Phân tích báo cáo tài chính giúp xác định được giá trị kinh tế, đánh giá được các mặt mạnh yếu, tìm ra được nguyên nhân khách quan và chủquan cùng các nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ ả
Trang 1HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: ĐỖ THÙY TRANG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS PHẠM LONG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, chưađược công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dungđược trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và có nguồn gốc rõ ràng.Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Tác giả
Đỗ Thùy Trang
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU v
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 3
1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp 3
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp 3
1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 3
1.1.3 Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp 4
1.1.4 Nội dung tài chính doanh nghiệp 7
1.1.5 Tổ chức tài chính doanh nghiệp 8
1.2 Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 9
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 9
1.2.2 Quy trình phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 11
1.2.3 Thông tin phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 13
1.2.4 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 15
1.2.5 Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 21
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phân tích báo cáo tài chính 42
1.3.1 Nhân tố chủ quan 42
1.3.2 Nhân tố khách quan 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG BỈM SƠN 44
2.1 Khái quát chung về Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn 45
2.1.1 Giới thiệu về công ty 45
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 45
2.1.3 Tổ chức bộ máy tài chính Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn 46
2.1.4 Ngành nghề và địa bàn kinh doanh 47
Trang 52.2 Thực trạng phân tích báo cáo tài chính Công ty cổ phần Xi măng Bỉm
Sơn 49
2.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính công ty 49
2.2.2 Phân tích cấu trúc tài chính 52
2.2.3 Phân tích khả năng thanh toán 60
2.2.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh 62
2.3 Đánh giá thực trạng phân tích báo cáo tài chính của Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn 68
2.3.1 Kết quả đạt được 68
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG BỈM SƠN 72
3.1 Định hướng hoạt động kinh doanh tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn 72
3.2 Giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn 73
3.2.1 Hoàn thiện quy trình và tổ chức phân tích báo cáo tài chính 74
3.2.2 Hoàn thiện phương pháp phân tích báo cáo tài chính 75
3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích báo cáo tài chính 80
3.2.4 Một số giải pháp khác 90
3.3 Kiến nghị với nhà nước 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
DANH MỤC PHỤ LỤC 96
Trang 7Bảng 1.1 Bảng đánh giá khái quát tình hình huy động vốn 23
Bảng 1.2 Bảng phân tích cơ cấu và sự biến động tài sản 26
Bảng 2.1: Cơ cấu vốn của tổ chức phát hành sau đợt chào bán 46
Bảng 2.2: Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn của Công ty 50
Bảng 2.3: Bảng chi tiêu tài chính dựa trên số liệu Bảng CĐKT 51
Bảng 2.4: Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn năm 2015 53
Bảng 2.5 Chỉ tiêu phân tích cơ cấu vốn năm 2015 53
Bảng 2.6 Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn năm 2016 54
Bảng 2.7 Chỉ tiêu phân tích cơ cấu vốn năm 2016 55
Bảng 2.8: Bảng phân tích cơ cấu tài sản năm 2015 56
Bảng 2.9 Bảng phân tích cơ cấu tài sản năm 2016 58
Bảng 2.10 Bảng phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn 59
Bảng 2.11 Bảng phân tích tình hình cân đối giữa TS ngắn hạn và nợ ngắn hạn 60
Bảng 2.12 Bảng phân tích tình hình biến động kinh doanh 63
Bảng 2.13 Bảng phân tích khái quát hiệu quả kinh doanh 65
Bảng 2.14 Bảng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của tài sản 67
Bảng 3.1 Các hệ số cấu thành ROA trong phân tích Dupont giai đoạn 2014-2016 78
Bảng 3.2 Các hệ số cấu thành ROE trong phân tích Dupont giai đoạn 2014-2016 .79 Bảng 3.3 Bảng phân tích tình hình luân chuyển vốn năm 2016 81
Bảng 3.4 Bảng phân tích tình hình đảm bảo vốn theo tính ổn định của nguồn tài trợ năm 2016 82
Bảng 3.5 Phân tích khả năng thanh toán gốc và vay nợ dài hạn 83
Bảng 3.6 Bảng hệ số khả năng thanh toán lãi vay 84
Bảng 3.7 Bảng phân tích khả năng tạo tiền 85
Bảng 3.8 Bảng phân tích chu kỳ vận động của vốn 86
Bảng 3.9 Bảng phân tích hiệu quả sử dụng vốn 88
Bảng 3.10 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí 90
Danh mục sơ đồ Sơ đồ 1.1 Mô hình phương pháp Dupont 19
Trang 8Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế và hội nhập quốc
tế, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực tài chính là rất cần thiết đối với cácdoanh nghiệp Việt Nam Vì vậy, việc nâng cao năng lực tài chính và hiệu quả kinhdoanh của công ty đã trở thành mục tiêu xuyên suốt của doanh nghiệp Phân tíchbáo cáo tài chính là một công cụ quan trọng, có ý nghĩa đối với doanh nghiệp cũngnhư các đối tượng có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp Phân tích báo cáotài chính giúp xác định được giá trị kinh tế, đánh giá được các mặt mạnh yếu, tìm rađược nguyên nhân khách quan và chủ quan cùng các nhân tố ảnh hưởng cũng nhưmức độ ảnh hưởng đến các hoạt động của công ty từ đó giúp cho nhà quản lý đưa
ra được quyết định đúng đắn, hợp lý Trong bối cảnh đó tác giả đã lựa chọn đề tài
“Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần xi măng Bỉm
Sơn” là cần thiết có ý nghĩa về thực tiễn.
Dựa trên cơ sở khái quát lý thuyết về tài chính doanh nghiệp và nghiên cứuthực trạng phân tích báo cáo tài chính tại công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn, hướngđến mục tiêu hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại công ty và đề xuất các giảipháp hoàn thiện
Đầu tiên, tác giả trình bày khái quát về tài chính doanh nghiệp như khái niệm,chức năng, vai trò và nội dung của tài chính doanh nghiệp Trên cơ sở đó luận giảikhái niệm, mục tiêu và quy trình của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Đây
là nội dung cơ bản giúp tác giả tiếp cận và giải quyết mục tiêu nghiên cứu Bêncạnh đó tác giả cũng chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp
Trên cơ sở giới thiệu khái quát về quá trình hình thành và phát triển của công
ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn, tác giả đã đưa ra thực trạng phân tích báo cáo tàichính của Công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn giai đoạn 2014-2016 Dựa trên thựctrạng phân tích báo cáo tài chính tại công ty CP xi măng Bỉm Sơn, tác giả đưa ramột số giải pháp hoàn thiện, cũng như bổ sung thêm phương pháp phân tích vàphân tích các chỉ tiêu quan trọng mà công ty không đề cập tới, như phương phápphân tích Dupont,
Trang 9tham khảo để hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại doanh nghiệp.Tuy nhiên, do hạn chế trong quá trình thực hiện nên kết quả nghiên cứu đạtđược mới chỉ là bước đầu, tác giả mong nhận được các ý kiến đóng góp của cácthầy cô để luận văn hoàn thiện hơn nữa.
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn là Công ty lớn được niêm yết cổ phiếutrên sàn chứng khoán nên các thông tin về hoạt động tài chính, hiệu quả sản xuất
kinh doanh của Công ty luôn được quan tâm Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nền kinh tế và hội nhập quốc tế, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, nănglực tài chính là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam Vì vậy, việc nângcao năng lực tài chính và hiệu quả kinh doanh của công ty đã trở thành mục tiêuxuyên suốt của doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính là một công cụ quantrọng, có ý nghĩa đối với doanh nghiệp cũng như các đối tượng có liên quan đến tàichính của doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính giúp xác định được giá trị kinh
tế, đánh giá được các mặt mạnh yếu, tìm ra được nguyên nhân khách quan và chủquan cùng các nhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng đến các hoạt độngcủa công ty từ đó giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định đúng đắn, hợp lý.Việc phân tích tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính có vai tròquan trọng như vậy tuy nhiên công tác phân tích báo cáo tài chính tại công ty CP ximăng Bỉm Sơn trong những năm qua chưa thật sự được chú trọng và quan tâm đúngmực mới chủ yếu dừng lại ở những phân tích đơn giản do đó nó chưa phát huy đầy
đủ tác dụng, chưa thực sự trở thành công cụ đắc lực giúp cho các nhà quản trị doanhnghiệp trong việc điều hành hoạt động kinh doanh
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện phân tích báo
cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn” cho luận văn tốt nghiệp
của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu: Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tàichính doanh nghiệp, phân tích thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính tạiCông ty CP Xi măng Bỉm Sơn trong giai đoạn 2014-2016, phân tích tình hình tàichính doanh nghiệp, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện phân tích BCTC tại công
ty CP Xi măng Bỉm Sơn
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác phân tích BCTC trong nội bộ doanh nghiệp.Phạm vi nghiên cứu: Báo cáo tài chính Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn tronggiai đoạn 2014-2016
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận: thu thập dữ liệu, kết hợp với phươngpháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp thống kê so sánh
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận vănđược chia thành 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính của công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt độngkinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân
Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện bởi các doanh nghiệp chứ khôngphải các cá nhân
Tại Việt Nam, theo luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế cótên riêng, có tài sản có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh, tức là thựchiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêuthụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (LưuThị Hương 2002, tr 15)
Các doanh nghiệp tại Việt Nam gồm: Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, công ty liên doanh, doanhnghiệp tư nhân
1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính là một khái niệm nảy sinh từ hoạt động kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường Đối với doanh nghiệp, để tồn tại và tiến hành hoạt động kinh doanh, cần thiết và tất yếu có các quan hệ dưới hình thức giá trị phát sinh gắn liền với sự hình thành, chuyển hóa của vốn và thu nhập một cách thường xuyên, liên tục Vì vậy, doanh nghiệp có rất nhiều mối quan hệ kinh tế với các chủ thể khác nhau và các mối quan hệ này có điểm chung là liên quan đến tài sản, biểu hiện bằng chỉ tiêu giá trị và cần thiết cho sự tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp Những mối quan hệ đó được gọi là quan hệ tài chính của doanh nghiệp (Đinh Văn Sơn 1999, tr 13)
Trang 13Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối dưới hình thức giá trị của cải vật chất thông qua tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ kinh doanh và các yêu cầu chung khác của xã hội.
Cụ thể hơn, TS Nguyễn Minh Kiều định nghĩa: “Tài chính nói chung là các hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra.” (Nguyễn Minh Kiều 2009, tr 20)
1.1.3 Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.3.1 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
- Chức năng phân phối:
Trong tài chính doanh nghiệp, chức năng phân phối được thể hiện ở: Huyđộng hay tạo nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó vào các hoạt động của doanhnghiệp Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần có vốn (Từ cácnguồn khác nhau như cổ đông góp vốn, vay của các tổ chức ) Tài chính doanhnghiệp có chức năng tổ chức và tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp hoạt động Doanhnghiệp cần dự báo chính xác nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn phù hợp về điều kiện
và chi phí; xem xét và quyết định phương thức, hạn mức huy động vốn có lợi íchnhất với doanh nghiệp
Từ nguồn vốn này, doanh nghiệp tiếp tục phân phối dưới nhiều hình thức nhưđầu tư, chi tiêu nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả nhất Sau cùng, doanh nghiệp bánsản phẩm, dịch vụ, vốn của doanh nghiệp được chuyển thành tiền và doanh nghiệptiếp tục phân phối lượng tiền này cho các đối tượng khác nhau để quá trình kinhdoanh nối tiếp liên tục và phát triển
Thực hiện tốt chức năng phân phối có ý nghĩa lớn với doanh nghiệp, là cơ sởđảm bảo doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, đảm bảo hài hòagiữa lợi ích các bên và gia tăng giá trị doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triểnlâu dài
Trang 14Chức năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp thể hiện khả năng giám sáttính hiệu quả của quá trình phân phối Chức năng này cần phải thực hiện một cáchtoàn diện, thường xuyên và liên tục mới đảm bảo được doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả
Chức năng phân phối và chức năng giám đốc có mối quan hệ mật thiết bổsung cho nhau Phân phối là cơ sở để giám đốc vì phân phối tạo ra nhu cầu và khảnăng kiểm tra, giám sát đối với toàn bộ quá trình phân phối Vì thế hai chức năngnày cần thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, đồng thời (Trần Thị Hòa 2014,
tr 31)
1.1.3.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
- Khai thác, thu hút các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các nhu cầu
về vốn cho đầu tư kinh doanh: Tài chính doanh nghiệp có vai trò tìm kiếm, khai
thác và thu hút các nguồn lực tài chính trong xã hội thông qua nhiều kênh như pháthành trái phiếu, thuê tài chính Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn chính xác
và huy động đầy đủ, kịp thời với chi phí và rủi ro thấp thì sẽ đảm bảo hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi và hiệu quả Ngược lại nếu không đáp ứngđược yêu cầu này thì dẫn đến bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, không hoàn thành các kếhoạch sản xuất và khiến kết quả kinh doanh thấp, không đạt được chỉ tiêu đề ra
Vì vậy tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đầy đủ vàkịp thời nguồn vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả nhất
- Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả: Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò
quan trọng trong việc sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Tài chính doanh nghiệpgiúp nguồn vốn không nhàn rỗi, không để vốn bị chiếm dụng vô ích Đánh giá, lựachọn dự án đầu tư và bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng các biện pháp tăng quay
Trang 15vòng vốn, tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối đa hóa lợi nhuận là nhiệm vụ quantrọng của tài chính doanh nghiệp để việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả và tiếtkiệm.
- Kích thích, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh: Dựa trên các mối
quan hệ với bên liên quan ngoài doanh nghiệp và các mối quan hệ nội bộ, doanhnghiệp có thể gia tăng sản lượng, thu nhập và lợi nhuận nhờ vận dụng hiệu quả cáccông cụ tài chính như đầu tư, xác định lãi suất, cổ tức, chiết khấu, Từ đó gia tăngsức mua của thị trường, thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh tiêu thị sản phẩm và tạo ra lợinhuận cho doanh nghiệp Dựa vào vận dụng linh hoạt các công cụ tài chính để kýkết các hợp đồng kinh tế, huy động đầu tư vốn, tăng năng suất và sản lượng, doanhthu cuối cùng tăng kết quả kinh doanh và lợi nhuận Như vậy, tài chính doanhnghiệp được sử dụng như một công cụ để kích thích, thúc đẩy hoạt động sản xuấtkinh doanh
- Kiểm tra, kiểm soát và phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp: Tình
hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện bằng các chỉ tiêu như hệ số thanh toán,hiệu quả sử dụng vốn nhà quản lý đánh giá được tình hình hiện tại của doanhnghiệp và phương hướng để mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Việc thực hiện cácquyết định được biểu hiện bằng các chỉ tiêu tài chính và qua đó thấy được ưu điểmnhược điểm để từ đó khắc phục, điều chỉnh kịp thời Như vậy tài chính doanhnghiệp là một công cụ quan trọng giúp kiểm tra, giám sát, phân tích, đánh giá tìnhhình hoạt động của doanh nghiệp
Các vai trò trên của tài chính doanh nghiệp nếu được phát huy tốt sẽ giúpdoanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh, vì thế những nhà quản lý cần tích cựcnghiên cứu, vận dụng các cơ hội dựa trên quy định pháp luật đồng thời chú ý đếncác nguồn lực trong và ngoài doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp ngày càng pháttriển
Trang 161.1.4 Nội dung tài chính doanh nghiệp
- Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh:
Việc xây dựng và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong doanh nghiệpcùng hợp tác thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu là phải xem xét, cânnhắc giữa chi phí bỏ ra, những rủi ro có thể gặp phải và khả năng thu lợi nhuận khithực hiện dự án Khi phân tích đánh giá nhằm lựa chọn các dự án tối ưu, các dự án
có mức sinh lời cao các nhà tài chính cần xem xét việc sử dụng vốn đầu tư diễn ranhư thế nào
Đánh giá (trên góc độ tài chính) > Xem xét nhu cầu vốn đầu tư/ Lợi ích/ Rủi
ro > Quyết định đầu tư hay loại bỏ
- Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ
cho các hoạt động của doanh nghiệp: Các hoạt động của doanh nghiệp đều cần có
vốn, doanh nghiệp cần xác định được nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn để đảmbảo kịp thời cho các hoạt động của doanh nghiệp, tránh xảy ra thiệt hại về sản xuấtkinh doanh do thiếu vốn
- Tổ chức sử dụng hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ thi chi vốn
bằng tiền, thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Tài
chính doanh nghiệp cần tìm ra các biện pháp để huy động được tối đa số vốn hiện
có vào hoạt động kinh doanh, không để vốn nhàn rỗi, ứ đọng Theo dõi chặt chẽ cáckhoản chi tiêu phát sinh, tìm cách lập cân bằng thu chi để đảm bảo khả năng thanhtoán cho doanh nghiệp
- Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp: Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp, có lợi nhuận
doanh nghiệp mới có thể tồn tại phát triển được Vì thế, doanh nghiệp cần phân phốihợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử dụng các quỹ tốt
- Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp: Phân
tích tài chính đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu về tình hình tài chính và hoạtđộng kinh doanh, từ đó giúp cho nhà quản lý đánh giá tổng quát được tình hình hoạtđộng, điểm mạnh, điểm yếu, khả năng thanh toán từ đó đưa ra được quyết địnhđúng đắn và xây dựng được kế hoạch kinh doanh hiệu quả
Trang 171.1.5 Tổ chức tài chính doanh nghiệp
- Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp: Nước ta hiện có các loại hìnhdoanh nghiệp chủ yếu sau:
+ Doanh nghiệp nhà nước;
+ Hợp tác xã;
+ Công ty cổ phần;
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn từ 02 thành viên trở lên;
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
+ Doanh nghiệp tư nhân;
+ Công ty hợp doanh;
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Những đặc điểm riêng về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp sẽ tạo ra sựkhác nhau giữa các tổ chức tài chính của doanh nghiệp, có thể kể đến sự khác biệtnhư: Cách thức tạo lập và huy động vốn, quyền chuyển nhượng hay rút vốn khỏidoanh nghiệp, trách nhiệm của chủ sở hữu đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tàichính khác của doanh nghiệp, phân chia lợi nhuận sau thuế
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh: Mỗi ngành kinh doanh cóđặc điểm riêng về kinh tế kỹ thuật, những đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến tàichính và quản trị tài chính của doanh nghiệp:
+ Tính chất ngành kinh doanh khác nhau doanh nghiệp sẽ có cơ cấu vốn kinhdoanh cũng như quy mô vốn sản xuất kinh doanh khác nhau
+ Tính chất thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng đến nhu cầuvốn lưu động và sự cân đối thu chi tiền tệ giữa các thời kỳ trong năm
+ Môi trường kinh doanh có tác động đến hoạt động tài chính của doanhnghiệp: Môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường kỹ thuật công nghệ,môi trường thông tin, môi trường hợp tác hội nhập kinh tế
Trang 181.2 Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 1.2.1.1 Khái niệm phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Báo cáo tài chính là sản phẩm quan trọng nhất trong quy trình kế toán, đó là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Nói cách khác,
báo cáo tài chính là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các
chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn tại một thời điểm, tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu báo cáo đã quy định Báo cáo kế toán tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những người quan tâm như chủ doanh nghiệp, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng, nhà đầu tư, người cho vay… Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về mặt tài chính trong tương lai của doanh nghiệp.
Phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin hữu ích không chỉ cho quản trị doanh nghiệp mà còn cung cấp thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho các đối tượng sử dụng thông tin ngoài doanh nghiệp Bởi vậy, phân tích báo cáo tài chính không phải chỉ phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, mà còn cung cấp những thông tinh về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã đạt được trong một khoảng thời gian (Nguyễn
Năng Phúc 2014, tr 52)
Trang 191.2.1.2 Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Mục đích cơ bản của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm cung cấp nhữngthông tin cần thiết, giúp đối tượng sử dụng thông tin đánh giá khách quan về sứcmạnh tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tàichính nhằm vào việc ra quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ramột cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tương lai Trên thực tế, tất cả các công việc raquyết định, phân tích tài chính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vàotương lai
Bởi vậy, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều đối tượng sửdụng thông tin khác nhau như: Hội đồng quản trị, ban giám đốc, các nhà đầu tư, cácnhà cho vay, các nhà cung cấp, các chủ nợ, các cổ đông hiện tại và tương lai, cáckhách hàng, các nhà quản lý cấp trên, các nhà bảo hiểm, những người lao động, mỗi một đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp có những nhu cầu về cácloại thông tin khác nhau Bởi vậy, mỗi một đối tượng sử dụng thông tin có xuhướng tập trung vào những khía cạnh riêng của “bức tranh tài chính” doanh nghiệp.(Nguyễn Năng Phúc 2014, tr 54)
Đối với nhà quản trị DN mục tiêu phân tích là kinh doanh có lãi và thanh toánđược nợ
Đối với nhà cho vay, mục tiêu phân tích BCTC là xác định khả năng hoàn trả
nợ của DN và kết quả kinh doanh của DN
Đối với các nhà đầu tư và cổ đông tương lai, mục tiêu phân tích là những tiềmnăng hoạt động của DN và mức lợi nhuận sẽ thu được
Đối với nhà cung cấp, họ cần những thông tin để quyết định trong thời gian tới
có cho phép DN mua chịu hàng hóa, vật tư, thiết bị, dịch vụ hay thanh toán chậmhay không Vì vậy, mục tiêu phân tích của họ là khả năng thanh toán hiện tại vàtrong thời gian tới của DN
Đối với cơ quan quản lý cấp trên (cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quanthống kê, cơ quan chủ quản,…) cần thông tin để đánh giá thực trạng tài chính và kếtquả kinh doanh của DN
Trang 20Đối với những người hưởng lương trong DN, họ cần những thông tin về tìnhhình ổn định và phát triển của DN, về thu nhập, giúp họ định hướng việc làm ổnđịnh, hoạt động tích cực tăng năng xuất lao động, góp phần phát triển sản xuất kinhdoanh của DN.
1.2.2 Quy trình phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Quy trình phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp là việc thiết lậptrình tự các bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích báo cáo tàichính Để phân tích báo cáo tài chính thực sự phát huy tác dụng trong quá trình raquyết định, việc phân tích phải được tổ chức một cách khoa học, hợp lý, phù hợpđặc điểm kinh doanh, cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý kinh tế tài chính của doanhnghiệp và phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng, mỗi đối tượng quantâm đến những mục đích khác nhau nên việc phân tích đối với mỗi đối tượng sẽ cónhững nét riêng Song, nhìn chung phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệpthường được tiến hành qua các giai đoạn sau:
Việc xác định mục tiêu phân tích hệ thống BCTC DN là hoàn toàn phụ thuộcvào mục đích cụ thể của từng đối tượng sử dụng thông tin
Bước 1: Xác định mục tiêu phân tích Đây là công việc quan trọng, quyết định
tới chất lượng của báo cáo phân tích và tác động tới mức độ hài lòng của các đốitượng sử dụng Việc xác định mục tiêu phân tích phụ thuộc vào mục đích ra quyếtđịnh của đối tượng sử dụng báo cáo tài chính
Bước 2: Sau đó, nhà phân tích sẽ xác định các nội dung cần phân tích để đạt
được các mục tiêu đó Nếu mục tiêu phân tích là đánh giá hiệu quả quản lí và sửdụng vốn lưu động thì cần phân tích tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn nói chung,tốc độ luân chuyển từng hạng mục tài sản ngắn hạn quan trọng (hàng tồn kho, nợphải thu khách hàng), vốn hoạt động thuần và độ dài của chu kì hoạt động của DN.Việc xác định đúng nội dung cần phân tích (không thừa, không thiếu) sẽ đảm bảocung cấp những thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng để ra các quyết địnhhợp lí Kế hoạch, nội dung phần tích cần nêu rõ những vấn đề sau:
Xác định rõ mục tiêu phân tích
Xác định nội dung phân tích
Trang 21Xác định phạm vi phân tích.
Thời gian phân tích
Lựa chọn hệ thống phương pháp phân tích thích hợp
Lựa chọn cách kết hợp với các loại hình phân tích phù hợp với nội dung vàmục tiêu phân tích đã đề ra
Tổ chức lực lượng cán bộ và phương tiện thực hiện mục tiêu phân tích đãđược trình bày trong chương trình phân tích
Trong chương trình phân tích cần phân công rõ trách nhiệm của từng người,từng bộ phận tham gia trực tiếp, phục vụ, cùng các điều kiện hiện có
Tiến độ phân tích
Tổ chức các hình thức hội nghị phân tích
Hoàn thành các công việc phân tích
Bước 3: Căn cứ từ nội dung cần phân tích, nhà phân tích sẽ tiến hành thu thập
dữ liệu phân tích Các dữ liệu phân tích có thể ở bên trong hoặc bên ngoài doanhnghiệp, có thể thu thập được một cách dễ dàng hoặc khó khăn
Không ai có thể chắc chắn rằng nhà phân tích luôn thu thập được đầy đủ các
dữ liệu cần thiết sẽ dẫn tới hạn chế của kết quả phân tích
Việc không thu thập được đầy đủ các dữ liệu cần thiết sẽ dẫn tới hạn chế củakết quả phân tích Bên cạnh đó, để đảm bảo cho tính hữu ích của dữ liệu thu thậpđược, nhà phân tích cần kiểm tra tính tin cậy của dữ liệu Nhà phân tích nên tiếp cậncác dữ liệu có nguồn hợp pháp để nâng cao mức độ tin cậy của dữ liệu
Bước 4: Sau khi thu thập dữ liệu, các nhà phân tích sẽ sử dụng các phương
pháp hợp lí để xử lí dữ liệu theo các nội dung phân tích đã xác định Dữ liệu sau khiđược xử lí sẽ là nguồn thông tin hữu ích để nhà phân tích nhận định tổng quát cũngnhư chi tiết thực trạng vấn đề phân tích, lí giải nguyên nhân cho thực trạng đó và đềxuất kiến nghị cho các đối tượng sử dụng
Bước 5: Tổng hợp các kết quả phân tích: Kết thúc quá trình phân tích báo cáo tài
chính Trong bước này, nhà phân tích viết báo cáo về kết quả phân tích gửi các đốitượng sử dụng Các hạn chế cuả kết quả phân tích cũng cần được công bố trong báocáo (Phạm Thị Thùy, Nguyễn Thị Lan Anh 2013, tr 19)
Trang 221.2.3 Thông tin phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Theo chế độ kế toán hiện hành, hệ thống BCTC áp dụng cho tất cả các doanh
nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước Việt Nam baogồm 04 mẫu biểu báo cáo sau đây:
+ Bảng cân đối kế toán (CĐKT)
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (KQHĐKD)
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT)
+ Bản thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC)
Đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa áp dụng hệ thống BCTC ban hành kèm theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ tài chính.
Về cơ bản hệ thống báo cáo này cũng tương tự như hệ thống báo cáo theo Thông tư
số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp của
Bộ tài chính, tuy nhiên số lượng báo cáo và nội dung cũng có những.khác biệt nhất
định
Nhìn chung, nội dung và hình thức thể hiện BCTC bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán: là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập BCTC Căn cứ bảng CĐKT người đọc có thể nhận xét, đánh giá chung tình hình tài chính, năng lực kinh doanh
cũng như khả năng tự chủ về tài chính, khả năng sử dụng vốn, khả năng thanh toán
các khoản nợ của doanh nghiệp Phần nguồn vốn cho phép người sử dụng bảng cân
đối kế toán thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh
doanh với Nhà nước, về số tài sản đã hình thành bằng vốn vay ngân hàng và vốn
vay đối tượng khác cũng như trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ với ngườilao động, với người cho vay, với nhà cung cấp, với cổ đông, với ngân sách Nhànước…
Trang 23Bảng cân đối kế toán được chia thành: Tài sản” và “Nguồn vốn” Phần “Tài sản” (Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn) cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo đang tồn tại dưới dạng các hình thái và trong
tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh Từ đó có thể đánh giá một
cách tổng quát quy mô tài sản năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Phần “Nguồn vốn” (Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu) phản ánh nguồn hình
thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến cuối kỳ hạch toán Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp xếp theo từng nguồn hình thành tài sản của đơn vị (vốn chủ sở
hữu - nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn đầu
tư…) Ngoài các chỉ tiêu phản ánh trong bảng cân đối kế toán, còn có các chỉ tiêu ngoài Bảng cân đối kế toán như: vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, tài sản thuê ngoài, nhận ký gửi, ngoại tệ các loại, nợ khó đòi đã
xử lý, hạn mức kinh phí còn lại
-Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là BCTC kế toán tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp, cụ thể theo hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác.
Người đọc báo cáo có thể tìm thấy các thông tin về doanh thu, chi phí, lợi nhuận
phát sinh từ hoạt động kinh doanh thường xuyên hay cả những thu nhập, chi phí, lợi nhuận phát sinh từ những hoạt động kinh doanh ngoài của doanh nghiệp trong một
kỳ kinh doanh cụ thể Dựa trên phân tích các số liệu trên báo cáo kết quả kinh
doanh, so sánh với những kỳ trước đó và doanh nghiệp cùng ngành, những nhà
quản trị doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin sẽ đánh giá được những thay đổi tiềm tàng về những nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp có thể kiểm soát
trong tương lai, đồng thời đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, hoặc đánhgiá tính hiệu quả của các nguồn lực khác
Trang 24-Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Cung cấp thông tin về biến động tài chính trong doanh nghiệp, hỗ trợ phân tích các hoạt động đầu tư, tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua việc đánh giá khả năng tạo ra nguồn tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai, cũng như việc sử dụng các nguồn tiền này cho các hoạt
động kinh doanh, đầu tư tài chính của doanh nghiệp
-Thuyết minh báo cáo tài chính: Cung cấp những thông tin chi tiết, rõ ràng hơn về tình hình sản xuất kinh doanh, về tình hình tài chính của doanh nghiệp, cụ thể bằng việc phân tích một số chỉ tiêu, phản ánh tình hình tài chính mà các BCTC khác chưa thể hiển đẩy đủ, chi tiết hết.
Như vậy, hệ thống báo cáo tài chính đã cung cấp toàn bộ, đầy đủ thông tin, số
liệu kế toán cần thiết, hỗ trợ việc phân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp
Đồng thời phản ánh khả năng sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, nguồn vốn của doanh nghiệp trong tương lai.
Từ cơ sở trên, nhà quản trị doanh nghiệp có thể có căn cứ để đưa ra những quyết định kinh doanh để việc sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả cao nhất Đồng thời cũng giúp việc kiểm tra, đối soát được minh bạch rõ ràng, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả cao, đi đúng hướng, đúng pháp luật.
1.2.4 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.4.1 Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ
biến động của chỉ tiêu phân tích Thực hiện phân tích theo phương pháp so sánh cóthể thực hiện bằng hình thức: so sánh theo chiều ngang, so sánh theo chiều dọc, sosánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu
Để tiến hành so sánh và phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp,trước hết cần phải xác định kỳ gốc hay còn gọi là tiêu chuẩn so sánh, có thể là sốliệu của kỳ trước, năm trước hay kỳ kế hoạch nhằm đánh giá xu hướng phát triểncủa các chỉ tiêu trung bình ngành… Các chỉ tiêu của kỳ được chọn để so sánh với
kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu thực hiện và là kết quả kinh doanh đã đạt được Trên
Trang 25thực tế chúng ta cần quan tâm đến các chỉ tiêu cả về mặt thời gian, không gian vàđiều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế.
So sánh ngang là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối
và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên từng báo cáo tài chính, so sánh tình trạng tàichính và kết quả hoạt động của một công ty giữa các kỳ Thực chất của việc phântích này là phân tích sự biến động về quy mô của từng khoản mục, trên từng báocáo tài chính của doanh nghiệp Qua đó, xác định được mức biến động (tăng hoặcgiảm) về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân
tố đến chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn phân tích tình hình biến động về quy mô tàisản, nguồn hình thành tài sản, tình hình biến động về quy mô của từng khoản mục ở
cả hai bên tài sản và nguồn hình thành tài sản trên bảng cân đối kế toán của doanhnghiệp
Biến động số tiền = Giá trị kỳ phân tích – Giá trị kỳ gốc
Tỷ lệ biến động = Biến động số tiền/Giá trị kỳ gốc × 100
So sánh dọc trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc sử dụngcác tỉ lệ các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tàichính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thực chất của việc phân tíchtheo chiều dọc trên các báo cáo tài chính là phân tích sự biến động về cơ cấu haynhững quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thông báo cáo tài chính doanhnghiệp
Khi đánh giá xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì gốc sosánh dược xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở một thời điểm trước, một kỳtrước hoặc hàng loạt kỳ trước Lúc này sẽ so sánh chỉ tiêu ở thời điểm này với thờiđiểm trước, giữa kỳ này với kỳ trước, năm này với năm trước hoặc hàng loạt kỳtrước (So sánh theo thời gian)
Phân tích xu hướng được sử dụng để thể hiện đường số liệu cho một thời kỳ:
% xu hướng = Giá trị kỳ phân tích/ giá trị kỳ gốc × 100
Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì gốc so sánh làtrị số kể hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó, tiến hành so sánh giữa thực tế với kếhoạch chỉ tiêu
Trang 26Khi xác định vị trí của doanh nghiệp thì gốc so sánh được xác định là giá trịtrung bình của ngành hay chỉ tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh (So sánh theokhông gian).
Về kỹ thuật so sánh, so sánh thường được sử dụng là so sánh bằng số tươngđối và so sánh bằng số tuyệt đối
+ So sánh bằng số tuyệt đối để thấy sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêuphân tích
+ So sánh bằng số tương đối để thấy thực tế so với kỳ gốc chỉ tiêu tăng haygiảm bao nhiêu %
1.2.4.2 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tàichính trong các quan hệ tài chính Phân tích tỷ lệ là một công cụ thường được sửdụng trong phân tích báo cáo tài chính Việc sử dụng các tỷ lệ cho phép người phântích đưa ra một tập hợp các con số thông kê để chỉ rõ những đặc điểm chủ yếu về tàichính của một doanh nghiệp Các tỷ lệ thường được sử dụng theo hai phương phápchính Thứ nhất các tỷ lệ của tổ chức đang xét sẽ được so sánh với tiêu chuẩnngành Trong trường hợp các các chỉ tiêu này không có sẵn, các nhà phân tích cóthể đưa ra tiêu chuẩn riêng bằng cách tính toán các tỷ lệ trung bình của các công tylớn trong ngành Ngoài ra, các tỷ lệ còn dùng để so sánh xu thế theo thời gian vớitừng doanh nghiệp
+ Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là
cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá tỷ lệ của một doanhnghiệp hay nhóm doanh nghiệp
Trang 27+ Việc áp dụng tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trìnhtính toán hàng loạt các tỷ lệ.
+ Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu
và phân tích một cách hệ thống hàng loạt các tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặctheo từng giai đoạn
Trang 281.2.4.3 Phương pháp phân tích Dupont
Trong phân tích BCTC, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mốiliên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Dựa trên việc phân tích mối liên kết giữa các chỉtiêu, từ đó phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo mộttrình tự logic chặt chẽ và nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đếnhiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của hiện tượng này
là tách một số tổng hợp phản ánh sức sinh lời của doanh nghiệp như thu thập trên tàisản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của các tỷ số
có mối quan hệ với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đóđối với tỷ số tổng hợp
Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính, có dạng:
Lợi nhuận thuần/Tổng tài sản = Lợi nhuận thuần/Doanh thu thuần*Doanh thu thuần/Tổng Tài sản
Từ mô hình trên nhà quản lý cần nghiên cứu và xem xét những phương pháp
để nâng cao khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Mô hình phân tích tài chính Dupont được thể hiện tại sơ đồ dưới đây:
Trang 29Sơ đồ 1.1 Mô hình phương pháp Dupont
Nguồn: Nguyễn Năng Phúc 2014, tr 108
Qua mô hình phân tích Dupont ở trên, ta có thể thấy số vòng quay tài sản cànglớn, sức sản xuất của doanh nghiệp càng lớn Dó đó tỷ lệ sinh lời của tài sản càngcao Để nâng cao vòng quay tài sản vừa phải tăng quy mô về doanh thu thuần, đồngthời phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý cơ cấu tổng tài sản Tổng doanh thu thuần vàtổng tài sản bình quân thường có quan hệ cùng chiều, tổng tài sản tăng thì tổngdoanh thu thuần cũng tăng Tỉ lệ lãi theo doanh thu thuần lại phụ thuộc vào hai nhân
tố cơ bản: Tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần
Hai nhân tố này lại có quan hệ cùng chiều, nghĩa là nếu doanh thu thuần tăngthì làm cho lợi nhuận thuần cũng tăng Để tăng doanh thu thuần thì ngoài việc giảmcác khoản giảm trừ doanh thu, còn phải giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sảnphẩm, bao gồm cả chi phí ngoài sản xuất và chi phí sản xuất sản phẩm
Phân tích tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với quản trịdoanh nghiệp Nhờ phân tích Dupont ta không chỉ đánh giá được hiệu quả kinhdoanh mà còn phân tích, đánh giá được những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
Trang 30doanh của doanh nghiệp Từ đó có thể đề xuất những biện pháp để tăng cường quản
lý doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
1.2.4.4 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích
Các chỉ tiêu phản ánh trên các báo cáo tài chính đều có thể chi tiết theo nhiềuhướng khác nhau mà qua đó, các nhà phân tích có thể đánh giá chính xác kết quả vàhiệu quả đạt được một cách chính xác Những chỉ tiêu này có thể được chi tiết theotừng bộ phận (yếu tố) cấu thành, theo thời gian phát sinh và theo không gian (địađiểm) phát sinh Sau đó mới tiến hành xem xét, so sánh mức độ đạt được của từng
bộ phận giữa kỳ phân tích với kỳ gốc và mức độ ảnh hưởng của từng bộ phận đếntổng thể cũng như xem xét tiến độ thực hiện và kết quả đạt được trong từng thờigian hay mức độ đóng góp của từng bộ phận vào kết quả chung
Việc xem xét các chỉ tiêu tài chính phản ánh đối tượng nghiên cứu theo bộphận hay yếu tố cấu thành giúp các nhà quản lý đánh giá được chính xác vai trò và
vị trí của từng bộ phận trong việc hình thành kết quả và hiệu quả kinh doanh chung.Tương tự, bằng việc xem xét chỉ tiêu tài chính phản ánh đối tượng nghiên cứu theothời gian, các nhà quản lý nắm bắt được nhịp điệu, xu hướng tăng trưởng của chỉtiêu mà qua đó sẽ có các quyết định kịp thời, sát thực với tình hình kinh doanh cụthể Việc xem xét các chỉ tiêu theo không gian sẽ giúp các nhà quản lý đánh giáđúng đắn, chính xác kết quả của từng đơn vị và là căn cứ quan trọng để các nhàquản lý đưa ra các quyết định liên quan đến việc xác định địa bàn kinh doanh trọngđiểm, quyết định mở rộng hay thu hẹp địa bàn kinh doanh, đánh giá đúng kết quảthực hiện hạch toán kinh doanh, (Nguyễn Văn Công 2010, tr 23)
Trang 311.2.5 Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Dựa trên góc độ phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính doanh nghiệp, tác giả sẽ trình bày những nội dung sau trong phạm vi nghiên
cứu của luận văn này:
- Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
- Phân tích cấu trúc tài chính
- Phân tích tình hình công nợ, khả năng thanh toán
- Phân tích hiệu quả kinh doanh
- Phân tích rủi ro tài chính
Việc phân tích đầy đủ những nội dung trên cung cấp cho đối tượng sử dụng
thông tin tương đối đầy đủ thông tin, giúp họ hiểu rõ hơn các hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp
1.2.5.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện tình trạng hay thực trạng tàichính của doanh nghiệp tại một thời điểm Dựa vào tình hình tài chính của doanhnghiệp, các nhà quản lý biết được tình hình tài chính hay trạng thái tài chính cụ thểcũng như xu thế phát triển của doanh nghiệp cả về an ninh tài chính, mức độ độc lậptài chính, về chính sách huy động và sử dụng vốn, về tình hình và khả năng thanhtoán Vể bản chất hoạt động tài chính là những hoạt động gắn với sự vận động vàchuyển hóa các nguồn lực tài chính, tạo ra sự chuyển dịch trong quá trình kinhdoanh của doanh nghiệp và làm thay đổi cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Nhưvậy, hoạt động tài chính hoàn toàn khác với tình hình tài chính của doanh nghiệp.Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của toàn bộ các hoạt động màdoanh nghiệp đang tiến hành, trong đó có hoạt động tài chính
Tình hình tài chính như một bức tranh tổng thể phản ánh kết quả của toàn bộcác hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đang tiến hành bao gồm cả hoạt độngkinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy tình hình tài chính của một doanh nghiệp
là bức tranh phản ánh rõ nét nhất kết quả và hiệu quả của toàn bộ các hoạt động màdoanh nghiệp tiến hành trong kỳ Một doanh nghiệp không thể có một tình trạng tài
Trang 32chính trong sáng, lành mạnh, một an ninh tài chính bền vững nếu như hoạt độngkinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư kém hiệu quả.Kết quả của hoạtđộng kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp cànglớn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng dồi dào, vốn chủ sở hữu càngtăng cả về quy mô và tỷ trọng trong tổng số vốn, mức độ độc lập tài chính càng lànhmạnh, các khoản nợ nần dây dưa không còn tồn tại.
Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn của doanh nghiệp
Số vốn mà doanh nghiệp huy động trong kỳ vừa phản ảnh kết quả trực tiếp củahoạt động tài chính, vừa phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp Tình hìnhbiến dộng (tăng hay giảm) của tổng số vốn theo thời gian (giữa cuối kỳ so với đầunăm, giữa năm này so với các năm khác…) phản ánh rõ nét kết quả tạo lập, tìmkiếm, tổ chức và huy động vốn phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp Sựtăng trưởng hay giảm sút của từng bộ phận vốn của doanh nghiệp (nợ phải trả vàvốn chủ sở hữu) cũng như tỷ trọng của từng bộ phận vốn chiếm trong tổng số vốn
và xu hướng biến động về cơ cấu vốn không chỉ phản ánh nguyên nhân ảnh hưởngđến kết quả huy động vốn mà còn cho thấy chính sách huy động vốn của toàn doanhnghiệp
Mặt khác, đánh giá tình hình huy động vốn của toàn doanh nghiệp không chỉdừng lại ở việc đánh giá sự biến động về quy mô vốn (tăng hay giảm), về cơ cấuvốn (thay đổi tỷ trọng), về tốc độ tăng trưởng vốn (kỳ phân tích so với kỳ gốc) vềnguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc màcòn phải chỉ rõ xu hướng nhịp điệu tăng trưởng vốn của doanh nghiệp Tổng số vốntăng trưởng theo thời gian sẽ cho biết quy mô kinh doanh của doanh nghiệp được
mở rộng cả về chiều sâu và chiều rộng, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpđang trên đà tăng trưởng
Trang 33Bảng 1.1: Bảng đánh giá khái quát tình hình huy động vốn
Nguồn: Nguyễn Năng Phúc 2014, tr120
Khi đánh giá khái quát tình hình huy động vốn, do vốn của doanh nghiệp tănggiảm theo nhiều nguyên nhân khác nhau nên sự biến động của tổng số nguồn vốntheo thời gian cũng chưa thể hiện đầy đủ tình hình tài chính và huy động vốn củadoanh nghiệp được Vì thế, bên cạnh chỉ tiêu tổng số nguồn vốn các nhà phân tíchcòn kết hợp sử dụng chỉ tiêu cơ cấu nguồn vốn Các chỉ tiêu này được thu thập trựctiếp trên bảng cân đối kế toán
Để đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp các nhà phân tích sửdụng phương pháp so sánh: so sánh sự biến động của tổng số nguồn vốn và so sánh
sự biến động của cơ cấu nguồn vốn theo thời gian cả về số tương đối và số tuyệtđối Bên cạnh việc xem xét tình hình biến động theo thời gian của tổng số nguồnvốn để sơ bộ biết được các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tài sản nguồnvốn trong kỳ phân tích, các nhà phân tích còn xác định ảnh hưởng của vốn chủ sởhữu và nợ phải trả đến sự biến động của nguồn vốn Sự tăng giảm của vốn chủ sởhữu sẽ dẫn đến sự tăng hay giảm tương ứng của tổng số nguồn vốn với cùng mộtlượng như nhau, phản ảnh tính hình tài trợ tài sản bằng số vốn đi chiếm dụng trongkỳ
Trang 34Để phân tích xu hướng tăng trưởng của vốn, các nhà phân tích sử dụngphương pháp so sánh bằng số tương đối định gốc (yi/y0,i=1,n) tiến hành so sánh tốc
độ tăng trưởng theo thời gian của tổng số vốn với một kỳ gốc cố định
Tốc độ tăng trưởng vốn kỳ thứ i so với kỳ gốc = (Tổng số vốn hiện có tại kỳ thứ i/Tổng số vốn hiện có tại kỳ gốc) x 100
Tương tự, để biết được nhịp điệu tăng trưởng (huy động vốn) có đều đặn giữacác kỳ hay không, các nhà phân tích sử dụng phương pháp so sánh bằng số tươngđối động thái liên hoàn, so sánh số vốn huy động kỳ sau với kỳ trước liền kề bằng
đồ thị
Tốc độ tăng trưởng vốn kỳ thứ i so với kỳ (i-1) = (Tổng số vốn hiện có kỳ thứ i/ Tổng số vốn hiện có tại kỳ (i-1)) x 100
1.2.5.2 Phân tích cấu trúc tài chính
Cấu trúc tài chính là cơ cấu các loại nguồn vốn hình thành nên tài sản củadoanh nghiệp
Ý nghĩa của phân tích cấu trúc tài chính:
+ Giúp doanh nghiệp nhận diện được ưu nhược điểm của cấu trúc tài chínhheienj tại từ đó tìm được biện pháp để đạt dược cơ cấu tài chính tối ưu Trên cơ sởcấu trúc tài chính nhận diện được các dấu hiệu rủi ro tài chính và có các quyết địnhkịp thời để đảm bảo tính phát triển bền vững
+ Giúp các nhà đầu tư, người cho vay đánh giá được mức độ rủi ro tín dụngtrước khi xảy ra quyết định đầu tư hay cho vay; dự báo được triển vọng tài chínhdoanh nghiệp Ngoài ra còn cảnh báo với những doanh nghiệp có cấu trúc tài chínhrủi ro, hạn chế những bất ổn cho nền kinh tế
Phân tích cơ cấu tài sản:
Khi sử dụng vốn vào hoạt động kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp sẽ tiếnhành đầu tư về cả chiều rộng và chiều sâu Sử dụng vốn hợp lý thể hiện ở chỗ sốvốn mà doanh nghiệp đã huy động được đầu tư vào bộ phận tài sản nào Vì thế khiphân tích tình hình sử dụng vốn bao giờ người ta cũng phải phân tích cơ cấu tài sảnđầu tiên
Trang 35Bảng 1.2: Bảng phân tích cơ cấu và sự biến động tài sản
Đơn vị: VNĐ
Chỉ tiêu
So sánh cuối nămCuối năm Cuối năm Cuối năm N với cuối năm
Nguồn: Nguyễn Năng Phúc 2014, trang 125
Phân tích cơ cấu tài sản doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và sosánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích và kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phậntài sản chiếm trong tổng số tài sản và được xác định theo công thức sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản = (Giá trị của từng bộ phận tài sản/Tổng số tài sản) x 100
Cụ thể:
Tỷ trọng tài sản ngắn hạn/Tổng tài sản x 100
Trang 36Tỷ trọng tài sản dài hạn/Tổng tài sản x 100
Hai chỉ tiêu trên giúp đánh giá được tỷ trọng tài sản ngắn hạn và dài hạn trêntổng tài sản của doanh nghiệp
Chỉ tiêu Tiền/Tổng tài sản cao thể hiện khả năng thanh toán tăng, tuy nhiên lại
lãng phí vốn Ngược lại chỉ tiêu này thấp cho thấy khả năng thanh toán giảm, nhưnghiệu quả sử dụng vốn lại tăng
Chỉ tiêu Hàng tồn kho/Tổng tài sản cao thể hiện doanh nghiệp đang bị lãng
phí vốn, tuy nhiên mặt tích cực là hàng hóa đảm bảo đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng Trường hợp chỉ tiêu này thấp cho thấy hiệu quả sử dụng vốn cao,nhưng ít hàng dự trữ sẽ dẫn đến việc mất khách hàng
Chỉ tiêu Nợ phải trả/Tổng tài sản cao cho thấy doanh nghiệp đang bị chiếm
dụng vốn, mặt tích cực là doanh thu được khuyến khích Chỉ tiêu này nếu thấp chothấy doanh nghiệp hạn chế được vốn bị chiếm dụng, nhưng doanh thu lại chưa đượckhuyến khích
Chỉ tiêu tài sản cố định/Tổng tài sản (Hay còn gọi là Hệ số đầu tư TSCĐ) cao
cho thấy đòn bẩy kinh doanh cao, doanh nghiệp đầu tư cho tương lai, tuy nhiên dẫntheo mặt tiêu cực là rủi ro kinh doanh cao Nếu chỉ số này thấp thì rủi ro kinh doanhcũng thấp và đòn bẩy kinh doanh cũng thấp
Để nắm được chính xác tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp, nắm đượccác nhân tố có ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến sự biến động về cơ cấu tài sảncủa doanh nghiệp thì nhà phân tích còn phải kết hợp với việc phân tích ngang tức là
so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc trên cả phương diện về số tuyệtđối và số tương đối
Phân tích cơ cấu nguồn vốn:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp sẽtìm kiếm và huy động từ nhiều nguồn khác nhau, trong báo cáo tài chính thì đượcthể hiện ở 2 nguồn là: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, được đóng góp ban đầu hoặc bổsung trong quá trình kinh doanh Ngoài ra còn có một số nguồn khác như: chênh
Trang 37lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phânphối, các quỹ của doanh nghiệp.
Nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng trong quá trìnhhoạt động kinh doanh Nợ phải trả bao gồm nhiều loại khác nhau
Qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn sẽ cho biết được cơ cấu vốn huy động vàmức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biến động của nguồn vốn huy độngcủa doanh nghiệp
Khi phân tích cơ cấu vốn, các nhà phân tích sẽ tính ra và so sánh tình hìnhbiến động nguồn vốn giữa kỳ phân tích và kỳ gốc
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn đượcxác định như sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số NV = (Giá trị của từng bộ phận NV/Tổng số NV) x 100
Một vài hệ số, chỉ tiêu:
Hệ số nợ= Nợ phải trả/ Tổng nguồn vốn
Hệ số tài trợ = Vốn chủ sở hữu/Tổng Nguồn vốn
Hệ số nợ cao cho thấy doanh nghiệp đang có rủi ro tài chính cao, tuy nhiênđòn bẩy tài chính tốt Ngược lại hệ số nợ thấp cho thấy khả năng độc lập tài chínhcủa doanh nghiệp, doanh nghiệp không phụ thuộc vào nguồn vốn vay bên ngoài, tuynhiên đòn bẩy tài chính lại thấp
Chỉ tiêu Vốn vay/Tổng nguồn vốn cao cho thấy doanh nghiệp đang gặp rủi ro
lớn và có chi phí lãi vay cao, tuy nhiên doanh nghiệp lại được lợi về thuế TNDN.Ngược lại chỉ tiêu này thấp cho thấy rủi ro của doanh nghiệp và chi phí lãi vay thấp
Chỉ tiêu Phải trả người bán/Tổng nguồn vốn cao cho thấy doanh nghiệp đang
chiếm dụng vốn Chỉ tiêu này thấp cho thấy doanh nghiệp hạn chế sử dụng vốn chohoạt động kinh doanh (ít chiếm dụng vốn), tuy nhiên lại được hưởng các khoảnchiết khấu
Để xác định được chính xác tình hình huy động vốn, nắm bắt được các nhân tốảnh hưởng, các nhà phân tích sẽ kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự
Trang 38biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về cả số tuyệt đối và số tương đối trên tổng
số nguồn vốn
Qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn sẽ cho các nhà phân tích nắm được chỉ
số và sự biến động của các chỉ tiêu như: Hệ số tài trợ, hệ số nợ so với vốn chủ sởhữu, Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn và các chỉ tiêu này đều cho thấy được mức độđộc lập về tài chính của doanh nghiệp
Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp không chỉ phản ánh nhu cầu vốncho hoạt động kinh doanh của doah nghiệp mà còn phải ánh hiệu quả sử dụng vốncủa doanh nghiệp Vì vậy, cần thiết phải phân tích mối quan hệ giữa tài sản vànguồn hình thành tài sản để thấy được chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp
Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích sửdụng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số nợ so với tài sản: là chỉ tiêu phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanhnghiệp bằng các khoản nợ Chỉ số này càng cao chứng tỏ mức độ phụ thuộc củadoanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn nghĩa là mức độ độc lập về tài chính của doanhnghiệp càng thấp và càng ít có cơ hội để tiếp cận các cơ hội đầu tư
Khi chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 có nghĩa có nghĩa là số nợ phải trả được doanhnghiệp sử dụng để tài trợ cho tài sản càng giảm bấy nhiêu
Khi ta biến đổi ta có công thức:
Hệ số nợ so với tài sản = 1 – hệ số tài trợ
Như vậy, có nghĩa là nếu doanh nghiệp muốn giảm hệ số nợ thì phải tăng hệ
số tài trợ
Trang 39- Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu: là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tàisản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu.
Hệ số TS so với VCSH = TS/VCSH
Khi chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp sử dụng cả vốn chủ sởhữu và nợ phải trả để tài trợ cho tài sản Chỉ tiêu này càng lớn bao nhiêu thì mức độ
sử dụng nợ phải trả để tài trợ cho tài sản càng cao bấy nhiêu và ngược lại
Khi chỉ tiêu này nhỏ hơn 0 thì có nghĩa là nợ phải trả được doanh nghiệp sửdụng vừa đủ đề bù lỗ và vừa để trang trải cho tài sản hoạt động
Khi xem xét cơ cấu nguồn vốn sẽ cho nhà phân tích thấy được những nét đặctrưng trong chính sách huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như xácđịnh tính hợp lý và an toàn trong việc huy động vốn của doanh nghiệp
Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh – Theo quan điểm luân chuyển vốn
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, khi vốn chủ sở hữu không đáp ứng đủnhu cầu về vốn cho kinh doanh, doanh nghiệp được phép đi vay để bổ sung vốnkinh doanh Chúng ta có quan hệ cân đối sau:
Vốn chủ sở hữu + Vốn vay + Nguồn vốn trong thanh toán = Tài sản hoạt động kinh doanh + Tài sản trong thanh toán
Nguồn vốn thanh toán là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng của đốitác trong thanh toán bao gồm nguồn vốn thanh toán ngắn hạn và nguồn vốn thanhtoán dài hạn Tài sản thanh toán là số tài sản của doanh nghiệp nhưng bị đối tácchiếm dụng, doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi: gồm tài sản thanh toán ngắnhạn và tài khoản thanh toán dài hạn
Đẳng thức trên có thể biến đổi như sau:
(Vốn chủ sở hữu + Vốn vay) – Tài sản hoạt động kinh doanh = Tài sản trong thanh toán – Nguồn vốn trong thanh toán
Hay
Vốn đầu tư – Tài sản HĐKD = Vốn thừa (thiếu)
Trang 40Nếu hiệu số dương cho thấy doanh nghiệp không sử dụng hết số vốn hiện có,
bị chiếm dụng vốn Ngược lại hiệu số âm cho thấy nhu cầu tài sản kinh doanh củavượt quá số vốn hiện có, doanh nghiệp đang đi chiếm dụng vốn
Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh – Theo tính
ổn định của nguồn tài trợ
Xét theo góc ổn định về nguồn tài trợ tài sản, toàn bộ nguồn tài trợ được chiathành nguồn tài trợ thường xuyên và nguồn tài trợ tạm thời Nguồn tài trợ thườngxuyên là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, ổn định và lâu dàivào hoạt động kinh doanh Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn tài trợ mà doanh nghiệptạm thời sử dụng vào hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn hạn.Hai nguồn vốn tài trợ cho hoạt động kinh doanh là:
+ Vốn thường xuyên (vốn dài hạn) – Tài trợ tài sản dài hạn
Vốn chủ sở hữu
Vay nợ dài hạn
+ Vốn tạm thời (vốn ngắn hạn) – Tài trợ tài sản ngắn hạn
Vay nợ ngắn hạn
Cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳng thức:
Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn = Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên
Nếu tổng số nguồn tài trợ thường xuyên có đủ hoặc lớn hơn tổng số nhu cầu
về tài sản thì doanh nghiệp cần sử dụng số thừa này một cách hợp lý để tránh bịchiếm dụng vốn Ngược lại khi nguồn tài trợ thường xuyên không đáp ứng nhu cầu
về tài sản thì doanh nghiệp cần phải có biện pháp huy động và sử dụng phù hợp(huy động nguồn tài trợ tạm thời hợp pháp hoặc giảm quy mô đầu tư, tránh chiếmdụng vốn một cách bất hợp pháp)
Vốn hoạt động thuần là chỉ tiêu phản ánh số vốn tối thiểu của doanh nghiệpđược sử dụng để duy trì hoạt động diễn ra thường xuyên tại doanh nghiệp Doanhnghiệp có thể đảm bảo chi trả các khoản chi tiêu thường xuyên mà không cần đi vaymượn hay chiếm dụng, vốn hoạt động được tính theo hai cách sau:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn = Nguồn tài trợ thường xuyên – Nguồn tài trợ tạm thời