (2007), Báo cáo tổng kết công tác PCCCR năm 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác PCCCR năm 2007
Tác giả: Cục Kiểm lâm
Năm: 2007
9. Cục Kiểm lâm (2008), Số liệu cháy rừng, http: www.kiemlam.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu cháy rừng
Tác giả: Cục Kiểm lâm
Năm: 2008
10. Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hƣng (1983), Phòng cháy và chữa cháy rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng cháy và chữa cháy rừng
Tác giả: Ngô Quang Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hƣng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1983
11. Phó Đức Đỉnh (1996), Nghiên cứu biện pháp phòng chống cháy rừng thông non Lâm Đồng, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biện pháp phòng chống cháy rừng thông non Lâm Đồng
Tác giả: Phó Đức Đỉnh
Năm: 1996
12. Trần Nguyên Giảng (1985), Hai mươi lăm năm nghiên cứu của trung tâm lâm sinh Cầu Hai, Phú Thọ, Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hai mươi lăm năm nghiên cứu của trung tâm lâm sinh Cầu Hai, Phú Thọ
Tác giả: Trần Nguyên Giảng
Năm: 1985
13. Phạm Ngọc Hƣng (1988), Xây dựng phương pháp dự báo cháy rừng thông nhựa (pinus merkusii J), Quảng Ninh, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng phương pháp dự báo cháy rừng thông nhựa (pinus merkusii J), Quảng Ninh
Tác giả: Phạm Ngọc Hƣng
Năm: 1988
14. Phạm Ngọc Hƣng (2001), Thiên tai khô hạn cháy rừng và giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng ở Việt Nam, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên tai khô hạn cháy rừng và giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Hƣng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2001
15. Phạm Ngọc Hƣng (2004), Quản lý cháy rừng ở Việt Nam, Nxb Nghệ An, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý cháy rừng ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Hƣng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
16. Phùng Ngọc Lan (1991), “Trồng rừng hỗn loài nhiệt đới”, Tạp chí Lâm nghiệp, 1991 (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng rừng hỗn loài nhiệt đới”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Phùng Ngọc Lan
Năm: 1991
17. Thái Thành Lƣợm (1996), Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh làm cơ sở đề xuất biện pháp nâng cao sản lượng rừng tràm (Melaleuca cajuputi powell) trên vùng Tứ giác Long Xuyên, Luận án PTS Khoa học Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh làm cơ sở đề xuất biện pháp nâng cao sản lượng rừng tràm (Melaleuca cajuputi powell) trên vùng Tứ giác Long Xuyên
Tác giả: Thái Thành Lƣợm
Năm: 1996
18. Phan Thanh Ngọ (1996), Nghiên cứu một số biện pháp phòng cháy rừng Thông ba lá, rừng Tràm ở Việt Nam, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp phòng cháy rừng Thông ba lá, rừng Tràm ở Việt Nam
Tác giả: Phan Thanh Ngọ
Năm: 1996
19. Vương Văn Quỳnh (2005), Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho U Minh và Tây Nguyên, Báo cáo Khoa học Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho U Minh và Tây Nguyên
Tác giả: Vương Văn Quỳnh
Năm: 2005
20. Võ Đình Tiến (1995), “Phương pháp lập bản đồ, khoanh vùng trọng điểm cháy rừng ở Bình Thuận”, Tạp chí Lâm nghiệp, 1995 (10), tr 14 – 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp lập bản đồ, khoanh vùng trọng điểm cháy rừng ở Bình Thuận”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Võ Đình Tiến
Năm: 1995
21. Nguyễn Hữu Vĩnh, Phan Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (1994), Cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn giao bạch đàn, keo, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội, 1990 – 1994.II. Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn giao bạch đàn, keo
Tác giả: Nguyễn Hữu Vĩnh, Phan Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w