Nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt Nam, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xử phạt vi phạm h
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Thành công luôn gắn liền với sự nỗ lực và học hỏi không ngừng của bản thân, bên cạnh đó cũng có một phần không nhỏ nhờ sự giúp đỡ và tạo điều kiện của những người xung quanh mình Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại giảng đường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đến nay, tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ từ quý thầy cô cùng các anh chị đi trước
Với lòng biết ơn sâu sắc, trước khi tác giả đi vào nội dung của khóa luận thì lời đầu tiên muốn viết là “Lời cảm ơn” của tác giả gửi đến:
- Ban giám hiệu nhà trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh vì đã tạo cơ hội cho tác giả có điều kiện được nghiên cứu, tìm hiểu viết bài khóa luận này - lời cảm ơn trân trọng nhất
- Ban lãnh đạo Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, dưới sự hướng dẫn của Khoa, tác giả có định hướng nghiên cứu đề tài - lời cảm ơn chân thành nhất
- Đặc biệt, tác giả muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Thị Nhàn - Giảng viên hướng dẫn Người đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, đóng góp ý kiến cũng như đưa ra những lời khuyên bổ ích trong suốt quá trình tác giả thực hiện khoá luận của mình
Trang 2Trong quá trình tìm hiểu và thực hiện không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô để khóa luận của tác giả ngày càng được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tác giả xin chân thành cám ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 7 năm 2016
Lê Thị Quỳnh Như
Trang 31.1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 5 1.1.1.2 Cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 9
a Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 10
b Mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 11
c Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 12
d Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia
đình 13
e Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 13 1.1.2 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.1.2.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 15 1.1.2.2 Đặc điểm về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình 16 1.1.2.3 Mục đích xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 17
1.2 Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Trang 41.2.1 Sự phát triển của các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 18 1.2.2 Pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.2.2.1 Nguyên tắc xử phạt hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 24 1.2.2.2 Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 28 1.2.2.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình 32 1.2.2.4 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 33 1.2.2.5 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 37
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
2.1 Thực trạng về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Dương tác động đến tình hình vi phạm 39 2.1.2 Thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.1.2.1 Tình hình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 41 2.1.2.2 Nguyên nhân và thực trạng dẫn đến vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 46
Trang 52.2 Một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả xử phạt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
2.2.1 Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân 54 2.2.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 57 2.2.3 Nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ thực thi pháp luật 59 2.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện vi phạm 60 2.2.5 Tăng cường công tác quản lý và phối hợp của các Cơ quan hành chính nhà nước trong việc phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình 62
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong xã hội hiện nay, gia đình có vị trí, vai trò quan trọng, là môi trường bảo tồn văn hoá truyền thống, giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con người, bên cạnh đó, giúp mỗi cá nhân ngày càng hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, tinh thần chuẩn bị hành trang hoà nhập vào cộng đồng xã hội Vì vậy, việc xây dựng một gia đình chuẩn mực là điều vô cùng quan trọng và thiết yếu Học giả Lâm Ngữ Đường
- người Trung Quốc - cho rằng: “Không một người nào có thể sống lẻ loi được Khi nghĩ tới một người nào, nếu ta không coi người đó là một người con, một người anh hoặc một người cha, một người bạn thì coi người đó là gì?”1
Hôn nhân chính là nền tảng, là cơ sở chủ yếu để hình thành nên gia đình; là mối liên kết vừa mang tính quy luật tự nhiên vừa mang tính quy luật xã hội, pháp lý2 Trên thực tế,
do nhiều nguyên nhân khác nhau nên tình trạng vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình vẫn tồn tại, thậm chí ở nhiều nơi còn có những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng (chủ yếu là các hành vi tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, chung sống như vợ chồng với nhiều người…) hoặc những hành vi xâm hại nghiêm trọng đến nền tảng gia đình truyền thống Việt Nam (các hiện tượng hành hạ, ngược đãi vợ, con, cha,
mẹ hoặc người có công nuôi dưỡng; không chăm sóc con cái, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với con cái…) còn khá phổ biến Nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt Nam, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một trong những công cụ pháp lý mà nhà nước sử dụng để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu này Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình không phải là một vấn đề mới, vì
đã được pháp luật quy định ngày càng cụ thể hơn cả về hành vi vi phạm, thẩm
1
Xem: Ngô Thị Hường (2002), “Tác động của đạo đức đối với pháp luật Hôn nhân và gia đình”, Tạp chí Luật học
(số 3/2013), tr 35 – trích Lâm Ngữ Đường, sđd, tr.186.
2
Xem: Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, (2013), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nhà xuất
bản Công An Nhân Dân, tr.31
Trang 7quyền xử phạt, thủ tục xử phạt… Tuy nhiên, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình đã bộc lộ những khó khăn, vướng mắc nhất định Vì lẽ đó, tác giả cho rằng, việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu ở khía cạnh
lý luận, pháp lý và thực tiễn về vấn đề này là cần thiết
2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một đề tài có phạm vi tương đối rộng Vì vậy, trong giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình như: nguyên tắc, đối tượng, thẩm quyền, hình thức, thủ tục xử phạt Từ đó, chỉ ra những bất cập còn tồn tại nhằm đề xuất, sửa đổi, bổ sung
Về mặt thực tiễn, tác giả sẽ nêu thực trạng xảy ra vi phạm hành chính trong lĩnh vực này trong thời gian vừa qua, có minh chứng cụ thể tại địa bàn tỉnh Bình Dương
- nơi mà tác giả sinh sống Qua việc nghiên cứu thực trạng xảy ra, tác giả giải thích nguyên nhân xảy ra vi phạm, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Bởi suy cho cùng, mọi lý luận đều bắt nguồn từ thực tiễn và quay trở lại phục vụ thực tiễn
3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỰ LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động phổ biến trong thực tiễn quản lý nhà nước, thể hiện ở tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước như: an toàn giao thông, an ninh trật tự, văn hoá, môi trường, thuế Có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu có liên quan như: Đàm Đức Tuyền, “Vi phạm hành chính và áp dụng trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực hải quan tại TP Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sỹ 2006; Trương Thị Thanh Trúc, “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”, khóa luận tốt nghiệp 2007; Đặng Tuấn, “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại TP Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sỹ 2009
Trang 8Tuy nhiên, đối với đề tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì chưa có công trình nghiên cứu cụ thể Tác giả chọn đề tài này làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Cử nhân của mình, vì tác giả nhận thức được vai trò cũng như tầm quan trọng của vấn đề này đối với sự phát triển của xã hội, đồng thời muốn đưa ra cái nhìn toàn diện và cụ thể hơn liên quan đến lý luận, thực tiễn về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Khi thực hiện đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm sáng tỏ các khía cạnh pháp lý và lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Đồng thời làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Xuất phát từ mục đích trên, tác giả khóa luận xác định nhiệm vụ:
- Tìm hiểu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu các quy định của pháp luật, cách thức xử lý các vấn đề liên quan đến
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
- Tìm hiểu thực trạng tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình trên thực tế
- Đề xuất các giải pháp khắc phục những bất cập, khó khăn, thiếu sót trong quá trình xử lý vi phạm Cuối cùng nhằm phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh vi phạm và giảm dần những vi phạm hành chính xảy ra trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Trang 95 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khóa luận tìm hiểu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Các phương pháp được sử dụng kết hợp trong khóa luận là phương pháp phân tích,
so sánh, tổng hợp để giải quyết vấn đề cả về lý luận và thực tiễn
Tại chương 1: phương pháp được sử dụng cụ thể là phương pháp phân tích, chứng minh, biện luận, tổng hợp
Tại chương 2: tác giả còn sử dụng thêm phương pháp thống kê, phân tích số liệu, tổng kết thực tiễn
6 KẾT CẤU KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của khóa luận gồm có 2 chương:
- Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
- Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.1 Cơ sở lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Để làm rõ khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, trước hết cần nói khái quát về khái niệm hôn nhân và gia đình Trong thực tiễn khoa học về hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và nước ngoài, nhiều khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu luật học đưa ra Chẳng hạn:
một số luật gia ở Châu Âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”3 Ở Việt Nam, các giáo trình dân luật dưới chế độ Sài Gòn cũ chưa đưa ra khái niệm cụ thể về hôn
nhân mà phần nhiều mới đưa ra khái niệm “giá thú”: “Giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định”
Như vậy, phải chăng khái niệm “giá thú” được nêu trên đã bao hàm cả khái niệm
về hôn nhân.Trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành, khái niệm hôn nhân đã được nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” Còn theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của trường Đại học luật Hà Nội, hôn nhân được hiểu là: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”4
3
Xem: Nguyễn Hồng Hải (2002), “Bàn về khái niệm và bản chất pháp lý của Hôn nhân”, Tạp chí Luật học
(số3/2002) – trích từ: Leonard & Elias Berkely.Family law Dictionary Cali Nolo 1990.
4 Xem: “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học”- trường Đại học luật Hà Nội NXB Công an nhân dân 1999, tr.148
Trang 11Gia đình có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ pháp lý, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân về chủ thể, sự kiện làm phát sinh và chế độ pháp lý giữa các chủ thể Gia đình là hệ quả tất yếu của hôn nhân, là sự tiếp tục của hôn nhân ở một phạm vi rộng hơn, đa dạng hơn Hôn nhân là cơ sở chính, chủ yếu để hình thành gia đình
Danh từ Luật Hôn nhân và gia đình chỉ xuất hiện vào những năm sau Cách mạng tháng Tám.Trong chế độ phong kiến, không có quy định cụ thể về hôn nhân
và gia đình, ngay cả thời kì thuộc Pháp trước năm 1945 cũng vậy Mãi đến năm
1959, mới có một văn bản chính thức quy định về hôn nhân và gia đình, đó là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Đây là lúc thuật ngữ Luật Hôn nhân và gia đình được đề cập cụ thể và vẫn được duy trì cho đến nay.Theo đó, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình, được các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh
Khái niệm “vi phạm hành chính” (sau đây viết tắt là VPHC) đã tồn tại từ lâu trong đời sống pháp lý Việc định nghĩa khái niệm này luôn có những ý kiến khác nhau giữa tư duy khoa học pháp lý và tư duy pháp luật thực định Trong hệ thống pháp luật thực định ở nước ta, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa trực tiếp trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 như
sau: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
Nhìn từ khía cạnh lịch sử của vấn đề, cần thấy rằng với Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989, khái niệm “vi phạm hành chính” đã được định hình và thay thế cho khái niệm “phạm pháp vi cảnh” - một khái niệm tương ứng, cùng phản ánh bản chất hiện tượng nhưng được định nghĩa trong Điều lệ xử phạt vi cảnh
Trang 12ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP của Hội đồng Chính Phủ (nay là Chính
Phủ) như sau: “Phạm pháp vi cảnh là những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn
xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác”
Các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995 (sau đây gọi tắt là pháp lệnh 1995) và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 được sửa đổi bổ sung vào các năm 2007, năm 2008 (gọi tắt là Pháp lệnh 2002) không định nghĩa trực tiếp vi phạm hành chính mà lại định nghĩa “xử phạt vi phạm hành chính”, tức là định nghĩa “việc làm” chứ không định nghĩa khái niệm
“hành vi” vi phạm hành chính, mặc dù vi phạm hành chính mới là khái niệm chủ yếu của văn bản Đó là một thực tiễn chưa tốt5.Vì vậy, trong thời gian này trở về trước, khái niệm vi phạm hành chính chỉ được hiểu một cách gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt vi phạm hành chính Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình nghiên cứu và tư duy khoa học pháp lý - không thực sự khoa học.Thực tiễn trên hiện nay đã được khắc phục bởi sự ra đời của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (Luật XLVPHC 2012) tại khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC 2012 định
nghĩa: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Như vậy, so với định
nghĩa tại Pháp lệnh 2002 định nghĩa vi phạm hành chính tại Luật XLVPHC 2012
là giống nhau về bản chất, nếu có khác nhau thì chỉ là sự hợp thức hoá định nghĩa này tại một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn là luật chứ không phải pháp lệnh Đây cũng là cơ sở chắc chắn để ta xác định các đặc điểm cơ bản của vi phạm hành chính là:
- Tính có lỗi: lỗi là thái độ chủ quan của cá nhân, tổ chức đối với hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước và hậu quả của hành vi đó gây
5
Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.376-377.
Trang 13ra, lỗi bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý Vi phạm hành chính không thể là hành vi không có lỗi
- Tính trái pháp luật: được thể hiện ở hành vi vi phạm quy định pháp luật về quản lý nhà nước bao gồm hành vi vi phạm hành chính được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động và có các biểu hiện cụ thể như không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính yêu cầu; thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính cấm; thực hiện những hành vi vượt quá phạm vi pháp luật hành chính cho phép
- Không phải là tội phạm: nghĩa là về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành
vi vi phạm chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc hành vi vi phạm đó chưa đủ dấu hiệu cấu thành một tội cụ thể được Bộ luật Hình sự quy định Đây là dấu hiệu quan trọng của vi phạm hành chính bởi một hành vi không thể vừa
là tội phạm vừa là vi phạm hành chính
- Theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính: điều này
có nghĩa là không bị coi là VPHC nếu hành vi đó không được pháp luật quy định phải bị xử phạt VPHC
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một loại vi phạm hành chính nói chung Các dấu hiệu của vi phạm hành chính nói chung, vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng được quy định tại Luật
Xử lý vi phạm hành chính 2012 Những vi phạm hành chính cụ thể trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây viết tắt là Nghị định 110/2013/NĐ-CP) Hiện nay, Nghị định này được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vực
tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp (sau đây viết tắt là Nghị định 67/2015/NĐ-CP)
Trang 14Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình xảy ra khá phổ biến trong đời sống và tồn tại dưới nhiều dạng hành vi Tuy vậy, Nghị định 110/2013/NĐ-CP cũng như Nghị định 67/2015/NĐ-CP không có định nghĩa riêng biệt về loại vi phạm này Thế nhưng, với tư cách là một dạng vi phạm hành chính trong một lĩnh vực cụ thể là hôn nhân và gia đình, thì ta có thể hoàn toàn xác định được rằng nó sẽ có đầy đủ các đặc điểm của vi phạm hành chính nói chung Có thể
khái quát rằng: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là hành
vi do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý vi phạm các quy tắc, chuẩn mực quản lý nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, và theo quy định phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Tính phổ biến của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thể hiện ở nhiều dạng hành vi khác nhau, đã và đang xảy ra ở nhiều nơi trên đất nước ta với nhiều mức độ Mặc dù, tính chất nguy hiểm của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình không lớn nhưng về lâu dài nó sẽ ảnh hưởng không chỉ đến đối tượng bị tác động mà còn ảnh hưởng đến truyền thống tốt đẹp, luân thường đạo lý dân tộc Vì vậy, việc xử phạt hành chính các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là hết sức cần thiết nhằm bảo
vệ các truyền thống tốt đẹp, luân thường đạo lý của dân tộc ta
1.1.1.2 Cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một loại vi phạm diễn ra khá nhiều trên thực tế Việc làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình sẽ giúp chúng ta nhận biết chính xác các dạng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực này, từ đó phân biệt với tội phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, hay gần với lĩnh vực hôn nhân và gia đình như vi phạm về phòng, chống bạo lực gia đình; vi phạm quy định về bình đẳng giới; vi phạm quy định về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Trang 15Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một loại vi phạm hành chính, có những dấu hiệu của vi phạm hành chính nói chung đồng thời có những dấu hiệu đặc trưng cơ bản giúp phân biệt với các hành vi vi phạm hành chính khác
a Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là tổng thể những dấu hiệu đặc trưng bên ngoài của vi phạm, bao gồm: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, thời gian, không gian, hậu quả, mối liên hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Phân tích đặc thù mặt khách quan của loại vi phạm hành chính này với loại vi phạm hành chính khác như về địa điểm, không gian, thời gian Từ sự phân tích trên, xác định dấu hiệu bắt buộc thể hiện trong tất cả các vi phạm hành chính là tính trái pháp luật của hành vi và các dấu hiệu không bắt buộc phải có trong mọi hành vi vi phạm hành chính là thời gian, không gian, hậu quả, mối liên hệ nhân quả giữa hành
vi và hậu quả
Một là, hành vi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan Theo C Mác:
“Con người chỉ tồn tại đối với pháp luật thông qua hành vi của mình” Hành vi
của con người là trạng thái hoạt động cụ thể của con người nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất hay tinh thần của con người Hành vi của con người là sự biểu hiện thái độ, tâm lý của con người thành những hành động hay không hành động6
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, hành vi vi phạm bao gồm: hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn; hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; hành vi vi phạm quy định về giám hộ; hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi; hành vi vi phạm quy định về văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam Những chủ thể nếu không có hành vi mà chỉ là ý tưởng, suy nghĩ thì không coi là vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
6
Xem: Phạm Hồng Thái (2015), “Hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, một số vấn đề lí luận và
Trang 16Tính trái pháp luật của hành vi Tức, các chủ thể đã thực hiện hành vi mà pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cấm (ví dụ: tổ chức tảo hôn, đang có
vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác) hoặc không thực hiện hay thực hiện không đúng các quy định các của pháp luật về hôn nhân và gia đình mà pháp luật buộc phải thực hiện (ví dụ: lợi dụng việc đăng ký giám hộ để trục lợi; khai báo gian dối để đăng ký việc cho, nhận con nuôi)
Hai là, về không gian xảy ra vi phạm Khác với các vi phạm hành chính
thông thường khác, hành vi vi phạm hành chính xảy ra trên một không gian rộng thì vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thường xảy ra trong không gian hẹp: phạm vi gia đình và giữa các thành viên của gia đình với nhau
Ba là, về thời gian, do căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật hôn nhân và gia
đình là những sự kiện, trạng thái đặc biệt nên xét về thời gian, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình mang tính lâu dài, bền vững Khi xử lý các vi phạm hành chính về hôn nhân và gia đình, người có thẩm quyền xử phạt thường chú ý đến thời gian phát sinh, thực hiện hành vi, vì trong một số trường hợp nó là căn cứ xác định
có hay không vi phạm hành chính (ví dụ: về hành vi tảo hôn hay hành vi đang có
vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác)
b Mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Cũng như những vi phạm hành chính thông thường, mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình bao gồm: yếu tố lỗi, động cơ, mục đích Trong đó, lỗi là yếu tố bắt buộc, còn động cơ và mục đích thì không bắt buộc phải có trong mọi hành vi vi phạm hành chính
Một là, yếu tố lỗi: đây là yếu tố quan trọng để xem xét các hành vi vi phạm
pháp luật nói chung cũng như vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng; nó là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể vi phạm thể hiện khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình
Trang 17Nếu hành vi thực hiện nhưng không có lỗi thì không coi là vi phạm Lỗi gồm lỗi cố
ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đặc trưng trong lĩnh vực này là lỗi cố ý nhưng không mong muốn hậu quả xảy ra Ví dụ:
“hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn”, chủ thể thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhưng không mong muốn hậu quả xảy ra Hậu quả xảy ra với hành vi tảo hôn là sẽ khiến các em gái có nguy cơ mang thai sớm ngoài ý muốn và nguy cơ tử vong do thai sản cao; trẻ sinh ra sẽ có rủi ro cao như sinh non, nhẹ cân
Hai là, động cơ, mục đích: các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia
đình thường hướng đến các lợi ích nhân thân, là giá trị tinh thần, tình cảm mà chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình hướng tới để thỏa mãn hoặc lợi ích tài sản; lợi ích hành vi Đặc trưng về động cơ và mục đích trong lĩnh vực này thường
là các giá trị tinh thần, là những lợi ích tự nhiên gắn kết các bên tham gia quan hệ
c Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 110/2013/NĐ-CP, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm là cá nhân, tổ chức bao gồm: cá nhân, tổ chức Việt Nam và cá
nhân, tổ chức nước ngoài
Một là, cá nhân, tổ chức Việt Nam:
● Cá nhân: quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là quan hệ phát sinh giữa các đối tượng có mối quan hệ đặc biệt: quan hệ gia đình; đây cũng là chủ thể chủ yếu, thường xuyên của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực này
- Về độ tuổi: Theo quy định tại Điều 5 Luật XLVPHC 2012 “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính” Quy định trên là xuất phát từ việc nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý của
người Việt Nam, nhu cầu đấu tranh phòng chống các vi phạm hành chính cũng như tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Trang 18- Về năng lực trách nhiệm hành chính: bao gồm năng lực pháp lý trách nhiệm
hành chính và năng lực hành vi trách nhiệm hành chính
Tổ chức: được xem là chủ thể của vi phạm hành chính, theo đó tại khoản 1
Điều 5 Luật XLVPHC 2012 quy định rằng: “Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra” Tuy nhiên, trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình thì chủ thể này dường như ít xuất hiện hơn cá nhân Trên thực tế hành vi vi phạm của tổ chức thường là hành vi trong hoạt động ở lĩnh vực con nuôi, thể hiện ở hình thức vi phạm hành chính trong lĩnh vực này cũng như xuất phát từ đặc trưng của quan hệ hôn nhân và gia đình thường xảy ra trong không gian hẹp
Hai là, cá nhân, tổ chức nước ngoài: khi có hành vi vi phạm thì cũng bị xử phạt vi
phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, chủ thể này có ngoại lệ, trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế - theo quy định tại điểm
c khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính; điều này phù hợp với thông lệ quốc tế Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nhóm chủ thể này cũng ít vi phạm hơn so với nhóm cá nhân, tổ chức trong nước
d Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình xâm phạm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm hại đến trật tự quản lý nhà nước cũng như các chuẩn mực đạo đức, truyền thống của dân tộc
e Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình
Trong tổng thể các vi phạm pháp luật, vi phạm hành chính và tội phạm là hai hiện tượng có nhiều nét tương đồng nhau, đôi khi còn có sự giao thoa nên có sự phân biệt là cần thiết Trong khá nhiều trường hợp, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn
Trang 19nhân và gia đình, khi xem xét mối liên hệ giữa vi phạm hành chính và tội phạm thì
có một số cấu thành tội phạm có yếu tố bắt buộc là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” Ví dụ: các tội xâm phạm chế độ hôn nhân
và gia đình quy định tại các Điều 182, Điều 183, Điều 185 Bộ luật Hình sự năm
2015
Do vi phạm hành chính và tội phạm đều là những hành vi, mặt khác, khách thể bị xâm hại của vi phạm hành chính và tội phạm có khoảng giao thoa nên về mặt khoa học có sự thống nhất rằng, tính nguy hiểm cho xã hội là tiêu chí cơ bản
để xác định hành vi đó là vi phạm hành chính hay tội phạm Hành vi vi phạm hành chính luôn có tính nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, căn cứ để định lượng tính nguy hiểm của hành vi, từ đó xác định hành vi đó là vi phạm hành chính hay tội phạm thể hiện ở mức độ thiệt hại do hành vi đó gây ra nghiêm trọng đến mức nào hoặc tính chất của hành vi (vi phạm lần đầu hay đã từng bị xử phạt về chính hành vi đó ) Cụ thể ta có thể xem xét qua một vài điều luật:
● Ví dụ 1: vi phạm lần đầu của người tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn sẽ được xác định là vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 47 Nghị định 110/2013/NĐ-CP Nhưng nếu hành vi đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính rồi mà còn vi phạm thì hành vi đó sẽ cấu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 183 Bộ luật Hình sự 2015
● Ví dụ 2: hành vi mà chủ thể thực hiện là người đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác nếu không gây ra hậu quả thì
sẽ được xác định là vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/ NĐ-CP nhưng nếu gây ra hậu quả làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn thì hành vi đó sẽ cấu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015
Vi phạm hành chính và tội phạm còn được phân biệt ở dấu hiệu chủ thể Theo pháp luật hình sự hiện hành, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân, trong khi chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm cá nhân và tổ chức Hành vi vi phạm
Trang 20hành chính do tổ chức thực hiện trong lĩnh vực này như: “Hành vi vi phạm quy định về văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam”quy định tại Điều 51 Nghị định 110/2013/ NĐ-CP
Tóm lại, việc nghiên cứu cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là cơ sở để xác định được rõ ràng các dấu hiệu của vi phạm hành chính, phân biệt được vi phạm hành chính với tội phạm trong lĩnh vực này Ngoài
ra, để người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt đúng đắn, bởi nguyên tắc
xử phạt là “Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”
1.1.2 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.1.2.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình
Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính được đề cập lần đầu tiên tại Pháp lệnh năm 1995, sau đó được kế thừa tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008) và hiện nay được khẳng định lần nữa tại khoản 2
Điều 2 Luật XLVPHC 2012, theo đó định nghĩa rằng: “Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính” Đối với xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình một cách cụ thể, vì thế dựa vào định nghĩa chung về xử phạt vi
phạm hành chính ta có thể đưa ra định nghĩa như sau: “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là việc chủ thể có thẩm quyền xử phạt
áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được pháp luật quy định cụ thể”
Trang 211.1.2.2 Đặc điểm về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một dạng của xử phạt vi phạm hành chính nói chung nên có những điểm tương đồng về nguyên tắc, thủ tục, trình tự xử lý Tuy nhiên, xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng có những đặc điểm riêng cơ bản sau:
- Chủ thể có thẩm quyền xử phạt: quy định tại Chương 7 của Nghị định 110/2013/NĐ-CP tại các Điều 66, Điều 67 bao gồm: Chủ Tịch UBND các cấp, Thanh tra viên Tư pháp, Chánh thanh tra sở Tư pháp, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Sở tư pháp, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Tư Pháp, Chánh thanh tra Bộ Tư Pháp Để tránh tình trạng chồng chéo, lạm quyền, pháp luật còn phân định rõ thẩm quyền xử phạt của từng chủ thể, các chủ thể chỉ được xử phạt theo thẩm quyền do pháp luật quy định
- Đối tượng bị xử phạt : cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Đặc biệt, trong trường hợp cá nhân vi phạm thì giữa chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính đó với đối tượng bị xâm hại luôn có mối liên hệ - tình cảm, gia đình
- Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là 30.000.000 đồng, đây là mức phạt tiền tối đa áp dụng cho cá nhân và đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân
- Các biện pháp khắc phục hậu quả về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình so với các vi phạm hành chính khác là ít hơn, chỉ áp dụng đối với một số hành vi vi phạm Các biện pháp đó là: buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi; hủy bỏ giấy tờ giả có được do thực hiện hành
vi vi phạm
Trang 22- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là 1 năm, tính từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện Quá thời hạn này mà người
có thẩm quyền xử phạt chưa tiến hành việc xử phạt thì không được tiến hành xử phạt nữa Quy định này nhằm bảo đảm việc xử phạt kịp thời, nghiêm minh mọi vi phạm hành chính; ràng buộc và đề cao trách nhiệm của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; thể hiện quan điểm nhân đạo, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong trường hợp đã hết thời hiệu xử phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm được miễn trừ trách nhiệm hành chính
1.1.2.3 Mục đích xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình
- Mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa: xuất phát từ chính sách nhân đạo của nhà nước và các yếu tố đặc thù của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình so với các lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính khác nên mục đích của việc xử phạt trong lĩnh vực này chủ yếu nhằm giáo dục để cá nhân,
tổ chức có hành vi vi phạm nhận thức được sai phạm, từ đó hướng đối tượng bị xử phạt đến ý thức tự nguyện sửa chữa, thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật Bởi một vài lý do sau: một bộ phận không nhỏ người dân nhận thức pháp luật còn hạn chế, khách thể bị xâm hại thường là các quan hệ hôn nhân và gia đình (giữa chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính với đối tượng bị xâm hại có mối liên hệ tình cảm, chung sống
gần gũi) và đây là một lĩnh vực khá nhạy cảm
- Mục đích trừng phạt: là thái độ của nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức nhằm buộc họ phải gánh chịu các hậu quả bất lợi do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật của mình Ngoài các hình thức xử phạt cảnh cáo, phạt tiền thì chủ thể có
thẩm quyền còn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
- Mục đích khôi phục lại trật tự: nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu, duy trì định hướng các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình theo
chuẩn mực đã xác định, góp phần giữ vững an ninh xã hội
Trang 231.2 Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.2.1 Sự phát triển của các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình nhằm xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình là một trong những quan điểm chỉ đạo cơ bản của Nhà nước ta khi tiến hành xây dựng Luật Hôn nhân và gia đình Để đạt được mục tiêu nói trên, trong thời gian qua, hệ thống pháp luật nước ta đã có sự vận động tích cực trong việc hình thành hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh
Lịch sử phát triển của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình:
Giai đoạn 1: Các văn bản liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình trong giai đoạn này bao gồm:
- Điều lệ xử phạt vi cảnh (ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977);
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959;
- Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 1989;
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Quá trình áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và 1986 đã đạt được những thành tựu lớn trong việc xoá bỏ các tập tục lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa, góp phần vào sự nghiệp ổn định và phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, bên cạnh
Trang 24đó, cùng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình mở rộng hợp tác, giao lưu quốc tế đã tạo ra những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quan
hệ hôn nhân và gia đình Đó là chủ nghĩa thực dụng, sự coi thường đạo đức, truyền thống đã “xâm hại” vào cuộc sống của nhiều gia đình vì thế những hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình diễn ra ngày càng nhiều với nhiều mức độ, biểu hiện khác nhau.Tuy nhiên, trong hai đạo luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và
1986 thì vấn đề xử lý vi phạm chưa được quy định một cách cụ thể, vấn đề này tồn tại trong suốt một thời gian dài và chỉ dừng lại ở mức độ là quy định mang tính nguyên tắc trong Luật Hôn nhân và gia đình Mặc dù từ năm 1985, một số hành vi
vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình đã được hình sự hoá thành một
số tội danh trong Bộ luật Hình sự năm 1985 nhưng về cơ bản hệ thống pháp luật chưa có khả năng để xử lý đúng mức các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình Do sự khiếm khuyết các chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi
vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực thi Luật Hôn nhân và gia đình ở nước ta Các văn bản hướng dẫn như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, có quy định nhưng còn nhiều thiếu sót, chưa hợp lý và chủ yếu là hướng dẫn xử lý các trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn
Tóm lại, ở giai đoạn này, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình chưa được chú trọng và cũng như chưa có cơ sở, chế tài để xử phạt các trường hợp vi phạm; cụ thể chưa có Nghị định quy định về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này
Giai đoạn 2: Các văn bản liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình trong giai đoạn này bao gồm:
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995;
- Luật Hôn nhân và gia đình 2000;
Trang 25- Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2001 của Chính Phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (sau đây viết tắt là Nghị định số 87/2001/NĐ-CP)
Trong giai đoạn này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời và xử lý vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một trong những chương mới Có thể nói rằng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dự liệu khá đầy đủ các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, từ đó có các chế tài tương ứng cũng thể hiện thái độ nghiêm khắc của nhà nước trong lĩnh vực khá nhạy cảm này Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tại Chương XII gồm có hai điều (Điều 107
và Điều 108) quy định về các biện pháp xử lý (bao gồm hành chính) đối với các hành vi vi phạm đến quan hệ hôn nhân và gia đình Đặc biệt là Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2001 của Chính Phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Có thể nói, đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định một cách cụ thể, đầy đủ nhất về việc xác định các hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt, thủ tục, thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Vì thế, tìm hiểu sơ lược về Nghị định số 87/2001/NĐ-CP nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tìm hiểu cũng như so sánh được với các quy định pháp luật hiện hành; đảm bảo tư duy thống nhất khi nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu sơ lược về Nghị định số 87/2001/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
i Mục đích ra đời:
Việc Chính phủ ban hành Nghị định 87/2001/NĐ-CP là việc tạo lập cơ chế đồng
bộ, hiệu quả đảm bảo xử lý kịp thời, đúng mức các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Mặt khác, cũng là để giải quyết vấn đề bức xúc đặt ra từ thực tiễn thi hành pháp luật về hôn nhân và gia đình nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Trang 26ii Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình:
Nghị định số 87/2001/NĐ-CP quy định cụ thể các hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình có thể bị xử phạt hành chính bao gồm 10 hành vi sau:
- Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn:
- Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ;
- Hành vi vi phạm quy định về các trường hợp cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng;
- Hành vi vi phạm quy định về giám hộ;
- Hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi;
- Hành vi vi phạm quy định về quyền thăm nom con sau khi ly hôn
iii Nguyên tắc đặc thù của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình:
Ngoài việc bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995; thì trong Nghị định số 87/2011/NĐ-CP có hai nguyên tắc:
- Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung;
Trang 27- Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình đối với người vi phạm là đồng bào các dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa cần xem xét đến ảnh hưởng và tác động của phong tục, tập quán để vận dụng cho phù hợp
Lý do tồn tại 2 nguyên tắc trên là vì:
Nguyên tắc 1: Mục đích hàng đầu của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình không nhằm trừng phạt, gây ra hậu quả bất lợi cho chủ thể thực hiện hành vi mà nhằm hướng tới hiệu quả giáo dục, răn đe phòng ngừa chung với mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ Bởi giữa chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính với đối tượng bị xâm hại luôn có mối liên hệ tình cảm, hôn nhân mà đây lại là lĩnh vực nhạy cảm
Nguyên tắc 2: Đại đa số đồng bào thuộc các dân tộc thiểu số đều cư trú chủ
yếu tại địa bàn vùng sâu, vùng xa và trong đời sống của họ luôn gắn liền với những phong tục, tập quán đặc trưng có tính bền vững ăn sâu vào tiềm thức của họ, do đó việc cân nhắc các yếu tố này khi xử phạt hành chính là cần thiết, bảo đảm công bằng xã hội
iv Hình thức xử phạt, mức phạt vi phạm hành chính:
- Hình thức xử phạt chính là: cảnh cáo và phạt tiền
- Hình thức xử phạt bổ sung bao gồm: tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm (tịch thu các giấy tờ giả mạo sử dụng để đăng ký kết hôn); tước quyền sử dụng giấy phép
- Mức phạt tiền tối thiểu là 20.000 đồng; mức phạt tiền tối đa là 5.000.000 đồng
v Chủ thể có thẩm quyền xử phạt: Thuộc thẩm quyền của Chủ Tịch Uỷ ban
nhân dân các cấp (xã, huyện, tỉnh)
Trang 28Giai đoạn 3: Các văn bản liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình trong giai đoạn này bao gồm:
- Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sau đây viết tắt là Pháp lệnh 2002);
- Pháp lệnh năm 2007 sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002;
- Pháp lệnh năm 2008 sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Xử lý vi phạm năm 2000;
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2001 của Chính Phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Trong giai đoạn này, mặc dù có sự ra đời của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và các pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh năm 2002, nhưng cơ bản hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình không có nhiều điểm khác biệt vì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định
số 87/2001/NĐ-CP vẫn có hiệu lực trong giai đoạn này
Giai đoạn 4: Các văn bản liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình trong giai đoạn này bao gồm:
- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;
- Luật Hôn nhân và gia đình 2000;
- Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Trang 29- Nghị định số 67/2015/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp;
Nội dung giai đoạn này sẽ được phân tích tại mục 1.2.2, Pháp luật hiện hành về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.2.2 Pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.2.2.1 Nguyên tắc xử phạt hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính là những tư tưởng có tính chỉ đạo, làm nền tảng cho việc xử lý vi phạm hành chính Các nguyên tắc được nêu ra tại Luật
Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được xem là nguyên tắc khung cho các hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong mọi lĩnh vực quản lý cụ thể Tuy nhiên, bên cạnh các nguyên tắc mang tính khuôn mẫu này thì trong mỗi lĩnh vực cụ thể,
có thể có thêm các nguyên tắc đặc thù riêng biệt điều chỉnh lĩnh vực đó Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nếu trước đây tại Nghị định số 87/2001/NĐ-CP có nêu
ra thêm nguyên tắc đặc thù như đã trình bày trên thì tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP hoàn toàn không nêu ra thêm các nguyên tắc riêng biệt nào để điều chỉnh việc xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Điều này, có thể lý giải bởi các lý do sau:
- Nghị định số 87/2001/NĐ-CP là nghị định
có nội dung cũng như phạm vi điều chỉnh hẹp hơn so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP Bởi Nghị định số 87/2011/NĐ-CP là nghị định chỉ điều chỉnh việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nên việc quy định thêm các nguyên tắc riêng biệt điều chỉnh xuyên suốt cũng dễ dàng và thuận lợi hơn Mặt khác,
Trang 30tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP thì phạm vi điều chỉnh rộng hơn không chỉ là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình mà còn các lĩnh vực khác như bổ trợ tư pháp, hành chính
tư pháp, thi hành án dân sự… Vì thế, việc quy định thêm nguyên tắc điều chỉnh cụ thể từng lĩnh vực sẽ làm cho văn bản pháp luật trở nên rườm rà, gây ra khó khăn, trở ngại trong quá trình thực thi
- Lý do xuất hiện hai nguyên tắc đặc thù điều chỉnh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình tại Nghị định số 87/2001/NĐ-CP là xuất phát từ thực tiễn lúc bấy giờ đòi hỏi phải có sự tồn tại của hai nguyên tắc này (phần này đã được lý giải tại phần ý nghĩa của nguyên tắc); tại thời điểm này, cùng với sự phát triển của xã hội, các quan hệ hôn nhân và gia đình cũng đã
có những chuyển biến Vì thế, tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP không nêu ra thêm nguyên tắc điều chỉnh là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, nhằm đơn giản hóa cơ sở tiến hành xử phạt tạo điều kiện thực thi pháp luật hiệu quả Bên cạnh đó, tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 cũng đã nêu ra đầy đủ các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính
Sau đây là các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Các nguyên tắc này cũng chính là các nguyên tắc mà khi chủ thể
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ khi tiến hành xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
- Nguyên tắc “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây
Trang 31ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”: đây là nguyên tắc chung mang tính chất chỉ đạo
và khi đáp ứng được nguyên tắc này mới nâng cao được hiệu quả của hoạt động xử lý VPHC, đồng thời
đề cao được tính nghiêm minh của pháp luật Vì hành
vi VPHC tuy không phải là tội phạm nhưng hậu quả
mà nó gây ra cho xã hội là đáng kể và có tác động xấu đến hiệu lực quản lý nhà nước Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nguyên tắc này cũng giữ vai trò quan trọng, bởi đây là lĩnh vực nhạy cảm; việc phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm sẽ góp phần giảm thiểu các tác động xấu đến các thành viên trong quan hệ hôn nhân và gia đình
- Nguyên tắc “Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật”: việc đề ra các yêu cầu trên
nhằm hạn chế sự tùy tiện trong xử phạt VPHC của người có thẩm quyền xử phạt VPHC Xử phạt vi phạm hành chính nhanh chóng đòi hỏi việc xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành thủ tục xử phạt với thời gian ngắn nhất trong điều kiện cho phép Điều này có ý nghĩa đảm bảo cao nhất hiệu quả xử phạt, từ
đó thi hành kịp thời các biện pháp xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm, ý nghĩa phòng ngừa giáo dục cũng được nâng cao Xử phạt vi phạm hành chính công khai đòi hỏi người xử phạt phải thông báo đầy đủ, tiến hành đúng các thủ tục theo quy định về yêu cầu có mặt của người bị lập hồ sơ vi phạm và người đại diện theo pháp luật, các thủ tục xác minh,
Trang 32thu thập chứng cứ rõ ràng, đúng quy định… Xử phạt
vi phạm hành chính khách quan đòi hỏi các tài liệu chứng cứ phải đầy đủ, phải được chứng minh toàn diện không kết luận chủ quan… Xử phạt đúng quy định của pháp luật đòi hỏi việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình phải tuân theo các quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình
tự thủ tục, hình thức xử phạt…
- Nguyên tắc “Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức
độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng”:
bởi không phải mọi VPHC đều giống nhau Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền xử phạt cần phải phân tích, làm rõ mức độ, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với từng hành vi vi phạm cụ thể trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Nguyên tắc này đảm bảo tính khách quan, có lý có tình trong việc áp dụng hình thức và mức độ xử phạt cho từng hành vi vi phạm cụ thể sao cho
phù hợp với biểu hiện thực tế khách quan của hành vi đó
- Nguyên tắc “Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”: tức nếu tiến hành xử phạt một hành vi mà không
được pháp luật quy định là hành vi VPHC thì việc xử phạt đó là không có căn cứ
pháp luật, vì cơ sở pháp lý để tiến hành xử phạt VPHC là hành vi VPHC Trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cơ sở để xác định một hành vi vi phạm hành chính,
ta căn cứ vào quy định của pháp luật Điều này cho thấy nếu không có vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì không đặt ra vấn đề xử phạt
- Nguyên tắc “Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính”: tức chỉ khi
người có thẩm quyền xử phạt VPHC chứng minh được có hành vi VPHC thì mới tiến hành xử phạt Như vậy, chứng minh là hoạt động của người có thẩm quyền xử phạt VPHC theo một trình tự do pháp luật quy định để làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc VPHC Nguyên tắc này có ý nghĩa khẳng định nghĩa vụ
Trang 33chứng minh vi phạm thuộc về người có thẩm quyền xử phạt, khi chưa chứng minh được hành vi vi phạm thì chưa thể kết luận bất cứ cá nhân, tổ chức là chủ thể nào
Tại Chương IV của Nghị định số 110/2013/NĐ quy định 5 hành vi được coi là hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình:
- Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn;
- Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn,
vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn;
- Hành vi vi phạm quy định về giám hộ;
- Hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi;
- Hành vi vi phạm quy định về văn phòng nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam
Như vậy, Nghị định số 87/2001/NĐ – CP quy định 10 hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì trong đó có 05 hành vi đã bị bãi bỏ tại Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 của Chính phủ quy định xử
Trang 34phạt vi phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm: hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ; hành vi
vi phạm quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng; hành vi ngược đãi, hành hạ thành viên trong gia đình; hành vi vi phạm quy định về quan hệ giữa cha mẹ và con; hành vi
vi phạm quy định về quyền thăm nom con; trong đó hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn thuộc lĩnh vực hộ tịch nên Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đưa vào Chương III của Nghị định quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực hành chính tư pháp Tức, các hành vi này không còn được xác định là hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nữa mà sẽ được xác định là hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình hoặc hộ tịch
Tóm lại, hầu hết các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình hiện hành là có sự kế thừa các hành vi đã được quy định tại Nghị định số 87/2001/NĐ-CP trong đó có sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số hành vi cụ thể như sau:
Các hành vi được sửa đổi, bổ sung:
- Hành vi “tảo hôn, tổ chức tảo hôn” Hành vi tảo hôn là việc lấy vợ, lấy
chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp
luật Hành vi “tổ chức kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn” đã được sửa đổi thành hành vi “tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn”
Việc sửa đổi hành vi này bao gồm hai nội dung: thứ nhất về hành vi vi phạm, tổ
chức “kết hôn” sửa đổi thành hành vi tổ chức “lấy vợ, lấy chồng” là hoàn toàn
hợp lý, vì chủ thể thực hiện hành vi này thường là cha mẹ, người thân thích và
biểu hiện của hành vi là tổ chức đám cưới; còn hành vi tổ chức “kết hôn” là do
chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật và biểu hiện của hành vi là việc cấp giấy chứng nhận kết hôn; thứ hai về đối tượng vi phạm, được
sửa đổi từ “người chưa đến tuổi” thành “người chưa đủ tuổi” Mục đích sửa
đổi nhằm giúp người có thẩm quyền xác định rõ đối tượng và hành vi vi phạm khi xử lý
Trang 35- Hành vi “cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan
hệ đó” đã được sửa đổi thành “cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó” nhằm xác định rõ hơn độ tuổi của người bị xử phạt
- Hành vi “vi phạm quy định cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, vi phạm quy định về ly hôn”
Một là, hành vi vi phạm quy định cấm kết hôn, pháp luật quy định nếu
nam, nữ thuộc một trong các trường hợp pháp luật cấm thì không được kết hôn Những trường hợp cấm kết hôn bảo đảm cho việc kết hôn đúng pháp luật
và ngăn chặn những hậu quả không tốt xảy ra đối với vợ, chồng, con cái và xã hội; vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng: người đang có vợ hoặc có chồng là người đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân hợp pháp, các bên vợ chồng đều còn sống và chưa ly hôn Nhà nước chỉ thừa nhận chế độ hôn nhân
một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
Hai là, hành vi trên đã sửa đổi, bổ sung như sau: thứ nhất, tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định chỉ cần có hành vi “kết hôn” hoặc “chung sống như vợ chồng” thì sẽ bị xử phạt hành chính mà không bắt buộc phải xác định“chưa gây hậu quả nghiêm trọng” như quy định tại Nghị định số
87/2001/NĐ-CP Việc loại bỏ đi yếu tố xác định hậu quả quy định tại Nghị định số 87/2001/NĐ-CP là một bước tiến bộ trong quá trình xây dựng Nghị định điều chỉnh lĩnh vực này Mục đích nhằm đảm bảo việc xử phạt hành chính được tiến hành kịp thời, nhanh chóng và giảm tải khó khăn cho người
có thẩm quyền xử phạt khi phải chứng minh “chưa gây hậu quả nghiêm trọng” và việc xác định yếu tố này trên thực tế không dễ dàng; Thứ hai, tại
Nghị định 67/2015/NĐ-CP đã sửa đổi tên và bổ sung hành vi này như sau: tên
gọi được sửa đổi thành “hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng”, việc sửa đổi nhằm làm rõ các
hành vi được quy định Bên cạnh đó, các điểm d, điểm đ, điểm e Khoản 1 Điều 48 được sửa đổi theo hướng quy định rõ hơn về hành vi bằng cách thêm
Trang 36dấu hiệu“chung sống như vợ chồng” để xác định Ví dụ, hành vi kết hôn giữa
những người có họ trong phạm vi ba đời, sửa đổi là kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời Tại điểm a Khoản 2 được sửa đổi theo hướng quy định cụ thể hơn về hành vi vi phạm và
bổ sung điểm b Khoản 2 quy định mới về kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ Mục đích của việc sửa đổi, bổ sung hành vi trên nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với diễn biến của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình trên thực tế
- Hành vi “vi phạm quy định về giám hộ” được kế thừa từ Nghị định số
87/2001/NĐ-CP Bên cạnh đó, tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã bổ sung 02 hành vi mới vi phạm quy định về giám hộ là: Lợi dụng việc đăng ký giám hộ để trục lợi; Lợi dụng việc đăng ký giám hộ để xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động
- Hành vi “vi phạm quy định về nuôi con nuôi” Tại Nghị định số
60/2009/NĐ-CP, có 01 mục gồm 02 điều (Điều 40, 41) quy định về hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi Do đó, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã gộp Điều 14 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP và Điều 40, 41 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP thành 02 điều về hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi Trong đó, đã được sửa đổi, bổ sung hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi
và vi phạm quy định về Văn phòng con nuôi nước ngoài: nhóm hành vi vi phạm quy định về thủ tục, giấy tờ đăng ký cho, nhận con nuôi, cấp giấy phép hoạt động của Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam như: sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp; hành vi làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi/giả mạo, hồ sơ, tài liệu để được cấp giấy phép hoạt động trước đây được quy định chung tại một khoản thì tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã được tách ra thành hai khoản khác nhau, hành vi sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi/để được cấp giấy phép hoạt động vào một khoản và hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi/để được cấp giấy phép
Trang 37hoạt động vào một khoản có mức phạt cao hơn để tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi Đối với nhóm hành vi này, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP cũng quy định chỉ cần có hành vi mà không cần phải xác định hậu quả “chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” như Nghị định số 87/2001/NĐ-CP Bên cạnh đó, đã bổ sung 03 hành vi mới vi phạm quy định về nuôi con nuôi, cụ thể: Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật dân số; Lợi dụng việc cho con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng; người thuộc dân tộc thiểu
số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước; Lợi dụng việc nhận con nuôi nhằm bóc lột sức lao động
Các hành vi đã bãi bỏ:
Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã bãi bỏ 01 hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi của cá nhân quy định tại Điều 40 Nghị định số 60/2009/NĐ – CP; 01 hành vi không còn phù hợp quy định tại Điều 8 Nghị định số 87/2001/ NĐ – CP;
03 hành vi vi phạm quy định về Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam quy
CP đã được mở rộng hơn không chỉ bao gồm thẩm quyền của Chủ Tịch Ủy ban nhân dân các cấp mà còn có sự xuất hiện của các chủ thể khác như của cơ quan thanh tra Tư pháp Việc mở rộng thẩm quyền xử phạt này là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, nhằm đảm bảo thực hiện đúng tinh thần của nguyên tắc
7 Xem : Trần Thị Hiền (2011), “Hoàn thiện pháp luật về hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp
chí luật học (số11/2011)