1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giám sát xã hội của mặt trận tổ quốc việt nam (dưới góc độ luật hiến pháp)

113 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (dưới góc độ Luật Hiến Pháp)
Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền
Người hướng dẫn PGS. TS. Vũ Văn Nhiêm
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một trong những nội dung quan trọng mà trên cơ sở tổng kết và lý luận thực tiễn, lần đầu tiên tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng đã khẳng định vai trò của MTTQVN trong

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

(DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT HIẾN PHÁP)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM (DƯỚI GÓC ĐỘ LUẬT HIẾN PHÁP)

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ

quốc (dưới góc độ Luật Hiến pháp)” do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của

PGS.TS Vũ Văn Nhiêm Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung

thực, chưa từng công bố trong công trình nghiên cứu nào trước đó Các thông tin

trích dẫn trong luận văn được trích dẫn đầy đủ, chính xác từ các sách, báo, tạp chí

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MTTQVN : Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn 7

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn 8

8 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 9

1.1 Khái niệm về giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát 9

1.1.1 Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 9

Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên cơ sở quy định của các văn bản pháp luật 20

1.1.2 Tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát 24

1.2 Đối tượng, nội dung, phạm vi giám sát 25

1.2.1 Đối tượng giám sát 25

1.2.2 Nội dung giám sát 26

1.2.3 Phạm vi giám sát 28

1.3 Hình thức giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 29

1.3.1 Nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân 29

1.3.2 Tổ chức đoàn giám sát 30

1.3.3 Thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở cấp xã, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng 32

1.3.4 Tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 35

Trang 6

1.4 Quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan tổ chức trong

thực hiện giám sát xã hội 37

1.4.1 Quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 37

1.4.2 Quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát 38

1.4.3 Trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và cơ quan, tổ chức có liên quan 39

Kết luận chương 1 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 41

2.1 Thực trạng và những kết quả đạt được trong hoạt động giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 41

2.1.1 Giám sát quá trình xây dựng pháp luật 42

2.1.2 Giám sát bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp 46

2.1.3 Giám sát các đại biểu dân cử, cán bộ công chức, viên chức 49

2.1.4 Giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở 50

2.1.5 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân và tổng hợp kiến nghị của cử tri 54

2.1.6 Giám sát của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng 55

2.1.7 Giám sát đối với hoạt động tư pháp 56

2.1.8 Thực hiện giám sát xã hội ở Trung ương và địa phương hiện nay 58

2.2 Những hạn chế trong hoạt động giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nguyên nhân 63

2.2.1 Những hạn chế 63

2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 67

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 71

2.3.1 Quan điểm, phương hướng thực hiện chức năng giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc 72

Trang 7

2.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

74

2.3.3 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý về hoạt động giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 81 2.3.4 Phát huy dân chủ trong giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 87 2.3.5 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp giám sát xã hội với các hình thức kiểm soát quyền lực khác 88

Kết luận chương 2 89 KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giám sát xã hội (GSXH) là yêu cầu khách quan, mang tính phổ biến của mọi thể chế chính trị hiện đại Nhân dân thực hiện GSXH nhằm kiểm soát quyền lực, khắc phục xu hướng lạm quyền, tha hóa quyền lực Ở Việt Nam, một trong những phương thức để nhân dân thực hiện GSXH là thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN)

MTTQVN là tổ chức đoàn kết rộng rãi toàn dân, tập hợp mọi lực lượng trong

xã hội để đưa đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh vào cuộc sống, góp phần tạo nên sự đồng thuận trong xã hội; đồng thời đại diện cho quyền lợi hợp pháp của nhân dân để phản ánh mọi ý nguyện với Đảng và Nhà nước

Trong điều kiện Đảng nắm chính quyền, Đảng lãnh đạo xã hội, thì MTTQVN là tổ chức có vai trò to lớn trong việc xây dựng Đảng và tạo điều kiện cho Đảng làm tốt các vai trò của mình, trong đó có việc GSXH Điều này Đảng đã

có chủ trương và Hiến pháp cũng đã quy định, vấn đề là tổ chức giám sát thế nào cho thiết thực và có hiệu quả trong xã hội Đây là một trong những nội dung quan trọng mà trên cơ sở tổng kết và lý luận thực tiễn, lần đầu tiên tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng đã khẳng định vai trò của MTTQVN trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị- xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức cán bộ ” 1 và xác định “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội”

Trong những năm qua, MTTQVN tích cực thực hiện chức năng GSXH và đạt được những kết quả khả quan, phát huy được vai trò của các tổ chức thành viên

và các hội chuyên ngành Ban Thường trực Trung ương (TW) MTTQVN đã triển khai 8 chương trình giám sát: tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm đối với người lao động trong các loại hình doanh nghiệp; việc thực hiện pháp luật về sản xuất,

1 Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà

Nội, tr 135

Trang 9

kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thủy sản và thức ăn gia súc; việc thực hiện pháp luật của các cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính quyền cơ sở; việc thực hiện Luật khoa học công nghệ; việc thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thuế, hải quan; việc đánh giá sự hài lòng của người dân với chính quyền cơ sở Trong đó, chương trình Tổng rà soát chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng đã hoàn thành và đạt kết quả theo tiến độ đề ra, được dư luận và nhân dân đánh giá cao, qua rà soát đã góp phần đánh giá đầy đủ, toàn diện chính sách của Nhà nước đối với người có công với cách mạng; đồng thời khắc phục những hạn chế, kịp thời bổ sung, sửa đổi chính sách để giải quyết khó khăn của một bộ phận người có công, tổng số đối tượng được rà soát là 2.070.812 người, trong đó số đối tượng hưởng đúng, hưởng đủ chính sách là 1.892.769 người, chiếm tỷ lệ 95,75%; số đối tượng hưởng chưa đầy đủ là 86.201 người, chiếm 4,16%; số đối tượng hưởng sai là 1.872 người, chiếm 0,09% 2 Ủy ban MTTQVN các tỉnh, thành phố đã thực hiện tốt các quy trình lựa chọn nội dung, xây dựng kế hoạch GSXH, đề xuất với cấp

ủy, phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức thành viên để thực hiện Một số địa phương đã bám sát với thực tiễn để lựa chọn những nội dung mà nhân dân địa phương quan tâm để triển khai giám sát chuyên đề

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, GSXH của MTTQVN vẫn còn những hạn chế, bất cập Ủy ban MTTQVN các cấp vẫn chưa phát huy được một cách hiệu quả sức mạnh của các tổ chức thành viên Việc thực hiện nhiệm vụ một số nơi còn mang nặng tính hình thức, hiệu quả chưa cao Ở một số địa phương, GSXH chưa được coi trọng đúng mức Về cơ chế giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng trên thực tế chưa được các ngành có liên quan bảo đảm đúng quy định; do đó việc giám sát thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, giám sát cán bộ, công chức, viên chức và đại biểu dân cử còn hạn chế; cán bộ Mặt trận các cấp tuy được tăng cường, trẻ hóa nhưng vẫn chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giám sát trong tình hình mới

Để phát huy vai trò của MTTQVN trong GSXH cần nhận thức và giải quyết hàng loạt vấn đề thực tiễn đặt ra như: (1) xác định đúng quyền và trách nhiệm của MTTQVN trong GSXH và nâng cao năng lực giám sát của MTTQVN; (2) xác định

2 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2015), Báo cáo số 203/BC-MTTTTW-BTT ngày

30/1/2016 về Báo cáo kết quả công tác Mặt trận năm 2015, chương trình phối hợp và thống nhất hành động

của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2016

Trang 10

đúng quyền và trách nhiệm của các đối tượng chịu sự giám sát của MTTQVN; (3) lựa chọn vấn đề, xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát phù hợp với năng lực của MTTQVN; (4) thực hiện tốt sự phối hợp giữa các chủ thể tham gia giám sát của MTTQVN; (5) thực hiện tốt việc giám sát đến cùng nhằm phát huy vai trò, tác dụng GSXH của MTTQVN; (6) xác định đúng và thực hiện tốt mục đích, yêu cầu công tác GSXH của MTTQVN; xây dựng kế hoạch, nội dung, đối tượng, thời gian, phương pháp tiến hành thực hiện đúng thủ tục, quy trình, phương pháp, hình thức

giám sát; giải quyết kiến nghị sau giám sát; tiết kiệm chi phí thực hiện giám sát…

Xuất phát từ sự phân tích trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc (dưới góc độ Luật Hiến pháp)” làm đề tài luận văn thạc sĩ,

chuyên ngành Luật Hiến pháp - Hành chính

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Các nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

MTTQVN là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định

cư ở nước ngoài3

MTTQVN, là một tổ chức chính trị thu hút được nhiều sự quan tâm trong nhân dân cả nước, do đó các đề tài nghiên cứu về tổ chức này khá lớn Các công trình nghiên cứu chủ yếu ở khía cạnh lịch sử, phương thức hoạt động và

về tổ chức (vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ…) Tiêu biểu như:

Bộ sách 3 tập “Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam” do Phó giáo

sư, Tiến sĩ Trần Hậu chủ biên Bộ Lịch sử Mặt trận này là một công trình nghiên cứu công phu, tổng kết 75 năm (từ 1903 đến 2005) bộ sách phản ánh tương đối đầy

đủ hoạt động của Mặt trận, trong đó có một phần nội dung giám sát của Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, nhà nước Nghiên cứu về tổ chức và phương thức hoạt động là trọng tâm nghiên cứu của nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về MTTQVN,

và các đoàn thể chính trị - xã hội trong thời gian qua

“Mặt trận tổ quốc Việt Nam có phải là một tổ chức chính trị xã hội?” Vũ

Thị Loan, Tạp chí Lý luận Chính trị, Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, số 6/2013,trang 85- 88 Tác giả đã nêu lên những tính chất của MTTQVN và sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQVN phù hợp

3 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015) Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nxb Chính

trị quốc gia; Hà Nội, tr.8

Trang 11

tính chất chính trị và xã hội Đó là tập hợp lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) thực hiện mục tiêu chính trị là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tính chất xã hội của MTTQVN trước hết thể hiện ở tính quần chúng

rộng rãi của Mặt trận Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQVN là

một bộ phận của đổi mới hệ thống chính trị Tác giả nêu ra một số nội dung trọng yếu cần đổi mới như tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục các thành viên về trách nhiệm xây dựng MTTQVN và các đoàn thể vững mạnh; làm tốt vai trò cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện đối

với Đảng và Nhà nước…

Luật Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam - Cơ sở pháp lý bảo đảm cho sự đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Nhân, Nguyễn

Thanh Bình đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện nhà nước và pháp luật,

Số 8/1999, trang 46- 56 Và“Vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam nhìn từ góc độ

quản lý nhà nước” của tác giả Trần Thị Ngà đăng trên Tạp chí Quản lý Nhà nước

Học viện Hành chính, số 6/2010, trang 49- 51

Đáng chú ý nhất trong mảng này là đề tài KX 10.03 nghiên cứu Mặt trận và

các đoàn thể chính trị - xã hội: “Mô hình đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị giai đoạn 2010 - 2015” do Tiến sĩ Thang Văn Phúc (Bộ Nội vụ) là chủ

nhiệm đề tài Đề tài phân tích những hạn chế, bất cập trong mô hình về tổ chức và hoạt động của MTTQVN hiện nay, đã đề xuất mô hình về tổ chức và hoạt động của Mặt trận trong giai đoạn 2010- 2015, từ đó đề ra mô hình chức năng, nhiệm vụ của MTTQVN với 5 chức năng:

- Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân

- Đại diện quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân

- Xây dựng và củng cố đồng thuận xã hội

- Giám sát và phản biện xã hội

Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận không chỉ là hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra của nhà nước, mà còn mang tính độc lập cao hơn, thậm chí còn phản biện lại cả công tác giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay

Trang 12

Các nghiên cứu về hoạt động giám sát xã hội

Đối với hoạt động GSXH, những nghiên cứu sớm nhất là các tham luận tại Hội thảo về giám sát của MTTQVN năm 1997, năm 1999 có hai hội thảo được tổ chức: Hội thảo về hoạt động giám sát của Quốc hội (do văn phòng Quốc hội Việt Nam và Văn phòng Quốc hội Thuỵ Điển phối hợp tổ chức từ 28/8 đến 01/9) và Hội thảo: Tổ

chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của một số nước trên thế giới

Từ sau năm 2000, số lượng các đề tài nghiên cứu nhiều hơn Tiêu biểu như:

1 Đề tài nghiên cứu khoa học KX.10-07 (2006): “Xây dựng cơ chế pháp lý

đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ chức trong hệ thống chính trị” (Giáo sư, Tiến sĩ khoa

học Đào Trí Úc chủ nhiệm)

Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của một số nước trên thế giới- Sách tham khảo do Nguyễn Văn Kim (Nguyễn Kim) (Chủ biên) 2001 đã trình

bày về tổ chức và hoạt động thanh kiểm tra, giám sát ở một số nước trên thế giới để

từ đó có những mẫu để so sánh với nước ta trong lĩnh vực này

Đề tài khoa học cấp bộ 2006 “Vấn đề nhân dân giám sát cơ quan dân cử ở

nước ta hiện nay” Tiến sĩ Đặng Đình Tân (Chủ biên) Tác giả đã phân tích hệ thống

GSXH ở nước ta với các chủ thể, công dân cử tri Chỉ ra nội dung giám sát cơ quan dân cử của MTTQVN với giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản pháp

luật, giám sát quá trình bầu cử đại biểu quốc hội,…

Giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay- Tạp chí Cộng

sản số 17 ngày 15/9/2009 được tác giả Nguyễn Huy Phượng đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng, quan điểm, giải pháp thực hiện GSXH trong lĩnh vực

tư pháp

Giám sát xã hội trong nhà nước pháp quyền, của tác giả Vũ Anh Tuấn đăng

trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 07/2009 nêu một số vấn đề về đặc điểm của GSXH khác biệt với giám sát nhà nước, mối quan hệ giữa GSXH với nhà nước pháp quyền

Một số bài viết trên tạp chí Mặt trận như:

Nguyễn Thị Thủy (2013), “các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát và

phản biện xã hội của Mặt trận đạt hiệu quả”, Tạp chí Mặt trận số 121+122,

tr.62-65 Bài viết đề cập việc triển khai giám sát và phản biện xã hội cần đảm bảo các điều kiện như: nâng cao nhận thức vị trí, vai trò của MTTQVN trong giám sát và phản biện, xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý, nâng cao chất lượng và đổi mới

Trang 13

tổ chức của MTTQVN các cấp; Nguyễn Thanh Bình (2014),“Mặt trận tổ quốc Việt

Nam với công tác giám sát và tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Mặt trận số 123, tr.41-45 Nêu lên vai trò giám sát của Mặt trận đối

việc giải quyết khiếu nại tố cáo quy định còn chung chung và tác giả chỉ ra những nguyên nhân chính hạn chế vài trò GSXH đối lĩnh vực này; Hà Ngọc Thảnh (2014),

“Phát huy trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

trong giám sát hoạt động của các đại biểu dân cử”, Tạp chí Mặt trận số 129+130,

tr.62-66 Bài viết nêu trách nhiệm MTTQVN và đoàn Thanh tra nhân dân trong giám sát hoạt động các đại biểu dân cử thể hiện một số vấn đề chủ yếu như giám sát đại biểu dân cử theo nhiệm vụ chính trị, chức danh, lời hứa trước cử tri, bảo đảm và quyền lợi chính đáng của nhân dân từ vấn đề nêu trên bài viết đưa ra yêu cầu đối

với MTTQVN và các đoàn Thanh tra nhân dân; Đỗ Phương (2014), “Lại bàn về

giám sát và phản biện” Tạp chí số 133, tr.4-7 bài viết đề cập vị trí và vai trò GSXH

hiện nay còn nhiều hạn chế, để phát huy vai trò giám sát và phản biện cần những thay đổi cơ chế và tổ chức quản lý nếu không giám sát và phản biện xã hội chỉ là cụm từ sử dụng trong tổ chức MTTQVN mà thôi

Kể từ khi có Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam số 14/1999/QH10 ngày 26 tháng 6 năm 1999 và sửa đổi, bổ sung Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam số 75/2015/QH13 ngày 9 tháng 6 năm 2015, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2016 thì hoạt động giám sát của Mặt trận được Uỷ ban TW MTTQVN được chú trọng

triển khai và đã có nhiều nghiên cứu đến GSXH của MTTQVN

“Tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013” của

tác giả Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch MTTQVN đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 9/

2014, trang 11-16 Tác giả đã nêu quá trình thành lập và sự phát triển của nội dung giám sát và phản biện xã hội qua các văn bản của Đảng, Nhà nước Các vấn đề giám sát và việc tiến hành công tác giám sát, các nguyên tắc thực hiện GSXH và xây dựng chương trình phối hợp triển khai giám sát chuyên đề trên một số lĩnh vực mà

hiện đang có nhiều bức xúc

“Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bộ máy nhà nước”

(năm 2010) của Đặng Thị Kim Ngân, Luận văn Thạc sỹ trường Đại học Quốc gia

Hà Nội luận giải hệ thống giám sát của MTTQVN đối với bộ máy nhà nước Đánh giá những mặt được, chưa được của hoạt động giám sát trên thực tế để đưa ra các

biện pháp tăng cường vai trò giám sát của Mặt trận đối với bộ máy nhà nước

Trang 14

Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Hậu (Chủ nhiệm đề tài khoa học KX 10 06/06

-10) “Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối

với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị” Công trình đã đề cập đến rất nhiều

nội dung thuộc nội hàm giám sát và phản biện xã hội như quan niệm về giám sát và phản biện xã hội, loại hình, bản chất và vai trò của giám sát , đề tài đưa ra các giải

pháp thực hiện giám sát và phản biện xã hội đối với hệ thống chính trị ở nước ta

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn :Trên cơ sở những vấn đề lý luận và pháp

lý về GSXH được xem xét dưới góc độ Luật Hiến pháp, làm rõ thực trạng GSXH của MTTQVN, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò GSXH của MTTQVN

Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên luận văn thực hiện các

nhiệm vụ:

- Làm rõ hệ thống hóa lý luận về GSXH của MTTQVN

- Làm rõ nội dung, đối tượng và hình thức GSXH của MTTQVN

- Phân tích, đánh giá về thực hiện GSXH dưới góc độ Luật Hiến pháp

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò GSXH của MTTQVN

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa

Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối của ĐCSVN về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; về thực thi quyền lực nhân dân, về vai trò của MTTQVN và các đoàn thể chính trị trong việc giám sát xã hội Đồng thời người viết cũng kế thừa có chọn lọc các công trình và các bài viết khác của một số tác giả

đã công bố

Cơ sở thực tiễn: Những hoạt động triển khai, thực hiện GSXH của

MTTQVN

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp

luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong đó sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử và logic, phân tích - tổng hợp, thống kê -

so sánh, nghiên cứu tài liệu…

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu vai trò của

MTTQVN trong việc GSXH

Trang 15

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Tiến hành nghiên cứu việc GSXH của

MTTQVN qua các bản Hiến pháp, nhất là trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Măt

trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015

6 Đóng góp của luận văn

Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về GSXH của MTTQVN dưới góc

7 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn

Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn

của việc thực hiện GSXH của MTTQVN dưới góc độ của Luật Hiến pháp

Giá trị ứng dụng của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo,

nghiên cứu, giảng dạy và học tập lý luận; làm tài liệu tham khảo đối với cán bộ MTTQVN và các đoàn thể; các cơ quan chức năng trong việc thực hiện và phát huy vai trò giám sát của MTTQVN trong xây dựng hệ thống chính trị và đời sống nhân dân

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về GSXH của MTTQVN

Chương 2: Thực trạng GSXH của MTTQVN và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GSXH của MTTQVN

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

1.1 Khái niệm về giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát

1.1.1 Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Khái niệm giám sát và nội hàm của nó được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau Về thuật ngữ giám sát, hiện nay được dùng rất phổ biến trong khoa học chính trị, pháp lý và được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội

Theo Từ điển Hán-Việt của Đào Duy Anh chủ biên thì “Giám sát là xem xét

và đàn hặc”4

Trong Từ điển Tiếng Việt (Giáo sư Hoàng Phê- Chủ biên), giám sát

được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều đã quy định không” 5 Từ điển Bách khoa Việt Nam thì cho rằng “Giám sát là một hình thức

hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm đảm bảo pháp chế hoặc

sự chấp hành những quy tắc chung nào đó”6

Tuy các định nghĩa trên đã nêu nhưng chưa đầy đủ nội hàm và những điều giống nhau, khác nhau trong vận dụng chế định giám sát Nội hàm của từ giám sát không chỉ bao gồm các hành vi: xem xét, đàn hặc ( chất vấn) hay theo dõi, kiểm tra Giám sát, trước hết, không phải là sự ngó, nhìn một cách thụ động Nếu người giám sát không có quyền tác động vào hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát thì đó chỉ là quan sát viên Mục đích cốt lõi của hoạt động giám sát là buộc được đối tượng chịu sự giám sát phải chỉnh lại hướng đi nếu đã đi sai đường lối, khắc phục

hành vi sai trái khi đã phạm phải

Tham khảo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính thì “Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc các đối tượng chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho luật pháp được tuân thủ nghiêm minh”7

4 Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán-Việt, Nxb:Khoa học xã hội, tr 323-324

5 Hoàng Phê (chủ biên) (1988), Từ điển Tiếng Việt, Nxb: Đà Nẵng, tr 374

6 Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), tập 3, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.112

7

Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội, tr 261

Trang 17

Tương đồng với nhận định trên, Tự điển Luật học cho rằng giám sát là “Sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh ”8 Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, để một cơ chế được coi là giám sát thì cơ chế đó phải đáp ứng các yêu cầu như: “Có khả năng giám sát được toàn bộ hệ thống quyền lực” và “phải đứng ngoài mà nhìn nhận”, “phải có tính độc lập về mặt pháp lý và phải đảm bảo được yêu cầu khách quan”9

Ở một số nước phương Tây, ví dụ như Anh, Pháp, Mỹ, Đức họ chỉ có một chế định giám sát của công quyền, giám sát theo nghĩa chung là một hoạt động chủ động phòng ngừa, tích cực theo dõi với một sự quan tâm sâu sắc một hoạt động hay một người nào đó vì quyền ích của người đó, hoặc nhằm bảo vệ những quyền ích

khác hữu quan

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh, giám sát theo nghĩa rộng là khái niệm

để biểu thị “tổng thể các cơ chế xã hội tác động đến hành vi của con người với mục đích khắc phục các sai lệch khỏi các quy phạm mà xã hội tiếp nhận”10

Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ văn kiện Đại hội X của ĐCSVN, đã nêu rõ Giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế- xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái11

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy hoạt động giám sát mang nội

hàm như:

Giám sát là một hoạt động của một chủ thể biểu hiện qua quá trình theo dõi,

quan sát, xem xét, phân tích, nhận định về hành vi, việc làm của đối tượng bị giám sát

8 Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.174.

9 Đào Trí Úc (2009), Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động bộ máy Đảng, Nhà nước - Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.38

10 Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở

nước ta hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.40

11 Ngô Văn Du- Hồng Hà- Trần Xuân Giá (đồng chủ biên), (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện

Đại hội X của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.184

Trang 18

Mục đích của giám sát là xem xét hành vi, việc làm của đối tượng bị giám sát xem có đúng với những quy định, định hướng của chủ thể quyền lực đặt ra hay không, nhằm điều chỉnh đối tượng thực hiện đúng yêu cầu, quy định của chủ thể

quyền lực Giám sát phải có đủ ba quyền: quyền thông tin, quyền kiểm tra, quyền

xử lý vi phạm Hoạt động giám sát mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục, có mục đích, có nội dung, có quy chế Hoạt động giám sát mang tính pháp lý thể hiện

quyền và trách nhiệm của chủ thể và đối tượng bị giám sát

Theo tác giả, có thể quan niệm Giám sát là quá trình theo dõi, quan sát, xem

xét, nhận định, đánh giá, phân tích về thái độ, hành vi của đối tượng bị giám sát xem có vi phạm các quy chế, quy định hay các chuẩn mực của chủ thể hay pháp luật không Để từ đó có những tác động điều chỉnh đối tượng bị giám sát thực hiện đúng

các yêu cầu đề ra

Hoạt động giám sát được thực hiện bằng hai loại chủ thể Đó là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và hoạt động gám sát của các chủ thể xã hội (ngoài nhà nước) Hoạt động giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước được gọi

là Giám sát xã hội Sự khác biệt giữa GSXH và giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở chỗ:

Chủ thể GSXH là nhân dân (nhân dân trực tiếp giám sát hoặc thông qua các

tổ chức dân sự do mình ủy nhiệm) Đối tượng GSXH là các cơ quan quyền lực GSXH không mang tính quyền lực nhà nước không thực hiện quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm trực tiếp đối với các đối tượng vi phạm nhưng có thể gây áp lực xã hội

lên các chủ thể quyền lực để điều chỉnh các quyết định, chính sách

Về bản chất GSXH là hình thức giám sát có sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội mà nòng cốt là một số tổ chức của nhân dân, do nhân dân lập ra và uỷ nhiệm; Nội dung, hình thức, phạm vi của GSXH vì thế được phân biệt với giám sát Nhà nước là giám sát của Quốc hội, của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp; với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Phương thức của GSXH được thực hiện trước tiên, thông qua các tổ chức chính trị- xã hội rộng lớn của nhân dân (MTTQVN và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp,…) bằng hình thức

giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp của mỗi công dân

Theo nghĩa rộng, GSXH là giám sát của ba lực lượng cơ bản đó là: Giám sát

của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân Theo đó, GSXH bao trùm lên các giám

sát khác, bởi vì: Thứ nhất, giám sát đối với quyền lực nhà nước là giám sát của cả

tiểu hệ thống trong hệ thống rộng hơn là toàn xã hội, nhà nước là một hiện tượng

Trang 19

nảy sinh từ xã hội, thuộc về xã hội, quyền lực nhà nước là một dạng quyền lực xã

hội;Thứ hai, hoạt động giám sát do chủ thể Đảng, nhà nước, nhân dân thực hiện đều

có mục đích ngăn ngừa, khắc phục những sai lệch khỏi các quy phạm mà xã hội đặt

ra hoặc thừa nhận

Theo nghĩa hẹp, GSXH được hiểu là giám sát của nhân dân bởi chủ thể giám

sát là các tổ chức, cá nhân bên ngoài nhà nước và nó là một loại giám sát trong tổng thể cơ chế giám sát đối với quyền lực nhà nước Các chủ thể giám sát ở đây với đặc tính xã hội có thể là những thành tố độc lập nhỏ nhất (cá nhân) hoặc những nhóm xã

hội (do các cá nhân tập hợp lại tạo nên)

Để nghiên cứu GSXH đối với MTTQVN, luận văn đã tiếp cận GSXH theo nghĩa hẹp Đó là khái niệm chung để chỉ những hoạt động giám sát có cùng tính chất do các chủ thể đặc thù thực hiện, như các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các tập thể lao động, công dân (trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức, báo chí,

dư luận xã hội) trong việc quản lý các công việc của nhà nước và xã hội Sự ghi nhận của pháp luật đã tạo ra cho giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức

xã hội và công dân tồn tại trên thực tế ở nước ta với vị trí, vai trò là một loại giám sát có đầy đủ các yếu tố phân biệt với giám sát của các cơ quan nhà nước Được biểu hiện bằng hai hình thức là giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp

- Giám sát trực tiếp là hình thức giám sát có sự gặp gỡ trực tiếp giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát Giám sát trực tiếp thường thông qua các kỳ họp, sinh hoạt, qua theo dõi nắm tình hình hoạt động hoặc trực tiếp thực hiện một vấn đề nào đó

- Giám sát gián tiếp là hình thức giám sát không có sự gặp gỡ trực tiếp giữa chủ thể giám sát với đối tượng giám sát Giám sát chủ yếu thông qua nghiên cứu báo cáo, văn bản, các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội phản ảnh, qua điều tra xã hội học, trao đổi bằng điện thoại hoặc phương tiện truyền thông giữa chủ thể giám sát với đối tượng giám sát

Mục đích của GSXH không phải là tạo ra sự đối lập giữa dân chúng với nhà nước và hệ thống chính trị, mà GSXH là một sự đánh giá, bổ sung quan trọng, khách quan cho những hình thức giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị Nhờ đó, không chỉ hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước mà toàn xã hội có được sự đối trọng, cân bằng cần thiết để nó được tổ chức và vận hành theo

hướng khoa học và hiệu quả

Từ các định nghĩa, khái niệm và nội hàm trên, tác giả cho rằng Giám sát xã

hội là hình thức giám sát xã hội của các chủ thể ngoài nhà nước thông qua các tổ

Trang 20

chức xã hội hoặc bằng các hình thức giám sát (trực tiếp và gián tiếp) của công dân

đối với cán bộ, đảng viên, các tổ chức chính trị và bộ máy của nhà nước

Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

MTTQVN - tiền thân là Hội phản đế đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam do ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, được thành lập ngày 18 tháng 11 năm 1930 Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, Mặt trận đã thay đổi nhiều tên gọi khác nhau cho phù hợp với yêu cầu của cách mạng Đó là:

- Mặt trận dân chủ (tháng 8 năm 1937)

- Mặt trận Việt Minh năm 1945, Hội Liên hiệp Quốc dân (ngày 29 tháng 5 năm 1945), thống nhất Việt Minh- Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt (ngày 3 tháng

3 năm 1951), đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tháng 9 năm 1955),

- Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (năm 1960), Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam (năm 1968),

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tháng 1 năm 1977, Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận ở hai miền thành một Mặt trận Dân tộc thống nhất duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)

Từ thực tiễn lịch sử cách mạng, với nhận thức tầm chiến lược quan trọng, ngay khi ĐCSVN ra đời (ngày 3 tháng 2 năm 1930) trong nội dung chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập ĐCSVN do lãnh

tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã vạch ra sự cần thiết xây dựng một Mặt trận Dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ chức chính trị, các cá nhân… phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng một xã hội mới hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Từ đó đến nay, trong lịch sử cách mạng Việt Nam, suốt chặng đường dài không bao giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận

Đảng, Chính quyền, Mặt trận là những bộ phận hợp thành hệ thống chính trị nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Vị trí của MTTQ trong hệ thống chính trị được quy định: Với Đảng, MTTQVN do Đảng lãnh đạo; với chính quyền, MTTQVN là

cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; với đoàn thể nhân dân, Mặt trận là nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên MTTQVN tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ MTTQVN Tổ chức và hoạt động của MTTQVN được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên

Trang 21

Theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 thì “Giám sát của Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật”12

GSXH của MTTQ là Mặt trận thực hiện vai trò, chức năng của mình trong việc giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động của các cá nhân, tập thể, tổ chức

thực hiện các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

Chủ thể giám sát: Ủy ban MTTQVN các cấp; hoặc tổ chức thành viên của MTTQVN

Đối tượng giám sát của MTTQVN căn cứ theo Điều 26, khoản 1: “Đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân

cử, cán bộ, công chức, viên chức”13

Mục đích GSXH của MTTQ được đưa ra ở Điều 25 Luật Mặt trận, đó là xem xét việc làm của đối tượng bị giám sát có đúng những điều quy định, những quy chế, chuẩn mực đã đặt ra; phát hiện những khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của đối tượng bị giám sát để có những kiến nghị và biện pháp can thiệp, khắc phục kịp thời nhằm hướng hoạt động của đối tượng đi đúng hướng, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền, làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả để thực thi quyền lực của nhân dân

Với bản chất nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước XHCN Việt Nam phải thể hiện được quyền làm chủ của nhân dân đối với quyền lực nhà nước, thông qua nhiều hình thức khác nhau Trong đó, GSXH mang tính quyền lực nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước đối với tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là một trong những điều kiện quan trọng, nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước

thuộc về nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi

ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là

Trang 22

trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân” 14

Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong nhà

nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân Điều 2, Hiến pháp 2013 ghi nhận

“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ” Như vậy, ở một quốc gia khi mà quyền của nhân dân ngày càng được đề cao và chú trọng thì ở đó là lúc nhân dân được thực hiện quyền lực của mình, một trong những quyền đó là quyền giám sát - mà MTTQVN là một

trong những tổ chức chính đại diện cho nhân dân thực hiện quyền này

Phân biệt giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc: với giám sát của Đảng và

giám sát của nhà nước

- Giám sát của Đảng, là việc cấp uỷ, tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành TW Tổ chức Đảng cấp trên được giám sát

tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; đảng viên được tham gia giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền Như vậy, giám sát của Đảng là giám sát “bên ngoài nhà nước” nhưng do bản chất chính trị và vị trí hạt nhân của Đảng trong hệ thống chính trị nên giám sát của Đảng là giám sát của chủ thể lãnh đạo đối với Nhà nước Hoạt động này được thông qua cán bộ, đảng viên do đảng giới thiệu, cử lãnh đạo bộ máy nhà nước; thông qua tổ chức cơ sở đảng được thành lập tương ứng với

cơ quan nhà nước

- Giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, là giám sát, kiểm tra của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân với hoạt động hành chính bao gồm : Giám sát của Quốc hội

và HĐND; Giám sát Tư pháp- các Tòa án; Giám sát bảo hiến Đặc điểm của loại giám sát này là mang tính quyền lực nhà nước rõ nét, là hệ thống các cơ quan hoạt động có tính chuyên nghiệp, được quy định rất cụ thể, chặt chẽ trong các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), nhất là các luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước (như: Luật Hoạt động giám sát Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, quy chế giám sát ) Loại hình giám sát này có quy định

cụ thể trình tự, thủ tục, nội dung, thẩm quyền, trách nhiệm đối với các bên tham gia quan hệ giám sát thể hiện sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước

14

Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính Trị quốc gia, Hà Nội, tr 698

Trang 23

- GSXH của Mặt trận không mang tính quyền lực, là giám sát mang tính nhân dân với cơ chế “theo dõi, phát hiện, kiến nghị” Mặt trận là nơi thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vận động nhân dân giám sát, tham gia giám sát hoặc độc lập giám sát theo nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Tại khoản 2, điều 25 Luật Mặt trận 2015 quy định

“Giám sát Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân…phát huy quyền làm chủ Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh”15

Nhân dân không trao cho nhà nước quyền sở hữu chủ quyền của mình mà chỉ

ủy quyền cho nhà nước thực hành chủ quyền của mình và việc ủy quyền thực hiện

ấy có giới hạn về thời gian, phạm vi và nội dung của chủ quyền Đồng thời nhân dân luôn luôn kiểm tra, giám sát nhà nước trong việc sử dụng phần quyền được trao

ấy, nếu thấy cần thiết thì nhân dân có thể rút lại chủ quyền vốn có của mình

Nền dân chủ trong nhà nước pháp quyền không chỉ đòi hỏi sự kiểm tra, giám sát từ phía các cơ quan nhà nước mà quan trọng hơn, đòi hỏi phải thiết lập được cơ chế giám sát hữu hiệu từ bên ngoài bộ máy nhà nước, trước hết là cơ chế giám sát thường xuyên, thực chất và có hiệu quả từ phía nhân dân - chủ thể quyền lực nhà nước đối với các cơ quan và cán bộ thực thi quyền lực nhà nước, kể cả đối với cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra GSXH đối với tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước có tác dụng hỗ trợ cho giám sát mang tính quyền lực nhà nước Cùng với xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội, GSXH đối với tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ngày càng được tăng cường và mở rộng, bảo đảm sự vận hành của tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước có hiệu quả, khoa học, nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp quyền dân chủ XHCN

của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Nền dân chủ XHCN mà chúng ta đang xây dựng, hoàn thiện có mục tiêu

thống nhất là tất cả vì con người, dựa trên ba đặc trưng cơ bản là: toàn bộ hệ thống

chính trị luôn được tổ chức và hoạt động vì lợi ích của nhân dân; quyền làm chủ của nhân dân luôn được bảo đảm và được bảo vệ và ngày càng phát triển; quyền và những lợi ích chính đáng của nhân dân luôn mở rộng và phát triển tương thích với

sự phát triển của kinh tế - xã hội

Từ những phân tích trên, theo tác giả giám sát xã hội của MTTQVN dưới góc

15 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nxb: Lao

động; Hà Nội, tr 21

Trang 24

độ Luật Hiến pháp là một hình thức kiểm tra, giám sát xã hội của MTTQVN và các đoàn thể nhân dân đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan, tổ chức nhà nước trong việc ban hành và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp

luật liên quan đến quốc kế dân sinh nhằm mục tiêu phát triển chung của xã hội

Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc trên cơ sở lý luận chính trị

MTTQVN là bộ phận của hệ thống chính trị nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, sự quy định này xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu khách quan của sự nghiệp các mạng, xuất phát từ thể chế chính trị: Việt Nam là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân MTTQVN không phải tự Mặt trận khẳng định mà do chính nhân dân và lịch sử thừa nhận Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng luôn coi trọng vai trò của MTTQVN trong việc tập hợp, xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, trong đó có vai trò giám sát Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng đã có những quyết sách phù hợp để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Cơ sở lý luận về vai trò giám sát MTTQVN được khẳng định qua các lần Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, cụ thể

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta nhấn mạnh “Mặt trận và các đoàn thể tham gia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nước Nhà nước dựa vào Mặt trận và các đoàn thể để phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân Đó chính là sức mạnh của bản thân nhà nước”16 Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VIII, lần IX đều nhấn mạnh nhiệm vụ giám sát của MTTQVN Đặc biệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò rất quan trọng của MTTQVN trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, và yêu cầu “Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”17 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”18 Trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015, Đảng ta cũng khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt

Trang 25

Nam và các đoàn thể nhân dân thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh ”

Và mới nhất Văn kiện Đại hội lần thứ XII đã nêu “Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân để tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt dân chủ, giám sát, phản biện xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ

Tổ quốc.”19

Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số QĐ/TW, về Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các tổ chức chính trị-xã hội; và Quyết định số 218-QĐ/TW, Quy định về việc MTTQVN, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền

217-Từ đặc điểm, cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam không tổ chức vận hành theo hình thức đa nguyên, đa đảng ĐCSVN duy nhất lãnh đạo và cầm quyền trong

hệ thống chính trị Việt Nam nên hệ thống chính trị nước ta không có sự kiềm chế, đối trọng giữa các lực lượng đối lập Do đó, để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng luôn đúng đắn, bộ máy nhà nước luôn trong sạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng nhân dân, thể hiện đúng bản chất nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì cần thiết phải có sự giám sát, phản biện từ phía nhân dân và tổ chức đại diện cho ý chí và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân chính là MTTQVN Hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận sẽ tạo ra yếu tố kiềm chế nhằm giới hạn quyền lực, tránh xu hướng lạm dụng quyền lực, vi phạm dân chủ trong bộ máy hoạt động của Đảng và Nhà nước ta

Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc được thực hiện trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật

Điều 9 Hiến pháp 2013 đã nêu MTTQVN “ là tổ chức liên minh chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài”20 và khẳng định vị trí, vai trò của MTTQN đó là “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị

19 Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, tr.115

20 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 11

Trang 26

của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”21

Trong đó, MTTQN có trách nhiệm thực hiện giám sát, phản biện xã hội, xây dựng Đảng, Nhà nước, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp

và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

MTTQVN được Hiến pháp trực tiếp trao cho quyền chủ động tích cực tham gia vào hoạt động lập pháp, Uỷ ban TW MTTQVN và cơ quan TW của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) Về chức năng lập pháp của MTTQ đã được nêu cụ thể tại khoản 1, Điều 84 của Hiến pháp 2013: “Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước,

Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội”22

Để thực hiện chức năng giám sát Quốc hội đối với Chính phủ và chính quyền địa phương, Chủ tịch Ủy ban MTTQVN và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân

ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp HĐND và được mời tham dự Hội nghị

Ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan Cụ thể, đối với Chính phủ, tại chương VII, Điều 101 của Hiến pháp 2013 quy định “Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan TW của tổ chức chính trị - xã hội được mời tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn

đề có liên quan”23

Đối với HĐND và UBND, trong Chương IX, Chính quyền địa phương của Hiến pháp 2013 đã quy định tại Điều 116, cụ thể “1 Hội đồng nhân dân và Uỷ ban

21 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 11, 12

22 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 43

23 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 54

Trang 27

nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên Nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương 2 Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan”24 Mặt trận và các đoàn thể nhân dân căn cứ vào những thông báo, những phản ánh, kiến nghị của nhân dân có nhiệm vụ tập hợp tất cả những ý kiến và chuyển đến cho các cấp chính quyền Trách nhiệm HĐND và UBND tiếp thu lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này để xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Thông báo và mời người đứng đầu Mặt trận tham gia các kỳ họp của HĐND và tham dự các hội nghị của UBND cùng cấp để nắm bắt tình hình và thực hiện vai trò GSXH của Mặt trận

Tại Điều 9 của Hiến pháp 2013 đã quy định MTTQVN tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước Việc đưa thêm chức năng phản biện và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước bên cạnh chức năng giám sát đó là trách nhiệm trước nhân dân, đất nước của Mặt trận, thể hiện vai trò quan trọng của Mặt trận trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân mà Mặt trận là đại diện, phát huy quyền làm chủ của công dân theo đúng tinh thần Cương lĩnh sửa đổi 2011 đã khẳng định về “kiểm soát quyền lực” của nhân dân Qua đó cho thấy giám sát và phản biện là hai hoạt động không thể tách rời của Mặt trận, phản biện chính là một bộ phận của giám sát, thông qua giám sát những ý kiến phản biện sát với thực tế hơn Việc kiểm soát quyền lực của nhân dân từ bên ngoài thông qua giám sát và phản biện xã hội Mặt trận làm cho những quyết sách chính trị - pháp lý của Nhà nước mang tính dân chủ, đúng đắn, hợp lý và phù hợp với lòng dân hơn

Giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên cơ sở quy định của các văn bản pháp luật

Các nội dung giám sát của MTTQVN đã được hướng dẫn chi tiết tại Quyết định số 217 QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế giám sát và phản

24 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp Việt Nam (2013), Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, tr 61,62

Trang 28

biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội25

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 có các điều, khoản liên quy định rõ các đối tượng, nội dung, hình thức, phạm vi giám sát xã hội; quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan, cụ thể được quy định ở các Điều 25, 26, 27, 28, 29, 30 và 31 của Luật

Theo thống kê chưa đầy đủ, hơn 120 văn bản QPPL có quy định về chức năng giám sát của MTTQVN Các văn bản như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015; Luật Tổ chức chính quyền địa năm 2015 ; Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015; Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân năm 2015; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015… đều có những quy định về mối liên hệ phối hợp giữa các cơ quan này với MTTQVN Ví dụ như MTTTQ tham gia việc giám sát xã hội được quy định: Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 87/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015, tại Điều 6 “Tham gia giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân: 1 Khi thực hiện quyền giám sát, Quốc hội,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội dựa vào sự tham gia của nhân dân, của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận 2 Khi tiến hành hoạt động giám sát, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội có thể mời đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan tham gia; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này”26

Luật Tổ chức Chính phủ số 76/2015/QH13 ngày 19 tháng 6 năm quy định về

“quan hệ phối hợp và xây dựng quy chế phối hợp công tác” của Chính phủ với Uỷ ban TW MTTQVN và cơ quan TW của tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình Trong đó tại Khoản 3 Điều 26 quy định “Khi xây dựng dự án luật, dự thảo nghị quyết trình Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ,

25 Bộ Chính trị (2013), Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội

ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013

26 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015) Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và

Hội đồng nhân dân, tr.15

Trang 29

Chính phủ gửi dự thảo văn bản để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội có liên quan tham gia ý kiến”

và khoản 4 Điều 26 “ Chính phủ thường xuyên thông báo cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội về tình hình kinh tế - xã hội và các quyết định, chủ trương quan trọng của Chính phủ liên quan đến nhiều tầng lớp Nhân dân”27 Bên cạnh đó, Chính phủ và Uỷ ban TW MTTQ đã ký Quy chế phối hợp công tác ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 19/2008/NQLT/CP-UBTUMTTQVN ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ

và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi để Ủy ban TW MTTQVN và cơ quan TW của tổ chức chính trị - xã hội hoạt động tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức và viên chức và mời Chủ tịch Ủy ban

TW MTTQVN và người đứng đầu cơ quan TW của tổ chức chính trị - xã hội tham

dự phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan

Đồng thời một số quy định mang tính nguyên tắc giám sát nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước về các lĩnh vực chuyên ngành như: Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật khiếu nại; Luật Tố cáo; Luật Thanh Tra, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Đất đai, Luật Đầu tư công đều ghi nhận sự tham gia của MTTQVN

và các tổ chức đoàn thể

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho MTTQVN thực hiện tốt chức năng của mình, Chính phủ và Ủy ban TW MTTQVN đã ký kết Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban TW MTTQVN về phối hợp thực hiện giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; Chương trình phối hợp vận động và giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2016- 2020… Theo đó, MTTQVN sẽ giám sát việc bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn thực phẩm; việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn của Nhà nước, việc huy động sức dân xây dựng nông thôn mới, nợ đọng; giám sát quá trình bình xét, công nhận xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới, xã nông thôn kiểu mẫu; việc công nhận gia đình văn hóa, khu dân

cư văn hóa, xã văn hóa đạt chuẩn nông thôn mới Giám sát việc lập quy hoạch và thực hiện xây dựng theo quy hoạch, chỉnh trang đô thị; giám sát công nhận gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, phường, thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh…

27

Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Tổ chức Chính phủ, tr.22

Trang 30

Khi xây dựng văn bản QPPL của Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp có trách nhiệm tập hợp những kiến nghị của Uỷ ban TW MTTQVN và các tổ chức thành viên của Mặt trận về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ để trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Theo quy định tại khoản 1, Điều 6 Luật ban hành văn bản QPPL 2015 thì

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân có quyền

và được tạo điều kiện góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”28

Những quy định nêu trên là cơ sở pháp lý cho Mặt trận thực hiện nhiệm vụ phản biện - đây là một hình thức giám sát trước của xã hội, hoạt động này mang tính độc lập, khách quan không phụ thuộc vào nhà nước

Ngoài ra, Điều 8 Hiến pháp 2013 cũng quy định rõ về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước phải: “tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân…”29

Trong quá trình hoạt động thông qua kiểm tra, giám sát của nhân dân, MTTQVN có nhiệm vụ:

“Tham gia hoạt động giám sát với cơ quan quyền lực nhà nước”, “Thông qua hoạt động của mình, tổng hợp ý kiến của nhân dân và các thành viên của Mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, dựa vào những ý kiến, kiến nghị, đơn tố cáo, khiếu nại của nhân dân đưa lên Mặt trận tập hợp và nêu ý kiến, kiến nghị, phản biện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề còn chưa hợp lý để cơ quan

có thẩm quyền cần điều chỉnh cho phù hợp Điều đó thể hiện tiếng nói của Mặt trận

và các tổ chức thành viên được chính quyền lắng nghe và được tiếp thu Đây là căn

cứ pháp lý quan trọng để Mặt trận thực hiện vai trò hậu kiểm (phản biện sau thông qua kiểm tra, giám sát) phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình

28 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,

tr.5

29 Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 11

Trang 31

1.1.2 Tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát

Về tính chất, hoạt động giám sát của MTTQVN là GSXH, “mang tính nhân dân, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính xây dựng, tính khoa học và thực tiễn”30, có tác dụng hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của nhà nước Đặc trưng

cơ bản của giám sát của MTTQVN và các tổ chức thành viên là giám sát không mang tính quyền lực nhà nước GSXH của MTTQVN là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Mục đích giám sát của MTTQVN là nhằm đánh giá các hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức viên chức trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật Quá trình đánh giá được thực hiện bằng việc theo dõi, xem xét hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức,

để từ đó có những kiến nghị kịp thời về việc thực hiện đúng chính sách, pháp luật

và thái độ phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình làm việc với nhân dân

Giám sát nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Nguyên tắc giám sát của MTTQVN trong việc GSXH phải bảo đảm các yêu cầu và nguyên tắc sau:

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ MTTQVN và Điều lệ các đoàn thể chính trị - xã hội; có sự phối hợp chặt chẽ giữa MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội với các cơ quan, tổ chức có liên quan (Thanh tra Nhà nước, Tổ chức kiểm tra Đảng, Viện Kiểm sát nhân dân, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội Luật gia )

- Quá trình giám sát không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức,

cá nhân được giám sát;

30 Bộ Chính trị (2013), Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể

chính trị - xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013, Điều 2

Trang 32

- Hoạt động giám sát phải bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan, minh bạch theo quy định của Đảng và pháp luật của nhà nước Tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, đoàn viên, hội viên, lợi ích quốc gia, dân tộc

- Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động giám sát được Ủy ban MTTQVN, cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu dương khen thưởng Người có hành vi trả thù, trù dập người phát hiện, kiến nghị, tố cáo hặc bao che cho người có hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc phát hiện, kiến nghị, xử lý người

có hành vi vi phạm thì tùy theo mức độ đều bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật

-Việc giám sát còn đòi hỏi phải có sự theo dõi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, cải tiến công tác, làm cho việc giám sát

có hiệu lực và hiệu quả thiết thực31

1.2 Đối tượng, nội dung, phạm vi giám sát

1.2.1 Đối tượng giám sát

Theo Điều 26, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 và Thông tri MTTW-BTT ngày 1 tháng 4 năm 2014 của Ban Thường trực Ủy ban TW MTTQVN Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị xã hội; Quy định về MTTQVN, các đoàn thể chính trị xã hội tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Đối tượng giám sát của MTTQVN là cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức Đối tượng giám sát cụ thể là:

28/TTr Hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên

- Hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan do Quốc hội thành lập, HĐND các cấp

- Hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc

- Hoạt động của Toàn án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác

- Hoạt động của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

- Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp

31 Nguyễn Văn Pha (2015), Công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận TQVN, Bài giảng chuyên đề

tập huấn cho cán bộ Ủy ban MTTQVN các tỉnh, tr.7

Trang 33

Giám sát hoạt động của đại biểu dân cử là một khâu quan trọng GSXH Bởi đại biểu dân cử, trong đó có đại biểu quốc hội và đại biểu HĐND các cấp là những

người đại diện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình một cách gián tiếp

Hoạt động giám sát của MTTQVN đối với đại biểu dân cử (đại biểu Quốc hội

và đại biểu HĐND) được thực hiện bằng các hình thức: Tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri, giám sát của Ban Thanh tra, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh dân bầu… Trong các hình thức giám sát đại biểu dân cử này đáng chú ý nhất là hình thức lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh chủ tịch HĐND, UBND và trưởng thôn

Bằng những hình thức đó, Ủy ban MTTQVN các cấp có thể xem xét đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu theo quy định của pháp luật Trường hợp đại biểu có hành vi vi phạm pháp luật, không còn được nhân dân tín nhiệm thì

Ủy ban MTTQVN có văn bản đề nghị Quốc hội, UBTVQH, HĐND xem xét để quyết định việc miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm

Đối với việc giám sát cán bộ, đảng viên nói chung là giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật và hoạt động trong công tác của từng cá nhân được biểu hiện bằng thái độ, trách nhiệm đối với công việc theo quy chế, quy định của từng đơn vị,

tổ chức quy định theo pháp luật

Giám sát cán bộ, công chức, viên chức nhà nước gồm nghĩa vụ của cán bộ, công chức Nhà nước, đạo đức, văn hoá giao tiếp, những việc cán bộ, công chức không được làm đã được quy định trong Luật Cán bộ - Công chức và các văn bản hướng dẫn của Đảng, Chính phủ, Luật phòng chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí…

1.2.2 Nội dung giám sát

Nội dung giám sát của MTTQVN là việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của MTTQVN

- Đối với tổ chức đảng: Là việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực phụ trách

- Đối với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan do Quốc hội thành lập, HĐND các cấp: Là việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND, thường trực HĐND, các ban của HĐND các cấp

Trang 34

- Đối với Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc: Là việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước các cấp

- Đối với TAND, Viện VKSND các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác: Là việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động xét xử, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của TAND, VKSND các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác

- Đối với cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước:

Là việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, việc giữ mối liên hệ với nhân dân và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi

cư trú

- Đối với đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp: Là việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của đơn

vị sự nghiệp và doanh nghiệp

Giám sát việc thực thi chính sách pháp luật: MTTQVN giám sát việc thi hành chính sách, pháp luật chủ yếu thông qua các hoạt động thực tiễn của MTTQVN trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thông qua các phong trào, các cuộc vận động, MTTQVN phát hiện những chính sách, pháp luật có được thực thi

và có phù hợp với thực tiễn hay không Trên cơ sở đó, MTTQ đề nghị với Nhà nước xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội

Giám sát hoạt động tư pháp: trong lĩnh vực này, theo quy định của Luật tổ chức TAND và Luật tổ chức VKSND, MTTQVN có trách nhiệm lựa chọn giới thiệu người để HĐND bầu làm Hội thẩm TAND và thông qua việc theo dõi, giúp đỡ Hội thẩm nhân dân hoạt động mà giám sát hoạt động xét xử của TAND Bên cạnh

đó, thông qua việc tham gia các hội đồng tuyển chọn thẩm phán và kiểm sát viên, MTTQVN giám sát việc tuyển chọn các cán bộ đủ tiêu chuẩn và điều kiện để đề nghị cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm làm thẩm phán TAND, Tòa án quân sự các cấp và kiểm sát viên VKSND, Viện kiểm sát quân sự các cấp

Trong đó, nội dung giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân: Lĩnh vực này Ủy ban TW MTTQVN đã có Thông tri 02 /TT-MTTW-

Trang 35

BTT ngày 12 tháng 2 năm 2015 của Ban Thường trực Ủy ban TW MTTQVN Quy

định và hướng dẫn việc tổ chức tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của Ủy ban MTTQVN các cấp MTTQVN tổ chức giám sát thông qua việc tiếp công dân và tham gia giải quyết đối với những đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, những khiếu nại, tố cáo có liên quan đến những đối tượng

do MTTQVN trực tiếp vận động, đến cán bộ của MTTQVN và những trường hợp vi

phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Đối với những vụ việc gây bức xúc trong nhân dân, MTTQVN cử cán bộ có chuyên môn trực tiếp tìm hiểu vụ việc, gặp gỡ các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan và có văn bản kiến nghị thể hiện chính kiến rõ ràng đến cơ quan có thẩm

quyền xem xét, giải quyết

MTTQ có trách nhiệm giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong phạm vi hệ thống của tổ chức mình và có trách nhiệm tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân để chuyển kiến nghị đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem

xét, giải quyết và theo dõi việc giải quyết các kiến nghị đó

1.2.3 Phạm vi giám sát

Giám sát đối với cơ quan, tổ chức:

- MTTQVN chủ trì giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình Các đoàn thể chính trị - xã hội chủ trì giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mất quốc gia) có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể mình; phối hợp với MTTQVN thực hiện nhiệm vụ giám sát đối với những nội dung có liên quan

Giám sát đối với cá nhân: gồm cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) của cơ quan, tổ chức và cá nhân ở nơi công tác và nơi cư trú

Phạm vi giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính ngày càng được pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng Trước hết, các chủ thể giám sát của nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của các

cơ quan hành chính; giám sát cả quy trình ban hành lẫn nội dung văn bản, bảo đảm

Trang 36

tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lý, tính khả thi của hệ thống văn bản đó Tiếp đó là giám sát hoạt động chấp hành – điều hành của cơ quan hành chính trong việc triển khai thực hiện các quy định của Hiến pháp, pháp luật; chủ trương, chính sách văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Bên cạnh đó, nhân dân còn có thẩm quyền giám sát các quyết định hành chính, hành vi hành chính của

cơ quan hành chính, người có thẩm quyền bảo đảm chúng được thực hiện trên cơ sở

pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.3 Hình thức giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân

Việc nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân được thể

hiện qua việc tham gia vào việc xây dựng, góp ý vào các bộ luật, luật và dự án luật

Tham gia xây dựng các văn bản QPPL của nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên của MTTQVN, của các tổ chức thành viên đã được ghi nhận trong Hiến pháp và nhiều văn bản QPPL Bên cạnh đó MTTQVN còn tham gia giám sát việc xây dựng và thực hiện các văn bản QPPL của nhà nước, nhất là các dự

Tổ chức Chính phủ Thực hiện quyền và trách nhiệm tham gia xây dựng chính sách, pháp luật kể từ khi Hiến pháp quy định vai trò, nhiệm vụ của MTTQVN tham gia xây dựng chính quyền; công tác này trở thành chương trình hành động hàng năm của MTTQVN các cấp Hàng năm, Uỷ ban TW MTTQVN đã tham gia đóng góp vào khoảng 30 dự án luật, pháp lệnh Ở địa phương Uỷ ban MTTQVN các cấp đã tham gia xây dựng nghị quyết của HĐND, các quyết định, chỉ thị của UBND trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, phối hợp với các cấp thực hiện chức năng giám sát

Trang 37

Trong thời gian gần đây, MTTQVN đã tham gia góp ý kiến, sửa đổi, bổ sung một số điều, xây dựng Hiến pháp 2013, và các dự thảo luật như Luật Đất đai, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Bầu cử đại biểu quốc hội, Luật thi đua khen thưởng… Trong năm 2016 tập trung tham gia vào các dự án Luật quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân như : Dự án Luật biểu tình, dự án Luật về hội, dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật phòng chống tham nhũng ( sửa đổi)

1.3.2 Tổ chức đoàn giám sát

Ban Thường trực Ủy ban TW MTTQVN đã ban hành Thông tri MTTW-BTT ngày 29 tháng 6 năm 2015 Hướng dẫn quy trình giám sát khi giám sát bằng Đoàn giám sát của MTTQVN Đoàn giám sát được thành lập khi có nhiệm vụ giám sát theo định kỳ hoặc giám sát đột xuất Thành phần gồm có trưởng, phó trưởng đoàn và các thành viên; khi cần thiết, Đoàn giám sát có thể đề nghị cơ quan,

04/TTr-tổ chức được giám sát để Đoàn giám sát kiểm tra, khảo sát thực tế để làm rõ thêm những vấn đề thuộc nội dung giám sát Người đứng đầu cơ quan, tổ chức được giám

sát có trách nhiệm tạo điều kiện để Đoàn giám sát kiểm tra, khảo sát thực tế

Kế hoạch giám sát gồm các nội dung: cơ quan, tổ chức được giám sát, mục đích, yêu cầu, nội dung giám sát; phương pháp tiến hành giám sát; thời gian giám sát và tiến độ thực hiện; chế độ thông tin báo cáo; việc sử dụng phương tiện, kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ hoạt động của đoàn giám sát

Kế hoạch giám sát phải được thông báo, lấy ý kiến các thành viên của đoàn giám sát trước khi ban hành Căn cứ kết quả khảo sát, nắm tình hình, cơ quan chủ trì giám sát xây dựng, ban hành quyết định giám sát Nội dung quyết định giám sát gồm các nội

dung sau:

- Căn cứ pháp lý để giám sát;

- Đối tượng, nội dung, phạm vi giám sát;

- Thời gian, địa điểm tiến hành giám sát;

Trước khi ra quyết định giám sát, cơ quan chủ trì giám sát cần thu thập, phân tích, đánh giá các thông tin và đề xuất các nội dung cần giám sát đối với cơ quan, tổ

chức được giám sát, gồm các nội dung sau:

- Khái quát về tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn của cơ quan, tổ chức được giám sát

- Các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức

được giám sát; các thông tin liên quan đến những nội dung dự kiến giám sát

Trang 38

- Nhận định những vấn đề nổi cộm, có dấu hiệu vi phạm, những vấn đề nhân dân quan tâm; những điển hình tốt cần làm rõ để phổ biến; đề xuất những nội dung

cần giám sát và cách thức thực hiện

Đoàn giám sát thông báo với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động giám sát Trường hợp giám sát tại một cơ quan, tổ chức (cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp): Người đứng đầu cơ quan Ủy ban MTTQVN hoặc tổ chức chính trị - xã hội có yêu cầu giám sát thông báo với cơ quan quản lý nhà nước là cấp trên của cơ quan, tổ chức được giám sát về hoạt động giám sát Trường hợp giám sát nhiều cơ quan, tổ chức trong địa bàn một tỉnh, huyện: Người đứng đầu Ủy ban MTTQVN hoặc tổ chức chính trị - xã hội chủ trì giám sát thông báo với lãnh đạo cơ

quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, huyện về hoạt động giám sát

Cơ quan chủ trì giám sát gửi quyết định giám sát (kèm theo kế hoạch giám

sát, đề cương yêu cầu báo cáo) đến cơ quan, tổ chức được giám sát theo quy định về thời gian, Sau khi nhận được báo cáo của cơ quan, tổ chức được giám sát, Trưởng

đoàn giám sát gửi cho các thành viên trong Đoàn để nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến và

thống nhất nội dung làm việc cụ thể của Đoàn

Trưởng đoàn giám sát chủ trì làm việc, thông báo về quyết định giám sát, nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung và phương thức làm việc của Đoàn giám sát, chương trình làm việc cụ thể và những công việc khác có liên quan đến hoạt động

của Đoàn giám sát

Người đứng đầu hoặc đại diện người đứng đầu cơ quan, tổ chức được giám sát báo cáo về những nội dung theo đề cương yêu cầu báo cáo Thành viên đoàn giám sát có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức được giám sát làm rõ thêm những nội dung

đã báo cáo Trưởng đoàn giám sát có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức được giám sát

báo cáo bổ sung thêm những nội dung khác

Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Đoàn giám sát có thể kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp

Trang 39

Sau khi kết thúc giám sát, Ủy ban MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp theo dõi chặt chẽ việc giải quyết đối với những kiến nghị đã gửi tới các cơ quan, tổ chức, cá nhân; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân không giải quyết hoặc giải quyết không

đúng quy định của pháp luật đối với những kiến nghị này

Định kỳ 6 tháng và hàng năm, Ban Thường trực Ủy ban TW MTTQVN, cơ quan TW của các tổ chức chính trị - xã hội gửi báo cáo tổng hợp kết quả giám sát cho các cơ quan có thẩm quyền ở TW, Ủy ban MTTQVN và các tổ chức chính trị -

xã hội ở địa phương gửi báo cáo tổng hợp kết quả giám sát tới Ủy ban MTTQVN,

các tổ chức chính trị - xã hội cấp trên và cấp ủy, chính quyền cùng cấp

1.3.3 Thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân được thành lập ở cấp xã, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng là thiết chế xã hội ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vai trò quan trọng trong thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là đối với hoạt động của chính quyền xã, phường, thị trấn Tại xã, Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng được thành lập và tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ giám sát đối với hoạt động của HĐND, UBND cấp xã và giám sát đối với việc thực hiện các dự án đầu tư liên quan đến lợi ích của cộng đồng tại cơ sở

Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng được thành lập nhằm bảo đảm để người dân trên địa bàn xã thực hiện quyền giám sát của mình

“Nhân dân thực hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân

dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng”32 Theo quy định pháp luật, công dân thực hiện giám sát trên cơ sở các thông tin được công khai, phản ánh, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan thông qua

Ủy ban MTTQNV xã, hoặc các tổ chức thành viên của Ủy ban MTTQVN xã, hoặc Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng

Việc thành lập Ban Thanh tra nhân dân là bắt buộc đối với tất cả các xã Riêng đối với Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng thì không bắt buộc phải thành lập

ở tất cả các xã Pháp luật quy định Ban Thanh tra nhân dân có thể đảm nhận nhiệm

vụ Giám sát đầu tư của cộng đồng nếu đủ số thành viên cần thiết để tổ chức thực hiện Giám sát đầu tư của cộng đồng và các thành viên này đáp ứng các yêu cầu về

32 Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của

UBTVQH về Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Điều 24, Khoản 1

Trang 40

tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng Đồng thời Ban Thanh tra nhân dân phải có văn bản chính thức gửi Ủy ban MTTQVN cấp

xã, khẳng định đồng ý đứng ra tổ chức thực hiện Giám sát đầu tư của cộng đồng Trường hợp Ban Thanh tra nhân dân không có văn bản chính thức khẳng định đồng

ý đứng ra tổ chức thực hiện Giám sát đầu tư của cộng đồng thì Ban Thường trực Ủy ban MTTQVN cấp xã đứng ra tổ chức bầu Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng Theo ước tính, hiện nay, có khoảng hơn 80% số xã, phường, thị trấn không có Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng mà hoạt động Giám sát đầu tư của cộng đồng do Ban Thanh tra nhân dân đảm nhận

Trong hoạt động giám sát, Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng phải tuân theo hai yêu cầu sau:

Thứ nhất, giám sát đúng đối tượng, phạm vi và nội dung theo quy định

Thứ hai, hoạt động giám của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư

của cộng đồng không được gây cản trở công việc của các đối tượng chịu sự Giám sát đầu tư của cộng đồng

Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban

Thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân, có trách nhiệm ở xã, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước

Vai trò chủ yếu của Ban Thanh tra nhân dân nhằm góp phần phát huy dân chủ, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và của cộng đồng Tổ chức và hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân ở xã hiện nay được thực hiện theo các văn bản pháp luật sau:

Luật Thanh tra năm 2010; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị định 159/2016/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban TTND; Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng; Thông tư số 337/2016/TT-BTC ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Bộ tài chính quy định về lập dự toán, quản lý, sử

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Nghị quyết liên tịch số 05/2006/NQLT-CP-UBTWWMTTQVN ngày 21/4/2006 của Ủy ban TWMTTQVN về việc ban hành Quy chế “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư
37. Đào Duy Anh (2010), Từ điển Hán Việt, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa- Thông tin
Năm: 2010
38. Nguyễn Thọ Ánh (2010), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thọ Ánh
Năm: 2010
39. Nguyễn Thanh Bình (2014), “Mặt trận tổ quốc Việt Nam với công tác giám sát và tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Mặt trận, (123) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trận tổ quốc Việt Nam với công tác giám sát và tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2014
40. Ngô Văn Dụ- Hồng Hà- Trần Xuân Giá (đồng chủ biên) (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện đại hội X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện đại hội X của Đảng
Tác giả: Ngô Văn Dụ- Hồng Hà- Trần Xuân Giá (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
41. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1991
42. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996),Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
43. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
44. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
45. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1991 (bổ sung 2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1991 (bổ sung 2011)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
46. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng hiện nay
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2012
47. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
48. Bùi Xuân Đức (2004), Tăng cường hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, đoàn thể nhân dân và giám sát trực tiếp của nhân dân đối với bộ máy nhà nước, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, đoàn thể nhân dân và giám sát trực tiếp của nhân dân đối với bộ máy nhà nước
Tác giả: Bùi Xuân Đức
Năm: 2004
49. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Tập 5, Sửa đổi lối làm việc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập 5, Sửa đổi lối làm việc
Tác giả: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
50. Trần Hâu (2005) (chủ biên), “Lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam” từ năm 1903-2005, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam
52. Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính
Tác giả: Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002
53. Vũ Thị Loan (2013), “Mặt trận tổ quốc Việt Nam có phải là một tổ chức chính trị xã hội?”, Tạp chí Lý luận Chính trị,(6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mặt trận tổ quốc Việt Nam có phải là một tổ chức chính trị xã hội?”
Tác giả: Vũ Thị Loan
Năm: 2013
55. Đặng Thị Kim Ngân (2010) “Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bộ máy nhà nước”, Luận văn Thạc sỹ trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bộ máy nhà nước
56. Trần Ngọc Nhân, Nguyễn Thanh Bình (2010),“Luật Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam -Cơ sở pháp lý bảo đảm cho sự đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”,Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam -Cơ sở pháp lý bảo đảm cho sự đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”
Tác giả: Trần Ngọc Nhân, Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2010
90. Nguyền Thiện Nhân, Tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội theo tinh thần Hiến pháp 2013http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=29318& , ngày truy cập 14/5/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm