Tùy thuộc vào loại hợp đồng vay tiền không có lãi hoặc hợp đồng vay tiền có lãi mà khi bên vay tiền vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì bên vay phải trả nợ cho bên cho vay các khoản nợ sau: Trả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
ĐOÀN XUÂN HÒA
LÃI CHẬM TRẢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN
THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÃI CHẬM TRẢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN
THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Nguyễn Thị Bích
Ngọc Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào.Tôi xin chịu trách
nhiệm về nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ
Đoàn Xuân Hòa
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÃI CHẬM TRẢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN KHÔNG CÓ LÃI THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 8
1.1 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi 8
1.1.1 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi và có kỳ hạn 8
1.1.2 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi và không có kỳ hạn 12
1.2 Mức lãi suất chậm trả 13
1.2.1 Mức lãi suất chậm trả theo thỏa thuận 14
1.2.2 Mức lãi chậm trả theo luật định 16
1.3 Thời điểm tính lãi chậm trả 18
1.3.1 Thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả 18
1.3.2 Thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả 19
1.4 Khoản tiền dùng để tính lãi chậm trả 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 LÃI CHẬM TRẢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN CÓ LÃI THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 24
2.1 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi 24
2.1.1 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi và có kỳ hạn
24
2.1.2 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi và không có kỳ hạn 32
2.2 Mức lãi suất chậm trả 34
2.2.1 Mức lãi chậm trả theo thỏa thuận 34
2.2.2 Mức lãi chậm trả theo luật định 34
2.3 Thời điểm tính lãi chậm trả 37
Trang 62.3.1 Thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả 37
2.3.2 Thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả 38
2.4 Khoản tiền dùng để tính lãi chậm trả 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40
KẾT LUẬN 41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả thì bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định1 Nếu bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn2
Trong đời sống xã hội, nhu cầu cho vay tiền không thông qua tổ chức mà pháp luật bắt buộc phải có đăng ký kinh doanh cho vay tiền tệ (như Các tổ chức tín dụng, Qũy tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính) diễn ra khá phổ biến, bỡi vì cách thức vay tiền được thực hiện dễ dàng, chủ yếu dựa trên cơ sở tin tưởng, ít bị ràng buộc về nghĩa vụ bảo đảm tài sản khi cho vay Mục đích các bên trong quan hệ vay tiền chủ yếu là để hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, phục vụ nhu cầu tiêu dùng, bên cạnh đó một số ít cho vay tiền để kiếm lời thông qua việc trả lãi để tăng thêm giá trị đồng tiền nhàn rỗi Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay tiền, khi một hoặc các bên không thực hiện đúng các thỏa thuận đã giao kết nên xảy ra tranh chấp Để giải quyết tranh chấp trong hợp đồng vay tiền thì Tòa án căn cứ vào các quy định tại Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 467, Điều 468, Điều 469, Điều
470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết Tùy thuộc vào loại hợp đồng vay tiền không có lãi hoặc hợp đồng vay tiền có lãi mà khi bên vay tiền vi phạm nghĩa
vụ trả nợ thì bên vay phải trả nợ cho bên cho vay các khoản nợ sau: Trả nợ gốc và trả nợ lãi chậm trả (đối với hợp đồng vay tiền không có lãi theo quy định tại khoản
4 Điều 466 BLDS năm 2015); trả nợ gốc, trả nợ lãi trong hạn, trả nợ lãi chậm trả và trả nợ lãi quá hạn (đối với hợp đồng vay tiền có lãi theo quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015)
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài là lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, nên tác giả chỉ nghiên cứu những nội dung liên quan đến lãi chậm trả, còn các loại lãi khác (lãi trong hạn, lãi quá hạn) tác giả không nghiên cứu Mặc dù, Bộ luật Dân sự năm 2015 có những quy định mới so với các
Bộ luật Dân sự trước đây về nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền, nhưng tác giả nhận thấy các quy định liên quan đến nội dung lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền như: Căn cứ phát sinh, mức lãi suất, thời điểm tính lãi, số tiền dùng
Trang 8để tính lãi chậm trả chưa rõ ràng, còn nhiều bất cập, dẫn đến nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất Xuất phát từ những lý do trên, tác giả thấy rằng việc nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự Việt Nam là cần thiết, qua đó tìm ra những giải pháp để kiến nghị sửa đổi, đề xuất, góp phần nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên vay tiền và đảm bảo sự công bằng của xã
hội Đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài:“Lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo
Bộ luật Dân sự Việt Nam” làm đề tài luận văn cao học Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền là một trong những nội dung quan trọng trong chế định hợp đồng vay tài sản Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu về quy định lãi trong hợp đồng vay tài sản nói chung, nhưng chủ yếu phân tích, làm rõ một số khía cạnh về nghĩa
vụ trả lãi, mức lãi suất và chỉ ra các bất cập để kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng vay tài sản nói chung Trong đó có một số công trình nghiên cứu, các bài viết có đề cập đến nghĩa vụ trả lãi trong hợp đồng vay tiền như:
Trường Đại học Luật Hà Nội, tập 2 (2009), Giáo trình luật Dân sự Việt Nam,
Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Ở giáo trình này đã nêu được khái niệm
về hợp đồng vay tài sản, đặc điểm pháp lý, đối tượng, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản Tuy nhiên giáo trình này chưa phân tích sâu
về các nội dung pháp lý liên quan về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền, căn cứ phát sinh, mức lãi suất chậm trả, chưa nêu được những bất cập của pháp luật và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng về lãi chậm trả Đây là vấn đề mà học viên cần
bổ sung vào đề tài nghiên cứu của mình
Nguyễn Xuân Quang - Lê Nết - Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự
Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh Ở sách này các tác giả đã nêu được một số nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản, hình thức của hợp đồng vay tài sản, cách tính lãi của hợp đồng vay tài sản Đây là những định hướng nghiên cứu
mà học viên có thể tham khảo, khai thác cho đề tài nghiên cứu của mình
- Đỗ Văn Đại (2014), Luật hợp đồng Việt Nam, Bản án và bình luận, (tập 2, tái bản lần thứ 4),Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Ở tài liệu này tác giả đã
sử dụng các bản án của Tòa án Việt Nam để bình luận, đối chiếu với các văn bản
Trang 9quy phạm pháp luật, quan điểm của các tác giả và so sánh với các quy định của luật nước ngoài về nội dung quy định nghĩa vụ thực hiện hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại để đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để sửa đổi pháp luật Việt Nam cho phù hợp Đây là những định hướng rất quan trọng để học viên khai thác, sử dụng trong đề tài nghiên cứu của mình
Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự
năm 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội Ở công trình
này, tác giả đã sử dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để bình luận làm rõ những điểm mới quy định về mức lãi suất, nghĩa vụ trả lãi do vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản so với Bộ luật dân sự 2005 Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích, làm
rõ những nội dung về nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền, tại sao Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền
có lãi nhưng Bộ luật Dân sự năm 2005 không có quy định Đây là công trình có nhiều điểm mới mà học viên có thể tham khảo để vận dụng và hoàn thiện cho đề tài nghiên cứu của mình
Trương Minh Tuấn (2009), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự, Nhà xuất bản
Lao động, Hà Nội Ở công trình bày, tác giả đã phân tích một số quy định về lãi trong hạn, lãi quá hạn, địa điểm trả nợ đối với hợp đồng vay tài sản và so sánh với quy định trong hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, tác giả phân tích, so sánh ở góc độ nội dung của từng điều luật mà chưa chỉ ra những bất cập, chưa phân tích quy định về lãi chậm trả của hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tín dụng Đây công trình quan trọng để học viên có thể tham khảo, khai thác bổ sung trong đề tài nghiên cứu của mình
Vũ Hoàng Linh (2012), Pháp luật về lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng
kinh doanh, thương mại, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh Tác giả nghiên cứu ở góc độ về lãi do chậm thanh toán trong hoạt động kinh doanh, thương mại và có so sánh với lãi chậm thanh toán trong hợp đồng vay tài sản, nhưng chưa nghiên cứu, phân tích cụ thể quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật dân sự Đây là nội dung quan trọng mà học viên sẽ tham khảo, sử dụng để so sánh và hoàn thiện cho đề tài nghiên cứu của mình
Đinh Văn Sơn (2015), Lãi trong pháp luật dân sự Việt Nam, Luận văn thạc
sỹ, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã nghiên cứu về những quy định về lãi trong một số hợp đồng dân sự, trong đó có hợp đồng vay tài sản, nhưng chưa đi sâu nhưng nghiên cứu, phân tích những quy định về nghĩa vụ trả lãi
Trang 10chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật dân sự Đây là nội dung quan trọng
mà học viên sẽ khai thác và phát triển trong đề tài nghiên cứu của mình
Bài viết của tác giả Đỗ Văn Đại về “Lãi suất trần cho vay: Kinh nghiệm
nước ngoài và hướng sửa đổi Bộ luật Dân sự” đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập
pháp số 15/2010, tr 23 - 33 Tác giả đã phân tích quy định lãi suất trần của luật nước ngoài, qua đó so sánh với quy định lãi suất trần của luật Việt Nam và nêu thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để sửa đổi Bộ luật dân sự 2005 liên quan đến các nội dung này Đây là bài viết rất có giá trị để học viên tham khảo và hoàn thiện cho đề tài nghiên cứu của mình
Bài viết của tác giả Đoàn Đức Lương về “Vướng mắc trong áp dụng pháp
luật về lãi suất trong hợp đồng vay tiền” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số
20/2013, tr.22 - 24 Tác giả đã nêu các căn cứ pháp lý quy định về lãi trong hợp đồng vay tài sản và so sánh với quy định lãi trong hợp đồng tín dụng, qua đó phát hiện những bất cập trong thực tiễn xét xử của Tòa án về quy định về lãi suất, qua đó nêu ra một số kiến nghị để sửa đổi quy định về lãi suất cơ bản trong hợp đồng vay tài sản của Bộ luật dân sự 2005 mức lãi suất huy động do Ngân hàng Nhà nước công bố Đây là vấn đề mà học viên cần tham tham khảo, bổ sung cho đề tài nghiên cứu của mình
Bài viết của tác giả Tưởng Duy Lượng về “Có được thỏa thuận phạt nhiều lần
về một vi phạm, thỏa thuận lãi chồng lãi trong hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng không” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 24/2014, tr.24 - 33 Tác giả đã
phân tích thực tiễn xét xử tại các bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hợp đồng tín dụng, qua đó đối chiếu với các quy định của pháp luật quy định về nghĩa vụ trả nợ gốc, trả nợ lãi, từ đó đưa ra một số nhận định, kiến nghị liên quan đến nội dung hợp đồng có được thỏa thuận phạt nhiều lần về một vi phạm, thỏa thuận lãi chồng lãi trong hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng không Đây là bài viết rất có
có ý nghĩa mà học viên sẽ sử dụng để hoàn thiện cho đề tài nghiên cứu của mình
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết chính nêu trên của các tác giả đã đề cập đến các khía cạnh pháp lý về lãi, mức lãi suất và các nội dung pháp lý liên quan đến nghĩa vụ trả lãi trong hợp đồng vay tài sản nói chung Đã nêu lên được một số bất cập của pháp luật, những vướng mắc khi áp dụng quy định về nghĩa vụ trả lãi vào thực tiễn, từ đó đưa ra những kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật cho phù hợp Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, các bài viết ở trên chưa đi
Trang 11sâu nghiên cứu các nội dung pháp lý liên quan đến lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự như: Căn cứ phát sinh, mức lãi suất, thời điểm tính lãi, số tiền dùng để tính lãi chậm trả Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được Quốc hội Khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 đã có những những thay đổi lớn về quy định mức lãi suất cho vay tiền, nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, nên tác giả khẳng định công trình nghiên cứu của mình hoàn toàn mới, không có sự trùng lặp
so với các công trình đã nghiên cứu trước đây, tuy nhiên các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đây cũng là nguồn tham khảo quan trọng để tác giả nghiên cứu cho luận văn của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Qua công trình nghiên cứu của mình, đề tài nhằm mục đích:
- Phân tích quy định của pháp luật về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền
theo Bộ luật Dân sự Việt Nam;
- Làm rõ thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về lãi chậm trả trong hợp
đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự Việt Nam;
- Hướng đến sự hoàn thiện các quy định của pháp luật trong thời gian đến
Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài là:
- Nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống quy định của pháp luật
về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng quy địnhcủa pháp luật về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành, nêu lên những kết quả đạt được, những thiếu sót, hạn chế, bất cập và những khó khăn, vướng mắc
trong việc áp dụng lãi chậm trả;
- Kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện quy định của pháp luật, cơ chế thi hành
pháp luật về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các quy định của pháp luật Việt Nam tại: Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm
2015, Luật các Tổ chức chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2017, Luật Thương mại năm 2005 Việc áp dụng các quy định pháp luật này vào thực tiễn hiện nay và hướng hoàn thiện pháp luật về
Trang 12lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện nay và trong thời gian tiếp theo
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này tiếp cận từ góc độ “nghĩa vụ” trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành Bỡi vì, nghĩa vụ trả lãi chậm trả là nội dung pháp lý xuyên suốt của đề tài nghiên cứu về quy định lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền, đây là nghĩa vụ bắt buộc của bên vay khi bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho bên cho vay Qua nghiên cứu, quy định của pháp luật, trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật để chỉ
ra những bất cập của pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật quy định về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền theo Bộ luật dân sự Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Với mục đích và kết cấu của luận văn, phương pháp nghiên cứu được học viên sử dụng dựa trên các phương pháp chính như phương pháp phân tích, phương pháp luật học so sánh và phương pháp tổng hợp, cụ thể:
Phương pháp phân tích được sử dụng trong toàn bộ luận văn Ở chương 1 và chương 2 phương pháp này được sử dụng để làm rõ những nội dung pháp lý về trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi và hợp đồng vay tiền có lãi Cụ thể phân tích những nội dung pháp lý về lãi chậm trả như: căn cứ phát sinh, mức lãi suất, thời điểm tính lãi, số tiền dùng để tính lãi, qua đó tìm ra những điểm chung và khác biệt về quy định nghĩa vụ trả lãi của hợp đồng vay tiền không có lãi và hợp đồng vay tiền có lãi theo Bộ luật Dân sự Việt Nam
Cùng với phương pháp phân tích, phương pháp luật học so sánh cũng được
sử dụng trong cả hai chương của luận văn Phương pháp này nhằm so sánh quy định của pháp luật về lãi chậm trả trong Bộ luật Dân sự năm 2015 so với quy định của
Bộ luật Dân sự trước đây, cũng như các quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2017, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010
và Luật Thương mại năm 2005 Từ đó, tìm ra những bất cập cần được khắc phục,
bổ sung, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về lãi chậm trả cho Bộ luật Dân sự trong thời gian đến
Phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng trong toàn bộ luận văn Trên cơ sở các tài liệu đã phân tích, so sánh, phương pháp này dùng để tổng hợp những vấn đề
đã nêu ra, từ đó rút ra những nhận định, kiến nghị, bổ sung cần thiết nhằm hoàn
Trang 13thiện quy định của pháp luật về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền của Bộ luật Dân sự Việt Nam trong thời gian đến
6 Kết cấu của luận văn
Do đây là luận văn định hướng ứng dụng, nên ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài luận văn được kết cấu thành
02 chương cụ thể như sau:
Chương 1 Lãi trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi theo Bộ
luật Dân sự Việt Nam
Chương 2 Lãi trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi theo Bộ luật
Dân sự Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 LÃI CHẬM TRẢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN KHÔNG CÓ LÃI
THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Trong hợp đồng vay tiền, tùy vào mục đích vay và thời hạn vay mà các bên
có thể thỏa thuận vay không có lãi hoặc vay có lãi, vay có kỳ hạn hoặc vay không
có kỳ hạn Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tiền được xác định ở hai dạng sau: Hợp đồng vay tiền không có lãi (gồm “hợp đồng vay tiền không có lãi và có kỳ hạn” và “hợp đồng vay tiền không có lãi và không có kỳ hạn”) và hợp đồng vay tiền có lãi ( gồm “hợp đồng vay tiền có lãi và có kỳ hạn” và
“hợp đồng vay tiền có lãi và không có kỳ hạn”) Khi các bên thỏa thuận hợp đồng cho vay đều mong muốn hợp đồng được thực hiện đúng như cam kết, tuy nhiên khi đến hạn trả nợ vay nhưng bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ nên tranh chấp xảy ra Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ngoài việc trả nợ số tiền gốc chưa trả bên vay còn phải trả nợ lãi trong hạn, lãi chậm trả, lãi quá hạn (tùy thuộc vào hợp đồng vay tiền không có lãi hoặc vay tiền có lãi) Do phạm vi nghiên cứu của luận văn dưới góc độ “nghĩa vụ” trả lãi chậm trả của bên vay đối với bên cho vay trong hợp đồng vay tiền không có lãi và hợp đồng vay tiền có lãi theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, nên các quy định khác về lãi (như lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm thực hiện nghĩa vụ) theo Bộ luật Dân sự và các luật khác tác giả sẽ không nghiên cứu trong đề tài này
1.1 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi
1.1.1 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi và
có kỳ hạn
Trước đây khoản 4 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định”Trong
trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận” Và nay khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy
định”Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả
không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác” Mặc
dù pháp luật dân sự không có nêu khái niệm ”lãi chậm trả”, chỉ nêu khái niệm ”số
Trang 15tiền chậm trả” nhưng theo tác giả bản chất ”lãi chậm trả” hay ”số tiền chậm trả” đều
là khoản tiền lãi trả thêm của bên vay đối với bên cho vay khi đến hạn trả nợ mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ
Với quy định trên cho thấy, căn cứ phát sinh nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi và có kỳ hạn theo BLDS năm 2005 và BLDS năm
2015 đều giống nhau, đều dựa trên cơ sở là ”khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ” thì bên vay phải có nghĩa vụ trả trả chậm trả cho bên vay Tuy nhiên có khác nhau về điều kiện trả lãi chậm trả như sau:
BLDS năm 2005 quy định, trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với
khoản nợ chậm trả theo mức lãi suất cơ bản ”nếu có thỏa thuận” Căn cứ theo quy
định này thì khi xảy ra tranh chấp Tòa án chỉ được buộc bên vay trả lãi chậm trả cho bên cho vay nếu trong hợp đồng các bên có thỏa thuận trả lãi chậm trả, nếu hợp đồng không có thỏa thuận trả lãi chậm trả thì bên vay không có nghĩa vụ trả lãi chậm trả cho bên cho vay Mặc dù BLDS năm 2005 quy định điều kiện trả lãi chậm trả như vậy, tuy nhiên tại mục 1.2.1 của Sổ tay Thẩm phán năm 2009 (phần giải quyết một số loại vụ án dân sự đối với việc thực hiện hợp đồng vay tài sản của
BLDS năm 2005) thì Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn như sau: ”Khi bên cho
vay đã thông báo đòi nợ mà bên vay không trả được nợ, thì ngày sau đó là ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán (ngày chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán) Dù là vay không có lãi thì bên vay vẫn phải trả cho bên cho vay một khoản lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ Khoản lãi này được tính theo lãi suất cơ bản (khoản 2 Điều 305 BLDS năm 2005) của Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử sơ thẩm với thời hạn kể từ ngày chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho đến khi xét xử sơ thẩm” 3 Theo hướng dẫn trên thì khi đến hạn trả nợ mà bên vay không trả nợ thì
phải trả lãi chậm trả cho bên cho vay, không cần trong hợp đồng vay có thỏa thuận trả lãi chậm trả hay không, do đó hướng dẫn này là trái với quy định tại khoản 4 khoản 4 Điều 474 BLDS năm 2005 Ngoài ra, hướng dẫn trên đã coi lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền quy định tại khoản 4 Điều 474 BLDS năm 2005và lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền quy định tại khoản 2 Điều 305 BLDS năm 2005 như nhau là hoàn toàn không phù hợp, vì: khoản 2 Điều 305 BLDS năm 20054 quy định
3 http://www.toaan.gov.vn/ebb_data/all_ebb.html [truy cập ngày 20/12/2017]
4 Khoản 2 Điều 305 BLDS năm 2005 quy định về trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự như sau: Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi
Trang 16riêng cho trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền trong các hợp đồng dân sự nói chung (áp dụng cho cả trường hợp trả lãi trong giai đoạn thi hành án), còn thỏa thuận trả lãi chậm trả quy định tại khoản 4 Điều 474 BLDS năm 2005 là quy định riêng trong hợp đồng vay tiền khi bên vay tiền vi phạm nghĩa vụ trả nợ
Trong thực tiễn xét xử thì đa số Tòa án đều áp dụng quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi như hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Sổ tay Thẩm phán năm 2009, mặc dù hợp đồng vay tiền các bên không có thỏa thuận trả lãi chậm trả như quy định tại khoản 4 Điều 474 BLDS năm
2005 nhưng vẫn buộc bên vay trả lãi chậm trả cho bên cho vay Như vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hòa và bị đơn bà Trần
số tiền 100.600.000 đồng, thời hạn trả nợ các bên thỏa thuận là 01 tháng, khi mượn tiền không có thỏa thuận trả lãi Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn trả nợ số tiền gốc cho vay là 100.600.000 đồng và trả tiền lãi theo mức lãi suất do Ngân hàng quy định đến ngày xét xử sơ thẩm chỉ tính trên số tiền 100.000.000 đồng Khi xét xử, Tòa án chấp nhận yêu cầu trả nợ gốc của nguyên đơn, còn số tiền tính lãi chậm trả Tòa án đã tính toán lại cho phù hợp với số tiền gốc thực tế cho vay, cụ thể đã nhận định: Giấy vay tiền ngày 12/8/2012 có ghi “Cộng lãi 4.000.000”, do đó Hội đồng xét xử xác định số tiền 100.000.000 đồng cho vay để yêu cầu tính lãi, thực tế số tiền gốc là 96.000.000 đồng, còn 4.000.000 đồng là nhập tiền lãi chưa trả vào tiền gốc nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn trên số nợ gốc cho vay là 96.000.000 đồng tính từ tháng 9/2012 cho đến tháng 02/2014 (là 01 năm 05 tháng) theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố (9%/năm) là 12.240.000 đồng Trong vụ án này tác giả nhận thấy, Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lãi đến ngày xét xử sơ thẩm mà không xem xét đến nội dung hợp đồng vay tiền có hay không thỏa thuận trả lãi chậm trả và không nêu rõ căn cứ quy định của pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn nào để làm căn cứ tính lãi Tuy nhiên, do hợp đồng vay tiền trên không có thỏa thuận lãi nhưng Tòa án vẫn chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, do đó có thể
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
5 Phụ lục 1 Bản án số: 48/2014/DS-ST, ngày 25/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ
Chí Minh, về“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”
Trang 17hiểu vụ án trên Tòa án áp dụng theo hướng dẫn tại Sổ tay Thẩm phán năm 2009 của
Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết
Qua thực tiễn xét xử và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao ở trên, tác giả nhận thấy quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả tại khoản 4 Điều 474 BLDS năm
2005 “nếu có thoả thuận” là không cần thiết Do bên vay tiền vi phạm nghĩa vụ trả
nợ nên bên vay phải trả lãi chậm trả cho bên vay, đây là nghĩa vụ bắt buộc của bên
có nghĩa vụ đối với bên có quyền nên luật quy định bên vay chỉ có nghĩa vụ trả lãi chậm trả cho bên cho vay “nếu có thỏa thuận” là không phù hợp
Hiện nay BLDS năm 2015 đã có quy định khác về nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi và có kỳ hạn so với BLDS năm 2005, cụ thể
khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015 quy định như sau: “Trường hợp vay không có
lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật này” Như vậy, BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “nếu có thỏa thuận“ so với
quy định của BLDS năm 2005 Tác giả đồng tình với quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015, đây là quy định phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật, đúng với bản chất nghĩa vụ trả lãi là một chế tài bắt buộc của bên vay đối với bên cho vay mà không cần có sự thỏa thuận trả lãi nào khác của các bên trong hợp đồng vay tiền
Mặc dù, BLDS năm 2015 đã có những điểm mới về quy định nghĩa vụ trả chậm trả chậm trả so với BLDS năm 2005, nhưng tác giả nhận thấy cả hai Bộ luật này quy định về quyền yêu trả lãi và nghĩa vụ trả lãi chậm trả còn chưa rõ ràng, không thống nhất như sau:
Trước đây khoản 4 Điều 474 BLDS năm 2005 quy định: ”Khi đến hạn bên
vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi” và nay khoản 4
Điều 466 BLDS năm 2015 quy định: ”Khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả
không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi” Với quy định trên cho
thấy, BLDS năm 2005 chỉ quy định nghĩa vụ của bên vay tiền là phải trả lãi, nhưng không quy định cụ thể trả lãi cho ai Ngược lại, BLDS năm 2015 chỉ quy định bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi nhưng không quy định cụ thể ai có nghĩa vụ trả lãi Mặc dù, trong quan hệ hợp đồng vay tiền thì chủ thể trong hợp đồng chỉ là bên cho vay và bên vay và cũng chỉ có thể xảy ra bên có nghĩa vụ trả lãi là bên vay tiền, còn bên có quyền nhận tiền lãi là bên cho vay nhưng luật quy định như trên là chưa
Trang 18cụ thể, rõ ràng Do đó, tác giả kiến nghị cần sửa đổi quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS 2015 trên cơ sở kết hợp quy định của BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015
như sau:”Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả
không đầy đủ thì bên vay phải trả tiền lãi cho bên cho vay theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác”
1.1.2 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi và không có kỳ hạn
Theo khoản 1 Điều 469 BLDS năm 2015 quy định:”Đối với hợp đồng vay
không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thoả thuận khác” Như vậy, luật quy định đối
với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau
biết trước một thời gian hợp lý nhưng luật không đề cập đến nghĩa vụ trả lãi nếu bên
vay không trả nợ khi đã thông báo Do đó kể từ thời điểm bên cho vay thông báo cho bên vay một thời gian hợp lý để trả nợ nhưng bên vay vẫn không trả thì bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả tiền lãi không, nếu có quyền yêu cầu trả lãi thì lãi này là lãi gì (lãi chậm trả hay lãi quá hạn)?
Pháp luật dân sự không quy định cụ thể về nghĩa vụ trả lãi chậm trả đối với hợp đồng vay tiền không có lãi và không có kỳ hạn Tuy nhiên, khi tranh chấp xảy
ra Tòa án phải căn cứ vào quy định tại Điều 463 và khoản 1, khoản 4 Điều 466
BLDS năm 2015 để giải quyết, cụ thể: Điều 463 quy định:“Hợp đồng vay tài sản là
sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định;
khoản 1 Điều 466 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến
hạn” và khoản 4 Điều 466 quy định bên vay có nghĩa vụ trả lãi chậm trả khi đến
hạn trả nợ vay mà không trả Đến nay tác giả chưa tìm được thực tiễn xét xử tại Tòa
án áp dụng nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong trường hợp vay tiền không có lãi và không có kỳ hạn, tuy nhiên theo quan điểm của tác giả thì kể từ khi bên cho vay đã thông báo cho bên vay một thời gian hợp lý để trả nợ (thời hạn thông báo này do bên cho vay chứng minh hoặc do bên vay thừa nhận) mà bên vay vẫn không trả nợ
Trang 19hoặc trả nợ không đầy đủ cho bên vay thì hợp đồng vay tiền không có lãi và không
có kỳ hạn này trở thành hợp đồng vay tiền không có lãi và có kỳ hạn như quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015 Quy định này nhằm ràng buộc nghĩa vụ và cũng là chế tài của pháp luật đối với bên vay cố tình kéo dài không chịu trả nợ gây thiệt hại cho bên cho vay Do đó, tác giả kiến nghị cần sửa đổi khoản 1 Điều 469
BLDS năm 2015 theo hướng sau: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có
lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất
cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý Trường hợp
bên cho vay đã thông báo thời gian trả nợ cho bên vay nhưng bên vay vẫn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi cho bên cho vay như quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác”
Tóm lại, nghĩa vụ trả tãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi chỉ phát sinh khi đến hạn trả nợ nhưng bên vay tiền không trả nợ hoặc trả nợ không đầy
đủ cho bên cho vay Ngoài nghĩa vụ trả lãi chậm trả thì bên vay tiền không có nghĩa
vụ trả lãi nào khác Mặc dù, trong hợp đồng vay tiền không có lãi và không có kỳ hạn thì luật không có quy định nghĩa vụ trả lãi chậm trả, tuy nhiên khi bên cho vay
đã thông báo trả nợ nhưng bên vay không trả thì hợp đồng vay tiền này trở thành hợp đồng vay tiền không có lãi và có kỳ hạn, do đó bên vay phải có nghĩa vụ trả lãi chậm trả như hợp đồng vay tiền có kỳ hạn
1.2 Mức lãi suất chậm trả
Pháp luật dân sự có đề cập đến thuật ngữ lãi và lãi suất nhưng không có nêu khái niệm lãi và lãi suất
Về lãi, theo Từ điển tiếng Việt thì lãi được hiểu là:“Khoản tiền chênh lệch do
thu vượt chi sau một quá trình buôn bán, kinh doanh; hoặc khoản tiền người vay nợ phải trả thêm cho người chủ nợ ngoài số tiền đã vay” 6 ; dưới góc độ pháp lý thì lãi
được hiểu là:“Khoản tiền mà bên vay, bên huy động, bên thuê trả cho bên cho vay,
đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng
và lãi suất” 7 Trong hợp đồng vay tiền thì tác giả đồng tình với khái niệm lãi theo
Trang 20quan điểm sau đây: “Lãi là phần giá trị tăng thêm được tính trên số tiền gốc ban đầu, theo đơn vị thời gian từ khi ký hợp đồng đến khi thanh toán xong”8
Về lãi suất, theo Từ điển tiếng Việt thì lãi suất được hiểu là: “Tỷ lệ phần trăm
giữa lãi so với vốn” 9 ; có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm lãi suất trong hợp
đồng vay tiền, nhưng tác giả đồng tình với khái niệm lãi suất sau đây:“ Lãi suất là
tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên tổng số tài sản vay và kỳ hạn vay mà bên vay phải trả cho bên cho vay thêm vào số tiền hoặc vật đã vay” 10
Theo quy định của pháp luật dân sự thì mức lãi suất chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi được quy định như sau:
1.2.1 Mức lãi suất chậm trả theo thỏa thuận
Trước đây, mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền quy định tại
khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005 như sau: ”Lãi suất vay do các bên thoả thuận
nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng” Hiện nay, lãi suất thỏa thuận cho vay tiền
quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 như sau: “Lãi suất vay do các bên
thỏa thuận Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác
có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ,
Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”
Như vậy, mức lãi suất thỏa thuận cho vay trong hợp đồng vay tiền quy định tại BLDS năm 2015 có khác so với BLDS năm 2005
Theo BLDS năm 2005 thì mức lãi suất thỏa thuận cho vay trong hợp đồng vay tiền căn cứ theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, mức trần lãi suất thỏa thuận cho vay “không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân
hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng” Tuy nhiên, BLDS năm
2005 không có quy định cụ thể mức lãi suất cơ bản mà giao cho NHNN công bố lãi suất cơ bản Chúng ta thấy, mục đích việc ban hành lãi suất cơ bản do NHNN công
10 Đỗ Văn Đại (2013), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án (tập 1, tái bản lần thứ tư có sửa
chữa, bổ sung), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.572
Trang 21bố để làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh11 và mức lãi suất này có sự thay đổi thường xuyên theo định kỳ hàng tháng nên mức trần lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng cũng thay đổi tương ứng12 Theo quy định tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của NHNN Việt Nam thì mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm (0,75%/ tháng), do đó đến trước thời điểm BLDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật (BLDS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) thì khi giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền Tòa án đều căn cứ vào quy định mức lãi suất cơ bản theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN để giải quyết Theo tác giả mức lãi suất thỏa thuận cho vay theo quy định của BLDS năm 2005 phải căn cứ trên cơ sở mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố, nhưng mức lãi suất công bố thông qua trung gian NHNN này không phải ai cũng biết, kể cả các bên vay tiền nên không phù hợp được thực tiễn cho vay trong đời sống xã hội
Tuy nhiên, khi BLDS năm 2015 được thông qua đã có sự thay đổi hoàn toàn khác so với quy định về mức lãi suất thỏa thuận so với quy định của BLDS năm
2005, BLDS năm 2015 quy định mức lãi suất thỏa cho vay trực tiếp trong luật, cụ thể ”mức lãi suất thỏa thuận cho vay không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay” Việc quy định mức lãi suất trực tiếp này rất thuận lợi cho các bên khi thỏa thuận mức lãi suất trong hợp đồng vay tiền và đã khắc phục được những bất cập về quy định mức lãi suất qua trung gian của BLDS năm 2005
Tác giả nhận thấy, mặc dù luật quy định các bên được thỏa thuận mức lãi suất cho vay, nhưng không quy định cụ thể mức lãi suất thỏa thuận cho vay này cho những loại lãi nào Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại khoản 4 và điểm a, b khoản
5 Điều 466 BLDS năm 2015 thì trong hợp đồng vay tiền (không có lãi hoặc có lãi) thì trong hợp đồng vay tiền phát sinh các loại lãi sau: lãi trong hạn, lãi chậm trả và lãi quá hạn, do đó theo quan điểm của tác giả thì mức lãi suất các bên được thỏa thuận cả trong mức lãi suất trong hạn, mức lãi suất chậm trả và mức lãi suất quá hạn, miễm là mức lãi suất của các loại lãi này không được vượt quá 20%/năm của
số tiền vay đều được công nhận Do đó, trong hợp đồng vay tiền không có lãi mà các bên có thỏa thuận mức lãi suất chậm trả từ khoản 20%/ năm của số tiền vay trở xuống thì bên vay phải trả lãi suất chậm trả khi đã thỏa thuận này khi đến hạn trả nợ
mà bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ cho bên cho vay
11 Nguyễn Minh Tuấn (2009), Bình luận BLDS, Nxb Lao động, Tr 341
12 Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam đồng
Trang 22Trong trường hợp các bên thỏa thuận lãi suất chậm trả và các loại lãi suất khác cao hơn mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 thì phần
nợ gốc cho vay và phần mức lãi suất thỏa thuận vượt quá quy định của luật thì sẽ giải quyết thế nào? Vấn đề này có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng “nếu có thỏa thuận lãi vượt quá mức cho phép thì sự thỏa thuận lãi này bị vô hiệu và khi giải quyết tại Tòa án thì phải tính toán lại theo luật định, còn phần số tiền gốc cho vay không bị vô hiệu”13, tác giả đồng tình quan điểm này
1.2.2 Mức lãi chậm trả theo luật định
Theo khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015quy định như sau:“Trường hợp vay
không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác”
Như vậy, BLDS năm 2015 quy định mức lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi “theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm
201514”, tác giả nhận thấy quy định mức lãi suất này có phần bất cập, chưa phù hợp
vì các lý do sau:
Thứ nhất, mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 là
dành riêng “cho trường hợp vay tiền có thỏa thuận lãi suất nhưng không rõ ràng hoặc có tranh chấp lãi suất”; còn mức lãi suất quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015 là riêng trong hợp đồng vay tiền không có lãi Như vậy, luật lấy mức lãi suất trong hợp đồng vay tiền không có lãi áp vào mức lãi suất trong hợp đồng vay tiền khác (vay tiền có có thỏa thuận lãi suất nhưng không rõ ràng hoặc có tranh chấp lãi suất) là không phù hợp, bất cập, vì bản chất của hai loại vay tiền là khác nhau
Thứ hai, mức lãi suất hiện nay quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm
2015 chưa rõ ràng, có nhiều cách hiểu không thống nhất Luật quy định mức lãi suất quy định tại khoản 2 BLDS năm 2015 được xác định “bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015”, nhưng mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 là mức lãi suất thỏa thuận cho vay tối đa mà
Trang 23luật chưa xác định cụ thể, chỉ “dự liệu” để các bên làm cớ sở thỏa thuận lãi suất cho vay không được vượt quá 20%/năm của số tiền vay Do không xác định được mức lãi suất thỏa thuận cụ thể, do đó khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 quy định mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm
2015 là không thể xác định được
Đến nay, tác giả chưa sưu tầm được bản án áp dụng mức lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015, tuy nhiên thực tiễn áp dụng mức “mức lãi suất giới hạn” quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 cho trương hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 BLDS năm 2015 thì các Tòa án áp dụng cũng không thống nhất
Có Tòa án áp dụng mức lãi suất giới hạn là 10%/năm của số tiền chưa trả, có Tòa án không tính ra mức lãi suất cụ thể mà tuyên mức lãi suất như Điều luật quy định, cụ
thể: Vụ án dân sự về“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”giữa nguyên đơn bà
Nguyễn Thị Dân và bị đơn ông Trần Văn Thanh15, Tòa án đã tuyên “Kể từ ngày
người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm trên số tiền còn phải thi hành án” Còn
tại vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” giữa nguyên đơn
ông Lê Tấn Phát, bà Lê Thị Huệ và bị đơn ông Lê Thừa Sàng16, Tòa án đã tuyên
“Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự”
Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị cần sửa đổi cách quy định mức lãi suất chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm
2015 theo hướng quy định mức lãi suất độc lập không phụ thuộc vào khoản 2 Điều
468 BLDS năm 2015 (có thể là 10%/năm của khoản tiền vay) hoặc có thể quy định mức lãi suất dẫn chiếu theo quy định tại khoản 2 Điều 468 nhưng phải thêm từ “tối đa” sau từ “giới hạn” của khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 để có cách hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất Cụ thể sửa đổi như sau:
15 Phụ lục 2 Bản án số: 07/2017/DS-ST, ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai,
về“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”
16 Phụ lục 3 Bản án số: 05/2017/DS-ST, ngày 11/4/2017 của Tòa án nhân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai,
về“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”
Trang 24Phương án 1, quy định mức lãi suất cụ thể trong khoản 2 Điều 466 BLDS
năm 2015 mà không dẫn chiếu theo quy định của khoản 2 Điều 468 BLDS năm
2015 như sau: “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ
hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả tiền lãi với mức lãi suất bằng 10%/năm trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm
trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác”
Phương án 2, quy định mức lãi suất như hiện nay tại khoản 4 Điều 466
BLDS năm 2015 nhưng cần sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm
2015 theo hai cách sau:
+ Cách thứ nhất:”Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng
không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định
bằng 10%/năm của khoản tiền vay tại thời điểm trả nợ”
+ Cách thứ hai:”Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng
không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định
bằng 50% mức lãi suất giới hạn tối đa quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm
trả nợ”
1.3 Thời điểm tính lãi chậm trả
Trong hợp đồng vay tiền không có lãi thì nghĩa vụ trả lãi chậm trả căn cứ trên cơ sở do các thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định17, nhưng BLDS năm 2015 không có quy định cụ thể thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả nên dẫn đến áp dụng pháp luật gặp khó khăn, không thống nhất
1.3.1 Thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả
Theo khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015 quy định thì bên vay tiền có nghĩa vụ
trả lãi chậm trả ”trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả” Ngoài ra,
việc thực hiện hợp đồng vay tiền không có lãi quy định tại khoản 1 Điều 469 và khoản
1 Điều 470 BLDS năm 2015 cũng không đề cập thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả
Trong thực tiễn xét xử, có Tòa án xác định thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả từ ngày hoặc từ tháng đến hạn trả nợ Như vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hòa và bị đơn bà Trần Thị Thu18 Trong án này nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ số tiền gốc cho vay là 100.600.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất do Ngân hàng quy định đến ngày xét xử sơ thẩm chỉ trên số
17 Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015
18
Phụ lục 1, tldd (5)
Trang 25tiền gốc 100.000.000 đồng Tòa án đã xác định thời điểm tính lãi từ tháng 9/2012 đến tháng 02/2014 (01 năm 05 tháng) Theo tác giả, trong vụ án này Tòa án xác định thời điểm bắt tình lãi chậm trả kể từ tháng đến hạn trả nợ là chưa chính xác, vì các bên thỏa thuận vay 01 tháng tính từ ngày 12/8/2012 nên thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả là ngày tiếp theo mà bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn là từ ngày 13/9/2012 Do đó lãi chậm trả tính phải tính từ ngày 13/9/2012 đến ngày 25/02/2014 (ngày xét xử sơ thẩm) trên số tiền gốc cho vay thực tế là 96.000.000 đồng = 12.528.000 đồng [(96.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 17 tháng + (24.000 đồng/ngày x 12 ngày)] Do đó lãi hậm trả bản án này đã tính buộc bị đơn trả cho nguyên đơn là 12.240.000 đồng là gây thiệt hại cho nguyên đơn 288.000 đồng
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả nếu trong hợp đồng vay tiền các bên
có thỏa thuận thời điểm bắt đầu trả lãi chậm trả thì khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả
nợ thì thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả căn cứ theo thỏa thuận đó Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thời điểm bắt đầu trả lãi chậm trả thì căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015 để xác định thời điểm bắt đầu tính lãi là ”ngày tiếp theo của ngày đến hạn (đối với hợp đồng vay không có lãi và có kỳ hạn) hoặc ngày đã thông báo trả nợ (đối với hợp đồng vay không có lãi và không có
kỳ hạn) mà bên vay không trả”
1.3.2 Thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả
Luật cũng không quy định cụ thể thời điểm kết thúc tình lãi chậm trả là thời điểm nào Khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015 chỉ quy định lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015, nhưng khoản 2 Điều 468 chỉ quy định nghĩa vụ trả lãi đến thời điểm trả nợ mà không xác định cụ thể thời điểm trả nợ là thời thời điểm nào
Do luật không xác định rõ thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi nên hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả Có quan điểm cho rằng thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả được tính đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, có quan điểm cho rằng thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả tính đến ngày xét xử phúc thẩm (nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị bản án sơ thẩm), có quan điểm cho rằng lãi chậm trả tính đến ngày làm đơn yêu cầu thi hành án Thực tiễn xét xử, tác giả chưa sưu tầm được bản
án tranh chấp hợp đồng vay tiền có áp dụng thời điểm kết thúc tính lãi theo quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015, tuy nhiên khi BLDS năm 2005 còn hiệu lực thì đa số các Tòa án áp dụng thời điểm kết thúc tính lãi là đến khi xét xử sơ
Trang 26thẩm theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/TT-LT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp - Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản Thực tiễn cho thấy, khi Tòa án tính lãi chậm trả đến khi xét xử sơ thẩm, nếu sau đó bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị mà cấp xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm (không chấp nhận kháng cáo hoặc kháng nghị) thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn không tính lại thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả, có nghĩa là không phát sinh lãi chậm trả trong thời gian
kể từ sau khi xét xử sơ thẩm đến khi xét xử phúc thẩm
Theo quy định tại Điều 422 BLDS năm 2015 thì hợp đồng dân sự chấm dứt khi đã hoàn thành nghĩa vụ hoặc theo thoả thuận của các bên , còn trong hợp đồng vay tiền thì luật chỉ quy định thời gian tính lãi chậm trả đến thời điểm trả nợ, nhưng trong thực tiễn xét xử Tòa án tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/TT-LT ngày 19/6/1997 Tác giả nhận thấy, Tòa án áp dụng Thông tư liên tịch số 01/TT-LT ngày 19/6/1997 là không đúng tinh thần luật quy định về thời điểm kết thúc tính lãi, do văn bản này chỉ hướng dẫn cho hợp đồng vay tiền của BLDS năm 1995 nhưng hiện nay BLDS năm 1995 không còn hiệu lực nên hướng dẫn này không còn hiệu lực Hợp đồng vay tiền cũng là một loại hợp đồng dân sự nói chung, nên khi bên có nghĩa vụ chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì phải có nghĩa vụ trả lãi cho đến khi trả hết nợ mà không có sự gián đoạn, kể cả tính thời điểm thi hành án xong Do đó, theo quan điểm của tác giả cần quy định rõ thời điểm kết thúc việc tính lãi chậm trả của hợp đồng vay tiền tương tự như quy định
thời điểm kết thúc nghĩa vụ trả lãi trong hợp đồng tín dụng theo hướng “chừng nào
nghĩa vụ thanh toán chưa được thực hiện xong thì chừng đó còn phát sinh lãi chậm trả mà không có sự gián đoạn”19
1.4 Khoản tiền dùng để tính lãi chậm trả
Theo quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015 thì khi đến hạn trả nợ
mà bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm
2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả Với quy định trên cho thấy, luật chỉ quy định trả lãi chậm trả trên số tiền chậm trả mà không nêu cụ thể số tiền dùng để tính lãi chậm trả là trên số tiền nào Theo tác giả, do đây là hợp đồng
19 Đỗ Văn Đại (2013), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam
(tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 133-134
Trang 27vay tiền không có lãi do đó chúng ta có thể hiểu số tiền bên vay chưa trả ở đây là số tiền gốc, do đó số tiền dùng để tính lãi chậm trả là số tiền gốc chưa trả hoặc trả chưa đầy đủ cho bên cho vay
Theo quy định trên thì số tiền dùng để tính lãi chậm trả trong hợp đồng vay không có lãi được tính như sau: nợ gốc x mức lãi suất chậm trả x thời gian chậm trả
Do mức lãi suất chậm trả hiện nay quy định chưa rõ, có nhiều cách hiểu và bất cập (như đã trình bày tại mục 1.2.2), giả sử mức lãi suất chậm trả là 10%/năm của số tiền vay thì lãi chậm trả được tính = [nợ gốc x (10%/năm (tương đương 0,83%/tháng) x số tiền vay chưa trả)) x thời gian chậm trả]
Tuy nhiên, trong thực tiễn khi cho vay tiền các bên thỏa thuận nhập khoản lãi chưa trả vào nợ gốc để tiếp tục cho vay, khi có tranh chấp bên cho vay có yêu cầu tính lãi cả số tiền lãi nhập vào tiền gốc để cho vay, vậy yêu cầu tính lãi này có được Tòa án chấp nhận không? Hiện nay luật không có quy định về trường hợp này, trước đây tại điểm a mục 4 phần I thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa
án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp - Bộ Tài chính
hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định như sau: ”Về nguyên tắc,
tiền lãi chỉ được tính trên số nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Ngoài nguyên tắc tiền lãi chỉ được tính trên số nợ gốc, các bên
có thể thoả thuận về việc nhận lãi vào nợ gốc để tính lãi của thời hạn vay tiếp theo Tuy nhiên, để tránh tình trạng bên cho vay có thể lợi dụng thoả thuận này để thu lợi trái pháp luật, thì toà án chỉ chấp nhận việc nhập lãi vào nợ gốc một lần đối với loại vay có kỳ hạn…”.Tuy nhiên do văn bản này hướng dẫn áp dụng cho quy định của
BLDS năm 1995, còn sau khi ban hành BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 thì không có hướng dẫn nào về vấn đề này Theo mục 5 Điều 5 Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi suất phạt vi phạm của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao năm 2017 có nêu như sau: ”Các bên có thể
thỏa thuận về nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi của thời hạn vay tiếp theo Tuy nhiên, Tòa án chỉ chấp nhận việc nhập lãi vào nợ gốc một lần tại thời điểm đến hạn trả nợ
mà bên có nhĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình Các trường hợp khác đều phải tính nợ gốc theo lãi suất nợ quá hạn theo quy định của pháp luật” 20
Còn trong thực tiễn xét xử thì có Tòa án không chấp nhận về việc nhập lãi vào nợ gốc
để tính lãi của thời hạn vay tiếp theo Cụ thể tại vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản
20
file:///367130.pdf [truy cập ngày 20/12/2017]
Trang 28giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hòa và bị đơn bà Trần Thị Thu21 Tòa án đã nhận định giấy vay tiền ngày 12/8/2012 có ghi “Cộng lãi 4.000.000”, do đó không chấp nhận số tiền nhập lãi này trong số tiền gốc cho vay để tính lãi là 100.000.000 đồng, nên số tiền tính lãi là 96.000.000 đồng (100.000.000 đồng - 4.000.000 đồng) 9%/năm
x 17 tháng = 12.240.000 đồng
Tác giả đồng tính với nội dung của dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi suất phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ở trên, chấp nhận việc nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi của thời hạn vay tiếp theo nếu các bên có thể thỏa thuận Do đây là ý chí tự nguyện của các bên và luật không có quy định cấm, quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay, nâng cao trách nhiệm và nghĩa vụ của bên vay khi cố tình không trả nợ đúng hạn gây thiệt hại cho bên cho vay
21
Phụ lục 1, tlđd (5)
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu các quy định về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không
có lãi có thể rút ra được một số kết luận như sau:
Thứ nhất, căn cứ phát sinh nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền
không có lãi và có kỳ hạn là kể từ khi đến hạn trả nợ mà bên vay không trả hoặc trả nợ không đầy đủ Đối với hợp đồng vay tiền không có lãi và không có kỳ hạn thì lãi chậm trả phát sinh kể từ khi bên cho vay thông báo trả nợ nhưng bên vay không trả
Thứ hai, thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả được tính từ ngày tiếp theo kể từ
ngày đến hạn trả nợ (hoặc ngày thông báo trả nợ) mà bên vay không trả, thời điểm kết thúc tính lãi chậm trả đến khi bên vay trả hết nợ cho bên vay tiền
Thứ ba, nghĩa vụ trả trả lãi chậm trả là nghĩa vụ bắc buộc của bên vay đối với
bên cho vay, không cần sự thỏa thuận các bên trong hợp đồng vay tiền mới có quyền yêu cầu trả lãi chậm trả Đây là quy định mới của BLDS năm 2015 đã khắc phục những bất cập của BLDS năm 2005
Thứ tư, mức lãi suất thỏa thuận cho vay luật giới hạn không được vượt quá
20%/năm của số tiền vay, tuy nhiên mức lãi suất chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi theo quy định tại khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 BLDS năm
2015 còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng, do đó tác giả kiến nghị cần có văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao hoặc Quốc hội sửa đổi quy định mức lãi suất chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi cụ thể hơn
Trang 30CHƯƠNG 2 LÃI CHẬM TRẢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN CÓ LÃI
THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2.1 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi
2.1.1 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi và có kỳ hạn
Theo điểm a, b khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015 quy định như
sau:”Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy
đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác” Như vậy
BLDS năm 2015 quy định căn cứ phát sinh trả lãi chậm trả của bên vay trong hợp đồng vay tiền có lãi và có kỳ hạn “khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ”, quy định này không có khác so với quy định tại khoản 5 Điều 474 BLDS năm 200522
và không có khác so với căn cứ phát sinh trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi và có kỳ hạn quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm
2015 Tuy nhiên, BLDS năm 2015 thì quy định bên vay có nghĩa vụ trả đến ba khoản lãi gồm: lãi trong hạn, lãi chậm trả và lãi quá hạn, duy định nghĩa vụ trả lãi cura BLDS năm 2015 có khác so với quy định của BLDS năm 2005 (bên vay chỉ trả hai khoản lãi gồm: lãi trong hạn và lãi quá hạn) và khác so với quy định trong hợp đồng vay tiền không có lãi quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm 2015 (bên vay chỉ trả một khoản lãi chậm trả)
Có quan đểm cho rằng BLDS năm 2015 quy định bên vay có nghĩa vụ trả lãi chậm trả và các lãi khác (lãi trong hạn, lãi quá hạn) trong một khoản vay là không phù hợp, bi lãi chồng lãi Quan điểm này có cơ sở hay không, chúng ta sẽ so sánh quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả của pháp luật dân sự với các quy định tương đồng về quy định nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng tín dụng và trong hợp đồng mua bán hàng hóa dưới đây để có cơ sở đánh giá, nhận xét toàn diện hơn
Trang 312.1.1.1 Quy định về nghĩa vụ trả lãi lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi và có kỳ hạn theo pháp luật sự
Mặc dù luật quy định bên vay có nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi và có kỳ hạn như tại điểm a khoản 5 Điều 466 của BLDS năm 2015, nhưng đến nay tác giả chưa sưu tầm được bản án nào áp dụng quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 của BLDS năm 2015 để tính lãi chậm trả Theo quan điểm của tác giả, lý do đến nay chưa có bản án nào của Tòa án áp dụng quy định về nghĩa vụ trả lai chậm trả theo quy định trên là do người khởi kiện không có yêu cầu trả lãi chậm trả, ngoài ra do luật quy định về mức lãi suất chậm trả còn nhiều bất cập, chưa
rõ ràng nên khi áp dụng trong thực tiễn xét xử gặp khó khăn (vấn đề này đã phân tích tại mục 1.2)
Thực tiễn xét xử trước đây (trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực ngày 01/01/2017) khi áp dụng quy định về nghĩa vụ trả lãi trong hợp đồng vay tiền có lãi thì các Tòa án đều áp dụng quy định tại khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005 để buộc bên vay trả lãi trong hạn và lãi quá hạn (luật chưa có quy định trả lãi chậm trả) cho bên cho vay Cụ thể, tại bản án dân sự về ”Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”
Nội dung vụ án thể hiện: Vào ngày 20/4/2013 nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay thỏa thuận là 04 tháng, lãi suất vay là 5.000.000 đồng/tháng (tương đương 1,66%/tháng) Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã trả lãi cho nguyên đơn được
07 tháng từ tháng 5 đến tháng 11/2013 là 35.000.000 đồng Sau đó bị đơn không trả gốc và lãi cho nguyên đơn nữa, do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ vay gồm: Nợ gốc là 300.000.000 đồng, nợ lãi từ tháng 12/2013 đến ngày sơ thẩm xét xử sơ thẩm Khi giải quyết vụ án, Tòa án đã áp dụng khoản 5 Điều 474 và khoản
1 Điều 476 BLDS năm 2005 chỉ chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi của nguyên đơn Cụ thể bản án đã nhận định: mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu tương ứng 1,66%/tháng là vượt mức lãi suất do pháp luật quy định nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi của nuyên đơn, buộc bị đơn trả nợ cho nguyên đơn gồm: Tiền vay gốc 300.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn tính từ ngày 20/4/2013 đến ngày 20/8/2013 là 4 tháng với lãi suất là 1,125%/tháng = 13.500.000 đồng (300.000.000 đồng x 1,125%/tháng x 4 tháng), lãi quá hạn từ ngày 20/8/2013 đến ngày xét xử sơ
23 Phụ lục 4 Bản án số: 672/2014/DS-ST, ngày 26/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố
Hồ Chí Minh, về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”
Trang 32thẩm (26/9/2014) là 13 tháng 6 ngày với lãi suất là 0,75%/tháng = 29.700.000 đồng (300.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 13 tháng 6 ngày) Do bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền lãi 35.000.000 đồng nên bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn là 308.200.000 đồng (300.000.000 đồng + (13.500.000 đồng + 29.700.000 đồng) –
35.000.000 đồng))
Và tại bản án dân sự về ”Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim Quí và bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Danh24
Nội dung vụ án thể hiện: Vào ngày 13/5/2011 bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng, theo thỏa thuận thời hạn vay là 03 tháng, lãi suất vay là 1,5%/tháng Tuy nhiên, sau khi vay tiền bị đơn không trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn như đã thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gồm: Tiền
nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 13/5/2011 đến ngày 13/9/2013 (ngày xét xử sơ thẩm) là 29.500.000 đồng, nhưng tại phiên tòa nguyên đơn chỉ yêu cầu trả lãi là 25.000.000 đồng Yêu cầu khởi kiện này đã được Tòa án chấp nhận toàn bộ, với nhận định bị đơn thừa nhận trình bày của nguyên đơn là đúng sự thật Tác giả nhận thấy, mặc dù tại bản án này Tòa áp dụng khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005
để buộc bị đơn trả lãi cho nguyên đơn số tiền 25.000.000 đồng (từ ngày 13/5/2011 đến ngày 13/9/2013) nhưng không nhận định rõ đây là lãi trong hạn hay lãi quá hạn, mức lãi suất dùng để tính tiền lãi là bao nhiêu, số tiền các bên thỏa thuận khi vay là 1,5%/tháng là có phù hợp hay không phù hợp với quy định pháp luật nên không thuyết phục Do đó theo tác giả, trong vụ án này Tòa án phải căn cứ vào mức lãi suất cho vay các bên thỏa thuận, đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 476 và khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005 để tính lại lãi suất trong hạn và lãi quá hạn như sau: về lãi trong hạn do các bên thỏa thuận là 1,5%/tháng là cao hơn mức lãi suất luật định nên tính lại như sau: 100.000.000 đồng x 1,125% x 03 tháng (thời hạn vay
từ ngày 13/5/2011 đến 13/7/2013) là 3.375.000 đồng; lãi quá hạn là 100.000.000 đồng x 0,75% x 02 tháng (từ ngày 13/8/2011 đến 13/9/2013) là 1.500.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 104.875.000 đồng Như vậy, bản án trên Tòa án đã tính lãi cao hơn luật quy định nên gây thiệt hại cho bị đơn số tiền 24.625.000 đồng
Qua thực tiễn xét xử tại hai bản án trên cho thấy, khi tranh chấp hợp đồng vay tiền có lãi và có kỳ hạn, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả khoản nợ gốc chưa
24 Phụ lục 5 Bản án số: 347/2013/DS-ST, ngày 13/12/2013 của Tòa án nhân dân quận 9, thành phố Hồ Chí
Minh, về“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”
Trang 33trả và khoản nợ lãi theo quy định của pháp luật mà không nêu rõ cụ thể là trả những khoản lãi nào mà khi xét xử Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để buộc bên vay trả cho bên vay gồm khoản nợ gốc và các khoản nợ lãi (lãi trong hạn, lãi chậm trả và lãi quá hạn theo quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015 hoặc khoản nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn theo quy định tại khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005) là chưa thuyết phục, gây thiệt hại về quyền lợi cho bên vay tiền
Do đó, theo quan điểm của tác giả khi bên cho vay có yêu cầu khởi kiện đối với hợp đồng vay tiền có lãi tại Tòa án và có yêu cầu bên vay trả lãi thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện là bên cho vay trình bày rõ là buộc bên vay tiền là người bị kiện trả những khoản lãi nào, nêu rõ thời hạn tính lãi, mức lãi suất của từng loại lãi Những nội dung yêu cầu trả lãi này của người khởi kiện khi khởi kiện là cơ sở để Tòa án làm làm căn cứ ra thông báo tạm ứng án phí và thụ lý vụ án, là cơ sở để xác định giới hạn và phạm vi giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 201525
2.1.1.2 Quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng tín dụng
Thông thường trong hợp đồng tín dụng khi cho vay thì giữa tổ chức tín dụng
và khách hàng đều có thỏa thuận lãi suất cho vay (trừ một số ít trường hợp cho vay đối với ngân hàng chính sách để hỗ trợ người nghèo không tính lãi), nhưng luật chưa quy định cụ thể mức lãi suất thỏa thuận lãi suất cho vay nên mỗi Ngân hàng có cách quy định khác nhau về mức lãi suất cho vay
Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức
tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”; còn trước đây
tại Điều 11 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ngày
31/12/2001 quy định: “1 Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng
thoả thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2 Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp
25 Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của đương
sự như sau: Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó
Trang 34đồng tín dụng” và tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày
03/02/2005 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 13 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã quy
định: “Đối với khoản nợ vay không trả nợ đúng hạn, được tổ chức tín dụng đánh
giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thì số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó là nợ quá hạn và tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ; việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn
và nợ lãi vốn vay do hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của pháp luật Tổ chức tín dụng phân loại toàn bộ số dư nợ gốc của khách hàng vay có nợ quá hạn vào tài khoản cho vay thích hợp theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” Như
vậy, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và một số văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước ở trên đều quy định các tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận mức lãi suất cho vay và mức lãi suất quá hạn, nhưng không có quy định về thỏa thuận trả lãi chậm trả Vậy, nếu trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận trả lãi chậm trả (hoặc lãi phạt) cùng với lãi trong hạn và lãi quá hạn thì khoản lãi chậm trả (hoặc lãi phạt) thỏa thuận này có bị vô hiệu không?
Thực tiễn xét xử trong vụ án về “Tranh chấp hợp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Á – Thông qua Chi nhánh Cần
vụ án thể hiện: Ngày 26/05/2011 bị đơn đã vay vốn của nguyên đơn tại hợp đồng tín dụng số 1161/11/VAB-PGDNK/HĐNH với số tiền 640.000.000 đồng (trong hợp đồng tín dụng các bên đều có thỏa thuận cụ thể mức lãi suất trong hạn, mức lãi suất quá hạn và mức lãi suất phạt chậm trả) Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn chỉ thanh toán được một phần vốn gốc và lãi cho nguyên đơn Do bị đơn vi phạm nghĩa
vụ thanh toán như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nên nguyên đơn khởi kiện buộc
bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc còn lại là 620.000.000 đòng, lãi tính đến ngày 19/11/2013 là 338.850.589 đồng (trong đó lãi trong hạn là 49.338.622đồng, lãi quá hạn là 263.807.500đồng và lãi phạt chậm trả là 25.704.467 đồng), ngoài ra còn yêu cầu phát mãi tài sản của bị đơn đã thế chấp nếu bị đơn không thanh toán hết nợ Yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, với nhận định: Giữa nguyên đơn và bị đơn đã tự thỏa thuận việc vay vốn, thỏa thuận các điều khoản về tính lãi (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả) một cách tự
26 Phụ lục 9 Bản án số: 41/2013/KDTM - ST ngày 19/11/2013 của Tòa án nhân dân Quận Ninh Kiều, thành
phố Cần Thơ, về“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
Trang 35nguyện, việc thỏa thuận được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng, hợp đồng tín dụng trên đã được thực hiện và có hiệu lực thi hành nhưng do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi nên phía nguyên đơn đã chuyển toàn bộ số nợ gốc sang nợ quá hạn là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 19/11/2013 là 958.850.589 đồng (gồm nợ gốc là 620.000.000 đòng, lãi trong hạn là 49.338.622đồng, lãi quá hạn là 263.807.500đồng và lãi phạt chậm trả là 25.704.467 đồng) Qua bản án trên cho thấy, mặc dù luật không có quy định các bên được phép thỏa thuận trả lãi chậm trả (ngoài lãi trong hạn, lãi quá hạn) nhưng trong hợp đồng tín dụng số 1161/11/VAB-PGDNK/HĐNH ngày 26/05/2011 ở trên các bên đã thỏa thuận nghĩa vụ trả lãi chậm trả và thỏa thuận này được Tòa án chấp nhận, vì cho rằng thỏa thuận trả lãi chậm trả này là ý chí, tự nguyện các bên nên có
27 Phụ lục 10 Bản án số: 02/2014/KDTM - ST ngày 09/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh,
thành phố Hồ Chí Minh, về“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
Trang 36Qua thực tiễn xét xử tại hai bản án trên cho thấy, Tòa án chấp nhận khoản lãi chậm trả hoặc lãi phạt (ngoài lãi trong hạn và lãi quá hạn) nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, luật các tổ chức tín dụng không có quy định các bên được phép thỏa thuận trả lãi chậm trả hoặc lãi phạt, do đó giữa thực tiễn áp dụng pháp luật về quy định của pháp luật tín dụng ngân hàng có sự mâu thuẫn Theo quan điểm của tác giả, do pháp luật tín dụng ngân hàng không có quy định cấm thỏa thuận trả lãi chậm trả hoặc lãi phạt nên sự thỏa thuận lãi chậm trả hoặc lãi phạt trong hợp đồng tín dụng không bị vô hiệu, vì đây là ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên nếu các bên không có thỏa thuận trả lãi chậm trả hoặc lãi phạt trong hợp đồng thì Tòa án chỉ buộc bên vay trả nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn cho Ngân hàng mà thôi
2.1.1.3 Quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Về nghĩa vụ trả lãi chậm trả hoặc phạt hợp đồng trong hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định tại Luật Thương mại năm 2005 như sau: Điều 306 Luật
Thương mại năm 2005 quy định:”Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh
toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”; Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 quy định: ”Phạt vi phạm là việc bên
bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận”; và Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 quy định:
”Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi
phạm do các bên thỏa thận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm”
Như vậy, theo quy định của Luật Thương mại 2005 thì căn cứ phát sinh trả lãi chậm trả khi bên có nghĩa vụ chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác Pháp luật Thương mại quy định nghĩa vụ trả lãi chậm trả là nghĩa vụ bắt buộc của bên vi phạm hợp đồng mà không cần có sự thỏa thuận trong hợp đồng Còn đối với phạt hợp đồng chỉ đặt ra khi các bên có thỏa thuận trong hợp đồng
Trang 37Trong thực tiễn xét xử Tòa án áp dụng quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả
và phạt hợp đồng theo Luật Thương mại 2005 như sau: Vụ án về ”Tranh chấp mua bán hàng hóa” giữa nguyên đơn ông Trần Văn Đương và bị đơn ông Phạm Tiến Dũng28
Nội dung vụ án thể hiện: Ngày 17-11-2008 nguyên đơn và bị đơn giao kết hợp đồng mua bán đá xây dựng, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán mua hàng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả khoản tiền còn nợ là 102.568.000 đồng, tiền lãi theo mức lãi suất 0,85/tháng tính từ ngày 28-2-2009 đến ngày xét xử
sơ thẩm và khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng 8% của số tiền còn nợ 102.568.000 đồng (tương đương 8.205.440 đồng) Yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, với nhận định: Trong hợp đồng các bên có thỏa thuận nội dung là “Trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, bên mua phải trả lãi theo qui định của pháp luật; bên nào vi phạm hợp đồng phải chịu phạt vi phạm
hợp đồng theo mức phạt là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm” Do
nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải trả lãi với mức lãi suất là 0,85%/tháng là tự nguyện và việc áp dụng mức lãi này hoàn toàn có lợi cho phía bị đơn nên được chấp nhận, số tiền lãi phải trả là: 102.568.000 đồng x 0,85%/30 ngày x 329 ngày = 9.561.000 đồng (từ ngày 28-2-2009 đến ngày xét xử sơ thẩm là 329 ngày); về yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng với số tiền 8.205.440 đồng (8% của số tiền 102.568.000 đồng) là phù hợp với qui định tại Điều 300 và Điều 301 của Luật Thương mại năm 2005 nên được chấp nhận Tổng
số tiền mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 120.334.440 đồng Tác giả nhận thấy, trong vụ án này Tòa án đã áp dụng lãi chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 nhưng Tòa án không nêu rõ mức lãi suất trung bình xác định tại thời điểm xét xử là bao nhiêu %/tháng mà đã chủ quan cho rằng mức lãi suất chậm trả do nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là 0,85%/tháng là có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận là chưa có cơ sở thuyết phục Đối với số tiền phạt hợp đồng Tòa án
đã căn cứ quy định Đ300, Điều 301 Luật Thương mại năm 2005và căn cứ vào thỏa thuận mức phạt do các bên trong hợp đồng để buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn là đúng pháp luật
Tóm lại, qua phân tích, so sánh quy định về nghĩa vụ trả về lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi với quy định về nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng tín dụng và nghĩa vụ trả lãi chậm trả trong hợp đồng mua bán hàng hóa, tác giả nhận
28 Phụ lục 8 Bản án số: 01/2010/KDTM-ST ngày 27/01/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh
Gia Lai, về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
Trang 38thấy: Trong hợp đồng vay tiền có lãi quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015 thì nghĩa vụ trả lãi chậm trả và các lãi khác (lãi trong hạn và lãi quá hạn)
là nghĩa vụ bắt buộc; trong hợp đồng tín dụng thì nghĩa vụ trả lãi chậm trả chỉ được chấp nhận khi các bên có thỏa thuận trong hợp đồng; trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì nghĩa vụ trả lãi chậm trả là nghĩa vụ bắt buộc Theo quan điểm của tác giả, khoản lãi chậm trả mà bên vay bắt buộc phải trả (ngoài lãi trong hạn và lãi quá hạn) cho bên vay là bất hợp lý, lãi chậm trả đã chồng lên lãi quá hạn là mang tính bóc lột khi cho vay tiền Tác giả kiến nghị bỏ quy định nghĩa vụ trả lãi chậm trả quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015, bên vay chỉ còn có nghĩa vụ trả lãi trong hạn và lãi quá hạn theo thỏa thuận tương tự như quy tại khoản 5 Điều 474 BLDS năm 2005 trước đây
2.1.2 Căn cứ phát sinh lãi chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi và không
có kỳ hạn
Theo khoản 2 Điều 469 BLDS năm 2015 quy định như sau:”Đối với hợp
đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào
và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý” Quy định về nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tiền
có lãi và không có kỳ hạn ở trên không có khác so với quy định tại khoản 2 Điều
477 BLDS năm 2005 Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ như đã thông báo nhưng bên vay vẫn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi chậm trả và các lãi khác như quy định tại điểm a và b khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015 hay không thì luật không có quy định
Trong thực tiễn xét xử, đến nay tác giả chưa sưu tầm được bản án áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 469 BLDS năm 2015, nhưng thực tiễn xét xử trước đây Tòa án áp dụng quy định khoản 2 Điều 477 BLDS năm 2005 thì chấp nhận yêu cầu tính lãi trong hợp đồng vay tiền có lãi và không có kỳ hạn, nhưng bên cho vay phải chứng minh là đã thông báo cho bên vay trả nợ nhưng bên vay không trả Như trong
vụ án về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Đào Thị Vui và bị đơn bà Lê Thị Mai29
Nội dung vụ án thể hiện: Theo thỏa thuận, nguyên đơn cho bị
29 Phụ lục 7 Bản án số: 21/2014/DS-ST, ngày 16/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai,
về Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”
Trang 39đơn vay tiền 03 lần tổng cộng là 1.000.000.000 đồng (lần 1 vay số tiền 600.000.000 đồng theo giấy biên nhận ngày 05/6/2007, lần 2 vay số tiền 200.000.000 đồng theo giấy biên nhận ngày 30/10/2009, lần 3 vay số tiền 200.000.000 đồng theo giấy biên nhận ghi cuối năm 2009); lãi suất cho vay theo thỏa thuận tại các giấy biên nhận trên là 4%/tháng, không có ghi thời gian trả nợ nhưng theo nguyên đơn trình bày thì các bên thỏa thuận miệng là khi nào nguyên đơn cần tiền thì bị đơn sẽ trả (bị đơn vắng mặt, không có bản khai và không có nộp chứng cứ cho Tòa án) Tuy nhiên, nhiều lần nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ nhưng bị đơn không trả và nguyên đơn thông báo trả nợ lần cuối cùng vào ngày 06/6/2013 Nên nguyên đơn khởi kiện buộc
bị đơn trả nợ theo giấy Biên nhận ngày 05/6/2007 là 600.000.000 đồng (còn 02 khoản vay tại giấy biên nhận ngày 30/10/2009 và cuối năm 2009 nguyên đơn không khởi kiện) và tiền lãi trong hạn theo mức lãi suất là 13,5%/năm tính từ ngày 06/6/2007 đến ngày 06/6/2013 (ngày thông báo trả nợ cuối cùng) = 486.000.000 đồng, tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất là 9%/năm từ ngày 07/6/2013 (ngày tiếp theo đã thông báo trả nợ) cho đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 16/5/2014 l= 50.850.000 đồng Tổng cộng trả nợ gốc và nợ lãi là 1.136.850.000 đồng Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ với nhận định: Hợp đồng vay tiền thể hiện tại giấy biên nhận ghi ngày 06/6/2007 có thỏa thuận lãi suất là 4%/tháng, nhưng không có thể hiện ngày trả nợ nên xem đây là hợp đồng vay tài sản có lãi nhưng không xác định thời hạn Mức lãi suất do các bên thỏa thuận là 4%/tháng là cao hơn quy định tại Điều 476 BLDS năm 2005 nhưng do nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi trong hạn với lãi suất 13,5%/năm và lãi suất quá hạn với lãi suất 9%/năm với thời hạn và số tiền như đã trình bày là phù hợp với quy định tại khoản
5 Điều 474 và hướng dẫn tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của NHNN Việt Nam nên được chấp nhận
Theo quan điểm của tác giả, trong hợp đồng vay tiền không có lãi và không
có kỳ hạn do luật không có quy định nghĩa vụ trả lãi chậm trả và các lãi khác, tuy nhiên khi bên cho vay đã thông báo trả nợ nhưng bên vay vẫn không trả theo thời hạn trả nợ đã thông báo thì hợp đồng vay tiền này trở thành hợp đồng vay tiền có kỳ hạn, do đó bên vay phải có nghĩa vụ trả lãi chậm trả và các lãi khác như hợp đồng vay tiền có kỳ hạn quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015 Do
đó, tác giả kiến nghị cần sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 469 BLDS năm 2015
theo hướng sau:”Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có
Trang 40quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ,
nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý Trường hợp bên
cho vay đã thông báo thời gian trả nợ cho bên vay nhưng bên vay vẫn không trả
nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi cho bên cho vay như quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 466 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác”
2.2 Mức lãi suất chậm trả
2.2.1 Mức lãi chậm trả theo thỏa thuận
Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 thì các bên được thỏa thuận mức suất cho vay nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay
Do đó, trong hợp đồng vay tiền có lãi nếu các bên có thỏa thuận mức lãi suất chậm trả thì cũng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay
Tương tư như trong hợp đồng vay tiền không có lãi, trong hợp đồng vay tiền
có lãi luật chỉ định quy định các bên được thỏa thuận mức lãi suất cho vay nhưng không quy định cụ thể mức lãi suất của loại lãi nào Căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 466 năm 2015 thì bên vay có nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay gồm các loại lãi trong hạn, lãi lãi chậm trả và lãi quá hạn Do đó, theo quan điểm của tác giả thì mức lãi suất chậm trả theo thỏa thuận và các lãi khác (lãi trong hạn, lãi quá hạn) của các bên cho vay từ mức 20%/năm của số tiền vay trở xuống đều được chấp nhận Trong trường hợp thỏa thuận mức lãi suất chậm trả và các lãi khác cao hơn mức lãi suất 20%/năm của số tiền vay thì mức lãi suất vượt 20%/năm của số tiền vay bị vô hiệu (vấn đề này đã trình bày tại mục 1.2.1)
2.2.2 Mức lãi chậm trả theo luật định
Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015 thì mức lãi suất chậm trả trong hợp đồng vay tiền có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015, quy định mức lãi suất này giống như quy định mức lãi suất chậm trả trong hợp đồng vay tiền không có lãi quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm
2015 Nhưng do mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 có những bất cập, chưa phù hợp (như đã phân tích tại mục 1.2.2), do đó tác giả kiến nghị cần sử đổi quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015 theo phương án tương tự như đã
đề xuất tại mục 1.2.2, cụ thể như sau: