Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn đã có những quy định tiến bộ để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân như công khai các thủ tục hành chính về đất đai, l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÂM THỊ BÍCH TRÂM
QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ HÀNH CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và thông tin nêu trong luận văn là trung thực
Tác giả
Lâm Thị Bích Trâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN 7
1.1 Cơ sở lý luận về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 7
1.1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 7
1.1.2 Nội dung quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 9
1.1.3 Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 12
1.2 Quá trình phát triển của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 14
1.2.1 Giai đoạn từ trước năm 2003 14
1.2.2 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2013 14
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay 16
1.3 Quy định pháp luật về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 17
1.3.1 Pháp luật về quyền tiếp nhận thông tin về đất đai 17
1.3.2 Pháp luật về quyền tìm kiếm thông tin về đất đai 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 31
2.1 Thực trạng quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 31
2.1.1 Thực trạng quyền tiếp nhận thông tin về đất đai 31
2.1.2 Thực trạng quyền tìm kiếm thông tin về đất đai 33
2.2 Nguyên nhân của thực trạng về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 36
2.2.1 Hệ thống quy định pháp luật 36
2.2.2 Cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý đất đai 38
Trang 52.2.3 Bộ máy nhân sự cơ quan quản lý đất đai 40
2.2.4 Trang thiết bị kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư 44
2.2.6 Hệ thống thông tin đất đai 49
2.2.7 Ý thức của người sử dụng đất 52
2.3 Phương hướng hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân 53
2.3.1 Hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật 53
2.3.2 Kiện toàn cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý đất đai 56
2.3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đất đai 56
2.3.4 Xây dựng và hoàn thiện hồ sơ địa chính, hệ thống thông tin đất đai 58
2.3.5 Nâng cao ý thức, phát huy vai trò của người sử dụng đất trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong hồ sơ địa chính 61
KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 Cùng với đó là những cam kết của Việt Nam thông qua các diều ước quốc tế như Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Công ước Liên hợp quốc về chống tham những năm 2003 (UNCAC) để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin Một trong những thông tin được tiếp cận rất đáng chú ý hiện nay là tiếp cận thông tin về đất đai Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn đã có những quy định tiến
bộ để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân như công khai các thủ tục hành chính về đất đai, lấy ý kiến người dân trong quá trình lập quy hoạch
sử dụng đất, chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, quy định về xây dựng, quản lý và khai thác hệ thống thông tin về đất đai, Bên cạnh đó, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 ra đời tạo hành lang pháp lý ngày càng vững chắc để công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin về đất đai Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật về quyền tiếp cận thông tin đất đai đã và đang bộc lộ những hạn chế Người dân khi muốn tiếp cận các thông tin về đất đai do cơ quan nhà nước nắm giữ vẫn còn bị sách nhiễu, thậm chí là không cung cấp thông tin Việc lấy ý kiến đóng góp xây dựng quy hoạch sử dụng đất hoặc phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng chỉ là hình thức, không thực chất Đồng thời những ý kiến đóng góp này không được phản hồi hoặc phản hồi không rõ ràng Thủ tục cung cấp thông tin về đất đai còn lạ lẫm đối với người dân nên đã làm cho người dân còn e dè khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin về đất đai
Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới về Cơ chế thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam năm 2011 đã chỉ ra rằng, những vấn đề trong quản
lý đất đai chính là nguồn gốc gây ra xung đột và suy giảm lòng tin của người dân, dẫn đến khiếu nại, tố cáo rộng khắp do những thông tin về đất đai không được công khai, minh bạch Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, trong năm 2017, Bộ đã tiếp nhận được 3094 đơn khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, chiếm 95.3% tổng số đơn gửi đến Bộ này1 Một trong
1 Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác thanh tra, kiểm tra về tài nguyên và môi
trường,
http://stnmt.binhduong.gov.vn/3cms/tiep-tuc-doi-moi-nang-cao-hieu-qua-tao-buoc-dot-pha-trong-cong-tac-thanh-tra-kiem-tra-ve-tai.htm, truy cập ngày 15/02/2018
Trang 7những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do những thông tin về đất đai không được công khai, hoặc có công khai nhưng nhưng còn mập mờ dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, nguy hại hơn là tình trạng tham nhũng trong lĩnh lực đất đai Mặc dù đã có những quy định của pháp luật để đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thông tin nhưng việc đảm bảo thực hiện quyền này của công dân trên thực tế vẫn chưa thực sự hiệu quả một cách triệt để Với những lý do trên,
người viết cho rằng việc chọn đề tài “Quyền tiếp cận thông tin về đất đai của
công dân” để làm luận văn thạc sĩ của mình là phù hợp và hết sức cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chủ đề về quyền tiếp cận thông tin luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều chuyên gia luật học, vì vậy đã có không ít những công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật cao và đóng góp to lớn cho việc xây dựng nên một hành lang pháp lý vững chắc cho pháp luật về quyền tiếp cận thông tin ở Việt
Nam Đề tài “Quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân” được trình
bày dựa theo các nguồn tư liệu sau đây:
Các sách tham khảo, các bài báo và các tham luận cũng có giá trị quan trọng trong việc lý giải đề tài như:
- Ngô Đức Mạnh (2008), Quyền Tiếp cận thông tin Viện Nghiên cứu Quyền con người, Hà Nội; Nguyễn Đăng Dung và đồng chủ biên (2011), Tiếp cận thông tin: pháp luật và thực tiễn trên thế giới và Việt Nam, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội Các tài liệu này được tác giả phân tích và làm rõ cơ sở lý luận, pháp luật và thực tiễn và những bài học kinh nghiệm tốt cho Việt Nam
- Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư
ở Việt Nam và một số quốc gia, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh Tài liệu cung cấp những nội dung về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin và việc thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin
ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
- Lê Thị Hồng Nhung (2014), Khái niệm bảo đảm pháp lý quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 312; Phan Huy Hồng (2013), Quyền và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong luật quốc tế, luật nước ngoài
và luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1; Bùi Thị Hải (2013), Quyền
Trang 8tiếp cận thông tin trong quản lý hành chính nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 8; Thái Thị Tuyết Dung (2010), Quá trình phát triển của quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4; Trương Văn Dũng (2010), Vấn đề quyền tiếp cận thông tin của người dân, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 2; Mai Nguyễn (2010), Cung cấp thông tin theo yêu cầu – cơ chế hữu hiệu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin”; Thái Thị Tuyết Dung (2015), Hoàn thiện các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11; Vũ Văn Nhiêm (2010), Quyền được thông tin dưới góc độ bảo đảm quyền con người và liên hệ với dự luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 170 Các bài viết cung cấp
những lý luận cơ bản về quyền tiếp cận thông tin, đồng thời tiếp cận dưới góc độ
so sánh với pháp luật và thực tiễn ở các nước trên thế giới
Về các đề tài luận án, luận văn liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công dân đã được công bố gồm có:
- Thái Thị Tuyết Dung (2014), Quyền được thông tin của công dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Luận án đã đưa ra hệ thống cơ sở lý luận cơ bản về quyền được thông tin của công dân, trên cơ sở phân tích khái niệm, đặc điểm và các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện quyền này, khảo sát thực tiễn trong nước và một số nước khác, sau đó đánh giá, kết luận thực trạng pháp luật và việc thực hiện pháp luật
về quyền được thông tin của công dân ở nước ta với những ưu điểm và những tồn tại, phương hướng, kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về quyền được thông tin của công dân
- Phạm Quang Hòa (2010), Quyền tiếp cận thông tin của công dân, Luận
văn thạc sĩ Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã giải quyết một số vấn đề cơ bản về quyền tiếp cận thông tin của công dân nhưng nội dung quyền tiếp cận thông tin mà tác giả đưa ra chưa thật hợp lý
- Vũ Thị Tố Chinh (2012), Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân trong quản lý nhà nước, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh Luận văn đã giải quyết được nội dung của quyền tiếp cận thông
Trang 9tin của công dân và các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện quyền này, nhưng chỉ đề cập quyền tiếp cận thông tin trong quản lý nhà nước
- Đoàn Văn Chung (2014), Quyền tiếp cận thông tin và việc đảm bảo thực hiện ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Luận
văn giải quyết các vấn đề về quyền tiếp cận thông tin và biện pháp bảo đảm thực hiện quyền này của các chủ thể gồm cá nhân, tổ chức nói chung
- Lê Thị Hồng Nhung (2010), Bảo đảm pháp lý về quyền được thông tin của công dân trong quản lý nhà nước về đất đai, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã đề cập khái quát về bảo đảm pháp lý quyền được thông tin của công dân trong quản lý nhà nước về đất đai, thực trạng và các giải pháp hoàn thiện bảo đảm pháp lý quyền được thông tin của công dân trong quản lý nhà nước về đất đai
Bên cạnh đó, các địa chỉ Website cũng có vai trò không nhỏ trong việc cung cấp những thông tin hỗ trợ, làm sáng tỏ các vấn đề về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân nói chung Rất nhiều địa chỉ Website thuộc sự quản
lý của Nhà Nước CHXHCN Việt Nam; vì vậy nước độ tin cậy, sự chính xác, và
sự kiên định về mặt chính trị rất thuyết phục Các tác giả trên đều đồng loạt khẳng định sự tồn tại và hoàn thiện hơn, thực tiễn hóa hơn quyền quyền tiếp cận thông tin của công dân nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng
Nhìn chung, các nguồn tư liệu từ nhằm minh họa cho đề tài nghiên cứu khá
đa dạng và cần thiết được nghiên cứu hơn bao giờ hết Tuy nhiên, các công trình trên đa số nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin của công dân nói chung mà chưa nghiên cứu sâu quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực đất đai Mặc dù có luận văn nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin của công dân trong lĩnh vực đất đai nhưng công trình này chỉ nghiên cứu về biện pháp bảo đảm pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin trong quản lý nhà nước về đất đai của công dân và được đặt trong bối cảnh Luật đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn, văn bản liên quan công khai thông tin về đất đai chưa được đề cao Tuy nhiên, Luật Đất đai năm
2013 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 ra đời đã có những quy định mới về quyền tiếp cận thông tin về đất đai Hơn nữa, hòa vào xu thế chung của thế giới, Việt Nam ngày càng chú trọng về quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin
Trang 10về đất đai để đảm bảo quyền lợi của công dân, làm minh bạch thị trường bất động sản và công tác quản lý nhà nước về đất đai, thì chủ trương của Đảng và quy định pháp luật về quyền tiếp cận thông tin về đất đã thay đổi Do đó, việc
nghiên cứu đề tài “Quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân” là cần thiết và không trùng lắp với những công trình nghiên cứu trước đây
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài “Quyền tiếp cận thông tin về đất đai của
công dân” nhằm mục đích làm rõ cơ sở lý luận, quy định pháp luật và thực trạng
về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, nêu được cơ sở lý luận và quy định pháp luật về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
- Thứ hai, nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định về quyền tiếp cận thông tin về đất đai, từ đó kiến nghị các giải pháp để đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
4 Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Thông tin về đất đai có thể được tiếp cận bởi cá nhân, tổ chức nhưng trong phạm vi của đề tài, người viết tập trung nghiên cứu quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân Việt Nam Đồng thời, mặc dù có rất nhiều thông tin về đất đai, tuy nhiên trong luận văn, người viết tập trung nghiên cứu việc tiếp cận các thông tin về quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, thông tin về đất đai trong hồ sơ địa chính, thông tin giá đất, và thông tin về đất đai trong quá trình Nhà nước thu hồi đất Để nghiên cứu đề tài, người viết tập trung phân tích các văn bản pháp luật có liên quan đến quyền tiếp cận thông tin về đất đai từ năm
Trang 111992 trở về sau vì quyền tiếp cận thông tin của công dân được ghi nhận lần đầu tại Hiến pháp năm 1992
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận, quy định pháp luật và tiễn về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng với mục đích là giúp người viết xác định được nền tảng cho lý luận nhận thức liên quan đến đề tài Bên cạnh đó, người viết còn
sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, nhằm giúp người đọc hiểu sâu sắc, phong phú hơn về những quy định liên quan đến quyền tiếp cận thông tin về đất đai Người viết cũng khai thác các thông tin tư liệu của những công trình đã công
bố, phân tích và đánh giá để chứng minh cho các luận điểm
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Tiếp cận thông tin đất đai đang là một vấn đề được cả Nhà nước và xã hội quan tâm Do đó, công trình nghiên cứu của người viết sẽ là những gợi ý để giải quyết các vấn đề còn hạn chế của hoạt động công khai và cung cấp thông tin về đất đai theo yêu cầu của công dân
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN 1.1 Cơ sở lý luận về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
1.1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
Thông tin là nhu cầu tất yếu của con người trong xã hội Thông tin là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội và sự tiến hóa của nhân loại, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ, quản lý Thông tin như là khí oxy của chế độ dân chủ2 Chính vì tầm quan trọng của thông tin đối với con người và hoạt động của nhà nước nên pháp luật quốc tế và các quốc gia đã ghi nhận quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền pháp lý quan trọng của con người Điều 19
Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 quy định “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, kể cả sự tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng
và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn về biên giới” Tiếp đó, Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm
tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ” Như vậy, quyền tiếp cận thông tin là một quyền con người độc lập
nằm trong ngoại diên của quyền tự do ngôn luận3
Các quốc gia cũng quy định về quyền tiếp cận thông tin nhưng với sử dụng thuật ngữ khác nhau, chẳng hạn như Luật tự do về thông tin của Nauy, Luật công khai thông tin của các cơ quan nhà nước Hàn Quốc, Luật tiếp cận hồ sơ hành chính công của Đan Mạch, Luật tự do thông tin của Vương Quốc Anh, Luật tiếp cận thông tin của Canada, Luật tiếp cận thông tin của cơ quan hành chính Nhật Bản, Pháp lệnh của nước Cộng hóa Nhân dân Trung Hoa về công khai thông tin của chính quyền…Mặc dù sử dụng thuật ngữ khác nhau để quy định về quyền tiếp cận thông tin nhưng đều có điểm chung:
thứ nhất, thông tin được tiếp cận ở đây là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ;
2 Nguyễn Đăng Dung và đồng chủ biên (2011), Tiếp cận thông tin: pháp luật và thực tiễn trên thế giới và
Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.537
3
Toby Mendel (2003), Tự do thông tin: Một khảo sát so sánh pháp lý, UNESCO, tr.v
Trang 13thứ hai, chủ thể tiếp cận thông tin bằng cách tiếp nhận thông tin do cơ quan nhà
nước công khai và yêu cầu bên có trách nhiệm cung cấp thông tin
Ở Việt Nam, quyền được thông tin của công dân lần đầu được quy định tại
Hiến pháp năm 1992 Theo đó, “công dân… có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật”4
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định và nâng tầm từ
“quyền được thông tin” thành “quyền tiếp cận thông tin” Điều 25 Hiến pháp
năm 2013 khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Cụ thể hóa Hiến pháp, Quốc hội đã kịp thời ban hành Luật Tiếp
cận thông tin năm 2016, tạo khung pháp lý chung để ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ
và bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân Theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ
sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản
vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo
ra5 Mặc dù chưa nêu trực tiếp định nghĩa về quyền tiếp cận thông tin của công dân nhưng Luật Tiếp cận thông tin có quy định như thế nào là tiếp cận thông tin
và cung cấp thông tin Cụ thể,“tiếp cận thông tin là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin”6, còn “cung cấp thông tin bao gồm việc cơ quan nhà nước công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân”7 Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, công dân tiếp cận thông tin bằng hai cách thức: một là tiếp nhận thông tin do cơ quan nhà nước công khai; hai là tìm kiếm thông tin bằng cách yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp Do đó, có thể hiểu quyền tiếp cận thông tin của công dân là quyền của công dân được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin do cơ quan nhà nước công khai hoặc thông tin được cơ quan nhà nước cung cấp khi công dân yêu cầu
Thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ là thông tin trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội Những thông tin này có tác động rất lớn đến đời sống của người dân, đặc biệt là thông tin về đất đai Vì đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng đối với con người và nhà nước về cả mặt kinh tế, chính trị lẫn văn hóa, nên
4 Điều 69 Hiến pháp năm 1992
5 Khoản 1 Điều 3 Luật tiếp cận thông tin năm 2016
6 Khoản 3 Điều 3 Luật tiếp cận thông tin năm 2016
7
Khoản 4 Điều 3 Luật tiếp cận thông tin năm 2016
Trang 14thông tin đất đai quyết định trực tiếp đến sự sống và mọi hoạt động của người dân cũng như hoạt động của nhà nước Thông tin về đất đai gồm rất nhiều loại như thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thông tin thửa đất, người sử dụng đất, người quản lý đất, hình thức sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất, thời hạn, mục đích sử dụng đất, giá đất, hạn chế quyền sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính về đất, những biến động trong quá trình sử dụng đất…Những thông tin này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như bản viết, bản in, bản điện tử… được chứa đựng trong nhiều nguồn khác nhau như văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn được
cơ quan nhà nước tạo ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật Thông tin về đất đai sẽ được cơ quan có thẩm quyền công khai hoặc cung cấp khi công dân có yêu cầu Tuy nhiên, không phải bất kỳ thông tin về đất đai nào công dân cũng được quyền tiếp cận bởi vì bản chất quyền tiếp cận thông tin là một quyền không tuyệt đối
Như vậy, có thể hiểu quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân là khả năng công dân tiếp nhận các thông tin về đất đai do cơ quan nhà nước công khai và tìm kiếm các thông tin về đất đai bằng cách yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp
1.1.2 Nội dung quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
Có quan điểm cho rằng, nội dung của quyền tiếp cận thông tin bao gồm quyền tiếp nhận, tìm kiếm và phổ biến thông tin Trong đó, quyền tiếp nhận thông tin là khả năng công dân nhận được những thông tin cần thiết qua các kênh truyền thông công khai, sẵn có mà không cần phải yêu cầu Quyền tìm kiếm thông tin là khả năng công dân được yêu cầu các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp những thông tin mà mình cần trong phạm vi khuôn khổ pháp luật cho phép
Và quyền phổ biến thông tin là khả năng của chủ thể quyền truyền đạt, chia sẻ thông tin với các chủ thể khác, không phân biệt ranh giới hay hình thức phổ biến8
Tuy nhiên, cũng có quan điểm thứ hai cho rằng, quyền tiếp cận thông tin chỉ bao gồm quyền tiếp nhận và tìm kiếm thông tin9
Người viết cũng đồng tình với quan điểm thứ hai bởi quyền phổ biến thông tin thuộc nội dung của quyền tự
do thông tin - một quyền có nội hàm rộng hơn quyền tiếp cận thông tin Như
8 Nguyễn Đăng Dung và đồng chủ biên, tlđd (2), tr.574
9 Lê Thị Hồng Nhung (2011), “Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 5, tr.23
Trang 15vậy, quyền tiếp cận thông tin về đất đai cũng bao gồm hai thành tố: quyền tiếp nhận thông tin về đất đai và quyền tìm kiếm thông tin về đất đai
Thứ nhất, quyền tiếp nhận thông tin về đất đai của công dân là khả năng
công dân nhận được những thông tin về đất đai sẵn do Nhà nước công khai Để công dân thực hiện được quyền này thì Nhà nước phải có trách nhiệm công khai các thông tin về đất đai dưới nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn, nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp phải được lấy ý kiến nhân dân dưới hình thức công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời phải tổ chức hội nghị để lấy ý kiến nhân dân tại Ủy ban nhân dân cấp xã đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện10
Sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quyết định, phê duyệt thì phải công bố công khai trên trang thông tin điện tử và tại trụ sở cơ quan11 Hoặc trong trình tự, thủ tục Nhà nước thu hồi đất, thì cơ quan nhà nước phải thông báo thu hồi đất đến từng người có đất bị thu hồi, tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực thu hồi đất, niêm yết công khai phương án này tại trụ sở
Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi Sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt thì phải tiếp tục niêm yết quyết định phê duyệt phương án cũng tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp
xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi12 Như vậy, công dân có thể tiếp nhận thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thông tin về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thông qua website, tại trụ sở của chủ thể có trách nhiệm công khai và kể cả tiếp nhận thông qua các hội nghị, buổi họp trực tiếp với chủ thể
có trách nhiệm công khai
Từ những quy định trên cho thấy, Nhà nước phải chủ động công khai các thông tin về đất đai thì công dân mới thực hiện được quyền tiếp nhận thông tin Hay nói cách khác, quyền tiếp nhận thông tin về đất đai thể hiện tính chủ động của chủ thể có nghĩa vụ là Nhà nước Việc công dân tiếp nhận thông tin là sự thụ hưởng từ chế độ công khai thông tin của Nhà nước Do đó đòi hỏi Nhà nước phải công khai thông tin về đất đai làm sao để người dân dễ tiếp cận, công khai thông
10 Điều 42 Luật Đất đai năm 2013
11 Điều 48 Luật Đất đai năm 2013
12
Điều 69 Luật Đất đai năm 2013
Trang 16tin đúng, đủ, kịp thời để đáp ứng quyền tiếp nhận thông tin của công dân13 Thông tin về đất đai phải được công khai thông tin về đất dưới nhiều hình thức để đảm bảo rằng công dân dù có khác nhau về đối tượng, trình độ dân trí, vùng miền, khu vực… đều có thể tiếp nhận được Hình thức công khai càng đa dạng, phạm vi thông tin đất đai được công khai càng rộng thì công dân càng dễ tiếp cận
Thứ hai, quyền tìm kiếm thông tin về đất đai là khả năng công dân yêu cầu
các chủ thể có trách nhiệm cung cấp các thông tin về đất đai do các chủ thể này nắm giữ Việc tìm kiếm thông tin về đất đai thể hiện tính chủ động của chủ thể
có quyền Sở dĩ bên cạnh quyền tiếp nhận thông tin, công dân còn có quyền tìm kiếm thông tin là vì không phải bất kỳ thông tin về đất đai nào cũng đều được Nhà nước công khai Do đó, muốn có được thông tin thì công dân sẽ yêu cầu Nhà nước cung cấp Tương ứng quyền tìm kiếm thông tin của công dân chính là nghĩa vụ phải cung cấp thông tin của Nhà nước Công dân sẽ chủ động tìm kiếm, thu thập thông tin về đất đai thông qua hình thức trực tiếp đến trụ sở để yêu cầu cung cấp thông tin hoặc gửi phiếu yêu cầu qua mạng điện tử, dịch vụ bưu chính, fax đến cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin14 Khi đó, cơ quan có trách nhiệm cũng phải cung cấp thông tin tại trụ sở cơ quan mình hoặc cung cấp thông qua mạng điện tử, dịch vụ bưu chính, fax15 Nếu như công dân không phải tốn phí khi tiếp nhận những thông tin đất đai có sẵn mà Nhà nước đã công khai, thì khi thực hiện quyền tìm kiếm thông tin, công dân sẽ phải trả phí để được cung cấp thông tin
Khi nhận được phiếu yêu cầu hợp lệ thì cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc cung cấp thông tin cho cá nhân có yêu cầu Tuy nhiên, không phải bất kỳ thông tin nào cũng đều được cung cấp Nếu là thông tin về người sử dụng đất và thông tin thuộc tính thửa đất của các đơn vị quốc phòng, an ninh; thông tin về cá nhân của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất mà người đó có yêu cầu bảo mật phù hợp với quy định của pháp luật; các thông tin khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước thì sẽ được quản lý ở chế độ mật và
Trang 17sẽ không cung cấp khi có yêu cầu16
Đồng thời, không phải bất kỳ yêu cầu nào cũng được cung cấp dữ liệu mặc dù thông tin yêu cầu cung cấp không thuộc chế
độ mật, chẳng hạn như: người yêu cầu không thực hiện nghĩa vụ tài chính, phiếu yêu cầu với nội dung không rõ ràng, mục đích sử dụng thông tin không phù hợp quy định của pháp luật17 Nếu từ chối cung cấp thông tin thì phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do không cung cấp
Giữa quyền tiếp nhận và quyền tìm kiếm thông tin về đất đai có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Nếu Nhà nước chủ động công khai càng nhiều thông tin về đất đai thì công dân càng dễ tiếp nhận Khi đó, công dân sẽ hạn chế thực hiện quyền tìm kiếm thông tin Và trong trường hợp khi công dân tìm kiếm thông tin đất đai mà phát hiện có những thông tin đáng lý phải công khai nhưng chưa được công khai, thì công dân có quyền yêu cầu Nhà nước thực hiện công khai để đảm bảo quyền tiếp nhận thông tin của công dân18
1.1.3 Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
Thông tin về đất đai là cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của xã hội vì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, quyết định sự sống còn của con người Do đó quyền tiếp cận thông tin về đất có ý nghĩa rất lớn đối với công dân, đối với hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai và cả đối với sự phát triển của thị trường bất động sản
Thứ nhất, quyền tiếp cận thông tin về đất đai giúp minh bạch thị trường bất
động sản Nếu thông tin về đất đai không còn mập mờ, được công khai, cung cấp một cách đầy đủ và chính thống thì sẽ ngăn chặn được tình trạng sốt ảo, đầu cơ bất động sản Về phía chủ đầu tư, thông tin về thị trường bất động sản giúp cho
họ nhận thấy nhu cầu thị trường, khả năng sinh lợi và mức độ rủi ro khi quyết định đầu tư Qua đó, giúp họ định hình một cách vững chắc nhu cầu kinh doanh
và khả năng tài chính của mình trước khi thực hiện dự án Đối với những đối tượng khác trong xã hội thì vấn đề minh bạch hóa thông tin về bất động sản giúp cho các giao dịch trong thị trường bất động sản thực hiện theo trật tự do pháp
16
Điều 31 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định về
hồ sơ địa chính (sau đây được gọi là Thông tư 24/2014/TT-BTNMT)
17 Điều 13 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai (sau đây được gọi là Thông tư 34/2014/TT-BTNMT)
18
Thái Thị Tuyết Dung, tlđd (14), tr.30
Trang 18luật quy định, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch Qua đó thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, đúng định hướng
do Nhà nước hoạch định
Thứ hai, quyền tiếp cận thông tin sẽ góp phần hạn chế tranh chấp đất đai,
khiếu nại, khiếu kiện về đất đai Khi tham gia các giao dịch về quyền sử dụng đất, các bên thường sẽ rất quan tâm đến thông tin quy hoạch, chủ sử dụng đất, vị trí, diện tích thửa đất, pháp lý về thửa đất, những hạn chế về quyền sử dụng đất Nếu tiếp cận được những thông tin này thì sẽ bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch Các chủ thể sẽ nhận thức được quyền của mình và tôn trọng quyền của người khác, từ đó dẫn đến hạn chế tranh chấp Đồng thời, khi công dân
có được thông tin về đất đai thì sẽ biết được quyền và nghĩa vụ của mình Chẳng hạn, khi biết thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì người sử dụng đất sẽ biết được mình có quyền đầu tư tạo lập công trình xây dựng hay không, có quyền giao dịch hay không Hoặc với thông tin về giá đất được công khai thì người dân cũng sẽ biết được nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai Nếu đã hiểu được quyền và nghĩa vụ thì sẽ hạn chế phát sinh mâu thuẫn với Nhà nước trong các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, tránh khiếu nại, khiếu kiện về đất đai
Thứ ba, quyền tiếp cận thông tin về đất đai giúp hoạt động quản lý nhà nước
trong lĩnh vực đất đai được công khai, minh bạch, góp phần đấu tranh phòng chống tham nhũng Nếu thông tin về đất đai bị bưng bít, không công khai đến người dân thì sẽ tạo ra tình trạng đặc quyền, đặc lợi cho những người có vị trí công tác trong lĩnh vực đất đai bởi họ là nhóm người dễ dàng tiếp cận thông tin hơn Từ đó sẽ kéo theo vấn nạn tham nhũng và đất đai là được xem là một trong những lĩnh vực tham nhũng nhiều nhất19
Nhưng vì công dân có quyền tiếp cận thông tin nên khi công dân thực hiện quyền này, đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp bằng cách thủ động công khai hoặc cung cấp khi có yêu cầu Khi thông tin được công khai thì sẽ hạn chế tình trạng trục lợi từ những người có thẩm quyền trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai
Thứ tư, quyền tiếp cận thông tin về đất đai giúp công dân thực hiện quyền
giám sát trong hoạt động động quản lý, sử dụng đất đai một cách hiệu quả, góp
19 Đỗ Hòa, “Đất đai là một trong những lĩnh vực tham nhũng nhiều nhất”, dai-la-mot-trong-nhung-linh-vuc-tham-nhung-nhieu-nhat-20160120172459622.chn, truy cập ngày 12/7/2017
Trang 19http://cafef.vn/bat-dong-san/dat-phần phát huy dân chủ Theo quy định của của Luật Đất đai năm 2013, công dân được tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai Công dân có quyền giám sát ở nhiều nội dung: giám sát việc lập, điều chỉnh, công bố, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, việc điều phối đất đai, việc thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư 20
Lẽ dĩ nhiên, để giám sát được các nội dung này thì đòi hỏi công dân phải có được thông tin Do đó, quyền tiếp cận thông tin về đất đai là cơ
sở để công dân thực hiện quyền giám sát trong quản lý, sử dụng đất đai
1.2 Quá trình phát triển của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
1.2.1 Giai đoạn từ trước năm 2003
Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị từ năm
1982 Từ đó, Hiến pháp năm 1992 đã lần đầu ghi nhận quyền được thông tin của công dân Tuy nhiên, quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân vẫn chưa được luật hóa tại Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001 Lúc bấy giờ, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin về đất chủ yếu dựa trên cơ sở các quy định về dân chủ ở cơ sở Chẳng hạn, Chỉ thị 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và thực quy chế dân chủ ở cơ sở quy định mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hàng ngày của nhân dân tại cơ sở Tiếp theo, Nghị định 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định chính quyền địa phương có trách nhiệm thông tin kịp thời và công khai để nhân dân biết về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai Có thể thấy, mặc dù
đã được hiến định nhưng trong giai đoạn trước năm 2003, quyền tiếp cận thông tin nói chung và thông tin về đất đai nói riêng chỉ được ghi nhận tản mác thông qua quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.2.2 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2013
Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời đã có những chuyển biến tích cực về khả năng công dân tiếp cận được với thông tin về
20
Điều 199 Luật Đất đai năm 2013
Trang 20đất đai Đơn cử như quy định công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Điều 28 Luật Đất đai năm 2003:
“Trong thời hạn không quá ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được công bố công khai theo quy định sau đây:
1 Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của địa phương tại trụ sở Uỷ ban nhân dân;
2 Cơ quan quản lý đất đai các cấp có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương tại trụ sở cơ quan và trên các phương tiện thông tin đại chúng.”
Như vậy, Luật đã xã định rõ trách nhiệm công bố, hình thức, thời hạn công
bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận Bên cạnh đó, thông tin về giá đất do Nhà nước quy định cũng phải được được công khai21
Mặc dù lúc bấy giờ, giá đất do Nhà nước quy định còn chênh lệch lớn so với giá đất thị trường22, nhưng việc công khai thông tin về khung giá đất, bảng giá đất cũng đã giúp có người sử dụng đất xác định được nghĩa vụ tài chính của mình hoặc xác định được tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Trong giai đoạn này, các nhà lập pháp cũng đã quy định việc cung cấp thông tin đất đai trong hồ sơ địa chính Cụ thể, theo Thông tư 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính thì Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin khi tổ chức,
cá nhân có yêu cầu Việc cung cấp dịch vụ thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính được thực hiện dưới các hình thức tra cứu thông tin, trích lục bản đồ địa chính đối với từng thửa đất, trích sao sổ địa chính, sổ mục kê đất đai đối với từng thửa đất hoặc từng chủ sử dụng đất, tổng hợp thông tin đất đai23
Ngày 02/8/2007, Bộ Tài
21 Điều 56 Luật Đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
22 Vũ Ngọc Hà, “Một số bất cập của Luật Đất đai 2003”, https://thanhtra.thuathienhue.gov.vn/?gd=1&cn
=194&tc=513, truy cập ngày 30/5/2017
23
Mục VII Thông tư 29/2004/TT-BTNMT
Trang 21nguyên và Môi trường tiếp tục ban hành Thông tư 09/2007/TT-BTNMT hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính (sau đây được gọi là Thông tư 09/2007/TT-BTNMT) để thay thế cho Thông tư 29/2004/TT-BTNMT, với các quy định cung cấp thông tin trong hồ sơ địa chính cũng tương tự như quy định trong Thông tư 29/2004/TT-BTNMT
Như vậy, kể từ khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, những quy định về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân dù thể hiện tương đối rõ nét hơn trước đây nhưng vẫn còn tản mác ở nhiều văn bản khác nhau
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay
Hiến pháp năm 2013 ra đời đã dành sự chú trọng rất lớn đối với quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Trong đó, Hiến pháp năm 2013 khẳng định công dân có quyền tiếp cận thông tin Để thể chế hóa Hiến pháp, những quy định trong Luật Đất đai năm 2013 đã mở ra một bước ngoặt cho quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân Theo đó, công dân được quyền khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu đất đai qua công thông tin đất đai ở trung ương, địa phương Tương ứng quyền tiếp cận thông tin của công dân chính là nghĩa vụ cung cấp thông tin của Nhà nước nên trách nhiệm cung cấp thông tin đất đai của Nhà nước cũng được luật hóa Cụ thể, Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, quản lý
hệ thống thông tin đất đai và đảm bảo quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với
hệ thống thông tin đất đai Công bố kịp thời, công khai thông tin thuộc hệ thống thông tin đất đai cho tổ chức, cá nhân, trừ những thông tin thuộc bí mật theo quy định của pháp luật Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý, sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin về đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật24
Những quy định về quyền tiếp cận các thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thông tin giá đất, thông tin trong quá trình Nhà nước thu hồi đất vẫn được tiếp tục ghi nhận theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho công dân tiếp cận
Ngày 04/6/2016, Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân đã được hiến định Lần đầu tiên, Nhà nước bảo đảm quyền tiếp cận thông tin bằng một đạo luật với nội dung khá đầy
24
Điều 28 Luật Đất đai năm 2013
Trang 22đủ Đây là một hành lang pháp lý vững chắc để công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin về đất đai
1.3 Quy định pháp luật về quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
1.3.1 Pháp luật về quyền tiếp nhận thông tin về đất đai
1.3.1.1 Chủ thể có quyền tiếp nhận thông tin về đất đai
Thông tin về đất đai được Nhà nước công khai với mục đích là để mọi người đều biết, dù là đối tượng trong nước hay có yếu tố nước ngoài Cho nên chủ thể có quyền tiếp nhận thông tin đất đai dường như không có giới hạn Lý lẽ này được đúc kết từ quy định về hình thức công khai các thông tin đất đai Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia và cấp tỉnh, việc lấy
ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh25 Sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện được quyết định, phê duyệt phải được công khai trên trang thông tin điện tử và tại trụ sở của cơ quan
có trách nhiệm26 Đối với hoạt động Nhà nước quy định giá đất, thì khung giá đất
và bảng giá đất được ban hành cũng được Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố công khai theo hình thức công khai văn bản quy phạm pháp luật Còn trong hoạt động Nhà nước thu hồi đất, thì thông báo thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã
và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi hoặc công khai trên phương tiện thông tin đại chúng Với hình thức công khai như trên thì mọi người đều có thể tiếp cận mà không giới hạn chỉ bao gồm công dân Việt Nam
1.3.1.2 Chủ thể có nghĩa vụ công khai thông tin về đất đai
Về phía chủ thể có nghĩa vụ công khai, những thông tin về đất đai trong từng hoạt động khác nhau sẽ quyết định cơ quan có trách nhiệm công khai
Thứ nhất, đối với thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong, việc
công khai được thực hiện ở hai giai đoạn: một là công khai để lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hai là công khai sau khi quy hoạch, kế
Trang 23hoạch sử dụng đất được phê duyệt Cụ thể, trong quá trình lấy ý kiến nhân dân,
cơ quan có trách nhiệm công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công khai nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường27
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công khai nội dung quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh28
- Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công khai thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện thông qua hai hình thức: một là công khai thông tin về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện, hai là tổ chức hội nghị để lấy ý kiến trực tiếp nhân dân tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã29
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện sau khi
đã được quyết định, phê duyệt thì cơ quan có trách nhiệm công bố công khai là:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất cấp huyện tại trụ sở cơ quan, trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện và công bố công khai nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện có liên quan đến xã, phường, thị trấn tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã
Thứ hai, đối với vấn thông tin trong quá trình Nhà nước thu hồi đất, việc
công khai thông tin được thực hiện ở ba giai đoạn: một là thông báo thu hồi đất,
27 Khoản 6 Điều 14 Thông tư 29/2014/TT-BTNMT
28 Khoản 6 Điều 33 Thông tư 29/2014/TT-BTNMT
29
Khoản 2 Điều 43 Luật Đất đai năm 2013
Trang 24hai là lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và ba là sau khi quyết định thu hồi đất, quyết định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Ở giai đoạn thông báo thu hồi đất, sau khi được Ủy ban nhân dân có thẩm quyền thu hồi đất ban hành, thông báo thu hồi đất phải được gửi đến từng người
có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp
xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi Giai đoạn này, việc công khai được thực hiện bởi tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng30
Đến giai đoạn lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
thì chủ thể có trách nhiệm công khai được quy định như sau: “Tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi” 31
Sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định được phê duyệt thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tiếp tục phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi
Như vậy, chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin trong quá trình Nhà nước thu hồi đất chính là tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng Theo quy định, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng bao gồm
tổ chức dịch vụ công về đất đai, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định32
Và cụ thể hơn, tổ chức dịch vụ công về đất đai có chức năng thực hiện việc bồi thường,
hỗ trợ, tái định khi Nhà nước thu hồi đất chính là Tổ chức phát triển quỹ đất33
Như vậy, trong quá trình Nhà nước thu hồi đất, chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin là Tổ chức phát triển quỹ đất, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
30
Khoản 1 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013
31 Khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013
32 Khoản 1 Điều 68 Luật Đất đai năm 2013
33 Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
Trang 25Thứ ba, đối với thông tin về khung giá đất, bảng giá đất thì trách nhiệm
công khai lần lượt thuộc về Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Cụ thể, Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng34 Căn cứ vào khung giá đất, nguyên tắc, phương pháp định giá đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng và ban hành định kỳ 05 năm một lần và
có trách nhiệm công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ35
1.3.1.3 Thông tin về đất đai được công khai
Luật Tiếp cận thông tin quy định rất nhiều loại thông tin phải được công khai rộng rãi, bao gồm:
- Văn bản quy phạm pháp luật; văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung; Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là một bên; thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc của cơ quan nhà nước;
- Thông tin phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách đối với những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước;
- Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; nội dung và kết quả trưng cầu ý dân, tiếp thu
ý kiến của Nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan nhà nước mà đưa ra lấy ý kiến Nhân dân theo quy định của pháp luật; đề án
và dự thảo đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, Điều chỉnh địa giới hành chính;
- Chiến lược, chương trình, dự án, đề án, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương; quy hoạch ngành, lĩnh vực và phương thức, kết quả thực hiện; chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan nhà nước;
- Thông tin về dự toán ngân sách nhà nước; báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước; quyết toán ngân sách nhà nước; dự toán, tình hình thực hiện, quyết toán ngân sách đối với các chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước; thủ tục ngân sách nhà nước;
Trang 26- Thông tin về phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và nguồn viện trợ phi chính phủ theo quy định; thông tin về quản lý, sử dụng các Khoản cứu trợ, trợ cấp xã hội; quản lý, sử dụng các Khoản đóng góp của Nhân dân, các loại quỹ;
- Thông tin về danh Mục dự án, chương trình đầu tư công, mua sắm công
và quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công; thông tin về đấu thầu; thông tin về quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn;
- Thông tin về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nýớc tại doanh nghiệp; báo cáo đánh giá kết quả hoạt động và xếp loại doanh nghiệp; báo cáo giám sát tình hình thực hiện công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đại diện chủ sở hữu; thông tin về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước;
- Thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có tác động tiêu cực đến sức khỏe, môi trường; kết luận kiểm tra, thanh tra, giám sát liên quan đến việc bảo vệ môi trường, sức khỏe của cộng đồng, an toàn thực phẩm, an toàn lao động;
- Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan
và của đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết các công việc của Nhân dân; nội quy, quy chế do cơ quan nhà nước ban hành;
- Báo cáo công tác định kỳ; báo cáo tài chính năm; thông tin thống kê về ngành, lĩnh vực quản lý; cơ sở dữ liệu quốc gia ngành, lĩnh vực; thông tin về tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức; thông tin về danh Mục và kết quả chương trình, đề tài khoa học;
- Danh mục thông tin phải công khai theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 34 của Luật này; tên, địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử của
cơ quan nhà nước hoặc người làm đầu mối tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin;
- Thông tin liên quan đến lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng;
- Thông tin về thuế, phí, lệ phí;
Trang 27- Thông tin khác phải được công khai theo quy định của pháp luật
Ngoài thông tin nêu trên, căn cứ vào điều kiện thực tế, cơ quan nhà nước chủ động công khai thông tin khác do mình tạo ra hoặc nắm giữ36
Trong các loại thông tin được liệt kê trên thì thông tin về đất đai phải được công khai là thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn Những thông tin này không phải đến khi có Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 mới được quy định phải công khai, mà Luật Đất đai năm
2013 và các văn bản hướng dẫn trước đó cũng đã có quy định
1.3.1.4 Hình thức công khai thông tin về đất đai
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định các hình thức công khai thông tin bao gồm: đăng tải trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo; niêm yết tại trụ sở cơ quan nhà nước và các địa điểm khác; thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật và các hình thức khác thuận lợi cho công dân do cơ quan có trách nhiệm công khai thông tin xác định37 Trường hợp pháp luật có quy định về hình thức công khai đối với thông tin cụ thể thì áp dụng quy định đó Trường hợp pháp luật không quy định cụ thể hình thức công khai
thông tin thì căn cứ vào điều kiện thực tế, cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung
cấp thông tin có thể lựa chọn một hoặc một số hình thức trên bảo đảm để công dân tiếp cận được thông tin
Trong lĩnh vực đất đai, hình thức công khai cũng khá đa dạng tùy thuộc vào loại thông tin cần công khai Đối với thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, việc công khai để lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua hình thức công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến và
tổ chức hội nghị để lấy ý kiến trực tiếp người dân Sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quyết định, phê duyệt thì việc công khai được thực thông qua hình thức đăng trên trang thông tin điện tử và tại trụ sở cơ quan có trách nhiệm công khai Đối với thông tin thu hồi đất, việc công khai thông báo thu hồi đất, phương
Trang 28án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được được thực hiện bằng cách niêm yết tại trụ
sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi Đối với thông báo thu hồi đất còn được công khai thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Đối với thông tin giá đất, việc công khai áp dụng đối với khung giá đất và bảng giá đất thông qua hình thức công khai văn bản quy phạm pháp luật, tức được đăng Công báo38
Một trong những điểm tiến bộ của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chính
là quy định về hình thức công khai dành cho người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn – nội dung mà Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn chưa quy định chi tiết Ngoài các hình thức công khai thông tin như đã liệt kê, cơ quan nhà nước xác định hình thức công khai thông tin phù hợp với khả năng, điều kiện tiếp cận thông tin của nhóm người này39 Cụ thể, đối với người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì việc công khai thông tin được thực hiện bằng nhiều hình thức, bao gồm40:
- Thông qua Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước (nếu có);
- Thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình trung ương, địa phương và các hệ thống truyền phát tin khác của địa phương; các chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc và các phương tiện thông tin đại chúng khác tại địa phương;
- Xây dựng tài liệu chuyên đề, tờ rơi, ấn phẩm; trong trường hợp cần thiết
và khả thi thì có thể được chuyển tải bằng ngôn ngữ dân tộc;
- Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt cộng đồng để chia sẻ thông tin cho công dân; chia sẻ kinh nghiệm về hoạt động cung cấp thông tin cho các khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
Trang 29- Lồng ghép hoạt động cung cấp thông tin trong các sự kiện văn hóa - chính trị của cơ quan, địa phương, trong kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông các chính sách mới của các cơ quan nhà nước trên địa bàn;
- Tăng thời lượng truyền, phát bản tin đối với loại thông tin liên quan đến
cơ chế, chính sách của người dân sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Đối với người khuyết tật thì thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của họ phải được kịp thời công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức cung cấp thông tin thuận lợi cho nhóm người này Đồng thời, căn cứ vào điều kiện thực tế, cơ quan nhà nước thiết lập Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử của cơ quan mình trong
đó có cung cấp chức năng cơ bản để hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho việc tiếp cận thông tin đăng tải trên các Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử41
1.3.2 Pháp luật về quyền tìm kiếm thông tin về đất đai
1.3.2.1 Chủ thể có quyền tìm kiếm thông tin về đất đai
Luật Đất đai năm 2013 đã quy định cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý, sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin về đất cho tổ chức, cá nhân42 Như vậy, kể cả tổ chức và cá nhân đều
có quyền yêu cầu Nhà nước cung cấp thông tin về đất đai Tuy nhiên, như đã giới hạn ở phạm vi nghiên cứu, người viết chỉ tập trung vào quyền của công dân Việt Nam
Để thực hiện quyền tìm kiếm thông tin thì công dân phải đáp ứng điều kiện
về năng lực chủ thể Luật Đất đai năm 2013, Thông tư 34/2014/TT-BTNMT chỉ quy định cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin mà không quy định cụ thể năng lực chủ thể của cá nhân Nhưng theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, thì người mất năng lực hành vi dân sự, người dưới 18 tuổi thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật Còn đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sẽ thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin
Trang 30thông qua người giám hộ43 Như vậy, công dân để thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin về đất đai phải là người đã thành niên, không bị mất năng lực hành
vi dân sự, không có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
1.3.2.2 Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin về đất đai
Tương ứng với quyền tìm kiếm chính của công dân chính là nghĩa vụ cung cấp thông tin của Nhà nước Các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin về đất đai được bao gồm:
- Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai ở Trung ương là Trung tâm Dữ liệu và Thông tin đất đai thuộc Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai ở địa phương Văn phòng đăng ký đất đai
- Đối với địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thì Văn phòng đăng ký đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp dữ liệu đất đai
từ hồ sơ địa chính theo phân cấp quản lý hồ sơ địa chính44
1.3.2.3 Thông tin về đất đai được cung cấp theo yêu cầu
Bản chất quyền tiếp cận thông tin là một quyền không tuyệt đối, do đó có
sự giới hạn về những thông tin mà công dân được tiếp cận Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin liệt kê những thông tin công dân không được tiếp cận như sau:
- Thông tin thuộc bí mật nhà nước (mà chưa được giải mật), bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng,
an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của luật
- Thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ
Bên cạnh đó, còn có những loại thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện Cụ thể, công dân được tiếp cận thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý Thông tin liên quan
43 Điều 4 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016
44
Điều 15 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT
Trang 31đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân sẽ được tiếp cận trong nếu được cá nhân đó đồng ý; thông tin liên quan đến bí mật gia đình sẽ được tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý45
Như vậy, trừ những thông tin mà công dân không được tiếp cận và những thông tin tiếp cận có điều kiện, thì những thông tin còn lại công dân sẽ được tiếp cận Trong đó, có những loại thông tin bắt buộc Nhà nước công khai cho công dân tiếp cận và những loại thông tin không buộc Nhà nước phải công khai nhưng công dân vẫn được tiếp cận thông qua việc yêu cầu Nhà nước cung cấp Tuy nhiên, có những thông tin mặc dù đã được Nhà nước công khai, nhưng vì những
lý do khác nhau mà công dân không tiếp nhận được Những loại thông tin này công dân cũng sẽ có quyền yêu cầu Nhà nước cung cấp Do đó, Luật Tiếp cận thông tin quy định những loại thông tin được cung cấp theo yêu cầu bao gồm: (i) Những thông tin phải được công khai theo quy định tại Điều 17 của Luật Tiếp cận thông tin nhưng thuộc trường hợp sau đây: thông tin trong thời hạn công khai nhưng chưa được công khai; thông tin hết thời hạn công khai theo quy định của pháp luật; thông tin đang được công khai nhưng vì lý do bất khả kháng người yêu cầu không thể tiếp cận được
(ii) Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đủ điều kiện cung cấp theo quy định tại Điều 7 của Luật Tiếp cận thông tin
(iii) Thông tin liên quan đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người yêu cầu cung cấp thông tin nhưng không thuộc loại thông tin phải công khai quy định tại Điều 17 của Luật Tiếp cận thông tin và thông tin liên quan đến
bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà đủ điều kiện cung cấp
(iv) Thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc nắm giữ không thuộc trường hợp (i), (ii) và (iii) nhưng căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn, điều kiện và khả năng thực tế của mình, cơ quan nhà nước quyết định cung cấp cho công dân Trong lĩnh vực đất đai thì công dân sẽ không được tiếp cận với những loại thông tin sau đây:
45
Điều 7 Luật tiếp cận thông tin năm 2016
Trang 32- Thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước Danh mục tài liệu mật về đất đai thuộc danh mục tài liệu bí mật nhà nước được quy định tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường và Quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an về danh mục bí mật nhà nước độ Mật trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường
- Thông tin về người sử dụng đất và thông tin thuộc tính thửa đất của các đơn vị quốc phòng, an ninh;
- Thông tin về cá nhân của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất mà người đó có yêu cầu bảo mật phù hợp với quy định của pháp luật46
Theo logic của vấn đề thì trừ những thông tin về đất đai được bảo mật đã liệt kê như trên, những thông tin về đất đai còn lại công dân sẽ được tiếp cận Trong đó, thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư là những thông tin bắt buộc phải công khai Còn những thông tin về đất đai được cung cấp theo yêu cầu gồm có những thông tin nào thì Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn chưa quy định cụ thể Tuy nhiên, để yêu cầu cung cấp thông tin về đất đai thì công dân sẽ thực hiện thông qua Phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai47
Trong mẫu Phiếu yêu cầu, Bộ Tài nguyên và Môi trường liệt kê danh mục và nội dung dữ liệu đất đai cần cung cấp bao gồm: thông tin về thửa đất (số hiệu thửa đất, số tờ bản đồ địa chính, diện tích, địa chỉ); thông tin về người sử dụng đất (họ tên, năm sinh, chứng minh nhân dân, địa chỉ); thông tin quyền sử dụng đất; thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thông tin giao dịch bảo đảm; thông tin hạn chế về quyền sử dụng đất; tình trạng pháp lý, lịch sử biến động; giá đất Như vậy, đây là những thông tin về đất đai công dân được cung cấp theo yêu cầu
1.3.2.4 Hình thức yêu cầu cung cấp thông tin và hình thức cung cấp thông tin về đất đai
Luật Tiếp cận thông tin quy định công dân có thể yêu cầu cung cấp thông tin thông qua hai hình thức: một là trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác đến trụ sở của cơ quan nhà nước yêu cầu cung cấp thông tin, hai là gửi Phiếu yêu cầu
46 Điều 31 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT
47
Mẫu Phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai được ban hành kèm theo Thông tư 34/2014/TT-BTNMT
Trang 33qua mạng điện tử, dịch vụ bưu chính, fax đến cơ quan cung cấp thông tin48 Trong lĩnh vực đất đai cũng tương tự, người yêu cầu có thể nộp phiếu yêu cầu trực tiếp tại cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai hoặc gửi phiếu yêu cầu qua đường công văn, fax, bưu điện, thư điện tử hoặc qua cổng thông tin đất đai49
Đối với hình thức cung cấp thông tin về đất đai thì Thông tư BTNMT không quy định cụ thể hình thức cung cấp thông tin mà chỉ quy định rằng khi nhận được phiếu yêu cầu hợp lệ thì cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện việc cung cấp dữ liệu cho người yêu cầu và việc khai thác dữ liệu thông qua phiếu yêu cầu được thực hiện theo các quy định của pháp luật Như vậy, tùy thuộc vào hình thức yêu cầu cung cấp cung thông tin thì sẽ có hình thức cung cấp thông tin tương ứng Cụ thể, có hai hình thức cung cấp thông tin được quy định Điều 25 Luật Tiếp cận thông tin như sau: cơ quan được yêu cầu cung cấp tại trụ sở của cơ quan mình và cung cấp qua mạng điện tử, dịch vụ bưu chính, fax
34/2014/TT-1.3.2.5 Trình tự, thủ tục cung cấp thông tin về đất đai
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định trình tự thủ tục cung cấp thông tin khi có yêu cầu khác nhau để phù hợp với hình thức yêu cầu cung cấp thông tin
Trường hợp thứ nhất, nếu công dân yêu cầu cung cấp thông tin tại trụ sở cơ
quan có trách nhiệm thì trình tự, thủ tục được quy định như sau:
- Thông tin yêu cầu là đơn giản hay phức tạp Đối với thông tin đơn giản,
có sẵn có thể cung cấp ngay thì người yêu cầu cung cấp thông tin được trực tiếp đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp tài liệu hoặc yêu cầu cung cấp ngay bản sao, bản chụp tài liệu
- Đối với thông tin phức tạp, không có sẵn mà cần tập hợp từ các bộ phận của cơ quan đó hoặc thông tin cần thiết phải có ý kiến của cơ quan, tổ chức, đơn
vị khác thì chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ,
cơ quan được yêu cầu phải thông báo cho người yêu cầu đến trụ sở để đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp tài liệu hoặc nhận bản sao, bản chụp tài liệu hoặc
có văn bản thông báo về việc từ chối cung cấp thông tin Trường hợp cơ quan
48 Điều 24 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016
49
Khoản 1 Điều 12 Thông tư 34/2014/TT-BTNMT
Trang 34được yêu cầu cần thêm thời gian để xem xét, tìm kiếm, tập hợp, sao chép, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin thì có thể gia hạn nhưng tối đa không quá 10 ngày làm việc và phải có văn bản thông báo về việc gia hạn trong thời hạn cung cấp thông tin50
Trường hợp thứ hai, nếu công dân yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng
điện tử, thì việc cung cấp được thực hiện bằng cách gửi tập tin đính kèm thư điện
tử, cung cấp mã truy cập một lần và chỉ dẫn địa chỉ truy cập để tải thông tin Đối với thông tin đơn giản, có sẵn có thể cung cấp ngay thì chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ, cơ quan được yêu cầu phải cung cấp thông tin Đối với thông tin phức tạp, không có sẵn mà cần tập hợp từ các bộ phận của cơ quan đó hoặc thông tin cần thiết phải có ý kiến của cơ quan, tổ chức, đơn vị khác thì chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp
lệ, cơ quan được yêu cầu phải thông báo bằng văn bản về thời hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin Chậm nhất là 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ, cơ quan được yêu cầu phải cung cấp thông tin hoặc có văn bản thông báo từ chối cung cấp thông tin Trường hợp cơ quan được yêu cầu cần thêm thời gian để xem xét, tìm kiếm, tập hợp, sao chép, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin thì có thể gia hạn nhưng tối đa không quá 15 ngày và phải có văn bản thông báo về việc gia hạn trong thời hạn cung cấp thông tin51
Trường hợp thứ ba, nếu công dân yêu cầu cung cấp thông tin qua bưu
chính, fax thì việc cung cấp thông tin sẽ theo trình tự, thủ tục sau:
- Đối với thông tin đơn giản, có sẵn có thể cung cấp ngay thì chậm nhất là
05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ, cơ quan được yêu cầu phải cung cấp thông tin
- Đối với thông tin phức tạp, không có sẵn mà cần tập hợp từ các bộ phận của cơ quan đó hoặc thông tin cần thiết phải có ý kiến của cơ quan, tổ chức, đơn
vị khác thì chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ,
cơ quan được yêu cầu phải thông báo bằng văn bản về thời hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin Chậm nhất là 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
Trang 35yêu cầu hợp lệ, cơ quan được yêu cầu phải cung cấp thông tin hoặc có văn bản thông báo từ chối cung cấp thông tin
Trường hợp cơ quan được yêu cầu cần thêm thời gian để xem xét, tìm kiếm, tập hợp, sao chép, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin thì có thể gia hạn nhưng tối đa không quá 15 ngày và phải có văn bản thông báo về việc gia hạn trong thời hạn cung cấp thông tin
Mặc dù Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 phân biệt trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo từng hình thức yêu cầu, nhưng đối với thông tin về đất đai thì Thông tư 34/2014/TT-BTNMT chưa quy định chi tiết từng trường hợp mà quy định chung như sau: Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai tiếp nhận yêu cầu, xử lý
và thông báo nghĩa vụ tài chính (trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính) cho tổ chức, cá nhân Trường hợp từ chối cung cấp dữ liệu thì phải nêu rõ lý do
và trả lời cho tổ chức, cá nhân biết Sau khi tổ chức, cá nhân thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện cung cấp dữ liệu đất đai theo yêu cầu Trường hợp nhận được yêu cầu trước 15 giờ thì phải cung cấp ngay trong ngày; trường hợp nhận được yêu cầu sau 15 giờ thì cung cấp dữ liệu đất đai được thực hiện vào ngày làm việc tiếp theo52
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG DÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.1 Thực trạng quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân
2.1.1 Thực trạng quyền tiếp nhận thông tin về đất đai
Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn cùng với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã có những quy định đề cao quyền tiếp nhận thông tin về đất đai Tuy nhiên các quy định của pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập và việc áp dụng trên thực tế cũng không đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân
Thứ nhất, về chủ thể có quyền tiếp nhận thông tin về đất đai
Đối với nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong quá trình lấy ý kiến, thì Luật Đất đai năm 2013 quy định đối tượng được lấy ý kiến là nhân dân
Có hai hình thức để lấy ý kiến: một là, lấy ý kiến bằng cách công khai thông tin
trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện; hai là, tổ chức hội nghị tại Ủy ban nhân
dân cấp xã để lấy ý kiến trực tiếp nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện Tuy nhiên, đối với hình thức thứ hai, việc mời người dân nào đến hội nghị để lấy ý kiến thì Luật Đất đai và văn bản hướng dẫn chưa quy định cụ thể Chỉ có người dân có sử dụng đất thuộc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện thì mới được mời, hay mời tất cả người dân sinh sống trên địa bàn cấp huyện, hoặc mời cả người cư trú trên địa bàn cấp huyện và cả những người cư trú trên địa bàn cấp huyện liền kề Việc không quy định cụ thể đối tượng người dân được lấy ý kiến sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thông nhất và sẽ không đảm bảo quyền của người dân chịu ảnh hưởng bởi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tương tự, trong trình tự thu hồi đất bắt buộc phải công khai thông báo thu hồi đất bằng cách họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi Tuy nhiên, Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn không quy định đối tượng người dân trong khu vực có đất thu hồi gồm những ai Chính vì thế, việc thông báo thu