Trong phạm vi nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp về vấn đề này, từng có các đề tài tiêu biểu như: “Nét đặc trưng trong tổ chức quyền lực nhà nước ở Hoa Kỳ” năm 2009 của Nguyễn Cát C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** -
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
TRẦN ĐẶNG ĐĂNG CƠ
MỐI QUAN HỆ GIỮA LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP TRONG HIẾN PHÁP LIÊN BANG HOA KỲ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Hành chính Niên khóa: 2013 -2017
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** -
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
TRẦN ĐẶNG ĐĂNG CƠ
MỐI QUAN HỆ GIỮA LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP TRONG HIẾN PHÁP LIÊN BANG HOA KỲ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Hành chính Niên khóa: 2013 - 2017
Người hướng dẫn khoa học: Phạm Thị Phương Thảo Người thực hiện: Trần Đặng Đăng Cơ
MSSV: 1353801013022 Lớp: Hành chính – Tư pháp 38D
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là các Thầy, Cô Khoa Luật Hành chính – Nhà nước đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập tại trường Em chân thành cảm ơn ThS Phạm Thị Phương Thảo Cô đã hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình làm luận văn Những kiến thức em được học không chỉ là nền tảng cho việc nghiên cứu khóa luận mà sẽ là hành trang quý báu để em bước vào đời
Cuối cùng, em kính chúc quý Thầy, Cô luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp
Trang 4
MỤC LỤC
MỐI QUAN HỆ GIỮA LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP
TRONG HIẾN PHÁP LIÊN BANG HOA KỲ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ
PHÁP TRONG HIẾN PHÁP HOA KỲ 1
1.1 Sự ra đời của Hiến pháp Hoa Kỳ 1
1.1.1 Tình hình kinh tế ở Hoa Kỳ 1
1.1.2 Tình hình chính trị - xã hội ở Hoa Kỳ 2
1.1.3 Hội nghị lập hiến 1787 4
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến pháp liên bang Hoa Kỳ 5
1.2.1 Sự ảnh hưởng của tư tưởng phân quyền 5
1.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhánh quyền lập pháp 7
1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhánh quyền hành pháp 9
1.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhánh quyền tư pháp 10
1.3 Nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước Hoa Kỳ theo quy định của Hiến pháp 11
1.3.1 Quyền lực Nhà nước được chia thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau 12
1.3.2 Các nhánh quyền lực có sự phối hợp với nhau trong quá trình hoạt động 13
1.3.3 Các nhánh quyền lực luôn kiểm soát lẫn nhau trong quá trình hoạt động 14
1.3.4 Nhà nước được tổ chức theo hình thức liên bang, các bang bình đẳng, có sự phân quyền giữa liên bang và tiểu bang 16
1.4 Tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp Hoa Kỳ 19
1.4.1 Nguyên thủ quốc gia 19
1.4.2 Nghị viện 21
1.4.3 Chính phủ 26
1.4.4 Tối cao pháp viện 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: SỰ PHỐI HỢP VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC GIỮA LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP TRONG HIẾN PHÁP HOA KỲ 39
2.1 Sự phối hợp hoạt động giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp 39
Trang 52.2 Sự kiểm soát quyền lực giữa lập pháp và hành pháp theo quy định của
Hiến pháp Hoa Kỳ 42
2.2.1 Sự kiểm soát quyền lực của lập pháp đối với hành pháp 42
2.2.2 Sự kiểm soát quyền lực của hành pháp đối với lập pháp 46
2.3 Sự kiểm soát quyền lực giữa lập pháp và tƣ pháp theo quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ 48
2.3.1 Sự kiểm soát quyền lực của lập pháp đối với tư pháp 48
2.3.2 Sự kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với lập pháp 48
2.4 Sự kiểm soát quyền lực giữa hành pháp và tƣ pháp theo quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ 50
2.4.1 Sự kiểm soát quyền lực của hành pháp đối với tư pháp 50
2.4.2 Sự kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với hành pháp 51
2.5 Thực tiễn sự kiểm soát quyền lực giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp, tƣ pháp 52
2.5.1 Thực tiễn sự kiểm soát quyền lực giữa lập pháp và hành pháp 52
2.5.2 Thực tiễn sự kiểm soát quyền lực giữa lập pháp và tư pháp 55
2.5.3 Thực tiễn sự kiểm soát quyền lực giữa hành pháp và tư pháp 56
2.6 Giá trị của mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tƣ pháp trong Hiến pháp Hoa Kỳ 57
2.6.1 Đối với Hoa Kỳ 57
2.6.2 Đối với Việt Nam 59
KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn 200 năm, bất chấp cuộc nội chiến vĩ đại, bất chấp hai cuộc chiến tranh thế giới, Hiến pháp 1787 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vẫn đứng vững qua thử thách của thời gian và trở thành bản hiến pháp thành văn lâu đời nhất thế giới vẫn còn hiệu lực Bản Hiến pháp này được xem là hình mẫu để các quốc gia khác xây dựng nên Hiến pháp của mình
Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 với 7 điều và 10 tu chính án đã mang đến cho thế giới một hình thức chính thể mới, chính thể cộng hòa Tổng thống Trong hình thức chính thể này, quyền lực nhà nước có sự phân chia thành ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập với nhau Tuy nhiên, điểm đặc biệt trong việc thực hiện quyền lực ở Hoa Kỳ chính là sự phối hợp hoạt động của ba nhánh quyền, đồng thời giữa các nhánh có sự kiềm chế, đối trọng lẫn nhau theo cơ chế “quyền lực ngăn cản quyền lực” Đây được xem là một trong những hạt nhân hợp lý giúp cho nền chính trị Hoa Kỳ được ổn định trong suốt tiến trình lịch sử và do đó, thúc đẩy nền kinh tế phát triển cường thịnh như ngày hôm nay
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến pháp Hoa Kỳ để thấy được những điểm hợp lý, những giá trị của mối quan hệ này, đồng thời thấy được tầm ảnh hưởng của nó đến tổ chức
bộ máy nhà nước, đến sự phát triển của nhà nước Hoa Kỳ
Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi lần đầu tiên kể từ Hiến pháp 1946, Hiến pháp 2013 của Việt Nam đã ghi nhận sự áp dụng các hạt nhân hợp lý của lý thuyết phân quyền vào trong tổ chức bộ máy nhà nước Do đó, nghiên cứu mối quan
hệ này cùng với những giá trị của nó, từ đó nêu ra những kiến nghị áp dụng vào mối quan hệ giữa Quốc hội, Chính phủ và Tòa án Việt Nam
Chính vì vậy, tác giả xin chọn đề tài “Mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp
và tư pháp trong Hiến pháp liên bang Hoa Kỳ” làm khóa luận tốt nghiệp
II Tổng quan tình hình nghiên cứu
Lịch sử hình thành Hiến pháp và tổ chức bộ máy nhà nước Hoa Kỳ đã từng được nghiên cứu trong các sách tiêu biểu như “Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước” của tác giả Nguyễn Thị Hồi, “Chế độ Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và sự hình thành nhà nước pháp quyền Mỹ” của tác giả Nguyễn Tất Đạt Chủ đề này cũng được một số các tác giả khác nghiên cứu và bài viết của họ được đăng trên tạp chí chuyên ngành như “Bàn
về học thuyết tam quyền phân lập và kiềm chế, đối trọng trong Hiến pháp Hoa Kỳ”
Trang 7của Nguyễn Thị Ánh Vân, “Chế định Tổng thống Hoa Kỳ - Hiến pháp và thực tiễn” của Thái Vĩnh Thắng, “Hoạt động kiểm soát quyền hành pháp của Nghị viện các nước Anh, Pháp, Mỹ” của Trần Quốc Việt Nghiên cứu về lịch sử hình thành Hiến pháp có luận văn thạc sĩ “Lịch sử ra đời và phát triển của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” của Nguyễn Văn Trí
Trong phạm vi nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp về vấn đề này, từng
có các đề tài tiêu biểu như: “Nét đặc trưng trong tổ chức quyền lực nhà nước ở Hoa Kỳ” năm 2009 của Nguyễn Cát Cảng, nổi bật ở sự trình bày đầy đủ về việc tổ chức quyền lực nhà nước của Hoa Kỳ theo chiều dọc (giữa liên bang với tiểu bang) và cả chiều ngang (giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp), đặc biệt, tác giả sử dụng tiền đề về tư tưởng là học thuyết phân quyền để lý giải về sự phân chia quyền lực được quy định trong Hiến pháp liên bang Hoa Kỳ Tuy nhiên, đề tài này chỉ dừng việc nghiên cứu dựa trên học thuyết phân quyền nói chung, xem nó là một trong các tiền đề dẫn đến việc tổ chức quyền lực nhà nước cùng với các tiền đề về lý luận, lịch sử, không nhấn mạnh đến vai trò cốt lõi của lý thuyết phân quyền của Montesquieu
Trong khi đó, đề tài “Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước” năm 2014 của Trần Thị Khôi Nguyên mặc dù trình bày cụ thể về vai trò của nguyên tắc phân quyền nhưng lại xem xét sự ảnh hưởng trong cả ba hình thức chính thể: cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống, cộng hòa hỗn hợp và mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp Hoa Kỳ được xem là một sự ứng dụng nguyên tắc phân chia quyền lực trên thực tế Do đó, không làm nổi bật nét đặc trưng trong cơ cấu tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở Hoa Kỳ
Có thể thấy, các đề tài khóa luận tốt nghiệp trên chỉ dừng lại nghiên cứu về mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp nói chung, không tập trung phân tích mối quan hệ này dựa trên bộ máy nhà nước Hoa Kỳ, do đó, không thấy được nét đặc trưng của Hoa Kỳ trong việc tổ chức thực hiện quyền lực Vì vậy, trong đề tài khóa luận này, tác giả không chỉ làm rõ vấn đề nói trên mà còn trình bày về sự biểu hiện của mối quan hệ này trong thực tế
III Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi khóa luận này, tác giả chủ yếu nghiên cứu về mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Đề tài không nghiên cứu đến mối quan giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến pháp của từng tiểu bang trong đất nước Hoa Kỳ Cụ thể, đề tài nghiên cứu những vấn đề sau: cách thức hình thành ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư
Trang 8pháp; sự phối hợp giữa ba nhánh quyền lực; sự kiềm chế đối trọng giữa lập pháp với hành pháp, giữa lập pháp với tư pháp và giữa hành pháp với tư pháp
Đề tài tập trung giải quyết những vấn đề:
- Cách thức hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động của nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
- Sự phối hợp giữa ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quá trình hoạt động
- Sự kiểm soát lẫn nhau giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp khi thực hiện quyền lực nhà nước
IV Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, dựa trên quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó chủ yếu là:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp này được sử dụng trong Chương I khi nghiên cứu về bối cảnh lịch sử của Hoa Kỳ mà từ đó Hiến pháp liên bang đã ra đời, về sự ảnh hưởng của nước Anh đến tư tưởng của những đại biểu tham gia Hội nghị lập hiến và nghiên cứu các học thuyết về sự phân quyền của một
số tác giả tiêu biểu, lý giải tại sao nguyên tắc phân quyền của Montesquieu lại ảnh hưởng đến nước Mỹ
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương II và một phần chương I khi trình bày về mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực Dựa trên quy định của Hiến pháp liên bang Hoa Kỳ, tác giả tiến hành phân tích để làm rõ sự độc lập, sự phối hợp và sự kiểm soát giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước Sau khi đã làm rõ mối quan hệ giữa các nhánh quyền, khóa luận sẽ đưa ra một số giá trị của mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Hoa Kỳ
- Chương II: Sự phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa lập pháp, hành pháp
và tư pháp trong Hiến pháp Hoa Kỳ
Trang 9CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ
TƯ PHÁP TRONG HIẾN PHÁP HOA KỲ
1.1 Sự ra đời của Hiến pháp Hoa Kỳ
1.1.1 Tình hình kinh tế ở Hoa Kỳ
Trước khi giành được độc lập, mười ba bang thuộc địa Bắc Mỹ bị đế quốc Anh tăng cườngbóc lột, thi hành những chính sách thương mại không công bằng như Đạo luật Đường 1764 (thay thế Đạo luật Mật Đường 1733 vốn đã đặt ra mức thuế cắt cổ đối với rượu vang và mật đường nhập khẩu từ mọi khu vực nằm ngoài nước Anh); Đạo luật Tiền tệ 1764 ngăn cấm các thuộc địa phát hành tiền giấy; Đạo luật Hậu cần 1765 yêu cầu các thuộc địa phải cung cấp thực phẩm và doanh trại cho các đơn vị quân đội Hoàng gia Trong số này phải kể đến Đạo luật Thuế tem, theo
đó, tất cả báo chí, biểu ngữ, sách nhỏ, giấy môn bài, hợp đồng thuê mướn, kể cả các loại văn bản pháp luật đều phải dán tem để đánh thuế và số tiền thu được được sử dụng cho việc phòng thủ, bảo vệ và duy trì an ninh cho thuộc địa, đã làm bùng lên
sự phản kháng cực kỳ mạnh mẽ ở mười ba bang thuộc địa Những nhân vật uy thế như các nhà báo, luật sư, tăng lữ, lái buôn và doanh nhân đã tụ họp thành nhóm
“Những người con tự do” để phản đối đạo luật này Mặc dù đạo luật này sau đó đã
bị vô hiệu hóa nhưng thương mại giữa thuộc địa và mẫu quốc đã sụt giảm nhiều vào mùa hè năm 1765 Bên cạnh đó, tư bản Anh còn thực hiện những chính sách nhằm hạn chế sự lớn mạnh của các ngành công nghiệp thuộc địa, ngăn cấm việc buôn bán với nước ngoài
Sau khi giành được độc lập vào năm 1783, sự yếu kém của chính quyền liên bang đã đẩy nền kinh tế Hoa Kỳ lâm vào tình trạng trì trệ.Điều này xuất phát từ việc chính quyền hợp bang bị lệ thuộc vào chính quyền bang trong lĩnh vực tài chính, cụ thể, Quốc hội liên bang không có quyền cao hơn trong việc thu thuế giữa các bang, quyền này vẫn thuộc về chính quyền tiểu bang.Do đó, dù các tiểu bang ưu tiên cho hàng hóa Mỹ nhưng mỗi tiểu bang lại có mức ưu đãi thuế khác nhau; bên cạnh đó, việc không có đồng tiền chung thống nhất đã dẫn đến hệ lụy là các đồng tiền đều nhanh chóng mất giá, tạo nên nạn lạm phát, phá vỡ hoạt động buôn bán giữa các bang với nhau và với nước ngoài Một số bang đánh thuế nhập khẩu từ các bang khác dẫn đến trả đũa lẫn nhau, nền kinh tế rơi vào tình trạng hỗn loạn Trong hoạt động ngoại thương, các lái buôn mất đi thị trường tiêu thụ lớn ở mẫu quốc, các bang cũng không còn được hưởng những ưu đãi tại các cảng của Anh ở Bắc Mỹ Trong hoạt động cung cấp lương thực, cung lớn hơn cầu, nhiều chủ trang trại lâm vào cảnh
nợ nần, có nguy cơ bị tịch thu tài sản và bị tống giam
Trang 101.1.2 Tình hình chính trị - xã hội ở Hoa Kỳ
Trong suốt quá trình diễn ra cuộc cách mạng giành độc lập, sự đoàn kết giữa các bang tỏ ra hiệu quả, nỗi lo sợ quyền cá nhân bị loại bỏ cũng đã giảm đi nhiều Nhận thấy những ích lợi của việc liên minh mười ba bang thuộc địa, năm 1776, John Dickinson đã soạn thảo Các điều khoản hợp bang xây dựng nên Quốc hội Hợp chúng quốc – cơ quan duy nhất điều hành đất nước Tuy nhiên, chính quyền được xây dựng theo văn bản này tồn tại nhiều hạn chế, trong đó hạn chế lớn nhất là quyền lực của Quốc hội lại bị lệ thuộc vào chính quyền bang trong những lĩnh vực quan trọng như tài chính, thương mại, quân sự Mặc dù việc thành lập chính quyền liên bang là một tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu liên kết giữa các bang sau khi giành được độc lập, nhưngchính quyền theo Các điều khoản hợp bang mà G
Washington ví như “sợi dây bằng cát” không đủ sức kiểm soát đất nước vốn còn
nhiều bất ổn sau chiến tranh
Lạm phát, nợ nần đã làm cho đời sống nhân dân, đặc biệt là người dân lao động rất khó khăn Trong khi đó, Ngân sách Chính phủ hợp bang nghèo nàn, chủ yếu có được do các bang tự nguyện đóng góp, không đủ trả lương cho binh sĩ Trong những năm 80 của thế kỷ XVIII, các cuộc nổi dậy ngày càng nhiều hơn Binh lính nổi dậy chống lại bọn chỉ huy và chính quyền, đòi bọn sĩ quan phải tôn trọng và đáp ứng đòi hỏi quyền lợi của họ1
Nhân dân nổi dậy đấu tranh đòi quyền sống, quyền có ruộng đất và quyền tự do, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Daniel Shays lãnh đạo2
Không những thế, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ còn phải đối mặt với vấn đề mở rộng lãnh thổ ở miền Tây,với những mặt phức tạp về đất đai, buôn bán lông thú, người da đỏ, khu định cư và chính quyền địa phương Một số bang như Maryland, New York, Virginia tuyên bố nhượng lại phần đất mà họ sở hữu cho chính quyền hợp bang Chính quyền có thể sẽ thừa hưởng quyền sở hữu tất cả mọi đất đai ở phía bắc sông Ohio và phía Tây dãy núi Allegheny Việc sở hữu chung hàng triệu hecta đất chung như vậy là một bằng chứng hiển nhiên nhất về tính chất quốc gia và tính thống nhất, và điều đó đã đem lại nội dung nhất định cho tư tưởng thống nhất và
sở hữu đất đai phải thuộc về tất cả (Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng(1999), Lịch sử thế giới cận đại,
Nxb Giáo dục, Hà Nội)
Trang 11hợp nhất thành quốc gia, đồng thời những phần lãnh thổ rộng lớn này cũng là một khó khăn đòi hỏi phải được giải quyết3
Trên chính trường quốc tế,Anh không rút quân ra khỏi các căn cứ và thương cảng miền Tây Bắc Hoa Kỳ như đã cam kết trong Hòa ước Paris năm 1783 Người Tây Ban Nha không cho phép các điền chủ miền Tây dùng cảng New Orleans để vận chuyển hàng hóa Đồng thời, cả Anh và Tây Ban Nha đều cùng cung cấp vũ khí
để người Indians chống lại người dân di cư của Hoa Kỳ
Tình trạng tồi tệ của liên minh 13 tiểu bang đã thách thức nhiều người Mỹ có
tư tưởng cộng hòa về sự cần thiết và cấp bách phải có những cải cách triệt để
Washington đã viết cho Madison đề cập đến khó khăn của Mỹ như sau: “Tại thời điểm hiện nay, sự khôn ngoan, sự hiểu biết và các tấm gương tốt là cần thiết để cứu
hệ thống chính trị này khỏi cơn bão đang treo lơ lửng… Tại mỗi tiểu bang đều có những mầm cháy mà chỉ cần một tia lửa cũng có thể làm bùng lên đám lửa.”4 Đứng trước nguy cơ nền cộng hòa sẽ sụp đổ, Mỹ buộc phải xây dựng lại chính quyền liên bang đủ hùng mạnh để phát triển kinh tế, ổn định tình hình trong nước, tăng cường địa vị chính trị trên chính trường quốc tế Muốn có một chính quyền như thế thì cần hạn chế quyền lực của tiểu bang, tập trung quyền lực cho chính
quyền liên bang như Hamilton đã khẳng định: “…không thể trì hoãn được nữa, chúng ta phải trao thêm quyền lực cho Quốc hội… Chỉ có việc sử dụng một cách hợp lý những nguồn tài nguyên của toàn thể liên minh, dưới sự lãnh đạo của một Hội đồng tối cao, với những quyền lực và sức mạnh cần thiết mới có thể giải thoát chúng ta khỏi cảnh áp bức và khốn khó như hiện nay, và đưa chúng ta trở thành những người hạnh phúc sau này.”5 Tuy nhiên, không thể bám theo tư duy cũ trong Các điều khoản hợp bang để xây dựng chế độ liên bang đã nói, bởi Hamilton đã
nhận xét: “những cảnh điêu linh thảm hại mà chúng ta đã phải trải qua không phải căn nguyên ở những lỗi lầm nhỏ nhặt hoặc sơ suất, nhưng chính là đã căn nguyên ở những lỗi lầm căn bản trong cơ cấu của chính tể, và cơ cấu đó không thể sửa chữa được ngoài cách thay đổi những nguyên tắc căn bản tức là những cột trụ nền móng của cơ cấu vậy.”6.Vì vậy, vào tháng 9 năm 1786, Hội nghị Annapolisđược tổ chức
để bàn việc tu sửa Các điều khoản hợp bang nhưng chỉ có năm đại biểu tham dựvà các đại biểu không có quyền gì ngoài thảo luận và kiến nghị lên Quốc hội Hợp bang, do đó, Hội nghị chẳng mang lại kết quả gì
Trang 12Như vậy, nền kinh tế trì trệ, đời sống chính trị phức tạp với các cuộc nổi dậy ngày càng nhiều trong khi Chính quyền liên bang lại quá yếu kém đã dẫn đến sự cần thiết phải xây dựng một chính quyền liên bang hùng mạnh để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng trầm trọng Đây chính là lý do quan trọng nhất để tổ chức Hội nghị lập hiến tại Philadelphia năm 1787
1.1.3 Hội nghị lập hiến 1787
Hội nghị lập hiến được tiến hành tại Philadelphia vào năm 1787 dưới hình thức thảo luận lần lượt từng mô hình chính quyền được đề xuất Về mặt nội dung, Hội nghị trải qua hai giai đoạn.Đầu tiên, các phương án về mô hình chính quyền quốc gia được đề xuất và tranh luận, bao gồm:
Phương án Virginia: Phương án này do Edmund Randolph, thống đốc bang Virginia đề xuất Nền tảng của mô hình chính quyền này chủ yếu do James Madison thiết kế, gồm ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp Các nhánh quyền lực có sự kiểm soát lẫn nhau Chính quyền liên bang có quyền phủ quyết mọi đạo luật của chính quyền tiểu bang
Phương án New Jersey: do William Paterson, đại biểu bang New Jersey đề xuất Phương án này chỉ là những sửa đổi đối với Các điều khoản hợp bang, cụ thể, cho phép Quốc hội có thêm quyền hạn trong việc tăng nguồn thu và điều hành vấn
đề thương mại
Phương án Hamilton: Phương án này do Alexander Hamilton đệ trình với đề xuất xây dựng một chính quyền tương tự như chính quyền Anh với một vị Tổng thống phục vụ suốt đời nếu có tư cách đạo đức tốt, có quyền phủ quyết tất cả các đạo luật; một Thượng viện với các thành viên phục vụ suốt đời và cơ quan lập pháp
có quyền thông qua “bất kỳ đạo luật nào”
Sau nhiều cuộc tranh luận gay gắt giữa các đại biểu, phương án Virginia đã được chọn làm nền tảng để xây dựng nên nhà nước liên bang mới Ngày 06 tháng 8 năm 1787, Bản phác thảo Hiến pháp đầu tiên đã được trình lên hội nghị và suốt một tháng sau đó, hội nghị tiếp tục tranh luận để chỉnh sửa câu chữ trong các điều khoản Đến ngày 17 tháng 9 năm 1787, lễ kí kết đã diễn ra với sự tham gia của 42 trong số 55 đại biểu tham dự Hội nghị
Mặc dù các đại biểu đã ký tên vào bản Hiến pháp nhưng để có hiệu lực, bản Hiến pháp cần nhận được sự phê chuẩn của 9 trong tổng số 13 bang Quá trình này diễn ra cũng phức tạp và cam go không kém quá trình diễn ra Hội nghị lập hiến Các chính trị gia và dân chúng khắp cả nước chia thành hai phe: phe chống đối Hiến pháp, chống đối chế độ liên bang và phe ủng hộ Hiến pháp, ủng hộ chế độ liên bang Đại diện cho những người ủng hộ liên bang là Madison, Hamilton và Jay, họ
Trang 13đã kêu gọi nhân dân ủng hộ Hiến pháp qua Tập văn thư nổi tiếng mang tên Người liên bang và tất cả đều cùng ký tên “Publius” Tập văn thư này đã góp phần không
nhỏ vào việc phê chuẩn Hiến pháp bởi nó giúp người dân Hoa Kỳ đi sâu vào tư tưởng và mục đích của những vị đại diện đã tham dự Hội nghị lập hiến, giúp cho họ hiểu rõ hơn quan niệm về Hiến pháp của các vị đại biểu đã dự thảo Hiến pháp Đến ngày 31 tháng 7 năm 1788, Bắc Carolina là tiểu bang cuối cùng, trừ Rhode Island,
đã phê chuẩn Hiến pháp, đánh dấu sự ra đời của một chính quyền liên bang vững mạnh cũng như sự ra đời của bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thời kỳ tư bản chủ nghĩa
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến pháp liên bang Hoa Kỳ
1.2.1 Sự ảnh hưởng của tư tưởng phân quyền
Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước là tổng thể các quan điểm về việc chia tách quyền lực nhà nước thành các loại quyền lực khác nhau, về cơ chế vận hành của từng loại quyền lực và mối quan hệ theo hướng kiềm chế, đối trọng giữa chúng trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước7 Tư tưởng này đã xuất hiện từ thời kỳ cổ đại trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước ở Hy Lạp, La Mã và trong
tư tưởng của nhà triết học vĩ đại Aristote.Theo đó,bộ máy nhà nước được chia thành
ba bộ phận lập pháp, hành pháp, xét xử và giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ
Tư tưởng phân quyền trong thời kỳ này chính là tiền đề để các nhà tư tưởng tiếp tục phát triển và thực hiện Mặc dù vào thời kỳ phong kiến, khi chế độ quân chủ chuyên chế chiếm ưu thế, toàn bộ quyền lực nhà nước do vua nắm giữ, tư tưởng này tỏ ra không phù hợp và dần dần bị lãng quên nhưng khi chế độ phong kiến đến giai đoạn thoái trào, mầm mống tư bản chủ nghĩa bắt đầu hình thành, các học thuyết dân chủ
tư sản lần lượt ra đời thì tư tưởng phân quyền được phục hưng và phát triển mạnh bởi các nhà tư tưởng như John Lock, Montesquieu, Rousseau, Emmanuel Kant, trong đó phải kể đến học thuyết phân quyền của John Locke và Montesquieu
Trong tác phẩm “Hai chuyên luận về chính quyền”, không chỉ trình bày về các loại quyền lực nhà nước, nội dung, phạm vi giới hạn của từng quyền, vị trí và mối quan hệ giữa chúng, John Locke cho rằng nên phân chia quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp và liên bang, do nhân dân trao cho nhà nước thông qua khế ước xã hội.Quyền lập pháp được trao cho ba chủ thể gồmNhà vua, Hội đồng quý tộc cha truyền con nối; Hội đồng của những người đại diện do nhân dân bầu ra
7
Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 20
Trang 14trong một thời gian nhất định.Quyền hành pháp trao cho nhà vua, phụ trách việc thực thi các đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành Ngoài hai quyền lập pháp và hành pháp, John Locke còn nhắc đến quyền lực liên banggồm quyền lực về chiến tranh và hòa bình, liên kết, liên minh, giao dịch với tất cả những người và cộng đồng bên ngoài nhà nước và quyền này cũng do nhà vua nắm giữ.Mặc dù ông chủ trương phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền lập pháp, hành pháp và liên bang nhưng ông vẫn coi quyền lập pháp là tối cao trong các loại quyền lực nhà nước Ngoài việc bàn vềphân chia quyền lực, John Locke còn đề cập đến sự giới hạn quyền lực Cụ thể, cơ quan lập pháp không được chuyên quyền đối với cuộc sống và vận mệnh của nhân dân, không được thống trị bằng những sắc lệnh ứng khẩu độc đoán ; nhà vua vẫn phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước quyền lập pháp tối cao, có thể bị thay đổi hoặc bị cách chức tùy theo ý muốn của quyền lập pháp; một điểm tiến bộ trong tư tưởng của John Locke đó là, ôngthừa nhận quyền sử dụng vũ lực của nhân dân chống lại chính quyền
Tóm lại, John Locke đã trình bày khá đầy đủ về cách thức tổ chức và hoạt động của hai cơ quan quan trọng là lập pháp và hành pháp, dự kiến những xung đột
có thể xảy ra giữa hai cơ quan này với nhau và giữa chúng với nhân dân, chỉ ra biện pháp giải quyết, đặc biệt, ông thừa nhận quyền khởi nghĩa vũ trang của nhân dân khi chính quyền xâm hại đến lợi ích của nhân dân
Sau “Hai chuyên luận về chính quyền” của John Locke, tư tưởng phân quyền cũng được thể hiện rõ trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu – một nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị Pháp thời kỳ khai sáng.Trong tác phẩm này, Montesquieu đã xây dựng nên học thuyết phân chia quyền lực dựa trên những
lý thuyết về các hình thức chính thể và mô hình tổ chức nhà nước ở Anh.Montesquieu chia quyền lực nhà nước thành ba loại có tên gọi, nội dung khác nhau và được trao cho các chủ thể khác nhau thực hiện Quyền lập pháp là quyền ban hành ra các đạo luật và sửa đổi hoặc hủy bỏ những đạo luật đã được làm ra, quyết định việc thu chi ngân sách Quyền này do Nghị viện, gồm có hai viện được thành lập bằng những cách thức khác nhau, thực hiện để đảm bảochúng sẽ ngăn chặn lẫn nhau, tránh việc ban hành các đạo luật một cách tùy tiện Quyền hành pháp
là bộ phận quyền lực thực thi pháp luật, cần hành động tức thời, vì vậy nên trao cho một cá nhân và theo Montesquieu, cá nhân đó là nhà vua.Loại quyền lực thứ ba là quyền tư pháp – quyền trừng phạt các tội phạm hoặc giải quyết các tranh chấp giữa các cá nhân Quyền này nên được thực hiện bởi những người được chọn ra từ nhân dân Lý do của sự phân chia quyền lực là để đảm bảo không có chuyên quyền, từ
đó, đảm bảo tự do của nhân dân Điểm mới trong tư tưởng phân chia quyền lực nhà
Trang 15nước của Montesquieu so với các tác giả trước đó là, ông đề cập đến cơ chế “quyền lực ngăn cản quyền lực” trong tổ chức bộ máy nhà nước Cụ thể, quyền hành pháp
phải có quyền ngăn chặn các dự định của quyền lập pháp, bởi vì: “Nếu quyền lực hành pháp không có quyền ngăn cản sự xâm lấn của cơ quan lập pháp thì sau đó,
cơ quan này sẽ trở nên chuyên quyền, vì nó có thể nhận xằng cho nó những quyền lực mà nó muốn, nó sẽ nhanh chóng tiêu diệt các quyền lực khác.” Tuy nhiên, lập
pháp chỉ có thể can thiệp vào hành pháp bằng quyền xem xét việc thực hiện các đạo luật trên thực tế và không có quyền truy tố nhà vua nếu luật lệ đã được ban hành không được áp dụng Ông lý giải rằng, nếu lập pháp kết án được nhà vua thì lập pháp sẽ trở nên chuyên chế Mặc dù không được truy tố nhà vua, lập pháp vẫn có quyềntruy tố các cộng sự của ông,bởi vì, các pháp quan này do dân chúng bầu lên thì dân chúng có quyền buộc các pháp quan phải giải thích những sự bất công mà
họ gây ra cho dân chúng
Tư tưởng của Montesquieu là sự kết hợp và kế thừa tư tưởng của những người đi trước, chủ yếu là tư tưởng của Aristote và John Locke Ông chủ trương cần phải có chính thể ôn hòa, có tinh thần yêu chuộng và tôn trọng tự do, chủ yếu là bảo
vệ tự do cá nhân của người dân mà để làm được điều này thì cần phân quyền và chia quyền theo cơ chế “quyền lực ngăn cản quyền lực”
Có thể thấy, Montesquieu là nhà tư tưởng trình bày về tư tưởng phân quyền đầy đủ và toàn diện nhất về mặt lý thuyết Trong cuộc đời mình, Montesquieu đã sống một thời gian tại Anh và Ý trước khi về Pháp và mất tại đây Chính những lý thuyết về hình thức chính thể cùng mô hình nhà nước Anh mà ông đã dựng nên học thuyết về sự phân chia quyền lực nhà nước.Tư tưởng của ông sau đó đã du nhập vào Hoa Kỳ thông qua quá trình cai trị của người Anh
Sau khi thoát khỏi sự cai trị của nước Anh, xây dựngHiến pháp Hợp chúng quốc, những nhà lập hiến Hoa Kỳvẫn chịu nhiều sự ảnh hưởng về mặt tư tưởng từ nước Anh, mà quan trọng nhất chính là học thuyết phân quyền của Montesquieu
Do đó, nguyên tắc phân quyền được thể hiện rõ nét trong tổ chức bộ máy nhà nước Hoa Kỳ.Cụ thể, quyền lập pháp được trao cho Nghị viện gồm có Thượng viện và
Hạ viện; quyền hành pháp tối cao do Tổng thống nắm giữ, Tổng thống đồng thời là nguyên thủ quốc gia và tổng chỉ huy quân đội; quyền tư pháp được trao cho Tòa án Giữa ba nhánh quyền có sự độc lập và kiềm chế, đối trọng lẫn nhau theo cơ chế
“quyền lực ngăn cản quyền lực”
1.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhánh quyền lập pháp
Trước khi quá trình di dân diễn ra, nước Mỹ chỉ có người da đỏ sinh sống, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và săn bắn thú rừng Khi Christopher tìm
Trang 16ra châu Mỹ vào năm 1492 đã đánh dấu sự bắt đầu quá trình di dân từ các nước châu
Âu, trong đó có cả người Anh Trong suốt thời kỳ thuộc địa, những người dân Anh đến định cư ở Bắc Mỹ đã xây dựng nên một nền kinh tế tự do, thậm chí phát triển hơn cả một số vùng trên thế giới Tuy nhiên, xuất phát từ sự khác nhau về vị trí địa
lý, điều kiện tự nhiên, xã hội nênmỗi thuộc địa lại phát triển nền kinh tế độc lập với các thuộc địa còn lại
Bên cạnh đó, từ lâu trước khi độc lập được tuyên bố, các thuộc địa đã là những thực thể hoạt động như những đơn vị chính quyền, đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân Và sau ngày bắt đầu Cách mạng, từ 01/01/1776 đến 20/4/1777, 10 trong
số 13 bang đã thông qua hiến pháp riêng của mình8 Hầu hết các bang đã có cơ quan lập pháp riêng, do nhân dân bầu ra
Vì vậy, trước khi xây dựng Hiến pháp, mười ba bang ở Mỹđều độc lập với nhau cả về kinh tế lẫn chính trị.Khi tiến hành soạn thảo Hiến pháp liên bang, đã xảy
ra sự mâu thuẫngiữa các bang lớn, đông dân, có kinh tế phát triển và những bang nhỏ với số dân ít, nền kinh tế chậm phát triển hơn, về quyền đại diện trong Nghị viện.Các bang lớn đã ủng hộ phương án Virginia, yêu cầu đại diện được bầu ra trên
cơ sở số dân và tiền thuế Yêu cầu này vấp phải sự phản đối từ các bang nhỏ, với
lập luận: “Vì thế, nếu các tiểu bang đại diện theo tỷ lệ dân số, thì dù những đại biểu này được cơ quan lập pháp tiểu bang hay dân chúng bầu chọn, cũng chẳng khác gì nhau Các bang nhỏ sẽ bị nô lệ hóa và phụ thuộc vào các bang lớn”9 Trong khi đó, các bang nhỏ lại ủng hộ phương án New Jersey với mong muốn tất cả các bang đều
có số đại biểu như nhau Đòi hỏi này tất nhiên bị các bang lớn bác bỏ vì lo ngại chính họ sẽ phải gánh chịu những gánh nặng nợ nần của các bang nhỏ trong trường hợp các bang nhỏ giành được đa số phiếu
Sau nhiều ngày tranh luận, các đại biểu đã đưa ra giải pháp dung hòa, gọi là
Đề xuất Connecticut hay Đại thỏa hiệp Cụ thể, Nghị viện Mỹ được tổ chức thành hai viện với phương thức bầu cử khác nhau, trong đó, Hạ viện được bầu theo tỷ lệ dân số, Thượng viện được bầu với số đại biểu như nhau ở các bang.Cách thức này vừa đảm bảo các bang đều bình đẳng với nhau, không phân biệt lớn nhỏ, đồng thời đảm bảo quyền lợi về mặt kinh tế của các bang lớn
Bên cạnh đó, việc tổ chức Nghị viện thành hai viện cũng xuất phát từ sự ảnh hưởng tư tưởng từ nước Anh Trong tổ chức bộ máy nhà nước Anh, Nghị viện cũng gồm có hai viện là Viện Bình dân - được hình thành bằng con đường bầu cử và
Trang 17Viện Quý tộc - được cha truyền con nối Một đạo luật muốn được ban hành cần phải được thông qua ở cả hai viện Khi mười ba thuộc địa Anh ở châu Mỹ giành được độc lập, cái mà họ muốn gạt bỏ chính là sự lệ thuộc vào nước Anh chứ không phải
là chế độ chính trị của mẫu quốc10 Vì vậy, các nhà lập hiến đã đưa ra phương án tổ chức Nghị viện theo cơ cấu lưỡng viện với lập luận rằng nếu cả hai nhóm riêng biệt – một nhóm đại diện cho chính quyền các bang, một nhóm đại diện cho dân chúng - đều phải phê chuẩn mọi luật dự thảo, thì sẽ không còn nguy cơ Nghị viện thông qua các dự luật một cách vội vã, thiếu cẩn trọng Viện này có thể thường xuyên kiểm tra viện kia, theo như cách làm của Nghị viện Anh
1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhánh quyền hành pháp
Sau khi đã đạt được sự thống nhất về quyền đại diện trong Nghị viện, các nhà lập hiến lại tiếp tục thảo luận, xây dựng chế định Tổng thống Hoa Kỳ Việc lập
ra một vị tổng thống đầy quyền lực cũng đã gây nên những cuộc tranh cãi trong Hội nghị Lập hiến
Như đã nói, vào thế kỷ XV – XVI, một bộ phận lớn người Anh đã di cư sang các thuộc địa ở châu Mỹ và trong đó có phần lớn các quý tộc Anh Những quý tộc này chịu ảnh hưởng nhiều về mặt tư tưởng từ nước Anh, gồm hai khuynh hướng: tư tưởng chính trị đại tư sản, chủ đồn điền, đại diện là Hamilton và tư tưởng chính trị tiến bộ của phái dân chủ cách mạng tiểu tư sản, đại diện là Thomas Jefferson Giữa hai trường pháp này có sự mâu thuẫn nhau trong quan điểmvề chế độ Nhà nước
Mục tiêu của Hamilton là xây dựng một chính quyền hiệu quả, nhưng
Jefferson lại nói: “Tôi không phải là người ủng hộ một chính phủ quá nhiệt huyết”
Trong khi Hamilton lo sợ tình trạng vô chính phủ và luôn muốn đảm bảo an ninh, trật tự thì Hamilton lại lo sợ tình trạng chuyên chế và luôn suy nghĩ đảm bảo quyền
tự do Nếu Hamilton coi nước Anh là hình mẫu thì Jefferson coi việc lật đổ chế độ quân chủ ở Pháp là hiện thân của những lý tưởng tự do thời kỳ Khai sáng Trái với bản năng bảo thủ của Hamilton, Jefferson thiên về chủ nghĩa cấp tiến dân chủ Chính sự khác nhau này đã dẫn đến những cuộc tranh luận gay gắt tại Hội nghị lập hiến về mô hinh chính phủ
Alexander Hamilton chủ trương xây dựng một ngành hành pháp mạnh, bảo
vệ nền quân chủ lập hiến tương tự như mô hình tổ chức bộ máy nhà nước Anh Tuy nhiên, do không được chấp nhận, ông lại đòi hỏi thiết lập một vị Tổng thống mang dáng dấp Anh hoàng với nhiệm kỳ suốt đời và thẩm quyền vô hạn Tư tưởng của
10
Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một
số nước, Nxb Tư pháp, Hà Nội
Trang 18Hamilton về chế độ nhà nước như trên vấp phải sự phản đối từ Jefferson, với chủ trương xây dựng nền cộng hòa dân chủ nông dân, trong đó, nhân dân có quyền tham gia vào việc điều hành các công việc Nhà nước thông qua đại diện của mình Các quan chức nhà nước đều do nhân dân bầu ra, làm việc theo nhiệm kỳ và có thể bị nhân dân kiểm tra
Trong khihai trường phái vẫn còn đang tranh cãi về quyền hạn của Tổng thống thì tại Hội nghị,nhiều đại biểu vẫn còn nhức nhối trước tình trạng Vương triều nước Anh nắm trong tay quá nhiều quyền hành pháp, nên rất dè dặt đối với một chức vụ Tổng thống nhiều thế lực Do đó, đại biểu Benjamin Franklin đã yêu cầu Hoa Kỳ áp dụng một chế độ tương tự như Thụy Sĩ, với quyền hành pháp được trao cho một hội đồng gồm nhiều thành viên Không riêng Thụy Sĩ, mô hình này cũng được áp dụng tại một số bang ở Hoa Kỳ và đạt được nhiều thành công
Sau nhiều cuộc tranh luận, các nhà lập hiến đã tiến tới việc thiết lập nền cộng hòa với một ngành hành pháp mạnh, đứng đầu là Tổng thống Chế định Tổng thống
có nét tương đồng với hình ảnh vua Anh thời kỳ trước Cách mạng tư sản, trực tiếp nắm quyền hành pháp, quyết định các vấn đề liên quan đến điều hành, quản lý đất nước đồng thời là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Nhưng khác với Anh hoàng được cha truyền con nối, Tổng thống Hoa Kỳ do nhân dân bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm do đó, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân,nhằm tránh tình trạng Tổng thống chuyên quyền, biến nền cộng hòa liên bang mà các nhà lập hiến cất công xây dựng thành chế độ độc tài chuyên chế như chính quyền “bàn tay sắt” của Cromwell
1.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhánh quyền tư pháp
Sau khi đã xây dựng được mô hình lập pháp và hành pháp, nhánh quyền lực cuối cùng mà các nhà lập hiến hướng tới là tư pháp và sẽ giao cho Tòa án nắm giữ Tòa án thực hiện quyền tư pháp thông qua hoạt động của các Thẩm phán Do đó, để đảm bảo sự độc lập giữa tư pháp với lập pháp và hành pháp theo nguyên tắc phân chia quyền lực thì điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo sự độc lập của các Thẩm phán Trong quá trình thảo luận về cách thức bầu chọn Thẩm phán, một số nhà lập hiến cho rằng các thẩm phán sẽ do Tổng thống lựa chọn thay vì Thượng viện, với lý
do, Thượng viện được chọn ra trên cơ sở bình đẳng giữa các tiểu bang trong khi các phán quyết của Tòa án thường xuyên có mối liên hệ lợi ích với các bang, vì vậy, nếu để Thượng viện lựa chọn Thẩm phán sẽ tạo nên sự phụ thuộc giữa Thẩm phán với Thượng viện, với các tiểu bang Bên cạnh đó, Tổng thống lại là người trực tiếp quản lý, điều hành đất nước, làm việc với tất cả các vùng đất trên lãnh thổ nước Mỹ,
do đó, Tổng thống sẽ có được những thông tin cần thiết về ứng cử viên thích hợp
Trang 19cho vị trí Thẩm phán hơn là các Nghị sĩ chỉ đại diện cho một tiểu bang nhất định trong Thượng viện
Đối lập với quan điểm trên, một số nhà lập hiến lại chủ trương trao quyền lựa chọn tuyệt đối cho Thượng viện vì họ e ngại rằng, nếu giao cho Tổng thống, vốn đã
có rất nhiều quyền năng, quyền lựa chọn các Thẩm phán Tối cao pháp viện chỉ làm tăng ảnh hưởng của ông ta, điều này có thể vấp phải sự phản đối từ quần chúng nhân dân Cả hai đề xuất này đều không được đa số các nhà lập hiến tán thành, tuy nhiên, khi bản phác thảo Hiến pháp được hoàn thiện và đưa ra tranh luận, thì Hội nghị lại tán thành cho phép Tổng thống có quyền bổ nhiệm Thẩm phán nhưng với
sự phê chuẩn của Thượng viện
Tóm lại, quá trình soạn thảo Hiến pháp liên bang, cụ thể là xây dựng nên mô hình chính quyền với ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp do ba cơ quan khác nhau nắm giữ, là quá trình cực kỳ khó khăn Các chế định Nghị viện, Tổng thống, Tối cao pháp viện được tạo nên từ sự mâu thuẫn gay gắt giữa các bang độc lập cũng như giữa các nhà lập hiến với tư tưởng chính trị khác nhau, cụ thể là giữa khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng đại tư sản, chủ đồn điền Nhưng điểm chung đó chính lànhững tư tưởng này đều chịu ảnh hưởng từ nước Anh, từ những ngày đầu của quá trình di dân cũng như trong suốt quá trình cai trị
1.3 Nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước Hoa Kỳ theo quy định của Hiến pháp
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo có tính then chốt (xuất phát điểm), thể hiện bản chất, nội dung, ý nghĩa, mục tiêu và nhiệm vụ của nhà nước, tạo cơ sở cho việc tổ chức và triển khai các hoạt động của bộ máy nhà nước11.Như đã trình bày, Hoa Kỳ áp dụng triệt để và thành công học thuyết phân quyền của Montesquieu, do đó, nguyên tắc phân quyền được xem là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nhưng Hoa Kỳ lại là nhà nước liên bang nên bên cạnh
sự phân quyền theo chiều ngang giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, bộ máy nhà nước Hoa Kỳ còn phân quyền theo chiều dọc giữa các cơ quan nhà nước ở liên bang với cơ quan nhà nước ở tiểu bang.Theo quy định của Hiến pháp liên bang,
bộ máy nhà nước Hoa Kỳ được tổ chức theo những nguyên tắc sau đây:
11Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.45
Trang 201.3.1 Quyền lực Nhà nước được chia thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau
Hoa Kỳ là quốc gia áp dụng học thuyết phân quyền một cách triệt để nhất, theo đó, quyền lực nhà nước được phân thành lập pháp, hành pháp, tư pháp, giao cho ba cơ quan khác nhau là Nghị viện, Tổng thống và Tối cao pháp viện nắm giữ
Ba nhánh quyền lực này có sự độc lập với nhau, thể hiện trong cả cách thức hình thành, hoạt động và vai trò của từng nhánh quyền lực trong việc thực hiện quyền lực nhà nước nói chung
Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện, gồm có Thượng viện và Hạ viện12.Nhằm dung hòa lợi ích giữa các bang lớn và bang nhỏ với điều kiện địa lý, dân số và sự phát triển kinh tế khác nhau, Nghị viện Mỹ chia thành Thượng viện - gồm các Nghị sĩ được lựa chọn theo tỷ lệ bằng nhau, không phân biệt bang lớn hay bang nhỏ, và Hạ viện – gồm các Nghị sĩ được lựa chọn dựa theo số dân Bên cạnh
đó, cơ chế lưỡng việngiúp hạn chế tình trạng Nghị viện ban hành luật cẩu thả, hấp tấp, không đảm bảo được quyền lợi cho nhân dân, bởi vì để trở thành luật, một dự luật cần phải được thông qua ở cả hai viện
Quyền hành pháp thuộc về Tổng thốngHợp chúng quốc13 Quyền hành pháp bao gồm quyền thực thi các chính sách, pháp luậtvào thực tế cuộc sống và quyền ban hành các văn bản dưới luật theo thẩm quyền
Quyền tư pháp ở Hợp chúng quốc được trao cho Tối cao pháp viện và cho những tòa án cấp dưới do Quốc hội thành lập, theo sự cần thiết14 Trong ba nhánh quyền lực thì tư pháp được coi là nhánh quyền độc lập hơn cả, đây không chỉ là cơ quan giải quyết tranh chấp, bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích của con người, mà riêng ở Hoa Kỳ, Tòa án còn có quyền giải thích pháp luật và là
cơ quan bảo vệ Hiến pháp
Ngoài ra, sự độc lập giữa ba nhánh quyền còn thể hiện trong sự không chung thành viên, có nghĩa là một người không thể vừa là Nghị sĩ, vừa là thành viên Chính phủ hoặc là Thẩm phán, điều này đảm bảo các cơ quan không thể gây ảnh hưởng, điều khiển lẫn nhau thông qua các thành viên kiêm nhiệm Ngược lại, các thành viên cũng không bị tác động từ phía các cơ quan khác nhau, gây mất tập trung trong
quá trình làm việc.Madison đã nói: “Nếu nguyên tắc đó được tuân theo một cách triệt để, thì sự bổ nhậm nhân viên trong ba ngành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, sẽ hoàn toàn căn bản trên một hệ thống chung, tức là do sự chọn lựa của dân
12 Khoản 1 Điều I Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
13
Khoản 1 Điều II Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
14 Khoản 1 Điều III Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
Trang 21chúng, nhưng mỗi ngành theo một đường lối riêng biệt, không phải phụ thuộc cùng nhau.” Như vậy, để các thành viên hoàn toàn độc lập với nhau thì việc bổ nhiệm
các thành viên này tốt nhất là bằng con đường bầu cử Tuy nhiên vẫncó ngoại lệ, đó
là trường hợp bổ nhiệm nhân viên ngành tư pháp, “Chẳng hạn như trong ngành tư pháp, chúng ta không nên theo quá sát nguyên tắc lý thuyết e rằng trên phương diện thực tế sẽ bất lợi Trước hết, bởi vì nhân viên của ngành này cần phải có những điều kiện tài đức và chuyên nghiệp đặc biệt, vậy cần phải áp dụng một phương pháp chọn lựa nhân viên sao cho có được những nhân viên có đầy đủ các điều kiện đòi hỏi Sau nữa, bởi vì kì hạn đảm nhận chức vụ của các nhân viên sau khi được
bổ nhậm sẽ hết phụ thuộc vào những người hoặc cơ quan đã giao phó chức vụ cho họ.” Chính vì vậy, ở Hoa Kỳ, Nghị viện và Tổng thống do nhân dân chọn lựa
thông qua bầu cử nhưng các Thẩm phánTối cao pháp viện lại được bổ nhiệm bởi Tổng thống với sự phê chuẩn của Nghị viện
Các cơ quan thực hiện các hoạt động trong phạm vi quyền lực mình nắm giữ, tạo nên sự chuyên môn hóa trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước
1.3.2 Các nhánh quyền lực có sự phối hợp với nhau trong quá trình hoạt động
Quyền lực nhà nước là thống nhất,do đó,mục đích hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng phải thống nhấtnhưng để làm được điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽgiữa các cơ quan với nhau Như đã phân tích, quyền lực nhà nước ở Hoa Kỳ được chia thành ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp do cho ba cơ quan độc lập nắm giữ.Vì lẽ đó, các cơ quan phải phối hợp với nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ của từng cơ quan cũng như nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước
Phối hợp là sự hỗ trợ lẫn nhau để cùng thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan nhà nước15 Nghị viện nắm quyền lập pháp nhưng mục đích ban hành ra luật chính là để những luật này được thực hiện trên thực tế, do đó, cần dựa vào quyền hành pháp của Tổng thống Trong quá trình thi hành luật không thể tránh khỏi những tranh chấp, những hành vi vi phạm cần được xét xử, giải quyết, điều này lại phải dựa vào quyền tư pháp của Tòa án Thông qua sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, các nhánh quyền có thể kiểm soát lẫn nhau đồng thời hạn chế được sự xung đột quyền lực Cụ thể, pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước này đảm nhận một phần công việc mang tính trợ giúp cho công việc thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước khác
15 Nguyễn Minh Đoan (2007), “Nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,(229), tr 7
Trang 22khi có cơ sở cho rằng cơ quan trợ giúp có điều kiện thực hiện phần công việc đó một cách tốt hơn và hiệu quả hơn cơ quan được trợ giúp, tuy nhiên, cơ quan nắm giữ quyền lực vẫn sẽ thực hiện phần căn bản của quyền lực, các cơ quan khác chỉ giúp đỡ thực hiện phần không căn bản Ví dụ, Nghị viện có quyền ban hành luật vàTổng thống, bằng quyền sáng kiến lập pháp của mình, có thể trình một dự luật lên
để Nghị viện xem xét, bởi vì Tổng thống chính là người triển khai pháp luật trên thực tế nên sẽ hiểu được những vấn đề mới cần sự điều chỉnh của pháp luật cũng như những dự luật lỗi thời cần sửa đổi, bổ sung, nhưng phải khẳng định rằng, quyền lập pháp vẫn thuộc về Nghị viện, Tổng thống chỉ phối hợp với Nghị viện trong việc thực hiện quyền lập pháp mà thôi
Như vậy, mặc dù quyền lực nhà nước được chia thành ba nhánh và giao cho các chủ thể độc lập với nhau nắm giữ, nhưng sự độc lập này chỉ mang tính tương đối Sự phân quyền thực chất chỉ phân chia về mặt nội dung của quyền lực, chủ thể cuối cùng nắm giữ quyền lực vẫn là nhân dân.Mỗi nhánh quyền là một bộ phận trong một thể thống nhất, chính vì vậy, chúng luôn có mối liên hệ qua lại Hành pháp khi thực hiện công tác quản lý, điều hành và tư pháp thực hiện chức năng xét
xử đều phải dựa trên pháp luật do lập pháp ban hành; các bản án của tư pháp lại được thực hiện bởi hành pháp; các đạo luật do lập pháp ban hành đa phần khởi nguồn từ sáng kiến của hành pháp Nếu lập pháp ban hành các đạo luật kém chất lượng thì việc thực hiện các đạo luật đó đối với cơ quan hành pháp sẽ rất khó khăn Nếu cơ quan hành pháp không thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì dù hoạt động lập pháp có tốt đến đâu, pháp luật cũng không có khả năng đi vào đời sống thực tiễn Các cơ quan tư pháp nếu không xét xử nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật thì pháp luật sẽ không được người dân tôn trọng thực hiện16
1.3.3 Các nhánh quyền lực luôn kiểm soátlẫn nhau trong quá trình hoạt động
Kiềm chế và đối trọng là tập hợp các quyền và trách nhiệm do pháp luật quy định làm cơ sở để các nhánh quyền lực thực hiện kiểm soát lẫn nhau17 Sự kiềm chế đối trọng tạo nên mối quan hệ chính trị - pháp lý giữa các nhánh quyền lực sao cho các nhánh đó có thể độc lập thực thi nhiệm vụ đồng thời có thể ngăn chặn sự lạm quyền của một trong hai nhánh còn lại, chính vì vậy, giữa các nhánh quyền lực không hoàn toàn độc lập, tách biệt với nhau mà vẫn có sự liên hệ, tác động qua lại
16 Trần Thị Khôi Nguyên (2014), Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Hoa Kỳ, Luận văn tốt nghiệp
17
Phạm Thế Lực (2008), “Ý nghĩa của lý thuyết phân quyền trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
ở Việt Nam hiện nay”, Nghiên cứu lập pháp, (127), tr.(19)
Trang 23lẫn nhau Trong đó, kiềm chế tạo nên sự kiểm tra giữa các nhánh quyền đảm bảo các cơ quan tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật; đối trọng tạo nên
sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực, không để cơ quan nào tập trung quyền lực quá mức, dẫn đến lạm dụng quyền lực
Sự kiềm chế, đối trọng giữa các nhánh quyền lực được thể hiện qua việc: lập pháp ban hành luật, giám sát việc thực hiện các đạo luật do nó ban hành và truy tố quan chức bộ máy hành pháp khi họ vi phạm trách nhiệm; hành pháp có nhiệm vụ thực thi pháp luật, ngăn chặn những dự định tùy tiện của cơ quan lập pháp; sự độc lập của cơ quan tư pháp và các quan tòa nhằm bảo vệ công dân khỏi sự xâm hại bởi những đạo luật của cơ quan lập pháp cũng như hành vi tùy tiện của cơ quan hành pháp
Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện – gồm những người do nhân dân chọn lựa thông qua bầu cử, nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân, do đó, Nghị viện
có quyền lực rất lớn Quyền lực càng lớn thì nguy cơ lạm quyền càng cao, vì vậy, cần có sự kiềm chế bởi hai nhánh quyền còn lại, thể hiện ở việc Tổng thống có quyền phủ quyết các dự luật của Nghị viện, Tòa án thông qua quyền giải thích pháp luật và tài phán Hiến pháp, có quyền tuyên bố một đạo luật nào đó là vô hiệu hoặc
ra phán quyết hủy bỏ đạo luật đó.Sự kiềm chế, đối trọng giữa hành pháp và tư pháp với lập pháp đều nhằm đảm bảo các đạo luật được ban hành thật sự có hiệu quả, bảo
vệ được quyền lợi của nhân dân đồng thời không vi hiến
Hoa Kỳ theo hình thức liên bang, chính vì vậy cần có một chính phủ có uy
quyền để chỉ huy “Nhận xét trong mọi khía cạnh sẽ làm chúng ta nhận định rõ ràng rằng nếu không giao phó cho chính phủ liên bang những quyền lực vô giới hạn để thi hành những nhiệm vụ mà chúng ta giao phó cho chính phủ thì quả thật là vừa thiếu khôn ngoan lại vừa thiếu an toàn.” 18 Chính phủ là cơ quan có nhiệm vụ quản lý đất nước, nắm trong tay quyền lực lớn cộng với việc Tổng thống do nhân dân gián tiếp bầu ra thông qua các đại cử tri, nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân, nên hành pháp có nguy cơ lạm dụng quyền lực hơn cả Để kiểm soát quyền lực của Chính phủ, cần có sự đối trọng quyền lực từ hai nhánh quyền còn lại là lập pháp và hành pháp
Như đã nói, tư pháp là nhánh quyền độc lập hơn cả vì không chịu sự ảnh hưởng từ bất cứ chủ thể nào Tòa án có nhiệm vụ giải quyết tranh chấp, đảm bảo công bằng, nhưng không thể nói Tòa án không bao giờ hành xử vượt quá thẩm quyền Do đặc thù của hoạt động tư pháp luôn đề cao tính độc lập, bên cạnh đó,
18 Hamilton, Madison và Jay (1959), Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ, Nxb.Sài Gòn, Sài Gòn, tr.49
Trang 24Thẩm phán có nhiệm kỳ lâu dài, ít chịu sự tác động từ bên ngoài, nênsự kiểm soát quyền lực từ nhánh quyền lập pháp và hành pháp chỉ dừng lại ở khía cạnh nhân sự
và truy cứu trách nhiệm, tránh việc can thiệp quá sâu của nhánh lập pháp và hành pháp vào hoạt động xét xử của Tòa án
1.3.4 Nhà nước được tổ chức theo hình thức liên bang, các bang bình đẳng, có sự phân quyền giữa liên bang và tiểu bang
Bên cạnh sự phân quyền theo chiều ngang, thể hiện ở việc phân chia quyền quyền lực giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương thì bộ máy nhà nước Hoa Kỳ còn phân chia quyền lực theo chiều dọc giữa chính quyền trung ương và chính quyền tiểu bang
Xuất phát từ sự yếu kém của chính quyền hợp bang, trong Hội nghị lập hiến tại Philadelphia, các nhà lập hiến đã chủ trương xây dựngchính quyền liên bang, nhằm ổn định tình hình trong nước, tăng cường sức mạnh trên chính trường quốc tế Ban đầu, tư tưởng xây dựng nền cộng hòa vấp phải sự phản đối từ những người theo chủ trương phản liên bang, nhưng cuối cùng bản Hiến pháp vẫn được thông qua, làm nền tảng để xây dựng nên Hợp chúng quốcHoa Kỳ với thể chế cộng hòa liên bang
Montesquieu nhận định rằng hình thức Nhà nước cộng hòa cũng hợp lý như hình thức quân chủ19.“Rất có thể là nhân loại sẽ phải tiếp tục sống mãi mãi dưới sự trị vì của một người độc nhất nếu họ không nghĩ ra được một chính thể có tất cả những lợi điểm quốc nội của một chế độ cộng hòa đồng thời lại có tất cả những lợi điểm đối ngoại của một chế độ quân chủ Đó là chính thể cộng hòa liên bang.” 20.Ông còn nêu ra những ưu điểm của việc xây dựng nền cộng hòa liên bang
“Một nền cộng hòa như vậy sẽ có khả năng đương đầu với một lực lượng ngoại bang, và đồng thời lại có khả năng ngăn chặn một tình trạng tan rã và nhũng nhiễu trong nước Một chính quyền như vậy loại trừ được tất cả những điểm bất lợi cho quốc gia đó.” 21.Việc xây dựng chính quyền liên bang, mặc dù đã hạn chế một số quyền hạn của tiểu bang nhưng không đồng nghĩa với việc bãi bỏ chính quyền các
tiểu bang Bởi vì, Hamilton cho rằng việc thành lập chính quyền liên bang là “một
sự kết hợp không toàn phần của các tiểu bang trong liên bang”, các tiểu bang
không trao hết tất cả quyền lực của mình cho chính quyền liên bang, trừ các trường hợp do Hiến pháp quy địnhvà việc sử dụng quyền đó sẽ trái ngược hoặc không thích hợp đối với Hiến pháp, hoặc cấm hẳn việc sử dụng các quyền đó của tiểu bang.Bên
19Đinh Văn Mậu - Phạm Hồng Thái (1997), Lịch sử các học thuyết chính trị - pháp lý, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.87
20
Hamilton, Madison và Jay (1959), Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ, Nxb.Sài Gòn, Sài Gòn, tr.32
21 Sđd, tr.32
Trang 25cạnh đó, chính quyền tiểu bang vẫn nắm giữ một số quyền lực đặc biệt và quan trọng
Như vậy, cộng hòa liên bang chỉ có một nghĩa rất giản dị là “sự kết hợp của nhiều xã hội”, hay sự kết hợp của hai hoặc nhiều nước thành một nước22.Các tiểu bang đều được coi là một bộ phận của chủ quyền quốc gia, được đại diện trực tiếp trong Thượng viện, thể hiện rõ sự bình đẳng giữa các tiểu bang với nhau Các tiểu bang dù diện tích lớn hay nhỏ, dân số đông hay thưa, kinh tế phát triển mạnh hay yếu, đóng góp cho quốc gia nhiều hay ít đều có số đại biểu như nhau trong Thượng viện Vì Hạ viện Mỹ được thành lập theo quy mô dân số, điều này có thể dẫn đến nguy cơ các bang lớn sẽ bỏ qua quyền lợi của các bang nhỏ Do đó, việc các bang
có số đại biểu ngang nhau ở Thượng viện Mỹ được coi là sự thỏa hiệp giữa các bang, bảo đảm các quyền lợi của bang nhỏ không bị các bang lớn chèn ép trong hoạt động lập pháp
Hiến pháp liên bang đã đưa ra giải pháp thích hợp về sự phân quyền giữa chính quyền liên bang và chính quyền tiểu bang như sau: những quyền lợi lớn lao,
có tính cách toàn quốc thì được giao phó cho chính phủ trung ương liên bang, còn những quyền lợi địa phương thì được giao phó cho các chính phủ tiểu bang23 Nhằm tránh tình trạng can thiệp quá sâu vào những vấn đề thuộc thẩm quyền của chính quyền tiểu bang thì cần phải giới hạn các quyền của chính quyền liên bang, cụ thể là bằng các quy định tại Điều I, II, III của Hiến pháp Ngược lại,để thuận lợi cho chính quyền liên bang hoạt động thì cần hạn chế một số quyền của tiểu bang như: không được quyền gia nhập một điều ước, một liên minh hay liên hiệp nào; không được ban hành chứng thư trưng dụng của cải để trả thù trong thời chiến mà không có sự cho phép của chính phủ liên bang; không được quyền ban hành tiền tệ để tránh trường hợp mỗi bang có một đồng tiền riêng, làm cho đồng tiền mất giá dẫn đến nạn lạm phát tương tự như thời kỳ Chính phủ hợp bang; các tiểu bang không được ban hành tín dụng chứng phiếu, quy định này của tiểu bang gắn liền với việc cấm các tiểu bang phát hành tiền tệ; cấm các tiểu bang ban hành các đạo luật làm tổn hại đến quyền tự do của tư nhân, hoặc có hiệu lực hồi tố, hoặc tổn hại đến sự thi hành các hợp đồng; trong lĩnh vực thuế má, các tiểu bang không có quyền đánh thuế về nhập cảng và xuất cảng nếu không có sự đồng ý của Nghị viện, trừ những trường hợp cần thiết và số tiền thuế thu được sẽ thuộc về ngân khố của chính phủ liên bang; không
có quyền đánh thuế về thuyền, duy trì quân đội hoặc chiến thuyền trong thời bình,
ký kết thỏa hiệp với tiểu bang khác hoặc quốc gia khác, tham chiến trừ trường hợp
22 Sđd, tr34-35
23Hamilton, Madison và Jay (1959), Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ, Nxb.Sài Gòn, Sài Gòn, tr.43
Trang 26bị xâm chiếm hoặc tình trạng khẩn cấp; tất cả các đạo luật về thuế của tiểu bang phải nằm dưới sự kiểm soát của Nghị viện
Tóm lại, Điều IV Hiến pháp Hợp chúng quốc và Tu chính án thứ X đã ghi nhận sự phân quyền giữa liên bang và tiểu bang theo nguyên tắc “các tiểu bang vẫn được giữ lại tất cả những quyền lực mà trước kia tiểu bang vẫn có, nếu trong Hiến pháp không ghi rõ là thuộc về chính phủ liên bang” Mặc dù Hiến pháp không quy định rõ những quyền cụ thể nào phải ủy lại cho chính phủ liên bang nhưng nhìn chung, sự ủy quyền xảy ra trong ba trường hợp:
Thứ nhất, khi Hiến pháp quy định rõ ràng rằng quyền lực đó thuộc về chính
phủ liên bang Ví dụ, đoạn 17 Khoản 8 Điều I quy định Nghị viện có toàn quyền cai trị khu vực không quá mười dặm vuông được chỉ định làm địa điểm của chính phủ liên bang
Thứ hai, Hiến pháp quy định một quyền thuộc về liên bang và cấm tiểu bang
không được sử dụng quyền đó Ví dụ, đoạn 1 Khoản 8 Điều I quy định Quốc hội liên bang có quyền đặt ra và thu các khoản thuế, đồng thời đoạn 2 Khoản 10 Điều I cấm các tiểu bang không được đặt ra thuế nếu không được sự đồng ý của Quốc hội liên bang
Thứ ba, một quyền lực được Hiến pháp quy định phải ủy lại cho liên bang và
việc tiểu bang sử dụng quyền này sẽ không thích hợp hoặc trái ngược với Hiến pháp Ví dụ, đoạn 4 Khoản 8 Điều I quy định Nghị viện có quyền thiết lập quy tắc đồng nhất về việc nhập tịch Hiến pháp không có quy định khác thể hiện việc cấm tiểu bang ban hành quy tắc về nhập tịch, nhưng trên thực tế, nếu tiểu bang nào cũng đặt ra một quy chế riêng thì không thể có một quy chế đồng nhất trên toàn quốc và điều này không thích hợp với quy định trên của Hiến pháp
Việc quy định về sự phân quyền giữa liên bang và tiểu bang trong Hiến pháp, một mặt, củng cố quyền lực của chính quyền liên bang, tránh tình trạng Quốc hội yếu kém thời kỳ liên hiệp mười ba bang thuộc địa, mặt khác, khẳng định sự độc lập của chính quyền tiểu bang Tính tối cao của Hiến pháp càng làm cho sự phân quyền này thêm vững chắc, khó bị thay đổi trên thực tế
Ngoài ra, trong quan hệ với chính quyền tiểu bang, chính quyền liên bang có
vị thế cao hơn, thể hiện ở khoản 2 Điều VI Hiến pháp: “Hiến pháp này, cũng như các đạo luật của Hợp chúng quốc, sẽ được thảo ra căn cứ vào Hiến pháp này, và các hiệp ước đã hoặc sẽ được ký kết, dưới quyền lực của Hợp chúng quốc, sẽ là pháp luật tối cao của một quốc gia; và tất cả các vị chánh án tại tất cả các tiểu bang phải tuân theo luật pháp tối cao này; dù Hiến pháp hoặc luật của bất cứ một tiểu bang nào trái ngược lại cũng vậy.” Hiến pháp và pháp luật của các bang có
Trang 27tính chất ràng buộc đối với bang đó nhưng không được trái với Hiến pháp và pháp luật liên bang Các quyết định của cơ quan hành pháp tiểu bang chỉ có hiệu lực trong phạm vi bang và phải tuân thủ quyết định của cơ quan hành pháp liên bang Tương tự trong hoạt động tư pháp, các vị thẩm phán chỉ có quyền xét xử chủ yếu trong phạm vi bang, tôn trọng và tuân thủ cả pháp luật tiểu bang lẫn pháp luật liên bang
Mặc dù hình thức cấu trúc nhà nước liên bang không phải quá xa lạ với thế giới, bởi trước đó, thời Hy Lạp cổ đại cũng từng biết biết đến những nhà nước theo hình thức này, nhưng Hoa Kỳ đã tạo nên sự đột phá khi quy định về sự phân quyền giữa liên bang và tiểu bang đồng thời vẫn tôn trọng chủ quyền của các bang.Mỗi bang đều có Hiến pháp cũng như bộ máy nhà nước riêng, có những nhiệm vụ và quyền hạn riêng rẽ nhưng phải tuân thủ theo quy định chung của liên bang Trong mối quan hệ với nhau cũng như với chính quyền liên bang, giữa các bang có sự bình đẳng, không phân biệt vị trí địa lý, diện tích, số dân và trình độ phát triển
Như vậy, dựa vào các nguyên tắc nền tảng trên, ta có thể thấy tổ chức bộ máy nhà nước Hoa Kỳ có sự phân quyền ở cả chiều ngang lẫn chiều dọc Về chiều ngang, quyền lực được phân chia thành lập pháp, hành pháp, tư pháp và giao cho ba
cơ quan khác nhau nắm giữ, giữa các nhánh quyền lực có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực, nhằm ngăn chặn tình trạng lạm quyền, bảo vệ chế độ cộng hòa mà sâu xa hơn chính là bảo vệ bản Hiến pháp Hợp chúng quốc Về chiều dọc, quyền lực được phân chia giữa chính quyền liên bang và tiểu bang Điều này khắc phục nhược điểm của Các điều khoản hợp bang cũ, mang lại sức mạnh cho chính quyền liên bang để thực hiện tốt công cuộc quản lý đất nước, gia tăng vị thế trên trường quốc tế nhưng lại không cướp mất chủ quyền của các bang, điều mà các bang lo sợ khi bản Hiến pháp thiết lập nền Cộng hòa liên bang
1.4 Tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp Hoa Kỳ
1.4.1 Nguyên thủ quốc gia
1.4.1.1 Vị trí, vai trò của Nguyên thủ quốc gia
Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu nhà nước, có quyền thay mặt nhà nước về đối nội, đối ngoại.Vị trí, vai trò của nguyên thủ quốc gia sẽ phụ thuộc vào hình thức chính thể Vì Hoa Kỳ theo hình thức chính thể cộng hòa Tổng thống nên nguyên thủ quốc gia chínhlà Tổng thống và cũng xuất phát từ hình thức chính thể này mà Tổng thống Hoa Kỳ có quyền lực rất lớn, vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ, nắm quyền hành pháp trong tay, không như các nước quân chủ lập hiến (Anh, Nhật, Thái Lan, ),nhà vua với tư cách là nguyên thủ
Trang 28quốc gia, chỉ thực hiện chức năng lễ tân và ngoại giao, quyền lực bị hạn chế trên cả
ba phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp
1.4.1.2 Quyền hạn của Nguyên thủ quốc gia
Trong việc thực hiện chức năng đại diện
Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội, đối ngoại, vì vậy, chức năng chính của nguyên thủ quốc gia nói chung và của Hoa Kỳ nói riêng là chức năng đại diện Để thực hiệc chức năng này, Tổng thống Hoa Kỳ được trang bị những quyền hạn sau:tiếp nhận các đại sứ, công sứ nước ngoài; bổ nhiệm các đại sứ, công sứ, lãnh sự của Nhà nước mình; thay mặt quốc gia
ký kết các điều ước quốc tế cũng như phát biểu quan điểm của quốc gia mình ở Liên hợp quốc và các Hội nghị quốc tế; chủ tọa các nghi lễ trọng thể, gửi các lời kêu gọi, hiệu triệu với nhân dân trong tình trạng đất nước lâm nguy
Trong mối quan hệ với các nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tƣ
pháp
Xuất phát từ vị trí đặc biệt của Nguyên thủ quốc gia trong chính thể cộng hòa Tổng thống nói chung và việc áp dụng học thuyết phân quyền triệt để của Montesquieu vào tổ chức bộ máy nhà nước ở Hoa Kỳ nói riêng mà Tổng thống Hoa
Kỳ có quyền can thiệp sâu vào trong lĩnh vực lập pháp thông qua việc thực hiện quyền phủ quyết, buộc Nghị viện phải xem xét, thảo luận lại lần thứ hai đối với một
dự luật; đồng thời có thể tác động đến nhánh tư pháp thông qua quyền đề cử và bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án liên bang, kể cả Thẩm phán Tối cao Pháp viện với sự phê chuẩn của Thượng viện, quyền ân xá, giảm hình phạt Bên cạnh đó, Tổng thống là người đứng đầu Chính phủ, nắm quyền hành pháp nên Tổng thống có quyền hành rất lớn trong lĩnh vực quản lý Nhà nước Điều này sẽ được trình bày rõ hơn trong phần phân tích về nhánh hành pháp và sự kiểm soát quyền lực giữa hành pháp với lập pháp và tư pháp trong việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Hoa Kỳ
Trong lĩnh vực đối ngoại
Trong lĩnh vực đối ngoại, thẩm quyền của Nguyên thủ quốc gia rất quan trọng, riêng ở Hoa Kỳ, thẩm quyền đối ngoại của Tổng thống không chỉ được thể hiện trong Hiến pháp mà còn dựa trên các quyết định của Tối cao Pháp viện, Nghị quyết của Nghị viện cũng như các luận thuyết về chủ quyền đối ngoại24 Nhìn chung, Tổng thống Hoa Kỳ có những quyền hạn đã trình bày để thực hiện chức năng đại diện như quyền bổ nhiệm các đại sứ, lãnh sự; đàm phán, ký kết các điều
24Thái Vĩnh Thắng (1996), “Chế định nguyên thủ quốc gia ở các nhà nước tư sản”, Nhà nước và pháp luật,
(97), tr.17
Trang 29ước quốc tế; bên cạnh đó, Nguyên thủ quốc gia còn có quyền tuyên bố chiến tranh
và hòa bình
Tổng thống là Tổng Tƣ lệnh quân đội
Tổng thống có quyền phong hàm cao cấp cho các lực lượng vũ trang, tuyên
bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hay từng địa phương, tuyên bố chiến tranh và hòa bình (khi có sự phê chuẩn của Nghị viện); áp dụng tình trạng thiết quân luật, dùng mọi biện pháp để duy trì trạng thái hòa bình
Tóm lại, Tổng thống Hoa Kỳ với tư cách là Nguyên thủ quốc gia không chỉ đóng vai trò là người đại diện Nhà nước, để bộ máy nhà nước được hoàn thiện về tư cách pháp lý, thể hiện sự toàn vẹn, đoàn kết của quốc gia mà còn là cầu nối quan trọng giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở trung ương
1.4.2 Nghị viện
Nghị viện là cơ quan lập pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, được tổ chức theo mô hình lưỡng viện, gồm Hạ viện và Thượng Viện đều có quyền lực như nhau trong quá trình thông qua một dự luật Quyền hạn của Nghị viện được liệt kê cụ thể,
rõ ràng tại Điều I Hiến pháp
1.4.2.1 Cách thức hình thành và nhiệm kỳ
Điều kiện để trở thành thành viên của Nghị viện, cách thức hình thành cũng như nhiệm kỳ của các Nghị sĩ có sự khác nhau giữa Thượng viện và Hạ viện
Hạ viện
Điều kiện bầu cử và ứng cử
Hạ viện là cơ quan được dân chúng trực tiếp bầu ra theo tỷ lệ dân số ở từng
bang “Cử tri chính là những người tại mỗi tiểu bang đã có quyền bầu cử đại diện của họ vào trong chính phủ tiểu bang của họ vậy” 25 Điều này có nghĩa là, nếu một người đủ điều kiện bầu ra các nhà lập pháp bang thì sẽ đủ điều kiện bầu ra Hạ nghị
sĩ Vấn đề người nào đủ điều kiện bầu ra các nhà lập pháp bang sẽ do luật của tiểu bang đó điều chỉnh nhưng phải tuân theo quy định của Hiến pháp cũng như luật liên
bang Ví dụ, khoản 1 Tu chính án thứ XV quy định“Quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế, dựa vào lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đây”; khoản 1 Tu chính án thứ XIX quy định“Quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi liên bang hoặc bất cứ bang nào với lý do giới tính”; khoản 1 Tu chính án thứ XXVI quy định“Quyền bầu
cử của công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên sẽ không bị tước bỏ hoặc hạn chế bởi
25Hamilton, Madison and Jay (1959), Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ, Nhà xuất bảnSài Gòn, Sài Gòn, tr.120
Trang 30Liên bang hay bất cứ bang nào với lý do tuổi tác” Như vậy, công dân Hoa Kỳ từ
18 tuổi trở lên không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo đều có quyền bầu cử chọn ra người đại diện mình tham gia vào Hạ viện
Ứng cử viên Hạ nghị sĩ phải từ 25 tuổi trở lên, là công dân Hoa Kỳ ít nhất 7 năm và vào thời điểm được bầu, ứng cử viên đó phải là cư dân ở bang mà người đó được lựa chọn26 Để xác định một người là cư dân hợp pháp của bang thì cần căn cứ vào luật riêng của các tiểu bang Nhưng tư cách dân biểu sẽ bị hủy bỏ, theo quy
định của Tu chính án thứ XIV, nếu“đã tuyên thệ ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ… nhưng lại tham gia các cuộc nổi dậy hay phiến loạn chống lại Hiến pháp hoặc trợ giúp hay úy lạo kẻ thù”, trừ trường hợp được sự cho phép củahai phần ba số thành
viên mỗi viện Mặc dù Hiến pháp chỉ đưa ra 3 tiêu chí của ứng cử viên gồm tuổi, quyền công dân và nơi cư trú, nhưng trên thực tế ngoài các tiêu chí trên, ứng cử viên còn phải đáp ứng những yêu cầu khác như trình độ học vấn cao, xuất thân từ số
ít các ngành nghề có tiếng tăm, nhiều người rất giàu có27
Số Hạ nghị sĩ của mỗi bang sẽ dựa trên số dân của bang đó nhưng đảm bảo mỗi bang sẽ có ít nhất một đại biểu và dân số các bang sẽ được điều tra lại sau mười
năm Mặc dù đoạn 3 Khoản 2 Điều I Hiến pháp có quy định: “…Mỗi Hạ nghị sĩ sẽ đại diện cho không quá 30.000 người…”, nhưng từ năm 1992 đến nay, Nghị viện
đã cố định tổng số Hạ nghị sĩ là 435 người và con số này vẫn giữ nguyên kể từ đó28
Các Hạ nghị sĩ được bầu từ 50 bang, 03 đại biểu dự khuyết đại diện cho các vùng có
số dân chưa đạt 520 nghìn người là Đông Samoa, Guam và Quần đảo Virgin Trong trường hợp thiếu đại biểu ở một bang thì bang đó sẽ tiến hành bầu cử bổ sung, trừ trường hợp cuộc bầu cử mới sắp diễn ra
Cách thức bầu cử
Cứ 10 năm một lần, sau khi tiến hành điều tra dân số, số liệu thu thập được
sẽ được sử dụng để phân bổ lại 435 ghế ở Hạ viện cho các tiểu bang theo công thức toán học gọi là phương pháp tỷ lệ công bằng Năm mươi ghế đầu tiên là cố định bởi
vì theo đoạn 3 Khoản 2 Điều I Hiến pháp quy định mỗi bang sẽ có ít nhất một Hạ nghị sĩ, bắt đầu chia từ ghế thứ năm mươi mốt cho các bang đông dân hơn Khi các ghế ở Hạ viện đã được phân bổ thì các bang có từ hai ghế trở lên phải phân định khu vực bầu cử, mỗi khu vực bầu cử sẽ được bầu một đại diện, mỗi cử tri sẽ có một
lá phiếu ngang nhau để lựa chọn ra người mà mình thấy phù hợp Ứng cử viên nào
26 Khoản 2 Điều I Hiến pháp Hoa Kỳ
27
Roger H Davidson - Walter J.Oleszek (2002), Quốc hội và các thành viên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr.198
28
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2004), Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và chú thích, Ấn phẩm của Chương
trình Thông tin Quốc tế, tr.25
Trang 31đạt được đa số phiếu sẽ là người đại diện cho khu vực bầu cử đó Các cuộc bầu cử
Hạ nghị sĩ được tổ chức vào ngày thứ ba đầu tiên sau ngày thứ hai đầu tiên trong tháng 11
Nhiệm kỳ
Các Hạ nghị sĩ có nhiệm kỳ hai năm Giải thích cho quy định này, các nhà
lập hiến cho rằng, “Không có một người nào có thể là một luật gia đầy đủ tư cách nếu không có, ngoài lòng cương trực và một phán đoán hợp lý, một sự hiểu biết đầy
đủ về những vấn đề mà mình có nhiệm vụ quy định luật lệ.”29 Các Hạ nghị sĩ là những người làm ra luật, họ cần thời gian thu thập những thông tin cần thiết để thi hành nhiệm vụ của mình Nhiệm kỳ của các Nghị sĩ tiểu bang thường là một năm nhưng trong phạm vi tiểu bang, kiến thức cần thiết về những đạo luật hiện hành không nhiều Trong khi đó, trên toàn lãnh thổ liên bang thì lại là một vấn đề khác, các tiểu bang khác nhau có các đạo luật khác nhau, nhiệm vụ của chính quyền liên bang là ban hành một đạo luật áp dụng trên toàn lãnh thổ nhưng lại có thể giải quyết những vấn đề đặc trưng ở mỗi địa phương Chính vì vậy, đại diện của từng tiểu bang ngoài việc hiểu biết về bang mình, còn phải trau dồi thêm kiến thức về tình hình của các tiểu bang khác Bên cạnh đó, các Hạ nghị sĩ mặc dù có thể được tái cử nhưng đa số sẽ là những thành viên mới, nhiệm kỳ hai năm nhằm tạo điều kiện để
họ trau dồi kiến thức Sự ích lợi của việc quy định nhiệm kỳ hai năm so với một năm ở các tiểu bang còn thể hiện ở chỗ, trong trường hợp nghi ngờ có sai phạm trong cuộc tuyển cử thì vẫn có đủ thời gian để điều tra và loại bỏ nghị sĩ đắc cử bất hợp pháp
Thƣợng viện
Điều kiện bầu cử và ứng cử
Thượng viện là cơ quan được bầu ra theo tỷ lệ bằng nhau ở tất cả các bang Mỗi bang dù lớn hay nhỏ đều có hai đại biểu ở Thượng viện Ban đầu khi Hiến pháp mới được soạn thảo, các Thượng Nghị sĩ sẽ do chính quyền bang bầu ra nhằm chọn lựa được những nhân tài cho chính quyền liên bang, vừa là một cách để chính quyền tiểu bang củng cố quyền lực của mình, tạo mối dây liên lạc giữa liên bang và tiểu bang Tuy nhiên, đến năm 1913, tu chính án thứ XVII được thông qua, các Thượng Nghị sĩ được các cử tri các bang trực tiếp bầu ra
Đoạn 3 Khoản 3 Điều I Hiến pháp quy định về điều kiện ứng cử viên Thượng nghị sĩ như sau: Phải từ 30 tuổi trở lên, là công dân Hoa Kỳ ít nhất 9 năm
và là cư dân của bang mà người đó được tuyển chọn vào thời điểm được bầu Như
29Hamilton, Madison and Jay (1959), Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ, Nhà xuất bảnSài Gòn, Sài Gòn, tr.115
Trang 32vậy, so với điều kiện ứng cử Hạ nghị sĩ, tuổi của ứng cử viên Thượng nghị sĩ phải cao hơn, là công dân Hoa Kỳ lâu hơn Giải thích cho sự khác biệt này, Madison đã
viết“Sự phân biệt đó có thể giải thích bằng lý do liên can tới trọng trách của một thượng nghị sĩ, đòi hỏi một người có nhiều sự hiểu biết rộng rãi hơn, và một tính tình điều hòa cân nhắc hơn”30
Mỗi bang, dù lớn hay nhỏ, đều có hai đại biểu đại diện cho mình tại Thượng viện.Hiện nay, Hoa Kì có 50 bang, do đó, Thượng viện có 100 Thượng nghị sĩ Sự đại diện bình đẳng ở Thượng viện còn giúp bảo vệ quyền lợi của các bang, bởi vì, một đạo luật muốn được thông qua cần sự chấp thuận của đa số dân chúng (Hạ viện) và đa số các tiểu bang (Thượng viện) Trong trường hợp thiếu đại biểu ở một bang thì cơ quan hành pháp, được cơ quan lập pháp của bang đó trao quyền, sẽ bổ nhiệm một người tạm thời thay thế cho đến khi nhân dân chọn được người đại diện bang theo thủ tục bầu cử thông thường
Cách thức bầu cử
Cứ 02 năm một lần, các bang sẽ tiến hành bầu lại 1/3 số Thượng nghị sĩ Do các bang đều có số đại biểu ngang nhau, do đó, không đặt ra vấn đề chia ghế trong Thượng viện Các Thượng nghị sĩ được nhân dân trong chính tiểu bang của họ bầu
ra Người đắc cử là người giành được đa số phiếu của cử tri bang Họ sẽ thực hiện nhiệm vụ của Thượng nghị sĩ cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ, tạ thế, từ chức hoặc bị loại khỏi Thượng viện Cuộc bầu cử được tiến hành vào ngày thứ ba đầu tiên sau ngày thứ hai đầu tiên của tháng 11, cùng lúc với cuộc bầu cử Hạ viện Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ
Thượng Nghị sĩ có nhiệm kỳ sáu năm, dài hơn các Hạ nghị sĩ Tuy nhiên, cứ hai năm thì tiến hành bầu lại 1/3 số Thượng nghị sĩ Chính vì vậy, nhiệm kỳ của các Thượng nghị sĩ không bắt đầu và kết thúc cùng một lúc mà được thành ba lớp: nhiệm kỳ của lớp thứ nhất và lớp thứ hai lệch nhau hai năm, nhiệm kỳ của lớp thứ hai và lớp thứ ba lệch nhau hai năm Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ dài hơn hẳn
Hạ nghị sĩ bởi vì các nhà lập hiến cho rằng, khi Hạ viện được bầu lại sau mỗi hai năm thì có thể thay đổi một nửa số Hạ nghị sĩ Điều này đồng nghĩa với việc các chính kiến sẽ có sự thay đổi, dẫn đến việc thay đổi các quyết định lập pháp Bên cạnh đó, nhiệm kì khá dài cùng với việc cứ hai năm một lần, 1/3 số Thượng nghị sĩ
sẽ được bầu lạigiúp tạo nên một Thượng viện có lập trường cương quyết, thái độ thận trọng, hạn chế việc ban hành hoặc thay đổi các quyết định quá nhanh chóng, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân
30Hamilton, Madison and Jay (1959), Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ, Nhà xuất bảnSài Gòn, Sài Gòn, tr.123
Trang 33Các Thượng Nghị sĩ cũng như Hạ Nghị sĩ có thể được tái cử nhiều lần, bởi vì theo quan điểm của các tác giả vận động thông qua Hiến pháp – Người liên bang cho rằng: những nhà lập pháp không muốn hạn chế sự lựa chọn của cử tri; họ coi việc lựa chọn tái tranh cử là một động lực mạnh mẽ cho sự phục vụ cử tri một cách trung thành của các nghị sĩ đương nhiệm và họ đề cao những đóng góp mà những nghị sĩ có kinh nghiệm có thể mang lại cho việc nghiên cứu lập pháp31
1.4.2.2 Thẩm quyền
Trong lĩnh vực xây dựng luật
Hiến pháp đã trịnh trọng quy định tại khoản 1 Điều 1 rằng: “Toàn bộ quyền lực lập pháp được thừa nhận tại đây sẽ được trao cho Quốc hội Hoa Kỳ.” Như
vậy, thẩm quyền quan trọng nhất của Nghị viện chính là ban hành luật Trong cơ cấu lưỡng viện của Hoa Kỳ, Hạ viện có quyền đưa ra các dự luật, Thượng viện có quyền đề xuất các dự luật và cả hai viện cùng nhau thông qua các dự luật Tuy nhiên, đối với các dự luật trong lĩnh vực thuế khóa thì chỉ Hạ viện mới có quyền đưa ra đề xuất32
Mỗi viện đều có quyền bỏ phiếu không tán thành hoặc sửa đổi, bổ sung những văn bản mà viện kia đã thông qua, kể cả dự luật về vấn đề thu ngân sách của Hạ viện Trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn giữa hai viện, một Ủy ban hỗn hợp sẽ được thành lập bao gồm các thành viên từ cả hai viện để giải quyết nhằm đi tới sự thỏa hiệp mà các bên đều chấp nhận được
Tuy nhiên, quyền lập pháp của Quốc hội không phải là vô hạn mà phải chịu những hạn chế nhất định quy định tại khoản 9 Điều I Hiến pháp Ví dụ: Quốc hội không được ban hành những đạo luật gây tổn hại tới quyền tự do của người dân, đạo luật có hiệu lực hồi tố (đoạn 3), không được đặt ra thuế xuất khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu từ một bang đến bang khác hoặc ra nước ngoài (đoạn 5), không đặt ra
sự ưu tiên đối với bến cảng của bất kì bang nào so với những bang khác (đoạn 6)…
Trong lĩnh vực ngân sách, tài chính
Bên cạnh quyền ban hành luật, quyền quyết định về ngân sách, tài chính cũng được coi là một quyền năng cơ bản của Nghị viện Trong lịch sử, khi mới thành lập, Nghị viện chính là những người đại diện cho các đẳng cấp khác nhau trong xã hội nhóm họp để biểu quyết về thuế khóa nộp cho ngân khố quốc gia Chức năng này vẫn được duy trì trong suốt quá trình phát triển cho đến thời điểm hiện nay Nghị viện Hoa Kỳ bên cạnh việc thống nhất thông qua các dự luật về thuế
có thể sửa đổi một dự luật thuế đến mức dường như là đã viết lại toàn bộ các quy định
Trang 34thì còn có quyền đặt ra và thu các khoản thuế, phê duyệt Ngân sách, theo dõi việc thu chi Ngân sách của Chính phủ, quyết định việc đúc tiền, in tiền, giá trị của đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài…
Trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh quốc phòng
Nghị viện có quyền phê chuẩn, gia nhập hoặc rút khỏi các điều ước quốc tế
mà nguyên thủ quốc gia đã ký kết, quyết định tuyên bố chiến tranh33 Ngoài ra, Nghị viện có quyền nuôi dưỡng và cung cấp cho quân đội (không quá hai năm), thiết lập và duy trì quân chủng hải quân, quy định các luật lệ và quy chế về lực lượng lục quân và hải quân…
Trong lĩnh vực tƣ pháp
Hạ viện là cơ quan duy nhất có quyền luận tội các quan chức cao cấp của Nhà nước Thượng viện có độc quyền xét xử mọi vụ luận tội các nhân viên chính quyền (kể cả Tổng thống) lạm dụng công quyền Ngoài ra, Nghị viện còn có quyền thiết lập hệ thống Tòa án dưới quyền Tối cao pháp viện
Trong lĩnh vực hành pháp
Nghị viện có quyền phê chuẩn các quyết định bổ nhiệm nhân sự của Tổng thống, bầu Tổng thống và Phó Tổng thống trong các trường hợp được Hiến pháp quy định Bên cạnh đó, Nghị viện còn có quyền cho phép tiểu bang mới gia nhập liên bang, cho phép các tiểu bang liên kết với nhau hình thành tiểu bang mới…
Như vậy, Nghị viện Hoa Kỳ là cơ quan duy nhất có quyền ban hành ra các đạo luật, cũng là cơ quan quyết định về vấn đề ngân sách quốc gia Hai lĩnh vực quan trọng là pháp luật và tiền tệ có liên quan trực tiếp đến cuộc sống và quyền lợi của nhân dân, chính vì vậy, nên giao cho Nghị viện là cơ quan đại diện nhân dân quyết định.Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ đều được nhân dân bầu ra một cách độc lập, nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân, điều này làm cho Nghị viện có quyền hành lớn, ngang hàng với Tổng thống, có thể kiềm chế, đối trọng với một ngành hành pháp mạnh mà đứng đầu là Tổng thống được Hiến pháp trao rất nhiều quyền năng Bên cạnh đó, việc quy định cách thức bầu nghị sĩ khác nhau ở hai viện đảm bảo dung hòa lợi ích giữa các bang lớn và bang nhỏ, cùng với số lượng nghị sĩ đông đảo có thể phản ánh tốt nhất quan điểm của người dân trên khắp cả nước
Trang 35đầu nhà nước và tổng tư lệnh quân đội Tổng thống có trách nhiệm đưa ra thi hành các đạo luật do Nghị viện ban hành vào thực tế cuộc sống Để thực hiện nhiệm vụ này, Tổng thống điều hành một guồng máy với hơn 4 triệu nhân viên, kể cả 1 triệu binh sĩ phục vụ trong quân đội với các quyền hạn được quy định cụ thể tại Điều II Hiến pháp
1.4.3.1 Cách thức hình thành
Điều kiện bầu cử và ứng cử
Theo đoạn 5 khoản 1 Điều II, ứng cử viên Tổng thống phải là công dân được sinh ra ở Hoa Kỳ hoặc đã là công dân của Hoa Kỳ vào thời điểm bầu cử, từ 35 tuổi trở lên và đã có 14 năm cư trú ở Hoa Kỳ Hiến pháp không có quy định về tiêu chí đảng phái của ứng cử viên, như vậy, công dân đến từ bất kỳ Đảng nào cũng đều có thể tranh cử Tổng thống Trên thực tế, kể từ năm 1852, các Tổng thống đắc cử đều
là người của Đảng Dân chủ hoặc Đảng Cộng hòa, các ứng cử viên độc lập hoặc đến
từ các đảng khác đều không được đắc cử Việc chỉ có hai đảng này đề ra các ứng cử viên và Tổng thống đắc cử là thành viên của một trong hai đảng không được quy định trong luật hay Hiến pháp mà xuất phát từ thực tiễn: đây là hai đảng đại diện được các xu hướng chính trị lớn ở Hoa Kỳ, thu hút được nhiều cử tri và nếu hai đảng không giới thiệu ứng cử viên thì nhân dân sẽ không biết ai là người thích hợp
để bầu cử Các ứng cử viên đến từ các đảng khác khó có thể thắng được ứng cử viên
từ hai đảng này, tiêu biểu như Perot (đến từ Đảng Cải cách) ứng cử năm 1996, Nader (đến từ Đảng Xanh) ứng cử năm 2000 đều không nhận được phiếu bầu nào của cử tri
Tổng thống Hoa Kỳ được nhân dân gián tiếp bầu ra thông qua các đại cử tri Các đại cử tri này do thành viên các đảng ở từng bang chọn ra thông qua đề cử, giới thiệu hoặc tự đề cử trên phương tiện truyền thông Đại cử tri không được đồng thời
là nghị sĩ hoặc bất kì quan chức nào đảm nhiệm chức danh mang lại lợi tức Thể thức bầu ra các đại cử tri sẽ do luật pháp riêng của các bang quy định Số đại cử tri
sẽ bằng tổng số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ trong Nghị viện liên bang, tức 538 người (trong đó, Hạ viện gồm 435 thành viên, Thượng viện gồm 100 thành viên, cùng với 3 đại biểu đến từ quận Columbia); mỗi bang sẽ có số đại cử tri tương đương với tổng số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ đại diện của tiểu bang đó tại Nghị viện liên bang Lý do Tổng thống được nhân dân bầu cử gián tiếp thông qua đại cử
tri là vì: Một là, nếu để Tổng thống trực tiếp nhận quyền lực từ nhân dân thì quyền
lực của ông ta sẽ rất lớn, có khả năng lấn lướt quyền lập pháp và tư pháp, điều này
đã đi ngược lại với mong muốn của các nhà lập hiến khi phân tách quyền lực nhà
nước thành ba nhánh độc lập, kiềm chế, đối trọng lẫn nhau; Hai là, nếu Tổng thống
Trang 36được bầu cử trực tiếp, nhân dân không có đủ thông tin và điều kiện cần thiết để lựa chọn người thật sự thích hợp, đủ khôn ngoan và đức hạnh để lãnh đạo, quản lý đất nước
Cách thức bầu cử
Cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ được chia ra thành ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Lựa chọn ứng cử viên Tổng thống (còn gọi là giai đoạn bầu cử
sơ bộ)
Đây là giai đoạn mang tính nội bộ của đảng, vì vậy không được quy định trong Hiến pháp mà được điều chỉnh thông qua điều lệ đảng Ở Hoa Kỳ, đảng chỉ đứng ra giới thiệu ứng cử viên, quyền quyết định thuộc về các cử tri trong đảng và người ngoài đảng (trong trường hợp cử tri ngoài đảng có ghi danh tham gia bầu cử
sơ bộ ứng cử viên của đảng) Trước hết, các cử tri phải tiến hành bầu ra đại biểu của bang đi dự đại hội đảng toàn liên bang, các đại biểu này chính là đại diện cho các ứng cử viên của đảng Mỗi tiểu bang sẽ có số lượng đại biểu nhất định, do đó, ứng
cử viên nào càng có nhiều đại biểu đại diện mình thì càng có lợi Nhưng để có được lợi thế này, các ứng cử viên phải vận động cử tri ở từng bang bầu cho các vị đại diện của mình Tại Đại hội đảng toàn liên bang, ứng cử viên nào đạt được đa số phiếu tuyệt đối từ các vị đại biểu sẽ trở thành ứng cử viên chính thức đại diện cho Đảng tham gia tranh cử Tổng thống
Ví dụ: Đảng Dân chủ có năm ứng cử viên A, B, C, D và E Sau cuộc bầu cử
sơ bộ, tại bang Massachusetts, ứng cử viên A có nhiều đại diện tham gia đại hội liên bang nhất Tuy nhiên, tại Đại hội đảng toàn liên bang, ứng cử viên E lại được đa số tuyệt đối phiếu bầu từ đại biểu tất cả các bang Như vậy, E trở thành ứng cử viên chính thức của Đảng Dân chủ tham gia tranh cử Tổng thống
Đây được xem là trận đấu đa phương giữa các ứng cử viên trong nội bộ mỗi đảng Kinh nghiệm lịch sử cho thấy vận động để được chính đảng đề cử nhiều khi còn khó khăn hơn vận động để được đắc cử trong nhân dân34
Giai đoạn 2: Bầu cử chính thức
Thời gian diễn ra cuộc bầu cử là ngày thứ ba liền sau ngày thứ hai đầu tiên của tháng 11 năm thứ tư sau cuộc bầu cử lần trước Tổng thống Mỹ được đại cử tri bầu ra, do đó, trong cuộc bầu cử chính thức, cử tri sẽ bỏ phiếu chọn ra các đại cử tri35 theo nguyên tắc bầu cử đầu phiếu phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín theo danh
Trang 37sách Đảng thành lập trong mỗi bang36
Hiện nay theo pháp luật bầu cử Mỹ, trừ hai bang Nebraska và Maine có số phiếu đại cử tri được phân phối theo tỷ lệ phiếu bầu
mà ứng cử viên giành được, các bang còn lại đều theo quy tắc “Người thắng được tất cả”, có nghĩa là, ứng cử viên nào có nhiều đại diện hơn trong số các đại cử tri
của bang thì ứng cử viên đó sẽ được hưởng tổng số lượng đại cử tri ở bang đó Ví dụ: Bang Massachusetts có 12 đại cử tri, Đảng Cộng hòa giành được 6 đại diện, Đảng Dân chủ giành được 4 đại diện, ứng viên tự do giành được 2 đại diện, như vậy, Đảng Cộng hòa sẽ giành được 12 phiếu đại cử tri ở bang Massachusetts
Chính vì nguyên tắc “Người thắng được tất cả” nên trong cuộc bầu cử Tổng
thống Hoa Kỳ sẽ xảy ra trường hợp người thắng cử lại không phải là người nhận được sự ủng hộ của đa số cử tri Ví dụ như năm 1988, New York có 36 đại cử tri, California có 47 đại cử tri Trong cuộc bầu cử tại New York, ứng cử viên của Đảng Dân chủ thu được 4 triệu phiếu bầu và ứng cử viên Đảng Cộng hòa thu được 2.2 triệu phiếu bầu, như vậy, ứng cử viên Đảng Dân chủ giành được 36 phiếu đại cử tri
ở New York Trong cuộc bầu cử tại California, ứng cử viên của Đảng Dân chủ thu được 4 triệu phiếu bầu và ứng cử viên Đảng Cộng hòa thu được 4.6 triệu phiếu bầu, như vậy, ứng cử viên Đảng Cộng hòa giành được 47 phiếu đại cử tri ở California
Ta nhận thấy, Đảng Dân chủ giành được 8 triệu phiếu bầu của cử tri ở cả hai bang New York và California nhưng chỉ có 36 phiếu đại cử tri, trong khi đó, Đảng Cộng hòa giành được 6.8 phiếu bầu của cư tri lại có đến 47 phiếu đại cử tri37
Lịch sử Hoa
Kỳ cũng đã ghi nhận bốn trường hợp Tổng thống không phải là người nhận được đa
số phiếu bầu phổ thông: John Quincey Adams (1824), Rutherford B.Hayes (1876), Benjamin Harrison (1888), George W Bush (2000)38
Giai đoạn 3: Các đại cử tri bỏ phiếu bầu Tổng thống Mỹ
Các đại cử tri họp tại thủ phủ của tiểu bang để bầu Tổng thống vào ngày thứ hai tuần thứ ba của tháng 12 năm bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống phải là người của các bang khác nhau Phiếu bầu của các đại cử tri sẽ được ghi nhận thành hai bản danh sách riêng biệt chuyển lên cho Chủ tịch Thượng viện Chủ tịch Thượng viện sẽ mở các hồ sơ và tiến hành kiểm phiếu trước sự hiện diện của nghị sĩ của hai viện vào lúc 13 giờ ngày 06 tháng 01 Sau đó, Nghị viện sẽ tuyên bố người trúng cử Tổng thống Trong trường hợp không có ứng cử viên nào đạt trên 270 phiếu đại cử tri thì Hạ nghị viện sẽ họp để bầu ra Tổng thống trong số không quá ba
do các cử tri bầu ra theo khu vực bầu cử hoặc trên toàn bang Hiện nay, tất cả các bang đều quy định các đại
cử tri sẽ do cử tri trực tiếp bầu ra
36 Thái Vĩnh Thắng, “Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại”, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.143
37 Sđd, tr.143
38Lưu Đức Quang (2004), “Cơ chế bầu cử tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”, Tạp chí Khoa học pháp lý,
(24), tr.63