1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế định nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp

109 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Định Nguyên Thủ Quốc Gia Trong Hiến Pháp
Tác giả TS. Đỗ Minh Khôi
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, những chủ trương lớn của Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện trong văn kiện Đại hội 10 như: “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, MÔ HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VỊ TRÍ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA 7

1.1 Khái niệm về nguyên thủ quốc gia 7

1.2 Nguyên thủ trong các mô hình chính thể 11

1.3 Chế định nguyên thủ quốc gia trong lịch sử lập hiến Việt Nam 19

CHƯƠNG 2: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGUYÊN THỦ QUỐC GIA 38

2.1 Khái quát chung về vai trò, chức năng của nguyên thủ quốc gia 38

2.2 Hình thành nguyên thủ quốc gia 44

2.3 Quyền hạn của nguyên thủ quốc gia 47

CHƯƠNG III: QUYỀN HẠN CỦA NGUYÊN THỦ QUỐC GIA TRONG CÁC HIẾN PHÁP ĐIỂN HÌNH 58

3.1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1787 58

3.2 Hiến pháp Cộng hòa Italia năm 1947 60

3.3 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 61

3.4 Hiến pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1982 (sửa đổi năm 1988, năm 1993, năm 1999, năm 2004) 63

3.5 Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 64

CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ QUỐC GIA TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM HIỆN HÀNH 66

4.1 Phương pháp đánh giá chế định nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp hiện hành 66

4.2 Đánh giá về vị trí vai trò hiến định của nguyên thủ quốc gia 68

4.3 Đánh giá về phương thức hình thành nguyên thủ quốc gia 71

4.4 Đánh giá về thẩm quyền hiến định 73

CHƯƠNG V: KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ QUỐC GIA TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM HIỆN HÀNH 84

4.1 Nhu cầu và điều kiện hoàn cảnh 84

4.2 Phương hướng và nguyên tắc 87

4.3 Những sửa đổi cụ thể về vị trí, vai trò và thẩm quyền 89

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 3

2

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, MÔ HÌNH

1 Vai trò của nguyên thủ quốc gia trong các mô hình chính thể 19

2 Mối quan hệ giữa vai trò và chức năng của nguyên thủ quốc gia 44

4 So sánh mô hình chính thể và vai trò của nguyên thủ quốc gia

qua các bản hiến pháp ở Việt Nam

71

6 So sánh các loại quyền quan trọng của nguyên thủ quốc gia 80

7 So sánh các quyền tượng trưng, thủ tục của nguyên thủ quốc gia

qua các bản hiến pháp ở Việt Nam

82

10 Quy định về nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp một số nước Phụ lục

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Những nghiên cứu về giới lãnh đạo nói chung trong chế độ dân chủ hiện đại cho đến nay là tương đối hạn chế (John Kane and Haig Patapan2008) Mặc dù giới lãnh đạo là một trong những vấn đề dễ nhận diện nhưng lại là vấn đề ít được biết đến nhất trong giới học giả (Den Hartog, Deanne and Paull Koopman2001) Có thể nói, nghiên cứu về vai trò của nguyên thủ quốc gia với tư cách là lãnh đạo chính trị cũng trong bối cảnh tương tự Có lẽ một trong những lý do cơ bản là quá khứ với các vị vua chuyên chế và chế độ độc tài trong thế kỷ 20 là một nguyên nhân khiến giới học thuật coi nhẹ vai trò của người lãnh đạo nói chung và nguyên thủ quốc gia nói riêng (Power 2012) Có quan điểm cho rằng, những nghiên cứu về vai trò của lãnh đạo nói chung và nguyên thủ quốc gia nói riêng của các lý thuyết gia cổ điển không được chú ý bởi quan niệm rằng phần lớn những nhà lãnh đạo hành xử không đúng với lợi ích của quần chúng Tuy nhiên, những quan niệm này cần thay đổi Lãnh đạo trong xã hội hiện đại không chỉ có vai trò rất quan trọng trong thời kỳ khủng hoảng mà còn có vai trò quan trọng trong các thời kỳ khác Lãnh đạo có thể thúc đẩy sự phát triển xã hội đặc biệt trong nửa cuối của thế kỷ 20 khi mà vai trò của nhà nước ngày càng trở lên quan trọng (Jean Blondel 1987)

Vai trò của lãnh đạo chính trị nói chung và nguyên thủ quốc gia nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến thể chế, con người và toàn bộ xã hội Tuy nhiên, lãnh đạo nói chung và đặc biệt vị trí đứng đầu trong hành pháp có xu hướng cá nhân hóa nếu địa vị của họ không được thiết lập một cách chặt chẽ và vững chắc trong hiến pháp và pháp luật (Lewis J Edinger1990) Vì vậy, vai trò, chức năng và thẩm quyền của lãnh đạo chính trị và nguyên thủ quốc gia cần phải được hiến định, pháp định và đây cũng chính là một trong những lý do của Đề tài

Xét từ thực tế Việt Nam, Đề tài có tính thời sự bởi việc hoàn thiện phương thức

tổ chức và vận hành quyền lực của các cơ quan nhà nước ở trung ương nói chung và của nguyên thủ quốc gia nói riêng là một nội dung rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế chính trị pháp lý và quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 Mặt khác, những chủ trương lớn của Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện trong văn kiện Đại hội 10 như:

“Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” và chủ trương “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” “Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình

Trang 5

4

thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện” trong Văn kiện Đại hội 11 đặt ra những thay

đổi nhất định trong quá trình kiến thiết và vận hành chính thể nói chung và chế định nguyên thủ quốc gia nói riêng Vì vậy, nghiên cứu chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp hiện hành đặt trong bối cảnh hoàn thiện thể chế và sửa đổi Hiến pháp 1992, gắn

với đặc thù Việt Nam hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về chế định nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp ở Việt Nam hiện nay

đã có những công trình cơ bản như sau: Bùi Xuân Đức (2006), Lê Hải Châu (2006),

Lê Đình Tuyến (2001a,b), Đỗ Gia Thư (2003)… Những công trình nghiên cứu trên đây phần nào đã phác hoạ vị trí, vai trò và thẩm quyền của Chủ tịch nước trong hiến pháp Việt Nam về mặt lịch sử, pháp lý và thực tiễn Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa tiếp cận nguyên thủ quốc gia như là một chế định pháp lý trong khung cảnh mô hình chính thể và đặt trong điều kiện sửa đổi Hiến pháp 1992 trong giai đoạn hiện nay

Ở ngoài Việt Nam, đã có rất nhiều những nghiên cứu nổi tiếng liên quan đến chế định nguyên thủ quốc gia đặt trong mô hình thể chế ở nước ngoài như: Juan J Linz (1994), Shugart and Carey, J.M (1992), Valenzuela, Arturo (2004), James McGregor (1994), André Krouwel (2003), Steven D Roper (2002), Robert Elgie (2011), José Antonio Cheibub (2007), Frye, Timothy (1997), Alan Siaroff (2003), Baylis, (1996), Fortin, J (2012), Hellman, J (1996), Holmes, S (1993), Klaus Armingeon and Romana Careja (2007), Lucky, C (1993), Metcaft, L K (2000), Paul Webb (2011) …Tuy nhiên, những công trình cũng này chưa có nội dung nghiên cứu về Việt Nam và đặt trong bối cảnh hoàn thiện thể chế và sửa đổi Hiến pháp 1992 ở Việt Nam hiện nay

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của Công trình này nghiên cứu thiết kế hiến định vị trí nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp về mặt lý thuyết và thực tiễn hiến định Từ đó, kiến nghị hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia theo hiến pháp hiện hành của Việt Nam trong bối cảnh hoàn thiện thể chế chính trị pháp lý của quá trình sửa đổi Hiến pháp trong những điều kiện đặc thù của Việt Nam hiện nay Công trình này không đặt mục tiêu nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của hiến pháp về nguyên thủ quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là nghiên cứu một cách hệ thống về vai trò, chức năng và quyền hạn của nguyên thủ quốc gia nói đặt trong các mô hình chính thể điển hình Nhiệm vụ thứ hai là khảo sát, đánh giá vị trí, vai trò và thẩm quyền hiến định của nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp Việt Nam hiện hành Từ đó, nhiệm vụ thứ ba là kiến nghị hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia theo hiến pháp hiện hành của Việt Nam trong bối cảnh hoàn thiện thể chế chính trị

Trang 6

pháp lý của quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 trên cơ sở vận dụng những nguyên tắc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước đúc kết từ kinh nghiệm thế giới và đặt trong những điều kiện đặc thù của Việt Nam hiện nay

Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu Đề tài, nhóm tác giả kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính và có áp dụng ở mức độ nhất định phương pháp phân tích định lượng Bên cạnh đó, các tác giả cũng sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh khi nghiên cứu về vị trí, vai trò của Nguyên thủ quốc gia Nhóm tác giả cũng sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh khi nghiên cứu về quyền hạn của nguyên thủ quốc gia trong các bản hiến pháp điển hình ở Việt Nam Trên cơ sở đó, Đề tài phân tích, đánh giá các nguyên tắc tắc tổ chức và hoạt động của nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam theo các phương pháp định tính (vai trò, vị trí, chức năng) và định lượng ở mức độ nhất định (thẩm quyền)

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là chế định nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp Việt Nam hiện hành Trong đó, Đề tài khảo sát các nội dung cơ bản của chế định này như vị trí, vai trò và chức năng của nguyên thủ quốc gia, thẩm quyền hiến định của nguyên thủ quốc gia Vì nguyên thủ quốc gia là một vị trí pháp lý quan trọng, có mối liên quan chặt chẽ đến nhiều yếu tố khác, ví dụ mô hình chính thể, lịch sử lập hiến, cho nên Đề tài cũng nghiên cứu các vấn đề trên và có so sánh với kinh nghiệm lập hiến thế giới

Về phạm vi nghiên cứu, Đề tài tập trung nghiên cứu chế định nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp Việt Nam hiện hành và có so sánh với các bản hiến pháp ở Việt Nam trong lịch sử và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 năm 2013 Đề tài cũng có so sánh hiến định về nguyên thủ quốc gia với kinh nghiệm thế giới về lý thuyết cũng như thực tiễn lập hiến ở mức độ nhất định Đề tài cũng xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào lý thuyết về thiết kế thể chế hiến định, đặc biệt là vị trí nguyên thủ quốc gia

và không nghiên cứu việc thực hiện chế định nguyên thủ quốc gia trên thực tế

Điểm mới của Đề tài

Một trong những đóng góp khoa học có tính mới của Đề tài là nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết về vai trò, chức năng, thẩm quyền trong mối liên hệ với mô hình thể chế Điểm mới thứ hai là đánh giá đa chiều về vị trí, vai trò, thẩm quyền của chế định Chủ tịch nước trong hiến pháp hiện hành và có so sánh với các hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam Đặc biệt công trình đã là đánh giá sự tương tác giữa các quyền hạn với nhau về mặt lý thuyết nói chung và thể hiện ở Việt Nam nói riêng Cuối cùng, đóng góp khoa học của Đề tài thể hiện ở những kiến nghị mở rộng thẩm quyền của

Trang 7

Bố cục của Đề tài

Đề tài gồm Phần mở đầu, phần nội dung gồm 5 chương, phần Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục Chương 1 phân tích khái niệm và lịch sử phát triển của vị trí nguyên thủ quốc gia, Chương 2 phân tích nội dung lý thuyết về địa vị pháp lý của nguyên thủ quốc gia, Chương 3 tổng hợp những quyền hạn của nguyên thủ quốc gia trong các hiến pháp điển hình trên thế giới, Chương 4 đánh giá chế định nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp Việt Nam hiện hành và Chương 5 một số kiến nghị sửa đổi chế định nguyên thủ quốc gia

Trang 8

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VỊ TRÍ NGUYÊN

THỦ QUỐC GIA

1.1 Khái niệm về nguyên thủ quốc gia

Nghiên cứu về lãnh đạo nói chung và nguyên thủ quốc gia nói riêng có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau Ví dụ, dưới góc độ các ngành khoa học xã hội, lãnh đạo được tiếp cận chính trị học, xã hội học, đạo đức…và hình thành ba vai trò cơ bản của

lãnh đạo: lãnh đạo chính trị, lãnh đạo quản lý và vai trò lãnh đạo dân sự (Civic

leadership) Về phương pháp, tiếp cận lãnh đạo là trung tâm xem xét các đặc trưng,

khả năng nhận thức, thời thơ ấu, động lực cá nhân, hệ giá trị cá nhân, sự ổn định tinh thần…của lãnh đạo Tiếp cận lãnh đạo đặt trong mối quan hệ, theo đó xem xét tương tác giữa những người lãnh đạo và những người được lãnh đạo, những người đi theo họ Tiếp cận thể chế xem xét hệ các quy tắc được thiết kế trong chính thể nói chung và nguyên thủ quốc gia nói riêng mà việc thiết kế này nhằm thoả mãn các mức độ dân chủ trong chính trị và hiệu quả trong quản lý Tiếp cận theo bối cảnh xem xét môi trường và các yếu tố tác động đến lãnh đạo Tiếp cận hoạt động xem xét hành vi, sự

biểu hiện của lãnh đạo, coi lãnh đạo như những “vai diễn” và họ cần những “khán

giả” Tiếp cận đạo đức xem xét những việc mà lãnh đạo thực hiện theo các giá trị đạo

đức, đạo lý2

Giới lãnh đạo là một trong những vấn đề dễ nhận diện nhưng lại là vấn đề ít được biết đến nhất trên phạm vi toàn cầu hiện nay3 Mặc dù cũng có những nghiên cứu về lãnh đạo nói chung nhưng nghiên cứu về lãnh đạo trong chế độ dân chủ hiện đại là tương đối hạn chế4

Nghiên cứu về nguyên thủ quốc gia cũng trong bối cảnh tương tự

Có lẽ, một trong những lý do cơ bản là các vị vua chuyên chế trong quá khứ và chế độ độc tài trong thế kỷ 20 là nguyên nhân khiến giới học thuật coi nhẹ vai trò của người lãnh đạo nói chung và nguyên thủ quốc gia nói riêng5

Tiếp cận lịch sử và thuật ngữ

Thuật ngữ nguyên thủ quốc gia có nghĩa là người đứng đầu nhà nước6

Vị trí đứng đầu nhà nước có nhiều tên gọi khác nhau Ví dụ, người đứng đầu trong một số quốc

Trang 9

tịch, chủ toạ) Từ thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, dưới thời Hoàng đế Dioclectian,

Praeses có nghĩa là các vị thống đốc La-Mã cai trị ở các tỉnh8 Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và những cấp độ khác nhau nhưng về bản chất là chỉ vị trí đứng đầu trong hội nghị hay cơ quan nhất định

Với một số nước thuộc Khối Liên hiệp Anh, về thực tế không mang hình thức

chính thể cộng hoà, nguyên thủ là thống đốc (Governor-General) vốn được hình thành

trên cơ sở hiến định với sự giới thiệu của chính phủ và sự bổ nhiệm của Nữ hoàng, đại diện cho chủ quyền tối thượng9 Ví dụ, điều 2 Hiến pháp Australia quy định Thống đốc

do Nữ hoàng bổ nhiệm Điều 2 của Luật Hiến pháp New Zealand quy định nguyên thủ quốc gia có chủ quyền tối cao là Hoàng gia và Thống đốc do Hoàng gia bổ nhiệm và là đại diện của Hoàng gia Điều 10 Đạo luật hiến pháp 1876 của Canada quy định vai trò đại diện cho Nữ hoàng của Thống đốc

Khái niệm nguyên thủ quốc gia có thể chia thành hai nhóm, nhóm thứ nhất: nguyên thủ quốc gia trong các nước theo chế độ cộng hoà thường được gọi là chủ tịch, tổng thống, quốc trưởng Nhóm thứ hai là nguyên thủ quốc gia thuộc các nước theo chế độ quân chủ và nguyên thủ thường là nhà vua, nữ hoàng, hoàng gia, quốc vương Với những nước thuộc Khối liên hiệp Anh, nguyên thủ quốc gia vẫn là Nữ hoàng và Thống đốc hay Toàn quyền là đại diện của Nữ hoàng ở bản địa mà thôi10

Có thể nói, nguyên thủ quốc gia đầu tiên trong lịch sử được hình thành bằng con đường bầu cử là Tổng thống Hoa Kỳ Tiến trình hình thành Tổng thống Hoa Kỳ là tiến trình chuyển đổi sự cai trị của nhà vua, của chế độ quân chủ đối với thuộc địa sang chế

độ dân chủ Tiến trình này cũng xuất phát từ sự xung đột giữa hai nhu cầu: thiết lập vị trí đứng đầu hành pháp để có sự quản lý thống nhất và bên kia là sự lo ngại tái lập chuyên chế Do vậy, có quan điểm cho rằng, tổng thống Hoa Kỳ, một trong những nguyên thủ quốc gia hình thành bằng bầu cử đầu tiên trên thế giới là kết quả của thực tiễn cách mạng giành độc lập của các thuộc địa và thực tiễn thiết kế bộ máy chính quyền Liên bang chứ không phải từ lý thuyết phân quyền Chính vì vậy, vị trí, vai trò

7 Ví dụ, Hiến pháp 1980 của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 98

8 Arthur Edward Romilly Boak (1921) A history of Rome to 565 AD,The Macmillan company,

Trang 10

và quyền hạn của tổng thống Hoa Kỳ là một trong những đối tượng cần hạn chế, kiểm soát nhất trong bộ máy nhà nước Liên Bang11

Như vậy, có thể nói, nguyên thủ quốc gia hiện đại với tư cách là người đứng đầu nhà nước, thay mặt quốc gia chỉ xuất hiện khi nhà nước quốc gia hình thành (trước đó

là các vương quốc của các dòng tộc) và sự chuyển đổi chủ quyền từ quân vương sang tay người dân Nói cách khác, nếu không có sự xuất hiện của nhà nước quốc gia và chủ quyền thuộc về nhân dân, sẽ không có khái niệm nhà nước (quốc gia) để có người đứng đầu và cũng không cần người đại diện cho quốc gia mà thay vào đó là người chủ

sở hữu một vương quốc đó là nhà vua Nói một cách ngắn gọn, nguyên thủ quốc gia hình thành từ sự xác định chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân và chủ quyền quốc gia

của nhà nước quốc gia

Nguyên thủ quốc gia- tiếp cận vai trò

Khi xem xét các cơ quan trong bộ máy nhà nước, một trong những vấn đề quan trọng nhất là phải xem xét nó có vai trò gì trong bộ máy nhà nước nói chung Việc xác định được những vai trò cơ bản của nó giúp xác định, phân định những nhiệm vụ mà

nó cần giải quyết và những chức năng để thực hiện những nhiệm vụ đó Ví dụ, xác định vai trò đại diện cho sự thống nhất của quốc gia trong mối quan hệ với các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác giúp xác định nhiệm vụ đối ngoại của người đứng đầu nhà nước và nhiệm vụ của người đứng đầu hành pháp

Nội dung của việc tiếp cận vị trí nguyên thủ quốc gia dưới góc độ vai trò xác định qua ba vấn đề cơ bản sau đây: (1) xác định vai trò của vị trí nguyên thủ quốc gia trong các lĩnh vực của xã hội và đặc biệt là của nhà nước; (2) xác định vai trò của nguyên thủ quốc gia thông qua những nhiệm vụ và những hoạt động mà nó thực hiện; (3) xác định vai trò, sự tác động, sự ảnh hưởng của nó thông qua mối quan hệ với các cơ quan,

hệ thống khác trong bộ máy nhà nước Nói một cách đơn giản hơn, xác định vai trò của nguyên thủ quốc gia là xác định sự ảnh hưởng, sự tác động của nó trong lĩnh vực nào, trong hoạt động nào, với ai và nhằm thực hiện nhiệm vụ gì? Thực chất, tiếp cận nguyên thủ quốc gia dưới góc độ vai trò của nó đã phần nào bao hàm tiếp cận chức năng, tiếp cận thể chế

Nguyên thủ quốc gia - tiếp cận chức năng

Tìm hiểu về vị trí nguyên thủ quốc gia có lẽ không thể tách rời với chức năng nhà nước mà vị trí này thực hiện Trong các cách phân loại chức năng nhà nước hiện nay, việc phân chức năng nhà nước theo tính chất pháp lý (chức năng lập pháp, hành pháp

và tư pháp) là tương đối phổ biến hiện nay Căn cứ theo tính chất, cách thức của việc thực hiện quyền lực nhà nước, có thể phân loại chức năng thành các loại như: chức

11Michael A Genovese, Is the Presidency Dangerous to Democracy ? Trong Michael A Genovese and Lori Cox

Han eds (2006), The Presidency and the Challenge of Democracy, Palgrave Macmillan

Trang 11

10

năng đại diện, chức năng quyết định, chức năng thực hiện… Gắn với mỗi loại chức năng là các cơ quan nhà nước tương ứng được thiết kế, thành lập nhằm thực hiện những chức năng này của nhà nước Vì vậy, có thể nói, nghiên cứu về nguyên thủ quốc gia với tư cách là một cơ quan thực hiện các chức năng nhất định của nhà nước phải trên cơ sở xem xét các chức năng, hoạt động mà nó thực hiện Nói cách khác, nghiên cứu nguyên thủ quốc gia phải gắn với nghiên cứu vai trò của nguyên thủ quốc gia mà những vai trò này thể hiện trong các hoạt động của vị trí này Tiếp cận chức năng không chỉ xem xét mối quan hệ giữa nguyên thủ quốc gia với các lĩnh vực, công việc mà vị trí này thực hiện, nó cũng giúp xem xét, đánh giá thẩm quyền một cách toàn diện hơn

Tiếp cận thể chế

Với tư cách là một vị trí, một cơ quan trong bộ máy nhà nước, nguyên thủ quốc gia

có mối quan hệ với các cơ quan, hệ thống khác trong bộ máy nhà nước trong quá trình thực hiện vai trò, chức năng của mình Ở khía cạnh này, quyền lực của nguyên thủ quốc gia sẽ tuỳ thuộc vào mỗi mô hình tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước hay còn gọi là hình thức chính thể của nhà nước Có thể nói, tiếp cận thể chế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thiết kế hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp12 Bởi vì nguyên thủ quốc gia là một bộ phận trong hệ thống các cơ quan nhà

nước, vị trí này có vai trò gì, làm gì và với ai tuỳ thuộc vào “bản thiết kế cơ bản của

hệ thống” và vị trí, vai trò cũng như hoạt động của nó phải tương thích với toàn bộ hệ

thống nhằm đạt hiệu quả cao cho toàn bộ hệ thống Chính vì vậy, tìm hiểu về nguyên thủ quốc gia không thể tách rời với khung thể chế nền tảng của nhà nước đó Dưới góc

độ pháp lý, khung thể chế hay “bản thiết kế cơ bản của hệ thống” chính là cách thức,

mô hình tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước - hình thức chính thể của nhà nước Nhìn chung, các nguyên thủ của các quốc gia trên thế giới đều tương đồng ở mức

độ nhất định về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp hoặc trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại của nhà nước Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nguyên thủ quốc gia thể hiện trong mức độ, tính chất của vai trò mà nó thực hiện trong các lĩnh vực đó, cụ thể là các thẩm quyền mà vị trí này có được Ví dụ, dù cũng có những chức năng, vai trò trong hành pháp nhưng với nguyên thủ quốc gia trong chế độ tổng thống, quyền lực mạnh hơn và có tính thực chất hơn so với chế độ đại nghị, hoặc cũng là nguyên thủ quốc gia nhưng Nữ hoàng Anh có vai trò, quyền lực hạn chế hơn so với tổng thống Pháp trong lĩnh vực hành pháp Sự khác biệt dễ nhận

12 Ở nghĩa rộng nhất, thể chế bao gồm “luật chơi” cơ chế thực thi và các tổ chức (Xem: Đinh Văn Ân, Võ Trí

Thành chủ biên, Thể chế - Cải cách thể chế và phát triển Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam, NXB Thống Kê, 2002, trang 12) Như vậy, dưới góc độ pháp lý nó có thể được hiểu là các quy tắc, nguyên tắc tổ chức

và vận hành quyền lực nhà nước, cơ chế, mô hình vận hành nó và các hệ thống cơ quan, tổ chức cơ bản trong nhà nước- lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 12

biết nhất là nguyên thủ trong chế độ tống thống là người đứng đầu, điều hành hành pháp, có quyền thành lập chính phủ trong khi nguyên thủ ở mô hình đại nghị không có các quyền này

Có thể nói, sự khác biệt giữa các nguyên thủ quốc gia như trên có nguyên nhân từ

sự khác biệt mô hình chính thể, khác biệt về mô thức tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước tối cao Như vậy, tiếp cận chức năng để xác định xem nguyên thủ có vai trò

gì, thực hiện công việc gì trong bộ máy nhà nước và xã hội, trong khi tiếp cận thể chế (dưới góc độ chính thể) có ý nghĩa xác định mức độ, tính chất của quyền lực và mối quan hệ về quyền lực mà nguyên thủ quốc gia thực hiện Tiếp cận chức năng thể hiện

sự ảnh hưởng của vị trí nguyên thủ đối với các mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước theo các lĩnh vực còn tiếp cận thể chế thể hiện mối quan hệ quyền lực của nguyên thủ quốc gia với các cơ quan, hệ thống khác trong bộ máy nhà nước Nói một cách đơn giản, tiếp cận chức năng là trả lời câu hỏi nguyên thủ làm gì ? trong khi tiếp cận thể chế trả lời câu hỏi nguyên thủ thực hiện quyền lực như thế nào và với ai ? Đây sẽ là hướng tiếp dưới góc độ pháp lý cơ bản nhất của Đề tài Bởi lẽ, sự tìm hiểu nguyên thủ quốc gia dưới góc độ thể chế tức là xác định những quy tắc hiến định trong việc thiết kế và xác định vị trí, vai trò, quyền hạn của nguyên thủ quốc gia trong mối quan hệ với các

hệ thống, cơ quan nhà nước khác nhằm đạt được hiệu quả trong quản lý và mở rộng dân chủ13

Như vậy, có thể nói, tìm hiểu về vị trí nguyên thủ quốc gia phải trên cơ sở sự giao thoa giữa hai yếu tố: vai trò, chức năng và mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Nói một cách ngắn gọn, chức năng nhà nước của vị trí nguyên thủ quốc gia và

mô hình tổ chức và vận hành quyền lực là yếu tố quy định dạng thức tồn tại, đặc trưng của vị trí nguyên thủ quốc gia trong bộ máy nhà nước

1.2 Nguyên thủ trong các mô hình chính thể

Nghiên cứu về nguyên thủ quốc gia cần phải đặt trong mối tương quan với mô hình thể chế tương ứng Điều này đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu nhằm mục đích hoàn thiện mô hình tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước nói chung và vị trí nguyên thủ quốc gia nói riêng Về mặt lý thuyết, các mô hình thể chế điển hình cho phép lựa chọn các phương án thiết kế phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể Về mặt thực tế, trong điều kiện hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia, cần phải đặt trong bối cảnh thể chế nhằm hạn chế những thay đổi có khả năng phá vỡ cấu trúc thể chế và gây ra những biến động lớn cho xã hội

1.2.1 Khái niệm và phân loại chính thể 14

13

Đây cũng chính là lý do của việc chọn tên Đề tài và góc độ tiếp cận pháp lý về nguyên thủ quốc gia

14 Nội dung của phần này được sử dụng từ một nghiên cứu đã công bố của tác giả Xem thêm: Đỗ Minh Khôi, Hoàn thiện mô hình tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước trong Hiến pháp (Phạm Hồng Thái chủ biên, Sửa

Trang 13

12

Khái niệm chính thể ở Việt Nam hiện nay được tiếp cận theo nghĩa rộng với nhiều nội dung trong việc định nghĩa khái niệm Ví dụ, nội hàm khái chính thể bao gồm: (1) cách thức tổ chức những cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; (2) trình tự thành lập, thiết lập lên các cơ quan này; (3) mối quan hệ giữa các cơ quan đó và (4) sự tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan quyền lực này15 Cách định nghĩa khái niệm như trên có ý nghĩa nhất định trong việc nghiên cứu chính thể và các mô hình chính thể Tuy nhiên, các tiếp cận khái quát và rất rộng về chính thể như vậy không thuận lợi cho việc phân biệt các mô hình chính thể và cho việc áp dụng phương pháp nghiên cứu có tính chất định lượng về sự phát triển và ảnh hưởng của các mô hình này trong điều kiện hiện đại Bởi lẽ, việc xác định tất cả các yếu tố trong khái niệm để hình thành các tiêu chí đánh giá là quá rộng, một số tiêu chí định tính, không phân biệt giữa các mô hình khác nhau và khó định lượng Ví dụ, nội dung thứ nhất là

“cách thức tổ chức những cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” sẽ khó phân biệt

giữa các chính thể và khó định lượng hơn so với tiêu chí về mối quan hệ, và trình tự thành lập

Một số cách định nghĩa chính thể hiện đại đã thu hẹp nội hàm khái niệm chính thể Ví dụ, có quan điểm cho rằng chính thể hay hình thức chính quyền phụ thuộc vào các mối quan hệ giữa chính phủ, cơ quan đại diện và tổng thống được bầu ra (nếu có)

và yếu tố cốt lõi để phân biệt các loại chính thể là có hay không việc chính phủ có thể

bị quốc hội giải tán16 Có quan điểm khác nhấn mạnh nội dung khái niệm chính thể trong phạm vi mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp về sự hình thành và tồn tại của chúng17 Thậm chí có quan điểm xác định chính thể tập trung vào việc tổ chức và vận hành quyền lực hành pháp hoặc kiểm soát quyền hành pháp (thủ tướng và nội các) Nói cách khác, sự phân biệt các mô hình chính thể là sự khác nhau trong mô thức kiểm soát hành pháp18 Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng xác định chính thể dựa trên cách vận hành của nền dân chủ như: quyền hành pháp mang tính tập thể (chế độ đại nghị) hay cá nhân (chế độ tổng thống); hành pháp được hình thành do bầu gián tiếp (chế độ đại nghị) hay bầu phổ thông (chế độ tổng thống); tổng thống có quyền hiến định trong

16Cheibub, J A (2007) Presidentialism, Parliamentialism, and Democracy, Cambridge University Press, trang

Trang 14

lập pháp (chế độ tổng thống) hay có quyền rất lớn (chế độ hỗn hợp) là không phù hợp

mô hình này21 Đối với việc phân loại các hình thức chính thể, có lẽ, tiêu chí và cách phân loại mô hình chính thể được nhiều nghiên cứu chấp nhận là mô hình phân loại dựa trên mối quan hệ trách nhiệm giữa quốc hội và chính phủ và đây cũng là cách mà

Đề tài sử dụng (xem hình 1, phần Phụ lục)

Nhìn chung, các cách tiếp cận hiện đại về mô hình chính thể nhấn mạnh cơ chế vận hành hơn là hình thức, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước Do vậy, khi tiếp cận

về chính thể với tư cách là mô hình tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước khái niệm

chế độ được sử dụng phổ biến là hơn là khái niệm hình thức (ví dụ, chế độ tổng thống,

chế độ đại nghị - Presidentialism, Parliamentarism)

Mặc dù cách thức tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước xét về mặt lịch sử là một trong những nguyên nhân ra đời của chế độ đảng phái chính trị tư sản và những đảng này thông qua bầu cử để nắm quyền lực nhà nước, nhưng nghiên cứu các mô hình chính thể hay cách thức tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước lại phải gắn với việc nghiên cứu chế độ đảng phái chính trị và chế độ bầu cử22 Ví dụ, có nghiên cứu

cho rằng quy luật “được ăn cả, ngã về không”(Zero sum game) thực chất là do chế độ bầu cử đa số tương đối 1 vòng (First past post) chứ không phải là một trong những đặc

trưng của việc tổ chức và vận hành quyền lực trong chế độ tổng thống23

Có thể nói, chế độ đảng phái có ảnh hưởng rất lớn đến mô hình tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước Ví dụ, việc tồn tại nhiều đảng và phân bố các đảng trong cơ lập pháp dẫn đến các tình trạng: chính phủ thiểu số hoặc đa số trong cơ quan lập pháp

21 Có một thay đổi nhỏ về cách định nghĩa mô hình bán tổng thống Duverger định nghĩa chế độ bán tổng thống là:(1) tổng thống được bầu phổ thông; (2) tổng thống có quyền hiến định rất lớn, là người đứng đầu hành pháp và nguyên thủ quốc gia; (3) thủ tướng và các bộ trưởng nắm quyền hành pháp và chịu trách nhiệm trước nghị viện

Sau đó, Robert Elgie định nghĩa rõ ràng hơn:“ là chế độ mà hiến pháp xác định một tổng thống được bầu trực tiếp và nhiệm kỳ xác định và một thủ tướng và nội các chịu trách nhiệm tập thể trước nghị viện” Elgie, R

(2011) Semi-Presidentialism: Sub-Types and Democratic Performance (comparative politic), Oxford University Press trang 22

22

Thực chất, chế độ bầu cử cũng là một thành tố của khái niệm chính thể theo nghĩa rộng, nó nằm trong nội dung cách thức tổ chức và hình thành nên các cơ quan quyền lực nhà nước và là một trong những hình thức tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan quyền lực nhà nước tối cao

23 Horowitz, D L (1990) "Comparing Democratic Systems." Journal of Democracy 1(4): trang 73-79

Trang 15

14

(Minority/majority goverment); hoặc tình trạng phân bố các đảng giữa lập pháp và

hành pháp và nguyên thủ quốc gia dẫn đến hình thành chính phủ chia rẽ (Devided

goverment) trong chế độ tổng thống và bán tổng thống Các tình trạng trên thay đổi

một các đáng kể sự vận hành của chính thể hay sự vận hành quyền lực nhà nước24

Trong điều kiện xã hội cụ thể và với từng giai đoạn phát triển nhất định, vị trí, vai trò của chế độ đảng phái đối với việc lựa chọn và vận hành mô hình chính thể là rất quan trọng Ví dụ, chế độ chính trị một đảng lãnh đạo và trong giai đoạn hoàn thiện thể chế chính trị, đảng này có ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc thiết kế và vận hành mô hình thể chế Trong giai đoạn chuyển đổi, chế độ đảng phái là một trong những yếu tố, điều kiện để trên cơ sở đó lựa chọn mô hình tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước25 Có thể nói, trong chế độ dân chủ, đảng phái là cầu nối giữa chủ quyền quốc gia, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và việc thực hiện quyền lực ấy trên thực tế Nếu thực hiện tốt mối quan hệ pháp lý, duy lý, hợp lý giữa đảng với nhân dân

sẽ dẫn đến việc thực hiện tốt quyền lực nhà nước dân chủ Ngược lại, mối quan hệ giữa nhân dân với các đảng phái chính trị thiếu tính duy lý, pháp lý và thiếu sự kiểm soát của nhân dân đối với đảng phái, việc thực hiện quyền lực nhà nước có thể mang lại hậu quả là nhân dân mất khả năng kiểm soát quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước

Như vậy, tiếp cận các mô hình chính thể nhìn chung dựa trên việc hình thành và mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực, chủ yếu là mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp và cách tiếp cận nào cũng cần phải đặt trong bối cảnh chế độ đảng phái và chế độ bầu cử26

1.2.2 Nguyên thủ trong chế độ tổng thống

Có rất nhiều cách xác định những đặc trưng của chế độ tổng thống Một trong những cách xác định truyền thống và tương đối cụ thể về chế độ này theo 11 tiêu chí như sau27: quốc hội không phát triển theo chế độ đại nghị (tức nghị viện là tối thượng); hành pháp không phân chia và tổng thống được bầu phổ thông theo nhiệm kỳ xác định; người đứng đầu nhà nước đồng thời là người đứng đầu chính phủ; tổng thống bổ nhiệm bộ trưởng – người giúp việc cho tổng thống; tổng thống đóng vai trò hành pháp

cá nhân; bộ trưởng trong hành pháp không đồng thời là thành viên của quốc hội; hành pháp chịu trách nhiệm trước hiến pháp; tổng thống không thể giải tán quốc hội; quyền

24

Skach, C (2007) "The “ newest ” separation of powers: Semipresidentialism." International Journal of

Constitutional law 5(1), trang 93-121; Cheibub, J A (1999) "Divided Government, Deadlock and the Survival

of Presidents and Presidential Regimes." Presented at the conference “Constitutional Design 2000,” December

9-11, 1999, Center for Continuing Education, University of Notre Dame

25 Taras Ray, eds (1997) Postcommunist Presidents, Cambridge University Press

26

Xem thêm: Đỗ Minh Khôi (2011), Định hướng hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp

1992, trong sách chuyên khảo: Hiến pháp Hiến pháp những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học quốc gia

Hà Nội, 2011, Nguyễn Đăng Dung chủ biên, trang 792

27 Douglas V Verney, The analysis of political systems, the Free press Glencoe, 1959, trang 39

Trang 16

của quốc hội là ưu trội hơn so với các nhánh khác28; hành pháp chịu trách nhiệm trực tiếp trước cử tri; không tập trung quyền lực trong hệ thống chính trị

Có quan điểm khác xác định chế độ tổng thống là: (1) Tổng thống do cử tri trực tiếp hoặc tương đương trực tiếp bầu ra với nhiệm kỳ xác định; (2) Chính phủ và thủ tướng không do nghị viện hoặc quốc hội hình thành và giải tán; (3) tổng thống trực tiếp điều khiển hành pháp29 Jose Cheibub xác định chế độ tổng thống ngắn gọn hơn: chế độ mà chính phủ không bị quốc hội giải tán là chế độ tổng thống30

Nhìn chung, căn cứ vào cách định nghĩa về mô hình cộng hòa tổng thống hay

mô hình vận hành của chế độ tổng thống, sự ảnh hưởng của mô hình này đến nguyên thủ quốc gia như sau: (1) Xác định nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu hành pháp và đứng đầu nhà nước; (2) Nguyên thủ quốc gia – người đứng đầu hành pháp có

vị trí độc lập với quốc hội; (3)Nguyên thủ quốc gia thực hiện vai trò hành pháp đơn nhất (không chia xẻ); (4) Xác định vai trò thỏa hiệp, đàm phán với các nhánh quyền lực khác (không phải là vai trò trung gian, điều hòa chính trị) của nguyên thủ quốc gia31

Như vậy, có thể nói, với mô hình chính thể cộng hòa tổng thống hay chế độ tổng thống, nguyên thủ quốc gia được “định vị” với vai trò là người đứng đầu nhánh hành pháp, có thẩm quyền quan trọng trong tương quan với các nhánh quyền lực khác

Lý do cơ bản giải thích vai trò rất lớn của nguyên thủ quốc gia trong chế độ này là việc hợp nhất vị trí chính trị và pháp lý và hợp nhất vào một cá nhân lãnh đạo – tổng thống (xem Bảng 1)

1.2.3 Nguyên thủ trong chế độ đại nghị

Chế độ đại nghị trong so sánh với chế độ tổng thống có nhiều điểm đối lập nhau Ví dụ, Cheibub xác định chế độ đại nghị là chế độ mà chính phủ có thể bị quốc hội giải tán thông qua cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm32 Có quan điểm cho rằng, chế độ đại nghị là chế độ không thực hiện phân chia quyền lực giữa lập pháp và hành pháp mà chúng dựa trên sự chia xẻ quyền lực giữa nghị viện và chính phủ với ba dạng thức chính: chính phủ ưu trội so với nghị viện; nghị viện ưu trội so với chính phủ và cân bằng giữa chính phủ và nghị viện33

28 Theo tác giả, sự tối thượng do việc sửa hiến pháp là quyền của quốc hội và các nhánh khác không có vai trò gì trong việc sửa đổi hiến pháp Sự tối thượng thể hiện là nếu có tranh chấp, ưu thế cuối cùng cũng thuộc về quốc

hội Ví dụ, quốc hội cũng có quyền xét xử các quan chức cao cấp (Impeachment) và mặc dù bị phủ quyết quốc

hội vẫn thông qua luật với 2/3 Sách đã dẫn Douglas V Verney (1959)

29 Sartori, G (1997) Comparative Constitutional Engineering: An Inquyry in to Structures, Incentives and Outcomes, New York University Press, trang 83

30 Cheibub, J A (2007) Presidentialism, Parliamentialism, and Democracy, Cambridge University Press, tr 34

Trang 17

16

Douglas Verney nhận diện chế độ đại nghị với 11 tiêu chí trong so sánh với chế

độ tổng thống như sau34: Cơ quan hội đồng đại diện (Assembly) phát triển thành chế độ đại nghị (Parliament)35

; hành pháp phân định hai vị trí chính phủ và nguyên thủ quốc gia; nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm chính phủ; thủ tướng bổ nhiệm bộ trưởng; hành pháp hoạt động tập thể; bộ trưởng thường là thành viên của nghị viện; chính phủ chịu trách nhiệm trước lập pháp; thủ tướng có thể đề nghị nguyên thủ quốc gia giải tán nghị viện; nghị viện là tối thượng; chính phủ chịu trách nhiệm gián tiếp trước cử tri; nghị viện là trọng tâm của quyền lực trong hệ thống chính trị

Có thể nói, các quan điểm tương đồng trong việc xác định chính thể đại nghị là mối quan hệ phụ thuộc qua lại giữa lập pháp và hành pháp cũng như sự tách bạch giữa

vị trí đứng đầu nhà nước và đứng đầu chính phủ Người đứng đầu chính phủ trong chế

độ đại nghị phụ thuộc vào sự ủng hộ của đa số trong nghị viện và do vậy vị trí này thường không ổn định do sự thay đổi của đa số trong nghị viện Đây là lý do thứ nhất

lý giải vị trí nguyên thủ quốc gia tách biệt với hành pháp nhằm bảo đảm tính ổn định, liên tục của quốc gia Lý do thứ hai, về mặt lịch sử, sự chuyển dịch quyền điều hành đất nước từ nhà vua sang chính phủ do thủ tướng đứng đầu và việc buộc quyền hành pháp phải chịu trách nhiệm trước nghị viện mà vẫn giữ được vai trò đứng đầu, tượng trưng của nhà vua thì cần phải duy trì vị trí nguyên thủ quốc gia tách biệt với vị trí đứng đầu hành pháp

Lý do thứ ba, xét từ góc độ thể chế, vì trọng tâm quyền lực được đặt vào nghị viện và nguyên thủ quốc gia chỉ là một thành phần trong nghị viện nên vai trò của nguyên thủ quốc gia là khá hạn chế Mặt khác, vận hành quyền lực nhà nước được thực hiện chủ yếu bởi hai cơ quan lập pháp và hành pháp, cho nên những cơ quan khác

sẽ không có vị trí quan trọng Một lý do khác là việc hình thành lập pháp và đặc biệt là hành pháp dựa trên kết quả bầu cử và phân chia số ghế mà các đảng phái có được trong nghị viện mà không hình thành vị trí nguyên thủ quốc gia bằng bầu cử trực tiếp cũng là một trong những yếu tố làm giảm vị trí, vai trò của nguyên thủ quốc gia trong

tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước

Như vậy, với nguyên nhân lịch sử và các đặc trưng mang tính nguyên tắc của chế độ đại nghị trong tổ chức vận hành quyền lực nhà nước là những lý do cơ bản nhất giải thích cho việc nguyên thủ quốc gia trong chế độ này mang tính hình thức, tượng trưng Có thể nói, so với nguyên thủ quốc gia theo chế độ tổng thống, vị trí, vai trò

34 Douglas V Verney, The analysis of political systems, the Free press Glencoe, 1959, trang 17

35 Khái niệm nghị viện bao hàm: hành pháp, hội đồng đại diện, hoàng gia (nguyên thủ quốc gia)

Trang 18

quyền hạn của nguyên thủ quốc gia trong chế độ đại nghị là khá khiêm tốn36 (xem Bảng 1)

1.2.4 Nguyên thủ trong chế độ lưỡng thể

Trên thực tế, chính thể lưỡng thể được hình thành khá muộn so với hai loại chính thể tổng thống và đại nghị37 Những đặc trưng của chính thể lưỡng tính được Duverger xác định với 4 tiêu chí cơ bản như sau: (1) có tổng thống được bầu phổ thông; (2) tổng thống có quyền hạn rất lớn; (3) đối lập với tổng thống là thủ tướng và nội các có quyền điều hành chính phủ và nắm quyền đó chừng nào còn sự tín nhiệm của nghị viện38

Tuy nhiên, định nghĩa này được cho là mập mờ và khó xác định và dẫn đến nhiều cách xếp loại các chính thể lưỡng tính trên thực tế Cách định nghĩa căn

cứ vào quy định của hiến pháp tỏ ra ngắn gọn, dễ xác định hơn: “Chính thể có cả tổng

thống được bầu phổ thông với nhiệm kỳ xác định và thủ tướng cùng với nội các chịu trách nhiệm trước nghị viện được coi là chính thể lưỡng tính” 39

Có lẽ vai trò của nguyên thủ quốc gia trong chế độ lưỡng tính được định vị khá linh hoạt và gắn với mối quan hệ giữa tổng thống và thủ tướng với tư cách là người đứng đầu chính phủ Có thể nói, chính thể lưỡng hệ có nhiều kiểu loại khác nhau trên thực tế và do vậy vị trí, vai trò của nguyên thủ quốc gia cũng sẽ rất khác nhau Có ba

mô hình cơ bản như sau40: (1) Tổng thống có vị trí ưu trội hơn so với thủ tướng Trong trường hợp này, tổng thống có vai trò, quyền hạn rất lớn, thậm chí có thể còn cao hơn

cả tổng thống trong chế độ tổng thống Chế độ này còn gọi là chế độ tổng thống-nghị

viện (President-Parliamentary), theo đó thủ tướng và nội các cùng chịu trách nhiệm

trước tổng thống và nghị viện; (2) Tổng thống có vai trò cân bằng với thủ tướng Trường hợp này tổng thống cũng có vai trò rất lớn nhưng không tuyệt đối như trường

hợp trên Chế độ này còn gọi là thủ tướng - tổng thống (Premier-Presidential), theo đó

thủ tướng và nội các chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện mà không chịu trách nhiệm trước tổng thống như trường hợp trên41; (3) ở mô hình thứ hai (chế độ thủ tướng-tổng thống), trong một số trường hợp, tổng thống có vai trò tượng trưng và kém thực quyền

so với thủ tướng (xem Bảng 1) Trường hợp này vai trò của tổng thống tương đồng với

36 Siaroff, A (2003) Comparative presidencies: The inadequacy of the presidential, semi-presidential and

parliamentary distinction, European Journal of Political Research, 42, trang 287-312

37 Chính thể lưỡng tính đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp Weimar 1919-1933 của Đức

38 Duverger, M (1980) A new political system model: semipresidential government, European Journal of

Political Research, 8, trang 165-187

39 Robert Elgie, S M (2008) Semi presidentialism in central and eastern Europe, Mancheater University Press trang 3); Elgie, R (2011) Semi-Presidentialism: Sub-Types and Democratic Performance (comparative politic),

Oxford University Press, trang 22

40 Xem thêm: Carey, M S S a J M (1992) Presidents and Assemblies Constitution design and electoral dynamics, Cambridge University Press; Elgie Robert (2008, 2011)

41 Elgie Robert (2011) Semi-Presidentialism: Sub-Types and Democratic Performance (comparative politic),

Oxford University Press, trang 23, 28

Trang 19

Một là, yếu tố quan trọng nhất xác định tầm quan trọng, vai trò của nguyên thủ

quốc gia là địa vị chính trị (đại diện quốc gia) và địa vị pháp lý (đứng đầu hành pháp) của nó Nếu chúng hợp nhất, nguyên thủ quốc gia sẽ có vai trò quan trọng, có quyền lực rất lớn Ngược lại, sự tách biệt hai vai trò này thường giảm vai trò và quyền lực của nguyên thủ quốc gia Yếu tố quan trọng nhất giúp xác định vai trò, vị trí của nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp chính là thẩm quyền pháp lý (quyền trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp và thiết lập chính phủ) chứ không phải là quyền lực chính trị (thẩm quyền ngoại giao, biểu tượng, lễ nghi, thủ tục) Hầu hết các nguyên thủ quốc gia đều tương đồng về vai trò trong lĩnh vực chính trị nhưng rất khác biệt trong lĩnh vực pháp lý

Hai là, việc định vị vị trí hiến định của nguyên thủ quốc gia trong mô hình

chính thể không có nghĩa là tầm quan trọng của nguyên thủ quốc gia là bất biến trên thực tế Biến động trong đời sống chính trị - xã hội có thể dịch chuyển vai trò của nguyên thủ quốc gia ở mức độ nhất định và tầm quan trọng của nguyên thủ quốc gia trong trường hợp này phụ thuộc vào tính chất, mức độ của những biến động chính trị

xã hội đó Ví dụ, sự phát triển truyền thông đại chúng được gia tăng bởi công nghệ thông tin, internet đã hình thành xu hướng cá nhân hóa chính trị Trong bộ máy nhà

nước, xu hướng này mà được mô tả với thuật ngữ “Quá trình tổng thống

hóa”(Presidentialization), thể hiện sự ưu thế ngày càng tăng của hành pháp và cá nhân

hóa vị trí này trong bộ máy nhà nước Quá trình này tập trung quyền lực vào cá nhân lãnh đạo và xu hướng này trở thành trung tâm của đời sống chính trị hiện đại43

Ba là, vai trò, sự tác động của đảng phái chính trị đến vị trí, vai trò và quyền hạn

của nguyên thủ quốc gia có ý nghĩa và tầm quan trọng nhất định Hay nói cách khác, vai trò, quyền hạn của nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp và trên thực tế phụ thuộc một cách căn bản vào yếu tố đảng phái chính trị Một cách cụ thể hơn, tất cả các chính thể dân chủ, về lý thuyết cũng như thực tế phải tồn tại trong chế độ đa đảng có cạnh tranh chính trị và bầu cử dân chủ, tự do Nếu không có hai yếu tố cạnh tranh trong môi trường đa đảng và bầu cử tự do, các dạng thức tổ chức và vận hành quyền lực nhà

42 Sách đã dẫn trang 27 Elgie Robert (2011)

43 Thomas Poguntke and Paul Webb, Presidentialization of politics in democratic societies: a frame work for analysis, trong Presidentialization of politics in democratic societies a comparative of study modern democracies, Oxford University Press, 2005 Lưu ý, thuật ngữ này không có nghĩa là sự chuyển dịch mô hình

chính thể, nó chỉ là quá trình các nhân hóa quyền lực trong bộ máy nhà nước mà thôi Tuy nhiên, trong chửng mực nhất định, nó có ảnh hưởng đến cách thức tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước, ảnh hưởng đến đảng phái chính trị

Trang 20

nước dù có được quy định trong hiến pháp theo các mô hình nào đi nữa cũng không có

ý nghĩa Những chế độ thiếu tính cạnh tranh chính trị được xếp vào nhóm hệ thống chính trị không dân chủ và ở đó các mô hình chính thể không hoàn toàn vận hành theo những nguyên tắc hiến định

Bảng 1: Vai trò của nguyên thủ quốc gia trong các mô hình chính thể

Chế độ lưỡng tính Tổng thống > thủ tướng X +

1.3 Chế định nguyên thủ quốc gia trong lịch sử lập hiến Việt Nam

Trong lịch sử lập hiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ở mỗi giai đoạn lịch sử với các điều kiện khách quan khác nhau, quan niệm về việc tổ chức

bộ máy nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước có sự khác biệt và vì thế chế định nguyên thủ quốc gia trong mỗi bản hiến pháp có những đặc điểm riêng Tuy nhiên, ở tất cả các bản hiến pháp vẫn toát lên tư tưởng thống nhất có kế thừa về vị trí, vai trò nguyên thủ quốc gia trong bộ máy nhà nước, mang những nét chung, thống nhất, đồng thời có sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nhiều nước dân chủ tiến bộ trên thế giới phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước Chính vì thế, chế định nguyên thủ quốc gia trong các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp

1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đều có vai trò rất quan trọng với tư cách là “nguyên thủ” và trong mối quan hệ với các cơ quan khác trong tổ chức bộ máy nhà nước Khái niệm nguyên thủ quốc gia - Chủ tịch nước ở Việt Nam hình thành từ bản Hiến pháp

1946, điểm a Điều 49 quy định quyền hạn Chủ tịch nước là: “người thay mặt cho

nước” Điều 61 Hiến pháp 1959 quy định địa vị pháp lý của Chủ tịch nước “là người thay mặt cho nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà về mặt đối nội và đối ngoại” Điến

Hiến pháp 1980 thì nguyên thủ quốc gia có tên gọi là Hội đồng Nhà nước- Chủ tịch

nước tập thể “Hội đồng Nhà nước là chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam” và “Hội đồng nhà nước thông qua Chủ tịch Hội đồng, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại” (Điều 98 Hiến pháp

1980) Điều 101 Hiến pháp 1992 quy định “Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà

nước, thay mặt cho nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại” Như vậy, nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam từ Hiến pháp 1946 cho đến nay đều

đóng hai vai trò chính: (1) Thay mặt cho nước và (2) Đứng đầu nhà nước

Trang 21

20

1.3.1 Hiến pháp 1946

Hiến pháp 1946 ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Một nhà nước non trẻ xuất hiện trong một bối cảnh lịch sử nhiều biến động, vừa phải chống thù trong giặc ngoài, vừa phải củng cố và xây dựng đất nước vốn bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh Chính vì thế, việc xây dựng một thể chế vững chắc tạo tiền đề cho việc thiết lập một bộ máy nhà nước vững mạnh đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn này là vô cùng cấp thiết Hiến pháp 1946 ra đời trong điều kiện

ấy, là bản hiến pháp đầu tiên của dân tộc, có ý nghĩa rất to lớn không chỉ là lời tuyên

bố với toàn thể nhân loại về việc đất nước chúng ta giành được độc lập mà còn là một văn kiện pháp lý rất quan trọng quy định về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước

và đảm bảo cho các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Bản hiến pháp này được xây dựng trên cơ sở sự tiếp thu các tư tưởng chính trị, pháp lý và kinh nghiệm xây dựng hiến pháp ở các nước trên thế giới cùng với sự sáng tạo tài tình của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc - Hồ Chí Minh

Các chế định trong tổ chức bộ máy nhà nước đã được thiết lập với những vai trò, quyền hạn cụ thể đáp ứng yêu cầu quản lý, thực hiện quyền lực nhà nước trong giai đoạn này theo chủ trương xây dựng một chính phủ nhân dân cách mạng Chính vì thế mà chế định nguyên thủ quốc gia cũng rất được chú trọng xây dựng Trong Hiến pháp 1946, nguyên thủ quốc gia có tên gọi là Chủ tịch nước, là nguyên thủ cá nhân và

là thiết chế rất đặc biệt, không giống với bất kỳ mô hình nguyên thủ quốc gia nào đã từng tồn tại trong các chính thể trên thế giới lúc bấy giờ Chủ tịch nước theo Hiến pháp

1946 được xác định là người đứng đầu nhà nước, thay mặt cho nước Vai trò này được

thể hiện cụ thể thông qua Điều 49 “Chủ tịch nước thay mặt cho nước; Giữ quyền Tổng

chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân; Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và các nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ; Chủ tọa hội đồng Chính phủ; Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị; Thưởng huy chương và bằng cấp danh dự; Đặc xá; Ký hiệp ước với các nước; Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước, Tuyên chiến hay đình chiến”

Chủ tịch nước được xác định là trung tâm của quyền lực chính trị, là người thay mặt cho nước – đại diện chính thức của quốc gia trong các quan hệ quốc tế Điều này cho thấy, khi xây dựng Hiến pháp 1946, chúng ta đã tạo ra sự tương thích với các quốc gia khác trên thế giới, tạo ra một cơ chế đại diện trong mối quan hệ bang giao Với tư

cách này, Chủ tịch nước có quyền “ký hiệp ước với các nước, phái đại biểu Việt Nam

đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước” cũng như thực hiện

việc tiếp đón, làm việc với các nguyên thủ quốc gia các nước khác Vai trò này của

Trang 22

Chủ tịch nước cũng thể hiện được tính biểu tượng của Chủ tịch nước, thể hiện cho sự thống nhất của đất nước và khối đại đoàn kết dân tộc, tạo niềm tin vững chắc cho người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước

Với vai trò đứng đầu nhà nước, Chủ tịch nước có rất nhiều quyền hạn được ghi nhận trong Hiến pháp Trong đó, Chủ tịch nước là Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân (Điểm b Điều 49); thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự (điểm e Điều 49); có quyền

tuyên chiến hay đình chiến trong trường hợp đặc biệt hiến định “khi Nghị viện không

họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ có quyền tuyên chiến hay đình chiến”

(Điều 38 và Điểm k Điều 49) Quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh là một biểu hiện cụ thể cho vai trò đứng đầu nhà nước của nguyên thủ quốc gia, với một sự tập trung quyền lực mang tính cao độ Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình đất nước vẫn còn tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước rất cần sự tập trung quyền hành vào trong tay một người để có thể tiến hành động viên, huy động sức người sức của một cách nhanh nhất và tránh sự phân tán quyền lực vào các lực lượng có âm mưu chống phá thành quả cách mạng Chủ tịch nước nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực chính trị và có vai trò điều hòa mối quan hệ với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước trong quá trình quản lý và điều hành đất nước

Trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp, Chủ tịch nước là thành viên của Nghị viện, do Nghị viện bầu ra trong số các Nghị viên, có quyền ban bố các Đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị (Điểm đ Điều 49); có quyền triệu tập phiên họp bất thường;

và quyền “phủ quyết tương đối” các dự án luật Theo đó Chủ tịch nước có quyền yêu

cầu Nghị viện thảo luận lại các đạo luật trước khi ban bố Nếu những dự luật mang ra thảo luận lại vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch nước ban bố (Điều

31 Hiến pháp 1946) Việc trao quyền “phủ quyết luật” cho Chủ tịch nước theo quy

định này có nhiều điểm tương đồng với quyền phủ quyết của tổng thống trong chính thể cộng hòa tổng thống Điều này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, để tạo ra một cơ chế mang tính đối phó trong trường hợp Nghị viện nhân dân với thành phần đa dạng, phức tạp thông qua những đạo luật không phù hợp với yêu cầu của đất nước, ảnh hưởng đến công cuộc cách mạng Nói cách khác, Chủ tịch nước trở thành kênh đảm bảo cho hoạt động lập pháp không mang đến những bất lợi cho xu hướng cách mạng của dân tộc, đời sống và quyền của công dân Trong mối quan hệ với Nghị viện, có thể nhận thấy

sự độc lập ở một mức độ nhất định của Chủ tịch nước khi mà nhiệm kỳ của Chủ tịch nước không đồng thời với nhiệm kỳ của Nghị viện Nhiệm kỳ của Nghị viện là 3 năm, còn của Chủ tịch nước là 5 năm Chủ tịch nước cũng không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện

Trang 23

22

Trong mối quan hệ với Chính phủ, Chủ tịch nước là người đứng đầu Chính phủ,

là người trực tiếp điều hành Chính phủ với vai trò là Chủ tọa Hội đồng Chính phủ, chủ tọa các phiên họp của Chính phủ Quyền hạn của Chủ tịch nước trong nhánh quyền hành pháp này rất lớn như Chủ tịch nước ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ (Điểm c Điều 49), các đại sứ (Điểm i Điều 49); ký các sắc lệnh của Chính phủ (Điều 53) Việc phải

có chữ ký của Chủ tịch nước trên các sắc lệnh của Chính phủ nhằm đảm bảo vai trò của Chủ tịch nước trong việc quản lý nhà nước vừa đảm bảo cho tính đúng đắn của các sắc lệnh này Để đảm bảo cho hoạt động của Chính phủ thông suốt, hiệu quả thì Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại vấn đề tín nhiệm Nội các (Điều 54) Quy định này cũng nhằm tăng cường trách nhiệm cá nhân của các thành viên Nội các Họ phải tự chịu trách nhiệm cá nhân trước Nghị viện nhân dân

Trong lĩnh vực tư pháp, Chủ tịch nước có quyền đặc xá (Điểm g Điều 49) và bổ nhiệm thẩm phán (Điều 64) Mối quan hệ của Chủ tịch nước và cơ quan tư pháp không thể hiện một cách rõ ràng mà chỉ thông qua cách thức hình thành nên các thẩm phán tòa án mà thôi

Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 không phải chịu một trách nhiệm nào trừ khi phản bội Tổ quốc Chính những đặc điểm, quyền hạn được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 đã khẳng định vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị của Chủ tịch nước, không chỉ là người đứng đầu nhà nước đồng thời là người đứng đầu Chính phủ, trực tiếp điều hành bộ máy hành pháp Đặc điểm này của Chủ tịch nước có nhiều nét tương đồng với chế định nguyên thủ quốc gia ở chế độ cộng hoà tổng thống hay cộng hoà lưỡng tính44 Đó là việc Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu chính phủ Tuy nhiên, Chủ tịch nước do Nghị viện bầu ra trong số các Nghị viên Chủ tịch nước có quyền phủ quyết luật của Nghị viện như quyền của Tổng thống trong chính thể cộng hòa tổng thống nhưng việc biểu quyết lại dự luật của Nghị viện theo Hiến pháp 1946, sau khi bị Chủ tịch nước phủ quyết không phải đáp ứng yêu cầu 2/3 tổng số Nghị viên chấp thuận như ở Hoa Kỳ mà chỉ cần có sự đồng ý thông qua thì Chủ tịch nước buộc phải ký ban hành Chủ tịch nước đứng đầu bộ máy hành pháp và thiết lập Nội các để giúp thực thi quyền lực Đặc điểm này mang tính tương đồng với chính thể cộng hòa hỗn hợp

Những quyền hạn của Chủ tịch nước cho thấy vai trò vị trí đặc biệt của Chủ tịch nước nhưng cũng phản ánh mối quan hệ của Chủ tịch nước với các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong quá trình thực hiện các quyền hạn của mình Quyền hạn của Chủ

44 Bùi Xuân Đức, Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946 và sự phát triển qua các Hiến pháp 1959, 1980

và 1992, Hiến pháp 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, trang 301

Trang 24

tịch nước vẫn có một số điểm hạn chế nhằm đảm bảo tính tối cao của Nghị viện như Chủ tịch nước do Nghị viện bầu ra; Hiệp ước do Chính phủ ký với nước ngoài phải được Nghị viện chuẩn y; đạo luật đã được thảo luận lại sau khi Chủ tịch nước phủ quyết nếu Nghị viện vẫn ưng chuẩn thì Chủ tịch nước phải ban bố, khi Nghị viện không họp thì Ban Thường vụ cùng với Chính phủ quyết định đình chiến hay tuyên chiến và Chủ tịch nước tuyên chiến hay đình chiến theo quyết định đó Nghị viện nhân dân cũng không bị giải tán Như vậy, Hiến pháp 1946 đã xây dựng một chế định Nguyên thủ quốc gia rất độc đáo và đầy tính sáng tạo, vừa đảm bảo tính chất của một nhà nước dân chủ nhân dân với việc tập trung và thống nhất quyền lực vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - Nghị viện nhân dân nhưng vẫn thể hiện quyền hạn và vai trò của Chủ tịch nước Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946 là sự tiếp thu chọn lọc sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện một tư tưởng xây dựng nhà nước có nhiều giá trị cho lịch sử lập hiến nước nhà

1.3.2 Hiến pháp 1959

Sau bản Hiến pháp 1946, đất nước ta tiếp tục đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức, đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn do chiến tranh tàn phá Sau Hiệp định Giơnevơ, hai miền Nam Bắc bị chia cắt, miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Miền Bắc sau khi giải phóng đã tiến hành kế hoạch cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội Chính vì thế mà nhu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đã được đặt ra

“Nghiên cứu kỹ tình hình nước ta, nghiên cứu lại bản Hiến pháp năm 1946….tham

khảo hiến pháp của các nước bạn và của một số nước tư bản có tính chất điển hình” 45

Hiến pháp năm 1959 đã được ra đời trên tinh thần vận dụng nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa một cách mạnh mẽ Nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện qua việc tập trung quyền lực vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất- Quốc hội Các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước do Quốc hội lập ra, giao nhiệm vụ, quyền hạn và chịu sự giám sát của Quốc hội Chế định Nguyên thủ quốc gia cũng có sự thay đổi nhất định Nguyên thủ quốc gia theo Hiến pháp 1959 vẫn có tên gọi là Chủ tịch nước và vẫn duy trì chế định Chủ tịch nước là cá nhân Trong khi đó ở các nước xã hội chủ nghĩa đã hình thành chế định nguyên thủ quốc gia là tập thể với việc vận dụng triệt

để nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa

Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1959 vẫn có vai trò rất quan trọng, được ghi nhận trong 10 điều của Chương V với vị trí pháp lý trung tâm Chủ tịch nước

vẫn được xác định là “người thay mặt cho nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về đối

nội và đối ngoại” (Điều 61 Hiến pháp) Như vậy, Chủ tịch vẫn giữ vai trò đại diện

45 Hồ Chí Minh, Về nhà nước và pháp luật Việt Nam, NXB Pháp lý, trang 234

Trang 25

24

quốc gia cả về đối nội và đối ngoại Chủ tịch nước vừa là người đại diện cho sự thống nhất đoàn kết trong nước vừa là đại diện chính thức trong việc thực hiện các quan hệ

bang giao quốc tế “Chủ tịch nước tiếp nhận đại diện toàn quyền ngoại giao của nước

ngoài cử đến; căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội mà phê chuẩn hiệp ước ký với nước ngoài, cử và triệu hồi đại diện toàn quyền ngoại giao” (Điều 64)

Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1959 vẫn giữ vai trò là người đứng đầu nhà nước thông qua những quyền hạn cụ thể mặc dù không có bất kỳ quy định nào về vai trò này Quyền hạn của Chủ tịch nước rất rộng được ghi nhận tại Điều 63 như quyền công

bố pháp luật, pháp lệnh theo quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội; bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng, Phó Thủ tướng, và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ; bãi miễn Phó chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quốc phòng; công bố lệnh đại xá và lệnh đặc xá; tặng thưởng huân chương và danh hiệu vinh dự của Nhà nước; tuyên bố tình trạng chiến tranh; công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố lệnh giới nghiêm Ngoài ra, Chủ tịch nước vẫn là người giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng Nhưng việc tuyên bố chiến tranh hay tổng động viên không còn là thẩm quyền của Chủ tịch nước nữa mà trở thành quyền của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định này thể hiện rõ nét việc vận dụng nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa

So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 vẫn quy định hai vai trò quan trọng của Chủ tịch nước với tư cách là nguyên thủ quốc gia Tuy nhiên, trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước ở trung ương, nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước đã có những sự thay đổi nhất định Những thay đổi này xuất phát từ việc vận dụng nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa nên Quốc hội trở thành thiết chế có sự tập trung quyền lực tối cao Theo quy định tại Điều 62 Hiến pháp 1959 thì Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các công dân từ ba mươi lăm tuổi trở lên với nhiệm kỳ là 4 năm, cùng

với nhiệm kỳ của Quốc hội “Do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, miền Nam không

tham gia bầu cử Quốc hội mà chỉ lưu nhiệm đại biểu cũ, đề phòng có người xứng đáng

ở cả hai miền nhưng không phải là đại biểu Quốc hội nên Hiến pháp quy định chọn trong công dân”46 Chủ tịch nước phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và có thể bị

bãi miễn bởi Quốc hội (khoản 9 Điều 50) Như vậy, Chủ tịch nước trở thành một thiết chế phái sinh từ Quốc hội Cho nên, Chủ tịch nước căn cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội công bố pháp luật, pháp lệnh mà không còn quyền “phủ quyết” luật như quy định trong Hiến pháp 1946 Chủ tịch nước cũng căn

46 Bùi Xuân Đức, Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, NXB Tư pháp 2004, trang

252

Trang 26

cứ vào quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội mà phê chuẩn hiệp ước ký với nước ngoài

Trong mối quan hệ với cơ quan hành pháp - Chính phủ thì Chủ tịch nước không còn là Chủ tịch Hội đồng Chính phủ như Hiến pháp 1946 mà Hội đồng Chính phủ trở thành một thiết chế độc lập so với thiết chế Chủ tịch nước với người đứng đầu là Thủ tướng (Điều 72) Chủ tịch nước không còn tham gia vào các hoạt động của hành pháp một cách trực tiếp như Hiến pháp 1946, nhưng vẫn có quyền can thiệp vào hoạt động

của Chính phủ trong một số trường hợp nhất định như “Chủ tọa các phiên họp của Hội

đồng Chính phủ, khi xét thấy cần thiết” (Điều 66) Việc tham dự với tư cách chủ tọa

chỉ trong một số trường hợp nhất định, không mang tính đương nhiên Mặc dù vậy, Chủ tịch nước vẫn là người đứng đầu nhà nước, có quyền đề cử Thủ tướng Chính phủ

để Quốc hội bầu và căn cứ vào quyết định của Quốc hội tiến hành việc “bổ nhiệm, bãi

miễn Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ”

Trong mối quan hệ với nhánh tư pháp thì Chủ tịch nước không còn quyền bổ nhiệm như Hiến pháp 1946, mà việc hình thành thẩm phán đã chuyển sang cơ chế bầu theo quy định tại Điều 98 Chính vì thế mà ở lĩnh vực này vai trò của Chủ tịch nước chỉ thể hiện thông qua việc công bố lệnh đại xá và đặc xá theo quyết định của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Ngoài ra, vai trò đứng đầu nhà nước, trung tâm của hệ thống chính trị ở nước ta của Chủ tịch nước còn thể hiện thông qua một quy định mới tại Điều 67 của Hiến pháp

1959, đó là việc Chủ tịch nước khi xét thấy cần thiết thì có quyền triệu tập và chủ tọa Hội nghị chính trị đặc biệt Hội nghị chính trị đặc biệt với thành phần gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và những người hữu quan khác Hội nghị chính trị đặc biệt này được triệu tập với thành phần là những cạn bộ lãnh đạo cao cấp nhất của nhà nước nhằm thực hiện việc “xét các vấn đề lớn của đất nước” Ý kiến của Hội nghị được Chủ tịch nước chuyển đến Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng chính phủ hoặc các cơ quan hữu quan khác để thảo luận và ra quyết định Quy định này nhằm đáp ứng cho yêu cầu của đất nước trong điều kiện chiến tranh, cần thiết có một thiết chế để đưa ra những quyết sách về các vấn đề có liên quan đến vận mệnh quốc gia nhưng vẫn không phá vỡ sự tập trung quyền lực của Quốc hội mà ngược lại trở thành một công cụ hữu hiệu để các vấn đề lớn thuộc thẩm quyền của các cơ quan nhà nước ở trung ương được quyết định

Về trách nhiệm pháp lý, Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1959 vẫn có giới hạn đặc biệt về vấn đề trách nhiệm, ít nhiều vẫn thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm

1946 về vị trí “bất khả xâm phạm” Hiến pháp 1959 không quy định nguyên tắc trách

nhiệm của Chủ tịch nước trước Quốc hội mà chỉ quy định Quốc hội giám sát việc thi

Trang 27

so với Hiến pháp 1946, nhiều quyền hạn của Chủ tịch nước đã được chuyển giao cho Quốc hội Chủ tịch nước thực hiện vai trò đứng đầu nhà nước không mang tính độc lập

mà có sự gắn bó chặt chẽ với việc thực hiện quyền hạn của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - Quốc hội Trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác, Chủ tịch nước vẫn giữ được vai trò là người điều hòa mối quan hệ, vẫn có quyền can thiệp ở một mức độ nhất định đối với Chính phủ trong những trường hợp “xét thấy cần thiết”, mặc dù vậy, so với Hiến pháp 1946, quyền hạn trong lĩnh vực hành pháp của Chủ tịch nước đã có những hạn chế nhất định Những sự thay đổi này xuất phát từ thay đổi trong tư tưởng thiết lập bộ máy nhà nước, việc vận dụng mạnh mẽ, triệt để nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đã hình thành tư tưởng tập trung quyền lực một cách tối cao vào Quốc hội- cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Chủ tịch nước- một thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước chỉ thể hiện vai trò chủ yếu trong hình ảnh đại diện cho quốc gia trong quan hệ đối nội và đối ngoại Thế nhưng, trong Hiến pháp 1959, việc thực hiện vai trò Nguyên thủ của Chủ tịch nước lại chưa được đảm bảo bằng một công

cụ pháp lý cụ thể, một hình thức văn bản pháp lý để thực hiện quyền hạn của mình

1.3.3 Hiến pháp 1980

Cuộc đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước

ta, kỷ nguyên độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Ngày 25/4/1976 Quốc hội thống nhất được hình thành thông qua bầu cử Việc xây dựng một bản hiến pháp cho cả nước trong thời kỳ hòa bình, độc lập trở thành một nhu cầu tất yếu Hiến pháp 1980 ra đời trong bối cảnh lịch sử như vậy, dựa trên việc vận dụng nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa một cách triệt để trong bối cảnh đất nước ta đang tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Nguyên tắc này đề cao vai trò của Quốc hội, theo đó cơ quan đại diện là

cơ quan nắm giữ quyền lực nhà nước cao nhất Sự hình thành các thiết chế khác trong

tổ chức bộ máy nhà nước đều xuất phát từ Quốc hội, là những thiết chế phái sinh của Quốc hội Chính vì thế mà việc tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980 được

47 Lê Thị Hải Châu, Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2004, trang 45

Trang 28

thực hiện theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa trên cơ sở phát huy tối đa quyền

làm chủ của nhân dân Chế định nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp 1980 được xây

dựng trên tinh thần ấy và có rất nhiều điểm khác biệt so với các bản hiến pháp trước

đó

Nguyên thủ quốc gia theo Hiến pháp 1980 được xác định là Chủ tịch tập thể của nhà nước dưới hình thức Hội đồng Nhà nước Đây chính là mô hình nguyên thủ quốc gia ở các nước xã hội chủ nghĩa giai đoạn này Hội đồng nhà nước - nguyên thủ quốc gia tập thể ở nước ta theo Hiến pháp 1980 vẫn giữ vai trò là người thay mặt cho nước

và đứng đầu nhà nước nhưng nhiệm vụ, quyền hạn có khá nhiều sự khác biệt theo tình hình mới của đất nước Những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước tập thể được ghi nhận trong 21 khoản ở Điều 100 Hiến pháp 1980

Vai trò thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn được ghi nhận cho Hội đồng Nhà nước, nhưng việc thực hiện “thay mặt nước về đối nội và đối ngoại” được thực hiện thông qua Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Điều 98) Trong các quyền hạn khác với tư cách đại diện quốc gia thì Hội đồng Nhà nước trực tiếp thực hiện như

bổ nhiệm, bãi miễn và triệu hồi các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài và ở các tổ chức quốc tế; tiếp nhận các đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài; phê chuẩn những hiệp ước quốc tế (khoản

13, 14, 15, 16 Điều 100)

Với vai trò là người đứng đầu nhà nước, Hội đồng Nhà nước thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn được hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội giao cho, quyết định những vấn đề quan trọng về xây dựng chủ nghĩa xã hội

và bảo vệ tổ quốc, giám sát việc thi hành hiến pháp, các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và của Hội đồng Nhà nước, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước Vai trò này thể hiện rõ nét thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân; quy định và quyết định việc tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước (khoản 18 Điều 100) Đặc biệt trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, vai trò đại diện quốc gia trong đối nội thể hiện

rõ nét thông qua việc Chủ tịch Hội đồng Nhà nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân toàn quốc và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng Như vậy, vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân lại được thực hiện thông qua vai trò đại diện của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, với tư cách cá nhân Nhưng khi thực hiện quyền

“tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược trong thời gian Quốc hội

không họp; quyết định việc tổng động viên hoặc động viên cục bộ, việc giới nghiêm trong toàn quốc hoặc từng địa phương” (khoản 20, 21 Điều 100) thì Hội đồng Nhà

nước lại thể hiện vai trò tập thể Vai trò nguyên thủ của Hội đồng Nhà nước cũng được

Trang 29

nước “chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội” (Điều 98)

Trong mối quan hệ với Chính phủ, Hiến pháp 1980 tiếp tục duy trì sự độc lập của Chính phủ với nguyên thủ quốc gia thông qua quy định Hội đồng Nhà nước không còn quyền đề cử người đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng mà Hội đồng Nhà nước chỉ có quyền giám sát công tác của Hội đồng Bộ trưởng; đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết, nghị định, quyết định của Hội đồng Bộ trưởng trái với Hiến pháp, luật và pháp lệnh; trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc thành lập hoặc bãi bỏ các bộ, các Ủy ban Nhà nước; trong thời gian Quốc hội không họp, cử và bãi miễn các Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các bộ trưởng, các chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước (Khoản 7, 8, 11, 12 Điều 100) Tính độc lập này còn được đảm bảo thông qua quy định thành viên của Hội đồng Nhà nước không được đồng thời

là thành viên của Hội đồng Bộ trưởng (Điều 99)

Ngoài ra, ở lĩnh vực tư pháp Hội đồng Nhà nước cũng giám sát công tác của Tòa án nhân dân tối cao; cử và bải miễn Phó chánh án, thẩm phán và Hội thẩm nhân dân của tòa án nhân dân tối cao; giám sát hoạt động của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; cử và bãi miễn các Phó viện trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá (Khoản 7, 13, 19 Điều 100) Như vậy, mối quan hệ giữa Hội đồng Nhà nước với cơ quan tư pháp đã thể hiện rõ nét hơn so với Hiến pháp

1959 khi quy định về quyền đề cử, bãi miễn đối với nhân sự cấp cao của cơ quan tư pháp, đồng thời thực hiện việc giám sát đối với hoạt động của các cơ quan này

Có thể thấy, với chế định nguyên thủ quốc gia tập thể thì hầu hết các nhiệm vụ

và quyền hạn của Hội đồng nhà nước đều được thực hiện thông qua cơ chế làm việc tập thể, biểu quyết theo đa số Đặc biệt là trong vai trò đứng đầu nhà nước, Hội đồng Nhà nước luôn thực hiện nguyên tắc tập thể trong hầu hết các lĩnh vực, các nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, trong việc thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân thì Chủ

Trang 30

tịch Hội đồng nhà nước thống lĩnh và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước- nguyên thủ quốc gia tập thể cũng chính là sự phản ánh sâu sắc nhất cho địa vị pháp lý của Hội đồng Nhà nước

so với Chủ tịch nước ở hai bản hiến pháp trước đó

Xuất phát từ cách thức thành lập, Hội đồng Nhà nước do Quốc hội lập ra thông qua việc bầu cử trong số các đại biểu Quốc hội nên Hội đồng Nhà nước là cơ quan phái sinh từ Quốc hội, thực hiện nhiều nhiệm vụ theo quyết nghị của Quốc hội Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, mặc dù hai vai trò cơ bản với tư cách là nguyên thủ quốc gia vẫn được thể hiện nhưng do Hội đồng Nhà nước vừa là nguyên thủ vừa là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội nên rất khó tách bạch giữa hai chức năng này trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình Chính vì vậy mà quyền hạn của Hội đồng Nhà nước rất lớn và phản ánh tư duy lập hiến của các nhà lập hiến nước ta trong giai đoạn này Đó chính là sự tập trung cao

độ quyền lực vào tập thể Chế độ làm việc tập thể, quyết định theo đa số, kể cả trong thiết chế nguyên thủ quốc gia ở nước ta trong giai đoạn này là hoàn toàn phù hợp với

xu hướng chung của các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia ở Đông Âu Nói cách khác, Hiến pháp 1980 chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc của các nước xã hội chủ nghĩa nhất là Liên Xô

Tập thể lãnh đạo sẽ tránh được sự chủ quan, nóng vội, hạn chế được sự lạm quyền (nếu có) của nguyên thủ quốc gia là cá nhân trong việc thực hiện các quyết định quan trọng, có liên quan đến vận mệnh quốc gia, nhất là trong bối cảnh đất nước ta lúc bấy giờ vừa thống nhất, độc lập, luôn phải cảnh giác cao độ với các âm mưu chống phá Điều này tạo ra sự ổn định, thận trọng trong các quyết định của Hội đồng Nhà nước, nhất là việc Hội đồng Nhà nước phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội Thế nhưng, chế định nguyên thủ quốc gia là tập thể cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định Đó chính là việc thảo luận, quyết định tập thể sẽ tạo ra sự chậm chạp, trì trệ trong quá trình giải quyết công việc, đặc biệt là đối với các công việc mang tính cấp thiết, những công việc mang tính đối ngoại Hoạt động tập thể nhưng cũng không có bất kỳ quy định nào liên quan đến việc quy kết trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm của các nhân các thành viên trong Hội đồng Nhà nước và đặc biệt là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trong quá trình thực hiện một số quyền hạn Hiến định với tư cách cá nhân Trong quá trình hoạt động, có những quyền hạn do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước thực hiện nhưng lại là quyền hạn mang tính nguyên thủ Do đó, điều này ít nhiều mang đến những bất cập về mặt pháp lý Hội đồng Nhà nước thực hiện đồng thời hai chức năng vừa là nguyên thủ vừa là cơ quan thường trực của Quốc hội nên cũng rất khó tách bạch hai chức năng này với nhau Quyền hạn của Hội đồng Nhà nước chỉ thật sự phát huy tác dụng giữa hai kỳ họp của Quốc hội, Ngoài ra, trong quá trình hoạt động với tư

Trang 31

30

cách là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội, khi xét thấy cần thiết “Quốc

hội có thể giao cho Hội đồng Nhà nước những nhiệm vụ và quyền hạn khác” nên việc

thực hiện của Quốc hội không chỉ dừng lại ở những quy định trong Chương VII của Hiến pháp, mà có thể còn nhiều hơn thậm chí là những nhiệm vụ quyền hạn không được đề cập trong Hiến pháp vì Quốc hội- cơ quan thành lập ra Hội đồng Nhà nước có

quyền “định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết”

(Điều 83)

1.3.4 Hiến pháp 1992

Hiến pháp 1992 ra đời trên cơ sở nhu cầu cần phải có bản hiến pháp mới đáp ứng cho yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc tổ chức bộ máy nhà nước chính vì thế

đã có những thay đổi rất đáng kể, trong đó có chế định nguyên thủ quốc gia Với Hiến pháp 1980 Nguyên thủ quốc gia tập thể - Hội đồng Nhà nước đã bộc lộ những hạn chế nhất định trong việc thực hiện vai trò nguyên thủ, điều hòa, phối hợp với các cơ quan còn lại trong bộ máy nhà nước Chính vì thế mà chế định nguyên thủ theo Hiến pháp

1992 đã được xây dựng theo hướng tiếp thu những ưu điểm trong mô hình nguyên thủ

ở các bản hiến pháp trước đó, vừa thể hiện sự phù hợp với yêu cầu của đất nước trong giai đoạn này

Chế định nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp 1992 có tên gọi là Chủ tịch nước, là nguyên thủ cá nhân và được ghi nhận trong một chương riêng biệt, chương VII với 8 điều Chủ tịch nước được xác định vai trò cơ bản là thay mặt cho nước và

đứng đầu nhà nước “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại” (Điều 101) Việc quay trở lại

mô hình nguyên thủ là cá nhân là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu đổi mới, khắc phục những hạn chế của mô hình nguyên thủ tập thể trong Hiến pháp 1980

Vai trò thay mặt cho nước, đại diện cho nước trong các quan hệ về đối nội và đối ngoại được thể hiện thông qua các thẩm quyền cụ thể như cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nhà nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định (khoản 10 Điều 103) Có thể thấy, vai trò đại diện của Chủ tịch nước với tư cách nguyên thủ là cá nhân là phù hợp hơn cả trong các quan hệ ngoại giao, quan hệ quốc tế Đồng thời, trong mối quan hệ hợp tác với các nhà nước, việc tham gia đàm phán, ký kết với những người đồng cấp của Chủ tịch nước cũng phù hợp với thông lệ của quốc tế Vai trò mang tính lễ nghi này càng trở nên quan trọng hơn trong điều kiện đổi mới đất nước, rất cần một hình ảnh mang tính biểu tượng cho sự đoàn kết dân tộc

Trang 32

Vai trò đứng đầu nhà nước của Chủ tịch nước lần đầu tiên được ghi nhận một cách cụ thể trong Hiến pháp 1992 Như vậy, vai trò đã được khẳng định là vai trò mang tính hiến định của nguyên thủ quốc gia, chứ không thuần túy được thể hiện thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn như trong các bản hiến pháp trước đó Việc thừa nhận “đứng đầu nhà nước” rất quan trọng, không chỉ trong mối quan hệ với các cơ quan còn lại của bộ máy nhà nước mà còn củng cố cho tính biểu tượng của Chủ tịch nước hơn bao giờ hết Vai trò này của Chủ tịch nước được thể hiện thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 103 của Hiến pháp và thông qua mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, Chủ tịch nước là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh (khoản 2 Điều 103) Vai trò của Chủ tịch nước được thể hiện thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn trong việc bảo vệ an ninh quốc gia khi đất nước có chiến tranh Cụ thể Chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương (khoản 5, 6 Điều 103); quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp nhà nước khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam (khoản 9 và 11 Điều 103)

Ở lĩnh vực lập pháp, so với Hiến pháp 1980 Chủ tịch nước không còn là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội Chủ tịch nước là chế định phái sinh từ Quốc hội, do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội Chủ tịch nước phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và nhiệm vụ quyền hạn của Chủ tịch nước được thực hiện trên cơ sở các quyết nghị, quyết định của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước cùng với nhiệm kỳ của Quốc hội và theo quy định tại Điều 102 Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; Quốc hội có quyền chất vấn, miễn nhiệm, bãi nhiệm (Khoản 7 Điều 84); bãi

bỏ văn bản của Chủ tịch nước (Khoản 9 Điều 84) Thế nhưng, trong mối quan hệ với Quốc hội, vai trò của Chủ tịch nước vẫn có những sự độc lập nhất định Chủ tịch nước thực hiện việc công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh (Khoản 1 điều 103) Ngoài ra, với tư cách là đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước tham dự các kỳ họp của Quốc hội, biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội; thực hiện sáng quyền lập pháp (Điều 87), và thực hiện các hoạt động khác nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội

Trang 33

32

Ngoài mối quan hệ với Quốc hội, Chủ tịch nước còn có mối quan hệ với Ủy ban thường vụ Quốc hội- cơ quan thường trực của Quốc hội Chủ tịch nước có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường

vụ Quốc hội, nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất (khoản 7 Điều 103) Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 105), mặc dù không có quyền biểu quyết nhưng có quyền phát biểu ý kiến về những nội dung trong cuộc họp mà Chủ tịch nước tham dự

Trong mối quan hệ với Chính phủ, Chủ tịch nước không tham gia vào việc điều hành Chính phủ như trong Hiến pháp 1946 mà chỉ tham gia vào việc thành lập Chính phủ Chủ tịch nước không bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ như quy định trong Hiến

pháp 1946, Hiến pháp 1959 mà Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu Thủ tướng “Chủ

tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ” (khoản

3 Điều 103) cho nên Thủ tướng chỉ có trách nhiệm báo cáo với Chủ tịch nước mà không chịu trách nhiệm trước Chủ tịch nước Chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ Chủ tịch nước cũng được tham dự các phiên họp của Chính phủ khi xét thấy cần thiết (Điều 105) Khi tham dự các phiên họp này, Chủ tịch nước có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết hoặc là Chính phủ sẽ mời Chủ tịch nước tham dự các phiên họp của Chính phủ và trình Chủ tịch nước quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước Quy định này nhằm phát huy vai trò đứng đầu nhà nước của Chủ tịch nước

nhưng việc quy định “khi xét thấy cần thiết” lại không cụ thể, rõ ràng nên không tạo cơ

chế pháp lý vững chắc để Chủ tịch nước thực hiện quyền này

Trong mối quan hệ với cơ quan tư pháp, Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao Chủ tịch nước quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội công bố quyết định đại xá (khoản 5, 12 Điều 103) Trong thời gian Quốc hội không họp, Chánh án tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm pháp lý trước Chủ tịch nước Những quy định này thể hiện mối quan hệ mang tính gắn bó, chặt chẽ hơn của Chủ tịch nước với cơ quan tư pháp và đề cao trách nhiệm của những cán bộ lãnh đạo nhánh quyền lực này trước người đứng đầu Nhà nước

Trang 34

Như vậy, Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1992 vẫn giữ vai trò quan trọng của nguyên thủ quốc gia trên cơ sở kế thừa chế định nguyên thủ quốc gia là cá nhân của Hiến pháp 1946 và 1959 Vai trò của Chủ tịch nước được khẳng định rõ nét vẫn được đảm bảo và được khẳng định thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để cụ thể hóa việc thực hiện các nhiệm cũ quyền hạn hiến định Những nhiệm vụ quyền hạn của Chủ tịch nước không chỉ dừng lại ở tính lễ nghi, đại diện mà còn bảo đảm sự thống nhất trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, thể hiện vai trò điều phối hài hòa mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương

1.3.5 Các hiến pháp của chế độ cộng hòa ở miền Nam Việt Nam

Ngoài bốn bản Hiến pháp 1946, 1959 của Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp

1980 và Hiến pháp năm 1992 của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì ở miền Nam Việt Nam trước khi nước nhà thống nhất cũng từng tồn tại hai bản Hiến pháp năm 1956 và Hiến pháp 1967 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Hiến pháp 1956

Nguyên thủ quốc gia theo Hiến pháp 1956 của Việt Nam Cộng hòa là Tổng thống, được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử

mà cử tri toàn quốc được tham gia (Điều 30) Nhiệm kỳ của Tổng thống là 5 năm và

có thể được tái cử hai lần nữa

Tổng thống giữ vai trò là đại diện của quốc gia trong quan hệ ngoại giao Với tư cách là người thay mặt cho nước, Tổng thống phải tiến hành lễ tuyên thệ nhậm chức với tư cách là Tổng thống của Việt Nam cộng hòa (Điều 44) Tổng thống sẽ ký kết, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế; bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc (Điều 35)

Với tư cách là người đứng đầu nhà nước, Tổng thống có quyền tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước với sự tán thành của một nửa dân biểu Quốc hội (Điều 36) Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt; có quyền ban các loại huy chương (Điều 37); Vai trò nguyên thủ của Tổng thống được thể hiện qua quan hệ mang tính đối trọng với nhánh quyền lập pháp và tư pháp- một đặc điểm của chính thể cộng hòa Tổng thống Trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự (điều 37) Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó (Điều 44)

Trong quan hệ với Quốc hội, cơ quan lập pháp, Tổng thống có quyền gởi thông điệp; tham dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội Mỗi năm vào đầu

Trang 35

34

khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ (Điều 39) Với

sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý (Điều 40) Các

dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn để ký ban hành Tổng thống có quyền phủ quyết luật của Quốc hội, nếu Quốc hội không đồng ý sửa theo thông điệp của Tổng thống thì phải biểu quyết với đa số ba phần tư tổng số dân biểu Quốc hội Khi ấy, Tổng thống phải ký ban hành (Điều 58)

Trong mối quan hệ với cơ quan hành pháp, Tổng thống được xác định là người đứng đầu cơ quan hành pháp và có toàn quyền quyết định, quản lý nhánh quyền lực này Trong mối quan hệ với cơ quan tư pháp, Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án (Điều 37) Mặt khác, nếu Tổng thống can tội phản bội Tổ quốc hoặc phạm trọng tội thì có thể bị xét xử bởi một Tòa án đặc biệt

Như vậy, hiến pháp 1956 đã xác định nguyên thủ quốc gia của Việt Nam Cộng hòa là Tổng thống Với chính thể cộng hòa tổng thống, vai trò của tổng thống được thể hiện rất cụ thể, nhất là việc đứng đầu cơ quan hành pháp Không chỉ thế, Tổng thống còn có quyền phủ quyết luật và thống lĩnh quân đội Tuy nhiên, do phân quyền nên Tổng thống có thể bị xét xử bởi cơ quan tư pháp tối cao khi phạm trọng tội hoặc phản bội tổ quốc

Hiến pháp 1967

Nguyên thủ quốc gia theo Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng hòa được xác định là Tổng thống Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu quyền hành pháp, do dân bầu ra theo nhiệm kỳ là 4 năm.Vai trò của Tổng thống cũng chính là người đại diện cho Việt Nam Cộng hòa trong các quan hệ về đối nội và đối ngoại Vai trò thay mặt cho nước của Tổng thống không được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp 1967 thông qua quyền đại diện chính thức trong các quan hệ ngoại giao,

bang giao quốc tế “Tổng thống thay mặt Quốc Gia trong việc giao thiệp với ngoại

quốc, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao; Tổng thống ký kết và sau khi được Quốc Hội phê chuẩn, ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế” (Khoản 2

và 3 Điều 59) Vai trò đại diện trong lĩnh vực đối nội còn được thể hiện thông qua quy định tại Điều 55 về việc tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống trước quốc dân với sự

chứng kiến của Tối cao Pháp viện và Quốc Hội “Tôi long trọng tuyên thệ trước quốc

dân sẽ bảo vệ Tổ Quốc, tôn trọng Hiến Pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc và tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa” Vai trò nguyên thủ của

Tổng thống chủ yếu được ghi nhận thông qua việc đứng đầu nhà nước bằng các nhiệm

vụ, quyền hạn cụ thể như Tổng thống là tổng tư lệnh tối cao Quân lực Việt Nam cộng hòa (Điều 60), là Chủ tịch Hội đồng An ninh quốc gia (Điều 64) Chính vì thế mà

Trang 36

Tổng thống có quyền “Trong các trường hợp đặc biệt, Tổng thống có thể ký sắc luật

tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay toàn lãnh thổ” (Điều 69) Tổng thống có quyền ban các loại huy chương (Điều 61) Vai trò

nguyên thủ của Tổng thống còn được thể hiện thông qua mối quan hệ với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp

Ở lĩnh vực lập pháp, mối quan hệ giữa Quốc hội và Tổng thống có mối liên kết chặt chẽ và có sự tác động qua lại ở một mức độ nhất định Quốc hội là cơ quan lập pháp và sau khi các dự luật được Quốc hội chung quyết sẽ được Tổng thống ban hành Nếu Tổng thống không ban hành trong thời hạn hiến định là 15 ngày hoặc 7 ngày trong trường hợp khẩn cấp thì dự luật đó đương nhiên thành luật (Điều 44) Tuy nhiên trong thời gian ban hành, Tổng thống có quyền gởi thông điệp có viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản của dự luật Trong trường hợp này, Quốc hội sẽ họp khoáng đại lưỡng viện để chung quyết dự luật với đa số quá bán (1/2) tổng số Dân biểu và Nghị sĩ Nếu Quốc hội chung quyết bác bỏ lời yêu cầu phúc nghị của Tổng thống, dự luật đương nhiên thành luật và được chuyển sang Tổng thống để ban hành (điều 45) Như vậy, Tổng thống có quyền phủ quyết luật của Quốc hội, nhưng nếu sau khi Quốc hội họp lại và dự luật vẫn được thông qua thì Tổng thống phải

ký ban hành Mặt khác, khi Tổng thống ký sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay toàn lãnh thổ trong các trường hợp đặc biệt thì sắc luật này có thể bị Quốc hội bãi bỏ hoặc sửa đổi Khi ấy, các tình trạng đặc biệt

đã được ban hành sẽ chấm dứt hoặc thay đổi hiệu lực (Điều 64).Trong mối quan hệ với Quốc hội, Tổng thống có quyền bày tỏ ý chí của mình với Quốc hội bằng thông điệp

“Vào mỗi khóa họp thường lệ và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc

hội biết tình hình quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chánh phủ” (Điều

nhiệm của Thủ tướng “Thủ tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chánh sách quốc gia

trước Tổng thống” (Điều 67)

Trang 37

36

Ở lĩnh vực tư pháp, Tổng thống có quyền bổ nhiệm thẩm phán trong Tối cao pháp viện theo sự lựa chọn của Quốc hội (Điều 80) và có quyền ân xá và ân giảm hình phạt các phạm nhân (Điều 61)

Như vậy, với Hiến pháp 1967, vai trò của Tổng thống được quy định rất cụ thể với tư cách là người đại diện của quốc gia trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại Tổng thống không chỉ là nguyên thủ quốc gia mà còn là người đứng đầu cơ quan hành pháp, đồng thời có mối quan hệ với Quốc hội và Tối cao pháp viện Trong đó mặc dù Quốc hội có những quyền hạn rất lớn trong hoạt động lập pháp nhưng quyền lực của Tổng thống vẫn được đảm bảo thông qua quyền phủ quyết luật và việc bổ nhiệm thẩm phán Nói cách khác, Tổng thống theo Hiến pháp 1967 có rất nhiều quyền hạn mang tính độc lập xuất phát từ cách thức hình thành nên chế định nguyên thủ quốc gia lúc bấy giờ Tổng thống do cử tri cả nước bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín (Điều 52)

Nhận xét chung:

Thông qua việc tìm hiểu chế định nguyên thủ quốc gia trong lịch sử lập hiến Việt Nam, một số đặc điểm chung là:

Thứ nhất, có thể thấy rằng dù có sự khác biệt về tên gọi, về tư cách (cá nhân

hay tập thế) nhưng nguyên thủ quốc gia luôn là một chế định giữ vị trí quan trọng trong tất cả các bản hiến pháp Ở mỗi giai đoạn lịch sử, với tình hình cụ thể của đất nước và tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước khác nhau nên quyền hạn và nhiệm vụ của nguyên thủ trong qua trình thực hiện vai trò của mình cũng có sự khác biệt Nhưng mối quan hệ giữa nguyên thủ quốc gia với các cơ quan khác phản ánh rõ nét vai trò đại diện quốc gia, đứng đầu bộ máy nhà nước, điều phối hoạt động của bộ máy nhà nước

Thứ hai, tuy có sự khác biệt nhất định về quyền hạn, ví trí, vai trò và tính chất

của nguyên thủ quốc gia qua các bản hiến pháp, nhưng giữa các hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự kế thừa, khắc phục những hạn chế của hiến pháp trước ở một chừng mực nhất định Có lẽ, sự

kế thừa này xuất phát từ sự liên tục của chế độ chính trị Sự kế thừa và phát triển của các hiến pháp nói chung và chế định nguyên thủ quốc gia nói riêng là một trong những yếu tố bảo đảm tính ổn định của xã hội, tính ổn định trong bộ máy nhà nước

Thứ ba, việc thiết kế thể chế và vị trí nguyên thủ trong hiến pháp chịu ảnh

hưởng sâu sắc của điều kiện, hoàn cảnh xã hội nói chung và hệ tư tưởng chính trị nói riêng Những điều kiện, hoàn cảnh này phần nào phản ánh trong vị trí, vai trò, chức năng và thẩm quyền của nguyên thủ quốc gia trong các bản hiến pháp Tuy nhiên, có

sự đa dạng trong lựa chọn và thiết kết mô hình tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước qua các bản hiến pháp ở Việt Nam Ví dụ, chế độ tổng thống (Hiến pháp 1956), chính thể lưỡng thể (1946, 1967), chế độ đại nghị (1959, 1980, 1992) Trong thiết kế

Trang 38

mô hình chính thể, đặc biệt với chế định nguyên thủ quốc gia có sự linh hoạt, sáng tạo rất đặc sắc Ví dụ, nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp 1946 do Nghị viện bầu nhưng

có vai trò và quyền hạn thể hiện tính độc lập rất cao Hoặc chế định nguyên thủ quốc gia tập thể trong Hiến pháp 1980 có vị trí, vai trò rất đặc trưng thể hiện sự sáng tạo trong thiết kế và tính phù hợp với điều kiện hoàn cảnh

Thứ tư, vai trò chính trị trong việc tạo dựng tính chính đáng, niềm tin, từ đó tạo

sự thống nhất, đoàn kết trong xã hội và bộ máy nhà nước là một trong những điểm nổi bật của các bản thiết kế thể chế hiến định về nguyên thủ quốc gia Tuy nhiên, thiết kế thẩm quyền chưa tương xứng với vị trí, vai trò và chức năng của nguyên thủ quốc gia trong hiến pháp, đặc biệt trong các hiến pháp 1959, 1980, 1992 và kể cả trong Dự thảo

2013 (sẽ được phân tích chi tiết trong Chương 4) Sự thiếu cân xứng này có thể ảnh hưởng đến vai trò chính trị của nguyên thủ quốc gia và trên thực tế

Trang 39

38

CHƯƠNG 2: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGUYÊN THỦ QUỐC GIA

2.1 Khái quát chung về vai trò, chức năng của nguyên thủ quốc gia

Trong mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo và với khung cảnh

xã hội và thể chế nhất định, nhìn chung, người lãnh đạo ảnh hưởng đến thái độ, niềm tin, yêu cầu và nhu cầu của quần chúng và ngược lại, quần chúng ảnh hưởng đến niềm tin, động lực, phẩm chất của người lãnh đạo48 Với ý nghĩa này, có thể nói lãnh đạo nói chung và nguyên thủ quốc gia có vai trò rất quan trọng không chỉ trong bộ máy nhà nước mà vai trò này cũng rất quan trọng trong đời sống xã hội Cách xác định vai trò

cụ thể của lãnh đạo nói chung rất khác nhau Ví dụ, có quan điểm xác định những vai trò này thể hiện qua ba mặt: tạo tính thống nhất, tạo sự thay đổi và tư cách đại diện49 Cách tiếp cận khác xác định bốn vai trò cơ bản của lãnh đạo chính trị và những vai trò này gắn với những khung cảnh, điều kiện cụ thể Ví dụ, vai trò cách mạng tiên phong

(Crusaser – thập tự chinh) thể hiện rõ trong điều kiện cần sự thay đổi; vai trò thuyết

phục (Salesman – người bán hàng) trong điều kiện hòa bình; vai trò đại diện (Agent)

trong điều kiện bất ổn, xung đột lợi ích; trong điều kiện khủng hoảng, vai trò quyết

định trong tình trạng khẩn cấp của lãnh đạo sẽ thể hiện rõ (Firefighters-cứu hỏa)50

Trong điều kiện hiện đại, sự phụ thuộc giữa các quốc gia tăng lên và sự phát triển của xã hội quốc gia và xã hội toàn cầu rất mạnh mẽ với những thay đổi diễn ra rất nhanh chóng Phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và thay đổi nhanh chóng cũng có nghĩa là xã hội luôn tiềm ẩn sự bất ổn Do vậy, giới lãnh đạo mạnh mẽ là rất cần thiết Bằng sự phối kết hợp các vai trò, chức năng giới lãnh đạo cần có khả năng thúc đẩy sự thay đổi, sáng tạo, thách thức sự bảo thủ, lạc hậu, nhưng cần có sự cân bằng giữa thúc đẩy cách mạng, đổi mới và sự ổn định, liên tục trong xã hội, kiến tạo và duy trì sự thống nhất, hài hòa của dân tộc51

Nhìn chung, những nghiên cứu về vai trò của lãnh đạo nói chung và nguyên thủ quốc gia nói riêng của các lý thuyết gia cổ điển không được chú ý bởi quan niệm rằng phần lớn những nhà lãnh đạo hành xử không đúng với lợi ích của quần chúng Tuy nhiên, quan niệm này đang có sự thay đổi Lãnh đạo trong xã hội hiện đại không chỉ có vai trò rất quan trọng trong thời kỳ khủng hoảng mà còn có vai trò quan trọng trong

Trang 40

các thời kỳ Vai trò này nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội đặc biệt trong nửa cuối của thế kỷ 20 khi mà vai trò của nhà nước ngày càng trở lên quan trọng52

Vai trò của lãnh đạo chính trị nói chung và nguyên thủ quốc gia nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, có ảnh hưởng đến thể chế, con người và toàn bộ xã hội Tuy nhiên, lãnh đạo nói chung và đặc biệt vị trí đứng đầu trong hành pháp có xu hướng cá nhân hóa nếu địa vị của họ không được thiết lập một cách chặt chẽ và vững chắc trong hiến pháp và pháp luật53 Vì vậy, vai trò, chức năng và thẩm quyền của lãnh đạo chính trị và nguyên thủ quốc gia cần phải được hiến định, pháp định

Sự phân định các vai trò của nguyên thủ quốc gia chủ yếu dựa theo các mặt, tính chất của lĩnh vực hoạt động và có tính chất quy ước, tương đối nhưng nó giúp xác định được các mặt hoạt động cơ bản và giá trị, ý nghĩa của nó đối với đời sống chính trị và pháp lý Có một số nghiên cứu chia vai trò nguyên thủ quốc gia thành hai nhóm chính: vai trò trong lĩnh vực chính trị (đại diện, tạo tính chính đáng) và vai trò pháp lý (đứng đầu nhà nước, điều hành hành pháp) Tuy nhiên, sự phân nhóm quá khái quát như vậy không giúp xác định các mặt hoạt động và cũng khó đánh giá về mặt hiến định cũng như thực tiễn Vì vậy, cần phân nhóm các lĩnh vực hoạt động một cách cụ thể hơn như sau:

Vai trò đại diện thống nhất quốc gia, dân tộc và nhà nước

Sự tồn tại của một cộng đồng cần phải thể hiện sự thống nhất nội tại giữa các bộ phận, thành phần của nó và sự thống nhất bên ngoài thể hiện trong mối quan hệ với các đối tượng bên ngoài cộng đồng đó Với các xã hội, quốc gia, sự thống nhất này thể hiện ở hai mức độ: thống nhất dân tộc, xã hội và thống nhất trong bộ máy nhà nước với tư cách là cơ quan quản lý xã hội đó Nhu cầu thể hiện sự thống nhất này biểu hiện qua hai vị trí: đứng đầu quốc gia, thay mặt cho quốc gia và đứng đầu bộ máy nhà nước

Có thể nói, nhà vua, nữ hoàng, quốc vương trong chế độ quân chủ và tổng thống, chủ tịch, quốc trưởng…được coi là vị trí thích hợp nhất đảm nhiệm vai trò đứng đầu

bộ máy nhà nước và đại diện cho quốc gia Xét từ góc độ của chức năng đại diện, đúng

là quốc hội, nghị viện với tư cách là cơ quan đại diện cho các tầng lớp, thành phần cư dân khác nhau thể hiện tính đại diện rất phổ biến trong nền dân chủ hiện đại Đại diện của cơ quan này là đại diện cho những ý chí và lợi ích khác biệt của những nhóm xã hội khác nhau Nói cách khác, đó là sự đại diện cho sự khác biệt trong xã hội Mặt khác, xã hội là một thể thống nhất chứ không chỉ là sự khác biệt và mâu thuẫn giữa các thành phần cư dân của nó Ở khía cạnh thống nhất, xã hội cũng cần có sự đại diện, đặc

52 Jean Blondel (1987) Political leadership Towards a General Analysis, Sage Publication trang 37

53 Lewis J Edinger (1990) Approach to the Comparative Analysis of Political Leadership, The Review of

Politics, vol 52 trang 509-523

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân, Võ Trí Thành (2002). Thể chế - Cải cách thể chế và phát triển Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam, NXB Thống Kê Khác
2. Báo cáo Tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992 (2012) Văn phòng Chủ tịch nước Khác
3. Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, (2012), Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế giới, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Khác
4. Lê Hải Châu (2006) Chế định chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946 và sự phát triển qua các bản hiến pháp Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường đại học Luật TPHCM Khác
5. Đại học Luật Hà Nội (2007) Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp Khác
7. Bùi Xuân Đức (1998) Chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946 và sự phát triển qua các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992, Hiến pháp 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh (2005) Khác
9. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2012) Tuyển tập hiến pháp một số quốc gia, Nxb Hồng Đức Khác
10. Khoa Luật, Đại học Tổng hợp Hà Nội (1993) Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
11. Khoa Luật, Đại Quốc gia Hà Nội (2005) Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
12. Đỗ Minh Khôi (2012) Hoàn thiện mô hình tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước trong Hiến pháp (Phạm Hồng Thái chủ biên, Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 những vấn đề lý luận và thực tiễn, tập 1 Những vấn đề chung về bộ máy nhà nước, Nxb Hồng Đức, 2012) Khác
13. Đỗ Minh Khôi (2011) Định hướng hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp 1992, trong sách chuyên khảo: Hiến pháp những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2011, Nguyễn Đăng Dung chủ biên Khác
15. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 1997 Khác
16. Đỗ Gia Thư (2003), Về vấn đề giám sát của Chủ tịch nước, Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực ở nhà nước ta hiện nay, Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân 2003 Khác
17. Lê Đình Tuyến (2001a) Về chế định chủ tịch nước, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Đặc san số 1 tháng 4, năm 2001 Khác
18. Lê Đình Tuyến (2001b), Quyền lập pháp của Chủ tịch nước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/200119. Văn kiện Đảng, URL Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w