ĐẶT VẤN ĐỀTrong những năm đầu thế kỷ 21, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, mứcsống của người dân nhiều nước trên thế giới được nâng cao dẫn đến sự thayđổi cơ cấu các loại bệnh tật trong x
Trang 2Thừa cân, béo phì
Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 31.1 Định nghĩa, cách đánh giá, phân loại và đặc điểm trẻ thừa cân, béo phì 31.2 Tình hình thừa cân - béo phì ở trẻ em hiện nay 91.3 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đối với béo phì ở trẻ em 12
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 25
3.1 Thực trạng thừa cân béo phì ở học sinh tiểu học thành phố 33Thái Nguyên
3.2 Mối liên quan giữa chế độ dinh dưỡng với thừa cân, béo phì ở 36học sinh tiểu học
Trang 4Bảng 3.10 Mối liên quan giữa sở thích về thực phẩm của học sinh tiểu 40học với thừa cân, béo phì
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tiêu thụ chất béo trong khẩu phần hàng 40ngày với tình trạng thừa cân, béo phì
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tiêu thụ đồ ngọt trong khẩu phần hàng 41ngày với tình trạng thừa cân, béo phì
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố tỷ lệ thừa cân, béo phì theo giới 33Biểu đồ 3.2 Phân bố tỷ lệ thừa cân, béo phì theo tuổi 34Biểu đồ 3.3 Mối liên quan giữa thói quen ăn thêm bữa phụ của học sinh 39tiểu học với thừa cân, béo phì
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm đầu thế kỷ 21, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, mứcsống của người dân nhiều nước trên thế giới được nâng cao dẫn đến sự thayđổi cơ cấu các loại bệnh tật trong xã hội, trong đó đáng chú ý là sự tăng lênnhanh chóng ở mức báo động của tình trạng thừa cân, béo phì [25] Tình trạngbéo phì trong xã hội đang trở thành một vấn nạn y tế ở các nước đã phát triển.Đây là mối đe doạ lớn vì béo phì là một nhân tố hàng đầu gây nên các bệnhmạn tính liên quan đến dinh dưỡng như đái tháo đường týp 2, các bệnh về timmạch, về gan mật, các vấn đề về cơ xương khớp và một số bệnh ung thư [3],[15], [55]
Ở trẻ em, tình trạng dinh dưỡng phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâmchăm sóc của gia đình nên rất dễ mắc bệnh béo phì Béo phì ở trẻ em tuykhông đe doạ đến tính mạng như suy dinh dưỡng nhưng có ảnh hưởng không
ít đến tâm thần, vận động của trẻ, làm cho trẻ mặc cảm không hoà nhập vớibạn bè dẫn đến sa sút trong học tập… [32] Nhiều tác giả nhận thấy xấp xỉ30% trẻ thừa cân tiền học đường, 50% trẻ thừa cân học đường và 80% thanhthiếu niên thừa cân sẽ tiếp tục dai dẳng sự thừa cân cho đến tuổi trưởng thành[52] Theo WHO thừa cân và béo phì là nguy cơ tử vong đứng thứ năm trêntoàn cầu, ít nhất 2,8 triệu người lớn tử vong mỗi năm như là một kết quả củaviệc thừa cân hoặc béo phì Ngoài ra, 44% gánh nặng bệnh tiểu đường, 23%gánh nặng bệnh tim thiếu máu cục bộ và từ 7% đến 41% gánh nặng ung thư là
do thừa cân, béo phì [55] Trong những năm gần đây, với sự tăng trưởng kinh
tế nhanh, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện Cơ cấu bữa ăn vàtập tục ăn uống không ngừng biến đổi, với các thói quen ăn uống, sinh hoạtcủa các nước công nghiệp phát triển Vì vậy, bên cạnh tỷ lệ suy dinh dưỡngcòn khá cao thì tình trạng thừa cân, béo phì đang có chiều hướng gia tăng đặc
Trang 7biệt tại các đô thị lớn Tại Hà Nội các tác giả nhận thấy tỷ lệ thừa cân tăngnhanh trong những năm gần đây Năm 2003 tỉ lệ thừa cân, béo phì là 6,8%[34], năm 2008 tỷ lệ thừa cân ở trẻ 6 - 14 tuổi là 10,8% [17], năm 2009 đãtăng lên là 12,9% [37] Tại thành phố Hồ Chí Minh, theo nghiên cứu của TrầnThị Hồng Loan năm 1998, tỷ lệ thừa cân là 12,2% [27], năm 2007, theonghiên cứu của Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Lân và cộng sự, tỷ lệ béo phìtrên học sinh 9 - 11 tuổi tại trường Kết Đoàn, quận 1 là 41,1% [13] Theo ĐỗThị Ngọc Diệp, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Hồ ChíMinh năm 2011 là 38,1% [12] Ở thành phố Thái Nguyên, theo Nguyễn MinhTuấn, tỷ lệ thừa cân ở học sinh tiểu học năm 2002 là 4,4% và béo phì là 2,9%[35].
Như vậy, trong thời kỳ này mô hình bệnh tật đang có sự dịch chuyển từthiếu ăn với các bệnh thiếu dinh dưỡng protein năng lượng, thiếu vi chất dinhdưỡng… sang thừa ăn với các bệnh béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường…Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về thừa cân, béo phì ở trẻ em mới chỉtập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Tại Thái Nguyên nghiên cứu về thừacân, béo phì đã được tiến hành cách đây 10 năm, từ đó đến nay, cơ cấu bữa ăn
đã có nhiều sự thay đổi nhưng chưa có nghiên cứu nào được lặp lại trên địabàn tỉnh Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để tìm hiểu về bệnh béophì và ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ
em thành phố Thái Nguyên nhằm tìm ra các biện pháp phòng và điều trị kịpthời góp phần giảm bớt gánh nặng cho y tế và xã hội
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Định nghĩa, cách đánh giá, phân loại và đặc điểm trẻ thừa cân, béo phì
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [52]
- Thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng "nên có" sovới chiều cao
- Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường mộtcách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ
Nói một cách chặt chẽ Hai khái niệm trên hoàn toàn khác nhau bởi vìngười có cân nặng vượt quá tiêu chuẩn bình thường không nhất định là béophì Muốn xác định béo phì thực sự cần phải căn cứ vào hàm lượng mỡ trong
cơ thể Nhưng việc xác định hàm lượng mỡ tương đối phức tạp, hơn nữa hầuhết những người có cân nặng vượt quá tiêu chuẩn bình thường đều béo Vìvậy, để đánh giá thừa cân hay béo phì người ta sử dụng công thức tính cânnặng chuẩn để so sánh Người được coi là “béo phì” khi cân nặng vượt quácân nặng lý tưởng 20%, còn “thừa cân” thuộc khoảng giữa cân nặng bìnhthường và béo phì
Trang 91.1.2 Đánh giá thừa cân, béo phì
Cơ thể được cấu tạo từ 2 phần là khối nạc và khối mỡ, trong đó khối
mỡ phản ánh mức độ gầy béo Lượng mỡ trong cơ thể sẽ cho biết chính xác
về sức khoẻ hơn là chỉ dựa vào cân nặng chung chung Phương pháp đo mỡgọi là “ngâm mình dưới nước” dựa trên đặc tính nổi của mỡ mà xương và cơbắp không có Để thực hiện phương pháp này chính xác cần có các thiết bịtinh vi, tuy nhiên chúng ta có thể ước tính tỷ lệ mỡ đối chiếu với khối nạc vàxương bằng cách bơi trong hồ nước và từ từ thở ra Nếu mỡ chiếm khoảng25% chúng ta nổi rất dễ dàng, nếu khoảng 12% thì có thể chìm bất cứ lúc nào[19] Người ta còn dùng nhiều phương pháp khác để xác định một cách chínhxác lượng mỡ trong cơ thể như đo tỷ trọng cơ thể, đo độ dẫn điện của cơ thể,
đo độ khuyếch tán các chất khí tan trong chất béo, chụp cắt lớp vi tính, cộnghưởng từ hạt nhân… Tuy nhiên, những phương pháp trên đều đòi hỏi các kỹthuật phức tạp, tốn kém và chỉ sử dụng được trong phòng thí nghiệm [25].Hiện nay, có thể sơ bộ tính tỷ lệ mỡ của cơ thể dựa vào cân nặng, giới,LMDD cơ tam đầu và LMDD dưới xương bả vai [41] Vì vậy, trong nghiêncứu cộng đồng người ta thường sử dụng các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao, bềdày lớp mỡ dưới da để đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì [23]
* Đối với trẻ em
Việc đánh giá thừa cân béo phì ở trẻ em còn gặp khó khăn do tỷ lệ tăngtrưởng và trưởng thành khác nhau Lượng mỡ có liên quan đến các giai đoạntrưởng thành của trẻ và có sự tăng về lượng mỡ ở hai giai đoạn, đó là lúc trẻ 5
- 7 tuổi và lúc tiền dậy thì và dậy thì Mặc dù có một điểm ngưỡng được sửdụng để xác định béo phì ở người lớn, ở trẻ em điểm ngưỡng này cần đượchiệu chỉnh theo tuổi của trẻ Ở một số quốc gia, có biểu đồ tăng trưởng riêng
để tính cân nặng, chiều cao và thừa cân, béo phì theo tuổi Tuy nhiên, gần đâyngười ta đã đạt được sự thống nhất về các biện pháp phù hợp đo lượng mỡ
Trang 10trong cơ thể, điều này cho phép phân loại và so sánh béo phì Biểu đồ chỉ sốkhối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới đã được WHO khuyến cáo sử dụng trênphạm vi toàn cầu.
- Trước đây dựa trên quần thể tham chiếu NCHS, Tổ chức Y tế thế giới(WHO, 1995) đưa ra cách đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em như sau:
+ Đối với trẻ dưới 5 tuổi và trẻ từ 5 - 9 tuổi:
Thừa cân: Cân nặng/Chiều cao > +2SD
Béo phì: Cân nặng/Chiều cao > +2SD và bề dày lớp mỡ dưới da cơtam đầu, dưới xương bả vai đều 90th percentile
+ Đối với trẻ 10 - 19 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi vàgiới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho lứa tuổi này
Cân nặng (kg)BMI =
(Chiều cao)2 (m)Thừa cân: BMI 85th percentile
Béo phì: BMI 95th percentile hoặc BMI 85th percentile và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu, dưới xương bả vai đều 90th percentile
- Từ khi chuẩn tăng trưởng mới của WHO được áp dụng, tình trạng dinhdưỡng ở lứa tuổi 2 - 20 tuổi được đánh giá dựa trên chỉ số BMI theo tuổi.Theo WHO (2007), thừa cân béo phì được đánh giá như sau:
Thừa cân khi BMI từ 85th - < 95 percentile
Béo phì khi BMI 95th percentile
Trang 11Hình 1.1 Biểu đồ đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nam 2 - 20 tuổi
Trang 12Hình 1.2 Biểu đồ đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nữ 2 - 20 tuổi
Trong đề tài này, để nghiên cứu thực trạng thừa cân, béo phì, chúng tôi sửdụng biểu đồ chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới đã được khuyến cáo (theo WHO - 2007)
Trang 131.1.3 Phân loại béo phì
* Phân loại béo phì theo hình thái mô mỡ
- Béo phì quá sản (hyperplasia): thường gặp ở trẻ em, các tế bào mỡ tăng cả
về số lượng và kích thước Béo phì loại này thường nặng, khó điều trị và sớmphát triển những bất thường trong cuộc sống
- Béo phì phì đại (hypertrophy): thường gặp ở người trưởng thành, các tế bào
mỡ to bất thường, trong khi đó số lượng tế bào mỡ không tăng hoặc chỉ tăngkhi đã phình to hết mức Béo phì loại này có thể đáp ứng tốt với điều trị [32]
* Phân loại béo phì theo vị trí phân bố mỡ
- Béo bụng (android): là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng bụng.Thường gặp ở đàn ông do ngồi nhiều, ít hoạt động, trọng lượng dồn ở phầntrên cơ thể tạo nên hình dạng béo phì hình “quả táo”
- Béo đùi (gynoid): là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng mông vàđùi Thường gặp ở phụ nữ do đẻ nhiều, khung chậu rộng, trọng lượng dồn ởphần dưới cơ thể tạo nên hình dạng béo hình “quả lê”
Nhìn chung béo bụng có nguy cơ mắc bệnh và tử vong do các bệnh timmạch, tăng huyết áp, đái tháo đường… nhiều hơn so với béo đùi
- Béo đều: Mỡ phân bố toàn thân Thường gặp ở trẻ em do tế bào mỡ bội tăng[32]
1.1.4 Đặc điểm trẻ thừa cân, béo phì
* Lâm sàng
Trẻ thừa cân, béo phì thường háu ăn, ăn nhanh, hay ăn vặt, lúc nàocũng có cảm giác thèm ăn, thích ăn đồ ngọt, thức ăn xào rán nhiều mỡ, thức
ăn nhanh và ăn nhiều vào buổi tối Béo phì ở trẻ em là béo toàn thân, tích tụ
mỡ nhiều ở ngực và bụng Trẻ béo phì thường xuyên cảm thấy mệt mỏi toànthân, hay nhức đầu, tê buốt ở 2 chân làm cho cuộc sống thiếu thoải mái Trẻdậy thì sớm hơn bình thường Trước dậy thì, trẻ thường cao hơn so với tuổi,
Trang 14nhưng khi dậy thì, chiều cao ngừng phát triển và trẻ có xu hướng thấp hơn sovới tuổi [32].
* Hậu quả của thừa cân, béo phì đối với sức khoẻ trẻ em
Thừa cân, béo phì có ảnh hưởng xấu đến tình trạng sức khỏe, tâm lý và kếtquả học tập của trẻ Trẻ thường dễ mặc cảm, tự ti, xấu hổ, hay bị bạn bè trêuchọc, khó hòa nhập với cộng đồng Nguy cơ đầu tiên của béo phì trẻ em làkhả năng kéo dài đến tuổi trưởng thành với các hậu quả của nó Béo phì ở trẻthường là do sự tăng sản các tế bào mỡ chứ không phải là do các tế bào mỡ tobất thường như ở người trưởng thành Vì vậy, béo phì ở trẻ em thường khóđiều trị và sẽ chuyển thành béo phì người lớn Trẻ thừa cân, béo phì dễ mắccác bệnh mạn tính không lây như: tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đườngtype 2, sỏi mật, viêm khớp và nguy cơ tăng tỷ lệ tử vong [3], [15]
1.2 Tình hình thừa cân, béo phì ở trẻ em hiện nay
1.2.1 Tình hình thừa cân, béo phì ở trẻ em trên thế giới
Béo phì đang được gọi là “tai họa mới của nhân loại” với tốc độ giatăng nhanh chóng Theo WHO vào năm 1990, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ emdưới 5 tuổi chỉ là 4,2% , nhưng con số này đã lên đến 6,7% trong năm 2010
và có khả năng sẽ tăng lên đến 9,1% vào năm 2020 WHO ước tính có khoảng
43 triệu trẻ em trên toàn thế giới thừa cân, béo phì và dự kiến sẽ tăng đếnkhoảng 60 triệu người trong thập kỷ tới, ít nhất 92 triệu trẻ em phải đối mặtvới nguy cơ trở thành thừa cân [53] Tại các nước phát triển đây thực sự làmột vấn đề sức khoẻ trầm trọng Một cuộc khảo sát tại Úc năm 2008 cho thấy
có 28,9% trẻ em từ 0 - 15 tuổi bị thừa cân, béo phì [40] Nghiên cứu củaWaters và cộng sự được tiến hành trên 2685 trẻ từ 4 - 13 tuổi của 23 trườngtiểu học tại thành phố Melbourne (Úc) cũng cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là31% [51] Theo thống kê mới nhất của “Hiệp hội quốc tế nghiên cứu béo phì”năm 2011 thì Hy Lạp là quốc gia có tỷ lệ trẻ em thừa cân, béo phì cao nhất là
Trang 1537% ở trẻ gái và 45% ở trẻ trai, Hoa Kỳ đứng thứ 2 với 35,9% trẻ gái, 35% trẻtrai thừa cân, béo phì, tại một số quốc gia khác như Mexico, New Zealand,Chile, Anh, Canada, Hungary tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em đều trên 25%[46].
Vấn nạn béo phì không chỉ của riêng các nước phát triển mà đang có xuhướng tăng cao ở cả các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì ởChâu Phi tăng từ 4% trong năm 1990 lên đến 8,5% trong năm 2010, còn tạitại các nước Châu Á mức tăng tương ứng là từ 3,2% đến 4,9% [50] Nghiêncứu của Amin và cộng sự tại một số trường tiểu học ở Al Hassa, Ả Rập chothấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh là 14,2%, còn tại Malaysia tỷ lệ thừacân, béo phì trong độ tuổi 9 đến 12 là 17,9% [39],[49] Con số này cho thấy tỷ
lệ thừa cân, béo phì tại các nước đang phát triển đang dần áp sát các nướcphát triển và sẽ trở thành vấn nghiêm trọng nếu không được can thiệp kịp thời
1.2.2 Tình hình thừa cân, béo phì ở trẻ em Việt Nam
Việt Nam đang phải đối đầu với gánh nặng kép về dinh dưỡng, khi tỷ lệtrẻ suy dinh dưỡng đang có xu hướng giảm nhưng vẫn còn cao thì tỷ lệ trẻthừa cân, béo phì lại đang gia tăng Trong vài năm trở lại đây, vấn đề thừacân, béo phì đang được quan tâm và đã có nhiều nghiên cứu ở đối tượng họcsinh tiểu học Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn ở học sinh tiểu học Thànhphố Thái Nguyên năm 2002, tỷ lệ học sinh thừa cân, béo phì là 7,3% [35].Theo Hoàng Thị Minh Thu nghiên cứu tình trạng thừa cân, béo phì của 1053trẻ 6 - 11 tuổi tại quận Cầu Giấy - Hà Nội năm 2003 nhận thấy tỉ lệ thừa cân,béo phì tại đây là 6,8% [34] Nhưng đến năm 2009, theo nghiên cứu của TrịnhThị Thanh Thủy, tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học tại Hà Nội đã là12,9% [37] Tại Cao Bằng, theo nghiên cứu của Mã Hồng Lam, tỷ lệ béo phìcủa trẻ 6 - 14 tuổi năm 2009 là 1,08% [26] Theo Ngô Văn Quang và cộng sựnghiên cứu tình trạng thừa cân và các yếu tố liên quan ở học sinh tiểu họcthành phố Đà Nẵng năm 2010 có 4,9% trẻ được xác định là thừa cân và 8,7%
Trang 16là có nguy cơ thừa cân [31] Nghiên cứu của Đặng Oanh và cộng sự về tìnhtrạng thừa cân, béo phì của trên 1800 học sinh tiểu học tại 4 thành phố thuộckhu vực Tây Nguyên năm 2010 cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 6,1%(trong đó tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học tại Buôn Ma Thuột là9,4%, PleiKu là 7,8%, thị xã Gia Nghĩa và thành phố Kon Tum là 3,6%) [29].Kết quả nghiên cứu năm 2009 tại trường tiểu học Kim Đồng, tỉnh Tây Ninhcủa tác giả Vương Thuận An và cộng sự cho thấy tỷ lệ thừa cân là 20,3%, béophì là 13,7% [2] Theo Bùi Đức Văn, Hoàng Khánh tiến hành nghiên cứu tìnhtrạng thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học huyện Cái Nước tỉnh Cà Maunăm 2009 cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 7,26% [38] Đỗ Thị Ngọc Diệpnghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 cho thấy tỷ lệ thừa cân, béophì ở học sinh là 38,1%, còn theo báo cáo giám sát dinh dưỡng học đường của
Sở giáo dục đào tạo thành phố Hồ Chí Minh thì hiện nay có khoảng 30 40% học sinh ở các trường tiểu học tại thành phố thừa cân, béo phì [12][28],đặc biệt tỷ lệ béo phì ở học sinh 9 - 11 tuổi tại trường Kết Đoàn, quận 1,Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 đã là 41,1 % [13]
-Theo kết quả tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2010, tỷ lệ thừacân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi ở nước ta là 5,6% (ở thành phố 6,5% và ở nôngthôn 4,2%) Tỷ lệ này đang có xu hướng gia tăng So với năm 2000, tỷ lệ thừacân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi hiện cao hơn 6 lần [10] Chiến lược Quốc gia vềdinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn năm 2030 khẳng định nhiệm
vụ cải thiện dinh dưỡng là trách nhiệm của các ngành, các cấp và mọi ngườidân Cần phấn đấu bảo đảm dinh dưỡng cân đối, hợp lý là yếu tố quan trọngnhằm hướng tới phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất, trí tuệ của ngườiViệt Nam và nâng cao chất lượng cuộc sống Nội dung cụ thể của Chiến lượcbao gồm 6 mục tiêu cụ thể trong đó mục tiêu thứ tư là từng bước kiểm soát cóhiệu quả tình trạng thừa cân - béo phì [11]
Trang 171.3 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đối với thừa cân, béo phì ở trẻ em
1.3.1 Các vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp
Theo các chuyên gia nghiên cứu dinh dưỡng thì chuyển tiếp dinhdưỡng là những thay đổi chính về toàn cảnh dinh dưỡng của quần thể trực tiếpliên quan tới thay đổi khẩu phần ăn và mô hình tiêu thụ các chất dinh dưỡngtrong bối cảnh tác động tương hỗ của những thay đổi điều kiện kinh tế, nhânkhẩu học, môi trường và yếu tố văn hóa [44] Thời kỳ chuyển tiếp về dinhdưỡng của mỗi nước diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào hoàn cảnh từngnước
* Những đặc điểm chính của dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp
Nhiều nước đang phát triển, sự thay đổi chế độ ăn và hoạt động thể lựcxảy ra đồng thời Những thay đổi chế độ ăn bao gồm tăng tiêu thụ chất béo vàcác thức ăn động vật làm cho đậm độ năng lượng trong khẩu phần tăng nhưngđậm độ các chất dinh dưỡng trong đó lại không tăng một cách cân đối Côngnghệ chế biến và nấu nướng làm tăng đậm độ năng lượng của thực phẩm nhờcho thêm chất béo và đường là các thực phẩm có giá trị khi cần thiết nhưnglại không có lợi khi dư thừa nhất là với các lối sống tĩnh tại, nhàn rỗi [25]
* Những xu hướng hiện nay về tiêu thụ chất béo trong khẩu phần
Tăng số lượng và chất lượng của chất béo trong khẩu phần là một đặcđiểm quan trọng của sự chuyển tiếp dinh dưỡng được phản ánh trong các chế
độ ăn ở các nước đang phát triển Có sự khác nhau lớn giữa các khu vực trênthế giới về số lượng sử dụng chất béo toàn phần Lượng tiêu thụ thấp nhấtđược ghi nhận ở châu Phi, trong khi mức tiêu thụ cao nhất lại thuộc vùng Bắc
Mỹ và châu Âu Sự cung cấp chất béo toàn phần trung bình đã tăng 20 g/ đầungười/ ngày so với giai đoạn 1967 - 1969, rõ rệt nhất ở các nước châu Mỹ,Đông Á và cộng đồng châu Âu [45]
Các bằng chứng ở châu Á và châu Mĩ Latin còn cho thấy sự thay đổicấu trúc khẩu phần ăn và hoạt động thể lực bao gồm chế độ ăn giàu năng
Trang 18lượng và ít hoạt động thể lực đặc biệt là người nghèo Ở Trung quốc, khi thunhập tăng lên người nghèo không tăng tiêu thụ tất cả mọi thực phẩm nhiềuhơn người giàu mà lại tăng sử dụng các thực phẩm giàu béo Ví dụ như thịtlợn, dầu ăn và trứng, tốc độ tăng sử dụng chất béo nhanh hơn tăng thu nhập[48].
* Những xu hướng hiện nay về tiêu thụ các sản phẩm động vật
Hiện nay trên thế giới, sản xuất thịt hàng năm ước tính tăng từ 218 triệutấn vào năm 1997 - 1999 lên 736 triệu tấn vào năm 2030 Có mối quan hệthuận chiều chặt chẽ giữa mức thu nhập với mức tiêu thụ thịt, sữa, trứng Do
sự tụt giá gần đây, các nước đang phát triển tiêu thụ lượng thịt nhiều hơn sovới mức tổng thu nhập quốc nội và thấp hơn nhiều so với các nước côngnghiệp hóa vào thời điểm 20 - 30 năm trước [48]
1.3.2 Thời kỳ chuyển tiếp về dinh dưỡng ở Việt Nam
Công cuộc đổi mới ở nước ta đã được những thành tựu bước đầu rấtquan trọng, nền kinh tế đang tăng trưởng một cách liên tục Qua nhiều nămphấn đấu, nước ta đã tự túc được lương thực và có gạo để xuất khẩu Hiện tại
đã xuất hiện những biểu hiện của thời kỳ chuyển tiếp về dân số học, dịch tễhọc và cả về dinh dưỡng học Hiện tượng gia tốc trong tăng trưởng của conngười Việt Nam đã được nhìn nhận Sự chuyển tiếp về dinh dưỡng ở ViệtNam thể hiện ở khẩu phần thực tế trung bình đang có sự thay đổi Từ mộtkhẩu phần nghèo chủ yếu là lương thực, một ít cá và rau chuyển sang mộtkhẩu phần cân đối hơn, lượng thức ăn động vật (thịt, trứng, sữa), dầu mỡ, quảchín tăng lên rõ rệt Thịt tăng hơn 2 lần, trứng tăng 3 lần, lượng quả chín tănghơn 10 lần, dầu mỡ tăng hơn 2 lần Đáng chú ý là lượng rau trung bình đãgiảm đi, chỉ có một số thực phẩm thay đổi không đáng kể như cá, các loại đậuhạt, hạt có dầu và nước chấm Mức năng lượng bình quân đầu người hầu nhưkhông thay đổi, sự biến đổi về chất lượng protid rất đáng chú ý: tỷ lệ protidđộng vật chiếm 33,5% protid tổng số so với trước đây chỉ có 26,7% Tỷ lệ
Trang 19năng lượng do chất béo tăng lên rõ rệt sau 10 năm từ 8,4% lên 12% làm chokhẩu phần có xu hướng cân đối hơn [8].
1.3.3 Đặc điểm tăng trưởng và nhu cầu năng lượng, dinh dưỡng hợp lý cho học sinh tiểu học (6 - 11 tuổi)
1.3.3.1 Đặc điểm tăng trưởng của học sinh tiểu học
Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển, vì vậy tăng trưởng là mộtđặc điểm sinh học ở trẻ em Tăng trưởng là một khái niệm bao gồm quá trìnhlớn và phát triển Có hai loại tăng trưởng: tăng trưởng về thể chất và tăngtrưởng về chức năng Hai quá trình này có liên quan mật thiết với nhau,nhưng thời điểm trưởng thành không giống nhau Nhóm các chỉ tiêu nhân trắc
là một trong ba nhóm đánh giá chỉ tiêu tăng trưởng (chỉ tiêu nhân trắc, đánhgiá tuổi xương và tuổi dậy thì) [5]
Có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ em đó là: ditruyền, môi trường, nội tiết, bệnh tật và khuynh hướng thời gian Mô hìnhtăng trưởng thể chất của trẻ em không phải đứng yên mà thay đổi theo thờigian, những nghiên cứu gần đây ở các tỉnh phía bắc đều cho thấy ở mọi lứatuổi đều có sự gia tăng về chiều cao đặc biệt ở khu vực thành phố Trong giaiđoạn từ 1985 đến nay, khuynh hướng tăng trưởng thế tục dương tính về chiềucao và cân nặng ở trẻ em bao gồm cả trẻ sơ sinh và trẻ 1 đến 15 tuổi, phản ánhtình trạng kinh tế xã hội và dinh dưỡng của Việt Nam được cải thiện rõ rệt sau
20 năm đổi mới Khuynh hướng thế tục này xuất hiện ở mọi lứa tuổi của trẻ
em đặc biệt ở tuổi vị thành niên (10 - 15 tuổi) có gia tốc tăng trưởng cả vềchiều cao và cân nặng cao hơn các lứa tuổi nhỏ Kết quả nghiên cứu cả chiềudọc và nghiên cứu cắt ngang cho thấy trẻ em Hà nội trong các thời điểmnghiên cứu đều có chiều cao và cân nặng cao hơn so với số liệu toàn quốc vàtốc độ tăng trưởng thế tục cũng nhanh hơn (tăng khoảng 1,5 đến 2 cm/1 thậpkỷ) [22]
Trang 201.3.3.2 Nhu cầu năng lượng, dinh dưỡng hợp lý cho học sinh tiểu học
* Nhu cầu năng lượng cho cơ thể
Một gam chất bột đường, chất đạm cung cấp cho cơ thể 4 kcalo; 1 gamchất béo cung cấp 9 kcalo
Năng lượng tiêu hao hàng ngày của con người bao gồm năng lượng củachuyển hóa cơ bản và năng lượng để tạo ra các động lực đặc hiệu trong lao
động.Năng lượng của chuyển hoá cơ bản là năng lượng cần thiết để duy trì
sự sống, được đo trong điều kiện nhịn đói, hoàn toàn nghỉ ngơi với nhiệt độ
và môi trường thích hợp
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình chuyển hoá cơ bản như tuổi,giới tính, khí hậu, bệnh tật, tác động của các hormon, của những động lực đặchiệu, sự tiêu hao năng lượng cho các động tác lao động… Yếu tố ảnh hưởnglớn nhất đến tiêu hao năng lượng hàng ngày là lao động chân tay [9]
Đối với trẻ em, năng lượng khuyến nghị được tính theo cân nặng củaWHO 2006
Bảng 2.1 Nhu cầu năng lượng cho trẻ em dưới 10 tuổi
Bảng 2.2 Nhu cầu năng lượng cho lứa tuổi vị thành niên (10 - 18 tuổi)
Giới tính Nhóm tuổi Nhu cầu năng lượng (Kcal)
Trang 21* Nhu cầu chất dinh dưỡng của cơ thể
- Protein
Nhu cầu chất đạm của cơ thể không những phụ thuộc vào tuổi và tìnhtrạng sinh lý mà còn phụ thuộc cả vào chất lượng của đạm được sử dụng.Thường trong khẩu phần ăn của trẻ em tỷ lệ đạm động vật và đạm thực vật là1/1 và của người lớn là 1/2
Lượng đạm cần cho người lớn khoảng 1 - 1,5 g/kg cân nặng và lượngđạm cần cho trẻ em khoảng 2 g/kg cân nặng [9]
Bảng 2.3 Nhu cầu protein khuyến nghị đối với trẻ dưới 10 tuổi
Nhóm tuổi
Nhu cầu protein(g/ngày) Yêu cầu tỷ lệ protein
động vật(%)
Với năng lượng từprotein = 12 - 15%
Trang 22Ở người trẻ, tỷ lệ nhu cầu giữa lượng chất đạm và chất béo ngang nhau;
ở người đứng tuổi và người già nhu cầu chất béo giảm xuống (tỷ lệ chất đạm
và chất béo ở người đứng tuổi là 1/0,7; ở người già là 1/0,5)
Nhu cầu chất béo (tính bằng g) trên 1 kg cân nặng, cơ thể như sau:+ Với người trẻ và trung niên:
Lao động trí óc: 1,5 (nam), 1,2 (nữ)
Lao động chân tay: 2,0 (nam), 1,5 (nữ)
+ Với người lớn tuổi:
Không lao động chân tay: 0,7 (nam), 0,5 (nữ)
Lao động chân tay: 1,2 (nam), 0,7 (nữ)
Bảng 2.5 Tổng hợp nhu cầu Lipid khuyến nghị theo tuổi, giới và tình trạng
sinh lý
Nhóm tuổi/ trạng thái sinh lý
Nhu cầu năng lượng Lipid so với năng
Phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ,
- Chất bột đường
Chất bột đường bao gồm đường đơn và đường phức hợp Chất đườngđơn có dạng mono và dạng disaccarit Chúng đều có đặc tính là dễ hoà tantrong nước, độ đồng hoá cao và nhanh tạo thành glucogen Fructose vàglucose là những monosaccarit, có trong các loại quả, mật ong Dạngdisaccarit thường gặp là saccarose và lactose
Trang 23Nguồn saccarose thường sử dụng chủ yếu trong dinh dưỡng là đườngmía và củ cải Saccarose thuỷ phân cho glucose và fructose; còn lactose chỉ cótrong sữa Trong cơ thể lactose thuỷ phân thành glucose và galactose Cácchất này được sử dụng để tạo glycogen.
Chất bột đường phức tạp gồm tinh bột, glycogen, các chất peptin vàxenlulose
Tinh bột là thành phần dinh dưỡng chính trong thực phẩm thực vật, đặcbiệt có nhiều trong ngũ cốc, đậu hạt và khoai Trong cơ thể, tinh bột là nguồnchính cung cấp glucose
Glycogen có tương đối nhiều ở gan (chiếm 20% trọng lượng gan tươi).Trong cơ thể, glycogen được sử dụng để dinh dưỡng các cơ, các cơ quan vàcác hệ thống hoạt động sinh năng lượng Sự phục hồi glycogen diễn ra khi cơthể nghỉ ngơi, nhờ tái tổng hợp từ glucose trong máu
Các chất peptin thuộc loại polysaccarit keo, gặp chủ yếu ở thực phẩmthực vật Peptin có tác dụng ức chế vi khuẩn đường ruột, cải thiện các quátrình tiêu hoá
Xenlulose có trong thành phần cấu tạo của thực vật Tuy không đượcthuỷ phân ở ruột người nhưng xenlulose có vai trò quan trọng kích thích nhuđộng ruột, tạo điều kiện bài xuất cholesterol khỏi cơ thể, góp phần phòngngừa xơ vữa động mạch
Nhu cầu bột đường của cơ thể phụ thuộc vào sự tiêu hao năng lượnglao động thể lực Hàng ngày lượng bột đường cung cấp khoảng 50% tổng nhucầu năng lượng của cơ thể (khoảng 5 - 7 g cho mỗi kg thể trọng)
Ở Việt Nam, mức năng lượng do Glucid cung cấp khuyến nghị giaođộng trong khoảng 60 - 70% năng lượng tổng số, trong đó các glucid phứchợp nên chiếm 70%
Trang 24* Nhu cầu vitamin và chất khoáng của cơ thể
- Nguồn thức ăn cung cấp Calci trong khẩu phần hàng ngày
Bảng 2.6 Nhu cầu calci khuyến nghị
Nhóm tuổi/ Tình trạng sinh lý Nhu cầu calci
(mg/ngày)
Trẻ nhỏ(năm tuổi)
Trang 25** Loại khẩu phần có giá trị sinh học sắt trung bình (khoảng 10% sắt đượchấp thu): Khi khẩu phần có lượng thịt hoặc cá từ 30g - 90g/ngày hoặc lượngVitamin C từ 25 mg - 75 mg/ngày.
*** Loại khẩu phần có giá trị sinh học sắt cao (khoảng 15% sắt được hấpthu): Khi khẩu phần có lượng thịt hoặc cá từ > 90g/ngày hoặc lượng Vitamin
C > 75 mg/ngày
Bảng 2.8 Nhu cầu Vitamin A khuyến nghị
Nhóm tuổi Nhu cầu Vitamin A khuyến
Theo FAO/WHO có thể sử dụng các hệ số chuyển đổi sau:
01 mcg vitamin A hoặc Retinol = 01 đương lượng Retitinol (RE);
01 đơn vị quốc tế (IU) tương đương với 0,3mcg vitamin A
01 mcg β-carotene = 0,167 mcg vitamin A
01 mcg các carotene khác = 0,084 mcg vitamin A
Bảng 2.9: Nhu cầu vitamin B1 (thiamin) khuyến nghị
Nhóm tuổi/ giới Nhu cầu Vitamin B1
(mg/ngày)
Trẻ nhỏ(năm tuổi)
Trang 26Bảng 2.10 Nhu cầu vitamin B2 (Riboflavin) khuyến nghị
Nhóm tuổi/ giới Nhu cầu Vitamin B2
(mg/ngày)
Trẻ nhỏ (năm tuổi)
Trẻ nhỏ (năm tuổi)
* Niacin hoặc đương lượng Niacin
Bảng 1.12 Nhu cầu vitamin C khuyến nghị
Nhóm tuổi/ giới Nhu cầu Vitamin C khuyến
Trang 271.3.4 Yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng tới béo phì ở trẻ em
Thức ăn cung cấp năng lượng cho cơ thể dưới dạng glucid, lipid vàprotein Sau khi chuyển hoá khoảng 50% năng lượng biến thành nhiệt lượng
để duy trì thân nhiệt, 45% năng lượng biến thành năng lượng hóa học cungcấp cho sự hoạt động cần thiết cho các tổ chức tế bào sống Khẩu phần ăngiàu năng lượng vượt quá năng lượng tiêu hao tạo nên một cân bằng dươngtính và phần dư thừa được chuyển thành mỡ tích trữ trong các tổ chức Rấtnhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi trẻ em ăn vào một lượng calo quá nhiều
so với nhu cầu hàng ngày sẽ gây nên bệnh béo phì do sự bất thường của các tếbào mỡ Nghiên cứu của Lê Thị Hải và cộng sự năm 1998 cho thấy: ở nhómtrẻ béo phì 6 - 11 tuổi, tổng số năng lượng ăn vào hàng ngày lên tới 2415,2kcal vượt xa nhu cầu đề nghị của Viện dinh dưỡng là 1600 - 2200 kcal [16]
Có tác giả cho rằng chỉ cần ăn dư 70 kcal/ ngày cũng dẫn tới tăng cân mặc dù
số calo nhỏ này có thể không được nhận ra dễ dàng nhất là khi trẻ ăn nhữngthức ăn giàu năng lượng như chất béo Chất béo là nguồn cung cấp nănglượng cho cơ thể dưới dạng cô đọng Một gam lipid cho 9 kcal, trong khi đó 1
g protein hay glucid chỉ cho 4 kcal Các thực phẩm có nhiều chất béo cholượng calo gấp 2 lần đường nhưng lại đòi hỏi ít calo cho việc tích luỹ dướidạng triglycerit trong tế bào mỡ hơn là chuyển thành axit béo [43] Theo Jan
D Caterson lượng mỡ cao trong khẩu phần có vai trò quan trọng trong béophì, một khẩu phần nhiều mỡ sẽ dẫn đến thừa cân và béo phì [43] Các nghiêncứu của Trần Thị Hồng Loan, Nguyễn Minh Tuấn, Hoàng Thị Minh Thu cũngcho thấy, lượng chất béo cũng như tỷ lệ chất béo trong khẩu phần ở nhóm trẻthừa cân cao hơn hẳn so với nhóm chứng [27], [35], [34]
Trên thực tế có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quá trình thu nhận thức ănnhư: tâm lý ăn nhiều để chống chọi với những vết thương tâm thần hay tìnhcảm, điều kiện kinh tế của từng gia đình, thói quen ăn uống của trẻ, tập quán
Trang 28ăn uống của từng địa phương và nhất là quan điểm nuôi dưỡng trẻ của ông,
bà, bố, mẹ [30]
Một số nghiên cứu cho thấy thói quen ăn uống không hợp lý như ănnhiều bánh kẹo, đồ ngọt, uống nhiều nước giải khát công nghiệp, ăn nhiềuthức ăn ở dạng lát mỏng rán ròn… là nguyên nhân dẫn tới béo phì ở trẻ [25].Những thức ăn hấp thu nhanh, đặc biệt là carbonhydrat còn làm tăng nhanhglucose, insulin máu, kế đó là giảm glucose và gây thèm ăn nhiều hơn Ngoài
ra, uống nhiều nước ngọt làm tăng nguy cơ béo phì ở trẻ em Cần lưu ý rằng,không chỉ ăn thức ăn nhiều mỡ mới gây béo mà thức ăn nhiều chất bột đườngcũng có thể gây béo [20], [30], [35] Trong cơ thể, các chất protein, glucidđều có thể chuyển hoá thành lipid, vì vậy ăn nhiều cơm, nhiều mỳ, nhiều mía,nhiều bánh kẹo đều béo Trẻ cũng có thể béo phì do ăn uống vô độ, ăn quàvặt, ăn thêm bữa phụ vào buổi tối Nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu cho thấy,trẻ có ăn thêm bữa phụ vào buổi tối trước khi đi ngủ thì nguy cơ thừa cân caogấp 5,16 lần [18]
Chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc của gia đình đối với trẻ cũng góp phầntạo nên những hành vi, thói quen ăn uống không hợp lý ngay từ khi còn nhỏ.Nhiều ông bố, bà mẹ quá quan tâm bồi dưỡng cho trẻ với suy nghĩ trẻ càng ănnhiều chất bổ càng tốt, càng lớn nhanh, càng béo khoẻ càng tốt nên thườngcho trẻ ăn những thức ăn có nguồn gốc động vật nhiều đạm, chất béo như thịt,trứng, sữa, giò, chả… [30] Ngoài ra, đối với trẻ là con một, con út, con đầulòng, trẻ ở gia đình chỉ có cha hoặc mẹ thường được nuông chiều và được ănuống theo y thích nên thường tăng cân [30], [38] Trẻ nuôi nhân tạo thườnghay bị béo phì hơn trẻ được nuôi bằng sữa mẹ, thời gian bú mẹ càng dài thì tỷ
lệ béo phì càng giảm [5] Một số tác giả cho rằng, thức ăn nhân tạo có nhiềuprotein và muối nên làm tăng áp lực thẩm thấu gây cảm giác khát ở trẻ, từ đókích thích trẻ bú nhiều hơn và tăng cân Trong sữa mẹ dường như có những
Trang 29hoạt chất sinh học hạn chế sự phát triển của tế bào mỡ Trẻ bú mẹ có nồng độinsulin trong máu thấp hơn trẻ ăn nhân tạo mà insulin là một hormon có tácđộng quan trọng trong việc tích trữ mỡ.
Như vậy, tất cả các yếu tố đưa đến việc sử dụng năng lượng nhiều hơn
so với nhu cầu đều dẫn đến béo phì ở trẻ Béo phì do nguyên nhân dinh dưỡngchiếm 60 - 80% các trường hợp [4], [25] Do vậy, việc nghiên cứu tìm ra cácyếu tố tác động vào quá trình này là rất cần thiết nhằm đưa ra các khuyến cáo
về dinh dưỡng hợp lý
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh tiểu học
- Bố mẹ hoặc người nuôi dưỡng trẻ
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2012
- Địa điểm: Trường tiểu học Trưng Vương, Nguyễn Viết Xuân, Độc Lập, TânCương thành phố Thái Nguyên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
- Giai đoạn 1: nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang để xácđịnh tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên
- Giai đoạn 2: nghiên cứu bệnh chứng để xác định mối liên quan giữachế độ dinh dưỡng với thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
n: số số học sinh tiểu học tối thiểu để nghiên cứu
Z1-α/2 : Hệ số giới hạn tin cậy, với mức tin cậy 95% Z1-α/2 = 1,96 p:
Tỷ lệ thừa cân, béo phì theo theo nghiên cứu của Đặng Oanh năm
2010 tại Buôn Ma Thuột là 9,4% (p = 0,094) [29]
: độ chính xác tương đối, chọn = 0,15
Trang 31Thay vào công thức, tính được cỡ mẫu tối thiểu là 1646 học sinh tiểuhọc Để giảm bớt sai số do lẫy mẫu chùm, lấy mẫu điều tra gấp đôi so với cỡmẫu tối thiểu đã tính ở trên Như vậy, số trẻ cần điều tra là 3292 trẻ, trên thực
tế nghiên cứu này đã điều tra sàng lọc 3306 học sinh tiểu học Chúng tôi dựavào kết quả khám sức khỏe định kỳ của học sinh trong năm học đó để xácđịnh những trẻ thừa cân, béo phì sau đó chúng tôi khám lại những trẻ này đểxác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học
- Phương pháp chọn mẫu: áp dụng phương pháp chọn mẫu chùm:
+ Ước lượng trung bình mỗi trường tiểu học có khoảng 800 học sinh
Để lấy đủ cỡ mẫu, chọn ngẫu nhiên 4 trường trong số 35 trường tiểu học cônglập trên địa bàn thành phố Thái Nguyên (khung mẫu do phòng giáo dục thànhphố Thái Nguyên cung cấp) Kết quả bốc thăm được trường tiểu học TrưngVương, Nguyễn Viết Xuân, Độc Lập, Tân Cương
+ Lấy toàn bộ học sinh của trường để nghiên cứu
p1* được tính toán dựa trên tỷ suất chênh mong đợi OR = 2,5 và
p2* = 0,278 theo công thức sau:
Trang 32: độ chính xác mong đợi của OR là 0,3
Thông qua ước lượng từ công thức trên ta được cỡ mẫu cần thiết là
272 Để dự phòng sai số bỏ cuộc, lấy thêm 10% là 300 học sinh
Với tỷ lệ nhóm bệnh/ nhóm chứng là 1: 2, cỡ mẫu nghiên cứu cho mỗinhóm như sau:
+ Nhóm béo phì: 300
+ Nhóm đối chứng: 600
- Chọn mẫu:
+ Tiêu chuẩn chọn nhóm bệnh [54]:
Chọn trẻ thừa cân, béo phì có mức BMI 85th percentile
Lập danh sách những trẻ thừa cân, béo phì đã được xác định ở giaiđoạn 1, sau đó chọn 300 trẻ vào nhóm bệnh theo phương pháp chọn mẫu ngẫu
nhiên đơn, bằng chương trình Random number list của phần mềm Epi info 6.04.
+ Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng: chọn các trẻ cùng tuổi, cùng giới, cùngtrường với nhóm bệnh, không có các dị tật bẩm sinh, không mắc các bệnh nộitiết và được xác định là bình thường theo chỉ tiêu: BMI theo tuổi từ ≥ 5thpercentile đến < 85th percentile
Trang 33600 học sinh