Phong tục, tập quán là yếu tố gắn liền với nền văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay, đặc biệt phong tục tập quán gắn liền với đời sống của cộng đồng và được thể hiện qua các lĩnh vực của đời
Trang 1PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Người hướng dẫn khoa học: Trần Thị Hương Học viên: Nguyễn Thị Yến Nhi
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2006
Trang 2LỜI CẢM ƠN!
“Vạn sự khởi đầu nan”!
Mọi việc luôn bắt đầu thật khó khăn! Khó khăn từ việc hiểu và biết mình phải làm gì, biết tìm những gì mình cần ở đâu và thực hiện thế nào thì có kết quả tốt nhất Với đề tài: “phong tục tập quán và pháp luật hôn nhân gia đình”, một đề tài còn tương đối mới và đây cũng là lần đầu tiên tác giả viết một đề tài luận văn, chính vì vậy, khó khăn là không thể tránh khỏi Nhưng tác giả thật may mắn khi tích luỹ được những kiến thức từ tất cả các thầy cô trên giảng đường Và may mắn hơn khi được làm việc với cô Trần Thị Hương, một giáo viên hướng dẫn rất tâm huyết, tận tình truyền đạt những kinh nghiệm, những kiến thức… để tác giả có thể hoàn thành được bài viết của mình Cô đã hướng dẫn, giúp đỡ từ khi những trang viết còn là giấy trắng Từ Cô, tác giả tìm được sự tự tin và cách làm việc thật khoa học
Trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho bài viết của mình, tác giả cũng đã nhận được sự giúp đỡ từ những thầy cô phụ trách thư viện Những quyển sách, tạp chí cũng như những tài liệu khác đã bổ sung những gì còn thiếu sót trong bài viết Nếu không có sự nhiệt tình, tạo điều kiện của các thầy cô thì việc hoàn thành tốt bài viết là rất khó
Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất của mình đến tất cả các thầy cô, mà đặc biệt là cô Trần Thị Hương, giảng viên trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện bài viết, và các thầy cô quản lý thư viện Ngoài ra, tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn đến tập thể lớp Dân Sự 26, những người luôn đứng phía sau, hỗ trợ cho tác giả hoàn thành bài viết của mình
Một lần nữa, tác giả xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Là tế bào của xã hội, gia đình phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp những biến đổi diễn ra trong xã hội, những đặc điểm phát triển của từng dân tộc Thông qua đó, gia đình lại tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của xã hội, đến việc hình thành nhân cách và lý tưởng của con người, đến việc hình thành ý thức đối với sự kế thừa các di sản văn hóa dân tộc, đối với việc truyền thụ các kinh nghiệm lao động Gia đình đóng vai trò đặc biệt trong việc tái sản xuất ra con người - lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội Hôn nhân là sự kết hợp giữa nam và nữ được “hợp thức hóa”ù bởi những quy định của xã hội như những phong tục tập quán, đạo đức, tín ngưỡng…, và đặc biệt là những quy định của nhà nước thông qua pháp luật hôn nhân và gia đình Từ đó phát sinh ra nghĩa vụ
và quyền của vợ chồng trong quan hệ với nhau, với con cái của họ Chế độ hôn nhân ở mỗi dân tộc trên đất nước ta thường bị ràng buộc bởi những tập tục của mỗi tộc người nhất định, nên mang những nét đặc trưng so với các dân tộc khác
Do đó, vấn đề phong tục, tập quán và ảnh hưởng của nó đối với đời sống cộng đồng đã được quan tâm, và tìm hiểu trong suốt thời gian qua Phong tục, tập quán là yếu tố gắn liền với nền văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay, đặc biệt phong tục tập quán gắn liền với đời sống của cộng đồng và được thể hiện qua các lĩnh vực của đời sống xã hội như lễ, tết, hội hè… trong đó bao gồm cả phong tục tập quán điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình
Quan hệ hôn nhân và gia đình chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục, tập quán Vấn đề này đã được thừa nhận trong thực tế cũng như trong hệ thống pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ Nhưng vấn đề đặt ra là việc có thể xem phong tục tập quán là nguồn của pháp luật nói chung và của pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng hay không? Đây là vấn đề đang được quan tâm nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phong tục tập quán và các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Việc làm sáng tỏ vấn đề này sẽ góp phần giúp nhà nước định hướng trong việc xây dựng pháp luật, tạo nên sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong tục tập quán và pháp luật hôn nhân và gia đình, nâng cao hơn nữa giá trị của pháp luật hôn nhân và gia đình trong đời sống cộng đồng dân tộc Việt Nam, phát huy được giá trị của pháp luật trên thực tế Giúp pháp luật hôn
Trang 4nhân và gia đình đi sâu, đi sát vào đời sống của cộng đồng các dân tộc, tạo cho họ ý thức sống và làm việc theo pháp luật nhưng không xa rời phong tục, tập quán tốt đẹp của họ Đây là vấn đề không mới nhưng buộc chúng ta phải quan tâm đúng mức, vì nó ảnh hưởng rất nhiều đến sự tồn tại và phát triển của một quốc gia có truyền thống lâu đời như Việt Nam Phong tục tập quán và pháp luật hôn nhân và gia đình, hai yếu tố cùng tồn tại và tác động lẫn nhau, luôn đòi hỏi những nhà nghiên cứu, những nhà lập pháp phải quan tâm để nhằm phát huy được những giá trị tốt đẹp của hai yếu tố này, góp phần hoàn thiện cơ chế bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình, hai yếu tố quan trọng góp phần xây dựng một xã hội tốt, một đất nước phát triển Chính vì thế, nghiên cứu những phong tục tập quán trong mối quan hệ với pháp luật hôn nhân và gia đình có một tầm quan trọng đặc biệt, giúp chúng ta nhận thức được tính đa dạng, phức tạp của vấn đề Đồng thời qua việc nghiên cứu này cũng làm sáng tỏ được tính thống nhất, tính quy luật phát triển của các quan hệ hôn nhân và gia đình, làm sáng tỏ các quan hệ, tập tục xã hội và lối sống văn hóa của các dân tộc Việt Nam Ngoài ra, việc nghiên cứu vấn đề này còn là cơ sở khoa học góp phần cụ thể hóa một số điều luật trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Điều đó hết sức cần thiết cho các dân tộc ít người Việt Nam và cho cả các cơ quan quản lý có điều kiện thực hiện và kiểm tra sự thực hiện Luật hôn nhân và gia đình của nhà nước trên thực tế
Phương pháp nghiên cứu:
Bài viết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, chứng minh… dựa trên nền tảng phương pháp luận chung duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Bài viết nghiên cứu phong tục tập quán và pháp luật hôn nhân và gia đình Trong phạm vi khái quát về phong tục tập quán nói chung và mối quan hệ tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa phong tục tập quán và pháp luật hôn nhân và gia đình
Trang 5Kết cấu và nội dung của đề tài:
Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên bài viết có kết cấu nội dung được chia thành ba phần : phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung của đề tài gồm hai chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về phong tục tập quán và pháp
luật hôn nhân và gia đình
Chương 2: Phong tục tập quán và pháp luật hôn nhân và gia đình_ quan hệ
tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng Các biện pháp phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp và hạn chế phong tục tập quán trái pháp luật và đời sống xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Với khả năng và kiến thức còn hạn chế, bài viết còn nhiều thiếu sót, mong quý thầy cô góp ý nhằm hoàn thiện hơn nữa nội dung nghiên cứu của đề tài
Chân thành cảm ơn quý thầy cô!
Trang 6MỤC LỤC:
LỜI NÓI ĐẦU trang 1,2,3
MỤC LỤC trang 4,5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNHtrang 6
1.1 Phong tục tập quán trang 6
1.1.1 Khái niệm phong tục, tập quán trang 6
1.1.1.1 Phong tục trang 6
1.1.1.2 Tập quán trang 7
1.1.2 Đặc điểm trang 9
1.1.2.1 Sự gắn kết của phong tục tập quán với đời sống xã hội
trang 10
a) Sự gắn kết của phong tục tập quán và đời sống kinh tế
trang 10
b) Tính xã hội của phong tục tập quán trang 11
1.1.2.2 Phong tục tập quán thể hiện sự đa dạng và thống nhất
trang 14
1.1.2.3 Tính ràng buộc của phong tục tập quán trang 17
1.2 Pháp luật hôn nhân và gia đình trang 19
1.2.1 Khái niệm pháp luật trang 19
1.2.2 Pháp luật hôn nhân và gia đình trang 21
CHƯƠNG 2: PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ PHÁP LUẬT
trang 26
2.1 Phong tục tập quán tác động lê đời sống xã hội và pháp luật
trang 26
2.1.1 vai trò của phong tục tập quán trong đời sống xã hội trang 26
2.1.2 Phong tục tập quán điều chỉnh các quan hệ pháp luật hôn
nhân và gia đình trang 28
2.1.2.1 Phong tục tập quán và pháp luật hôn nhân và gia
đình trong thời kỳ phong kiến trang 29
a) Quốc Triều Hình Luật trang 29
b) Bộ Luật Gia Long trang 31
Trang 72.1.2.2 Thời kỳ cận đại trang 33
2.1.2.3 Thời kỳ hiện đại trang 35
2.1.2.4 Tác động của phong tục tập quán đến pháp luật
hôn nhân và gia đình trang 36 a) Ảnh huởng tích cực của phong tục tập quán đến pháp
luật hôn nhân và gia đình trang 36 b) Ảnh hưởng tiêu cực của phong tục tập quán đến pháp
luật hôn nhân và gia đình trang 40 2.2 Pháp luật hôn nhân và gia đình tác động lên sự tồn tại của
những phong tục tập quán trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình trang 43 2.2.1 Kế thừa và phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp
trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình trang 44
2.2.2 Hạn chế và tiến tới loại trừ những phong tục tập quán trái
pháp luật, đạo đức xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và
gia đình trang 47
2.2.2.1 Hạn chế những phong tục tập quán không phù hợp
với pháp luật và đạo đức xã hội trang 48 2.2.2.2 Loại trừ, nghiêm cấm những phong tục tập quán trái
pháp luật, đạo đức xã hội trang 50 2.3 Các biện pháp phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp và
hạn chế những phong tục tập quán không phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình trang 55 2.3.1 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật hôn nhân và
gia đình đến từng địa phương trang 57 2.3.2 Chủ trương phát huy những nét đẹp trong hôn nhân và hạn
chế những phong tục tập quán lạc hậu của từng dân
tộc trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình trang 61
KẾT LUẬN trang 67 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.1 PHONG TỤC TẬP QUÁN:
Việt Nam – một dân tộc có lịch sử phát triển lâu đời, trải qua bao thế hệ, các dân tộc anh em trên lãnh thổ đã đoàn kết cùng nhau xây dựng một đất nước phát triển Từ lâu đời, các dân tộc ở Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau thành một cộng đồng cùng nhau chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc Sự gắn bó đó đã tạo thành động lực cực kỳ to lớn đưa Việt Nam vượt qua bao khó khăn, chiến thắng bao kẻ thù xâm lược Hơn nữa, chính sự đa dạng và thống nhất của năm mươi bốn dân tộc anh em đã tạo nên sự đa dạng trong đời sống văn hoá, chính trị, xã hội… Và sự đa dạng này được thể hiện cụ thể qua lối sống, cách ứng xử, ngôn ngữ, chữ viết, và đặc biệt là thông qua phong tục tập quán của từng dân tộc, từng làng xã cũng như từng gia đình Việt Nam Phong tục tập quán rất quan trọng, nó vừa là sự biểu hiện cụ thể bản sắc văn hoá riêng của mỗi dân tộc, đồng thời chi phối cách ứng xử của mỗi cá nhân trong cộng đồng
1.1.1 KHÁI NIỆM PHONG TỤC TẬP QUÁN:
1.1.1.1 Phong tục:
Phong tục là thuật ngữ được sử dụng nhiều trong đời sống xã hội và trong sách báo để chỉ cách ứng xử được đi lặp lại nhiều lần và được mọi người thừa nhận trên thực tế Nhưng trên thực tế khái niệm phong tục chưa có sự thống nhất Ở góc độ nghĩa của từ thì “phong” có nghĩa là là nếp sống, “tục” có nghĩa là thói quen Phong tục, có nghĩa là những thói quen, tục lệ trong đời sống xã hội được đa số mọi người thừa nhận Nhưng nhìn ở góc độ khái quát hơn chúng
ta có thể hiểu: phong tục tập quán là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội và lâu đời được đại đa số mọi người thừa nhận và tuân theo
Trang 9Dù nhìn nhận dưới góc độ nào thì phong tục luôn được hiểu là những giá trị được cộng đồng thừa nhận, tạo thành nếp sống, mang bản sắc của một vùng nhất định Phong tục là sự biểu hiện cụ thể của bản sắc dân tộc Nó bộc lộ những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc dân tộc
Tập quán, cũng như phong tục, tác động lên các quan hệ xã hội trên phạm
vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Tập quán, có thể là tập quán về sản xuất, về cách ứng xử của con người trong xã hội… Nhìn chung giữa phong tục và tập quán có mối liên hệ với nhau, nhưng về cơ bản phong tục khác với tập quán Tập quán, ở chừng mực nào đó, là những thói quen sơ khai, tính bắt buộc không cao, mà chủ yếu là sự tự nguyện tuân theo vì sự phù hợp với cộng đồng Phong tục, cũng là những thói quen trong xã hội nhưng phong tục được coi là khuôn mẫu ứng xử “có tính bắt buộc đối với mọi thành viên vì chúng được coi là sự cần thiết cho lợi ích cộng đồng” và “có tính bắt buộc nghiêm ngặt, những người vi phạm có thể phải chịu những chế tài nghiêm khắc”(2) Từ đó, cho thấy những tập quán hình thành và phát triển đến một mức độ nào đó thì trở thành những phong tục Phong tục, đó là những quy định, nhưng các quy định ấy đều phát triển trên cơ sở những tập quán kéo dài được thừa nhận Tức là, những tập quán, những thói quen ấy nếu không đúng với phong tục thì thói quen đó sẽ
bị loại ra khỏi cuộc sống cộng đồng Điều này có nghĩa là: phong tục tạo ra sự thống nhất cho một xã hội, nó hình thành và chắt lọc, đúc kết lại từ cuộc sống, giao tiếp, lễ nghi… Mà trong đời sống cộng đồng, con người chung sống với nhau và tồn tại nhiều quan hệ nên không chỉ duy nhất có một phong tục mà tương ứng với hàng loạt các quan hệ đó sẽ tạo ra hàng loạt những phong tục tương ứng
Giữa phong tục và tập quán có mối quan hệ mật thiết với nhau, phong tục được hình thành trên cơ sở tập quán, nhưng trong quá trình phát triển của phong tục đến “ một giai đoạn nào đó mà tính bắt buộc và những biện pháp đảm bảo
Trang 10cho việc thực hiện phong tục mất dần thì phong tục trở thành tập quán” Đây là yếu tố, làm nên sự khác biệt giữa phong tục và tập quán Tuy nhiên sự khác biệt này cũng không đáng kể, và trong phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng không tách riêng mà kết hợp phong tục và tập quán như một yếu tố thống nhất trong mối quan hệ với pháp luật hôn nhân và gia đình
Phong tục tập quán liên quan và thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc Nó vừa là sản phẩm vật chất vừa là sản phẩm trong lĩnh vực tinh thần của một cộng đồng nhất định Ở văn hoá vật chất, phong tục tập quán thể hiện qua cách ăn mặc, sản xuất… Còn trong văn hóa tinh thần, phong tục tập quán lại thể hiện qua tiếng nói, tín ngưỡng, lễ hội… Vì vậy, có thể thấy, phong tục tập quán luôn hiện diện và giữ vai trò là kho di sản quý báu thể hiện bản sắc của từng tộc người nhất định trên đất nước ta
Phong tục tập quán được hình thành và gắn liền với trình độ phát triển kinh tế xã hội của các dân tộc Nó như tấm gương phản ánh tất cả quá trình lịch sử của một dân tộc trong dòng lịch sử chung của một đất nuớc Cứ nhìn vào phong tục tập quán du canh du cư, tập quán trong sản xuất thì ta đã thấy được trình độ phát triển kinh tế của một thời kỳ nhất định, thấy được xã hội và văn hóa của dân tộc đó nói riêng và một đất nước nói chung Những phong tục cưới hỏi, hôn nhân mẫu hệ hay phụ hệ…, tất cả đều thể hiện, hướng đến mức độ bình đẳng giữa nam và nữ, cách ứng xử trong sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng, những thành viên trong gia đình… Qua đó, giáo dục con người cách sống trong cộng đồng: phải tôn trọng cộng đồng, tự ghép mình vào những khuôn mẫu nhất định bởi vì làm đúng phong tục cũng đồng nghĩa với việc phù hợp với các quy tắc xử sự chung của cộng đồng
Phong tục tập quán là yếu tố thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc nhưng không có nghĩa là tất cả phong tục tập quán đều tốt đẹp Chúng ta phải thừa nhận một điều rằng: bên cạnh những phong tục tập quán có ảnh hưởng tốt đẹp đến đời sống xã hội, đó là những mỹ tục, có giá trị trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, được xem như những nét đẹp trong truyền thống đạo đức con người thì vẫn còn tồn tại những phong tục tập quán chưa được phù hợp Ở đây tác giả không đề cập là phong tục tập quán lạc hậu hay không vì phong tục tập quán xuất hiện
Trang 11gắn liền với đời sống xã hội tại thời đó, có thể với tốc độ phát triển như hiện nay, nó bị coi là lạc hậu, nhưng trước kia nó lại phù hợp với xã hội lúc đó Các phong tục dù xấu hay tốt đều hình thành trên các quan hệ của con người Bởi lẽ những phong tục tập quán đã lạc hậu là do chúng ta đã phát triển, đã hoà nhập vào văn hoá nhân loại, trong khi những phong tục tập quán vẫn ghi nhận những khuôn mẫu từ xưa, từ khi nó được hình thành Do đó, để có một xã hội, một nền văn hoá phát triển, chúng ta cần giữ gìn những gì cần giữ gìn, cần kết hợp những điều mà người xưa đã tôn thành chuẩn mực với những điều mới mẻ của xã hội đương đại để xác lập nên những chuẩn mực mới phù hợp với điều kiện thực tế hơn, còn những phong tục lạc hậu có thể cải hóa nó trên cơ sở di phong dịch tục nhưng phải được cộng đồng chấp nhận Qua thực tế đã cho thấy một điều: khi con người ý thức được về nếp sống, phong tục của mình thì chính họ biết điều chỉnh phong tục tập quán theo hướng thuần phong mỹ tục, hướng đến một xã hội tốt đẹp Con người và phong tục tập quán có mối quan hệ biện chứng với nhau Phong tục tập quán do con người tạo ra thì cũng sẽ do con người tác động nhằm làm cho nó phù hợp hơn với thời đại, tạo nên những giá trị tốt đẹp cho xã hội Và ngược lại, những giá trị này sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của người dân Họ tôn trọng phong tục tập quán vì cho rằng nó phù hợp với cộng đồng và tập tục mang lại cho họ trật tự xã hội, duy trì và phát triển cộng đồng
1.1.2 ĐẶC ĐIỂM:
Một quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống sẽ tạo nên sự đa dạng và phong phú về nhiều lĩnh vực như: ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng Và những phong tục tập quán sẽ phần nào thể hiện được nét đặc trưng của một cộng đồng, thể hiện trình độ phát triển cũng như về nhiều mặt trong đời sống xã hội Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả nhận thấy một số nét đặc trưng của phong tục tập quán trong xã hội, và xin được đưa ra những phân tích, đánh giá nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm của phong tục tập quán nói chung và phong tục tập quán trong các quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng
1.1.2.1 Sự gắn kết của phong tục tập quán với đời sống xã hội
Trang 12Quá trình lịch sử đã chứng minh một điều rằng phong tục tập quán ra đời trước khi pháp luật ra đời Điều này được xem như là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống Phong tục tập quán ra đời từ rất sớm Sự ra đời sớm của phong tục tập quán có thể được giải thích bởi sự gắn kết của nó với sự hình thành, thể hiện và phát triển của cộng đồng, phụ thuộc vào môi trường địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội cũng như thể chế văn hoá xã hội Thông qua phong tục tập quán, chúng
ta có thể đánh giá được quan hệ, sinh hoạt, đời sống của một dân tộc nhất định Điều đó cho chúng ta thấy rằng những phong tục tập quán luôn gắn kết với đời sống của người dân thông qua việc gắn liền với điều kiện kinh tế và xã hội của họ
a) Sự gắn kết của phong tục tập quán và đời sống kinh tế
Việt Nam với địa thế và khí hậu được thiên nhiên ưu đãi, đủ điều kiện cho đất nước phát triển nền nông nghiệp lúa nước đặc trưng Do đó, các phong tục tập quán trong sinh hoạt lao động sản xuất đã phản ánh được quá trình phát triển, trình độ phát triển xã hội Việt Nam Lịch sử cho thấy, qua quá trình phát triển, con người đã từng bước cải thiện được thiên nhiên, tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất nông nghiệp, từ đó những kinh nghiệm của họ được đúc kết lại và cứ thế lưu truyền từ đời này sang đời khác và trở thành những tập quán sản xuất
Việt Nam là một đất nước có nhiều dân tộc khác nhau Mỗi dân tộc có phong tục tập quán riêng trong đời sống nói chung và trong các hoạt động lao động sản xuất nói riêng Sự đa dạng và phong phú của phong tục tập quán giữa các dân tộc trong hoạt động lao động sản xuất có thể giải thích bởi điều kiện phát triển kinh tế của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền khác nhau Thật vậy, sự phát triển kinh tế không đồng đều do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn sự ưu đãi của thiên nhiên với công việc lao động sản xuất của các địa phương khác nhau Cách thức tiến hành lao động sản xuất của mỗi nơi cũng không giống nhau Chẳng hạn, ở vùng đồng bằng, ruộng nước thuận lợi thì người dân sẽ có điều kiện xây dựng hệ thống tưới tiêu, đắp đê chắn lũ, chắn mặn… tạo thuận lợi cho canh tác thì ở những vùng đồi núi trung du, một số dân tộc có tập quán du canh du cư, vì điều kiện nơi đó chưa thuận lợi, họ chưa có đủ khả năng cũng như phương tiện hiện đại để cải tạo nó, nên việc du canh du cư của đồng bào là điều
Trang 13tất yếu và tập quán này kéo theo sự hình thành của nhiều tập quán khác như phong tục làm nhà mới của dân tộc Dao (Họ luôn thay đổi chổ ở do đó họ phải luôn lo làm nhà mới) Hoặc cũng là đồng lúa, nhưng ở những tộc người miền núi lại có những tập tục riêng không giống như cộng đồng dân cư ở miền xuôi Nhìn chung những phong tục tập quán ra đời luôn gắn với điều kiện kinh tế của một vùng, một cộng đồng nhất định, tạo nên sự hòa hợp lẫn nhau Điều kiện kinh tế gắn liền với phong tục tập quán, điều kiện kinh tế thế nào thì hình thành nên những phong tục tập quán tương ứng và những phong tục tập quán cũng phản ánh ngược lại điều kiện kinh tế
b) Tính xã hội của phong tục tập quán
Là một yếu tố do con người tạo ra, phong tục tập quán luôn gắn kết với con người và cộng đồng xã hội Đặc trưng của xã hội Việt Nam phản ánh một phần giá trị của phong tục tập quán làng xã Việt Nam mang tính độc lập, khép kín nên hình thành tư tưởng không có thói quen sống theo pháp luật mà họ luôn tuân theo những phong tục tập quán “Phép vua thua lệ làng”
Trong xã hội làng xã Việt Nam, tính cộng đồng luôn được đề cao, do quá trình phát triển của lịch sử, công xã thị tộc trước đây vẫn tiếp tục được duy trì, gia tộc được gắn kết bền vững Mối quan hệ huyết thống trong gia tộc thắt chặt mối quan hệ của người dân trong xã hội Mọi người trong xã hội luôn đoàn kết với nhau và sống khép kín trong một phạm vi nhất định tạo nên tính tự quản của làng xã Việt Nam Họ sống và tuân theo những chuẩn mực của làng mình Còn đối với nhà nước, họ chỉ cần làm tròn nghĩa vụ nộp sưu thuế Ngoài ra, họ có thể tự do xử lý mọi công việc trong làng, nhà nước không can thiệp đến Lệ làng dựa vào truyền thống được cộng đồng chấp nhận và tuân thủ được hình thành từ kinh nghiệm của con người, của cộng đồng truyền từ đời này sang đời khác Do đó, ứng xử theo tục lệ, phần lớn là ứng xử theo tâm, theo tính Ứng xử theo tục lệ chuyển các quan hệ pháp luật sang quan hệ văn hoá và lấy các quan hệ văn hoá để giải quyết ngược lại các quan hệ kinh tế và pháp luật
Từ đặc trưng của xã hội Việt Nam đã hình thành nên những phong tục tập quán thể hiện các quan hệ xã hội trong một phạm vi nhất định Mỗi làng xã sẽ có những phong tục tập quán khác nhau phù hợp với mình Làng xã Bắc Bộ có
Trang 14nét đặc trưng riêng của vùng đồng bằng chiêm trũng sẽ có những phong tục tập quán về sản xuất nông nghiệp, về văn hóa gắn liền với đặc trưng xã hội đó…
Những phong tục tập quán ra đời và gắn kết với điều kiện kinh tế và xã hội trong một phạm vi nhất định và tạo ra sự thống nhất lối sống trong làng, bằng sự giữ gìn tôn trọng lối sống của các làng với nhau tạo nên sự thống nhất trong xã hội Từ quan điểm thống nhất của người dân trong lối sống xã hội, về đời sống văn hóa, về quan điểm cái đẹp cũng như nghi lễ trong các quan hệ hôn nhân , con người luôn đặt mình trong mối quan hệ với cộng đồng và gia đình Tình cảm giữa những thành viên trong gia đình được xem là nền tảng quan trọng hình thành nhân cách con người Gia đình tạo cơ sở cho sự ổn định và vững mạnh của cộng đồng, của đất nước Do đó, những thành viên trong gia đình luôn luôn gắn bó với nhau bằng tình yêu của vợ chồng, tình thương yêu của cha mẹ đối với con cái, sự kính trọng của con cháu đối với ông bà, cha mẹ… Những nét đẹp này trong đời sống hôn nhân gia đình được thừa nhận và tôn trọng Ngoài ra, những
tư tưởng, quan điểm về tín ngưỡng cũng thể hiện được sự gắn kết của phong tục tập quán với đời sống xã hội, tư tưởng sống… của người dân trong xã hội Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, con người thường mang trong tâm niệm của mình: tổ tiên là thiên liêng, dù đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng vẫn có mối liên hệ huyền
bí và mạnh mẽ với con cháu, phù hộ và chỉ bảo họ tránh điều ác, giữ điều lành… Người chết chỉ có thể yên ổn trong phần mộ của mình nếu con cháu dâng cúng lễ vật theo nghi thức, ngược lại, người sống tin rằng sự sung sướng của họ luôn được bao bọc bởi sự phù hộ của người chết, họ có cảm giác đang được che chở Niềm tin sâu xa về mối quan hệ giữa người sống và người chết, giữa hiện tại và quá khứ đã trở thành triết lý sống của người Việt Nó dần trở thành đạo lý, nền tảng của cuộc sống, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta Điều này được thể hiện trong đời sống thường nhật thông qua các phong tục tập quán, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Ở đây việc ứng xử với quá khứ, với người đã khuất không phải chủ yếu là vì họ, cho họ, mà vì là những người đang sống Qua cung cách ứng xử với tổ tiên, ông bà cũng cho thấy tấm lòng hiếu thảo tôn kính của con cháu trong dòng họ, cư xử với tổ tiên cũng là cư xử với lối xóm, láng giềng… Sự gắn bó giữa người sống và người chết còn được thể hiện trong đời sống văn hóa của cộng đồng Nó trở thành phương thức tồn tại và lưu truyền yếu tố thiêng liêng trong văn hóa của người Việt Nó không những thể hiện
Trang 15thông qua việc thờ cúng mà còn qua các lễ hội dân gian Lễ hội là một sinh hoạt dân gian mang tính cộng đồng của người dân, diễn ra trong chu kỳ thời gian, không gian nhất định Lễ hội ra đời và tồn tại liên tục trong suốt chiều dài lịch sử của người Việt, là hình thức sinh hoạt văn hóa phổ thông Lễ hội dân gian vừa là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng thần linh, vừa là hoạt động vui chơi giải trí, là sinh hoạt văn hóa tinh thần và cũng gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất vật chất Lễ hội nào cũng gắn với việc thờ cúng một vị thần, một danh nhân văn hóa, hay một anh hùng có công dựng nước hoặc giữ nước Đây là dịp ôn lại lịch sử, bồi đắp tình cảm với đất nước, quê hương, đối với tổ tiên nòi giống và thắt chặt quan hệ cộng đồng Yếu tố thiên liêng không chỉ thể hiện trong nghi thức tế lễ thần linh, mà còn là cảm hứng xuyên suốt trong các trò chơi, các điệu múa lời ca, tiếng nhạc trong ngày hội, tạo nên những nét đẹp trong đời sống của con nguời, gắn với đời sống xã hội Chính vì vậy, những phong tục tập quán luôn gắn liền với cái đẹp, với quan hệ tín ngưỡng đan xen với quan hệ thẩm mỹ Điều đó giải thích sự cuốn hút của những đám rước, những trò diễn, những điệu múa… Người dân tham dự vào các trò chơi ngày hội không chỉ là giây phút giải trí mà còn là những giây phút họ được sống với những nét đẹp truyền thống của người Việt, hòa mình vào nét văn hóa độc đáo của dân tộc mình Lễ hội từ xưa đã gắn bó với mỗi làng, có giá trị văn hóa lớn trong đời sống truyền thống và kéo dài đến tận ngày nay, khi mà cuộc sống của người dân ít nhiều đã có sự thay đổi
Sự gắn bó của phong tục tập quán trong đời sống văn hóa của người còn gắn liền với quan niệm của người dân về cái đẹp trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Cái đẹp không phải là những gì quá cầu kỳ đôi khi chỉ là những điều rất bình dị như họ quan niệm trước đây về cái đẹp của người phụ nữ Việt Nam phải là những người phụ nữ răng được nhuộm đen nhánh, hay trong nghi thức cưới hỏi phải có trầu cau như một lễ vật thiên liêng Từ xa xưa, trầu cau tượng trưng cho tình yêu nồng thắm, bền chặt Miếng trầu không hiếm nhưng chứa đựng nhiều tình cảm, ý nghĩa nơi nào cũng có, dù nghèo hay giàu đều không thể thiếu Trầu cau còn là “phương tiện giao tiếp”, là biểu trưng cho sự tôn kính nên được dùng phổ biến trong các lễ hội, nghi thức cưới hỏi… Do vậy, nhất thiết phải có trầu cau trong các đám cưới trong dân gian
Trang 16Tóm lại, những phong tục tập quán gắn liền với đời sống của người dân, nó chi phối lối sống, quan niệm của con người trong xã hội về văn hóa, về cái đẹp, cái hay trong xã hội Giữa phong tục tập quán và đời sống xã hội có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Điều kiện xã hội hình thành những phong tục tập quán phù hợp với nó, còn những phong tục tập quán phản ánh sự phát triển của điều kiện xã hội Tất cả tồn tại song song trong mối quan hệ biện chứng, thúc đẩy sự phát triển của một nền văn hóa tiên tiến mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.2.2 Phong tục tập quán thể hiện sự đa dạng và thống nhất
Phong tục tập quán gắn liền với đời sống xã hội, từ đó, nó phản ánh sâu sắc và toàn diện những sinh hoạt của người dân, thể hiện những nét đặc trưng của xã hội Việt Nam với đa dạng các dân tộc Họ cùng sinh sống trải dài từ bắc tới nam, mỗi dân tộc một phong tục tập quán khác nhau tạo nên sự đa dạng trong đời sống, từ sinh hoạt ăn uống, lễ nghi… Tất cả góp phần tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc về đất nước và con người Việt Nam
Trong sinh hoạt hàng ngày, ăn uống là nhu cầu tất yếu của con người để tồn tại và phát triển Nhưng mỗi vùng khác nhau, có điều kiện địa lý, điều kiện kinh tế xã hội… khác nhau hình thành nên những cách thức ăn uống khác nhau
Do đó, ăn uống, trên nhiều phương diện, biểu hiện khá rỏ nét phong tục tập quán của các dân tộc Cùng là ăn cơm, đa số các dân tộc Việt Nam có tập quán ăn cơm với rau là chính, thịt cá là phụ Nhưng ở người Mường, người Thái lại ưa thích ăn thịt rừng như thịt trâu vì đặc trưng địa bàn cư trú của họ thuận lợi cho việc chăn nuôi nên thức ăn chủ yếu của họ cũng làm từ vật nuôi Còn cư dân của vùng ven biển lại chế biến thức ăn chủ yếu từ hải sản như tôm, cá, nghêu, sò, ốc, hến…
Ngoài những phong tục tập quán về ăn uống, về chỗ ở của các dân tộc cũng thể hiện sự đa dạng của phong tục tập quán Người miền núi sẽ có thói quen sinh sống trong nhà sàn, đây là loại nhà phù hợp với điều kiện nơi đây, nhằm bảo vệ con người trước những nguy hiểm của thiên nhiên Còn người ở miền xuôi, diện tích đất rộng, điều kiện giao thông thuận lợi, nên nơi ở của đồng bào nơi đây cũng thể hiện nét đặt trưng như: nhà lợp ngói thường thấy ở
Trang 17người Kinh, xung quanh có vườn, nhà ba giang thoáng mát… Nhìn chung, phong tục tập quán trong nếp sống, nếp sinh hoạt của con người luôn thể hiện sự phù hợp với điều kiện nơi đó, tạo nên sự đa dạng đặc trưng mà mọi người có thể nhận thấy được
Sự đa dạng của phong tục tập quán còn thể hiện trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của nhiều dân tộc Năm mươi bốn dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhưng ở mỗi tộc người có quan điểm về hôn nhân và gia đình khác nhau, nhưng về cơ bản đều phản ánh được những giá trị tốt đẹp thông qua những phong tục tập quán đã tồn tại lâu đời Về hôn nhân và gia đình, tương tự như người kinh, hầu hết các dân tộc thiểu số đều quan niệm hôn nhân và gia đình là quan trọng, ảnh hưởng không chỉ một cá nhân mà còn ảnh hưởng cả một cộng đồng Tuy trình độ phát triển không đồng đều, song chế độ hôn nhân một vợ một chồng bền vững đã tồn tại lâu đời từ lâu tại các dân tộc thiểu số nước ta Trai gái khi lớn lên phải lấy vợ, lấy chồng đã trở thành thông tục bắt buộc, nhằm bảo vệ và duy trì nòi giống Nhưng đối với một số dân tộc thiểu số họ còn quan niệm thêm một điều rằng: việc sống độc thân được coi là một điều cấm
kỵ, tuỳ mỗi dân tộc mà họ có sự giải thích khác nhau vì sao lại cấm kỵ Hôn nhân của các dân tộc thể hiện những nét đẹp khác nhau, ở nhiều dân tộc có tục
ở rể sau khi kết hôn, cheo cưới … Mỗi tập tục đều thể hiện những giá trị nhất định mà chúng ta khi nhìn vào đó chúng ta biết được nó được xem là mỹ tục hay là những hủ tục
Tuy nhiên, sự đa dạng trong phong tục tập quán của các đồng bào dân tộc là vậy, nhưng nó vẫn có sự thống nhất với nhau Các dân tộc không tách rời nhau mà càng ngày càng gần với nhau hơn qua việc giao lưu văn hóa giữa vùng này với vùng kia Cùng tác động đến nhau và tạo nên một khối thống nhất vững chắc và cùng nhau tồn tại trong nền văn hoá đa sắc tộc Sự đa dạng của phong tục tập quán của các dân tộc trên đất nước ta được thể hiện hầu như trên mọi lĩnh vực từ hoạt động kinh tế đến hoạt động văn hóa, các hoạt động tổ chức quản lý xã hội đến sinh hoạt cá nhân Trong từng lĩnh vực đó có những nét đặc trưng nhất định, góp phần quan trọng vào việc hình thành tính cách khác nhau của người dân mỗi vùng miền Ở làng xã Bắc Bộ, tính cộng đồng và tính tự trị là rất cao Làng xã Bắc Bộ luôn được bao bọc bởi những lũy tre làng, con người
Trang 18gắn chặt với cộng đồng, khoảng cách giao tiếp ra ngoài làng của mọi người là rất ít, trong phạm vi làng xã họ luôn cảm nhận được sự ấm áp, gần gũi với mọi người Đồng bằng Nam Bộ lại gần như khác hẳn với đồng bằng Bắc Bộ Ở đây không có lũy tre làng bao quanh như ở làng xã Miền Bắc, người dân Nam Bộ cũng không muốn bị gắn chặt trong khuôn khổ của những lũy tre mà thường thích làm theo cảm tính, sở thích của mình Họ hòa mình vào thiên nhiên, sống dựa mình vào thiên nhiên Do vậy mà tính cách của họ cũng trở nên phóng khoáng, tự tin hơn Sự khác biệt này có thể được lý giải một phần dựa vào điều kiện tự nhiên khác nhau Đồng bằng Nam Bộ có điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu tốt hơn đồng bằng Bắc Bộ Vùng đất Nam Bộ là vùng đất mới khai phá Người ở nhiều nơi tụ tập về sinh sống nên phong tục tập quán ở đây phong phú nhưng mới mẻ, không có tính “lâu đời” bên cạnh đó thì đồng bằng Bắc Bộ thực sự là cái nôi của nền văn hóa nước ta Ở vùng này đã tồn tại và hình thành nhiều phong tục tập quán mang tính bền vững và lâu đời chi phối đến đời sống xã hội Tuy nhiên dù có sự khác biệt như vậy nhưng người dân cả hai miền vẫn có tính cần cù, vẫn coi trọng tính cộng đồng Nhờ vậy mà bản sắc văn hóa Việt Nam vẫn giữ đuợc tính thống nhất của nó Hay nói cụ thể hơn là ở mỗi vùng, mỗi dân tộc, những phong tục tập quán đa dạng phong phú nhưng tất cả đều thể hiện là một khối thống nhất, tạo được nét đặc trưng cho văn hóa Việt Nam Ngoài ra, sự đa dạng và phong phú trong đời sống thực vật và hệ động vật do thiên nhiên mang lại, tạo cho sự ứng xử của con người trong sinh hoạt ăn uống cũng đa dạng nhưng tất cả đều thể hiện nét đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước qua các bữa ăn chủ yếu là cơm, rau, thịt… Bên cạnh đó, trong cách xây dựng nhà cửa của người dân cũng thể hiện tính thống nhất giữa các vùng với nhau, đó là nhà cửa của các dân tộc có thể khác nhau như nhà sàn, nhà xây… nhưng tất cả đều thể hiện tính gọn nhẹ, hòa mình vào thiên nhiên, phù hợp với địa hình và khí hậu nơi đó Mặc dù, các dân tộc nước ta có trình độ phát triển không đồng đều, như có những dân tộc còn sinh sống bằng các hình thức như săn bắn, hái lượm, đánh cá như người Rục… thì vẫn thể hiện sự thống nhất trong đó Chẳng hạn, trong trồng trọt, dù loại hình có khác nhau như trồng trên nương rẫy hay ruộng nước nhưng về cơ bản vẫn thể hiện nét đặc trưng đó là trồng lúa, cây lương thực chủ yếu của nước ta Chính nét đặc trưng của kinh tế nông nghiệp lúa nước đã quy định sự thống nhất của văn hóa Việt Nam trên nhiều phương diện – văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần Từ đó kéo theo các lễ hội
Trang 19của các dân tộc liên quan đến hoạt động sản xuất cũng thể hiện những nét chung, nét đặt trưng của nền nông nghiệp lúa nước Những nghi lễ liên quan đến cây lúa như lễ cầu mùa, lễ cúng cơm mới của người Giẻ Triêng, cúng thần lúa của người Rơ Măm, hay tục cầu mưa của ngươi Thái ( Mai Châu ) … hoặc trong các hoạt động tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các dân tộc có các nghi thức khác nhau nhưng đều xuất phát từ cái chung nhất, đó là quan niệm con người sau khi chết vẫn tồn tại ở một thế giới khác và họ cũng cần được sự quan tâm của con cháu Và thông qua đó thể hiện tấm lòng hiếu thảo của con cháu trong dòng họ Sự thống nhất trong phong tục tập quán còn được hình thành và thể hiện trong đời sống lịch sử - văn hóa, qua quá trình thích nghi và chinh phục tự nhiên và nhất là quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước
Tóm lại, trong sự đa dạng vẫn có sự thống nhất, đó là nét đặc trưng của văn hóa nước ta được thể hiện thông qua những phong tục tập quán trong đời sống cộng đồng các dân tộc Tạo sự gắn kết hài hòa giữa những phong tục tập quán với nhau, tăng cường quá trình “di phong dịch tục” và làm nền móng cho sự thống nhất được hình thành và gìn giữ trên cơ sở đa dạng của phong tục tập quán các dân tộc
1.1.2.3 Tính ràng buộc của phong tục tập quán
Phong tục tập quán không tự nhiên hình thành mà nó ra đời dựa trên những
cơ sở nhất định phù hợp với mục đích của cộng đồng Sở dĩ, những phong tục tập quán ra đời từ rất lâu nhưng đến nay vẫn còn giá trị là vì ở một góc độ nào đó nó được cộng đồng thừa nhận và tuân theo Sự thừa nhận các phong tục tập quán không mang tính bắt buộc cao mà chủ yếu là trên cơ sở tự nguyện của người dân Họ ý thức rằng, tuân thủ phong tục tập quán thì sẽ phù hợp với mong muốn của cộng đồng và dư luận Phong tục tập quán và pháp luật cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhưng phong tục tập quán không thể hiện tính giai cấp mà nó chỉ là những chuẩn mực xã hội Nó giới hạn hành vi ứng xử của mỗi cá nhân và cả cộng đồng sao cho phù hợp với lợi ích chung, ứng xử theo phong tục tập quán thể hiện tính “hợp tình” của hành vi Trong các thời kì trước đây và một số nơi vào thời điểm hiện tại, khi chúng ta không tuân thủ phong tục tập quán thì tất nhiên sẽ không phải chịu sự xử lý của các cơ quan tổ chức nhà nước
Trang 20mà phải chịu sự không thừa nhận của cộng đồng xã hội và dư luận vì hành vi vi phạm phong tục tập quán Không phải ngẫu nhiên mà ông cha ta lại có câu
“phép vua thua lệ làng” Người dân tuân thủ quy tắc của làng xóm hơn là pháp luật của nhà nước Những quy tắc này là những gì đúc kết lại từ bao thế hệ, gắn liền với đời sống của họ, liên quan đến niềm tin của cả cộng đồng Nó được thừa nhận một cách đương nhiên mà “những người thi hành cũng như những người phải tuân thủ đã không đặt ra những nghi ngờ gì về nó”(4) Cá nhân sống trong cộng đồng phải chịu sự ràng buộc của cộng đồng, tức là những cái “riêng” của cá nhân phải gắn liền với cái “chung” của tập thể Đó là con đường khẳng định phẩm giá của cá nhân ở một xã hội còn mang nặng truyền thống cộng đồng Điều đó hình thành trong nhận thức của cá nhân lối sống trọng tình hơn lý Đây là điều kiện quyết định cho sự tồn tại và phát triển của những phong tục tập quán Họ sống, làm việc và tuân theo những quy định của phong tục tập quán một cách tự nguyện, tạo cho những phong tục tập quán có giá trị ràng buộc Sự ràng buộc của phong tục tập quán được đảm bảo bằng sự không thừa nhận hành vi vi phạm phong tục tập quán của cộng đồng làng xã, thôn bản Ngoài ra sự ràng buộc được thể hiện ở chỗ người vi phạm phong tục tập quán phải chịu ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, nhân phẩm, như ở tộc người Ba Na những người phạm tội loạn luân phải trần truồng ăn vào máng lợn trước công chúng, coi như trường hợp giao hợp với thú vật Trong nhiều trường hợp sự ràng buộc của phong tục tập quán còn thông qua những chế tài hạn chế lợi ích kinh tế, như người có hành vi vi phạm phải chịu phạt vạ bằng các lễ vật như trâu, bò… Ngoài ra, hình phạt tách cá nhân người đó ra khỏi cộng đồng cũng được xem là một hình phạt rất hà khắc bởi con người sống tổng hoà trong các quan hệ xã hội, con người luôn gắn liền với cộng đồng và không thể thiếu các mối quan hệ làng xóm ấy
Có thể khẳng định một điều rằng phong tục tập quán không phải là pháp luật Nhưng nó có mối liên hệ với pháp luật Nó cũng điều chỉnh mối quan hệ xã hội và có một sự ràng buộc nhất định đối với con người trong cộng đồng
1.2 PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.2.1 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT
Trang 21Không có một nhà nước nào có thể tồn tại mà không có pháp luật Ở xã hội công xã nguyên thuỷ, con nguời chưa có nhà nước, chưa có pháp luật, họ sống với nhau theo những quy tắc xử sự chung Những quy tắc này được xem như những quy phạm xã hội bao gồm: phong tục tập quán và các tín điều tôn giáo… Những quy phạm này thể hiện ý chí của cộng đồng và lợi ích của toàn thị tộc Họ tuân theo một cách tự nguyện những thói quen chung đã tồn tại từ trước Nhưng khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định, do sựï phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội hình thành nên một lượng của cải dư thừa, dẫn đến việc hình thành tư tưởng chiếm hữu trong xã hội đã kéo theo chế độ thị tộc tan rã, sự phân biệt giàu nghèo xuất hiện, giai cấp được hình thành Và khi đó, những thói quen chung đang tồn tại không đủ sức điều chỉnh các quan hệ xã hội nữa, nhu cầu cần có một công cụ hữu hiệu để giai cấp thống trị áp đặt ý chí của giai cấp mình để ổn định trật tự xã hội Vì vậy, những quy phạm cũ được thay thế bằng hệ thống những quy phạm mới có tính bắt buộc thực hiện ra đời Pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Pháp luật
ra đời thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực nhà nước Mỗi pháp luật thể hiện một bản chất của một nhà nước nhất định Ở nhà nước phong kiến, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến, bảo vệ cho lợi ích của họ Còn ở nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật lại thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ để xây dựng xã hội mới trong đó mọi người sống tự do, bình đẳng, dân chủ và công bằng xã hội được bảo đảm Tuy nhiên sự ra đời của pháp luật không thể xóa bỏ hoàn toàn những quy phạm xã hội đã tồn tại lâu đời Những quy phạm này đã thấm nhuần vào một số bộ phận người dân Hơn nữa, không phải mọi quy phạm xã hội trước đó đều là hạn chế, là không phù hợp mà đôi khi lại có thể điều chỉnh được những quan hệ xã hội mà pháp luật chưa thể điều chỉnh được Chính vì thế, pháp luật luôn có mối quan hệ chặt chẽ với những quy phạm xã hội khác trong đó có cả phong tục tập quán Pháp luật ra đời vừa thay thế vừa bổ sung cho những quy phạm xã hội đã tồn tại trước đó Vì quan hệ pháp luật cũng là những quan hệ xã hội được khoác chiếc áo khoác pháp lý Quan hệ pháp luật tồn tại song song cùng những quy phạm đạo đức, phong tục tập quán, tôn giáo Nhưng pháp luật khác với những quy phạm xã hội khác là nó ra đời trong xã hội có giai cấp, sự tồn tại và phát triển của pháp luật luôn gắn liền với nhà nước Pháp luật có những dấu hiệu đặc trưng phân biệt được với những quy
Trang 22tắc xử sự có cùng chức năng điều chỉnh các quan hệ trong xã hội Do đó, pháp luật cũng có tính quy phạm, nhưng tính quy phạm khuôn mẫu của pháp luật không phải tự hình thành ngẩu nhiên mà có những đòi hỏi nhất định về hình thức, cấu trúc, sự định hướng rỏ ràng Nó đòi hỏi sự tuân thủ của con người nhằm tôn trọng ý chí của giai cấp thống trị xã hội Tính cưỡng chế của pháp luật là cần thiết cho đời sống cộng đồng Có như vậy pháp luật mới đảm bảo được tính nghiêm minh và sự bắt buộc phải tuân thủ của công dân Điều đó cũng thể hiện sự khác nhau giữa các quy phạm đạo đức, phong tục tập quán và pháp luật Khi vi phạm phong tục tập quán con người không chịu sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, nghĩa là họ không bị truy cứu trách nhiệm có tính chất pháp lý mà chủ yếu là chịu sự lên án, chịu dư luận xấu của xã hội Còn pháp luật thì khác, nếu công dân vi phạm pháp luật, họ phải chịu trách nhiệm và hình phạt của nhà nước áp dụng với họ tuỳ mức độ vi phạm của họ Tính cưỡng chế của pháp luật luôn tồn tại trong pháp luật và là yếu tố cần thiết duy trì cho sự phát triển ổn định của xã hội và nhà nước Từ sự phân tích trên có thể khái quát: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội”(5) Pháp luật không tồn tại độc lập mà luôn có sự liên hệ với các hiện tượng khác tồn tại trong xã hội như kinh tế, văn hóa … Ví dụ, trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế, vào các mối quan hệ có thể phát sinh trong quá trình giao lưu kinh tế Nhưng mặt khác, pháp luật lại có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ tới kinh tế như: đặt ra những quy tắc xử lý khi nền kinh tế phát triển không theo mong muốn của giai cấp thống trị… Đặc trưng của một nền kinh tế sẽ tạo ra một hệ thống pháp luật tương ứng, khi chế độ kinh tế xã hội thay đổi thì sớm hay muộn pháp luật cũng có sự thay đổi cho phù hợp Pháp luật không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển kinh tế xã hội Khi giai cấp trong xã hội là giai cấp tiến bộ thì pháp luật sẽ có sự tác động tích cực, phản ánh được lợi ích của người dân và ngược lại sẽ dẫn đến sự tác động tiêu cực, tạo nên một xã hội bị trì trệ và lạc hậu
Không chỉ có mối quan hệ với kinh tế xã hội mà pháp luật còn có mối quan hệ với nhà nước, chính trị và đặc biệt là quan hệ với đạo đức Những quan hệ xã hội như quy phạm đạo đức, tập quán, tôn giáo… Đây là những quy phạm được hình thành trong xã hội, có cơ sở từ những quan niệm, ý niệm của quần chúng
Trang 23nhân dân, của cộng đồng về những điều thiện, điều ác, sự công bằng Những quy phạm này được bảo đảm bằng sức mạnh thuyết phục đối với con người Nó trở thành niềm tin nội tâm và ảnh hưởng đến hành vi của con người Và mỗi cộng đồng đều có những quan niệm, quan điểm riêng của mình Dẫn đến trong xã hội tồn tại rất nhiều loại quy phạm đạo đức Chúng có sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau Và lực lượng giai cấp nào chiếm ưu thế thì những quan điểm của họ có điều kiện trở thành pháp luật Do đó, pháp luật luôn phản ánh đạo đức của giai cấp cầm quyền, tạo cho pháp luật gắn liền và điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đời sống cộng đồng
1.2.2 PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Hôn nhân, đây “là quan hệ giới tính, thực chất và ý nghĩa của nó thể hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhau nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày”(6) Nhưng đồng thời hôn nhân cũng là mối quan hệ xã hội gắn liền với đời sống cá nhân Trong xã hội con người tồn tại nhiều mối liên kết với nhau hình thành những mối quan hệ nhất định trong đó hôn nhân được xem là “quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã đăng ký kết hôn” theo quy định tại khoản 6 điều 8 Luật hôn nhân và gia đình Sự liên kết này dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận Xét theo góc độ pháp lý, hôn nhân được hiểu như trên, nhưng thực chất hôn nhân cũng là những quan hệ xã hội, trong đó con người liên kết với nhau nên quan hệ hôn nhân cũng gắn liền với lịch sử và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước Lịch sử phát triển thế giới đã ghi nhận: kể từ khi loài người xuất hiện, họ đã có sự chung sống với nhau với hình thức sơ khai của gia đình Trong quá trình phát triển hôn nhân gắn liền với quan hệ sản xuất của thời đại đó thể hiện nét đặc trưng của hôn nhân trong từng giai đoạn cụ thể Cũng như những quan hệ xã hội khác, quan hệ hôn nhân và gia đình cũng bị sự chi phối bởi tư tưởng của giai cấp thống trị Chẳng hạn, trong xã hội phong kiến, giai cấp thống trị là tầng lớp địa chủ phong kiến với tư tưởng gia trưởng nên hôn nhân trong thời kỳ này không có sự tự nguyện, tự do về mặt ý chí Mọi vấn đề của con cái do cha mẹ quyết định ngay cả tình yêu hạnh phúc lứa đôi cũng chịu sự can thiệp từ cha mẹ,“cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” Nhưng ở xã hội tư bản lại
Trang 24khác, quan điểm “con người không có kiếp sau mà chỉ có cuộc sống hiện tại”, họ chọn cách sống phóng khoáng trong hôn nhân: nam nữ có thể tự do yêu nhau, tìm hiểu nhau và tiến tới hôn nhân khi thấy phù hợp Và trong xã hội chủ nghĩa, hôn nhân dường như là sự dung hoà của yếu tố hiện đại và truyền thống Hiện đại là việc pháp luật thừa nhận quyền tự do, bình đẳng và tự nguyện của con người trong hôn nhân, còn truyền thống là trên cơ sở những quy định của pháp luật hôn nhân vừa thể hiện được những giá trị truyền thống đạo đức của con người trong xã hội Pháp luật không hạn chế sự tự do của hôn nhân những vẫn đảm bảo cho quan hệ hôn nhân trong một trật tự nhất định Trật tự đó hướng con người xử sự sao cho phù hợp với lợi ích của chính chủ thể đó, cũng như phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội và lợi ích của nhà nước Có thể nói tương ứng với xã hội nào thì sẽ có hình thái hôn nhân đó, mỗi giai cấp khác nhau sẽ có quy định về hôn nhân cũng như các hình thức hôn nhân khác nhau và bản thân giai cấp ấy cũng có những nhìn nhận về vấn đề hôn nhân khác với giai cấp khác Hay nói cách khác, hôn nhân là quan hệ mang tính giai cấp và trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, hôn nhân được điều chỉnh phù hợp với ý chí, nguyện vọng, lợi ích của gia cấp thống trị Quan hệ hôn nhân được xem là các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy phạm pháp luật điều chỉnh Từ quan hệ hôn nhân dần tiến đến việc xác lập quan hệ vợ chồng, là tiền đề cho sự ra đời của một gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà lợi ích của mỗi công dân, nhà nước và xã hội
Trong bất kỳ một xã hội nào, khi nhà nước xuất hiện, nhà nước sẽ sử dụng sức mạnh của mình để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội Trong những công cụ đó, pháp luật được xem là công cụ điều chỉnh có hiệu quả nhất đối với các quan hệ xã hội trong đời sống của người dân Nhưng nhà nước không thể điều chỉnh mọi quan hệ xã hội đã, đang và sẽ tồn tại trong tương lai của xã hội, do đó chỉ những quan hệ xã hội đặc trưng, có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống của người dân pháp luật sẽ điều chỉnh Với tầm quan trọng của mình, những quan hệ hôn nhân và gia đình, đã được nhà nước dùng sức mạnh của mình, để ban hành những quy phạm pháp luật quy định chi tiết về vấn đề hôn nhân như quy định các điều kiện kết hôn hay cấm kết hôn, quyền và nghĩa vụ của vợ – chồng, các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình nhằm giúp cho hôn nhân phát triển đúng hướng, theo chiều hướng tích cực, đảm bảo được vai trò và chức năng
Trang 25của gia đình trong đời sống xã hội, phù hợp với lợi ích, ý chí và nguyện vọng do giai cấp thống trị đặt ra Quan hệ hôn nhân và gia đình được nhà nước và pháp luật thừa nhận, bảo vệ Việc xác lập một quan hệ hôn nhân mà các bên nam nữ khi kết hôn tuân thủ các quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân đó được coi là hợp pháp Một quan hệ hôn nhân hợp pháp được nhà nước và pháp luật tôn trọng và bảo vệ
Quan hệ hôn nhân và gia đình được xem là quan hệ có tính chất ổn định, lâu dài Vì bản thân những người yêu thương nhau quyết định đi đến hôn nhân thì trong tâm thức họ muốn gắn bó với nhau suốt đời, cùng nhau xây dựng hạnh phúc mới Họ gắn bó với nhau bằng một thứ tình cảm đặc biệt đó là tình yêu giữa nam và nữ Tình cảm đó tạo cho con người vượt qua mọi thử thách cả thời gian và không gian, cho nên không một ai có thể định ra được giới hạn nhất định đối với quan hệ hôn nhân của mình Quan hệ hôn nhân dài hay ngắn, lâu hay mau là phụ thuộc vào tình cảm của con người trong quan hệ đó, cũng như các biện pháp nuôi dưỡng và duy trì tình cảm ban đầu của mình Hôn nhân làm cho con người tiến lại gần nhau hơn, họ cùng chung sống và đối diện với nhau hàng ngày, do đó, đòi hỏi ở mỗi người luôn phải biết làm mới mình, làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng tốt đẹp hơn Đây mới là yếu tố then chốt quyết định sự tồn tại lâu dài của hôn nhân Yếu tố này được chứng minh trên thực tế, có rất nhiều cuộc hôn nhân tồn tại đến cuối đời của vợ chồng, nhưng cũng có những cuộc hôn nhân kết thúc chỉ sau một thời gian ngắn chung sống
Tính ổn định và lâu dài của những quan hệ hôn nhân, tất cả đều xuất phát từ yếu tố tâm lý tình cảm của con người trong quan hệ đó Do đó, yếu tố tình cảm trong các quan hệ hôn nhân được xem là yếu tố đóng vai trò chủ đạo Nó là yếu tố quyết định cho việc xác lập quan hệ hôn nhân, cũng như cho sự tồn tại và phát triển của quan hệ này Sự quan trọng của yếu tố tình cảm trong quan hệ hôn nhân làm cho những quan hệ hôn nhân khác với quan hệ pháp luật dân sự dựa trên yếu tố tài sản là chủ yếu Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, yếu tố tài sản cũng là yếu tố cần thiết và quan trọng đối với hôn nhân, nó giúp duy trì và phát triển được quan hệ hôn nhân, đảm bảo được cuộc sống gia đình cũng như quyền lợi của mỗi thành viên trong gia đình, nhưng nó không có ý nghĩa quyết định đối với quan hệ hôn nhân và gia đình Nhưng ngược lại, những quan
Trang 26hệ hôn nhân và gia đình được thiết lập trên cơ sở tiền bạc sẽ thể hiện tính vụ lợi trong hôn nhân, làm cho hôn nhân không còn mang bản chất tốt đẹp của mình
Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa những người thân thích ruột thịt khác Trong đó, quan hệ nhân thân là quan hệ chủ đạo, yếu tố tình cảm quyết định sự tồn tại và phát triển của các quan hệ hôn nhân và gia đình Các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có sự gắn kết chặt chẽ với quy phạm đạo đức, quan niệm tôn giáo, các phong tục tập quán trong xã hội Trong nhiều trường hợp một quan hệ hôn nhân và gia đình đồng thời chịu sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật cũng như quy phạm đạo đức và phong tục tập quán Chính điều này phần nào tác động đến phương pháp điều chỉnh của ngành luật này Thật vậy, việc thực hiện Luật hôn nhân và gia đình được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước trên tinh thần phát huy tính tự giác thông qua việc giáo dục, khuyến khích và hướng dẫn thực hiện Trong quá trình thực hiện Luật hôn nhân và gia đình, nhà nước rất tôn trọng sự tự thỏa thuận của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật này
Do đặt trưng của những quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình ngoài sự điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật đồng thời cũng chịu sự chi phối bởi những quy phạm đạo đức, phong tục tập quán trong xã hội Chủ thể trong các quan hệ hôn nhân và gia đình gắn bó với nhau bằng tình cảm thiêng liêng rất riêng tư của con người nên xét dưới một góc độ nhất định thì Luật hôn nhân và gia đình đã có mối quan hệ chặt chẽ nhất, sâu sắc nhất, cụ thể nhất với phong tục tập quán Những phong tục tập quán đó thể hiện trong từng nghi lễ cưới hỏi, quan niệm hôn nhân cũng như quan hệ của các thành viên trong gia đình… và những tập tục của cộng đồng tồn tại song song suốt cuộc sống hôn nhân của mỗi người Phong tục tập quán trong đời sống cộng đồng gắn liền với đời sống xã hội và chi phối đến nhiều mối quan hệ trong xã hội, đặc biệt là những quan hệ hôn nhân và gia đình Đây là quan hệ có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân mà còn quan trọng đối với cả xã hội Xuất phát từ sự quan trọng của những quan hệ này, pháp luật từ lâu đã nhận thức được mối quan hệ gần gũi giữa phong tục tập quán và quan hệ hôn nhân gia đình, dưới pháp luật nhà Lê
Trang 27đã có quy định mà thông qua đó chúng ta có thể nhận thấy những điều luật này được xây dựng trên nền tảng những thói quen của dân tộc cụ thể như: tại điều
314 Quốc Triều Hình Luật quy định về việc kết hôn phải dựa trên cơ sở có sự chấp nhận của cha mẹ Đây là quy định thể hiện quan niệm hôn nhân của ông cha ta, đó là con người, cá nhân hòa vào trong cộng đồng chi phối, kể cả quyền hạnh phúc lứa đôi cũng bị cộng đồng ràng buộc Vì thế hôn nhân là sự lựa chọn của hai cộng đồng, gia tộc hơn là sự lựa chọn của chính cá nhân Tương tự như thế, ngay trong lời nói đầu của luật hôn nhân và gia đình năm 1986, nhà nước đã chú ý đến việc giữ gìn và phát huy phong tục tập quán tốt đẹp trong đời sống hôn nhân của các dân tộc Và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định tại điều 6 “Trong những quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại luật này thì được tôn trọng và phát huy”
Trang 28VÀ GIA ĐÌNH
2.1 PHONG TỤC TẬP QUÁN TÁC ĐỘNG LÊN ĐỜI SỐNG XÃ
HỘI VÀ PHÁP LUẬT
Con người cùng sống và phát triển trong một cộng đồng xã hội chung Họ dung hòa với nhau trong các mối quan hệ xã hội tạo nên mối liên kết giữa cá nhân và cộng đồng Đối với người Việt Nam, mọi người luôn gần gũi và gắn bó với gia đình, làng xóm Điều này tạo nên nét đặc trưng cho văn hóa Việt Nam là tính chất cộng đồng, và sống có tình nghĩa trước sau với nhau Người dân nhận thức và tuân theo những giá trị tốt đẹp được cộng đồng thừa nhận, họ luôn đặt cái “tôi” riêng mình sau cái chung của “tập thể” Chính vì mối quan hệ gắn liền với đời sống cộng đồng như vậy nên những phong tục tập quán trong đời sống của người dân cũng gắn liền với đời sống của xã hội Điều này phần nào tác động đến đời sống xã hội nói chung và hệ thống pháp luật của chúng ta nói riêng
2.1.1 VAI TRÒ CỦA PHONG TỤC TẬP QUÁN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Phong tục tập quán là sự thể hiện bản sắc văn hóa của từng dân tộc Nó là kho di sản quý báu của văn hóa nước nhà Đây là sự thể hiện, mà thông qua nó chúng ta thấy đuợc những giá trị của đời sống trong từng phong tục ăn mặc, đi
Trang 29lại và sản xuất… Phong tục tập quán có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Vai trò của nó được thể hiện trên các phương diện của đời sống xã hội và có ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của một quốc gia Phong tục tập quán góp phần định hình thái độ lao động, công việc lao động và thói quen trong các hoạt động lao động sản xuất Con người hàng ngày trong các hoạt động lao động sản xuất của mình họ tuân thủ phong tục tập quán như một thói quen Những phong tục tập quán tồn tại trong cộng đồng được xem như là những chuẩn mực mà con người có thể dựa vào đó sống và làm việc, định hướng cho con người tới những giá trị tốt đẹp mà cộng đồng thừa nhận
Ngoài việc định hình thái độ của con người trong lao động, sản xuất, phong tục tập quán còn tạo ra cho con người niềm tin đối với cộng đồng và dân tộc cũng như bồi dưỡng tính nhân văn trong đạo đức, nếp sống của họ Thông qua những phong tục tập quán, con người sống gần nhau hơn, tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp mà ở đó con người sống với nhau bằng sự thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Thực tế, chúng ta đã thấy, mọi người sống gần gũi nhau và luôn có sự giúp đỡ, hỗ trợ nhau để cùng hướng đến một lợi ích chung là sự phát triển và ổn định của tập thể, của mọi người xung quanh Trong xã hội ngày nay không hiếm những người sống chỉ biết có bản thân mà quên đi những người xung quanh mình, họ không ý thức được lợi ích tập thể đang tồn tại cùng với họ Do đó, việc thực hiện một cách tự giác các phong tục tập quán sẽ góp phần nâng cao sức phòng ngừa những mặc tiêu cực trong nhận thức và nếp sống của con người
Trong sinh hoạt thường nhật, con người có rất nhiều những hoạt động, những nhu cầu như ăn, ở, học tập, nghỉ ngơi, giải trí, sinh hoạt gia đình và giao tiếp xã hội Những sinh hoạt này một phần được điều chỉnh bằng những phong tục tập quán Điều này thể hiện điển hình qua hình ảnh mọi người trong gia đình cùng nhau vây quần ngồi ăn cơm, cùng kể cho nhau nghe những chuyện trong ngày, cha mẹ thường có những lời khuyên cho con sau những câu chuyện… không gian sinh hoạt thật ấm cúng… Đây là một trong những nét sinh hoạt văn hóa rất đẹp của người Việt Nam Nó thể hiện đầy đủ và rõ ràng sự ảnh hưởng của phong tục tập quán trong nếp sống của người Việt Do đó, việc khôi phục, giữ gìn và phát huy các phong tục tập quán lành mạnh trong các lĩnh vực này sẽ góp phần tạo nên vẻ đẹp trong lối sống và cách suy nghĩ của người dân trong xã
Trang 30hội Phong tục tập quán là sự biểu hiện trình độ văn hóa, văn minh của một dân tộc nên có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của xã hội nói chung và của xã hội Việt Nam nói riêng Ở một mức độ nào đó, con người sống và tuân theo phong tục tập quán như tuân theo pháp luật nhà nước Họ tôn trọng những giá trị đã tồn tại lâu đời và thực hiện một cách tự nguyện, vì người dân đã hình thành trong nhận thức của mình rằng, việc tuân thủ và thực hiện như vậy là đúng với nguyện vọng của cộng đồng Ở đây, phong tục tập quán có vai trò và giá trị xã hội quan trọng Nó điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung trong đó có cả pháp luật Thể hiện qua việc, nó điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì và đảm bảo trật tự cộng đồng, góp phần nâng cao những giá trị tốt đẹp của phong tục tập quán trong đời sống xã hội hiện nay của tất cả các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
2.1.2 PHONG TỤC TẬP QUÁN TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Như chúng ta đã biết pháp luật ra đời cùng với nhà nước, là công cụ sắc bén bảo vệ cho sự tồn tại của nhà nước Pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị và có tính cưỡng chế rất cao Nhưng trên thực tế, các quan hệ xã hội luôn luôn tồn tại và phát triển rất đa và phức tạp, mà pháp luật không phải là công cụ vạn năng để có thể điều chỉnh tất cả các quan hệ cũng như giải quyết mọi vấn đề trong xã hội Do đó, pháp luật luôn tồn tại song song cùng với những quy ước được cộng đồng thừa nhận và tuân theo Có thể hiểu, những quy ước đó là những phong tục tập quán được áp dụng như một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống mà con người vẫn áp dụng từ quá trình lao động sản xuất, sinh hoạt… cho đến việc kết hôn, dựng vợ gả chồng của từng cá nhân trong cộng đồng Đặc biệt là quan hệ hôn nhân và gia đình, đây là quan hệ có ý nghĩa to lớn đối với mỗi một cá nhân trong xã hội cũng như đối với một quốc gia Gia đình có ảnh hưởng lớn đến xã hội Gia đình tốt sẽ cho xã hội những con người tốt và ngược lại Do đó, từ xa xưa, ông cha ta đã quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ quan hệ gia đình hòa thuận, hạnh phúc…, góp phần ổn định và tạo điều kiện phát triển đất nước Thông qua pháp luật của các thời kỳ lịch sử, chúng ta có thể nhìn thấy được ảnh hưởng của phong tục tập quán đến việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình
Trang 312.1.2.1 Phong tục tập quán và pháp luật hôn nhân gia đình trong thời kỳ phong kiến
Xã hội Việt Nam đã trải qua thời kỳ lịch sử hàng ngàn năm phong kiến Chính vì vậy, mọi mặt của đời sống xã hội ít nhiều chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc trong đó có cả pháp luật Pháp luật trong thời kỳ này chịu sự ảnh hưởng của nhiều tư tưởng triết học, nho giáo, phật giáo… cũng như chịu sự ảnh hưởng từ những phong tục tập quán và đạo đức trong đời sống xã hội Trung Quốc Trong đó các quan hệ hôn nhân và gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc và rõ nét nhất Mỗi chế định, mỗi điều luật đều phản ánh phong tục tập quán, đạo đức phong kiến Theo thời gian, nó đi sâu vào tiềm thức, thành thói quen ứng xử trong nhân dân Hai bộ luật ở thời kỳ phong kiến là Quốc Triều Hình Luật dưới thời Lê và bộ luật Gia Long dưới thời Nguyễn một phần đã thể hiện vấn đề này Trong nhiều quy định của pháp luật ở hai thời kỳ này đã phản ánh sự ảnh hưởng của phong tục tập quán đến pháp luật hôn nhân và gia đình
a) Quốc Triều Hình Luật:
Do ảnh hưởng của nho giáo ngày càng mạnh, nên nhìn chung, pháp luật của nước ta trong thời kỳ này chịu ảnh hưởng rất sâu sắc hệ thống pháp luật Trung Quốc, về hình thức cũng như nội dung Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn có những nét riêng đặc thù mà không phải là sự rập khuôn hoàn toàn của pháp luật phong kiến Trung Quốc Quốc Triều Hình Luật là bộ luật được ban hành vào thời kỳ phong kiến dưới triều vua lê Thánh Tôn Đây là bộ luật đầu tiên nước ta Quốc Triều Hình Luật cũng chịu sự ảnh hưởng, chi phối của tư tưởng giai cấp phong kiến thống trị nhưng bộ luật đã đạt được những thành tựu to lớn, có những nét riêng biệt, độc đáo, thể hiện bản sắc dân tộc trong nhiều chế định, cụ thể là những chế định liên quan đến pháp luật hôn nhân và gia đình Pháp luật nhà Lê đã tiếp thu những phong tục tập quán của dân tộc và tiến hơn một bước trong việc bảo vệ quyền lợi của người con gái trong việc xác lập quan hệ hôn nhân, bảo vệ người vợ trong quan hệ giữa vợ và chồng… và nhiều chế định có liên quan
Trang 32Do ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo nên pháp luật thời này đề cao tính gia trưởng tồn tại tư tưởng trọng nam khinh nữ… Tuy nhiên, bên cạnh đó, có nhiều điều luật xây dựng dựa trên cơ sở những giá trị tốt đẹp của phong tục tập quán của dân tộc, thể hiện bản sắc dân tộc của Việt Nam Quốc Triều Hình Luật tại điều 317 quy định việc cấm không được kết hôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng Đây là quy định so với điều kiện hiện nay chúng ta cho rằng vi phạm quyền tự do kết hôn của con người Nhưng ở xã hội trước kia, quy định này phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, phù hợp với phong tục tập quán đã từng tồn tại và được cộng đồng thừa nhận tuân theo Họ quan niệm rằng việc cha, mẹ, chồng mất là sự đau buồn Do đó, thể hiện sự hiếu thảo thì con cái không được kết hôn trong thời kỳ này nhằm tỏ lòng tôn kính với người đã mất Và những hành vi vi phạm quy định này bị xử rất nặng
Pháp luật trong thời kỳ này quan tâm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong việc xác lập quan hệ hôn nhân dựa trên sự tiếp thu những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Mặc dù, trong xã hội phong kiến, việc kết hôn đòi hỏi phải do cha mẹ quyết định Như điều 314 Quốc Triều Hình Luật việc hôn nhân phải được cha mẹ đồng ý thông qua việc cha mẹ nhận đồ sính lễ như tiền, vàng, bạc… Đây là quy định có tính chất đặc trưng trong pháp luật phong kiến, bảo vệ gia đình gia trưởng, quyền lợi gia đình bao giờ cũng được đặt trước cá nhân, ngay cả vấn đề hạnh phúc lứa đôi Nhưng Quốc Triều Hình Luật có những quy định tiến bộ phù hợp với giá trị đạo đức Đó là trường hợp người con trai bị ác tật hay phá tán tài sản thì người con gái được kêu quan để trả đồ lễ mà không phải cưới Nếu người con gái bị ác tật thì người con trai cũng không phải lấy mà có quyền từ hôn (điều 322) Nhưng trường hợp này từ hôn không bị coi là bội hôn Đây là quy định phần nào thể hiện quan niệm tiến bộ của các nhà làm luật tôn trọng và bảo vệ con người trong khi thoái hôn, phù hợp với giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội
Không chỉ tiếp nhận những giá trị tốt đẹp của phong tục tập quán trong việc bảo vệ quyền lợi người phụ nữ trong hôn nhân mà, trong một số quy định khác của pháp luật thời này, có sự thể hiện những giá trị của phong tục tập quán Trong những quy định về cấm kết hôn có quy định việc cấm kết hôn giữa những người thân thích cùng họ, con riêng của vợ, với vợ cả, vợ lẻ của người bà con
Trang 33(điều 319 Quốc triều hình luật) Đây cũng là những quy định nhằm bảo vệ luân thường đạo lý, thuần phong mỹ tục, sức khỏe của con người… Đảm bảo mục đích của hôn nhân và tôn trọng những giá trị truyền thống của dân tộc
Về thủ tục kết hôn, pháp luật nhà Lê đã tôn trọng và đã thừa nhận những phong tục tập quán tốt đẹp, đặc sắc vốn được ưa chuộng của dân tộc trong việc quy định thủ tục kết hôn Pháp luật không câu nệ rập khuông theo luật nhà Đường, bắt buộc hình thức hôn nhân bằng hôn thú mà coi trọng nghi lễ kết hôn được tổ chức trang trọng với sự có mặt của gia đình hai họ Các nghi lễ kết hôn đó đã dần trở thành phong tục cưới hỏi của người dân Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời khác và được đơn giản bớt cho phù hợp với thực tế cuộc sống Nhìn chung, Quốc Triều Hình Luật đã phản ánh sinh động những phong tục tập quán của Việt Nam vốn có từ lâu đời và đang được thực hiện trong cuộc sống của nhân dân Việc kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố pháp luật và phong tục tập quán tạo cho pháp luật thời kỳ này có thể phù hợp với thực tế cuộc sống, dễ hiểu, dễ thực hiện và tính khả thi cao Mặc dù trong một số trường hợp, các phong tục tập quán có mâu thuẫn với quan điểm nho giáo nhưng các nhà làm luật thời Lê đã dung hòa giữa hai yếu tố này tạo nên giá trị độc đáo cho Quốc Triều Hình Luật, đây cũng là biện pháp nâng cao những giá trị đã tồn tại lâu đời trong nhân dân, tạo sắc thái Việt Nam thuần túy, thể hiện tính dân tộc và tính nội dung sâu sắc
b) Bộ luật Gia Long
Cũng như Quốc Triều Hình Luật, bộ luật Gia Long cũng được xây dựng theo khuôn mẫu của pháp luật Trung Quốc Việc xây dựng gia đình cũng theo mô hình phụ quyền, đề cao tính gia trưởng, hạ thấp vai trò,vị trí của người phụ nữ Trong một số quy định của bộ luật Gia Long về điều kiện kết hôn cũng ràng buộc phải có sự đồng ý của cha mẹ Đây cũng là sự thể hiện của phong tục tập quán, tôn trọng đạo đức, tôn ti trong gia đình Tuy nhiên, để phù hợp với những điều kiện mới xuất hiện trong xã hội, pháp luật thời kỳ này còn có quy định trường hợp kết hôn khi chưa có ý kiến của ông bà cha mẹ khi họ buôn bán hoặc làm quan ở xa nhà (điều 94) Đây là quy định phần nào thể hiện việc công nhận
ý chí của chủ thể kết hôn Không những quy định về nghi thức lễ cưới mà cho phép căn cứ vào lễ nghi truyền thống, điều này đồng nghĩa với việc pháp luật
Trang 34thừa nhận những giá trị của phong tục tập quán về việc tổ chức nghi lễ cưới hỏi Cũng như Quốc Triều Hình Luật, bộ luật Gia Long đã có sự kế thừa những phong tục tập quán thông qua những chế định cụ thể
Nhìn chung, pháp luật thời phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều từ pháp luật Trung Quốc Coi trọng quyền lợi của gia tộc, đề cao tính gia trưởng trong quan hệ hôn nhân và gia đình Con người sống phải tôn trọng quyền lợi chung của tập thể, ngay cả việc xây dựng hạnh phúc riêng tư của mình cũng phải thỏa mãn trước hết quyền lợi của gia tộc, quyền lợi của làng xã…, và khi các quyền lợi này đã được tính đến rồi, đã được đáp ứng rồi, lúc ấy, người ta mới lo đến những nhu cầu riêng tư Nhưng bên cạnh đó, pháp luật giai đoạn này đã kế thừa những giá trị tốt đẹp của phong tục tập quán của dân tộc tạo nét riêng mang tính truyền thống của đạo đức của dân tộc: tôn trọng chữ tín, tôn trọng ông bà, cha mẹ, nghĩa vợ chồng và nhất là đã có sự tôn trọng người phụ nữ, thừa nhận ở mức độ nhất định quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong hôn nhân Quan hệ hôn nhân bền vững được củng cố thông qua giá trị tác động của những tập tục trong xã hội Con người tôn trọng những giá trị đó của phong tục tập quán về hôn nhân Họ sợ dư luận lên án những cặp vợ chồng bất hòa Thông qua những chế định trong Quốc Triều Hình Luật và Bộ luật Gia Long, phần nào đã thể hiện sự điều chỉnh của phong tục tập quán lên các quan hệ hôn nhân và gia đình Việc luật quy định những chế định trong lĩnh vực này có sự chọn lọc và sáng tạo trong việc xây dựng tổng thể các quy định của nhà nước về hôn nhân và gia đình Với thời gian áp dụng lâu dài, những quy định này ăn sâu vào đời sống của quần chúng nhân dân và một phần đã tác động ngược trở lại người dân và trở thành phong tục tập quán của dân tộc ta Pháp luật đã không phủ nhận giá trị của phong tục tập quán trong đời sống xã hội mà còn có sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và giá trị truyền thống nhằm nâng cao tính khả thi của pháp luật Bên cạnh đó, pháp luật thời Lê còn thừa nhận những quan hệ xã hội sẽ do những phong tục tập quán trực tiếp điều chỉnh như vấn đề về quyền và nghĩa vụ, về tài sản của vợ chồng, hậu quả pháp lý của ly hôn… Đây là những quan hệ sẽ chịu sự chi phối của đạo đức nho giáo và những phong tục tập quán đã tồn tại trong xã hội Phong tục tập quán trong một số trường hợp đã thẩm thấu vào pháp luật của nhà nước, được sử dụng và tuân theo như pháp luật của nhà nước Hoặc có những trường hợp nhà nước dành ra một số vấn đề
Trang 35cho phong tục tập quán điều chỉnh Qua đây, có thể nhận thấy rằng, những phong tục tập quán có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng pháp luật của nhà nước phong kiến thời bấy giờ
2.1.2.2 Thời kỳ cận đại
Năm 1858, đất nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam lúc này vừa phải chịu sự cai trị của chế độ phong kiến và chế độ thực dân Chúng chia đất nước ta ra là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Mỗi khu vực, chúng lại xây dựng một hệ thống pháp luật tương ứng để quản lý Đối với lĩnh vực hôn nhân và gia đình, lúc đầu, Pháp vẫn tạm thời cho áp dụng pháp luật và phong tục tập quán bản xứ Về sau, chúng ban hành pháp luật mới, từng bước thay đổi nếp sống cổ truyền của dân tộc ta Chế độ hôn nhân và gia đình chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật vừa mang sắc thái châu Âu vừa thể hiện yếu tố truyền thống của người Việt Trong giai đoạn này, thực dân Pháp đã ban hành Bộ dân luật Bắc kỳ, Bộ dân luật Trung kỳ và Bộ dân luật giản yếu áp dụng tương ứng ở cả
“tam kỳ” Những quy định trong các bộ luật này về chế định hôn nhân và gia đình còn nhiều thiếu sót, chính vì vậy nên việc thực hiện có nhiều trường hợp phải kế thừa những quy định trong Quốc Triều Hình Luật, Bộ luật Gia Long và những phong tục tập quán của người Việt Quan hệ hôn nhân trong thời kỳ này có sự thay đổi, thực dân Pháp vừa cố duy trì những phong tục tập quán của người Việt vừa bổ sung những tư tưởng mới của châu Âu làm cho quan hệ hôn nhân và gia đình truyền thống có xu hướng Âu hóa
Cả ba bộ dân luật thời Pháp đều công nhận chế độ đa thê, đó là chế độ hôn nhân gia đình dựa theo nếp sống cổ xưa của người Việt Nam Ở góc độ nhất định điều này thể hiện sự tác động của phong tục tập quán lên đời sống xã hội, và người dân trong tư tưởng của mình luôn tồn tại thái độ “trọng nam khinh nữ” nên đã hình thành quan niệm trong hôn nhân người đàn ông luôn được đề cao hơn phụ nữ Họ có quyền có nhiều vợ mà pháp luật không cấm cũng như dư luận xã hội không lên tiếng Hôn nhân trong thời kỳ này chưa hoàn toàn tự nguyện mà còn có sự ảnh hưởng từ quan niệm truyền thống của người Việt, luôn đặt mình trong lợi ích của cộng đồng, làng xóm và gia tộc Mặc dù có sự tiếp thu quan điểm pháp lý tiến bộ của phương tây, việc kết hôn phải có sự ưng
Trang 36thuận của đôi nam nữ, song bên cạnh đó phải được sự ưng thuận của cha mẹ thì hôn nhân mới thành Đây là sự thể hiện quan niệm thời phong kiến do sự chi phối của nho giáo và những phong tục tập quán trong xã hội, tôn trọng sự định đoạt của những người lớn trong dòng họ về mọi vấn đề, ngay cả vấn đề hạnh phúc cá nhân của con người
Bên cạnh đó, quy định về độ tuổi kết hôn trong thời kỳ này có sự rõ ràng hơn Ở nước ta trước kia chưa quy định rõ ràng về độ tuổi kết hôn nhưng vẫn theo quan niệm trong dân gian thì “nữ thập tam, nam thập lục” Ở đây, pháp luật đã có sự quy định rõ ràng về độ tuổi kết hôn Theo Dân luật giản yếu quy định: nữ 14 tuổi, nam 16 tuổi Còn trong dân luật Bắc kỳ và Trung kỳ thì tuổi tối thiểu đối với con trai là 18 tuổi tròn, con gái là 15 tuổi tròn và quy định thủ tục xin miễn tuổi ít nhất con trai đủ 15 tuổi, con gái đủ 12 tuổi khi có lý do đặc biệt Quy định về độ tuổi trong thời kỳ này là một tiến bộ nhưng chính trong quy định này cũng đã thể hiện sự ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian Thật vậy, chúng ta thừa nhận một điều rằng: Việt Nam là một quốc gia có nền văn minh lúa nước Con người lao động luôn phải đối đầu với thiên nhiên, công việc sản xuất cần nhiều nhân lực nên trong quan niệm về hôn nhân, người dân đề cao mục đích của gia đình trước hết là duy trì nòi giống, sau đó là tạo ra sức lao động trong gia đình Do đó, độ tuổi kết hôn được quy định trong pháp luật có sự ảnh hưởng của tư tưởng trên Vì vậy, việc kết hôn giữa nam và nữ có độ tuổi rất sớm, nhằm tạo ra nguồn nhân lực lao động cho gia đình, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế gia đình Pháp luật trong thời kỳ này đã kế thừa những quy định của pháp luật truớc đây về việc cấm kết hôn trong thời kỳ để tang cha mẹ hay tang chồng vợ Điều này thể hiện việc tôn trọng chữ hiếu của con cái đối với cha mẹ, và đạo nghĩa trong quan hệ vợ chồng Phong tục này ông cha ta đã tôn trọng và bảo vệ
Cũng giống như pháp luật phong kiến trước đây, pháp luật thời kỳ này không quy định hình thức tiến hành hôn lễ mà hôn lễ sẽ được thực hiện theo phong tục tập quán vốn đã được người dân thừa nhận và tuân theo từ bao đời Thời kỳ này chúng ta nhận thấy rằng vẫn có sự hiện diện của những tư tưởng phong kiến lạc hậu Nên nhìn chung pháp luật thời kỳ này vẫn mang tư tưởng của xã hội Việt Nam phong kiến trước đây
Trang 372.1.2.3 Thời kỳ hiện đại
Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam và Bắc Miền Bắc bước vào giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa Còn miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ, đấu tranh thống nhất đất nước Công cuộc đổi mới, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế đã thúc đẩy miền bắc phát triển, hình thành các quan hệ sản xuất mới, tạo điều kiện cho việc hình thành cơ sở kinh tế của chế độ xã hội chủ nghĩa Dưới sự thay đổi và tác động của chế độ kinh tế mới, gia đình Việt Nam có nhiều thay đổi về quy mô tổ chức và về nội dung của các quan hệ hôn nhân và gia đình Trước sự thay đổi đó, những chế định pháp luật trước đó không còn đáp ứng được yêu cầu và tình hình phát triển của đất nước Do đó, việc xây dựng và ban hành một đạo luật mới về hôn nhân và gia đình là một tất yếu khách quan
Điều 24 Hiến Pháp năm 1959 quy định “phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế văn hóa xã hội và gia đình… Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” Quy định này mang tính nguyên tắc, giúp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình Và ngày 29/12/1959, Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nướcViệt Nam được thông qua Đây là văn bản pháp luật chính thức xóa bỏ chế độ hôn nhân một chồng nhiều vợ, quy định quyền bình đẳng của vợ chồng, xóa bỏ chế độ gia trưởng
Sau một thời gian thực hiện, trước những thay đổi của đất nước, Luật hôn nhân và gia đình 1959 không còn phù hợp với tình hình đất nước Việc ban hành Luật hôn nhân gia đình mới là một đòi hỏi tất yếu khách quan nhằm thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Ngày 29/12/1986, Luật hôn nhân gia đình đã chính thức được Quốc Hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua Pháp luật hôn nhân gia đình năm 1986 ra đời trên cơ sở kế thừa những quy định Luật hôn nhân gia đình năm 1959 và phát triển nó lên một tầm cao mới Thật vậy, luật này đã tiến hành xác lập về mặt pháp luật chế độ hôn nhân gia đình xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, pháp luật hôn nhân và gia đình 1986 quy định thêm những vấn đề mới phù hợp với điều kiện thực tại Những phong tục