Chẳng hạn như: "Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm trong Bộ luật Dân sự Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 9/2004; Tạp chí Khoa học Pháp lý số 3/2004, đề tài nghiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HỦY BỎ HỢP ĐỒNG VÀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ
LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Người hướng dẫn khoa học: Ths Lê Thị Hồng Vân Học viên: Võ Thị Thanh
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hợp đồng sinh ra để được thực hiện nhằm mang lại lợi ích cho các bên nói riêng và cho sự phát triển lành mạnh của xã hội nói chung Do đó, khi hợp đồng được giao kết hợp pháp và có hiệu lực pháp luật sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên và ràng buộc các bên phải thực hiện đúng, đầy đủ hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp, hợp đồng đã được giao kết hợp pháp và trong quá trình thực hiện, một bên đã có sự vi phạm Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng, sự vi phạm có ảnh hưởng nhất định đến các bên trong hợp đồng và ảnh hưởng đến các quan hệ hợp đồng khác Để bảo vệ lợi ích cho bên bị vi phạm hợp đồng cũng như dung hòa lợi ích của các bên, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nhiều nước đã quy định về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Đây chỉ là những biện pháp mang tính dự phòng, được áp dụng như là biện pháp cuối cùng khi việc tiếp tục thực hiện hợp đồng là không cần thiết và không mang lại lợi ích cho các bên
Hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không phải là những biện pháp mới trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, những biện pháp này
đã từng được quy định trong BLDS năm 1995 Quy định về việc hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong BLDS có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Về lý luận, hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là những nội dung không thể thiếu của pháp luật về hợp đồng, là căn cứ pháp lý để chấm dứt hợp đồng Về thực tiễn, quy định về việc hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể hợp đồng khi có sự vi phạm nghĩa vụ Tuy nhiên, gần 8 năm áp dụng BLDS năm
2005 cho thấy, thực tiễn giải quyết tranh chấp về vấn đề trên gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Nhiều câu hỏi đặt ra vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng như: Những khó khăn cụ thể mà Tòa án gặp phải là gì? Tại sao thực tiễn giải quyết tranh chấp lại gặp nhiều vướng mắc? Nguyên nhân và cách hạn chế, khắc phục những vướng mắc đó như thế nào? Hơn nữa, việc áp dụng hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đều dẫn tới chấm dứt hợp đồng Vậy sự giống và khác nhau cơ bản giữa hai biện pháp này là gì? Để làm rõ những vấn đề được đặt ra ở trên, tác giả đã chọn đề tài “Hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2005” làm Khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trang 3Hiện nay, đã có nhiều chuyên gia, nhiều học giả quan tâm nghiên cứu về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, trong đó có những công trình khai thác vấn đề ở góc độ chung, bao quát, cũng có những công trình khai thác ở một
số khía cạnh cụ thể Đáng kể là những công trình nghiên cứu của PGS TS Đỗ Văn Đại Cụ thể, PGS TS Đỗ Văn Đại đã nghiên cứu vấn đề ở cả góc độ chung và cả những khía cạnh cụ thể Chẳng hạn như: "Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi
phạm trong Bộ luật Dân sự Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 9/2004; Tạp
chí Khoa học Pháp lý số 3/2004, đề tài nghiên cứu trên góc độ có hành vi vi phạm
hợp đồng trước và sau khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng hành vi vi phạm đó các bên không có thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định; Về khả năng hủy bỏ hợp đồng khi có vi phạm trong đề tài "Về vấn đề hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm ở Việt
nam", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2/2009; Vấn đề hủy bỏ hợp đồng và đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng cũng được PGS TS Đỗ Văn Đại đề cập một cách tổng
quát trong Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật
Việt nam (sách chuyên khảo), Nxb Đại học quốc gia, tp Hồ Chí Minh - 2010 và trong
một số Bản án, Quyết định tại "Bản án số 32 và 32 Bis" trong Luật hợp đồng Việt
Nam - Bản án và bình luận Bản án, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2009 Bên cạnh
đó, có một số công trình nghiên cứu khác về vấn đề hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng như: Vũ Thanh Tuấn (2010), "Quy định về hủy bỏ hợp
đồng dân sự", Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 21); Nguyễn Thị Việt Hà (2010), Chế tài
đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng trong hoạt động thương mại, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Nhật
Thanh (2010), Hủy bỏ hợp đồng do vi phạm trong quá trình thực hiện, Luận văn tốt
nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;
Nhìn chung, những công trình trên đều chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định về biện pháp hủy bỏ hợp đồng, ít đề cập đến đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và cũng chỉ mới dừng lại ở viêc nêu lên một số bất cập nhất định giữa các văn bản pháp luật điều chỉnh về vấn đề trên Tuy nhiên, hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là hai nội dung tương đối phức tạp Mặc dù điều kiện áp dụng là tương tự nhau và đều làm chấm dứt hợp đồng nhưng chúng dẫn đến những hậu quả hoàn toàn khác nhau Việc nghiên cứu một cách tổng quan cả về lý luận cũng như thực tiễn của việc hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và nêu ra một số kiến nghị sẽ cho thấy cách nhìn toàn diện hơn và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này Vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu
đề tài "Hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định
Trang 4của BLDS năm 2005" với mong muốn thực hiện mục tiêu trên
3 Mục đích nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ các quy định của BLDS năm 2005 về vấn đề hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng như: căn cứ, thủ tục, hậu quả của việc áp dụng Tác giả so sánh hủy bỏ hợp đồng với đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhằm chỉ rõ sự tương đồng và khác biệt giữa hai biện pháp này Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp về hủy
bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng để hiểu rõ hơn thực tiễn áp dụng quy định trên của pháp luật Qua việc nghiên cứu thực tiễn, tác giả thấy được những khó khăn, vướng mắc mà các bên trong hợp đồng cũng như Tòa án gặp phải, từ
đó, tìm ra nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị với mong muốn hoàn thiện hơn các quy định về hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong BLDS
năm 2005 và qua đó, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp đồng phát triển
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quy định của BLDS năm 2005 về vấn đề hủy
bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, so sánh các quy định đó với một số đạo luật khác của Việt Nam và pháp luật nước ngoài Đồng thời, đề tài có liên
hệ với thực tiễn giải quyết tranh chấp về hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, phân tích nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị liên quan đến vấn
đề trên
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp sưu tầm, thống kê, tổng hợp, phân tích, bình luận, so sánh
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Giá trị ứng dụng về mặt lý luận: Đề tài làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của hủy
bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, so sánh chúng với nhau và với một số văn bản pháp luật khác Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp người đọc có cái nhìn tổng quan hơn về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2005
Giá trị ứng dụng về mặt thực tiễn: Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của BLDS năm 2005 về vấn đề hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, chỉ ra những vướng mắc trong quá trình áp dụng Kết quả nghiên cứu của
Trang 5đề tài giúp người đọc nhận thức được nhu cầu và định hướng hoàn thiện các quy định
về hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Đồng thời, đề tài đưa
ra được một số kiến nghị nhằm đảm bảo cho những quy định về vấn đề trên của pháp luật mang tính khả thi, dễ áp dụng hơn và hạn chế những bất cập có thể phát sinh
Ý nghĩa khoa học của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu giúp các học giả nghiên cứu, tìm hiểu về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2005 Đồng thời, một số kiến nghị trong đề tài có thể giúp hoàn thiện hơn những quy định về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi BLDS năm 2005 đang trong thời kỳ sửa đổi,
bổ sung
7 Bố cục đề tài: Đề tài chia làm 2 chương:
hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005 Chương này tác giả
tập trung nghiên cứu khái quát về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2005 Cụ thể như: khái niệm, căn cứ chấm dứt, thủ tục áp dụng, hậu quả pháp lý Tác giả có liên hệ, so sánh các quy định trên trong BLDS năm 2005 với một số Đạo luật khác của Việt Nam như: Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Lao động năm 1994 và với pháp luật nước ngoài như: Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804, Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và một số kiến nghị Từ những vấn đề lý
luận ở Chương 1, với Chương này, tác giả tập trung nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Từ đó, tác giả chỉ ra những khó khăn, vướng mắc mà Tòa án gặp phải trong quá trình áp dụng pháp luật, tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định trên trong BLDS năm 2005
Trang 6CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG VÀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ
LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 1.1 Khái niệm hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005
1.1.1 Khái niệm hủy bỏ hợp đồng
Theo Viện Ngôn ngữ học1 thì hủy bỏ nghĩa là "Bỏ đi, coi là hoàn toàn không có hiệu lực hay giá trị nữa" Trong khoa học pháp lý, mặc dù chưa có văn bản pháp luật nào chính thức định nghĩa về hủy bỏ hợp đồng, nhưng thông qua những quy định của pháp luật thì hủy bỏ hợp đồng được hiểu là "triệt tiêu quá khứ cũng như tương lai của hợp đồng đã được giao kết hợp pháp"2 Hủy bỏ hợp đồng làm triệt tiêu hiệu lực ràng buộc của hợp đồng ngay từ thời điểm giao kết, hợp đồng mất giá trị cả trong quá khứ, hiện tại lẫn tương lai và coi hợp đồng đó chưa từng tồn tại trên thực tế
Khi giao kết hợp đồng, các bên đều mong muốn thu được những lợi ích nhất định Để đạt được điều này, hợp đồng phải được các bên tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ Tuy nhiên, khi hợp đồng được giao kết hợp pháp và đã phát sinh hiệu lực, vì một lý do cụ thể mà một bên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng đúng như cam kết Khi đó, phía bên kia có thể hủy bỏ hợp đồng nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Như vậy, lý do hủy bỏ hợp đồng không tồn tại từ thời điểm giao kết mà phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng Khi hợp đồng bị hủy bỏ, các bên khôi phục lại trạng thái ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Để hiểu rõ hơn về khái niệm hủy bỏ hợp đồng, chúng ta có thể xem xét ví dụ sau:
A bán cho B một chiếc xe máy Wave S cũ với giá 10 triệu đồng Hai bên thỏa thuận: ngày 10/5/2012, A giao xe, ngày 15/5/2012, B giao đủ 10 triệu đồng cho A, bên nào không thực hiện đúng cam kết thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng Đến hạn, A giao xe cho B, nhưng đến ngày 16/5/2012, B vẫn không trả tiền cho A Do đó, ngày 16/5/2012, A thông báo cho B về việc hủy bỏ hợp đồng mua bán Với trường hợp này, khi B không thực hiện đúng cam kết, A thông báo cho B biết về việc hủy bỏ hợp đồng mua bán, hợp đồng chấm dứt hiệu lực B không phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhưng có nghĩa vụ trả lại xe đã nhận từ A Khi B hoàn trả xe cho A thì hai bên quay lại trạng thái ban đầu như chưa từng có hợp đồng
1 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, tr 470
2 Đỗ Văn Đại (2009), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận Bản án, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr 556
Trang 7Khái niệm "Hủy bỏ hợp đồng" không đồng nhất với khái niệm "Hợp đồng bị hủy bỏ" Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học3 thì hợp đồng bị hủy bỏ "là hợp đồng được giao kết hợp pháp nhưng bị coi là không có hiệu lực thực hiện nữa" Theo Điều
425 BLDS năm 2005, ta thấy hai khái niệm này được sử dụng trong hai giai đoạn khác nhau của một quá trình Theo đó, hủy bỏ hợp đồng là hành vi làm chấm dứt hợp đồng và dẫn đến hậu quả là hợp đồng bị hủy bỏ, hợp đồng bị hủy bỏ là kết quả và là giai đoạn cuối cùng của quá trình hủy bỏ hợp đồng
Tóm lại, hủy bỏ hợp đồng là hoàn cảnh hợp đồng đã được giao kết hợp pháp, đang có hiệu lực và đáng lẽ ra phải được thực hiện tới cùng thì nay bị triệt tiêu hiệu lực, triệt tiêu kể từ thời điểm giao kết Lý do hủy bỏ hợp đồng không tồn tại vào thời điểm giao kết mà phát sinh trong quá trình thực hiện, cụ thể là do có sự vi phạm hợp đồng của một bên theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Khi hợp đồng bị hủy bỏ, các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
1.1.2 Khái niệm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Theo nghĩa thông thường, đơn phương được hiểu là "Có tính chất của riêng một bên, không có sự thỏa thuận hay tham gia của bên kia"4 Theo đó, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng có nghĩa là một bên tự mình không thực hiện hợp đồng, không phụ thuộc vào ý chí của phía bên kia Khoản 1 Điều 426 BLDS năm 2005 quy định:
"Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định" và theo Khoản 3 Điều này thì "Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán" Với quy định này, ta thấy, đây là trường hợp hợp đồng đã được giao kết hợp pháp, phát sinh hiệu lực và các bên
đã đưa ra thực hiện trên thực tế, nhưng vì một lý do nào đó mà một bên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng cho tới cùng được thì lúc này, phía bên kia có thể áp dụng cơ chế đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Như vậy, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng "là việc một bên đơn phương tuyên bố việc ngừng thực hiện hợp đồng, khi có những điều kiện do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định"5 Ví dụ như:
Trang 8A và B ký một hợp đồng mua bán Xi măng với thỏa thuận như sau: A bán cho B
1 tấn Xi măng Hà Tiên, giá 260.000 đồng/1tạ, đợt 1 ngày 20/5/2012, giao 5 tạ; đợt 2 ngày 2/6/2012, giao 5 tạ còn lại B thanh toán đủ tiền mua hàng vào đợt 2 Bên nào không thực hiện đúng thỏa thuận thì bên kia có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Thực hiện hợp đồng, đợt 1 A giao hàng đúng thỏa thuận, nhưng sang đợt 2,
A không thực hiện nghĩa vụ giao hàng Ngày 3/6/2012, B thông báo cho A về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Trong trường hơp này, khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ, A không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, B dựa vào thỏa thuận đã cam kết để yêu cầu chấm dứt thực hiện hợp đồng với A Hợp đồng chấm dứt từ thời điểm A nhận được thông báo chấm dứt A không phải giao số hàng còn thiếu ở đợt 2
và được quyền yêu cầu B thanh toán tiền hàng đợt 1
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là hành vi làm cho hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện Như vậy, khái niệm "Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng" không đồng nhất với khái niệm "Hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện" Đây là hai giai đoạn khác nhau của một trình triệt tiêu hợp đồng trong tương lai, trong đó, hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện là kết quả và là giai đoạn cuối cùng của quá trình đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
So sánh khái niệm "Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng" được quy định trong BLDS năm 2005 với khái niệm "Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng" trong BLDS năm 1995 Theo nghĩa thông thường, đơn phương đình chỉ hợp đồng được hiểu là "một bên không tiếp tục thực hiện hợp đồng do không mang lại lợi ích cho mình từ việc thực hiện hợp đồng hoặc do có sự vi phạm của phía bên kia"6 Theo Điều 420 BLDS năm 1995 thì "Khi hợp đồng bị đơn phương đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo chấm dứt Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán" Như vậy, BLDS năm 2005 và BLDS năm 1995 quy định hai khái niệm khác nhau, không có sự thống nhất về thuật ngữ nhưng về nội dung và bản chất thì giống nhau, đều làm chấm dứt hợp đồng trong tương lai
Tóm lại, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là hoàn cảnh hợp đồng đã được giao kết hợp pháp và đang phát sinh hiệu lực thì nay bị triệt tiêu kể từ thời điểm một bên nhận được thông báo chấm dứt Lý do chấm dứt hợp đồng có thể do sự vi phạm hợp đồng của một bên hoặc do việc tiếp tục thực hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Khi hợp đồng chấm
6 Trường Đại Học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 57
Trang 9dứt, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán
1.2 Căn cứ, thủ tục hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005
1.2.1 Căn cứ hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005
Căn cứ hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được quy định tại Điều 425 và Điều 426 BLDS năm 2005 Theo đó, khi một bên có đủ điều kiện luật định thì được phép hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Pháp luật công nhận đây là quyền tự do ý chí của các bên, "Các quy định hiện hành không có quy định nào bắt buộc phải hủy hợp đồng khi thuộc trường hợp "pháp luật có quy định", BLDS 2005 quy định đây là "quyền dân sự""7 Khi phát sinh căn cứ hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, một bên có quyền lựa chọn giữa việc tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng Nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng thì phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã cam kết và chịu sự ràng buộc pháp lý của hợp đồng Nếu chọn việc hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải thực hiện một số thủ tục để chấm dứt Theo BLDS năm 2005, căn cứ để các chủ thể đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hay hủy
bỏ hợp đồng có những điểm giống nhau nhất định Tùy vào từng trường hợp, các căn
cứ đó bao gồm:
1.2.1.1 Có sự vi phạm hợp đồng của một bên
Không phải hợp đồng nào được giao kết hợp pháp cũng được các bên tuân thủ thực hiện đến cùng Hợp đồng có thể bị triệt tiêu hiệu lực ngay từ thời điểm giao kết hoặc từ thời điểm một bên nhận được thông báo chấm dứt, theo sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật Để hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp ngoại lệ, điều kiện là có sự vi phạm hợp đồng BLDS năm 2005 không định nghĩa về vi phạm hợp đồng, nhưng Khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005 quy định "Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của Luật này" Như vậy, vi phạm hợp đồng có thể hiểu là việc một bên giao kết hợp đồng đã không thực hiện nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc đã thực hiện nhưng thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng Ví dụ, các bên thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ giao hàng
7
Vũ Thanh Tuấn (2010), "Quy định về hủy bỏ hợp đồng dân sự", Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 21), tr 15
Trang 10trong hợp đồng nhưng người bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu, giao sai hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng, trong trường hợp này người bán đã vi phạm hợp đồng
Nghĩa vụ bị vi phạm phải là nghĩa vụ đã đến hạn thực hiện, thời hạn thực hiện nghĩa vụ có thể là một thời điểm cụ thể hay một khoảng thời gian nhất định BLDS năm 2005 không cho phép hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đối với nghĩa vụ chưa đến hạn thực hiện mặc dù có nguy cơ vi phạm Chẳng hạn như trường hợp sau:
"Ông Nguyễn Văn Tứ và bà Hồ Thị Lệ Thu giao kết hợp đồng xây nhà ở cho bà Thu Theo hợp đồng, trong thời hạn 8 tháng kể từ ngày khởi công, ông Tứ có nghĩa vụ đầu tư toàn bộ nguyên vật liệu và xây xong căn hộ 5 tầng trên diện tích 100m2 đất ở cho bà Thu Khi đã xây xong tầng 1 của căn hộ, thì bà Thu bị khởi kiện dân sự do vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bà Thu bị phong tỏa tài khoản ở Ngân hàng, phải thế chấp nhà đang ở và chiếc xe ô tô đang dùng Do nhận thức rằng tài sản của bà Thu đang giảm sút, có khả năng dẫn đến tình trạng không thể thang toán khi làm xong nhà nên ông Tứ đã không tiếp tục thực hiện hợp đồng xây nhà mà đề nghị thanh lý hợp đồng"8 Trong trường hợp này, có thể nhận định rằng tài sản của bà Thu đang giảm sút nghiêm trọng nhưng về cơ sở pháp lý, ông Tứ chỉ được phép hoãn thực hiện nghĩa vụ mà không thể chấm dứt hợp đồng với bà Thu Bởi vì, Điều 415 BLDS năm 2005 quy định "Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền được hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bão lãnh" Như vậy, BLDS năm
2005 đã không quy định rõ bên đã thực hiện việc hoãn nghĩa vụ có được hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không khi bên kia vẫn không có khả năng thực hiện nghĩa vụ hay không có người bão lãnh Quyền lợi của bên thực hiện nghĩa vụ trước sẽ không được bảo vệ khi phải chờ đợi không có kết quả biện pháp bảo đảm thực hiện tốt hợp đồng của bên kia mặc dù hợp đồng đã bị hoãn thực hiện Vì vậy, "chúng ta nên cho phép bên hoãn thực hiện hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng
để sớm tìm được đối tác khác nhằm đảm bảo đạt được những gì mà chưa đạt được với bên kia"9
Trang 11BLDS năm 2005 không giới hạn mức độ nghiêm trọng của sự vi phạm là cơ sở cho phép hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, mặc dù, tiêu chí vi phạm nghiêm trọng đã được sử dụng trong BLDS năm 2005 Chẳng hạn, Khoản 1 Điều 498 quy định bên cho thuê nhà có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi bên thuê nhà "Cố ý làm nhà hư hỏng nghiêm trọng" hay Khoản 2 Điều 550 quy định bên đặt gia công có quyền "Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên nhận gia công vi phạm nghiêm trọng hợp đồng" Trong những trường hợp trên, hành vi vi phạm dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng đều phải có mức độ nghiêm trọng nhất định Như vậy, BLDS năm 2005 đã sử dụng tiêu chí vi phạm nghiêm trọng để xác định căn cứ hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, tiêu chí này không được quy định trong phần chung về hợp đồng dẫn đến trường hợp vẫn có thể hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi sự vi phạm là không nghiêm trọng
Đối với việc hủy bỏ hợp đồng, về nguyên tắc, chỉ được hủy bỏ khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Như vậy, điều kiện cần ở đây là hành vi vi phạm hợp đồng của một bên Nhưng không phải sự vi phạm nào cũng dẫn tới hủy bỏ hợp đồng, mà hành vi vi phạm hợp đồng phải là "Điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định" Điều kiện hủy bỏ có thể được hiểu là "Điều kiện mà khi xảy ra thì nghĩa vụ bị hủy bỏ
và các bên phải khắc phục lại tình trạng ban đầu như chưa từng có cam kết"10 Tuy nhiên, có trường hợp ngoại lệ, đó là quy định tại Điều 420 BLDS năm 2005 "Trong trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình trước khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng phải báo cho bên
có quyền và hợp đồng được coi là bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì
đã nhận" Trong trường hợp này, hợp đồng được coi là bị hủy bỏ, nhưng lý do hủy bỏ không phải vì hành vi vi phạm là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, mà phát sinh dựa vào việc bên thứ ba trong hợp đồng từ chối hưởng lợi ích trước khi bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ Lý do hợp đồng bị coi là hủy bỏ không xuất phát từ hành vi vi phạm của các bên trong hợp đồng nên hậu quả khi hợp đồng chấm dứt chỉ dừng lại ở việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, không đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Đối với việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, điều kiện về sự vi phạm không bắt buộc trong mọi trường hợp Các bên có thể thỏa thuận việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi không có sự vi phạm Trong một số trường hợp,
10
Điều 1183 BLDS Pháp
Trang 12BLDS năm 2005 cho phép đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ngay cả khi không có sự vi phạm hợp đồng Chẳng hạn, Khoản 1 Điều 525 quy định "Trong trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên thuê dịch vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng", tương tự Khoản 1 Điều 556 quy định "Mỗi bên đều có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gia công, nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình"
1.2.1.2 Khi các bên có thỏa thuận
Hợp đồng là "sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự"11 Các bên có quyền tự do xác lập hợp đồng và cũng có quyền định đoạt số phận của chính hợp đồng đó Theo đó, hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là một trong những quyền dân sự, quyền tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng, được pháp luật công nhận và bảo hộ
Ngay từ khi giao kết hợp đồng, các bên đã có thể dự liệu những trường hợp có thể dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng để thỏa thuận đưa vào nội dung hợp đồng "Sau khi giao kết hợp đồng hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên có quyền tự định đoạt "số phận pháp lý" của hợp đồng đã được giao kết bằng cách tự do thỏa thuận về việc sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác"12 Nhưng sự thỏa thuận này phải được thực hiện trước khi xảy ra sự vi phạm hợp đồng theo như tinh thần tại Khoản 1 Điều 425 "các bên đã thỏa thuận"
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì đương nhiên phát sinh quyền hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thục hiện hợp đồng, pháp luật đã có một số quy định hạn chế quyền chấm dứt hợp đồng của các chủ thể Cụ thể, tại Điều 421 BLDS năm 2005 quy định: "Khi người thứ
ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý" Quy định trên hạn chế việc hủy bỏ hợp đồng của các bên nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp cho bên thứ ba trong hợp đồng, bởi vì, nếu hợp đồng được hủy bỏ theo ý chí của các bên giao kết có thể sẽ gây ra thiệt hại đáng kể cho bên thứ ba trong hợp đồng Tương tự, với đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, trong một số trường hợp pháp luật đã hạn chế quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của một số
11 Điều 388 BLDS năm 2005
12 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà
Nội, tr 110
Trang 13chủ thể nhất định trong một số loại hợp đồng nhất định Ví dụ, đối với hợp đồng thuê khoán, tại Khoản 2 Điều 510 quy định: "Trong trường hợp bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ, mà việc khai thác đối tượng thuê khoán là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán và việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán thì bên cho thuê khoán không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, bên thuê khoán phải cam kết với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng" Trong trường hợp này, mặc dù có sự vi phạm nghĩa vụ nhưng pháp luật đã hạn chế quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của một bên chủ thể, cụ thể là bên cho thuê khoán Bởi vì, việc khai thác đối tượng thuê khoán là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán, nếu chấm dứt hợp đồng thì ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của bên thuê khoán trong khi việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán Tuy nhiên, quy định bên thuê khoán phải cam kết không tiếp tục vi phạm hợp đồng nghĩa là
"người thuê khoán, dù chỉ sống bằng hoa lợi, lợi tức bằng tài sản thuê khoán, không
có quyền vi phạm nghĩa vụ của người thuê khoán quá một lần: người cho thuê khoán
có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu người thuê khoán tái phạm"13
1.2.1.3 Khi pháp luật có quy định
Khi giao kết hợp đồng, các bên thường dự liệu các trường hợp có thể dẫn tới việc chấm dứt hợp đồng để đưa vào nội dung hợp đồng Tuy nhiên, không phải bao giờ các bên cũng có thể dự liệu hết được các trường hợp đó, bởi quan hệ hợp đồng vốn phức tạp và sự vận động không ngừng của nền kinh tế Cũng có nhiều trường hợp, các bên không thỏa thuận về điều khoản chấm dứt trong nội dung của hợp đồng Nhằm điều chỉnh vấn đề này, BLDS năm 2005 đã quy định một số trường hợp, cho phép các bên hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi thỏa mãn các điều kiện liên quan, đó là những quy định cụ thể trong phần hợp đồng dân sự thông dụng Những quy định này chỉ được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận về căn cứ hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Ví dụ, trong hợp đồng mua bán, Điều 435 quy định: Bên mua được quyền hủy bỏ hợp đồng khi bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận hay trong hợp đồng thuê tài sản, theo Điều 484 thì khi bên cho thuê chậm giao tài sản, hay giao tài sản thuê không đúng chất lượng như thỏa thuận thì bên thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Như vậy, các bên có quyền viện dẫn quy định của pháp luật để hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu rơi vào trường hợp đã được pháp
13 Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản
Trẻ - thành phố Hồ Chí Minh, tr 303.
Trang 14luật dự liệu và trong nội dung hợp đồng, các bên không có thỏa thuận khác Ví dụ, thỏa thuận về việc một bên chỉ được phạt vi phạm và đòi bồi thường thiệt hại mà không được hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi bên kia vi phạm hợp đồng
BLDS năm 2005 quy định việc hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đối với những hợp đồng thông dụng Với những hợp đồng dân sự không được quy định trong BLDS năm 2005 thì không có cơ sở để áp dụng hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của pháp luật Trong phần chung của hợp đồng, Điều 417 quy định cho phép một bên được hủy bỏ hợp đồng, tuy nhiên, phải thỏa mãn hai điều kiện: Thứ nhất, đó phải là hợp đồng song vụ; thứ hai, việc một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình là do lỗi của bên kia Ví dụ: trong hợp đồng mua bán giữa A và B, các bên không có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt hợp đồng Khi đến hạn thực hiện hợp đồng, B yêu cầu A giao hàng để nhận tiền nhưng A không giao hàng, do đó B không thể trả tiền cho A B có thể hủy
bỏ hợp đồng mua bán với A theo quy định tại Điều 417 BLDS bởi thỏa mãn 2 điều kiện: Thứ nhất, hợp đồng mua bán là hợp đồng song vụ; thứ hai, lý do B không thực hiện được nghĩa vụ giao tiền hoàn toàn do lỗi của A đã không thực hiện nghĩa vụ giao hàng như thỏa thuận Cũng trong ví dụ trên, nếu đến hạn A giao hàng cho B đúng như thỏa thuận nhưng B không giao tiền cho A, các bên không có cơ sở pháp lý để hủy bỏ hợp đồng bởi điều kiện thứ hai không thỏa mãn, việc B không thực hiện nghĩa vụ trả tiền không phải do lỗi của A Do đó, không thỏa mãn đầy đủ điều kiện thì các bên không thể áp dụng quy định này
Nhìn chung, BLDS năm 2005 đã quy định cụ thể những trường hợp có thể dẫn tới hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, những quy định này chưa chặt chẽ và chưa có tính bao quát cao để có thể áp dụng cho tất cả
các loại hợp đồng Điều này thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, BLDS năm 2005 chỉ điều chỉnh
đối với các hợp đồng dân sự thông dụng, còn đối với các hợp đồng dân sự không
thông dụng thì không có cơ chế áp dụng Thứ hai, đối với hợp đồng dân sự thông
dụng, có những hành vi vi phạm nghiêm trọng có thể dẫn tới hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng lại không được quy định Cụ thể như hành
vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản hay nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng thuê tài sản khi các bên không thỏa thuận việc trả tiền thuê theo
kỳ hạn hay trường hợp bên thuê không thể sử dụng tài sản thuê đúng mục đích vì bên cho thuê không đảm bảo các điều kiện liên quan đến tài sản thuê như đã thỏa thuận
Thứ ba, một số quy định trong BLDS năm 2005 về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương
Trang 15chấm dứt thực hiện hợp đồng dẫn đến cách hiểu máy móc, có thể dẫn đến sự lạm dụng quyền chấm dứt hợp đồng của một bên Ví dụ, trong hợp đồng mua bán, Điều 435 cho phép bên mua hủy bỏ hợp đồng khi bên bán giao vật ít hơn số lượng đã thỏa thuận Như vậy, quy định này cho phép ta hiểu rằng số lượng vật giao ít hơn thỏa thuận có thể tính đến con số tối thiểu Ví dụ: A và B thỏa thuận A bán cho B 500 trứng vịt Hợp đồng không thỏa thuận về điều kiện chấm dứt Khi giao hàng, A giao 498 trứng, thiếu
2 trứng Theo quy định tại Khoản 2 Điều 435, B có quyền hủy bỏ hợp đồng vì A giao vật ít hơn số lượng thỏa thuận, mặc dù sự vi phạm này là rất nhỏ, ảnh hưởng không
đáng kể đến bên B Thứ tư, BLDS năm 2005 có một số quy định về hủy bỏ hợp đồng
và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng chưa hợp lý Cụ thể, Điều 525 quy định:
"Trong trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên thuê dịch vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng" Quy định này cho phép một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào mà không cần có điều kiện về sự vi phạm, chỉ cần việc tiếp tục thực hiện hợp đồng là không cần thiết, không mang lại lợi ích cho mình Tuy nhiên, hợp đồng sinh ra để được thực hiện nhằm mang lại lợi ích cho các bên Vì vậy, những quy định này còn chưa hợp lý, có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc chấm dứt hợp đồng và gây thiệt hại cho phía bên kia
Như vậy, trong quá trình thực hiện hợp đồng, khi phát sinh căn cứ hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, một bên có thể tự mình chấm dứt hợp đồng không phụ thuộc vào ý chí của bên kia nếu có thỏa thuận hoặc có quy định của pháp luật Tuy nhiên, hợp đồng không đương nhiên bị chấm dứt, các bên phải thực hiện thủ tục thông báo theo quy định của pháp luật
1.2.2 Thủ tục hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005
Theo Điều 425 và Điều 426 BLDS năm 2005 thì bên hủy bỏ hợp đồng, bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải "thông báo ngay" cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng BLDS năm 2005 quy định việc thông báo phải được thực hiện ngay nhưng lại không giải thích "ngay" được hiểu như thế nào Tuy nhiên, việc thông báo ngay ở đây có thể hiểu là phải được tiến hành nhanh chóng trong một khoảng thời gian hợp lý nhất phù hợp với điều kiện Về hình thức thông báo, pháp luật không có quy định cụ thể nên các chủ thể có thể thực hiện bằng bất kỳ mọi hình thức
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu bên có nghĩa vụ thông báo đã thực hiện việc thông báo nhưng thông báo này không đến được hoặc đến trễ với bên kia thì trách nhiệm thuộc về ai? Có quan điểm cho rằng "Trong trường hợp này trách nhiệm thuộc
Trang 16về bên được thông báo Bởi pháp luật quy định chỉ cần thông báo ngay mà không đòi hỏi thông báo đó phải đảm bảo đến tay người nhận, vì một sự chậm trễ hay nhầm lẫn trong việc chuyển giao thông tin đến tay người nhận thuộc về yếu tố khách quan Sẽ không hợp lý khi buộc bên thông báo phải chịu trách nhiệm về vấn đề này khi họ đã thực hiện việc thông báo"14 Về vấn đề này, theo tác giả, nên ràng buộc trách nhiệm cho bên thông báo, trừ khi họ chứng minh được thông báo đó không đến tay người nhận là do yếu tố khách quan mặc dù họ đã cố gắng bằng mọi "phương tiện thích hợp với hoàn cảnh" Bởi vì, mục đích của việc thông báo là nhằm cho bên kia biết được việc chấm dứt hợp đồng, hạn chế thiệt hại có thể xảy ra khi bên kia chưa nhận được thông báo và vẫn hành động theo hướng tiếp tục thực hiện hợp đồng, đồng thời, hạn chế việc hủy bỏ hợp đồng hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng một cách tùy tiện Do đó, bên bị hủy bỏ hợp đồng, bị đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng có quyền được thông báo về việc chấm dứt hợp đồng và quyền này chỉ thể hiện khi họ nhận được thông báo chấm dứt Pháp luật quy định nghĩa vụ thông báo của bên chấm dứt hợp đồng, thì nên ràng buộc trách nhiệm trong việc đảm bảo thông báo phải đến được với người nhận Khi không ràng buộc trách nhiệm thì họ sẽ có thể thiếu thiện chí, thiếu trách nhiệm trong việc lựa chọn một hình thức và phương tiện thông báo phù hợp hoàn cảnh để đảm bảo rằng thông báo phải đến được với người nhận và như vậy, thiệt hại đáng kể vẫn có thể xảy ra cho bên kia
Bên hủy bỏ hợp đồng, bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường (Khoản 2 Điều 425, Khoản 2 Điều 426) Tuy nhiên, BLDS năm 2005 không quy định trách nhiệm về việc bên có nghĩa
vụ thông báo có thực hiện việc thông báo nhưng không thông báo ngay và gây thiệt hại cho bên kia Về vấn đề này, BLDS quy định bên có nghĩa vụ thông báo phải thông báo ngay, vì vậy, nếu không thông báo ngay mà chậm trễ gây thiệt hại thì nên quy định trách nhiệm bồi thường như trường hợp không thông báo
Thông báo hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là một thủ tục chấm dứt hợp đồng, vậy nếu không thực hiện thủ tục này thì các bên có bị mất quyền hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hay không? Trường hợp này, BLDS năm 2005 chỉ quy định "Nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường" Có quan điểm cho rằng "Nên quy định việc thông báo chấm dứt là điều kiện bắt buộc khi áp dụng hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực
14 Nguyễn Thị Việt Hà (2010), Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng trong hoạt động thương mại, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17hiện hợp đồng"15 Tác giả đồng ý với quan điểm này, bởi vì, dựa vào mục đích của việc thông báo, nếu bên bị vi phạm không thực hiện việc thông báo chấm dứt thì bên
vi phạm không thể biết được ý chí của bên bị vi phạm có muốn chấm dứt hợp đồng không hay vẫn muốn tiếp tục và trong trường hợp đó, bên vi phạm có thể vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng khi cho rằng bên bị vi phạm biết hành vi vi phạm nhưng không phản đối Thiệt hại vẫn xảy ra đáng kể khi họ không biết việc chấm dứt hợp đồng để dừng lại kịp thời Bên cạnh đó, theo Khoản 3 Điều 426 thì thời điểm chấm dứt hợp đồng còn được lấy mốc "Từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt" Như vậy, nếu không thông báo hay thông báo không đến được với bên kia thì sẽ không có việc chấm dứt hợp đồng, hợp đồng vẫn còn hiệu lực thực hiện Do đó, chúng ta nên coi việc thông báo chấm dứt là một điều kiện bắt buộc khi hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Nhìn chung, BLDS năm 2005 đã có quy định cụ thể về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng như căn cứ chấm dứt, thủ tục thông báo, hậu quả pháp lý Những quy định này về cơ bản tương đồng với BLDS năm 1995 Tuy nhiên, BLDS năm 1995 có một số quy định khác về đơn phương chấm dứt thực hiện
hợp đồng Cụ thể: Thứ nhất, Điều 420 BLDS năm 1995 quy định "Một bên có quyền
đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia
vi phạm hợp đồng là điều kiện đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mà các bên
đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định" Quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng chỉ phát sinh khi một bên vi phạm hợp đồng là điều kiện chấm dứt mà các bên
đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Trong khi đó, Điều 426 BLDS năm 2005 còn cho phép đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi việc tiếp tục thực hiện
hợp đồng là không cần thiết và không mang lại lợi ích cho mình Thứ hai, Điều 420
BLDS năm 1995 quy định "Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại" Trong khi đó, Điều 426 BLDS năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về
"Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện"
1.3 Hậu quả pháp lý và vấn đề bồi thường thiệt hại khi hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm
2005
1.3.1 Hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng
Khoản 3 Điều 425 BLDS năm 2005 quy định "Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết" Điều này có nghĩa là hủy bỏ hợp đồng
15
Nguyễn Thị Việt Hà (tlđd)
Trang 18làm triệt tiêu hiệu lực của hợp đồng trong quá khứ, hiện tại lẫn tương lai, đưa hợp đồng trở về trạng thái ban đầu như khi chưa giao kết
Khi hợp đồng bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, khôi phục lại tình trạng ban đầu Đây chính là quy định về việc xử lý hồi tố những gì đã xảy ra, "Tuy nhiên, quy định này không được áp dụng nếu trường hợp các bên có thỏa thuận khác"16 Ví dụ các bên thỏa thuận khi bên đặt cọc vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ hợp đồng, bên nhận cọc có quyền hủy bỏ hợp đồng nhưng không phải hoàn trả tiền nhận cọc
Các bên hoàn trả lại chính tài sản mình đã nhận nên trước khi tiến hành việc hoàn trả, cần phải xác định lại nghĩa vụ tài sản để xác định bên bị thiệt hại khi giải quyết hậu quả hủy bỏ hợp đồng Mặt khác, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết nên việc giải quyết hậu quả của hợp đồng bị hủy bỏ có thể liên quan đến hoa lợi, lợi tức phát sinh từ hợp đồng Trường hợp này, hoa lợi, lợi tức có phải hoàn trả không? Điều 425 chỉ quy định các bên phải hoàn trả tài sản đã nhận mà không quy định về giải quyết hoa lợi, lợi tức Có quan điểm cho rằng "Để áp dụng đúng quy định tại Điều 425 thì hoa lợi, lợi tức của hợp đồng bị hủy bỏ không bị tịch thu, các bên chỉ phải hoàn trả những gì đã nhận, nếu không trả được bằng hiện vật thì trả bằng tiền, điều đó có nghĩa là những lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng mà các bên có được không phải trả cho nhau"17 Tuy nhiên, để giải quyết hợp lý hậu quả về hoa lợi, lợi tức sau khi chấm dứt hợp đồng nhằm đảm bảo được quyền lợi cho các bên, trong trường hợp này, BLDS năm 2005 nên có quy định rõ ràng về vấn đề trên
Điều 425 BLDS năm 2005 quy định "Nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền" Như vậy, trong một số trường hợp khi các bên không thể hoàn nguyên chính tài sản đã nhận thì phải hoàn trả bằng tiền có giá trị tương đương vật Việc hoàn trả bằng tiền được thực hiện trong trường hợp tài sản đã được giao cho người thứ ba mà không thể lấy lại được hoặc khi bên bị thiệt hại không đòi lại vật do không thể trả lại vật hay chi phí hoàn trả quá lớn so với giá trị vật18 Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định việc hoàn trả bằng tiền có giá trị tương đương với vật tại thời điểm giao kết hay tại thời điểm hoàn trả Trong một nền kinh tế luôn vận động mạnh
mẽ thì việc tính toán giá trị hoàn trả trong hai thời điểm trên là khác nhau, giá trị của vật có thể có sự chênh lệch rất lớn và ảnh hưởng tới quyền lợi của các bên
16 Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005 (tập 2), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr 271
17 Vũ Thanh Tuấn (tlđd), tr 14
18 Nguyễn Xuân Quang - Lê Nết - Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh, tr 385
Trang 19Khi hợp đồng bị hủy bỏ, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, nhưng một số điều khoản trong hợp đồng vẫn có giá trị Ví dụ, thỏa thuận về giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại Ngoài ra, "Cũng còn một số điều khoản khác
mà do đặc tính của chúng được các bên đồng ý, sẽ có hiệu lực kể cả khi chấm dứt hợp đồng"19, ví dụ điều khoản về đảm bảo bí mật thông tin
Nhìn chung, hủy bỏ hợp đồng có phần tương tự với hợp đồng vô hiệu Trong cả hai trường hợp, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền Tuy nhiên, hợp đồng vô hiệu là "Hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên"20 Trong khi đó, đối với hủy bỏ hợp đồng thì hợp đồng đã được giao kết hợp pháp và đã phát sinh hiệu lực Cụ thể hơn, căn cứ để hủy bỏ hợp đồng phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, còn căn cứ dẫn đến hợp đồng vô hiệu đã tồn tại ngay từ thời điểm giao kết như bị lừa dối,
đe dọa, mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật
1.3.2 Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Theo Khoản 3 Điều 426 thì "Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt" Như vậy, hợp đồng chỉ chấm dứt hiệu lực khi bên kia nhận được thông báo chấm dứt và chỉ bị triệt tiêu hiệu lực trong tương lai còn quá khứ vẫn có giá trị ràng buộc các bên Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ sau khi hợp đồng bị chấm dứt, bên đã nhận được lợi ích từ hợp đồng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho phần lợi ích mình đã nhận được Tuy nhiên, việc thanh toán này phải được tính toán "một cách hợp lý", nghĩa là bên có quyền chỉ phải thanh toán cho những nghĩa vụ mang lại lợi ích cho mình, còn những nghĩa vụ tuy đã được thực hiện nhưng không mang lại một lợi ích nào thì không phải thanh toán
Bên cạnh đó, không phải mọi trường hợp, khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì bên đã thực hiện nghĩa vụ cũng có quyền yêu cầu bên kia thanh toán mà
có thể có những ngoại lệ, khi các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Cụ thể như thỏa thuận về việc bên vi phạm hợp đồng không được nhận lại tiền cọc khi có lỗi làm cho hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc pháp luật có quy định khác như Điều 534, khi bên vận chuyển đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
19
Nguyễn Xuân Quang - Lê Nết - Nguyễn Hồ Bích Hằng (tlđd), tr 384.
20 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2011), Tập bài giảng Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tr 129
Trang 20đồng trong những trường hợp được quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 530 thì "Trong trường hợp này, hành khách không được trả lại cước phí vận chuyển và phải chịu phạt
vi phạm, nếu Điều lệ vận chuyển có quy định"
1.3.3 Bồi thường thiệt hại khi hợp đồng bị hủy bỏ và hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005
Theo Khoản 4 Điều 425 và Khoản 4 Điều 426 thì "Bên có lỗi" trong việc hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện phải bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không thuộc về bên hủy bỏ hợp đồng, bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, cũng không thuộc về bên bị hủy bỏ hợp đồng, bên bị đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, mà thuộc về "bên có lỗi" làm cho hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện Thật hợp lý khi không phải mọi trường hợp hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện đều do lỗi hay do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên hay đôi khi có sự vi phạm nhưng cả hai bên đều không có lỗi hoặc có một phần lỗi của bên kia Lỗi là yếu tố xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên, "Lỗi trong trách nhiệm bồi thường hại trong hợp đồng là lỗi suy đoán, người gây thiệt hại tự chứng minh là mình không có lỗi"21
và khi không có lỗi gây thiệt hại thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường Do đó, chỉ bên nào có lỗi làm cho hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện mới phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Chẳng hạn như ví dụ sau:
A thỏa thuận bán cho B một mặt hàng D Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ, A không giao hàng vì thấy rằng việc bán mặt hàng này cho C sẽ thu lời hơn Do đó, như
đã thỏa thuận trong hợp đồng về điều kiện hủy bỏ, B hủy bỏ hợp đồng mua bán với A Việc không thực hiện nghĩa vụ của A đã gây thiệt hại cho B khi không có mặt hàng D
để giao cho đối tác, khiến B bị phạt vi phạm hợp đồng Trong trường hợp này, mặc dù
B là bên hủy bỏ hợp đồng nhưng do A vi phạm hợp đồng, A phải bồi thường thiệt hại cho B bởi A là bên có lỗi làm cho hợp đồng bị hủy bỏ, gây thiệt hại cho B Tuy nhiên, cũng trong hợp đồng mua bán trên, nếu đến hạn thực hiện A không giao hàng cho B nhưng A chứng minh được sự vi phạm hợp đồng của mình là do sự kiện bất khả kháng, thì khi B hủy bỏ hợp đồng, A không phải bồi thường thiệt hại, bởi vì, A không thực hiện đúng hợp đồng là do sự kiện bất khả kháng
Thực tiễn có trường hợp, khi giao kết hợp đồng, các bên chỉ thỏa thuận về phạt
vi phạm hợp đồng, như vậy, khi hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, quy định về bồi thường thiệt hại tại Điều 425, Điều 426 có được áp
21Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Tập bài giảng pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tr 305.
Trang 21dụng không? Liên quan đến vấn đề này, trước hết ta phải xác định được có hay không
có sự kết hợp giữa phạt vi phạm hợp đồng với hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Về vấn đề này, "Văn bản không nêu rõ mối liên hệ giữa phạt vi phạm và hủy hợp đồng do có vi phạm, nhưng thực tiễn pháp lý cho phép kết hợp hai chế tài này"22 Quay lại vấn đề phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại, theo quy định tại Khoản 3 Điều 422 "Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận
về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm" Nếu
áp dụng đúng quy định trên thì khi hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Khoản 4 Điều 425 và Khoản 4 Điều 426 là không khả thi Tuy nhiên, nếu áp dụng đúng quy định tại Khoản
4 Điều 425 và Điều 426, bên có lỗi làm cho hợp đồng bị chấm dứt phải bồi thường thiệt hại thì quy định về sự kết hợp giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại tại Khoản 3 Điều 422 là không khả thi Đây chính là sự thiếu tính thống nhất giữa các quy định của BLDS năm 2005
Như vậy, hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng tương
tự nhau về căn cứ áp dụng nhưng khác biệt về hậu quả pháp lý Khi hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng có thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm này thuộc về bên có lỗi làm cho hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện
1.4 So sánh hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 424 BLDS năm 2005, hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đều là căn cứ chấm dứt hợp đồng Hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phát sinh trên cơ sở có sự vi phạm hợp đồng là điều kiện chấm dứt theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Đối với cả hai trường hợp trên, căn cứ để chấm dứt đều tồn tại trong quá trình thực hiện hợp đồng Khi có căn cứ hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì hợp đồng không đương nhiên chấm dứt, bên hủy bỏ hợp đồng, bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng Nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, ngoài những điểm giống nhau như trên, hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng cũng có những điểm khác biệt nhất định, sự
22 Đỗ Văn Đại (2007), "Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam", Tạp chí Tòa án nhân dân,
(số 19), tr.19
Trang 22khác biệt đó thể hiện như sau:
Về căn cứ: Để hủy bỏ hợp đồng phải có sự vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy
bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Còn căn cứ đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không bắt buộc trong mọi trường hợp phải có sự vi phạm hợp đồng
Về thời điểm chấm dứt hợp đồng: Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng chấm
dứt hiệu lực từ thời điểm giao kết Còn khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo, hợp đồng vẫn
có giá trị trong quá khứ cho đến thời điểm chấm dứt
Về giải quyết hậu quả chấm dứt hợp đồng: Khi hợp đồng bị hủy bỏ, các bên
phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Còn khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán
Về tính chất của hợp đồng: Việc hủy bỏ hợp đồng thường áp dụng đối với
những hợp đồng mang tính chất giao vật và việc hoàn trả lại vật là thực hiện được Còn đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thường áp dụng đối với những hợp đồng mang tính chất thực hiện công việc và các bên không thể hoàn nguyên những gì
đã nhận mà chỉ có thể thanh lý hợp đồng đến thời điểm chấm dứt 23
Hậu quả pháp lý chính là điểm phân biệt giữa hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, tiêu chí để xác định trường hợp nào là hủy
bỏ hợp đồng và trường hợp nào là đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì BLDS năm 2005 không có quy định chung Trong phần hợp đồng thông dụng, "Đối với một loại hợp đồng, có lúc văn bản cho phép hủy bỏ nhưng có lúc văn bản chỉ cho đơn phương chấm dứt hợp đồng"24 Chẳng hạn, đối với hợp đồng thuê tài sản, Khoản
2 Điều 484 quy định "Trong trường hợp bên cho thuê chậm giao tài sản" hoặc "Nếu tài sản thuê không đúng chất lượng như thỏa thuận" thì bên thuê có quyền hủy bỏ hợp đồng Theo Khoản 2 Điều 488 thì "Trong trường hợp bên thuê sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đúng công dụng", bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Về vấn đề này, tác giả đồng tình với quan điểm của PGS TS Đỗ Văn Đại là "Nếu hợp đồng mang đến cho các bên lợi ích mong đợi thì nên bảo lưu quá khứ, tức là cho chấm dứt hợp đồng Ngược lại, nếu lợi ích mang đến từ hợp đồng
23 Nguyễn Xuân Quang - Lê Nết - Nguyễn Hồ Bích Hằng (tlđd), tr 383
24 Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 196
Trang 23không phù hợp với mong muốn của các bên thì nên cho hủy bỏ hợp đồng"25
1.5 So sánh hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân Sự năm 2005 với một số đạo luật khác của Việt Nam
Theo pháp luật Lao động, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động "Là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động chỉ dựa trên ý chí của một bên chủ thể mà không không phụ thuộc vào ý chí của phía chủ thể bên kia"26 Theo quy định hiện hành, việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong Bộ Luật Lao Động (BLLĐ) năm
1994 giống BLDS năm 2005 ở một số điểm sau:
Khi có căn cứ chấm dứt hợp đồng, một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thực hiện thủ tục thông báo chấm dứt, nếu không tuân thủ đúng thủ tục thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Pháp luật quy định cụ thể những trường hợp một bên được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và căn cứ đó có thể xuất phát từ sự vi phạm hợp đồng hoặc từ nguyên nhân khách quan Cả hai Bộ luật đều có những quy định cụ thể hạn chế việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Ví dụ: Khoản 2 Điều 510 BLDS năm 2005 hạn chế quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của bên cho thuê khoán trong trường hợp "Bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ, mà việc khai thác đối tượng thuê khoán là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán và việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán" Điều 39 BLLĐ năm 1994 hạn chế quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của người sử dụng lao động, chẳng hạn trong trường hợp người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc; Người lao động đang nghỉ hàng năm, nghỉ về
25 Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 197 - 198
26
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2009), Tập bài giảng Luật Lao động (tập 2), tr 34
Trang 24việc riêng Về hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng thì các bên thanh
lý hợp đồng đến thời điểm chấm dứt Tuy nhiên, ngoài những điểm giống nhau nêu trên thì quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong BLLĐ năm 1994
và BLDS năm 2005 vẫn có những điểm khác biệt nhất định, cụ thể như sau:
Về căn cứ chấm dứt: BLLĐ năm 1994 quy định căn cứ phát sinh quyền đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng chỉ theo quy định của pháp luật, không có một quy định nào thừa nhận căn cứ theo sự thỏa thuận của các bên Cụ thể, người lao động chỉ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu có căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 BLLĐ năm 1994, trừ người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có những căn cứ quy định tại Điều 38 BLLĐ năm 1994 Ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể khác, như do thay đổi cơ cấu công nghệ, hay trong trường hợp sáp nhập, chia, tách, hợp nhất, chuyển đổi quyền sở hữu, quyền quản
lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp27, người sử dụng lao động cũng được phép đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng sau khi đã thực hiện một số thủ tục nhưng vẫn không bố trí được công việc cho người lao động Khác với BLLĐ năm
1994, BLDS năm 2005 tại Điều 426 quy định quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của các bên không chỉ phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật, mà còn theo sự thỏa thuận của các bên, BLDS luôn tôn trọng sự thỏa thuận này
Về thủ tục thông báo chấm dứt hợp đồng: BLLĐ năm 1994 quy định khi đơn
phương chấm dứt hợp đồng phải tuân thủ thời hạn thông báo trước, thời hạn này được quy định khác nhau cho từng loại hợp đồng khác nhau và từng chủ thể khác nhau Ngoài ra, đối với người lao động, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng thì thời hạn thông báo trước còn tùy thuộc vào từng căn cứ chấm dứt cụ thể Ví dụ: khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo điểm a Khoản 1 Điều 37 "Không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn theo hợp đồng" thì thời hạn báo trước ít nhất là 3 ngày Nếu đơn phương chấm dứt theo quy định tại điểm d Điều này "Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng" thì thời hạn báo trước ít nhất là 30 ngày nếu là hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; ít nhất 3 ngày nếu là hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng Bên cạnh đó, quy định thủ tục thông báo chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động có phần chặt chẽ hơn
Cụ thể, ngoài việc đảm bảo thủ tục thông báo trước, người sử dụng lao động còn phải
27
Điều 17, Điều 31 BLLĐ năm 1994
Trang 25trao đổi nhất trí với Công đoàn cơ sở 28
Khác với BLLĐ năm 1994, Điều 426 BLDS năm 2005 không bắt buộc các bên phải thông báo trước, mà khi có căn cứ đơn phương chấm dứt thì phải thông báo ngay và hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo Thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng được quy định như nhau cho mọi chủ thể và cho mọi loại hợp đồng
Điều 40 BLLĐ năm 1994 quy định "Mỗi bên có thể từ bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước" Nghĩa là bên đã thông báo việc đơn phương chấm dứt hợp đồng có thể từ bỏ quyết định chấm dứt hợp đồng khi chưa hết thời hạn thông báo trước Khác với BLDS năm 2005, Điều 426 quy định
"phải thông báo ngay" và khi bên kia nhận được thông báo chấm dứt thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực, do đó, không thể từ bỏ việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mà mình đã thông báo
Về hậu quả chấm dứt hợp đồng: BLLĐ năm 1994 không đặt ra trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của bên có lỗi làm hợp đồng bị đơn phương chấm dứt như BLDS năm
2005 Theo quy định của pháp luật Lao động thì "Quyền lợi của người lao động sẽ được giải quyết theo sự thỏa thuận của các bên hoặc trên cơ sở quy định của pháp luật"29 Trách nhiệm bồi thường đặt ra khi không tuân thủ đúng thời hạn thông báo trước hay đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật
1.5.2 Với Luật Thương mại năm 2005
BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 đều quy định về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Đây là những biện pháp mà một bên chủ thể có thể áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình khi có sự vi phạm hợp đồng của phía bên kia Quy định về hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 có một số điểm tương đồng và khác biệt nhất định Ta có thể thấy được cụ thể hơn qua những tiêu chí sau:
Về khái niệm
Đối với hủy bỏ hợp đồng: LTM năm 2005 đã chia hủy bỏ hợp đồng thành hủy
bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng30 Theo đó, hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc "Bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng"31 Còn hủy bỏ một phần hợp đồng là việc "Bãi bỏ thực hiện một
28 Điểm a, điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 38 BLLĐ năm 1994
29 Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Trang 26phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại ttrong hợp đồng vẫn còn hiệu lực"32 BLDS năm 2005 không chia hủy bỏ hợp đồng thành hủy bỏ một phần và hủy bỏ toàn bộ hợp đồng Hủy bỏ hợp đồng trong BLDS năm 2005 chính là hủy bỏ tất cả các quyền và nghĩa vụ đối với toàn bộ hợp đồng Như vậy, khái niệm hủy bỏ hợp đồng trong BLDS
và hủy bỏ toàn bộ hợp đồng trong LTM là tương đồng nhau Tuy nhiên, LTM năm
2005 hợp lý hơn khi cho phép hủy bỏ một phần hợp đồng Bởi thực tế, khi các bên hủy bỏ hợp đồng, có thể hợp đồng đã được thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ
và phần lợi ích được công nhận nhiều hơn phần lợi ích bị vi phạm Hơn nữa, việc hủy
bỏ toàn bộ hợp đồng là không cần thiết và có thể gây thiệt hại đến lợi ích của các bên khi một phần hợp đồng bị hủy bỏ không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại Đối với đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng: BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 không thống nhất về thuật ngữ, LTM năm 2005 sử dụng khái niệm "Đình chỉ thực hiện hợp đồng" Cụ thể, Điều 310 LTM năm 2005 quy định "Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng" Tuy nhiên, thông qua khái niệm đình chỉ thực hiện hợp đồng nêu trên cũng như hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thực hiện hợp đồng quy định tại Điều 311, chúng ta thấy đình chỉ thực hiện hợp đồng là trường hợp chấm dứt hợp đồng từ thời điểm một bên nhận được thông báo chấm dứt Như vậy, mặc dù không thống nhất về thuật ngữ nhưng "Tính chất, nội dung của việc đình chỉ thực hiện hợp đồng cơ bản cũng giống như việc đơn phương chấm dứt hợp đồng"33 đều làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng trong tương lai
Về căn cứ chấm dứt
BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 đều quy định sự thỏa thuận của các bên về điều kiện chấm dứt hợp đồng là căn cứ phát sinh quyền hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 425 và Điều
426 BLDS năm 2005 thì quyền chấm dứt hợp đồng còn "theo quy định của pháp luật", nghĩa là trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về vấn đề này thì có thể áp dụng các quy định trong phần hợp đồng thông dụng Trong khi đó, LTM năm 2005 tại Điều 310 và Điều 312 chỉ quy định "theo sự thỏa thuận của các bên", như vậy, LTM năm 2005 không quy định những trường hợp cụ thể cho phép hủy bỏ hợp đồng trong một số hợp đồng thông dụng Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các bên không có căn cứ áp dụng theo quy định của pháp luật, bởi lẽ, theo Điều 4 LTM năm 2005 thì
"Hoạt động thương mại không được quy định trong luật thương mại và trong các luật
32 Khoản 3 Điều 312 LTM năm 2005
33 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2011), Tập bài giảng Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tr 210
Trang 27LTM năm 2005 quy định việc hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng còn được áp dụng khi "Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng"34 Theo Khoản 13 Điều 3 LTM năm 2005 thì vi phạm cơ bản là "Sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng" Khi một bên vi phạm cơ bản hợp đồng, bên kia có quyền chấm dứt hợp đồng mà không cần phải có sự thỏa thuận trước Quy định trên trong LTM năm 2005 mang tính bao quát cao hơn so với BLDS năm 2005, cho phép
áp dụng ngay cả trường hợp không có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt và áp dụng cho mọi loại hợp đồng, tạo tính linh hoạt cho pháp luật và sự thuận lợi cho quá trình giải quyết tranh chấp trong thực tiễn
Ngoài ra, về vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn, LTM năm 2005 đã quy định cho phép trong một số trường hợp, các bên được hủy bỏ hợp đồng trước khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ, cụ thể như Điều 313 về "Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần" Theo đó, "Trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ đối với một lần giao hàng, cung ứng dịch vụ là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽ xảy ra đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó thì bên bị vi phạm có quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó, với điều kiện là bên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian hợp lý"35 Như vậy, LTM năm 2005 tiến bộ hơn BLDS năm 2005 khi đã thừa nhận việc hủy bỏ hợp đồng trước khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ, mặc dù, LTM có
"Công nhận phần nào chế định này nhưng còn rất dè dặt"36
Về thủ tục thông báo chấm dứt hợp đồng
BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 quy định thủ tục thông báo chấm dứt hợp đồng là giống nhau Cụ thể, bên hủy bỏ hợp đồng, bên đơn phương chấm dứt thực
34 Khoản 2 Điều 310, Khoản 4 Điều 312 LTM năm 2005
35 Khoản 2 Điều 313 LTM năm 2005
36 Đỗ Văn Đại (2009), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận Bản án, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr 619
Trang 28hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Tuy nhiên, LTM năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên có nghĩa vụ thông báo nhưng đã không thực hiện việc thông báo ngay Trong khi đó, BLDS năm 2005 không quy định trách nhiệm trên cho bên hủy bỏ hợp đồng, bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi không thực hiện việc thông báo ngay
Về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng
Đối với hủy bỏ hợp đồng: Theo quy định tại Điều 314 LTM năm 2005 và Điều
425 BLDS năm 2005 thì hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng là hoàn toàn giống nhau
Cụ thể, hợp đồng chấm dứt từ thời điểm giao kết, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền
Đối với đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng: Điều 426 BLDS năm 2005
và Điều 311 LTM năm 2005 đều quy định giống nhau về hậu quả đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Cụ thể, hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng
Theo Điều 425 và Điều 426 BLDS năm 2005 thì bên có lỗi trong việc làm cho hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện phải bồi thường thiệt hại Như vậy, lỗi là yếu tố xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên Trong khi đó, LTM năm 2005 quy định "Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều
294 LTM" thì đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp: có hành vi vi phạm của một bên là điều kiện chấm dứt theo thỏa thuận; một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng37, đồng thời, "bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này"38 Như vậy, LTM năm 2005 không coi yếu tố lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi hợp đồng
bị chấm dứt, mà lỗi được xem xét để loại trừ việc áp dụng hủy bỏ hợp đồng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng Khi chấm dứt hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thuộc về bên
vi phạm hợp đồng
Tóm lại, những quy định về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong BLDS năm 2005 với LTM năm 2005 có nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, tùy từng trường hợp mà các văn bản có sự khác biệt nhất định trong việc áp
Trang 29dụng Như đã phân tích, nhìn chung LTM năm 2005 có một số quy định tiến bộ hơn BLDS năm 2005 và tạo sự linh hoạt cho pháp luật cũng như sự thuận lợi cho các bên
và cơ quan giải quyết tranh chấp trong quá trình áp dụng
1.5.3 Với Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804
Về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (BLDS Pháp) không sử dụng khái niệm "Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng" Những trường hợp chấm dứt hiệu lực trong các hợp đồng được thực hiện theo định kỳ thì "Đối với các hợp đồng này, không áp dụng cơ chế hủy bỏ hợp đồng mà áp dụng cơ chế chấm dứt hợp đồng, tức là hợp đồng chỉ chấm dứt hiệu lực về tương lai tính từ thời điểm bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ, không ảnh hưởng đến những gì đã thực hiện trong quá khứ"39 Như vậy, khái niệm này không xuất hiện trong BLDS Pháp, mặc dù, trong một số quy định cụ thể, việc giải quyết hậu quả chấm dứt hợp đồng có bản chất như đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong BLDS Việt Nam
Về hủy bỏ hợp đồng
BLDS năm 2005 và BLDS Pháp đều quy định quyền hủy bỏ hợp đồng phát sinh
do không thực hiện nghĩa vụ, nghĩa là phát sinh trên cơ sở có sự vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ Về hậu quả pháp lý thì khi hợp đồng bị hủy bỏ, hợp đồng bị mất hết hiệu lực kể từ thời điểm ký kết, các bên phải hoàn trả cho nhau những lợi ích đã nhận Mặc dù có sự giống nhau như trên, giữa BLDS năm 2005 và BLDS Pháp cũng tồn tại những điểm khác biệt, cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo Điều 118440 BLDS Pháp áp dụng đối với hợp đồng song vụ, để hủy bỏ hợp đồng, bên bị vi phạm phải yêu cầu đến Tòa án Còn theo quy định của BLDS năm 2005 thì khi hủy bỏ hợp đồng, các bên không bắt buộc phải yêu cầu đến Tòa án mà có thể tự mình áp dụng việc hủy bỏ và được pháp luật công nhận
Thứ hai, cũng theo Điều 1184 BLDS Pháp, trong trường hợp bên bị vi phạm yêu
cầu hủy bỏ hợp đồng, bên vi phạm vẫn có thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ để tránh khả năng hợp đồng bị hủy bỏ Tùy vào từng trường hợp mà Tòa án dành cho bên vi phạm
Việc hủy bỏ hợp đồng phải do Tòa án quyết định Tòa án có thể dành một thời hạn nhất định cho bên bị đơn để thực hiện nghĩa vụ, tùy từng trường hợp cụ thể."
Trang 30một thời hạn nhất định để thực hiện nghĩa vụ Khác với BLDS năm 2005, khi bên hủy
bỏ hợp đồng thông báo việc hủy bỏ hợp đồng, thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực, bên vi phạm không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ để tránh khả năng hủy bỏ hợp đồng Nếu các bên đưa tranh chấp ra Tòa án yêu cầu giải quyết thì Tòa án quyết định cho phép hủy bỏ hợp đồng hoặc buộc các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện khi không có căn cứ hủy bỏ, Tòa án không có thẩm quyền gia hạn thực hiện hợp đồng cho bên vi phạm
Thứ ba, khi hội đủ điều kiện hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vẫn có thể không bị
hủy hoặc chỉ bị hủy một phần: "Khi điều kiện hủy bỏ đã hội đủ, thẩm phán vẫn có quyền hủy hoặc không hủy hợp đồng, ngoài ra Thẩm phán có quyền quyết định bồi thường thiệt hại cho người có quyền mà không hủy hợp đồng hoặc chỉ hủy một phần"41 Như vậy, BLDS Pháp đã có quy định về hủy bỏ toàn bộ và hủy bỏ một phần hợp đồng Trong khi đó, BLDS năm 2005 không công nhận hủy bỏ một phần hợp đồng Hơn nữa, khi điều kiện hủy bỏ hội đủ, nếu không thuộc trường hợp hạn chế hủy
bỏ hợp đồng thì Tòa án phải chấp nhận việc hủy bỏ hợp đồng
Thứ tư, theo Điều 1117 BLDS Pháp thì "Hợp đồng được giao kết do nhầm lẫn,
bị đe dọa hoặc lừa dối không đương nhiên vô hiệu, mà chỉ có thể là căn cứ khởi kiện
để yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu hoặc hủy bỏ hợp đồng trong những trường hợp
và theo những thể thức quy định tại mục 7 Chương 5 của Thiên này" Như vậy, yếu tố nhầm lẫn, bị đe dọa khi giao kết hợp đồng cũng là một căn cứ để có thể tuyên hủy bỏ hợp đồng Trong khi đó, theo BLDS năm 2005 thì yếu tố nhầm lẫn, bị đe dọa chỉ có thể là căn cứ để tuyên hợp đồng vô hiệu (Điều 121, Điều 131 và Điều 132 BLDS năm 2005)
Thứ năm, về căn cứ hủy bỏ hợp đồng, với BLDS Pháp, phần hợp đồng thông
dụng quy định những trường hợp cụ thể cho phép hủy bỏ hợp đồng Ví dụ, trong hợp đồng mua bán, Điều 1654 quy định "Nếu bên mua không trả tiền, bên bán có thể hủy
bỏ hợp đồng" hay Điều 1729 "Nếu bên thuê sử dụng tài sản thuê không đúng mục đích đã thỏa thuận hoặc việc sử dụng đó gây thiệt hại cho bên cho thuê, thì tùy từng trường hợp bên cho thuê có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng" Bên cạnh đó, tại phần chung về hợp đồng, Điều 1184 quy định một cách khái quát nhất căn cứ cho việc hủy
bỏ hợp đồng trong hợp đồng song vụ, cụ thể "Trong các hợp đồng song vụ, điều kiện hủy bỏ luôn được mặc nhiên áp dụng đối với trường hợp một bên không thực hiện cam kết của mình" Quy định này mang tính bao quát cao, áp dụng cho cả trường hợp các bên không có thỏa thuận, cho cả hợp đồng thông dụng và hợp đồng không thông dụng BLDS năm 2005 đã thiếu đi những quy định mang tính khái quát cao như vậy
41
Nhà pháp luật Việt - Pháp (tlđd), tr 113
Trang 31Như vậy, những quy định về hủy bỏ hợp đồng trong BLDS năm 2005 và BLDS Pháp có nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, những quy định này cũng còn rất nhiều điểm khác biệt Về căn cứ hủy bỏ hợp đồng, BLDS Pháp có quy định mang tính bao quát hơn so với BLDS năm 2005 Còn về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì khái niệm này không được sử dụng trong BLDS Pháp
1.5.4 Với Công ƣớc của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (CƢV năm 1980)
Về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, theo quy định hiện hành, CƯV năm 1980 không sử dụng khái niệm "Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng" như quy định trong BLDS năm 2005 Về hủy bỏ hợp đồng, CƯV năm 1980 và BLDS năm
2005 có những quy định giống và khác nhau như sau:
Về khái niệm: CƯV năm 1980 chia hủy bỏ hợp đồng thành hủy bỏ một phần và
hủy bỏ toàn bộ hợp đồng Cụ thể, Điều 51 CƯV năm 1980 quy định "Nếu người bán chỉ giao một phần hàng hóa hoặc nếu chỉ một phần hàng hóa đã giao phù hợp với hợp đồng thì các điều 46 tới 50 sẽ được áp dụng đới với phần hàng hóa thiếu hoặc phần hàng hóa không phù hợp với hợp đồng" Trường hợp này, các quy định về hủy bỏ hợp đồng chỉ được áp dụng đối với phần hàng hóa thiếu hoặc không phù hợp với hợp đồng, nghĩa là chỉ hủy bỏ một phần hợp đồng Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều này cũng đã hạn chế việc áp dụng hủy bỏ toàn bộ hợp đồng khi quy định "Người mua chỉ được tuyên
bố hủy bỏ toàn bộ hợp đồng, nếu việc không thực hiện hợp đồng hoặc một phần hàng giao không phù hợp với hợp đồng cấu thành một sự vi phạm chủ yếu hợp đồng" Trong khi đó, BLDS năm 2005 chỉ quy định về hủy bỏ hợp đồng mà không có quy định cho phép hủy bỏ một phần hợp đồng
Về căn cứ hủy bỏ: CƯV năm 1980 quy định cụ thể về những trường hợp người
mua hoặc người bán được hủy bỏ hợp đồng, cách quy định này giống BLDS năm
2005 phần hợp đồng mua bán, nhưng các căn cứ dẫn tới hủy bỏ hợp đồng mang tính bao quát hơn so với BLDS năm 2005 Cụ thể như: Khoản 1 Điều 64 CƯV năm 1980 quy định người bán có thể tuyên hủy hợp đồng nếu "Sự kiện người mua không thi hành nghĩa vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng hay từ công ước này cấu thành một sự vi phạm chủ yếu hợp đồng" Như vậy, CƯV năm 1980 đã quy định căn cứ hủy bỏ hợp đồng mang tính bao quát hơn BLDS năm 2005 khi cho phép một bên hủy bỏ hợp đồng khi bên kia "vi phạm chủ yếu hợp đồng"
CƯV năm 1980 bên cạnh việc quy định quyền hủy bỏ hợp đồng của từng chủ thể thì còn quy định những trường hợp mặc dù có sự vi phạm nhưng chủ thể mất quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng Ví dụ: Theo Khoản 2 Điều 49 quy định thì trong
Trang 32trường hợp người bán vi phạm hợp đồng nhưng người mua không tuyên bố hủy bỏ hợp đồng trong một thời gian hợp lý kể từ khi người mua biết về sự vi phạm đó, mà sau đó người bán đã giao hàng thì người mua mất quyền hủy bỏ hợp đồng Với vấn đề này, BLDS năm 2005 chưa có quy định cụ thể
Ngoài ra, CƯV năm 1980 đã có thừa nhận việc hủy bỏ hợp đồng trước khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ Cụ thể, Điều 72 quy định "Nếu trước ngày quy định cho việc thi hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một bên sẽ gây ra một sự vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hợp đồng bị hủy" Như vậy, một bên
có thể hủy bỏ hợp đồng trước khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ nếu thấy hiển nhiên rằng bên kia sẽ gây ra một sự vi phạm chủ yếu hợp đồng Về vấn đề này, BLDS năm 2005 chưa có sự điều chỉnh
Về hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng: Theo quy định tại Điều 81 CƯV năm
1980 thì "Hủy bỏ hợp đồng giải phóng hai bên khỏi nghĩa vụ của họ, trừ những khoản bồi thường thiệt hại có thể có" và "bên nào đã thực hiện toàn bộ hay một phần hợp đồng có thể đòi bên kia hoàn lại những gì họ đã cung cấp hay thanh toán" Như vậy, quy định về hủy bỏ hợp đồng trong CƯV năm 1980 giống BLDS năm 2005 ở chỗ: khi hủy bỏ hợp đồng, các bên giải phóng khỏi nghĩa vụ của mình, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận và có thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Quy định về hủy bỏ hợp đồng trong BLDS năm 2005 và CƯV năm 1980 có một
số điểm tương đồng nhất định Nhìn chung, CƯV năm 1980 có những quy định mang tính hợp lý hơn so với BLDS năm 2005 Ví dụ như: CƯV năm 1980 đã quy định về
sự vi phạm chủ yếu hợp đồng là căn cứ hủy bỏ hợp đồng; cho phép hủy bỏ một phần hợp đồng và hạn chế việc hủy bỏ toàn bộ hợp đồng Hơn nữa, CƯV năm 1980 đã có
sự điều chỉnh đối với vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ
1.6 Ý nghĩa của việc quy định về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong Bộ Luật Dân Sự năm 2005
Hợp đồng sinh ra là để thực hiện nhằm mang lại lợi ích cho các bên như mong muốn, vì thế, chúng ta "Cần hạn chế tối đa việc cho phép hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng Song, cũng không nên để cho một bên bị ràng buộc bởi hợp đồng mà họ không đạt được lợi ích hợp pháp do sự vi phạm của bên kia".42
Do đó, BLDS năm 2005 đã quy định về vấn đề hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng làm cơ sở cho việc chấm dứt hợp đồng
42 Đỗ văn Đại (2004), "Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (số 9),
tr 23
Trang 33Hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là những biện pháp dự phòng và các bên có thể lựa chọn áp dụng hoặc không Để tránh sự tùy tiện trong việc áp dụng, BLDS năm 2005 quy định chỉ được áp dụng khi "các bên đã thỏa thuận hay pháp luật có quy định" Các bên có quyền thỏa thuận về điều kiện chấm dứt hợp đồng, nhưng trong một nền kinh tế thị trường luôn biến động và ẩn chứa rủi ro, không phải bao giờ các bên cũng dự liệu hết các trường hợp đó Do đó, pháp luật đã quy định một số trường hợp cụ thể cho phép các bên hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Nhìn chung, những quy định về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng có mục đích tạo khung hành lang pháp lý cho các bên bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, tạo thêm sự lựa chọn về các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng cũng như giúp các chủ thể cân nhắc trước khi áp dụng, xem xét liệu việc chấm dứt hợp đồng có thực sự hiệu quả không hay việc tiếp tục hợp đồng sẽ có lợi Đồng thời, với quy định "Bên có lỗi làm cho hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện phải bồi thường thiệt hại"
sẽ có ý nghĩa trong việc hạn chế vi phạm hợp đồng dẫn đến trường hợp hợp đồng bị chấm dứt và giúp các bên xem xét kỹ ý định hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Qua đó, hạn chế việc chấm dứt hợp đồng, giúp cho quan hệ hợp đồng ngày càng phát triển lành mạnh và tiến bộ hơn
Nhìn chung, BLDS năm 2005 quy định về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhằm tạo khung hành lang pháp lý cho các bên chấm dứt hợp đồng khi có căn cứ Tuy nhiên, thông qua việc nghiên cứu những quy định về căn cứ, thủ tục và hậu quả của việc áp dụng hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, chúng ta thấy những quy định này còn nhiều hạn chế và thiếu sót, gây khó khăn cho các bên cũng như cho Tòa án trong quá trình áp dụng Những vướng mắc cụ thể trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, nguyên nhân và cách khắc phục sẽ được làm sáng tỏ ở Chương 2 "Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và một số kiến nghị"
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG, ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 2.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
2.1.1 Một số tranh chấp về hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và những bất cập trong quá trình giải quyết
Nhìn chung, khi giải quyết tranh chấp về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trên thực tế, Tòa án đã áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật có liên quan Trong một số trường hợp nhất định, Tòa án đã vận dụng các quy định đó một cách linh hoạt và đảm bảo được quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, thực tiễn giải quyết tranh chấp về hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng còn gặp phải một số vướng mắc, bất cập Tác giả xin nêu ra một số tranh chấp cùng những vấn đề pháp lý có liên quan để minh họa như sau:
Thứ nhất, tranh chấp về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận và vấn đề thông báo chấm dứt hợp đồng
Theo BLDS năm 2005 thì căn cứ hủy bỏ hợp đồng là có sự vi phạm hợp đồng, không chỉ theo quy định của pháp luật mà còn theo thỏa thuận của các bên, trong thực tiễn xét xử, Tòa án luôn tôn trọng sự thỏa thuận này Một ví dụ minh họa cho trường hợp này là "Bản án số 424/2010/KDTM-PT ngày 12/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê nhà"43 Nội dung cụ thể như sau:
Bà Thanh, chủ doanh nghiệp tư nhân Hoàng Thy và Công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật viễn thông Bầu Trời Xanh B.S (gọi tắt là Công ty Bầu Trời Xanh) có ký hợp đồng thuê nhà, trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt Trong quá trình thực hiện, Công ty Bầu Trời xanh vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê nhà nên bà Thanh khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng Theo Tòa án nhận định: "Tại Điều 7 của hợp đồng về chấm dứt hợp đồng thuê nhà thì bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng sau 15 ngày kể từ ngày thông báo bằng văn bản trong trường hợp bên B có một trong những hành vi sau: chậm thanh toán tiền thuê nhà quá 10 ngày mà không có lý do chính đáng kể từ ngày đến hạn thanh toán Căn cứ vào hợp đồng thuê nhà thì từ tháng 10/2008 đến nay Công ty Bầu Trời Xanh chưa thanh toán tiền thuê nhà cho doanh nghiệp Hoàng Thy nên doanh nghiệp Hoàng
43
Nguyễn Thị Việt Hà (tlđd), tr 27
Trang 35Thy có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà với Công ty Bầu Trời Xanh là có
cơ sở xem xét chấp nhận" Trong trường hợp này, Tòa án xác nhận các bên có thỏa thuận về hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê nhà của bên thuê là điều kiện
để bên cho thuê đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, đồng thời, xác định Công
ty Bầu Trời Xanh có vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê nhà Do đó, Tòa án chấp nhận yêu cầu đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của bà Thanh Như vậy, khi giải quyết những tranh chấp mà các bên có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt hợp đồng, Tòa án phải xác định hành vi vi phạm hợp đồng và xem xét hành vi vi phạm đó
có được các bên thỏa thuận là điều kiện chấm dứt hợp đồng hay không để làm cở sở chấp nhận yêu cầu chấm dứt hợp đồng của một bên cho phù hợp với quy định của pháp luật
Tuy nhiên, trong trường hợp trên, Tòa án chỉ chú trọng vào việc có hay không có hành vi vi phạm và sự thỏa thuận trước để nhận định yêu cầu của nguyên đơn là có cơ
sở chấp nhận mà "chúng ta không thấy Tòa án nhận định về vấn đề nguyên đơn có thực hiện thủ tục thông báo hay không và thời điểm bị đơn nhận được thông báo khi nào để làm cơ sở cho việc giải quyết của việc đình chỉ thực hiện hợp đồng"44 Đây là một thiếu sót trong quá trình giải quyết tranh chấp của Tòa án Bởi vì, việc thông báo chấm dứt hợp đồng là nghĩa vụ bắt buộc của bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu vi phạm nghĩa vụ thông báo mà gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường Với tình huống trên, nghĩa vụ thông báo chấm dứt và thời hạn thông báo trước đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng Tòa án lại không xem xét trong quá trình giải quyết vụ án là chưa phù hợp với quy định của pháp luật cũng như chưa đảm bảo được quyền lợi của bị đơn Hơn nữa, nếu nguyên đơn đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chấm dứt hợp đồng, bằng hành vi khởi kiện ra Tòa, bị đơn đã biết được ý định muốn chấm dứt thực hiện hợp đồng của nguyên đơn Đây có thể được coi
là thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, Tòa án cũng không xác định việc nguyên đơn đã không thực hiện việc thông báo ngay để xem xét đến quyền lợi của bị đơn, bởi vì, việc không thông báo ngay có thể đã gây thiệt hại đến quyền lợi của bị đơn
Pháp luật quy định việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng chỉ phát sinh khi có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Như vậy, khi hợp đồng không có thỏa thuận điều kiện chấm dứt và pháp luật cũng không có quy định, thì chúng ta không có căn cứ pháp lý để áp dụng, tuy nhiên, một số trường hợp trong thực tiễn, Tòa án vẫn cho phép một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Cụ thể là tình huống tại
44
Nguyễn Thị Việt Hà (tlđd), tr 53.