Liên quan đến Đề tài này, một số nhà luật học đã công bố một số bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, hội thảo khoa học; điển hình là bài: “Bàn về hình thức văn bản và thẩm qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGUYÊN TẮC “QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN DO HIẾN PHÁP VÀ LUẬT QUY ĐỊNH”
Trang 2CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC “QUYỀN VÀ NGHĨA
VỤ CỦA CÔNG DÂN DO HIẾN PHÁP VÀ LUẬT QUY ĐỊNH” VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.1 THỂ CHẾ HÓA PHÁP LÝ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG
2.1.1 Thể chế hóa pháp lý quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực chính trị 25 2.1.2 Thể chế hóa pháp lý quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực dân sự 27 2.1.3 Thể chế hóa pháp lý quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa
2.1.4 Thể chế hóa pháp lý nghĩa vụ cơ bản của công dân 41
Trang 32.2 MỘT SỐ TÌNH HUỐNG LIÊN QUAN ĐẾN NGUYÊN TẮC VÀ BÌNH LUẬN
2.2.1 Tình huống thứ nhất – Sự chậm trễ “luật hóa” quyền biểu tình của công dân
2.2.2 Tình huống thứ hai - Sự tương thích giữa Hiến pháp, Luật Đất đai với các văn bản dưới luật về vấn đề thu hồi đất với quyền sử dụng đất của công dân 51 2.2.3 Tình huống thứ ba – Thực tiễn thực thi quyền học tiểu học không phải trả học
2.2.4 Tình huống thứ tư – Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ với quyền nghiên cứu khoa học của công dân 56 2.2.5 Tình huống thứ năm – Danh mục tác phẩm âm nhạc được phép phổ biến với quyền sáng tác, biểu diễn nghệ thuật và hưởng thụ văn hóa của công dân 60 2.2.6 Tình huống thứ sáu – Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng
2.2.7 Tình huống thứ bảy – Thực tiễn thực thi quyền tự do kinh doanh của công
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn Đề tài nghiên cứu
“Quyền và nghĩa vụ cuả công dân do Hiến pháp và luật quy định”
là một nguyên tắc mới được quy định trong Hiến pháp năm 1992 Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy Luật Hiến pháp, chúng tôi nhận thấy mấy vấn đề nổi bật dưới đây có liên quan đến nguyên tắc hiến định này
Một là, từ góc độ nội dung của các tài liệu giảng dạy Luật hiến pháp ở
Việt Nam, giáo trình của các cơ sở đạo tạo pháp luật lớn hiện chưa thống nhất trong nhận thức về nguyên tắc này: hoặc không hề phân tích nguyên tắc như các Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội – Nxb Công an nhân dân – 2008 và Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội – Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội – 2006 hoặc phân tích khá sơ sài như Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội – Nxb Tư pháp – 2004 Chúng tôi hy vọng công trình này góp phần cho sự thống nhất đó
Hai là, từ yêu cầu tổng kết việc thi hành và nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp
năm 1992, trong đó, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đang chiếm được sự quan tâm to lớn, không chỉ từ phía các nhà hoạch định chính sách, giới học thuật mà còn từ công chúng Chúng tôi hy vọng công trình này sẽ góp phần vào việc đa dạng hóa, sâu sắc hóa các nguồn tài liệu về nguyên tắc hiến định này nói riêng, về địa vị pháp lý của công dân nói chung
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam, chưa có công trình nghiên
cứu chuyên biệt về nguyên tắc hiến định “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” Liên quan đến Đề tài này, một số nhà luật học đã
công bố một số bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, hội thảo khoa
học; điển hình là bài: “Bàn về hình thức văn bản và thẩm quyền quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân” – Tạp chí Khoa học Pháp lý số 5/2007của tác giả Vũ Văn Nhiêm; “Một số định hướng và phương pháp ghi nhận quyền cơ bản của công dân, quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi” – trong sách
“Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn” – Nxb Đại học quốc gia Hà
Trang 5Nội - 2011 của PGS TS Nguyễn Như Phát Một số nội dung có liên quan cũng được một số tác giả thể hiện trong các giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham
khảo với tính chất là một phần của ấn phẩm; điển hình là: “Bình luận khoa học Hiến pháp 1992” – Nxb Sự thật – 1992 của nhóm tác giả Phùng Văn Tửu – Nguyễn Niên – Nguyễn Văn Thảo – Đoàn Trọng Truyến; “Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam” (sách chuyên khảo) – Nxb Khoa học xã hội – 2005 của PGS TS Nguyễn Văn Động; “Xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN” (sách chuyên khảo) - Nxb Chính trị quốc gia - 2011 của PGS TS Nguyễn Minh Đoan; “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” (sách chuyên khảo) – Nxb Chính trị quốc gia – 2011
của GS TS Trần Ngọc Đường
Không chỉ chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt mà các công trình như đã nêu trên chưa có sự tổng kết toàn diện đối với nguyên tắc hiến định này thông qua việc nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập hiến quốc tế; thu thập, phân tích, bình luận những tình huống, số liệu cụ thể về sự thể chế hóa pháp lý quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng như thực tiễn thực hiện và nhận thức của công chúng ở nước ta về nguyên tắc hiến định quan trọng này
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nhận thức: đề tài góp phần cung cấp nhận thức đúng và đầy đủ
về nguyên tắc hiến định này cũng như sự tồn tại cần thiết của nó Trên cơ sở đó,
đề tài tổng kết, phân tích, đánh giá việc hiện thực hóa nguyên tắc cũng như những hệ quả của hiện thực này trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền
và hướng tới mục tiêu thứ hai Mục tiêu hành động: đề tài đưa ra một số kiến nghị nhằm tối ưu hóa cơ chế thực thi nguyên tắc
Kết quả của Đề tài có thể trở thành chuyên khảo được sử dụng trong giảng dạy và học tập các môn học có liên quan như Luật Hiến pháp, Quyền con người – Quyền công dân, Giám sát Hiến pháp, Nhà nước pháp quyền… thuộc chương trình đào tạo luật học các cấp hoặc chuyên khảo dành cho các nhà lập hiến, lập pháp, hành pháp
Trang 64 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt pháp lý, chúng tôi nghiên cứu Hiến pháp năm 1992 và các văn
bản dưới luật (Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định) có liên quan đến việc thể chế hóa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Đối với việc tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, chúng tôi nghiên cứu Hiến pháp của 12 quốc gia gồm Hoa Kỳ, Đức, Ba Lan, LB Nga, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Úc và Trung Quốc
Về mặt thực tiễn, chúng tôi chọn nghiên cứu 8 tình huống pháp lý liên
quan đến việc thực hiện nguyên tắc bằng cách trình bày và bình luận Đồng thời, chúng tôi tiến hành điều tra xã hội học với 945 mẫu tại Tp HCM, Khánh Hòa, Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu để từ đó có thể đánh giá bước đầu nhận thức của xã hội về vấn đề này cũng như thu thập thêm luận chứng nghiên cứu
Tóm lại, chúng tôi tập trung vào việc tổng kết thể chế hóa pháp lý và hiện thực hóa nguyên tắc này trong đời sống
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp giải thích thuật ngữ pháp lý; phương pháp so sánh pháp luật (kinh nghiệm lập hiến quốc tế và Việt Nam); phương pháp phân tích tình huống pháp lý; phương pháp phỏng vấn và phân tích kết quả điều tra xã hội học…
6 Bố cục của Báo cáo tổng kết: Báo cáo tổng kết Đề tài có mấy phần như sau:
Phần mở đầu: giới thiệu lý do chọn đề tài, tình hình, mục tiêu, phạm
vi và phương pháp nghiên cứu; bố cục Báo cáo tổng kết
Chương 1 – Cơ sở lý luận của nguyên tắc “Quyền và nghĩa vụ của
công dân do Hiến pháp và luật quy định” trình bày: phân tích
nguyên tắc này với tính cách một nguyên tắc hiến định ở Việt Nam (xuất xứ, nội dung, yêu cầu, ý nghĩa); giới thiệu kinh nghiệm lập hiến của 12 quốc gia có liên quan đến nguyên tắc này
Chương 2 – Thực tiễn thực hiện nguyên tắc “Quyền và nghĩa vụ
của công dân do Hiến pháp và luật quy định” và một số kiến nghị
Trang 7trình bày: việc thể chế hóa về mặt pháp lý đối với các quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 và một số đạo luật, văn bản quy phạm pháp luật dưới luật; nêu và bình luận một số tình huống có liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc này và đề xuất một
số kiến nghị nhằm khẳng định sự tồn tại cần thiết của nó trong Hiến pháp cũng như nâng cao khả năng hiện thực hóa
Kết luận
Phụ lục: giới thiệu kết quả cuộc điều tra xã hội học có liên quan đến nguyên tắc này tại Tp HCM, Khánh Hòa, Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu với 945 mẫu nghiên cứu
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC
“QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN
DO HIẾN PHÁP VÀ LUẬT QUY ĐỊNH”
hệ cơ bản giữa nhà nước với công dân hay địa vị pháp lý cơ bản của công dân thể hiện bằng hệ thống quyền và nghĩa vụ của công dân Bàn về vai trò của
Quốc hội, Montesquieu cũng cho rằng: “Trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp Trong một nước nhỏ việc này cũng rất khó khăn; cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc mà cá nhân không thể tự mình làm lấy”1 Bàn về
Trang 9
bản chất của quyền lập pháp, Jean Jacques Rousseau cho rằng: “Lập pháp là đỉnh cao nhất của sự hoàn thiện mà sức mạnh tập thể có thể đạt tới”2
Để thể chế hóa nguyên lý đại diện trên đồng thời “khắc phục sự vi phạm quyền con người, quyền công dân do thiếu sót của Nhà nước từ hoạt động lập pháp, lập quy”3, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm
1992 đã khẳng định một tư tưởng chỉ đạo hay nguyên tắc nền tảng cho việc xác
lập địa vị pháp lý của công dân: “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến
pháp và luật quy định” Ngay từ năm 1992, Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VIII4
- luật gia kỳ cựu Phùng Văn Tửu đã bình luận: “Ở đây nói luật chứ không phải pháp luật Như vậy là sau khi có Hiến pháp mới thì chỉ có luật do Quốc hội thông qua mới quy định về quyền và nghĩa vụ công dân Còn các văn bản dưới luật chỉ là hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Đó cũng là một trong nhiều thí dụ khác chứng tỏ quyết tâm của Nhà nước ta xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” 5
Đây cũng chính là quy định mới mang tính nền tảng đối với hoạt động lập pháp của Nhà nước ta nói chung, Quốc hội nói riêng Điều này, một lần nữa, thể hiện thái độ trân trọng rất đáng ghi nhận của Nhà nước đối với việc thể chế hóa địa vị pháp lý của công dân, nhằm hạn chế tối đa sự tùy tiện từ phía Nhà
nước Đánh giá quy định này, GS Trần Ngọc Đường cho rằng: “Quyền con người, quyền công dân là các giá trị của xã hội mà Nhà nước phải có nghĩa vụ thể chế bằng Hiến pháp và các đạo luật là những hình thức pháp lý cao nhất Nhờ đó, mà các giá trị của xã hội với tư cách là các quyền của con người, quyền công dân tồn tại một cách ổn định, được thừa nhận và bắt buộc chung, được bảo đảm thực hiện bằng bộ máy nhà nước Do đó, một mặt cá nhân con người phải nhận thức sâu sắc rằng khi các giá trị xã hội với tư cách là các quyền và nghĩa vụ đã được Hiến pháp và luật quy định, đó là các quyền và
2 Jean Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 1992, tr 72 (Bản
dịch của Hoàng Thanh Đạm)
3 Trần Ngọc Đường (2011), Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam (sách chuyên khảo) – Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 82
Trang 10nghĩa vụ cao quý, công dân phải tôn trọng và có ý thức thực hiện Mặt khác, về phía Nhà nước phải đề cao trách nhiệm tìm tòi, khám phá, phát hiện nhu cầu và giá trị xã hội với tư cách là các quyền và nghĩa vụ để sớm thể chế và ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật Bằng các quy định đó Nhà nước nhằm hạn chế, ngăn ngừa các cá nhân, tổ chức và cơ quan tùy tiện đặt ra các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật vi phạm quyền con người, quyền công dân” 6
Về mặt hình thức pháp lý,chúng tôi xin diễn giải như sau7:
1 Quyền và nghĩa vụ của công dân có thể được chia thành hai loại gồm quyền và nghĩa vụ cơ bản (được quy định mang tính xác lập, khởi đầu hay lần đầu trong Hiến pháp – luật cơ bản của Nhà nước) và quyền, nghĩa
vụ khác hay quyền, nghĩa vụ không cơ bản (được quy định mang tính xác lập, khởi đầu hay lần đầu trong các luật, bộ luật) Phân tích sâu hơn, chúng ta nhận thấy Hiến pháp chỉ quy định những quyền và nghĩa vụ công dân hoặc có tính quan trọng đặc biệt, hoặc vừa có tính quan trọng đặc biệt vừa có tính khái quát (chung) so với quyền và nghĩa vụ luật định
Ví dụ thứ nhất: nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ chung nên được hiến định; còn nghĩa vụ nộp một loại thuế cụ thể như thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu… thuộc loại nghĩa vụ cụ thể nên sẽ do luật định Ví dụ thứ hai: quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (theo suy đoán) là quyền chung; còn quyền kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình là quyền cụ thể Ví dụ thứ ba: quyền bầu cử là quyền quan trọng đặc biệt vừa có tính chung nên được hiến định như sau:
“Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng
cử vào Quốc hội, Hội dồng nhân dân theo quy định của pháp luật”(điều 54).Trong trường hợp này, nếu chỉ lấy việc xác định độ tuổi làm căn cứ
Trang 11thì quyền bầu cử dường như là quyền khá cụ thể; tuy nhiên, nếu tiếp tục xét một số trường hợp công dân tuy đủ tuổi hiến định song vẫn bị tước quyền bầu cử theo luật định (ngoại lệ) thì quyền này lại vẫn mang tính khái quát8
2 Bản thân Quốc hội cũng không được ban hành các loại văn bản khác mà nội dung có liên quan đến việc quy định mang tính xác lập, khởi đầu hay lần đầu quyền và nghĩa vụ công dân Chiểu theo cách hiểu trên thì Quốc hội không thể sử dụng Nghị quyết vào việc này Khoản 3, điều 11 Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; phê chuẩn điều ước quốc tế và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội” Hệ quả là, không thể suy diễn
“các vấn đề khác” ở đây bao hàm mọi thẩm quyền của Quốc hội để ban
hành nghị quyết kiểu Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 hay Nghị quyết số 55/2010/QH12 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
3 Tất nhiên, Quốc hội cũng không thể ủy quyền cho bất kỳ cơ quan nào khác việc quy định quyền và nghĩa vụ công dân Hiện tượng Pháp lệnh
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thậm chí là Nghị định “không đầu”
của Chính phủ quy định về địa vị pháp lý của công dân thật khó mà bào chữa cho sự có mặt của chúng nếu ta nguyện thượng tôn Hiến pháp
Về mặt nội dung, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành, “Luật của Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế,
xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ
8
Xem thêm: Nguyễn Văn Động (2005), Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam
(sách chuyên khảo), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 211-212
Trang 12chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức,
quyền và nghĩa vụ của công dân” (khoản 2 điều 11) Trong khi đó, các văn
bản pháp luật khác hoặc không được Luật này xác định rõ thẩm quyền như trên (quy định các vấn đề cơ bản về quyền, nghĩa vụ của công dân) hoặc được trao thẩm quyền có liên quan (quyền, nghĩa vụ của công dân) như Nghị định do
Chính phủ ban hành sẽ “quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính
sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối
ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và
các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ” (điều
14) Như vậy, chúng ta có thể hiểu như sau:
1 Chỉ có Quốc hội mới có quyền quy định quyền và nghĩa vụ của công dân mang tính xác lập, khởi đầu hay lần đầu trong hai loại văn bản là Hiến pháp và các đạo luật
2 Tất cả các cơ quan nhà nước khác đều không có quyền quy định mang tính xác lập, khởi đầu hay lần đầu quyền và nghĩa vụ công dân Họ chỉ có quyền dựa vào Hiến pháp và luật để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành quyền, nghĩa vụ công dân và phải đảm bảo rằng hoạt động này không được tiến hành trái với tinh thần hiến định, luật định Ví dụ: Quốc hội đặt
ra các thứ thuế kèm theo khung thuế suất chuẩn; cơ quan thuế vụ theo thẩm quyền chỉ có thể tổ chức cho công dân đăng ký mã số thuế, kê khai
và nộp thuế (chẳng hạn ở tỉnh A, công dân đăng ký mã số thuế, kê khai
và nộp thuế trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế; còn ở tỉnh B, công dân đăng
ký mã số thuế, kê khai thuế qua Internet và nộp thuế qua ngân hàng) hoặc
cơ quan thuế có quyền ấn định mức thuế suất riêng cho từng đối tượng nộp thuế nhưng không được nằm ngoài khung thuế suất luật định (chẳng hạn từ 5 đến 10%) Nếu hiểu một cách nghiêm ngặt thì các cơ quan này chỉ có thể tác động đến việc hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ của công dân thông qua việc tự mình xây dựng hoặc tham gia xây dựng thủ tục hành chính; thậm chí, trong một số trường hợp, Hiến pháp, luật sẽ quy
Trang 13định về quyền, nghĩa vụ công dân một cách trực tiếp và toàn diện (tuyệt đối) như kinh nghiệm lập hiến quốc tế9
3 Các cơ quan nhà nước khác không được đặt ra quyền, nghĩa vụ mới so với quyền, nghĩa vụ hiến định và luật định hoặc xóa bỏ quyền, nghĩa vụ hiến định và luật định
1.2 KINH NGHIỆM LẬP HIẾN QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN NGUYÊN TẮC
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát nội dung của 12 bản Hiến pháp hiện hành
về phương diện này từ các quốc gia: Hoa Kỳ, Đức, Ba Lan, LB Nga, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Úc và Trung Quốc10 Các bản Hiến pháp này được ban hành trong nhiều bối cảnh khác nhau:
có những bản Hiến pháp mang phong cách cổ điển như Hoa Kỳ, Thụy Điển, Úc hoặc phong cách hiện đại như Đức, LB Nga, Thái Lan; có những bản Hiến pháp của Nhà nước quân chủ như Thụy Điển, Nhật Bản hoặc Nhà nước cộng hòa như
Ba Lan, Singapore; có những bản Hiến pháp của các nước phát triển như Đức, Hàn Quốc hoặc đang phát triển như Indonesia, Thái Lan… Vẫn biết rằng, mỗi
quốc gia nói chung, mỗi bản Hiến pháp nói riêng đều có những “hoàn cảnh”
riêng mà việc khảo sát này không thể bao quát song qua đó, chúng ta phần nào nhận diện được quan điểm lập hiến đương đại về vấn đề này
1.2.1 Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787
- Hiến pháp khởi đầu cho quy định về việc nghiêm cấm sự phủ nhận các quyền công dân thông qua việc liệt kê quyền hiến định Ví dụ: Điều sửa đổi thứ
9 - Các quyền không được liệt kê: “Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân”
- Hiến pháp cũng đặt ra hạn chế đối với quyền lập pháp của Quốc hội trong việc quy định quyền công dân Ví dụ: Điều sửa đổi thứ 1 - Tự do tín
ngưỡng, tự do ngôn luận và báo chí, quyền hội họp và kiến nghị: “Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do
9 Xem thêm Mục 1.2
10 Xin lưu ý: chúng tôi nghiên cứu các bản Hiến pháp này dựa trên bản tiếng Anh trên trang http://confinder.richmond.edu/ (Trang tin về Hiến pháp thuộc University of Richmond - School of Law – Hoa Kỳ); đồng thời, có đối chiếu với bản dịch tiếng Việt của một số học giả Việt Nam thuộc Văn phòng Quốc hội
Trang 14tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình”
- Hiến pháp chỉ rõ trách nhiệm của Quốc hội trong việc“luật hóa” các
quyền hiến định Ví dụ: Điều sửa đổi thứ 15 - Quyền bỏ phiếu của người Mỹ
gốc Phi: “Khoản 1 Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế, dựa vào lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đây Khoản 2 Quốc hội sẽ có quyền triển khai điều khoản này bằng luật lệ thích hợp.” hoặc Điều sửa đổi thứ 23 - Quyền bầu cử trong quận Columbia:
“Khoản 1 Các địa phương cấu thành nên các khu vực bầu cử chính quyền của Hoa Kỳ sẽ được tổ chức theo thể thức mà Quốc hội quy định như sau: Số đại cử tri bầu Tổng thống và Phó Tổng thống mà các địa phương có được bằng tổng
số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ trong Quốc hội, nếu đó là một bang, nhưng nếu
số đại cử tri không nhiều hơn so với bang ít dân số nhất, thì họ sẽ được ghép vào số đại cử tri do các bang bổ nhiệm, nhưng xuất phát từ mục đích của cuộc bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, thì họ sẽ được coi là các đại cử tri do một bang bổ nhiệm, và họ sẽ họp với nhau ở khu vực bầu cử và hoàn thành trách nhiệm do điều 12 của Hiến pháp qui định Khoản 2 Quốc hội có quyền đem lại hiệu lực cho điều khoản này bằng luật lệ phù hợp”11
1.2.2 Hiến pháp Liên bang Úc năm 1900
Hiến pháp không có phần riêng quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhưng thông qua việc quy định về thẩm quyền của Nghị viện (phần V – chương I), chúng ta có thể thấy rằng: những quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân cần phải được Nghị viện “luật hóa” như quyền đối với quốc
tịch, quyền tự do kinh doanh, quyền lao động, quyền trong hôn nhân và gia đình (kết hôn, ly hôn, trợ cấp, nuôi dưỡng và giám hộ trẻ em, quyền của cha mẹ), quyền trong tố tụng hình sự và dân sự, quyền tự do cư trú và đi lại, các quyền mang tính phúc lợi xã hội (chăm sóc thai phụ, trẻ em, chăm sóc y tế, trợ cấp cho thương binh, người già), quyền bí mật thư tín, quyền sở hữu trí tuệ, nghĩa vụ nộp thuế, vấn đề chống phân biệt chủng tộc
Trang 15
1.2.3 Hiến pháp Indonesia năm 1945
- Hiến pháp xác định nguyên tắc quan trọng trong việc bảo vệ và ghi
nhận giá trị quyền con người: “Duy trì và bảo vệ quyền con người phù hợp với những nguyên tắc của Nhà nước dân chủ và pháp quyền, thực hiện các quyền con người căn bản được đảm bảo, điều chỉnh và ghi nhận trong các đạo luật và các quy định khác” (khoản 5 điều 28I)
- Đối với những hạn chế trong việc thực thi các quyền và tự do của công
dân, Hiến pháp quy định: “Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mỗi người đều có nghĩa vụ chấp nhận những hạn chế do luật định với mục đích duy nhất là để đảm bảo việc công nhận và tôn trọng quyền và tự do của người khác
và để đáp ứng những yêu cầu hợp lý của xã hội dân chủ trên cơ sở có tính đến giá trị đạo đức, tôn giáo, an ninh và trật tự công cộng” (khoản 2 điều 28J)
1.2.4 Hiến pháp Nhật Bản năm 1947
- Hiến pháp thường sử dụng cụm từ “theo quy định pháp luật” khi nói về
sự ghi nhận và đảm bảo pháp lý đối với quyền và nghĩa vụ của công dân12
hoặc chỉ tuyên bố về quyền mà không kèm theo sự ràng buộc pháp lý13
- Đặc biệt, Hiến pháp chỉ đặt vấn đề “luật hóa” đối với quyền về hôn nhân
và gia đình: “Hôn nhân phải có sự tán thành của cả hai vợ chồng, phải tồn tại dựa trên sự hợp tác, bình đẳng về quyền lợi giữa hai người Dựa trên tinh thần tôn trọng phẩm giá cá nhân, bình đẳng nam nữ, các đạo luật ban hành quy định
về việc lựa chọn vợ chồng, quyền tư hữu, di sản, lựa chọn nơi ở, li dị và mọi
vấn đề khác về hôn nhân, gia đình” (điều 24)
1.2.5 Hiến pháp Hàn Quốc năm 1948
Hiến pháp xác định hai nguyên tắc cơ bản: quyền và tự do của công dân không chỉ được ghi nhận bằng con đường hiến định và chỉ có thể bị giới hạn
luật định mang tính pháp quyền tại điều 37: “(1) Các quyền và tự do của công dân không thể bị bỏ qua với lý do chúng không được liệt kê trong Hiến pháp
12 “Những điều kiện cần thiết để có quốc tịch Nhật Bản do pháp luật quy định” (điều 10) hay “Mọi
công dân khi bị thiệt hại vì bất kỳ hành vi bất hợp pháp của công chức đều có quyền yêu cầu Chính phủ bồi thường theo quy định pháp luật” (điều 17)
13“Tự do tư tưởng và ngôn luận không bị xâm phạm” (điều 19) hay “Tự do học thuật được đảm bảo”
Trang 16(2) Các quyền và tự do của công dân chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật khi cần thiết cho an ninh quốc gia, duy trì pháp luật và trật tự hoặc vì lợi ích công cộng Ngay cả khi áp đặt các hạn chế như vậy, không được vi phạm các yếu tố
thiết yếu của các quyền và tự do”
1.2.6 Hiến pháp CHLB Đức năm 1949
- Điều 79 khoản 3 Luật cơ bản14 đã vĩnh viễn hóa nền tảng của chế độ dân chủ Điều luật này chỉ rõ các quy định về nhân quyền tại Điều 1 và các nguyên tắc nhà nước cộng hòa dân chủ pháp quyền liên bang tại Điều 20 là
không thể thay đổi Hay nói cách khác, Điều khoản này đã vĩnh viễn hóa những đặc trưng nền tảng về dân chủ, pháp quyền của nhà nước Đức, vĩnh viễn hóa một chân lý: “Phẩm giá của con người là giá trị cao nhất và không thể bị xâm phạm”15
- Hiến pháp khẳng định hiệu lực trực tiếp của các quyền cơ bản; ví dụ: điều
1 – Bảo vệ nhân phẩm, sự ràng buộc của quyền lực nhà nước bởi các quyền cơ
bản nêu rõ: “Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với tính chất là quyền có hiệu lực trực tiếp” Điều
19 khoản 4 quy định: “Nếu bất cứ ai bị các cơ quan công quyền xâm hại các quyền cơ bản đã được nêu trong Luật cơ bản, đều có quyền khởi kiện trực tiếp” Sức mạnh thi hành của Luật cơ bản chỉ thực sự đi vào cuộc sống sau khi
Luật Tòa án Hiến pháp năm 1951 và quy định bổ sung chế định khiếu kiện Hiến pháp của công dân tại Điều 93 khoản 1 số 4a Luật cơ bản năm 1969 có hiệu lực
Từ đó đến nay, từng quyền cơ bản của công dân được bảo vệ, được giải thích và làm sáng tỏ trong các phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án Hiến pháp liên bang16
- Hiến pháp xác định một số quyền cơ bản là tuyệt đối mà không thể bị hạn
chế bởi các văn bản pháp luật khác; ví dụ: điều 8 – Quyền tự do biểu tình: “(1) Mọi công dân Đức đều có quyền biểu tình một cách hoà bình và không sử dụng
vũ khí mà không phụ thuộc vào việc cấp phép của nhà nước (2) Trong trường
14
Người Đức gọi Hiến pháp là Luật cơ bản
Trang 17hợp biểu tình ngoài trời thì quyền này có thể bị giới hạn bởi đạo luật cụ thể hoặc trên căn cứ của một đạo luật”
- Những giới hạn (nếu có) về quyền hiến định phải do luật đặt ra (có thể dựa vào một đạo luật riêng hoặc trên cơ sở một đạo luật) nhưng đều phải dựa vào các nguyên tắc hiến định áp dụng đối với từng quyền đó Thậm chí, Hiến pháp Đức còn nhấn mạnh đến yêu cầu về tính hợp hiến của các đạo luật này trong khuôn khổ của Nhà nước pháp quyền17 hoặc “hướng dẫn” cho các đạo
luật việc xác định các giới hạn này18 hoặc nguyên tắc áp dụng các đạo luật đó19
1.2.7 Hiến pháp Singapore năm 1963
Hiến pháp xác định một số giới hạn luật định về quyền cơ bản (ví dụ: Điều
9 - Quyền tự do cá nhân khẳng định: “Không ai bị tước đoạt tính mạng hoặc sự
tự do cá nhân trừ trường hợp theo luật định.”) và trách nhiệm của Nghị viện trong việc “luật hóa” những hạn chế này20
17
Điều 16 - Cấm tước quyền có quốc tịch; việc dẫn độ: (2) Không một công dân Đức nào bị dẫn độ ra
nước ngoài Ngoại lệ dẫn độ sang nước thành viên trong Cộng đồng châu Âu hay đến một Tòa án quốc tế có thể
được thực hiện theo một đạo luật cụ thể, nếu như đạo luật đó phù hợp với các nguyên tắc nhà nước pháp
quyền
18 Điều 17a - Giới hạn về các quyền cơ bản cụ thể trong lĩnh vực an ninh:
“(1) Các đạo luật về nghĩa vụ quân sự và lao động công ích có thể quy định các giới hạn cụ thể quyền cơ bản
của những người tham gia lực lượng vũ trang và lao động công ích trong thời gian phục vụ, như quyền được tự
do ngôn luận thể hiện bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh (Điều 5 khoản 1 câu 1), quyền biểu tình (Điều 8), và quyền kiến nghị (Điều 17) trong phạm vi mà quyền này cho phép có thể đệ trình các kiến nghị tập thể
(2) Các đạo luật, mà phục vụ lợi ích quốc phòng nhằm mục đích bảo vệ nhân dân, có thể quy định giới hạn các quyền cơ bản như quyền tự do đi lại (Điều 11) và bất khả xâm phạm nơi ở (Điều 13)
19 Điều 19 - Giới hạn các quyền cơ bản:
“(1) Nếu một quyền cơ bản nào trong Luật cơ bản này bị giới hạn bởi một đạo luật hoặc trên cơ sở một đạo
luật nào cụ thể, thì đạo luật đó phải được áp dụng chung và không là ngoại lệ dành riêng cho một trường hợp
cá biệt nào Ngoài ra, đạo luật đó phải trích dẫn rõ quyền cơ bản với đầy đủ thông tin về điều khoản của Luật
(a) mỗi công dân Singapore có quyền tự do phát ngôn và thể hiện ý kiến;
(b) tất cả công dân Singapore đều có quyền hội họp một cách hoà bình và không có vũ khí;
(c) tất cả công dân Singapore đều có quyền thành lập các hội
2 Nghị viện có thể ban hành luật quy định:
(a) những hạn chế đối với các quyền được qui định tại khoản (1) (a) khi thấy cần thiết hoặc để phù hợp với lợi ích an ninh của Singapore hoặc của bất kỳ phần nào trong đó, phù hợp với các mối quan hệ hữu nghị với các nước khác, trật tự công cộng hoặc đạo đức và những hạn chế để bảo vệ các đặc quyền của Nghị viện hoặc để chống lại sự coi thường toà án, phỉ báng hay xúi giục bất kỳ hành vi phạm tội nào;
(b) những hạn chế đối với quyền được qui định tại khoản (1) (b) khi thấy cần thiết hoặc để phù hợp với
Trang 181.2.8 Hiến pháp Thụy Điển năm 197421
- Hiến pháp xác định các quyền tự do ngôn luận, quyền tự do thông tin, quyền tự do hội họp, quyền tự do biểu tình, quyền tự do lập hội, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; quyền bất khả xâm phạm thân thể, chỗ ở; bí mật thư tín; quyền tự do cá nhân và tự do đi lại; quyền về sự công khai tố tụng có thể bị hạn chế trong phạm vi hiến định thông qua các đạo luật hoặc văn bản pháp quy do Chính phủ ban hành (với sự ủy quyền trong luật) với những thủ tục hết sức chặt chẽ Những hạn chế này chỉ được áp dụng để đáp ứng những mục đích phù hợp trong một xã hội dân chủ Những hạn chế không bao giờ được vượt quá giới hạn cần thiết trên cơ sở xem xét tới mục đích của chúng, chúng cũng không bao giờ được thực thi tới mức độ gây ra mối đe doạ cho sự tự do hình thành quan điểm là một trong những yếu tố nền tảng của chế độ dân chủ Không được áp dụng bất kì một hạn chế nào chỉ dựa trên cơ sở quan điểm chính trị, tôn giáo, văn hoá hay những quan điểm tương tự khác (điều 12 chương 2 - Đạo luật về công cụ chính quyền)
- Bên cạnh đó, Hiến pháp còn đưa ra những yêu cầu khắt khe22 và khá chi tiết về nội dung của các đạo luật của Quốc hội23, văn bản pháp quy của Chính phủ24 nhằm chi tiết hóa các quyền và tự do cơ bản
22 Điều 1 – Chương 8 – Đạo luật về công cụ chính quyền: “Theo các quy định của Chương 2 liên quan
tới các quyền và quyền tự do cơ bản, các quy định với những nội dung cụ thể không thể được ban hành, hoặc
chỉ được ban hành dưới dạng các đạo luật và trong một số trường hợp các dự thảo luật phải được soạn thảo
theo thủ tục riêng biệt.”
23 Điều 3 – Chương 8 - Đạo luật về công cụ chính quyền: “Các quy định điều chỉnh mối quan hệ giữa
các chủ thể tư và các thiết chế công trong đó liên quan tới nghĩa vụ của các chủ thể tư, hay điều chỉnh các điều
kiện kinh tế hay nhân thân của các chủ thể tư, đều phải được quy định trong luật Những quy định này bao
gồm các quy định liên quan tới các hành vi phạm tội và hậu quả pháp lí của các hành vi đó, các quy định liên quan tới nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và những điều khoản liên quan tới trưng dụng và những biện pháp sử dụng tài sản bắt buộc khác.”
Điều 5 – Chương 8 - Đạo luật về công cụ chính quyền: “Các nguyên tắc điều chỉnh sự thay đổi trong
cách thức phân chia Vương quốc thành các khu vực chính quyền địa phương và các nguyên tắc điều chỉnh tổ
chức và thủ tục hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương và thuế địa phương được quy định trong
luật Các quy định liên quan tới thẩm quyền của các cơ quan chính quyền địa phương ở các lĩnh vực cũng như trách nhiệm của chúng được quy định trong luật”
Trang 19- Ngoài ra, Đạo luật tự do báo chí năm 1949 và Luật cơ bản về tự do ngôn luận năm 1991 còn có chương về các điều khoản chuyển tiếp nhằm hướng dẫn
cụ thể về việc áp dụng các quy phạm hiến định
1.2.9 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982
- Hiến pháp xác định nguyên tắc thể hiện quyền và nghĩa vụ công dân tại
điều 33: “Tất cả quyền lợi của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định, đồng thời Hiến pháp và pháp luật quy định nghĩa vụ của công dân”
- Một số hạn chế về quyền công dân sẽ được thể hiện trong các văn bản pháp luật nói chung, mà không hề nhấn mạnh vai trò cá biệt của các đạo luật; ví
dụ: điều 40 quy định: “Quyền tự do thư tín và bảo mật thư tín của công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được pháp luật bảo vệ Trừ trường hợp vì
lý do an ninh quốc gia hoặc do yêu cầu của việc bắt giữ tội phạm hình sự, do cơ quan công an hoặc cơ quan kiểm sát tiến hành kiểm tra căn cứ theo trình tự quy định của pháp luật, nghiêm cấm bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào, vì bất cứ lý
do gì xâm phạm quyền tự do thư tín hoặc quyền bảo mật thư tín của công dân”
1.2.10 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993
- Cùng với việc khẳng định tại điều 2: “Con người, các quyền và tự do của con người là những giá trị cao nhất Việc thừa nhận, tuân thủ và bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân là bổn phận của nhà nước”, Hiến
pháp đã đặt ra yêu cầu rất cao đối với tính minh bạch của các văn bản quy phạm
pháp quy, các quy định điều chỉnh các vấn đề không phải là các vấn đề về thuế với điều kiện các quy định đó
liên quan tới một trong số những vấn đề sau:
Việc bảo vệ mạng sống, sức khoẻ, hay an toàn cá nhân;
Việc tạm trú trong lãnh thổ Vương quốc của công dân nước ngoài;
Việc nhập khẩu hay xuất khẩu hàng hoá, tiền tệ hoặc các tài sản khác, việc sản xuất, vận tải và thông tin, cấp tín dụng, các hoạt động doanh nghiệp, việc cấp phát phân phối, tái sử dụng và tái chế nguyên liệu, thiết
kế công trình xây dựng, công trình lắp đặt và các khu vực định cư của con người, hay nghĩa vụ xin giấy phép đối với các biện pháp ảnh hưởng tới công trình xây dựng và công trình lắp đặt;
Môi trường văn hoá, săn bắn, đánh bắt cá, bảo vệ động vật, hay bảo tồn tự nhiên và bảo vệ môi trường;
Việc lưu chuyển giao thông hay trật tự công cộng;
Giáo dục và đào tạo;
Việc cấm tiết lộ những vấn đề mà một người biết được trong quá trình phục vụ công cộng hoặc thực hiện nhiệm vụ chính thức;
Việc bảo vệ nhân phẩm trong quá trình xử lí thông tin cá nhân
Thẩm quyền liên quan tới những vấn đề ở đoạn một không bao gồm quyền ban hành những quy định áp dụng chế tài pháp lí đối với những hành vi hình sự vượt quá mức tiền phạt Thông qua những đạo luật quy định
về thẩm quyền đề cập ở đoạn một, Nghị viện có thể quy định những hậu quả pháp lí khác ngoài tiền phạt đối
Trang 20pháp luật về địa vị pháp lý của cá nhân; theo đó, “bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào liên quan đến các quyền, tự do và nghĩa vụ của con người và công dân, nếu không được đăng tải chính thức sẽ không được áp dụng” (khoản
3, điều 15)
- Hiến pháp khẳng định tính hiệu lực trực tiếp của quyền và tự do hiến
định: “Các quyền và tự do của con người và công dân có hiệu lực trực tiếp Các quyền và tự do xác định ý nghĩa, nội dung và việc áp dụng các đạo luật, hoạt động của lập pháp và hành pháp, chính quyền tự quản địa phương, và được đảm bảo bởi toà án” (điều 18)
- Hiến pháp xác định nguyên tắc về giá trị hiến định cũng như luật định đối
với các quyền và tự do của công dân tại khoản điều 55: “1 Việc liệt kê các quyền và tự do cơ bản trong Hiến pháp Liên bang Nga không có nghĩa là phủ nhận hoặc xem nhẹ các quyền và tự do khác của con người và công dân đã được thừa nhận rộng rãi 2 Ở Liên bang Nga không được ban hành những đạo luật tước bỏ hoặc xem nhẹ các quyền và tự do của con người và công dân”
- Nh ng hạn chế hiến định về các quyền và tự do cá nhân và công dân
Các chủ thể phải sử dụng các quyền và tự do trong phạm vi của những giới hạn hiến định Chỉ có các đạo luật liên bang mới quy định những hạn chế này nhằm mục đích bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của chế độ Hiến pháp, đạo đức, nhân phẩm, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác, đảm bảo phòng thủ đất nước và an ninh quốc gia (khoản 3 điều 55) Nhà nước không được tùy tiện ban hành các đạo luật hủy bỏ hoặc hạn chế các quyền và tự
do của cá nhân Những hạn chế hiến định về các quyền và tự do có thể phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Xin dẫn chứng cách phân loại theo thời gian mà các hạn chế ấy có hiệu lực:
Hạn chế cố định: có hiệu lực mọi lúc, hạn chế loại này được quy định rõ
trong bản văn Hiến pháp năm 1993; ví dụ: khoản 2 điều 34 Hiến pháp quy định: không cho phép tiến hành các hoạt động kinh tế có khuynh hướng độc quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh;
Hạn chế tạm thời: có hiệu lực trong một thời điểm nhất định, hạn chế loại
Trang 21luật Hiến pháp về tình trạng đặc biệt hoặc những hạn chế liên quan đến việc cấm hội họp, diễu hành, biểu tình, những nghĩa vụ kèm theo trong lĩnh vực tự do in ấn và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng khác, việc đình chỉ hoạt động của các đảng chính trị, việc ban hành lệnh giới nghiêm và những hạn chế khác…25
Trong điều kiện tình trạng khẩn cấp, để bảo đảm an toàn cho công dân và bảo vệ chế độ hiến pháp, theo một đạo luật hiến pháp liên bang, có thể thiết lập những giới hạn nhất định đối với các quyền và tự do với điều kiện phải chỉ rõ phạm vi và thời hạn của những giới hạn đó Tình trạng khẩn cấp có thể được ban bố trên toàn bộ lãnh thổ Liên bang Nga hoặc một phần lãnh thổ nhất định khi xuất hiện bối cảnh và theo trình tự được quy định trong đạo luật hiến pháp liên bang Thậm chí, Hiến pháp cũng xác định một số quyền và tự do không thể
bị hạn chế (ngay cả) trong tình trạng khẩn cấp như quyền được sống; quyền được bảo vệ phẩm giá; quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư, bí mật gia đình và bí mật cá nhân, quyền bảo vệ danh dự và uy tín của mình; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tự do kinh doanh và hoạt động kinh tế hợp pháp; các quyền
và tự do tại tòa án như quyền được xét xử, quyền được trợ giúp pháp lý, quyền được suy đoán vô tội (điều 56)
1.2.11 Hiến pháp Ba Lan năm 1997
- Khoản 2, điều 8 khẳng định nguyên tắc “hiệu lực trực tiếp” của Hiến pháp tại: “Các quy định của Hiến pháp sẽ được áp dụng một cách trực tiếp, trừ trường hợp Hiến pháp có quy định khác”
- Hiến pháp khẳng định cơ sở luật định nhằm đảm bảo một số quyền cơ
bản; ví dụ: “Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở được bảo đảm Bất kỳ việc khám xét chỗ ở, nhà hoặc xe cộ chỉ có thể được thực hiện trong những trường hợp và theo cách thức do luật định” (điều 50) hoặc “1 Mọi người có quyền được hưởng điều kiện làm việc an toàn và hợp vệ sinh Các phương pháp thực thi quyền này và các nghĩa vụ của người sử dụng lao động sẽ do luật định 2
25 Dẫn theo: Nguyễn Đăng Dung – Trương Đắc Linh – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn
Văn Trí (2011), Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam (Sách chuyên khảo), Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội, tr 192-195
Trang 22Người lao động có quyền được nghỉ làm việc vào những ngày luật quy định và những ngày nghỉ nguyên lương hàng năm; số giờ làm việc tối đa sẽ do luật định” (điều 66)
- Một trong những nguyên tắc chung về vấn đề này được thể hiện tại
khoản 3, điều 31 là: “Bất kỳ sự hạn chế nào đối với việc thực hiện tự do và các quyền hiến định chỉ có thể được quy định trong luật, và chỉ trong trường hợp cần thiết ở một nhà nước dân chủ vì mục đích bảo vệ an ninh hoặc trật tự công cộng, hoặc để bảo vệ môi trường tự nhiên, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc
tự do và các quyền của những người khác Những hạn chế này không được vi phạm bản chất của tự do và các quyền.”
- Nhằm đảm bảo tự do và các quyền được thực thi lành mạnh, Hiến pháp
khẳng sự hạn chế (nếu có) chỉ có thể do luật định; ví dụ: “Quyền bất khả xâm phạm và an toàn về riêng tư được bảo đảm đối với tất cả mọi người Việc tước đoạt hoặc hạn chế tự do chỉ có thể được áp đặt theo những nguyên tắc và thủ tục do luật định” (khoản 1, điều 41); đồng thời xác định đối tượng quyền hoặc một phần quyền có thể bị hạn chế; ví dụ: “Các quyền quy định tại các khoản 4
và 5 Điều 65, Điều 66, Điều 69, Điều 71 và các điều từ Điều 74 đến Điều 76, có thể bị hạn chế bởi quy định của luật” (điều 81)
- Hiến pháp cũng đặt ra những giới hạn về nội dung đối với chính các đạo
luật về quyền và tự do; ví dụ: “Không có luật nào quy định những hạn chế liên quan đến tội phạm chiến tranh và tội phạm chống lại loài người” (điều 43) hoặc “Việc kiểm duyệt mang tính phòng ngừa đối với các phương tiện thông tin
xã hội và cấp phép hoạt động báo chí bị nghiêm cấm Luật có thể quy định việc cấp phép cho việc vận hành trạm phát thanh hoặc truyền hình” (khoản 2, điều 54) hoặc “Phạm vi của quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn và các tổ chức của người sử dụng lao động chỉ có thể bị hạn chế bởi luật khi phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hòa Ba Lan là thành viên” (khoản 4, điều 59) hoặc
“Quyền sở hữu chỉ có thể bị hạn chế bằng các biện pháp luật định và chỉ ở mức
độ không vi phạm đến quyền này về thực chất” (khoản 3, điều 64)
1.2.12 Hiến pháp Thái Lan năm 2007
Trang 23- Nguyên tắc hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp đối với việc thực thi các quyền và tự do được thể hiện thông qua quyền khởi kiện của cá nhân trước tòa
án nhằm buộc Nhà nước tuân thủ các điều khoản trong Chương III – Các quyền
và tự do của người Thái (điều 28)
- Hiến pháp đã xác định nghĩa vụ “luật hóa” nhiều quyền và nghĩa vụ hiến định như quy định tại điều 41: “Quyền thừa kế được bảo vệ Quyền thừa
kế của cá nhân phải theo các quy định của luật” hay điều 73: “Mỗi người đều
có nghĩa vụ phục vụ trong lực lượng vũ trang, tham gia ngăn chặn hoặc giảm bớt những mối nguy hiểm cho cộng đồng, đóng các loại thuế và lệ phí, trợ giúp dịch vụ công ích, tiếp nhận giáo dục và đào tạo, giữ gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị nghệ thuật, văn hóa quốc gia và tri thức bản địa, bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường theo quy định của luật”
- Hiến pháp đặt ra nguyên tắc chung của việc hạn chế các quyền và tự do
hiến định trong các đạo luật và văn bản dưới luật như sau: “Sự hạn chế các quyền và tự do được công nhận bởi Hiến pháp không thể được áp đặt đối với một cá nhân trừ khi nó được thực hiện bởi các điều khoản của đạo luật được ban hành riêng biệt và để phục vụ mục đích được quy định bởi Hiến pháp này
và chỉ được thực hiện trong phạm vi cần thiết và với điều kiện rằng sự hạn chế
đó không được ảnh hưởng tới những nội dung cơ bản của quyền hay tự do đó Các đạo luật này phải được áp dụng chung và không được nhắm tới áp dụng cho bất cứ trường hợp hay cá nhân cụ thể nào; với điều kiện là điều khoản của Hiến pháp cho phép việc ban hành đó phải được viện dẫn trong đạo luật Quy định trên cũng được áp dụng đối với văn bản dưới luật được ban hành theo các quy định trong luật” (điều 29)
- Cụ thể hơn, Hiến pháp còn xác định điều kiện “luật hóa” những giới
hạn này đối với một số quyền cụ thể như quyền tự do hội họp trong hòa bình và
phi vũ trang “Sự hạn chế của quyền tự do này không được đặt ra trừ khi có đạo luật được ban hành đặc biệt đối với trường hợp hội họp công cộng và đối với việc bảo đảm sự thuận lợi của công chúng trong việc sử dụng các địa điểm công cộng hay để duy trì trật tự công cộng trong thời gian đất nước đang trong
Trang 24tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp hoặc khi luật thời chiến được công bố” (điều 63)
- Bên cạnh đó, đối với một số quyền khác như quyền tự do đưa tin và thể hiện quan điểm của nhà báo, Hiến pháp cũng nêu rõ là việc giới hạn chỉ mang
tính hiến định mà không thuộc phạm vi luật định Điều 46 quy định: “Những nhân viên chính thức hay người làm thuê của các tòa báo, đài phát thanh, đài truyền hình tư nhân hoặc doanh nghiệp truyền thông đại chúng khác được hưởng các quyền tự do đưa tin và thể hiện quan điểm của họ theo những giới hạn hiến định mà không cần sự giao quyền của bất kỳ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hoặc chủ sở hữu các doanh nghiệp này miễn là điều đó không
đi ngược lại đạo đức nghề nghiệp và họ có quyền thành lập các tổ chức bảo vệ quyền, tự do, sự công bằng và hình thành các thiết chế tự quản trong nội bộ cơ quan”
- Đặc biệt, Hiến pháp dành một điều trong phần cuối – “Các điều khoản
chuyển tiếp” để xác định trách nhiệm của Chính phủ mới trong việc tham gia
quá trình “luật hóa” các quyền và tự do hiến định: “Trong vòng 1 năm kể từ ngày Chính phủ mới tuyên bố chính sách trước Quốc hội, Chính phủ có trách nhiệm hoàn tất việc chuẩn bị hoặc sửa đổi các luật quy định chi tiết về vấn đề thúc đẩy và bảo vệ các quyền và tự do trong lĩnh vực thi hành công lý; quyền được bảo đảm phúc lợi và an toàn tại công sở; các quyền tự do ngôn luận và tự
do báo chí; các quyền và tự do trong giáo dục; các quyền được hưởng dịch vụ chăm sóc y tế và phúc lợi từ Nhà nước; các quyền liên quan đến thông tin, khiếu nại và luật về thông tin cá nhân; các quyền của cộng đồng, luật về thành lập tổ chức độc lập nhằm bảo vệ người tiêu dùng” (điều 303)
* Nhìn chung, tuy cách thức hiến định khác nhau song về mặt nội dung,
các Hiến pháp tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận trách nhiệm tuyệt đối của Nhà
nước nói chung, Nghị viện hay Quốc hội nói riêng trong việc “luật hóa” các
quyền và nghĩa vụ hiến định của công dân; đồng thời, tôn trọng những giới hạn hiến định mang tính pháp quyền trong việc xây dựng địa vị pháp lý của công dân cũng như tôn trong quyền con người Thay cho lời kết ở phần này, chúng
Trang 25tôi xin minh họa bằng bảng so sánh nội dung của 12 bản Hiến pháp nêu trên về quyền và tự do cơ bản sau đây:
Tiêu chí
-Quốc gia
Hiệu lực trực tiếp
Trách
nhiệm “luật hóa”
Hạn chế hiến định
Hạn chế luật định
Điều khoản chuyển tiếp
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC
“QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN
DO HIẾN PHÁP VÀ LUẬT QUY ĐỊNH”
2.1.1 Thể chế hóa pháp lý quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực chính trị
*Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của cá nhân (điều 53):
- Luật tổ chức Quốc hội 2001
- Luật tổ chức Chính Phủ 2001
- Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003
- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân 2004 (quy định quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản
Trang 27quy phạm pháp luật của các cá nhân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản)
- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1999
- Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 79/2003/NĐ-CP ban hành ngày 07/7/2003 về quy chế thực hiện dân chủ ở xã (quy định những việc phải được thông báo để dân biết và thực hiện, những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc dân thảo luận, tham gia ý kiến trước khi cơ quan xã quyết định; những việc nhân dân ở
xã giám sát, kiểm tra)
- Pháp lệnh 33/2007/PL-UBTUQH11 ban hành ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
- Nghị định 20/2008/NĐ-CP ban hành ngày 14/2/2008 về tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quyết định hành chính
*Quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (điều 53):
chưa có luật và văn bản hướng dẫn
*Quyền bầu cử, ứng cử (điều 54):
- Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (được sửa đổi năm 2001)
- Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2003
- Luật số 63/2011/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp 2010
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị quyết 1087/2007/NQ-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn một số điểm về việc tổ chức cuộc bẩu cử đại biểu Quốc hội
- Nghị quyết 1092/NQ-UBTVQH11 về số đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu, danh sách các đơn vị bầu cử và số đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- Nghị định 108/2004/NĐ-CP hướng dẫn kê khai tài sản đối với những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
- Nghi định 19/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 2003
Trang 28- Nghị quyết 487/2004/NQ-UBTVQH11 về kê khai tài sản đối với những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
*Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử (điều 7):
- Luật tổ chức Quốc hội (cụ thể là điều 56)
- Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (cụ thể là điều 46)
Bảng thống kê nhóm quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực chính trị26:
1 Quyền tham gia quản
2
Quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân
5 Quyền bãi nhiệm đại
- Bộ luật dân sự 2005 (cụ thể là điều 48, 52-57);
- Bộ luật hình sự năm 1999 (chương XIII- các tội xâm phạm quyền tự
do, dân chủ của công dân)
Trang 29
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 107/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của luật cư trú;
- Nghị định 53/2001/NĐ-CP hướng dẫn thi hành các hình phạt cấm cư trú
và quản chế
*Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí (điều 69):
-Luật báo chí năm 1990 (sửa đổi năm 1999);
- Luật xuất bản năm 2004 (sửa đổi năm 2008)
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 111/2005/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật xuất bản;
- Nghị định 11/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung NĐ 111/2005/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành một số điều của luật xuất bản;
- Nghị định 51/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật báo chí, luật
cử đổi một số điều của luật báo chí
- Nghị định 110/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ 111/2005/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xuất bản đã được sửa đổi, bổ sung bằng NĐ 11/2009/NĐ-CP
*Quyền đƣợc thông tin (điều 69):
Luật báo chí; luật phòng, chống tham nhũng 2005; luật xuất bản; luật kiểm toán; luật thông kê, luật ngân sách nhà nước; luật nhà ở; luật khiếu nại tố cáo, bộ luật tố tụng dân sự; bộ luật tố tụng hình sự; luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật… Và các văn bản dưới luật khác như: Nghị định 120/2006/NĐ-CP về khiếu nại và xử lý hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin, Quyết định 77/2007/QĐ-TTg về quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; Nghị định 100/2010 về công báo Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa
có văn bản luật riêng về quyền tiếp cận thông tin mà luật về tiếp cận thông tin vẫn đang trong quá trình soạn thảo
*Quyền hội họp, lập hội (điều 69):
Trang 30- Nghị định 88/2003/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động và quản lý hội Hiện nay Chính phủ cũng đang tiến hành soạn thảo nghị định để thay thế nghị định 88/2003/NĐ-CP
- Nghị định 45/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội
*Quyền biểu tình (điều 69):
Quốc hội vẫn chưa ban hành luật về biểu tình và cũng không có văn bản dưới luật nào quy định, hướng dẫn quyền biểu tình của công dân
*Quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo (điều 70):
- Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo 2004
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo;
- Nghị định 91/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của ban tôn giáo;
- Nghị định 26/1999/NĐ-CP về các hoạt động tôn giáo
Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân chưa có luật để điều chỉnh mà chỉ mới được điều chỉnh bằng pháp lệnh và các văn bản dưới luật
- nghị định
*Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (điều 71):
- Bộ luật hình sự (chương XII - các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của công dân);
- Bộ luật tố tụng hình sự;
- Bộ luật dân sự 2005 (điều 32, 37)
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 162/2004/NĐ-CP ban hành quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính;
- Nghị định 20/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính ban hành kèm nghị định 162/2004/NĐ-
CP
* Quyền đƣợc suy đoán vô tội (điều 72):
- Bộ luật tố tụng hình sự (điều 10);
Trang 31- Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 và nghị định 16/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật trách nhiệm bồi thường nhà nước
*Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (điều 73):
Ngày 20/5/1957, Quốc hội đã ban hành Luật số 103-SL/L.005 về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân nhưng cho đến nay Quốc hội vẫn chưa ban hành luật riêng về quyền bất khả xâm phạm chỗ ở của công dân để thay thế
*Quyền đƣợc bảo đảm an toàn và bí mật về thƣ tín, điện thoại, điện
tín (điều 73):
- Bộ luật dân sự (điều 38);
- Bộ luật hình sự (điều 125);
- Bộ luật tố tụng hình sự (điều7);
- Luật viễn thông 2009
*Quyền khiếu nại, tố cáo (điều 74):
Quốc hội ban hành: luật khiếu nại, tố cáo 1998 (sửa đổi, bổ sung 2004, 2005); luật đất đai; bộ luật lao động; bộ luật tố tụng hình sự; bộ luật tố tụng dân sự; luật về luật sư, bộ luật hình sự…
Các văn bản dưới luật có liên quan:
-Nghị định 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo;
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại
về đất đai;
- Nghị định 04/2004/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Bộ luật lao động về khiếu nại, tố cáo về lao động
Bảng thống kê nhóm quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực dân sự27:
Trang 32
HIẾN PHÁP LUẬT PHÁP
LỆNH
NGHỊ ĐỊNH
1 Quyền tự do đi lại và
2 Quyền tự do ngôn
8 Quyền được suy đoán
2.1.3 Thể chế hóa pháp lý quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực kinh
tế, văn hóa và xã hội
* Quyền lao động (điều 55):
- Bộ luật lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007)
- Luật dạy nghề 2006
- Bộ luật dân sự 2005 (điều 49)
Trang 33- Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động 2006
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 196/CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động về thỏa ước lao động tập thể
- Nghị định 93/2002/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 196/CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động
về thỏa ước lao động tập thể
- Nghị định 44/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động
- Nghị định 39/2003NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một
số điều của Bộ luật lao động về việc làm
- Nghị định 81/CP quy định chi tiết, hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người tàn tật
- Nghị định 116/2004NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 81/CP quy định chi tiết, hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người tàn tật
- Nghị định 110/2007 NĐ-CP về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước
- Nghị định 113/2007NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật sửa đổi bổ sung của Bộ luật lao động về giải quyết tranh chấp lao động
- Nghị định 12/2008 NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành điều 176 của Bộ luật lao động về hoãn hoặc ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của tập thể lao động
- Nghị định 141/2005/NĐ-CP về quản lý lao động Việt Nam làm việc
ở nước ngoài
- Nghị định 133/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động về giải quyết tranh chấp lao động
Trang 34- Nghị định 83/2008/NĐ-CP điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định
- Nghị định 91/2010/NĐ-CP quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu
- Nghị định 28/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung danh mục doanh nghiệp không được đình công ban hành kèm theo NĐ số 122/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định danh mục doanh nghiệp không được đình công và việc giải quyết yêu cầu của tập thể lao động ở doanh nghiệp không được đình công
*Quyền được nghỉ ngơi và được hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động (điều 56):
- Bộ luật lao động (chương VII - thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi)
- Luật bảo hiểm xã hội
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 190/2007/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của luật bảo hiểm
xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện
- Nghị định 134/2008/NĐ-CP về điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
- Nghị định 95/CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
- Nghị định 109/2002/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của bộ luật lao đông về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
- Nghị định 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của luật bảo hiểm
xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Nghị định 122/2008/NĐ-CP về thực hiện phụ cấp khu vực đối với người hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng
- Nghị định 127/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp
Trang 35*Quyền tự do kinh doanh (điều 57):
-Luật doanh nghiệp 2005
- Luật thương mại 2005
- Luật kinh doanh bất động 2006
- Luật kinh doanh bảo hiểm 2007 (sửa đổi năm 2010)
- Luật đầu tư 2005
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư, xây dựng cơ bản 2009
- Luật chứng khoán 2006 (sửa đổi năm 2010)
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 88/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh
- Nghị định 12/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hợp đồng đại lý mua, bán, gia công
và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài
- Nghị định số 59/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện
- Nghị định 10/2010/NĐ-CP về hoạt động tín dụng
- Nghị định 68/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 7 điều 4 nghị định 37/2006/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
- Nghị định 43/2009/NĐ-CP ban hành sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh của nghị định 59/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện
Trang 36- Nghị định 06/2008/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại
- Nghị định 158/2006/NĐ-CP quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
- Nghị định 37/2006/NĐ-CP quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
- Nghị định 35/2006/NĐ-CP quy định về nhượng quyền thương mại
- Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của luật doanh nghiệp
- Nghị định 78/2006/NĐ-CP về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Nghị định 10/2011/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ 141/2006/NĐ-CP về ban hành danh mục mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng
- Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm
- Nghị định 102/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp
- Nghị định 84/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ 14/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật chứng khoán
- Nghị định 24/2011 sửa đổi một số điều của NĐ số 108/2009/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao; hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh; hợp đồng xây dựng – chuyển giao
…
*Quyền sở hữu tài sản (điều 58):
- Bộ luật dân sự 2005 (phần II - tài sản và quyền sở hữu)
- Bộ luật hình sự (chương XIV - các tội xâm phạm sở hữu) để hướng dẫn quyền sở hữu tài sản của công dân
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 95/2005/NĐ-CP về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng
- Nghị định 63/CP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp
Trang 37- Nghị định 06/2001/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 63/CP của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp
*Quyền học tập (điều 59):
- Luật giáo dục 2005 (sửa đổi năm 2009)
- Luật dạy nghề 2006
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 116/2004/NĐ-CP quy định trách nhiệm quản lý của nhà nước về giáo dục
- Nghị định 165/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật giáo dục về quản lý hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục
- Nghị định 139/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật giáo dục và bộ luật lao động về dạy nghề
- Nghị định 49/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
- Nghị định 75/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật giáo dục
- Nghị định 115/2010/NĐ-CP quy định trách nhiệm của nhà nước về giáo dục
*Quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng chế cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản suất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác; quyền tác giả và sở hữu công nghiệp (điều 60):
-Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
- Luật khoa học và công nghệ 2000;
- Bộ luật dân sự năm 2005 (điều 51)
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 106/2006/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp;
- Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
Trang 38- Nghị định 47/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan
- NĐ 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước
về sở hữu trí tuệ
- Nghị định 122/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điề của NĐ 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
- Nghị định 119/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung NĐ 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
- NĐ 80/2010/NĐ-CP quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
- NĐ 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung NĐ 115/2005 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và NĐ 80/2007
về doanh nghiệp và khoa học công nghệ
- NĐ 88/2010/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng
*Quyền đƣợc bảo vệ sức khỏe (điều 61):
- Luật bảo hiểm y tế 2008
- Luật dược 2005
- Bộ luât dân sự (điều 32)
- Bộ luật hình sự (chương XII)
- Bộ luật lao động (chương VII, IX)
- Luật bảo vệ môi trường 2005
- Luật phòng chống ma túy 2000
- Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009
- Luật an toàn thực phẩm 2010
- Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm 2007
Các văn bản dưới luật có liên quan:
Trang 39- Nghị định 34/2002/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục và chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma túy đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Nghị định 135/2004/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh
- Nghị định 45/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế
- Nghị định 06/2005/NĐ-CP ban hành điều lệ bảo hiểm y tế
- Nghị định 79/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật dược
- Nghị định 62/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo hiểm y tế
- Nghị định 103/2010 quy định chi tiết thi hành 1 số điều của Luật phòng, chóng bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới
- NĐ 101/2010 quy định chi tiết thi hành 1 số điều của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm về áp dụng biện pháp cách ly y tế, cưỡng chế cách ly
y tế và chống dịch đặc thù trong thời gian có dịch
- NĐ 92/2010 quy định chi tiết thi hành Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm
*Quyền xây dựng nhà ở (điều 62):
- Luật nhà ở 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
- Luật xây dựng 2003
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 71/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật nhà ở
- Nghị định 88/2009/NĐ-CP về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
*Quyền bình đẳng nam nữ (điều 63):
- Nghị định 70/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bình đẳng giới
Trang 40- Nghị định 48/2009/NĐ-CP quy định về các biện pháp bình đẳng giới
- Nghị định 55/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi pham hành chính về bình đẳng giới
*Quyền được bảo hộ về hôn nhân và gia đình (điều 64):
- Luật hôn nhân và gia đình 2000
- Bộ luật dân sự 2005 (điều 39,40,41,42,43,44)
- Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007
- Bộ luật hình sự năm 1999 (chương XV- các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình)
Các văn bản dưới luật có liên quan:
- Nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật hôn nhân và gia đình
- Nghị định 77/2001/NĐ-CP quy định chi tiết về đăng kí kết hôn theo nghị định 35/2000/QH10 về thi hành luật hôn nhân và gia đình
- Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết luật hôn nhân và gia đình
về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
- Nghị định 69/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
- Nghị định 110/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình
- Nghị định 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
- Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng kí và quản lý hộ tịch
- Nghị định 32/2002/NĐ-CP quy định về áp dụng luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số
- Nghị định 12/2003/NĐ-CP về sinh con theo phương pháp khoa học
- Nghị định 08/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của luật phòng chống bạo lực gia đình
*Quyền của trẻ em, người già, thanh niên (điều 65, 66, 67):
+ Cụ thể hóa quyền của trẻ em, Quốc hội ban hành: