1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

104 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nội dung của tác phẩm chỉ dừng lại ở góc độ bình luận các điều luật trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chứ chưa phân tích, đánh giá, bình luận một cách toàn diện các

Trang 1

TRƯƠNG THỊ TÚ MỸ

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI

HÀNH VI VI PHẠM VỀ GIỮ GÌN VỆ SINH CÔNG CỘNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

Trang 2

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI

HÀNH VI VI PHẠM VỀ GIỮ GÌN VỆ SINH CÔNG CỘNG

Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Định hướng nghiên cứu

Trang 3

lập của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào trước đây

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 12 năm 2019

Người cam đoan

Trương Thị Tú Mỹ

Trang 4

CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC VI PHẠM VỀ GIỮ GÌN VỆ SINH CÔNG CỘNG 7

1.1 Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng 7

1.1.1 Khái niệm “vệ sinh công cộng” 7

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng 9

1.1.3 Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng - một loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội 19

1.2 Xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng 25

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng 25

1.2.2 Mục đích xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng 30

1.2.3 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng 32

1.2.4 Hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng 37

1.2.5 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng 41

1.2.6 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng 43

1.2.7 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng 45

Kết luận Chương 1 48

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC VI PHẠM VỀ GIỮ GÌN VỆ SINH CÔNG CỘNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 50

2.1 Tình hình vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng và nguyên nhân 50 2.1.1 Tình hình vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng 50

Trang 5

2.2.1 Những mặt tích cực 55

2.2.2 Những vướng mắc, bất cập và giải pháp hoàn thiện 58

2.3 Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng và giải pháp hoàn thiện 71

2.3.1 Những mặt tích cực 71

2.3.2 Những hạn chế và giải pháp hoàn thiện 72

Kết luận Chương 2 82

KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

An ninh, trật tự, an toàn xã hội luôn là những vấn đề mang tính thời sự, là mối quan tâm hàng đầu của toàn thể cộng đồng Sở dĩ như vậy vì đây là lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống thường ngày của con người và là điều kiện tất yếu để bảo đảm cuộc sống cho người dân Do đó, xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội nói riêng là biện pháp quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm bảo đảm cho mọi người an tâm sinh hoạt, lao động, sản xuất, bảo vệ sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ

xã hội, xây dựng một xã hội văn hóa, văn minh đồng thời duy trì trật tự, kỷ cương của nhà nước

Trong cuộc sống hằng ngày, môi trường đóng vai trò rất quan trọng đối với con người Do đó, bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh công cộng là nghĩa vụ của mọi người Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đồng thời ngăn chặn, phòng ngừa, xử phạt các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng, ngày 12/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật

tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình Theo đó, Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng Bên cạnh tiến bộ đạt được thì những quy định hiện hành liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng vẫn còn nhiều bất cập Nhiều quy định pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng, từ đó gây khó khăn trong việc áp dụng vào thực tiễn

Hiện nay, các hành vi vi phạm quy định pháp luật về giữ gìn vệ sinh công cộng như: thải rác thải sinh hoạt; tiểu tiện, đại tiện không đúng nơi quy định; nuôi gia súc, gia cầm gây mất vệ sinh công cộng ở khu dân cư, đường phố… vẫn diễn ra hàng ngày, hàng giờ Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về chế tài nhưng do thực hiện không nghiêm nên tình trạng vi phạm vẫn cứ tái diễn Bằng chứng là hàng ngày, hàng giờ chúng ta vẫn thấy tràn ngập rác trên trên vỉa hè, đường phố Từ rác thải sinh hoạt (bao

Trang 7

thuốc lá, giấy vệ sinh, túi nilon) đến rác thải công nghiệp đang phá hủy môi trường sống của con người một cách nghiêm trọng

Vi phạm các quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng không những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn vi phạm các quy định về bảo

vệ môi trường Môi trường công cộng bị ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, lây lan các dịch bệnh nguy hiểm mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến vẻ mỹ quan của môi trường sống Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chúng ta đang từng bước xây dựng đời sống văn hóa, văn minh thì vấn đề về

vệ sinh ở nơi công cộng là rất quan trong Do đó, các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng cần phải được xử phạt kịp thời, nghiêm minh và triệt để, từ đó góp phần bảo vệ môi trường sống của con người Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng là một vấn đề cấp thiết, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân trong việc bảo vệ môi trường Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề

tài “Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng” để làm Luận văn Thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy liên quan đến đề tài của mình

đã có một số công trình nghiên cứu sau đây:

Xử phạt vi phạm hành chính là vấn đề luôn có tính thời sự và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Do đó, có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này

cả về lý luận cũng như thực tiễn Xét ở góc độ nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận

chung, đã có các công trình khoa học: “Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn”- Luận án phó tiến sĩ Luật học của tác giả Vũ Thư năm 1995; bài viết “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính” của tác giả Lê Vương Long đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2003; bài viết “Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính” của tác giả Bùi Thị Đào đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2003; bài viết

“Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính” của tác giả Nguyễn Ngọc Bích đăng trên Tạp chí Luật học số 12 năm 2013; bài viết “Hệ thống chế tài xử phạt vi phạm hành chính, những bất cập và hướng hoàn thiện” của tác giả Bùi Xuân Đức đăng trên Tạp chí Luật học số 5 năm 2009; bài

Trang 8

viết “Luật Xử lý vi phạm hành chính - bước tiến mới của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và một số vấn đề cần trao đổi” của tác giả Bùi Thị Đào đăng trên Tạp chí Luật

học số 6 năm 2014 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đều xem xét vấn

đề xử phạt vi phạm hành chính dưới các góc độ, mức độ khác nhau Các công trình khoa học đó đã đem lại những giá trị khoa học quý giá ở góc độ lý luận cũng như thực tiễn, là tài liệu tham khảo hữu ích về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính đối với hành

vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Sách chuyên khảo “Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012” do PGS.TS Nguyễn Cảnh Hợp làm chủ biên, Nhà xuất bản Hồng Đức năm

2017 Đây là công trình nghiên cứu, bình luận chuyên sâu các quy định của Luật Xử lý

vi phạm hành chính năm 2012, trong đó có các quy định về xử phạt vi phạm hành chính nói chung Tuy nhiên, nội dung của tác phẩm chỉ dừng lại ở góc độ bình luận các điều luật trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chứ chưa phân tích, đánh giá, bình luận một cách toàn diện các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng Đây là cơ sở quan trọng để tác giả tiếp tục phát triển, mở rộng phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, chi tiết hơn các quy định của pháp luật liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về vệ sinh nơi công cộng: thực trạng và hướng giải quyết”, của tác giả Nguyễn Thị Lương, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí

Minh năm 1999 Bài viết này chủ yếu nghiên cứu ở khía cạnh những vấn đề về pháp luật vệ sinh công cộng chứ chưa nghiên cứu vấn đề về xử phạt vi phạm hành chính đối

với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng một cách cụ thể Bài viết “Một số vấn đề về xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm bảo vệ môi trường nơi công cộng” của tác giả Nguyễn Văn Phương đăng trên Tạp chí môi trường số 03 năm 2017

Bài viết này trình bày một cách khái quát về xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng với tính chất là một loại vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, điều kiện để cơ quan nhà nước thực thi và người dân tuân thủ các quy định của pháp luật về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng Tuy nhiên, bài viết chưa đi sâu vào phân tích thực trạng cũng như đánh giá các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Trang 9

Bài viết “Bất cập và hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường” của tác giả Cao Vũ Minh đăng trên Tạp

chí Khoa học pháp lý số 6 năm 2017 Bài viết này mặc dù phân tích khá chuyên sâu

nhưng chỉ mới dừng lại ở các vấn đề nhỏ, mang tính chất “tiểu nghiên cứu” liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường Cụ thể bài viết chỉ mới tập trung phân tích một số bất cập trong các quy định pháp luật liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường chứ chưa đánh giá một cách toàn diện, tổng thể các vấn đề về mặt lý luận, pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng Trên

cơ sở kết quả nghiên cứu này, tác giả sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển, mở rộng để nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện các vấn đề có liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Bài viết “Xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng - Vướng mắc và hướng hoàn thiện” của tác giả Trương Thị Tú Mỹ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18 năm 2019 Bài viết phân tích một cách chuyên

sâu những bất cập trong các quy định của pháp luật đối với xử phạt vi phạm hành chính

về giữ gìn vệ sinh công cộng, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện Tuy nhiên, bài viết này chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu các quy định của pháp luật chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện cơ sở pháp lý và lý luận của xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng cũng như thực trạng hoạt động xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng hiện nay Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, tác giả sẽ tiếp tục kế thừa, phát triển, nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện các vấn đề có liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Như vậy, thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, riêng biệt và toàn diện về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng với tính chất là một loại vi phạm trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội Qua đó có thể thấy rằng, đề

tài “Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng” là một đề tài mới và phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu của mình

3 Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài là nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, phân tích, đánh giá một cách toàn diện các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn xử phạt vi

Trang 10

phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng Trên cơ sở đó,

đề tài đưa ra những đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này cũng như công tác thi hành pháp luật trên thực tế

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội bao gồm nhiều hành vi như: Vi phạm các quy định về trật tự công cộng; Vi phạm các quy định

về giữ gìn vệ sinh công cộng; Vi phạm các quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung; Vi phạm các quy định về đăng ký, quản lý cư trú; Vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng giấy chứng minh nhân dân; Vi phạm các quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm; Vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác… Tuy nhiên trong phạm vi đề tài, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu là xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng Các hành vi khác, tác giả chỉ mang tính nghiên cứu so sánh (nếu có) chứ không phân tích sâu

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp phân tích luật viết; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra

xã hội học Cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận

văn để phân tích các quy định của pháp luật về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng, đồng thời phân tích những hạn chế trong quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật

- Phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để phân tích các bất cập trong

các quy định pháp luật liên quan đến các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng bị xử phạt, các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

- Phương pháp so sánh được sử dụng trong đánh giá các quy định của pháp luật

về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Trang 11

trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để thấy được những mâu thuẫn, bất cập trong các quy định này

- Phương pháp thống kê được sử dụng để tập hợp các quy định pháp luật có liên

quan cũng như các số liệu, báo cáo, vụ việc từ thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

- Phương pháp chuyên gia được sử dụng để thu thập ý kiến đánh giá của các

chuyên gia xoay quanh những khó khăn, vướng mắc khi xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để thu thập ý kiến đánh giá của

cá nhân, tổ chức đối với các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ như hiện nay Do đó, kết quả nghiên cứu của đề tài có nhiều tính mới cũng như có khả năng ứng dụng cao

Đề tài sẽ nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho những ai nghiên cứu các quy định pháp luật trong lĩnh vực này cũng như những người làm công việc thực tiễn như lực lượng công an nhân dân Đồng thời những kiến nghị của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật, bảo đảm công tác xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng nói riêng và hành vi vi phạm trong lĩnh vực an ninh, trật tự nói chung cũng như các quy định của pháp luật có liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường

6 Cơ cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của xử phạt vi phạm hành chính đối với

các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực trạng hoạt động xử phạt vi phạm hành

chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC VI PHẠM VỀ GIỮ GÌN VỆ SINH CÔNG CỘNG

1.1 Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

1.1.1 Khái niệm “vệ sinh công cộng”

Một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá xã hội văn minh, tiến bộ chính là môi trường sống trong lành, sạch đẹp Môi trường đó không chỉ bao gồm nơi ở cá nhân

mà còn bao gồm không gian sinh hoạt chung của cả cộng đồng Các hành vi như xả rác trên lề đường, hè phố; tiểu tiện, đại tiện, chăn thả gia súc không đúng nơi quy định… là những hành vi phá hoại mỹ quan của môi trường sống, gây nên tình trạng mất vệ sinh công cộng Trong giai đoạn hội nhập và phát triển như hiện nay thì vấn đề vệ sinh công cộng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi lẽ vệ sinh công cộng phản ánh sự văn minh của xã hội và chất lượng cuộc sống của người dân Mọi vi phạm liên quan đến vấn đề này đều phải bị xử phạt một cách nghiêm minh, đúng pháp luật Để tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề lý luận và pháp lý về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng, trước hết cần tìm hiểu nội

hàm pháp lý của thuật ngữ “vệ sinh công cộng”

“Vệ sinh công cộng” là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội Trước hết, có thể hiểu, “vệ sinh công cộng” tức là giữ cho môi trường công cộng được trong lành, sạch đẹp Về ngữ nghĩa, “vệ sinh công cộng” là một thuật ngữ được cấu thành từ hai yếu tố “vệ sinh” và “công cộng” Theo Từ điển Tiếng Việt thì “vệ sinh”

là “những biện pháp, quy tắc phòng bệnh, giữ gìn và tăng cường sức khỏe”1 Theo Từ

điển Từ và Ngữ Việt Nam thì “vệ sinh” (vệ: giữ gìn; sinh: sống) là “những quy tắc giữ gìn sự sạch sẽ cho bản thân và môi trường xung quanh nhằm phòng bệnh, giữ gìn và tăng cường sức khỏe”2 Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu, “vệ sinh” tức là những

biện pháp, quy tắc, cách thức giữ gìn sự sạch sẽ cho bản thân và môi trường xung quanh

Tương tự, theo Từ điển Tiếng Việt thì “công cộng” là “thuộc về mọi người

1 Viện Ngôn ngữ học (2003), Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 1111

2 Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr 2025.

Trang 13

hoặc phục vụ chung cho mọi người trong xã hội”3 Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam

thì “công cộng” là “chung cho mọi người”4 Từ điển Luật học định nghĩa “công cộng” là “những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát…”5 Theo các sách,

báo, tạp chí chuyên ngành luật học thì “công cộng” là “nơi diễn ra các hoạt động chung của xã hội một cách thường xuyên (rạp hát, công viên, đường phố…) hoặc diễn

ra tùy thuộc vào từng hoạt động cụ thể của xã hội (mitting, cổ động…)”6 Khoản 7 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 giải thích về địa điểm công

cộng “là nơi phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người” Như vậy, có thể hiểu,

“công cộng” là thuật ngữ chỉ tính chất dùng chung, phục vụ chung, tính không của riêng ai Vấn đề có tính pháp lý quan trọng cần xem xét là “nơi công cộng bao gồm những nơi nào? Liệu có thể liệt kê rõ ràng hay không?”

Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật không quy định cụ thể nơi công cộng bao gồm những địa điểm nào Tuy nhiên, căn cứ vào Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì có thể xác định được những địa điểm nào là nơi công công Cụ thể, điểm b khoản 1

Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về “hành vi vi phạm trật tự công cộng” Theo đó, “nơi công cộng” được xác định là: rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn

hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao,

lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng và các nơi công

cộng khác… Nghị định số 167/2013/NĐ-CP sau khi liệt kê một loạt nơi công cộng như

“rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng” thì có lẽ nhận thấy vẫn chưa thật sự đầy đủ nên gắn thêm cụm

từ “các nơi công cộng khác” Một khi đã gắn thêm cụm từ “các nơi công cộng khác”

3 Viện Ngôn ngữ học (2003), Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 207

4 Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr 420

5 Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb.Tư pháp, tr 809

6 Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2006), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (tập 2), Nxb Công an nhân dân, tr 244

Trang 14

thì những quy định liệt kê ở trên đã không còn cần thiết7 Như vậy, với những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì vẫn chưa thể xác định cụ thể

những địa điểm nào là “nơi công cộng”

Từ phân tích trên, có thể khái quát, để đáp ứng được tính “công cộng” thì một địa điểm cụ thể phải thỏa mãn các điều kiện nhất định Thứ nhất, đó phải là những nơi

phục vụ cho nhu cầu chung của mọi người trong xã hội Nơi đó cho phép thỏa mãn nhu cầu tương tác, chia sẻ, gặp gỡ, giải trí, tìm kiếm sự thư giãn thoải mái của các cá thể trong sự hòa mình vào xã hội Nói cách khác, đây là những những công trình, khu vực được Chính phủ thay mặt người dân sở hữu hoặc thuộc sở hữu tư nhân nhưng phục vụ cho tất cả người dân sử dụng8 Thứ hai, mỗi nơi công cộng cung cấp một dịch vụ riêng

hoặc nhằm một mục đích nhất định để phục vụ cho nhu cầu của mọi người Cụ thể, ở mỗi địa điểm như vậy đều có những quy định riêng mà mọi người phải tuân thủ Chẳng hạn: chợ, trung tâm thương mại phục vụ cho nhu cầu mua sắm của người dân; công viên là nơi để mọi người vui chơi giải trí; bệnh viện là nơi để mọi người đến khám

bệnh, chữa bệnh… Thứ ba, cùng với sự phát triển của xã hội khi nhu cầu sống của con

người ngày càng cao thì những địa điểm công cộng để phục vụ cho nhu cầu của con người luôn có những thay đổi nhất định và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng Ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của xã hội và ở những không gian khác nhau thì nơi công cộng bao gồm những địa điểm khác nhau

Từ đây, có thể đưa ra khái niệm “vệ sinh công cộng” Theo đó, “vệ sinh công cộng là tổng hợp những biện pháp, quy tắc, cách thức do tất cả các chủ thể trong xã hội thực hiện nhằm bảo vệ sự trong lành, sạch đẹp ở những địa điểm phục vụ cho nhu cầu chung của mọi người trong xã hội”

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

1.1.2.1 Khái niệm vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

Vi phạm hành chính là một loại vi phạm diễn ra rất phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay Vi phạm hành chính có thể là những vi phạm đơn giản như vứt rác, đổ nước thải ra lòng đường, hè phố đến những hành vi có tính chất, mức độ lớn hơn như

7 Cao Vũ Minh (2017), Quyết định quản lý nhà nước của Chính phủ - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc

gia, tr 215

8 Bùi Văn Quyết (2013), Quản lý hành chính công, Nxb Tài chính, tr 112

Trang 15

gây rối trật tự công cộng, vi phạm các quy định khi tham gia giao thông đường bộ, trốn thuế… Việc nghiên cứu khái niệm vi phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi đưa ra được định nghĩa chính xác

về vi phạm hành chính nói chung thì mới có thể xác định được các vi phạm hành chính

cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước Xác định đúng vi phạm hành chính thì việc xử phạt hành chính mới được thực hiện chính xác, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể

Trước khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 ra đời đã có một số văn bản quy định về vi phạm hành chính, đáng chú ý như: Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143-CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ, Pháp lệnh số 28-LCT/HĐNN8 của Hội đồng Nhà nước ngày 07/12/1989 về xử phạt vi phạm hành chính, Pháp lệnh số 41-L/CTN của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 06/7/1995 về xử

lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh số 44/2002/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 02/7/2002 về xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008)

Trước đây, khi Nhà nước chưa ban hành Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính

năm 1989 thì các văn bản pháp luật chỉ đề cập đến khái niệm “vi cảnh” Theo đó,“vi cảnh” được hiểu là việc “vi phạm luật lệ sinh hoạt ở nơi công cộng” như vi phạm quy

định về giữ gìn vệ sinh công cộng, trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông… Sau

này, trong các văn bản pháp luật, khái niệm “vi cảnh” được hiểu rộng hơn vì không chỉ

là những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công cộng mà được hiểu là những vi phạm nhỏ chưa đến mức bị coi là tội phạm hình sự9

Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 là văn bản mang tính chất luật đầu tiên đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính Theo Pháp lệnh Xử phạt vi phạm

hành chính năm 1989 thì: “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quy tắc quản lý hành chính nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 định nghĩa vi phạm hành chính

9 Bùi Xuân Đức (2006), “Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt hành chính: những hạn chế và giải pháp

đổi mới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2

Trang 16

một cách gián tiếp thông qua định nghĩa xử phạt vi phạm hành chính Cụ thể, khoản 2

Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 quy định: “xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Tương tự, Pháp lệnh Xử

lý vi phạm hành chính năm 1995, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) cũng đưa ra khái niệm vi phạm hành chính một cách

gián tiếp Theo đó, “xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Định nghĩa về vi phạm hành

chính trong các văn bản trên tuy có sự khác nhau về sự diễn đạt nhưng đều thống nhất

các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính là: i tính trái pháp luật, ii tính có lỗi; iii tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước; iv tính bị xử phạt hành chính

Xuất phát từ những đòi hỏi mới của hoạt động quản lý nhà nước trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Luật Xử lý vi

phạm hành chính năm 2012 đã được ban hành10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm

2012 đã đưa ra định nghĩa trực tiếp về vi phạm hành chính, từ đó tạo cơ sở pháp lý để xác định hành vi nào là vi phạm hành chính Theo đó, khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi

phạm hành chính năm 2012 định nghĩa: “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Tuy nhiên, quy phạm định nghĩa này chỉ có hình thức mới là nằm

trong một đạo luật do Quốc hội ban hành chứ về nội dung thì lại không mới Đối chiếu với khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ

sung năm 2007, 2008) thì định nghĩa này chỉ là sự “sao chép” khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” được nêu trong pháp lệnh này Chính vì vậy, nội hàm của định

10 Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên (2017), Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb Hồng

Đức, tr 31

Trang 17

nghĩa vẫn chưa được xác định một cách chặt chẽ và khoa học11 Tuy có bất cập nhưng nhờ có định nghĩa này mà việc xác định chính xác các dấu hiệu chung của vi phạm hành chính trở nên rõ ràng hơn12

Là một vi phạm hành chính cụ thể, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng cũng mang đầy đủ những dấu hiệu chung của một vi phạm hành chính đã được nêu tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Tuy nhiên hiện nay, khái niệm vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng vẫn chưa được ghi nhận trong bất cứ một văn bản pháp lý nào Do đó, để công tác xử phạt vi phạm hành chính

về giữ gìn vệ sinh công cộng được thực hiện một cách có hiệu quả thì trước hết cần phải có một định nghĩa thống nhất thế nào là vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

Tương tự như các vi phạm hành chính khác, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng được cấu thành bởi bốn yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể

và khách thể Cụ thể:

Mặt khách quan của vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng: là những

biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm mà bằng trực quan sinh động con người có thể nhận thức được13 Trong mặt khách quan, hành vi trái pháp luật là yếu tố cấu thành quan trọng Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng trước hết phải là hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng vi phạm các quy định của pháp luật trong việc thực hiện các biện pháp, quy tắc, cách thức để giữ gìn vệ sinh ở những địa điểm công cộng Các hành vi trái pháp luật trong việc giữ gìn vệ sinh công cộng được thể hiện ở cả hai dạng hành động (tiểu tiện, đại tiện không đúng nơi quy định; đổ nước ra khu tập thể, lòng đường, vỉa hè; đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác …) và không hành động (không thực hiện các quy

11 Nguyễn Thị Thiện Trí (2012), “Góp ý dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2

12 Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên (2017), Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb Hồng

Đức, tr 69

13 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức, tr 563

Trang 18

định về quét dọn rác, khai thông cống rãnh trong và xung quanh nhà ở, cơ quan, doanh nghiệp, doanh trại gây mất vệ sinh chung)

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng: là những

dấu hiệu bên trong thể hiện thái độ, trạng thái tâm lý của người vi phạm đối với hành vi trái pháp luật cũng như là đối với hậu quả do hành vi đó gây ra14 Mặt chủ quan của vi phạm hành chính nói chung bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích vi phạm hành chính Trong các dấu hiệu của mặt chủ quan thì lỗi là dấu hiệu bắt buộc đối với mọi vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng nói riêng Người thực hiện hành vi vi phạm các quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi của mình là gây ra tình trạng mất vệ sinh công cộng (lỗi vô ý) hoặc nhận thức được điều đó những vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý)

Chủ thể thực hiện vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng: là cá nhân,

tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý hành chính là khả năng được Nhà nước quy định đối với những cá nhân, tổ chức phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do đã thực hiện hành vi

vi phạm hành chính một cách có lỗi15 Một cá nhân chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng khi đáp ứng được hai điều kiện là: i độ tuổi và ii không đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận

thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm liên quan đến giữ gìn vệ sinh công cộng do tổ chức gây ra

Khách thể của vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng: là những quan

hệ xã hội được các quy phạm luật hành chính bảo vệ và bị vi phạm hành chính xâm phạm16 Cụ thể đó là các quy tắc quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội và

Trang 19

các quan hệ xã hội về việc giữ gìn và bảo vệ môi trường pháp luật quy định

Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm vi phạm hành chính và đặc điểm cấu thành của các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng, tác giả đưa ra khái niệm vi phạm

hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng như sau: “vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là hành vi trái pháp luật (thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động), có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do tổ chức, cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện vi phạm các quy định của pháp luật về giữ gìn vệ sinh công cộng mà theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành về giữ gìn vệ sinh công cộng”

1.1.2.2 Đặc điểm vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

Thứ nhất, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là những vi phạm xảy ra rất phổ biến trong đời sống xã hội

Tính phổ biến là đặc thù của vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng Nếu như những vi phạm hành chính về thuế, đất đai, xây dựng… chỉ xảy ra khi các chủ thể thực hiện những hành vi thuộc về một công việc, một lĩnh vực nhất định như chậm nộp hồ sơ đăng ký thuế, xây dựng nhà ở không phép… thì các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng mang tính phổ biến hơn rất nhiều Tính chất phổ biến thể hiện cả về hành vi lẫn chủ thể vi phạm Sở dĩ như vậy, vì các vi phạm này liên quan trực tiếp đến hoạt động sinh hoạt và sản xuất hàng ngày, hàng giờ của mỗi chủ thể trong xã hội Bất cứ ai cũng có thể trở thành chủ thể của loại vi phạm này Vấn đề xả rác ra đường phố, hệ thống cống rãnh thoát nước khu dân cư; tiểu tiện, phóng uế nơi công cộng… đã dần trở nên phổ biến mà con người vẫn đối mặt hằng ngày Thậm chí, nhiều người vẫn xem đây là chuyện “thường ngày ở huyện” và chấp nhận “sống chung” với vi phạm Nguyên nhân này xuất phát chủ yếu từ ý thức giữ gìn vệ sinh của người dân còn hạn chế Với tư duy lòng đường, hè phố, nơi công cộng không của riêng

ai nên việc giữ gìn vệ sinh không phải nghĩa vụ của mình Do đó, họ không có tinh thần đấu tranh, phòng chống vi phạm Chỉ khi những vi phạm xâm phạm trực tiếp đến lợi ích cá nhân của mình thì họ mới lên tiếng

Thứ hai, trong vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng thì địa điểm thực hiện hành vi là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành nên vi phạm

Trong mặt khách quan của vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng thì

Trang 20

hành vi, tính trái pháp luật của hành vi và địa điểm thực hiện là các yếu tố có ý nghĩa bắt buộc cấu thành nên loại vi phạm hành chính này Khác với nhiều vi phạm hành chính khác, địa điểm không là yếu tố bắt buộc (xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; trộm cắp tài sản), đối với vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng thì địa điểm thực hiện hành vi là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành nên vi phạm Theo đó, địa điểm xảy ra vi phạm phải là khu vực phục vụ cho lợi ích chung của nhiều người - tức là địa điểm công cộng Cũng là hành vi tiểu tiện, đại tiện; đổ, ném chất thải, chất bẩn nhưng nếu diễn ra trong một căn hộ thuộc quyền sở hữu riêng của cá nhân thì không ảnh hưởng đến lợi ích chung và do đó không cấu thành vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

Thứ ba, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng xâm phạm lợi ích của nhiều chủ thể trong xã hội

Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là những vi phạm xảy ra ở những địa điểm công cộng, tức là những nơi phục vụ cho nhu cầu chung của nhiều người trong xã hội như chợ, công viên, đường phố, khu dân cư… Vì có rất nhiều những chủ thể khác nhau sử dụng các địa điểm này để phục vụ cho nhu cầu của mình,

do đó, khi những địa điểm phục vụ cho nhu cầu chung của mọi người bị xâm phạm bởi các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng thì khả năng đáp ứng nhu cầu chung cho mọi người ở những nơi này sẽ bị suy giảm Khi đó, nhu cầu, lợi ích chung của rất nhiều chủ thể bị ảnh hưởng chứ không phải lợi ích riêng của bất kỳ chủ thể xác định nào Ví dụ, hành vi đổ rác không đúng nơi quy định ở công viên gây ô nhiễm khu vực này, rác thải bốc mùi hôi thối, cản trở lối đi chung, khi đó có rất nhiều chủ thể khác nhau như trẻ em, học sinh, sinh viên sẽ không thể sử dụng công viên này để vui chơi, giải trí Điều này khác với nhiều vi phạm hành chính khác (như trộm cắp tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác; xúc phạm danh dự, nhân phẩm…) bởi lẽ những vi phạm này xâm phạm trực tiếp đến lợi ích vật chất và nhân thân của các đối tượng nhất định

Ví dụ, điểm b khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt

vi phạm hành chính đối với hành vi “công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác” Hành vi này gây thiệt hại cho tài sản “của người khác” tức là tài sản của một đối tượng

cụ thể xác định trên thực tế mà vi phạm đã hướng đến Như vậy, đây là vi phạm hành

Trang 21

chính ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của một chủ thể xác định chứ không phải là vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội như các vi phạm

về giữ gìn vệ sinh công cộng

Thứ tư, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng đa phần thể hiện với hình thức lỗi cố ý

Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng được thể hiện dưới hai hình thức lỗi cố ý và vô ý Lỗi cố ý thể hiện ở việc người vi phạm hành chính nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành vi nhưng vẫn thực hiện hoặc để mặc cho hậu quả của hành vi đó xảy ra Lỗi vô ý thể hiện ở việc người vi phạm hành chính không biết hoặc không nhận thức được hành vi trái pháp luật mặc dù cần phải biết và nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng cho rằng có thể ngăn ngừa được hậu quả17

Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng đa phần thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý Ví dụ, người thực hiện hành vi tiểu tiện trên đường phố, vứt rác ở nơi công cộng, để gia súc, gia cầm phóng uế nơi công cộng… đều nhận thức được hành vi của mình là gây mất vệ sinh công cộng nhưng vẫn cố tình thực hiện các hành vi đó

Qua nghiên cứu, có thể thấy, ngoại trừ hành vi “lấy, vận chuyển rác, chất thải bằng phương tiện giao thông thô sơ trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm

vệ sinh” thì tất cả các vi phạm tại Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đều thực hiện với lỗi cố ý Hành vi “lấy, vận chuyển rác, chất thải bằng phương tiện giao thông thô

sơ trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh” là vi phạm duy nhất

có thể được thể hiện dưới hình thức lỗi vô ý Cụ thể, trong quá trình vận chuyển rác, chất thải, có thể người vận chuyển đã áp dụng các biện pháp che chắn an toàn nhằm bảo đảm chất thải không bị rơi vãi gây mất vệ sinh, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan mà chất thải đã bị rơi vãi gây mất vệ sinh công cộng Trong trường hợp này, có thể họ không cố ý làm rơi vãi chất thải, gây mất vệ sinh nhưng họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi sơ suất của mình gây ra

Việc phân định lỗi cố ý hay vô ý không có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của chủ thể vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng Tuy

17 Phạm Hồng Thái - Nguyễn Thị Minh Hà đồng chủ biên (2017), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 466

Trang 22

nhiên, điều đó thể hiện được đặc trưng của loại vi phạm này, đó là sự cố ý của chủ thể trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm Theo khảo sát bằng phiếu điều tra xã hội

học đối với 200 cá nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, khi được hỏi “Khi đổ rác, chất thải thì anh chị sẽ đổ ở nơi nào nhằm bảo đảm đúng quy định pháp luật?” thì

có đến 96 % (192 cá nhân) có câu trả lời là “Phải đổ rác, chất thải đúng nơi quy định”, chỉ có 4 % (08 cá nhân) có câu trả lời là “Đổ rác, chất thải ở bất cứ nơi nào” Mặc dù

trên thực tế, tỷ lệ cá nhân không tuân thủ quy định về đổ rác, chất thải là cao hơn rất nhiều, nhưng kết quả khảo sát cho thấy đa số họ đều hiểu biết về quy định pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm

Thứ năm, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng vừa có cấu thành vật chất, vừa có cấu thành hình thức, trong đó cấu thành vật chất chiếm đa số

Trong mặt khách quan của vi phạm hành chính nói chung thì hậu quả do hành vi

vi phạm gây ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó không có ý nghĩa quan trọng trong đa số các trường hợp, vì thế khoa học luật hành chính coi vi phạm hành chính đa phần có cấu thành hình thức, nghĩa là chỉ cần tồn tại ba dấu hiệu: hành

vi, tính trái pháp luật của hành vi, hành vi đó phải được một văn bản pháp luật quy định là vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm hành chính18 Tuy nhiên, các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng vừa có cấu thành vật chất, vừa có cấu thành hình thức, trong đó cấu thành vật chất chiếm đa số Điều đó có nghĩa là trong mặt khách quan của đa số các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng thì dấu hiệu hậu quả do hành vi vi phạm gây ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó có ý nghĩa quan trọng quyết định để cấu thành nên vi phạm hành chính

Cụ thể, trong 10 vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng được quy định tại Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì có đến 06 vi phạm được quy định có

cấu thành vật chất, bao gồm: “không thực hiện các quy định về quét dọn rác, khai thông cống rãnh trong và xung quanh nhà ở, cơ quan, doanh nghiệp, doanh trại gây mất vệ sinh chung” (điểm a khoản 1 Điều 7), “đổ nước hoặc để nước chảy ra khu tập thể, lòng đường, vỉa hè, nhà ga, bến xe, trên các phương tiện giao thông nơi công cộng hoặc ở những nơi khác làm mất vệ sinh chung” (điểm b khoản 1 Điều 7), “lấy, vận

18 Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, tr 499

Trang 23

chuyển rác, chất thải bằng phương tiện giao thông thô sơ trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh” (điểm đ khoản 1 Điều 7), “nuôi gia súc gia cầm động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư” (điểm e khoản 1 Điều 7), “đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác” (điểm a khoản 2 Điều 7), “để rác, chất thải, xác động vật hoặc bất cứ vật gì khác mà gây ô nhiễm ra nơi công cộng hoặc chỗ có vòi nước, giếng nước ăn, ao, đầm, hồ mà thường ngày nhân dân sử dụng trong sinh hoạt làm mất vệ sinh” (điểm đ khoản 2 Điều 7) Hậu quả của các hành vi này được xác định

là “gây mất vệ sinh chung”, “không bảo đảm vệ sinh”, “gây ô nhiễm ra nơi công cộng”, “làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác” Đây là dấu hiệu bắt buộc để các hành vi kể trên có thể cấu thành nên vi

phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

Các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng còn lại được quy định tại

Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP có cấu thành hình thức, bao gồm: “tiểu tiện, đại tiện ở đường phố, trên các lối đi chung ở khu công cộng và khu dân cư” (điểm c khoản

1 Điều 7), “để gia súc, gia cầm hoặc các loại động vật nuôi phóng uế ở nơi công cộng” (điểm d khoản 1 Điều 7), “tự ý đốt rác, chất thải, chất độc hoặc các chất nguy hiểm khác ở khu vực dân cư, nơi công cộng” (điểm b khoản 2 Điều 7), “đổ rác, chất thải hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng, trên vỉa hè, lòng đường” (điểm c khoản 2 Điều 7)

Việc quy định các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng đa phần có cấu thành vật chất là rất hợp lý Một hành vi được xem là vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng khi nó gây ra những ảnh hưởng nhất định đến các vấn đề về vệ sinh công cộng mà vệ sinh công cộng là vấn đề mà chúng ta chỉ có thể nhận biết được khi nó có những biểu hiện nhất định ra bên ngoài, tức là tình trạng sạch sẽ hay không của một địa điểm công cộng Điều đó có nghĩa một vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng thì nó phải có khả năng tác động đến môi trường công cộng để làm thay đổi hiện trạng của môi trường đó Trong khi đó, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng đa phần là những vi phạm có hành vi đơn giản, do đó bản thân những hành

vi này không đủ khả năng gây ảnh hưởng đến vệ sinh công cộng nếu như không có hậu quả xảy ra Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, một số ít vi phạm được xác định là có cấu

Trang 24

thành hình thức là vì bản thân những hành vi này đã chứa đựng cả hậu quả tất yếu của

nó là gây ảnh hưởng đến vệ sinh công cộng, tức là hành vi đã đi liền với hậu quả, do đó không cần phải quy định thêm dấu hiệu hậu quả trong cấu thành vi phạm

1.1.3 Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng - một loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội

An ninh, trật tự, an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương trong đó mọi người được sống an toàn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức Đây là vấn đề có tầm quan trọng rất lớn đối với toàn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân và lợi ích quốc gia, dân tộc Do đó, bảo vệ an ninh, trật

tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân

Trong giai đoạn hội nhập và phát triển như hiện nay các vi phạm hành chính xảy

ra trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội ngày càng trở nên phổ biến và diễn biến phức tạp gây ra tình trạng mất ổn định trong xã hội Xử phạt các vi phạm này là việc làm cần thiết nhằm duy trì trật tự, kỷ cương xã hội, ổn định cuộc sống nhân dân

Trước khi Quốc hội ban hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì Nghị định số 73/2010/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 12/07/2010 là văn bản quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội Điều 2 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP đưa ra khái niệm về vi phạm hành chính trong lĩnh vực

an ninh, trật tự, an toàn xã hội như sau: “vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước về an ninh, trật tự do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của Nghị định này phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Khi Luật Xử lý vi

phạm hành chính năm 2012 được Quốc hội thông qua, Chính phủ ban hành Nghị định

số 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội để thay thế cho Nghị định số 73/2010/NĐ-CP Đáng tiếc là Nghị định số 167/2013/NĐ-CP lại không dành ra bất kỳ một điều khoản nào để định nghĩa vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Căn cứ vào cách quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì có thể xác định các vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội bao gồm: Vi phạm quy định về trật tự công cộng (Điều 5); Vi phạm quy định về bảo đảm sự yên

Trang 25

tĩnh chung (Điều 6); Vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh chung (Điều 7); Vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú (Điều 8); Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chứng minh nhân dân (Điều 9); Vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu

nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm (Điều 10); Vi phạm các quy định

về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Điều 11); Vi phạm các quy định về quản lý và sử dụng con dấu (Điều 12); Vi phạm các quy định về quản

lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ (Điều 13); Vi phạm các quy định về tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, thi hành các biện pháp xử lý hành chính (Điều 14); Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác (Điều 15); Vi phạm quy định về bảo vệ các công trình công cộng, công trình an ninh, trật tự (Điều 16); Vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại (Điều 17); Vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước (Điều 18); Vi phạm quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu dành riêng cho lực lượng Công

an nhân dân (Điều 19); Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ (Điều 20)

Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là một loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội được quy định cụ thể tại Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng không chỉ xâm phạm đến vấn đề an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, trong Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, Chính phủ quy định vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng thuộc nhóm vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội vì vấn đề đầu tiên được quan tâm là vi phạm này đã phá vỡ trật tự xã hội vốn có, gây nên tình trạng mất ổn định xã hội

Trong một xã hội có nhiều mối liên kết với nhau theo những nguyên tắc nhất định, khi có một liên kết bị phá vỡ, bị thay đổi sẽ làm xáo trộn những liên kết còn lại,

sự xáo trộn lớn có thể dẫn đến thay đổi cả hiện trạng xã hội Nói cách khác, trong một

xã hội có trật tự thì các vấn đề như rác thải; vệ sinh cá nhân; nuôi gia súc, gia cầm, động vật… phải được thực hiện đúng nơi quy định Khi con người thực hiện các hành

vi như vứt rác, tiểu tiện không đúng nơi quy định, nuôi gia súc, gia cầm gây mất vệ sinh chung thì các hành vi đó chính là tác nhân phá vỡ trạng thái ổn định, an toàn của

Trang 26

xã hội đã được thiết lập từ trước Chính vì vậy, các hành vi này phải bị xử phạt vi phạm hành chính để duy trì trật tự và cấu trúc xã hội Hiện nay, Nghị định số 167/2013/NĐ-

CP chỉ dừng lại ở việc liệt kê các hành vi cụ thể vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng chứ chưa nêu ra một định nghĩa tổng quan Theo đó, hành vi vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh công cộng được quy định tại Điều 7, bao gồm:

Thứ nhất, không thực hiện các quy định về quét dọn rác, khai thông cống rãnh

trong và xung quanh nhà ở, cơ quan, doanh nghiệp, doanh trại gây mất vệ sinh chung

Thứ hai, đổ nước hoặc để nước chảy ra khu tập thể, lòng đường, vỉa hè, nhà ga,

bến xe, trên các phương tiện giao thông nơi công cộng hoặc ở những nơi khác làm mất

vệ sinh chung;

Thứ ba, tiểu tiện, đại tiện ở đường phố, trên các lối đi chung ở khu công cộng và

khu dân cư;

Thứ tư, để gia súc, gia cầm, các loại động vật nuôi phóng uế ở nơi công cộng; Thứ năm, nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư; Thứ sáu, lấy, vận chuyển rác, chất thải bằng phương tiện giao thông thô sơ trong

thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh

Thứ bảy, đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ

quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác

Thứ tám, đổ rác, chất thải hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát

nước công cộng, trên vỉa hè, lòng đường

Thứ chín, để rác, chất thải, xác động vật hoặc bất cứ vật gì khác mà gây ô nhiễm

ra nơi công cộng hoặc chỗ có vòi nước, giếng nước ăn, ao, đầm, hồ mà thường ngày nhân dân sử dụng trong sinh hoạt làm mất vệ sinh

Thứ mười, tự ý đốt rác, chất thải, chất độc hoặc các chất nguy hiểm khác ở khu

vực dân cư, nơi công cộng

So với Nghị định số 73/2010/NĐ-CP trước đây thì Nghị định số

167/2013/NĐ-CP đã có sự sửa đổi, bổ sung thêm một số vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng Cụ thể, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đã bổ sung thêm một vi phạm hoàn toàn

mới tại điểm e khoản 1 Điều 7 là “nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư” Ở nước ta, phần lớn quy mô chăn nuôi manh mún, nhỏ lẻ và rời

rạc chưa có nhiều khu chăn nuôi tập trung Hộ chăn nuôi nhỏ chiếm tỷ lệ cao, chăn

Trang 27

nuôi nông hộ đang chiếm 65- 70% về đầu con Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2011, số hộ nuôi lợn quy mô nhỏ (< 10 con/ hộ) chiếm tới 86,4% tổng số hộ, còn gia cầm số hộ nuôi quy mô nhỏ (< 100 con/ hộ) chiếm 89,6%19 Trước tình trạng này,

sự bổ sung hành vi “nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư” trong Nghị định số 167/2013/NĐ-CP là hợp lý và cần thiết để xử phạt đối với các

trường hợp chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và chuồng trại trong chăn nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng

Ngoài ra, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP cũng quy định rõ ràng hơn các hành vi

vi phạm so với Nghị định số 73/2010/NĐ-CP Cụ thể, điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị

định số 167/2013/NĐ-CP quy định hành vi “đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác” So với khoản 4 Điều 9 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP thì Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đã bổ sung thêm hành vi “ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác” Về mặt ngữ nghĩa, “ném” là dùng sức của cánh tay làm cho vật cầm tay rơi đột

ngột và di chuyển nhanh trong không gian đến một đích nhất định20 Như vậy, “ném chất thải, chất bẩn” có thể thực hiện từ xa và làm “hoen bẩn” nhà ở, cơ quan, trụ sở ở nhiều vị trí cao thấp khác nhau Hành vi này kết hợp với hành vi “đổ chất thải, chất bẩn” làm đa dạng hóa các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

Trước đây, điểm b khoản 2 Điều 9 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP chỉ quy định

xử phạt đối với hành vi “đổ rác hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng” Sau đó, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP được ban hành và quy định xử phạt đối với hành vi “đổ rác, chất thải hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng, trên vỉa hè, lòng đường” (điểm c khoản 2 Điều 7) Như vậy, có thể thấy, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đã bổ sung thêm cụm từ “trên vỉa hè, lòng đường” Bằng việc quy định thêm cụm từ “trên vỉa hè, lòng đường”, Nghị định số

167/2013/NĐ-CP đã mở rộng địa điểm thực hiện hành vi đổ rác, chất thải sẽ bị xử phạt

vi phạm hành chính Điều này là hoàn toàn hợp lý vì tình trạng đổ rác trên vỉa hè, lòng

19 Võ Thị Phương Nhung - Đỗ Thị Thúy Hằng (2017), “Chăn nuôi Việt Nam trong bối cảnh hội nhập - Khó khăn

và giải pháp”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ lâm nghiệp số 03

20 Viện Ngôn ngữ học (2003), Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 663

Trang 28

đường hiện nay là rất phổ biến, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh công cộng nên cần phải bị xử phạt kịp thời

Theo điểm đ khoản 1 Điều 9 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP thì hành vi “lấy, vận chuyển phân bằng phương tiện giao thông thô sơ trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh” sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh

công cộng Đến lượt mình, điểm đ khoản 1 Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy

định xử phạt đối với hành vi “lấy, vận chuyển rác, chất thải bằng phương tiện giao thông thô sơ trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh” Có thể thấy, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đã sửa đổi từ “phân” trong Nghị định số 73/2010/NĐ-CP thành “rác, chất thải” nhằm bảo đảm tính khái quát và chính xác của quy phạm pháp luật Theo tác giả, cụm từ “rác, chất thải” thể hiện rõ và đầy đủ ý nghĩa hơn so với từ “phân” Cách quy định này giúp chủ thể có thẩm quyền dễ dàng

thực hiện việc xử phạt trên thực tế

Bên cạnh đó, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đã bỏ hai hành vi vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định

số 73/2010/NĐ-CP là “vận chuyển phân bằng phương tiện giao thông cơ giới trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh” và hành vi được quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP là “làm nhà vệ sinh không đúng quy định gây mất vệ sinh chung” Việc sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới để vận

chuyển phân, chất thải có liên quan đến các quy tắc về giao thông đường bộ, do đó hành vi này sẽ được điều chỉnh bởi nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ Đồng thời, hiện nay việc làm nhà vệ sinh được thực hiện theo quy hoạch chung bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết về vệ sinh môi trường nên việc quy định xử phạt theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP là không cần thiết

Liên quan đến chế tài áp dụng đối với chủ thể thực hiện các vi phạm hành chính

về giữ gìn vệ sinh công cộng thì tương tự Nghị định số 73/2010/NĐ-CP, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP vẫn quy định áp dụng hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền Ngoài ra, các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng còn bị áp dụng biện pháp

khắc phục hậu quả “buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường” và “buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu” Tuy nhiên, khác với Nghị định số

Trang 29

73/2010/NĐ-CP, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đã tăng mức tiền phạt đối với tất cả các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng Cụ thể, đối với các vi phạm

được quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP bao gồm “không thực hiện các quy định về quét dọn rác, khai thông cống rãnh trong và xung quanh nhà

ở, cơ quan, doanh nghiệp, doanh trại gây mất vệ sinh chung” (điểm a khoản 1 Điều 7),

“đổ nước hoặc để nước chảy ra khu tập thể, lòng đường, vỉa hè, nhà ga, bến xe, trên các phương tiện giao thông nơi công cộng hoặc ở những nơi khác làm mất vệ sinh chung” (điểm b khoản 1 Điều 7), “tiểu tiện, đại tiện ở đường phố, trên các lối đi chung

ở khu công cộng và khu dân cư” (điểm c khoản 1 Điều 7), “để gia súc, gia cầm hoặc các loại động vật nuôi phóng uế ở nơi công cộng” (điểm d khoản 1 Điều 7), “lấy, vận chuyển rác, chất thải bằng phương tiện giao thông thô sơ trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh” (điểm đ khoản 1 Điều 7) thì Nghị định này quy

định mức tiền phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng Trong khi đó, cũng với những hành vi nêu trên thì Nghị định số 73/2010/NĐ-CP chỉ quy định mức tiền phạt từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng

Trước đây, theo Nghị định số 73/2010/NĐ-CP thì các vi phạm như “tự ý đốt rác, chất thải, chất độc hoặc các chất nguy hiểm khác ở khu vực dân cư, nơi công cộng”, “đổ rác, chất thải hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng, trên vỉa hè, lòng đường”, “để rác, chất thải, xác động vật hoặc bất cứ vật gì khác mà gây ô nhiễm ra nơi công cộng hoặc chỗ có vòi nước, giếng nước ăn, ao, đầm,

hồ mà thường ngày nhân dân sử dụng trong sinh hoạt làm mất vệ sinh” chỉ bị phạt tiền

từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng Tuy nhiên, khi Nghị định số 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực thì mức tiền phạt đối với các vi phạm này tăng lên gần 10 lần (phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng)

Sự thay đổi theo hướng gia tăng mức tiền phạt là cần thiết và hợp lý, bởi lẽ cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, thu nhập và mức sống của người dân ngày càng cao, nếu quy định mức tiền phạt thấp sẽ không đủ tác động vào lợi ích kinh tế của họ

Do đó, nhà làm luật phải quy định mức tiền phạt tăng lên nhằm khắc phục tình trạng trượt giá của đồng tiền Mức tiền phạt cao cũng sẽ tác động mạnh vào lợi ích kinh tế của chủ thể vi phạm, buộc chủ thể này phải thay đổi suy nghĩ, nhận thức để không tiếp tục vi phạm trong tương lai Như vậy, việc tăng mức tiền phạt cao hơn cũng có ý nghĩa

Trang 30

trong công tác đấu trành, phòng ngừa các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

1.2 Xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

1.2.1.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Xử phạt vi phạm hành chính là một trong những cách thức để thực hiện công tác quản lý nhà nước và duy trì trật tự xã hội, bởi lẽ để xã hội ổn định thì mọi hoạt động phải đi vào nền nếp Vi phạm hành chính là những vi phạm xảy ra hàng ngày hàng giờ trong mọi lĩnh vực của đời sống Do đó, để khắc phục và hạn chế tình trạng vi phạm thì công tác xử phạt vi phạm hành chính là vấn đề vô cùng quan trọng Đây là biện pháp trách nhiệm hành chính mang tính cưỡng chế nhà nước được áp dụng khi có vi phạm

hành chính xảy ra Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì “xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”21

Với tính chất là một loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng được quy định tại Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Để làm rõ các vấn

đề pháp lý có liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn

vệ sinh công cộng thì trước hết cần đưa ra khái niệm về vấn đề này Tuy nhiên, tương

tự như khái niệm vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng, pháp luật hiện hành cũng không đưa ra khái niệm xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Về mặt lý luận và thực tiễn, việc đưa ra các khái niệm này là điều cần thiết Trên

cơ sở khái niệm xử phạt vi phạm hành chính và khái niệm, đặc điểm của vi phạm hành

chính về giữ gìn vệ sinh công cộng đã được nghiên cứu ở các mục 1.1.2.1 và 1.1.2.2,

21 Khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

Trang 31

tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về

giữ gìn vệ sinh công cộng Theo đó, “xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm

về giữ gìn vệ sinh công cộng là việc các chủ thể có thẩm quyền áp dụng các hình thức

xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và góp phần bảo vệ môi trường”

1.2.1.2 Đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Thứ nhất, cơ sở pháp lý để xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng là Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP

Xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng chỉ được tiến hành khi có vi phạm thực tế xảy ra và đây phải là các vi phạm được quy định cụ thể tại Điều

7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Điều đó có nghĩa là các chủ thể có thẩm quyền không được xử phạt khi không có vi phạm thực tế xảy ra và cũng không được tự mình đặt ra các loại vi phạm mới khác với các vi phạm đã được quy định tại Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP22 Với tư duy đó thì không thể xử phạt vi phạm hành chính

về giữ gìn vệ sinh công cộng khi hành vi đó không được quy định trong Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP

Đơn cử, theo Nghị định số 73/2010/NĐ-CP thì hành vi “nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư” không bị xem là vi phạm hành chính về

giữ gìn vệ sinh công cộng Trước tình trạng chăn nuôi gây mất vệ sinh ở khu dân cư thì Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đã quy định hành vi này là vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng Như vậy, khi Nghị định số 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực, chủ

thể thực hiện hành vi “nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư” sẽ bị xử phạt với hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến

300.000 đồng Ngược lại, theo điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP thì

hành vi “vận chuyển phân bằng phương tiện giao thông cơ giới trong thành phố, thị xã

để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh” sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn

22 Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên (2017), Bình luận khoa học Luật Xử xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb

Hồng Đức, tr 77

Trang 32

vệ sinh công cộng Tuy nhiên, hiện nay Nghị định số 167/2013/NĐ-CP lại không quy

định hành vi này là vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng Do đó, việc “vận chuyển phân bằng phương tiện giao thông cơ giới trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không bảo đảm vệ sinh” sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Tương tự, hành vi “làm nhà vệ sinh không đúng quy định gây mất vệ sinh chung” cũng không bị xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ

sinh công cộng vì Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP không quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này

Thứ hai, chủ thể bị xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng chủ yếu là cá nhân

Chủ thể của vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng bao gồm cá nhân

và tổ chức Tuy nhiên, chủ thể chiếm số lượng đa số trong các trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là cá nhân Trong các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng quy định tại Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP

thì có những vi phạm chỉ do cá nhân thực hiện Cụ thể, hành vi “tiểu tiện, đại tiện ở đường phố, trên các lối đi chung ở khu công cộng và khu dân cư” (điểm c khoản 1

Điều 7) chỉ có thể do cá nhân thực hiện Theo điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị định số

97/2017/NĐ-CP thì tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi “hành vi vi phạm do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức, hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Trong khi đó, đa số các vi

phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng xuất phát từ nhu cầu sinh hoạt thường ngày của cá nhân và gắn liền với ý thức cá nhân trong việc giữ gìn vệ sinh chung chứ không phải là hành vi nhân danh hay hoạt động dựa trên sự chỉ đạo, điều hành, phân công của một cơ quan, tổ chức nhất định Chính vì những lý do này mà vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng do cá nhân thực hiện luôn chiếm số lượng đa số

Khi tiến hành phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bảo Trinh - Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà cho biết mỗi ngày ở Thành phố Hồ Chí Minh phát sinh khoảng 8.900 tấn rác thải sinh hoạt Trong đó, riêng khu vực công cộng phát sinh khoảng 2.300 tấn rác/ ngày và cá nhân là những đối tượng chủ yếu có hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng như tiểu tiện, đại tiện, xả rác không

Trang 33

đúng nơi quy định Đặc biệt, những cá nhân thực hiện hoạt động buôn bán hàng rong trên hè phố như xe bán trái cây, đồ ăn nhanh là các chủ thể thường xuyên có hành vi

đổ rác không đúng nơi quy định, gây ra tình trạng mất vệ sinh công cộng Ngoài ra, tình trạng người đi đường, khách du lịch, khách vãng lai, người dân trong khu vực xả rác, đổ nước thải trong quá trình sinh hoạt hằng ngày cũng vô cùng phổ biến23

Mặc dù cá nhân là chủ thể chủ yếu thực hiện các vi phạm hành chính về giữ gìn

vệ sinh công cộng, tuy nhiên tổ chức có thể trở thành chủ thể của các vi phạm này

trong một số trường hợp như “không thực hiện các quy định về quét dọn rác, khai thông cống rãnh trong và xung quanh nhà ở, cơ quan, doanh nghiệp, doanh trại gây mất vệ sinh chung” (điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP) Có thể

thấy rằng, trong trường hợp này thì trách nhiệm bắt buộc phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc giữ gìn vệ sinh công cộng, cụ thể là việc quét dọn rác, khai thông cống rãnh xung quanh cơ quan, doanh nghiệp, doanh trại thuộc về cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, doanh trại đó chứ không phải là trách nhiệm của bất kỳ cá nhân nào trong tổ chức đó Do vậy, tổ chức phải là chủ thể chịu trách nhiệm trước pháp

luật về hành vi của mình Ngoài ra, hành vi “nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất

vệ sinh chung ở khu dân cư” (điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP)

cũng có thể do tổ chức thực hiện Khi tiến hành phỏng vấn ông Lê Quốc Khanh - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông cho biết trên địa bàn xã Phước Kiển có khoảng 21 cơ sở chăn nuôi gia súc (chăn nuôi lợn và bò) dưới hình thức doanh nghiệp Trong năm 2018, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử phạt 06 doanh nghiệp chăn nuôi gây mất vệ sinh chung theo quy định

tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP “nuôi gia súc, gia cầm, động vật gây mất vệ sinh chung ở khu dân cư” 24

Thứ ba, quyết định xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng chỉ

áp dụng hình thức phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu

Trang 34

quả Nói cách khác, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng không bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung

Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, tình hình diễn biến của vi phạm hành chính trên thực tế mà pháp luật hành chính cho phép chủ thể có thẩm quyền

áp dụng nhiều hình thức xử phạt khác nhau, bao gồm hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung Đối với các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì chủ thể có thẩm quyền chỉ

áp dụng hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền mà không đồng thời áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; trục xuất)

Việc quy định các hình thức xử phạt bổ sung là nhằm thực hiện chức năng hỗ trợ cho hình thức xử phạt chính, là biện pháp pháp lý để giúp cho việc xử phạt được chính xác, đồng thời giúp các cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm loại bỏ những điều kiện mà cá nhân, tổ chức vi phạm có thể sử dụng để tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm25 Đa số các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là những vi phạm có tính chất đơn giản do xuất phát chủ yếu từ hoạt động sản xuất, nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của con người Do đó, theo Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì chỉ cần áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền là đã

đủ yếu tố răn đe mà không nhất thiết phải áp dụng hình thức xử phạt bổ sung

Bên cạnh hình thức phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền thì các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm lập lại trật tự quản lý bị xâm hại, khắc phục những thiệt hại xấu do vi phạm hành chính gây ra Cụ thể, đối với các vi phạm này, cá nhân, tổ chức sẽ bị áp dụng các biện

pháp khắc phục hậu quả là “buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường” và “buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu”

25 Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên (2017), Bình luận khoa học Luật Xử xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb

Hồng Đức, tr 229

Trang 35

1.2.2 Mục đích xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

Thứ nhất, xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường sống chung của cộng đồng

Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là một loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội Các vi phạm liên quan đến giữ gìn

vệ sinh công cộng đã phá vỡ trật tự xã hội vốn có, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của mọi người Chính vì lẽ đó, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi này có mục đích khôi phục lại trật tự xã hội, đưa mọi sinh hoạt của người dân vào nền nếp dựa trên khuôn khổ của pháp luật Nếu như không có sự can thiệp của pháp luật thì

“những nơi không của riêng ai” sẽ không được giữ gìn vệ sinh Từ đó, tình trạng xả rác, tiểu tiện không đúng nơi quy định, để gia súc, gia cầm phóng uế gây ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng gia tăng

Việc xử phạt càng nghiêm ngặt, chặt chẽ, tính răn đe càng cao thì càng hạn chế được vi phạm xảy ra, góp phần bảo vệ sự bình yên trong xã hội Mặt khác, một điều không thể phủ nhận rằng, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng không chỉ phá vỡ an ninh, trật tự xã hội mà còn gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, việc xử phạt các chủ thể vi phạm cũng nhằm mục đích khắc phục tình trạng ô nhiễm, bảo vệ môi trường sống, giữ gìn vẻ mỹ quan của khu dân cư, đô thị, ngăn ngừa sự hình thành, lây lan của các dịch bệnh nguy hại cho con người

Thứ hai, xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng có mục đích trừng phạt đối với người vi phạm

Các chủ thể thực hiện vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng phải chịu những chế tài nhất định Đó chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể vi phạm phải gánh chịu do vi phạm hành chính của mình gây ra Sự trừng phạt của pháp luật đối với người vi phạm góp phần tạo ra tính công bằng trong xã hội bởi lẽ khi vô tình hoặc

cố ý gây ra những tổn thất cho xã hội thì bằng những cách thức khác nhau chủ thể vi phạm phải bù đắp lại tổn thất đó bằng chính lợi ích vật chất của mình

Đơn cử, khi chủ thể thực hiện hành vi đổ rác, chất thải vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng thì sẽ gây ô nhiễm môi trường, xáo trộn trật tự xã hội Do vậy, chính

Trang 36

chủ thể đó phải nộp phạt một khoản tiền nhất định Khoản tiền này sẽ được đưa vào ngân sách nhà nước nhằm tạo nguồn kinh phí để nhà nước thực hiện các giải pháp khắc phục ô nhiễm, tái ổn định lại trật tự xã hội Đồng thời sự trừng phạt của pháp luật đối với người vi phạm còn thể hiện được sức mạnh và sự tối thượng của pháp luật trong nhà nước pháp quyền Nếu pháp luật quy định ra rất nhiều vi phạm hành chính nhưng kết quả lại không xử phạt người vi phạm thì dẫn đến hiện tượng “nhờn luật”, từ đó, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng sẽ như căn bệnh “nan y”, không thể chữa trị dứt điểm

Thứ ba, xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng nhằm mục đích giáo dục răn đe và phòng ngừa các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

Để xây dựng một xã hội văn minh, một nếp sống văn hóa thì cần phải ổn định trật tự xã hội, đấu tranh đẩy lùi các vi phạm pháp luật Là một vi phạm nhỏ nhưng mang tính phổ biến, vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng có xu hướng gia tăng bởi những những thói quen tùy tiện, thiếu ý thức của nhiều chủ thể Chính vì vậy,

xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng có ý nghĩa thiết thực nhằm hạn chế tình trạng vi phạm như hiện nay

Xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng

không chỉ có mục đích trừng trị mà quan trọng hơn là giáo dục các chủ thể vi phạm, ngăn ngừa các vi phạm tương tự và khôi phục những thiệt hại xảy ra Tính giáo dục của việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng thể hiện ở chỗ, việc xử phạt giúp cho chủ thể vi phạm biết được rằng hành vi của họ đã xâm phạm đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, từ đó họ sẽ ý thức hơn trong việc thực hiện hành vi của mình Nếu như việc tiểu tiện, đại tiện ở đường phố, trên các lối đi chung ở khu công cộng; để gia súc, gia cầm hoặc các loại động vật nuôi phóng uế ở nơi công cộng không bị xử phạt thì vô hình trung lại dung túng cho các hành vi vi phạm

Do đó, việc xử phạt một chủ thể sẽ giúp các chủ thể khác nhìn vào đó mà tự điều chỉnh hành vi của mình, không thực hiện những vi phạm tương tự Đây chính là mục đích phòng ngừa vi phạm của việc xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

Trang 37

1.2.3 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm về giữ gìn

vệ sinh công cộng

Nhằm thể hiện sự tôn trọng các quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, việc xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng nói riêng phải tuân theo những nguyên tắc pháp lý nhất định

Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính là những tư tưởng chỉ đạo đối với hoạt động xử phạt vi phạm hành chính mà chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP là nghị định trực tiếp quy định việc xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng, tuy nhiên trong nghị định này không ghi nhận các nguyên tắc riêng để xử phạt loại vi phạm hành chính này

Do đó, có thể hiểu nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính nói chung được quy định tại khoản

1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Các nguyên tắc này bao gồm:

Nguyên tắc thứ nhất, mọi vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do

vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật

Vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng không gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội như tội phạm, tuy nhiên do số lượng vi phạm nhiều và xảy ra rất thường xuyên, do đó cần phải được phát hiện và ngăn chặn kịp thời Nếu không phát hiện và ngăn chặn kịp thời thì sẽ gia tăng mức độ nguy hại cho xã hội Điều này đòi hỏi cao về trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền trong việc phát hiện, đình chỉ kịp thời các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng Đồng thời, các vi phạm này phải được xử phạt một cách nghiêm minh nhằm trừng trị các vi phạm đã xảy ra, tăng cường tính răn đe, giáo dục của pháp luật, ngăn ngừa các vi phạm tương tự xảy ra trong tương lai Hơn thế nữa, phải khắc phục hoàn toàn các hậu quả xấu về an ninh, trật tự, an toàn

xã hội, về vệ sinh môi trường do các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng

26 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức, tr 570

Trang 38

gây ra Hậu quả này phải được khắc phục một cách triệt để theo đúng quy định của pháp luật

Ví dụ, ngày 13/07/2019, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 376/QĐ-XPVPHC xử

phạt ông Lý Văn Nhân về hành vi “để động vật nuôi phóng uế ở nơi công cộng” Theo

Quyết định số 376/QĐ-XPVPHC thì ông Lý Văn Nhân bị phạt số tiền 150.000 đồng

Bên cạnh đó, ông Lý Văn Nhân còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường” Việc xử phạt trong trường hợp này đã bảo đảm nguyên tắc “mọi vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh” và

“mọi hậu quả do vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”

Nguyên tắc thứ hai, việc xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công

cộng được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật

Nguyên tắc này đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền xử phạt phải phản ứng mau

lẹ với các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng, khi phát hiện ra các vi phạm phải tiến hành xử lý ngay, không được chậm trễ và phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thời hạn, thời hiệu xử phạt Xử phạt nhanh chóng nhằm kịp thời khôi phục lại trật tự xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật Sự công khai, khách quan trong xử phạt là nhằm bảo đảm quyền lợi của chủ thể bị xử phạt Việc thu thập chứng cứ, lập biên bản phải đúng thủ tục do pháp luật quy định Trong quá trình xử phạt, phải bảo đảm sự vô tư, không thiên vị của chủ thể có thẩm quyền xử phạt Chủ thể xử phạt phải là người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, áp dụng đúng các hình thức xử phạt, mức tiền phạt, biện pháp khắc phục hậu quả phải tương xứng với hậu quả xảy ra trên thực tế

Nguyên tắc thứ ba, việc xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công

cộng phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng

Các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng là những hành vi có biểu hiện khác nhau về tính chất, mức độ và hậu quả nguy hại cho xã hội Đồng thời nhân

Trang 39

thân của các chủ thể vi phạm cũng không giống nhau Do đó, khi xử phạt cần phải căn

cứ vào tất cả các yếu tố này để đánh giá vấn đề một cách toàn diện, đưa ra quyết định

xử phạt một cách chính xác nhất Đồng thời nguyên tắc này còn thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với một số vi phạm có tình tiết giảm nhẹ, tính răn đe, nghiêm minh đối với các vi phạm có tình tiết tăng nặng Đây là nguyên tắc rất căn bản trong xử phạt

vi phạm hành chính mà chủ thể có thẩm quyền bắt buộc phải tuân thủ để bảo đảm tính công bằng của pháp luật trong xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng nói riêng

Ví dụ, ngày 15/10/2016, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bùi Hữu Nghĩa

ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPVPHC xử phạt bà Trần Bích Kim về hành vi “để động vật nuôi phóng uế ở nơi công cộng” với số tiền 200.000 đồng, đồng thời bà Kim phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả “buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường” Cùng ngày, bà Kim đã thực hiện quyết định xử phạt này Đến 04 ngày sau, tức ngày 19/10/2016, bà Kim lại có hành vi “để động vật nuôi phóng

uế ở nơi công cộng” Người có thẩm quyền đã lập biên bản hành vi vi phạm của bà

Kim Ngày 22/10/2016, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bùi Hữu Nghĩa ban

hành Quyết định số 41/QĐ-XPVPHC xử phạt bà Trần Bích Kim về hành vi “để động vật nuôi phóng uế ở nơi công cộng” với số tiền 300.000 đồng Sở dĩ bà Kim bị phạt tiền tối đa 300.000 đồng vì bà có thêm tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại

điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

Nguyên tắc thứ tư, chỉ xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công

cộng khi có hành vi vi phạm do pháp luật quy định Một hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt một lần Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm thì mỗi người vi phạm đều bị

xử phạt về hành vi vi phạm đó Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm

- Chỉ xử phạt vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định Cụ thể, các vi phạm hành chính về giữ gìn vệ

sinh công cộng được ghi nhận tại Điều 7 Nghị định số167/2013/ NĐ-CP Do đó, người

có thẩm quyền chỉ được xử phạt đối với các vi phạm được quy định tại điều luật này Quy định này nhằm tránh việc chủ thể có thẩm quyền tự đặt ra các vi phạm để xử phạt nhằm mục đích cá nhân Mặt khác, chỉ được xử phạt đối với những hành vi đã đủ dấu

Trang 40

hiệu để cấu thành vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng, tức là thỏa mãn các dấu hiệu về mặt khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể như đã phân tích ở

nhiều lần cho chủ thể vi phạm, đồng thời cũng đi ngược lại với tính nhân đạo của pháp luật

- Nhiều người cùng thực hiện một vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm đó Nhiều người cùng

thực hiện một hành vi vi phạm về giữ gìn vệ sinh công cộng, tức là giữa những người này đều có sự đồng thuận và cùng nhau tham gia thực hiện vi phạm Do đó, các chủ thể

này sẽ bị xử phạt về hành vi của mình gây ra

- Một người thực hiện nhiều vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm Một người

thực hiện nhiều vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng nghĩa là thực hiện nhiều hành vi khác nhau như vừa đổ rác ra nơi công cộng, vừa tiểu tiện trên đường phố Khi đó người này sẽ bị xử phạt đối với cả hai hành vi vi phạm với hình thức xử phạt khác nhau Bên cạnh đó, vi phạm hành chính nhiều lần thì người vi phạm sẽ bị xử phạt về từng hành vi vi phạm

Nguyên tắc thứ năm, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh

vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh công cộng Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính

Xét về bản chất có thể hiểu hạt nhân của nguyên tắc này là “suy đoán không vi phạm” tương tự như “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự27 Đây là nguyên tắc mới

27 Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên (2017), Bình luận khoa học Luật Xử xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb

Hồng Đức, tr 132

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
26. Nguyễn Ngọc Bích (2007), “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành”, Tạp chí Luật học số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Năm: 2007
27. Bùi Thị Đào (2014), “Luật Xử lý vi phạm hành chính - Bước tiến mới của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và một số vấn đề cần trao đổi”, Tạp chí Luật học số 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Xử lý vi phạm hành chính - Bước tiến mới của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và một số vấn đề cần trao đổi”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Thị Đào
Năm: 2014
28. Bùi Thị Đào (2003), “Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Luật học số 03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính"”, Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Thị Đào
Năm: 2003
29. Trần Thị Hiền (2011), “Hoàn thiện pháp luật về hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Luật học số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Thị Hiền
Năm: 2011
30. Nguyễn Ngọc Hòa (2006), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (tập 2), Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2006
31. Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên (2017), Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nxb. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2017
32. Nguyễn Cảnh Hợp - Cao Vũ Minh (2011), “Hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính từ kinh nghiệm của Liên bang Nga”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính từ kinh nghiệm của Liên bang Nga”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hợp - Cao Vũ Minh
Năm: 2011
33. Nguyễn Cảnh Hợp - Mai Thị Lâm (2015), “Quy định thẩm quyền xử phạt theo tỷ lệ phần trăm có khống chế mức trần: Ưu điểm hay hạn chế?”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định thẩm quyền xử phạt theo tỷ lệ phần trăm có khống chế mức trần: Ưu điểm hay hạn chế?”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hợp - Mai Thị Lâm
Năm: 2015
34. Trần Thị Thu Hường (2016), “Tăng cường hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”, Tạp chí Môi trường số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”, "Tạp chí Môi trường
Tác giả: Trần Thị Thu Hường
Năm: 2016
35. Mai Thị Lâm (2016), Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Mai Thị Lâm
Năm: 2016
36. Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
37. Nguyễn Thị Lương (1999), Pháp luật về vệ sinh nơi công cộng: Thực trạng và hướng giải quyết, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về vệ sinh nơi công cộng: Thực trạng và hướng giải quyết
Tác giả: Nguyễn Thị Lương
Năm: 1999
38. Cao Vũ Minh (2013), “Bàn về quyền tùy nghi trong hoạt động của các cơ quan hành chính”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền tùy nghi trong hoạt động của các cơ quan hành chính”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2013
39. Cao Vũ Minh (2017), “Bất cập và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất cập và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2017
40. Cao Vũ Minh (2018), “Hạn chế của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhìn từ góc độ kỹ thuật lập pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03 + 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạn chế của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhìn từ góc độ kỹ thuật lập pháp”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2018
41. Cao Vũ Minh chủ biên (2019), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính - Thực trạng và hướng hoàn thiện
Tác giả: Cao Vũ Minh chủ biên
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2019
42. Cao Vũ Minh (2014), “Những điểm mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2014
43. Cao Vũ Minh (2018), “Sự chồng chéo giữa biện pháp khắc phục hậu quả với các hình thức xử phạt trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chồng chéo giữa biện pháp khắc phục hậu quả với các hình thức xử phạt trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2018
44. Cao Vũ Minh (2014), “Thời hiệu và thời hạn xử phạt vi phạm hành chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hiệu và thời hạn xử phạt vi phạm hành chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2014
69. Trang thông tin điện tử Đảng bộ huyện Phú Quốc, Tổng quan Phú Quốc, ngày 23/02/2018. Truy cập: https://phuquoc.gov.vn/vi- vn/chinhquyen/gioithieu/tongquanvephuquoc.aspx,(truycậpngày19/07/2019) Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w