1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển dụng công chức cấp xã (qua thực tiễn tỉnh bình định)

95 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công chức cấp cơ sở là những người gần dân nhất, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, công chức cấp cơ sở chính là những người trực tiếp truyền tải pháp luật đến với nhân dân thôn

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian bốn năm học tập, nghiên cứu và tích lũy kiến thức dưới mái trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, cùng với sự hướng dẫn tận tình của các

thầy giáo, cô giáo, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật “Tuyển dụng công chức cấp xã (qua thực tiễn tỉnh Bình Định)” đã được hoàn thành

Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo; đặc biệt là ThS Nguyễn Thị Nhàn, giảng viên Khoa Luật Hành chính – Nhà nước đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian qua

Xin trân trọng cảm ơn các cán bộ, công chức tại các Phòng Nội vụ huyện Tây Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, thị xã An Nhơn, thành phố Quy Nhơn; các cán bộ công chức

xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tác giả thu thập tài liệu, nghiên cứu nghiệp vụ và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Bên cạnh đó, tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp

đỡ, ủng hộ bản thân tác giả trong suốt khoảng thời gian hoàn thành khóa luận này nói riêng, cũng như cả chặng đường dài bốn năm ở giảng đường đại học nói chung

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận “Tuyển dụng công chức cấp xã (qua thực tiễn tỉnh Bình Định)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn

khoa học của ThS Nguyễn Thị Nhàn Khóa luận này có sự kế thừa các tư tưởng, kết quả nghiên cứu của những người đi trước Khóa luận đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về hình thức Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được tác giả thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu kham thảo Những thông tin, số liệu mang tính chất cá nhân đã được trích dẫn,

sử dụng chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và học tập, ngoài ra không sử dụng vào mục đích khác

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những nội dung cam đoan trên đây

TÁC GIẢ

LÊ NGỌC TUẤN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 6

1.1 Khái quát về tuyển dụng công chức cấp xã 6

1.1.1 Khái niệm, phạm vi, vai trò công chức cấp xã 6

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của đội ngũ công chức cấp xã 13

1.1.3 Khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã 14

1.1.4 Ý nghĩa, vai trò của việc tuyển dụng công chức cấp xã 16

1.2 Quy định pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã qua các giai đoạn 17

1.2.1 Giai đoạn 1945 – 1954 18

1.2.2 Giai đoạn 1954 – 1975 20

1.2.3 Giai đoạn 1975 – 2003 22

1.2.4 Giai đoạn 2003 – 2010 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ (QUA THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH) 28

2.1 Thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã 28

2.1.1 Quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương về tuyển dụng công chức cấp xã 28

2.1.2 Quy định của các cơ quan nhà nước ở tỉnh Bình Định về tuyển dụng công chức cấp xã 36

2.2 Thực trạng công tác tuyển dụng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Bình Định 44 2.2.1 Thực trạng về thực hiện điều kiện, tiêu chuẩn dự tuyển các chức danh công chức cấp xã 46

2.2.2 Thực trạng về thực hiện thi tuyển và xét tuyển các chức danh công chức cấp xã 49

2.2.3 Thực trạng về thực hiện ưu tiên trong tuyển dụng và tuyển dụng không qua thi tuyển các chức danh công chức cấp xã 55

2.2.4 Thực trạng về thực hiện trình tự, thủ tục tuyển dụng các chức danh công chức cấp xã 59

Trang 4

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 66

3.1 Phương hướng đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng công chức

xã, phường, thị trấn 66

3.1.1 Cơ sở xác định phương hướng đổi mới và nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn 66 3.1.2 Phương hướng đổi mới và nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức cấp xã

KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điều 110 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã thể hiện rằng xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính nhỏ nhất trong hệ thống các đơn

vị hành chính ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”1

Cấp xã ổn định thì an ninh, chính trị, xã hội của đất nước ổn định Cấp xã là nơi nhân dân cư trú, sinh sống; chính quyền cấp xã, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức Đoàn thể chính trị - xã hội là cầu nối trực tiếp toàn bộ hệ thống chính trị với dân, là nơi tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân, khai thác mọi tiềm năng ở địa phương để phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư

Chính quyền cấp xã là nền tảng của toàn bộ hệ thống chính quyền, là cấp gần dân nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các mặt ở địa phương, đảm bảo cho chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống Tuy nhiên, chính quyền cấp xã sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả nếu thiếu một đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có đủ trình độ để đảm nhận công việc được giao Công chức cấp cơ sở

là những người gần dân nhất, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, công chức cấp cơ sở chính là những người trực tiếp truyền tải pháp luật đến với nhân dân thông qua giải quyết các công việc liên quan tới quyền và lợi ích của nhân dân, đồng thời cũng là người thấu hiểu nhất những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, những vướng mắc bất cập của chính sách, pháp luật khi áp dụng chúng trong thực tế

Chính vì đội ngũ công chức cấp xã có vai trò quan trọng như vậy, nên việc tuyển dụng đội ngũ công chức cấp xã với nền tảng vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Đây cũng là một trong những nội dung rất quan trọng của công tác cán bộ Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống chính trị và đội ngũ

1 Hồ Chí Minh (1995), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, nhà xuất bản (NXB) Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.371

Trang 7

công chức cấp xã đối với sự nghiệp CNH - HĐH phát triển đất nước: "Đầu tư xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầng sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu tư cho hạ tầng cơ sở trong công tác cán bộ"2 Do vậy, nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức cấp xã là một yêu cầu cấp thiết nhằm góp phần xây dựng đội ngũ công chức cấp xã trong sạch, vững mạnh, đủ khả năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

cá nhân, tổ chức để thực hiện trọng trách là "công bộc" của nhân dân

Thực tiễn nước ta nói chung và địa bàn tỉnh Bình Định - một tỉnh nằm trong vùng kinh tế Duyên hải Nam Trung Bộ với hơn 1,5197 triệu dân3 - nói riêng, cho thấy chất lượng cán bộ, công chức vẫn còn thiếu và yếu, đặc biệt là đội ngũ công chức cấp

cơ sở (xã, phường, thị trấn) Một trong những nguyên nhân quan trọng chính là khâu tuyển dụng còn những hạn chế bất cập, như cơ sở pháp lý chưa thật đầy đủ, cụ thể việc

tổ chức thực hiện trong thực tế những quy định về tuyển dụng chưa thật sự hiệu quả

Vì vậy, việc nghiên cứu về vấn đề tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn là một yêu cầu tất yếu, cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Nên với mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như áp dụng pháp luật một cách hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao chất lượng của công tác tuyển dụng công chức xã,

phường, thị trấn, tác giả quyết định chọn đề tài “Tuyển dụng công chức cấp xã (qua thực tiễn tỉnh Bình Định)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cho bản thân mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Là các vấn đề về tuyển dụng công chức cấp xã, bao gồm:

- Những vấn đề lý luận về tuyển dụng công chức cấp xã;

- Những quy định pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã (của Trung ương

và tỉnh Bình Định);

- Thực trạng công tác tuyển dụng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Bình Định

ở các khía cạnh về điều kiện dự tuyển, phương thức tuyển dụng, ưu tiên trong tuyển dụng, tuyển dụng không qua thi tuyển và trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn

Trang 8

xã, thông qua các tài liệu trong và ngoài nước, các quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này Bên cạnh đó, khóa luận này sẽ nghiên cứu các quy định về tuyển dụng công chức cấp xã của các cơ quan ở trung ương từ năm 1945 đến nay Đồng thời cũng tiến hành nghiên cứu quy định về tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bình Định và một số địa phương để tiến hành so sánh Cuối cùng là nghiên cứu thực trạng tuyển dụng công chức cấp xã thông qua các đợt tuyển dụng của một số huyện đã tổ chức tuyển dụng trên địa bàn tỉnh Bình Định từ năm

2014, thời điểm Quy chế tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bình Định có hiệu lực

Khóa luận này hướng tới những mục đích sau:

- Thứ nhất, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và pháp lý của tuyển dụng công chức cấp xã;

- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng tuyển dụng công chức cấp xã tại tỉnh Bình Định, trình bày và lý giải những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động tuyển dụng công chức cấp xã;

- Cuối cùng, trên cơ sở tổng kết lý luận và thực trạng, khóa luận đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động tuyển dụng công chức cấp xã

4 Tình hình nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả nhận thấy đối với vấn đề tuyển dụng công chức hoặc vấn đề công chức cấp xã đã được nhiều chuyên gia, nhà khoa học, người làm thực tiễn cũng đã nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều góc độ và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như sách, các công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học, Cụ thể:

- Nguyễn Minh Sản (2009),“Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, ở Việt Nam hiện nay”, nhà xuất bản (NXB) Chính trị - Hành chính, Hà Nội;

- Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2005), “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội;

- Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay”

của Tạ Đức Hòa, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015;

- Luận văn thạc sĩ“Vấn đề tuyển dụng công chức ở nước ta” của Phạm Thị

Thảo Duyên, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016

Trang 9

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn lại không nhiều, chỉ có thể liệt kê một số công trình như sau:

- Luận văn thạc sĩ “Tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức cấp xã (Từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh)” của Trần Thị Mai Lý, Đại học Luật Thành phố Hồ

Chí Minh, năm 2011;

- Khóa luận tốt nghiệp “Tuyển dụng công chức cấp xã: Từ thực tiễn Tp

Hồ Chí Minh” của Nguyễn Duy Anh Thư, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm

2006;

- Khóa luận tốt nghiệp “Tuyển dụng và đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp

xã Thực trạng và kiến nghị (Từ thực tiễn tỉnh Bình Thuận)” của Nguyễn Quốc Thắng,

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005

Các công trình nghiên cứu nói trên, phần nào đã có sự tập trung nghiên cứu cơ

sở lý luận, thực tiễn công tác tuyển dụng công chức cấp xã, cũng như các vướng mắc, bất cập trong công tác tuyển dụng Tuy nhiên, các công trình này có phạm vi nghiên cứu khá rộng không đơn thuần chỉ nghiên cứu chuyên biệt về tuyển dụng công chức cấp xã, nên nội dung nghiên cứu về tuyển dụng công chức cấp xã không sâu, chưa phản ánh được toàn diện vấn đề Bên cạnh đó, các đề tài này lại được nghiên cứu dưới góc nhìn của các pháp luật giai đoạn trước nên không thể nào phản ánh một cách đúng

và đầy đủ về vấn đề tuyển dụng công chức cấp xã ở thời điểm hiện tại Hơn nữa, theo tìm hiểu của tác giả chưa có bất cứ công trình nào có sự nghiên cứu, phân tích về thực trạng tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bình Định Chính vì vậy, dựa trên mục đích và phạm vi nghiên cứu về đề tài đã đưa ra có thể khẳng định vấn đề mà khóa luận này sẽ tiến hành nghiên cứu không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã công bố

5 Ý nghĩa của khóa luận

Khóa luận hệ thống hóa lý luận về tuyển dụng CBCC cấp xã Đánh giá thực trạng công tác tuyển dụng công chức cấp xã ở tỉnh Bình Định Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức cấp xã Do vậy, kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ vừa trở thành một nguồn thông tin tham khảo hữu ích để áp dụng trong công tác tuyển dụng công chức cấp xã và sẽ là tư liệu tham khảo để phục vụ cho việc nghiên cứu về vấn đề này trong tương lai

Trang 10

Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ và những quan điểm của Đảng về vấn

đề này Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, đồng thời khóa luận

còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp lịch sử: Xem xét pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã qua từng giai đoạn, từng quá trình Từ đó tìm ra quy luật của sự phát triển cũng như ý nghĩa, vai trò của công tác tuyển dụng công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Khóa luận kế thừa, tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan về tuyển dụng công chức cấp xã Tuy nhiên đây không phải là sự sao chép vì đã có những trích dẫn cụ thể, trung thực Bên cạnh đó, khóa luận còn có sự sắp xếp theo kết cấu khác theo góc nhìn của tác giả

Phương pháp thống kê: Từ những kết quả thống kê về thực trạng tuyển dụng công chức cấp xã ở tỉnh Bình Định để đưa ra những giải pháp hợp lý

7 Kết cấu của khóa luận

Khóa luận tốt nghiệp này gồm nhiều phần bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu và danh mục các chữ viết tắt Trong đó, phần nội dung của khóa luận sẽ được được trình bày thành

03 chương, với nội dụng từng chương cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về tuyển dụng công chức cấp xã; Chương 2: Thực trạng tuyển dụng công chức cấp xã (qua thực tiễn tỉnh Bình Định);

Chương 3: Một số kiến nghị đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng công chức cấp xã

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG

CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Khái quát về tuyển dụng công chức cấp xã

1.1.1 Khái niệm, phạm vi, vai trò công chức cấp xã

1.1.1.1 Khái niệm, phạm vi công chức cấp xã

Trong lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ, có thể thấy bất cứ Nhà nước nào đều cần xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những người có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình trước nhân dân

Khái niệm công chức đã, đang và sẽ luôn tồn tại cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước, nhưng quan điểm thế nào là công chức thì còn tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau Như nền công vụ truyền thống Pháp, tại Điều 2 Chương II Quy chế chung

về công chức Nhà nước của Pháp năm 1994 xác định: “Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc các công sở Nhà nước” 4 Trong những năm gần đây, một khái niệm

khác được thừa nhận là: “Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công” 5 Theo cách hiểu này, công chức Pháp gồm 3 loại: Công chức hành chính Nhà nước, công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ và công chức trực thuộc các công sở tự quản Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính Ở Mỹ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính Đối với quan hệ giữa Chính phủ và công chức, bên cạnh việc được điều chỉnh theo Luật hành chính còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự Mặc dù các khái niệm công chức ở các quốc gia này có

sự khác nhau, tuy nhiên khái niệm công chức đều mang một số đặc điểm sau: là công

Trang 12

dân nước đó, được tuyển dụng giữ một công việc thường xuyên trong cơ quan hành chính Nhà nước, được bổ nhiệm vào một ngạch nhất định, làm việc trong công sở, chỉ được làm những gì pháp luật cho phép và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước

Ở nước ta, khái niệm công chức trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện được định nghĩa trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sau đây viết tắt là Luật CB, CC năm

2008) “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức

vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” 6

Khái niệm này tương đối hoàn thiện, qua đó có thể nhìn nhận khái niệm công chức với một số đặc trưng sau7: Về phương thức trở thành công chức, công chức là những người được tuyển dụng vào biên chế, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ; về tính chất công việc, công chức làm việc thường xuyên theo chuyên môn nghiệp vụ; về nơi làm việc, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội nhưng chỉ từ cấp huyện trở lên, hoặc trong

cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân và công an nhân dân, ngoài ra có thêm những người làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập Dù phạm

vi của khái niệm công chức rộng hay hẹp, thì tầm quan trọng của lực lượng công chức đối với sự phát triển của nền công vụ nói riêng và của cả đất nước nói chung là không thể phủ nhận

Ở Việt Nam hiện nay, công chức được phân định theo cấp hành chính Ngoài công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện còn có một bộ phân công chức ở cấp xã Năm 2003, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 ban hành, trong đó tại điểm h khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh này, quy định

6 Xem khoản 2 Điều 4, Luật CBCC 2008

7 Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình luật hành chính Việt Nam, NXB Đại học quốc gia,

Tp Hồ Chí Minh, tr.294

Trang 13

“Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc

Uỷ ban nhân dân cấp xã” là cán bộ, công chức Đây là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận các chức danh chuyên môn thuộc UBND cấp xã là công chức và sau đó Nghị định 114/2003/NĐ-CP được ban hành để hướng dẫn cụ thể đối với đội ngũ này

Việc điều chỉnh pháp luật đối với công chức xã là một bước đột phá, thể hiện sự thay đổi nhận thức có tính căn bản của các cơ quan Nhà nước ở nước ta trong tiến trình cải cách nền hành chính Nhà nước “Việc luật hóa cán bộ, công chức cấp xã có tác động rất lớn đến hệ thống chính quyền cơ sở, tạo ổn định về mặt chính trị đối với cấp

xã, đồng thời khắc phục tình trạng phình biên chế cơ sở cấp xã hiện nay”8 Đây là lần đầu tiên công chức cấp xã có chế độ làm việc và hưởng lương như cán bộ, công chức Nhà nước Nhiều quốc gia trên thế giới cho rằng những người làm việc tại các cơ quan địa phương không gọi là công chức Nhà nước mà gọi là công chức địa phương nhưng địa vị pháp lý của họ tương đương như công chức làm việc tại các cơ quan Nhà nước ở trung ương Quan niệm trên bắt nguồn từ việc không coi các cơ quan ở địa phương là

cơ quan Nhà nước, mà đó chỉ là cơ quan tự quản cộng đồng9

Ở nước ta, các cơ quan thuộc đơn vị hành chính cấp xã như UBND đều là cơ quan Nhà nước Vì vậy, pháp luật khẳng định công chức cấp xã là công chức Nhà nước

là hợp lý Tuy nhiên, do tính chất hoạt động của công chức cấp xã nên Nhà nước cần phải có các quy định riêng về chính sách, chế độ tiền lương, hưu trí và một số vấn đề khác có liên quan Luật CBCC dành một chương riêng quy định về CBCC cấp xã

Theo đó, Luật CBCC quy định Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ, thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Những người được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ, thuộc UBND cấp xã gồm các chức danh như sau: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng

và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội10 Luật CBCC cũng phân định rõ công chức cấp xã với cán bộ cấp xã, là công dân Việt

Trang 14

Nam được bầu cử giữ các chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội

Cán bộ, công chức cấp xã giống nhau ở dấu hiệu đều là công dân Việt Nam, được giao giữ một công vụ thường xuyên, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Tuy nhiên công chức cấp xã và cán bộ cấp xã khác nhau ở một số điểm sau: Công chức cấp xã chỉ có trong cơ quan hành chính ở cấp xã là UBND, còn cán bộ cấp xã có cả trong các cơ quan Đảng, HĐND, UBND và các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã; công chức được giao giữ một chức danh mang tính chuyên môn, nghiệp vụ nên ổn định hơn so với cán bộ cấp xã gắn với cơ chế bầu cử

1.1.1.2 Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã

Ngay từ ngày đầu xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và

đặc biệt coi trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở Tháng 10/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” Trong đó

khẳng định “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Đó là một chân lý nhất định Cán bộ là cái gốc của mọi việc” Ngày 08/5/1950 tại hội nghị toàn quốc về công tác huấn luyện và học tập, bác lại nhắc nhở “cán bộ là tiền vốn của đoàn thể Có vốn mới làm ra lãi Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc tức lỗ vốn” Bên cạnh đó, thực tế

cho thấy muốn giữ vững và phát huy được vai trò quan trọng của chính quyền cơ sở, vấn đề có ý nghĩa quan trọng là phải xây dựng thành công một đội ngũ công chức có phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ ở cơ sở Vì vậy nhận thức khách quan, khoa học về vai trò của công chức, về chức năng, nhiệm vụ đặc thù của họ, để dựa trên cơ sở đó, có kế hoạch xây dựng đội ngũ này đang trở thành một yêu cầu quan trọng, một nhiệm vụ cấp bách của công tác cán bộ trong thời kỳ đổi mới

Xuất phát từ nền tảng của chế độ và yêu cầu đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay, công chức cấp xã có những vai trò sau đây:

Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân

Đội ngũ công chức cấp xã đều trưởng thành từ thực tiễn sản xuất và trực tiếp gắn bó với đời sống của nhân dân ở địa phương Họ có mối liên hệ mật thiết, thường xuyên với quần chúng nhân dân, trực tiếp giải quyết mọi tình huống phát sinh ở cơ sở Hơn ai hết, họ là những người am hiểu đặc điểm tình hình địa phương, thấu hiểu những mong muốn, tâm tư, nguyện vọng của người dân một cách nhanh nhất, chính xác nhất

“Các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống Hệ

Trang 15

thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư”11 Công chức cấp xã là những người trực tiếp truyền tải các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành Thông qua việc nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối và chính sách, pháp luật, công chức cơ sở là những người phát hiện ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót của các chính sách khi triển khai trong thực tế đời sống, đồng thời là kênh để chuyển tải những mong muốn, nguyện vọng của nhân dân lên với Đảng, Nhà nước để từ đó Đảng và Nhà nước có sự điều chỉnh, bổ sung cho đúng, phù hợp với thực tiễn, thuận với lòng dân

Trong hoạt động thi hành nhiệm vụ công vụ, công chức cơ sở là những người trực tiếp tổ chức thực hiện và góp phần quyết định sự thành bại của đường lối và nhiệm

vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong thực tiễn đời sống “Xây dựng đội ngũ cán bộ

ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” Chủ trương, đường lối

của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có được thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không một phần quyết định là ở cấp xã Công chức cấp xã luôn phát huy những vai trò của mình trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước, của các địa phương; trực tiếp với quần chúng, tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp xã xét đến cùng chính là được quyết định bởi phẩm chất và năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức cấp xã

Vai trò trong quản lí và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở

Công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lí và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm lợi ích của nhân dân địa phương Tùy theo vị trí, chức danh của mình, mỗi công chức cấp xã sẽ đảm nhận và thực hiện những nhiệm vụ nhất định, chẳng hạn: Công chức Trưởng Công an xã sẽ có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo chính quyền xã và có nhiệm vụ bảo đảm, quản lí về tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã, công chức văn hóa xã hội sẽ đảm nhận

11 Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX

về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn.

Trang 16

các hoạt động để quản lí và phát triển lĩnh vực văn hóa - xã hội ở địa phương, Việc thực thi công vụ của họ có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo

vệ các quyền tự do, dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua việc xử lý, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật kịp thời, hiệu quả, góp phần ổn định tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội tại từng địa bàn thôn, xóm

Để thực hiện tốt vai trò này đòi hỏi đội ngũ công chức cấp xã phải có khả năng

tổ chức, sử dụng, tập hợp mọi người cùng tham gia hoạt động; phải có khả năng xử lý các tình huống phát sinh ở cơ sở, đó là các tình huống về tài chính, ví dụ: giải tỏa, đền

bù đất đai; các tình huống về thiên tai, địch họa; về xử lí vi phạm pháp luật, những va chạm xóm giềng, dòng tộc hay những tình huống nảy sinh khi ra những quyết định sai trái với cấp trên… Đồng thời cán bộ công chức phải có khả năng kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình, của đồng nghiệp và khả năng tổng kết việc tổ chức thực hiện các

chủ trương, chính sách để góp phần quản lí và tổ chức công việc của chính quyền cơ

Vai trò trong xây dựng, hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ

Trong xây dựng bộ máy của chính quyền cơ sở, việc bố trí, sắp xếp công chức sao cho cơ cấu tổ chức của chính quyền trở nên khoa học, tinh gọn, hợp lý, phân công đúng người, đúng việc, không có sự cồng kềnh, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các bộ phận, phòng ban là hết sức quan trọng Tổ chức bộ máy ở cơ

sở vững mạnh là nền tảng, tiền đề để phát huy năng lực của đội ngũ công chức đồng thời góp phần kiện toàn và hoàn thiện tổ chức bộ máy Nhà nước

Công chức có vai trò quan trọng đối với cơ quan tổ chức Công chức là thành viên, phần tử cấu thành bộ máy Công chức có sự quan hệ mật thiết với tổ chức và

12 Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX

về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn

Trang 17

quyết định mọi sự hoạt động của tổ chức Hiệu quả hoạt động của tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán bộ Công chức tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng, cán bộ, công chức kém sẽ làm cho bộ máy tê liệt “cán bộ là dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt”13 Bên cạnh đó, trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động thực thi nhiệm vụ công vụ, đội ngũ công chức cấp xã đóng vai trò là lực lượng tham mưu về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý các lĩnh vực cho UBND cấp xã, để UBND có thể quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi rộng đảm bảo hiệu quả, đúng pháp luật Do đó, khi xây dựng pháp luật về công chức cấp xã cần xác định được lĩnh vực quản lý nào cần đến công chức cấp xã tham mưu UBND xã mới quản lý được hiệu quả để xác định số lượng và chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã

Vai trò trong việc triển khai thi hành các quyết định, mệnh lệnh của UBND, Chủ tịch UBND

Theo Điều 114 Hiến pháp 2013 UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên

Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND có chức năng quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương từ kinh tế, văn hóa, giáo dục, y

tế đến an ninh quốc phòng Bên cạnh đó, UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao Chính vì vậy, để thực hiện những công việc thuộc nội dung quản lý của mình, UBND, Chủ tịch UBND đòi hỏi phải thường xuyên ban hành các quyết định, mệnh lệnh Để các mệnh lệnh, quyết định này được triển khai vào thực tế đời sống xã hội thì đội ngũ công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng, điều này đã được Lenin khẳng định “Nghiên cứu con người, tìm ra những cán bộ có bản lĩnh Hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh, quyết định chỉ là mớ giấy lộn”14 Công chức cấp xã là những người trực tiếp thực hiện các quyết định, mệnh lệnh trong hoạt động quản lý, hiện thực hóa các quyết định, mệnh lệnh đã được ban hành Do đó, đội ngũ công chức cấp xã cần phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như tinh thần trách nhiệm Khẳng định lại một lần nữa, đội ngũ công chức cấp xã là lực lượng có vai trò quan trọng trong việc triển khai, đưa các mệnh

13 Hồ Chí Minh (2000), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.54

14 V.I.Lenin (1974), V.I.Lenin toàn tập, tập 44, NXB Tiến Bộ, Matxcova, tr.449

Trang 18

lệnh, quyết định, chỉ thị về quản lý các lĩnh vực của UBND cấp xã để đảm bảo hiệu quả, đúng pháp luật

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của đội ngũ công chức cấp xã

Từ khi thành lập đến nay, song song với quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước ta cũng từng bước xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật

về CBCC nói chung, công chức cấp xã nói riêng, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động công

vụ của đội ngũ công chức xã, phường, thị trấn

Trong hoàn cảnh vừa kháng chiến chống thực dân Pháp vừa xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng và Nhà nước ta vẫn không quên nhiệm vụ quan trọng là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Trong giai đoạn này, nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh về đội ngũ công chức được ban hành như Nghị định 97 NV-2 của Bộ Nội vụ ngày 14/3/1950 về Quy chế thi tuyển ngạch cán sự, Nghị định 98 NV-2 về Quy chế thi tuyển ngạch tham sự hành chính, Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về quy chế công chức, Tuy nhiên, pháp luật về công chức chỉ điều chỉnh đối với CBCC từ cấp huyện trở lên mà chưa hề đề cập đến CBCC cấp xã

Khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, ngày 20/6/1975 Chính phủ ban hành Quyết định 130/CP về trợ cấp đối với cán bộ ở xã, phường, thị trấn và được bổ sung bằng Nghị định 111/HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng Theo đó, cán bộ cấp xã được phân loại thành cán bộ chuyên trách và cán bộ nửa chuyên trách, được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng Qua đó cho thấy, đội ngũ cán bộ cấp xã đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Song, cán bộ xã, phường, thị trấn trong giai đoạn này vẫn chưa được xếp vào ngạch công chức

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI đề ra công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã tác động và tạo bước chuyển mạnh mẽ về đời sống xã hội của đất nước, trong đó có vấn đề công vụ và công chức Ngày 06/3/1998, Pháp lệnh CBCC được ban hành đánh dấu bước chuyển quan trọng về thể chế công vụ

và công chức ở nước ta Theo đó Pháp lệnh không điều chỉnh đối với công chức cấp xã

mà Chính phủ quy định sẽ quy định cụ thể việc áp dụng Pháp lệnh này đối với cán bộ

xã, phường, thị trấn Họ không được hưởng chế độ như đối với công chức mà chỉ được hưởng sinh hoạt phí theo quy định tại Nghị định 06/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998, Thông tư liên tịch 54/1999/TTLT-BTCCBC-TC ngày 29/12/1999 Mức sinh hoạt phí này không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của cán bộ cấp xã dẫn đến hiện tượng tham

Trang 19

ô, quan liêu, sách nhiễu dân, tác động xấu đến nhận thức của xã hội đối với đội ngũ cán

bộ cấp xã

Với chủ trương nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, chất lượng của đội ngũ CBCC cấp xã, Pháp lệnh CBCC sửa đổi bổ sung năm 2003 chính thức thừa nhận những người giữ các chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã là công chức Pháp lệnh này cùng với Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về CBCC

xã, phường, thị trấn, Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 về chế độ chính sách của CBCC cấp xã, Quyết định 04/2004/QĐ-BNV về tiêu chuẩn của CBCC cấp xã

đã tạo bước đột phá quan trọng trong chế độ công chức ở Việt Nam, từng bước chuẩn hóa đội ngũ công chức cơ sở, cải thiện đời sống vật chất tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động công vụ

1.1.3 Khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã

Tuyển dụng là một nội dung quan trọng trong thể chế công vụ, đây là bước khởi đầu cho con đường nghề nghiệp của một con người, đồng thời có ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng thực thi nhiệm vụ công vụ Tuyển dụng là một quá trình bao gồm tổng thể các hoạt động nhằm bổ sung những người đủ năng lực cho những vị trí còn thiếu trong hệ thống

Ngay từ thời phong kiến, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã rất đề cao nhân tài, chú trọng khâu tuyển dụng nhân tài, bởi “xem xét cái mực hơn kém của nhân vật, quan hệ đến cơ an nguy của nước nhà” Từ góc độ hành chính hiện đại, nếu gạt bỏ những yếu tố giai cấp, đẳng cấp trong tuyển chọn quan lại của chế độ phong kiến thì những tư tưởng, quan niệm đó vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay Về mặt nhận thức, thì ở thời nào, phẩm chất của người làm quan cũng đều phải có điểm chung

đó là lòng trung thành với Tổ quốc, thương dân, tận tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Phẩm hạnh đó vượt qua thời gian và không gian, qua những biến cố thăng trầm của lịch sử lưu truyền cho đến ngày nay Tuyển dụng quan lại thời xưa hay tuyển dụng công chức thời nay thực chất đều là nhằm chọn ra những con người có năng lực chuyên môn nghề nghiệp, biết phục vụ, phụng sự cho sự nghiệp chung, biết giao tiếp với con người, vì con người

Các triều đại phong kiến trước đây đã áp dụng nhiều hình thức để kén chọn nhân tài ra phò vua, giúp nước: nhà vua đích thân đi tìm những người hiền tài về cộng tác để trị nước; bằng con đường tự tiến cử hoặc cầu hiền; bằng con đường khoa cử (đây là hình thức phổ biến nhất) Hình thức khoa cử được chính thức áp dụng bắt đầu từ thời

Trang 20

Lý thế kỷ XI Đến thời Lê Thánh Tông thì khoa cử được đề cao Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử khoa cử phong kiến Việt Nam Từ triều Minh Mạng trở

đi, khoa cử được đặc biệt chú trọng và dần được nâng lên thành phương thức chính thống trong toàn quốc để chọn nhân tài Những người đỗ đạt được nhà vua trọng dụng theo khả năng thực tế của từng người, người có học vị cao thì được phân bổ ngay, nhận chức ngay và được làm quan tại triều đình, nếu thi đỗ với học vị thấp hơn thì được làm quan ở phủ, huyện

Quan niệm của chúng ta về công tác tuyển dụng công chức là xuất phát từ hoàn cảnh Việt Nam, từ bản chất nhà nước, bản chất chế độ, định ra được những chế định pháp luật tuyển dụng có giá trị pháp lý cao để đảm bảo tính khoa học, tính dân chủ trong tuyển dụng, tuyển dụng được những người công chức xứng đáng cho nền công

vụ của nhà nước pháp quyền để xây dựng và bảo vệ đất nước Khái niệm và nội dung tuyển dụng công chức ở nước ta qua các thời kỳ có nhiều điểm khác nhau nhưng nếu nhìn nhận một cách khái quát có thể thấy tuyển dụng là quá trình bao gồm các hoạt động chủ yếu như sau:

- Hoạt động tuyển: xác định yêu cầu về chất lượng và số lượng đối với vị trí cần tuyển, thu hút các ứng viên tham gia dự tuyển

- Hoạt động chọn: lựa chọn những ứng viên phù hợp nhất, thử việc, tiếp nhận (bổ nhiệm vào ngạch hoặc loại)15

Những hoạt động này liên quan chặt chẽ với nhau, hoạt động này dựa trên cơ sở hoạt động kia và là nền tảng cho các hoạt động khác, tất cả đều nhắm đến một mục đích chung là tuyển chọn được những người phù hợp để sử dụng vào vị trí còn thiếu trong bộ máy nhà nước

Bên cạnh đó, cũng tồn tại những quan điểm về tuyển dụng công chức như:

“Tuyển dụng công chức nhà nước là một hoạt động diễn ra một cách thường xuyên theo quy định của pháp luật, theo đó, Nhà nước chọn lựa một số người đủ tiêu chuẩn, năng lực và phẩm chất vào những vị trí nhất định của guồng máy hành chính Nhà nước Tuyển dụng diễn ra bằng hình thức thi cử công khai theo Chính phủ quy định”16hay “Tuyển dụng công chức vào công sở là một hành vi lựa chọn và chấp nhận một

15 Khoa Luật Hành chính– Nhà nước ( 2006), Pháp luật cán bộ, công chức- thực trạng và đổi mới, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, tr.8

16 Tô Tử Hạ (1998), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, NXB CTQG,

Hà Nội, tr.87

Trang 21

người tự nguyện gia nhập vào công vụ, sau khi xác nhận người đó có đủ tiêu chuẩn và điều kiện cho một công vụ nhất định trong bộ máy Nhà nước”17

Các văn bản pháp luật trước đây cũng đưa ra những quy phạm định nghĩa Trong đó Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, tại khoản 5 Điều 3 “Tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển” Như vậy, về mặt lý luận cũng như pháp

lý, khái niệm tuyển dụng công chức hiện nay được hiểu tương đối thống nhất

Mặc dù, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ quy định về công chức xã, phường, thị trấn cũng như Thông tư số 06/2012/TT-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2012 Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn không đưa ra khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã Tuy nhiên, căn cứ vào lý luận về tuyển dụng công chức và khái niệm công chức cấp xã đã được trình bày ở trên, bên cạnh đó, tác giả cũng dựa trên tinh thần của các văn bản pháp luật hiện hành, có thể rút

ra khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã như sau:

Tuyển dụng công chức cấp xã là việc tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn vào các chức danh chuyên môn nghiệp vụ, làm việc trong biên chế của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật

1.1.4 Ý nghĩa, vai trò của việc tuyển dụng công chức cấp xã

Xuất phát từ vai trò của công chức theo yêu cầu đổi mới, việc tuyển dụng công chức cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng đối với công cuộc cải cách hành chính và sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hiện nay

Đối với Nhà nước, tuyển dụng là khâu đầu tiên của chu trình quản trị nhân sự,

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng công chức sau này, bởi vì nó ảnh hưởng quyết định đến tình trạng nhân lực của UBND xã, phường, thị trấn Hoạt động tuyển dụng tốt thì tổ chức sử dụng nhân lực sẽ có một đội ngũ công chức cấp xã có trình độ, kinh nghiệm để giúp tổ chức duy trì và phát triển tốt, có tính cạnh tranh cao Đầu tiên, hoạt động tuyển dụng công chức cấp xã trước mắt giải quyết ngay được vấn đề thiếu hụt nhân sự ở các chức danh nhất định của UBND xã, phường, thị trấn, để hoạt động công vụ được tiến hành một cách bình thường Bên cạnh đó, thông qua các phương thức tuyển dụng, mà đặc biệt là phương thức thi tuyển, sẽ giúp

17 Học viện Hành chính quốc gia (2009), Công vụ - công chức, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.83

Trang 22

Nhà nước chọn đúng người, đúng việc vào cơ quan nhà nước Việc áp dụng phương thức tuyển dụng càng khắt khe bao nhiêu thì chất lượng đầu vào càng được nâng lên bấy nhiêu Qua hoạt động này, một mặt lực lượng lao động của các UBND cấp xã được trẻ hoá, và mặt khác, trình độ (trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn) trung bình cũng được nâng lên đáng kể, góp phần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công vụ được giao

Đối với xã hội, thông qua việc tuyển dụng công chức tạo ra sự bình đẳng rộng rãi trong xã hội Tuyển dụng công chức cấp xã tạo điều kiện cho mọi công dân nếu đủ điều kiện đều có cơ hội ngang nhau để tham gia vào đội ngũ công chức Mặt khác, hoạt động tuyển dụng cho phép tạo lập các mối quan hệ tương tác cân bằng hơn trong xã hội, giữa học đường và việc làm, tận dụng được nguồn lao động từ xã hội, là đầu ra của đào tạo nguồn nhân lực Hoạt động này có kết quả tốt thì sẽ giúp xã hội sử dụng hợp lý tối đa nguồn lực Nó có thể giải quyết phần nào vấn đề việc làm xã hội

Đối với công chức, công tác tuyển dụng công chức cấp xã là một bước thực hiện dân chủ hóa chế độ tuyển dụng Việc thông báo nhu cầu, tuyển dụng, đảm bảo cho mọi người được tự do tham gia vào hoạt động công vụ Thông qua hoạt động tuyển dụng cũng hạn chế đáng kể được những tiêu cực, giảm bớt “xin - cho”, tạo công bằng

xã hội Bản thân người tuyển dụng sau khi tham gia ứng tuyển vào các chức danh công chức cấp xã đã có ý thức lựa chọn công việc phù hợp với năng lực và sở thích cá nhân của mình Do đó, nếu được tuyển dụng họ sẽ có nhiều hứng thú trong công việc, bản thân công chức sẽ cảm thấy yên tâm và làm việc với hết khả năng vốn có, chính vì thế các nhiệm vụ công vụ được thực hiện sẽ có hiệu quả cao Hơn nữa, việc ý thức gắn bó với công việc sẽ hạn chế được chi phí khác như phải tuyển dụng công chức thay thế, chi phí đào tạo, giảm được những sự cố xảy ra Đồng thời việc tuyển dụng đòi hỏi công chức cấp xã phải có sự hiểu biết về xã hội nhất định, động lực để giúp công dân nỗ lực hoàn thiện chuyên môn, tu dưỡng đạo đức cá nhân

1.2 Quy định pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã qua các giai đoạn lịch sử

Cho đến nay pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã đã trải qua nhiều thay đổi lớn và ngày càng hoàn thiện Lịch sử pháp luật tuyển dụng công chức cấp xã Việt Nam có thể chia làm 5 giai đoạn cơ bản sau: Giai đoạn 1945 - 1954, giai đoạn 1954 -

1975, giai đoạn 1975 – 2003, giai đoạn 2003 - 2009 và giai đoạn 2010 đến nay Trong phạm vi chương này, tác giả chỉ trình bày về 04 giai đoạn đầu tiên, còn đối với giai

Trang 23

đoạn cuối là từ năm 2010 đến nay (từ Luật CBCC có hiệu lực ngày 01/01/2010 và các văn bản về công chức cấp xã như Nghị định 112/2011/NĐ-CP …) sẽ được phân tích kỹ tại mục 2.1 Chương 2 Khóa luận này Đối với nội dung tiểu mục này, tác giả sẽ tập trung trả lời câu hỏi trong mỗi giai đoạn có quy định về hình thức tuyển dụng, điều kiện tuyển dụng, nguyên tắc tuyển dụng, quy trình tuyển dụng, … công chức cấp xã hay không và lý giải nguyên nhân của nó; bên cạnh đó sẽ tiến hành phân tích những quy định trong từng giai đoạn về công tác tuyển dụng gắn liền với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử để đánh giá về tính kế thừa, sự tiến bộ so với giai đoạn trước như thế nào Sau đây là nội dung chi tiết

1.2.1 Giai đoạn 1945 – 1954

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

ra đời, vấn đề nhân sự của chính quyền cơ sở được quan tâm Sau khi đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vài tháng sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản quy định về vấn đề này, thông qua hai Sắc lệnh quan trọng: Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 về

tổ chức HĐND, UBHC xã, huyện, tỉnh, kỳ; Sắc lệnh số 77/SL ngày 21/12/ 1945 về tổ chức HĐND và UBHC thành phố, khu phố Hai Sắc lệnh này là cơ sở để xây dựng và

tổ chức bộ máy nhân sự của các cơ quan ở cấp xã

Ngày 09/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, quy định rõ hệ thống và tổ chức bộ máy Nhà nước ở địa phương gồm Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ, mỗi bộ chia thành nhiều tỉnh, mỗi tỉnh chia thành nhiều huyện, mỗi huyện chia thành nhiều xã Ở cấp xã có HĐND và UBHC

Đến năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã giành được những thắng lợi quan trọng, nhiều vùng tạm chiếm đã trở thành vùng tự do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 80/SL ngày 22/5/1950 điều chỉnh các văn bản trước đó và cho tiến hành bầu cử theo Sắc lệnh 63/SL

Trong giai đoạn này, cụ thể ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/ SL về “Quy chế công chức”, đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên

có liên quan gần nhất đến khái niệm công chức cấp xã Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch

công chức trong toàn quốc, theo đó “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay

ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do

Trang 24

Chính phủ quy định” Khái niệm này chỉ xem những người được tuyển để giữ một

chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ là công chức Nên mặc nhiên, những cán bộ hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong các UBHC xã, hay khu phố không được coi là một công chức, và không phải là đối tượng điều chỉnh của Sắc lệnh này Về quy chế tuyển dụng được quy định tại chương thứ ba Sắc lệnh này Nội hàm của khái niệm tuyển dụng thời kỳ này tương đối rộng, bao gồm luôn cả hoạt động chuyển ngạch, đổi ngạch và để ra ngoài ngạch

Mặc dù thời kỳ này chưa xuất hiện các chức danh công chức cấp xã, chưa có sự phân biệt giữa cán bộ cấp xã và công chức cấp xã hoạt động trong UBHC, tuy nhiên nếu nhìn nhận dưới góc độ khái niệm công chức cấp xã hiện đại thì một số thành viên trong UBHC cấp xã (5 uỷ viên chính thức bao gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Thư

ký, 1 Thủ quỹ, 1 uỷ viên và 2 uỷ viên dự khuyết đối với UBHC xã18 hoặc 3 uỷ viên chính thức bao gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch và 1 Thư ký và 2 uỷ viên dự khuyết19)

có thể được xem là công chức cấp xã

Hoạt động “tuyển dụng” các cá nhân hoạt động trong UBHC cấp xã trong giai đoạn này chủ yếu thông qua phương thức bầu của HĐND cùng cấp đối với vùng nông thôn20 hoặc cử tri UBHC khu phố21 với khu vực đô thị Đây là hình thức “tuyển dụng”, không thực sự phù hợp đối với các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ, bởi nhiệm vụ của họ mang tính kỹ năng phải được tuyển lựa qua các hoạt động trên các hình thức đánh giá năng lực và đạo đức, không cần thiết đánh giá từ lòng tin số đông của HĐND

xã hoặc cử tri UHBC khu phố Xem xét về điều kiện tuyển dụng thời kỳ này, vẫn mang nặng tính quyền lực tập trung, khi mà ứng cử viên cho các chức danh ở UBHC bất kể

vị trí nào, dù là Chủ tịch, Thư ký, Thủ quỹ hay ủy viên đều phải là hội viên (hội viên chính thức hoặc hội viên dự khuyết) của HĐND xã22 hoặc là cử tri địa phương của HĐND thành phố23 Bên cạnh đó một điều kiện để trở thành một ủy viên trong chính

18 Điều 12 Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 về tổ chức Hội

đồng nhân dân, Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ

19 Điều 43 Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính thành phố, khu phố

20 Điều 13 Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 về tổ chức Hội

đồng nhân dân, Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ

21 Điều 44 Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính thành phố, khu phố

22 Điều 14 Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 về tổ chức Hội

đồng nhân dân, Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ

23 Điều 45 Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính thành phố, khu phố

Trang 25

quyền cấp xã là phải là người biết đọc biết viết, điều này cũng dễ dàng lý giải, bởi giai đoạn này, tỷ lệ mù chữ rất cao, trình độ dân trí thấp cùng với đó là việc khan hiếm nguồn nhân lực địa phương và nhu cầu thay thế, chuyển giao giữa chính quyền mới và

Nhìn chung, trong thời kỳ này, Nhà nước rất quan tâm đến việc ban hành quy định pháp luật về bộ máy nhân sự của chính quyền địa phương nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng Đối với pháp luật về công chức cấp xã trong giai đoạn này, chưa cho thấy có sự phân biệt nhân sự làm việc trong chính quyền cấp xã ai là công chức và cán bộ, mà được quy định gắn với tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp

xã Vì vậy, xét một tổng thể thì pháp luật tuyển dụng công chức cấp xã giai đoạn này không được quy định một cách chính thống, tuy nhiên, có thể nhìn nhận được phần nào vấn đề tuyển dụng công chức cấp xã thông qua tinh thần của các quy định về tổ chức

và hoạt động của chính quyền cấp xã Do đó, khi đánh giá về quy định tuyển dụng công chức cấp xã trong giai đoạn 1945 - 1954, phải xem xét trong sự tương quan với pháp luật về chính quyền địa phương

1.2.2 Giai đoạn 1954 – 1975

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cách mạng nước ta chuyển sang một giai đoạn mới - thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Để phù hợp với tình hình mới, Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1959 và sau đó ban hành Luật Tổ chức HĐND và UBHC năm 1962 cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương làm cơ sở pháp lý cho việc kiện toàn chính quyền địa phương Các cơ quan nhà nước không ngừng được củng cố và mở rộng, nhu cầu cán bộ, công chức tăng lên một cách nhanh chóng

Công chức cấp xã nói riêng và công chức Nhà nước nói chung trở thành một phần của giai cấp công nhân, tuân theo quy định chung của pháp luật lao động Khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức” được sử dụng để chỉ chung những người làm việc trong cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng, Đoàn thể, hội quần chúng và các xí nghiệp quốc doanh, họ đều được hưởng lương từ ngân sách Mặc dù, trong các văn bản pháp luật cũng có sự phân biệt nhất định, nhưng nhìn chung đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức này không tách hẳn ra làm ba khối như hiện nay

Trong giai đoạn này, văn bản có liên quan trực tiếp nhất đến công tác tuyển dụng công chức cấp xã là Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 của Chính phủ ban hành

Trang 26

điều lệ tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân viên chức Nhà nước Khi đó chúng ta chưa có điều kiện đào tạo cán bộ, công chức nên việc tuyển dụng công chức giai đoạn này được tiến hành rộng rãi không qua thi tuyển, phần lớn là tuyển thẳng từ lực lượng vũ trang chuyển sang hoặc từ các tổ chức quần chúng và một số nguồn đào tạo trong và ngoài nước Mọi người được tuyển dụng đều được hưởng chế độ bao cấp lương từ ngân sách

Nghị định này quy định một số vấn đề về tuyển dụng từ Điều 1 đến Điều 12 Đầu tiên đối với căn cứ tuyển dụng, Nghị định xem xét trên cơ sở nhu cầu sản xuất và công tác hoặc chỉ tiêu lao động và chỉ tiêu biên chế Đã có những quy định về thứ tự ưu tiên tuyển dụng, trước hết phải tuyển những học sinh đã tốt nghiệp các trường, các lớp đào tạo cán bộ, công nhân chuyên nghiệp, nhân viên kỹ thuật của Nhà nước, tiếp đó nếu không tuyển được thì mới tuyển người do cơ quan lao động có thẩm quyền đưa đến Nghị định còn quy định về điều kiện tuyển dụng: có quyền công dân, lý lịch rõ ràng, tự nguyện phục vụ, có trình độ thích hợp với công việc, có đủ sức khỏe và đã đủ

18 tuổi, tùy ngành, nghề được tuyển dụng người dưới 18 tuổi sẽ do Bộ Lao động và Bộ Nội vụ quy định cụ thể Mặc dù là văn bản được ban hành sớm, nhưng phần nào đảm bảo được nguyên tắc khách quan trong hoạt động tuyển dụng công chức “Ở trong các

cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, không được sắp xếp những người có quan hệ thân thích với nhau như vợ chồng, anh chị em, cùng làm những việc mà nhiệm vụ của người này

là kiểm soát việc của người kia (ví dụ: chồng làm kế toán, vợ làm thủ quỹ; anh giữ kho,

em kế toán)”24 Hơn nữa, Nghị định này đã bắt đầu hướng tới việc điều chỉnh một số vấn đề khác như thủ tục tuyển dụng, hồ sơ, thời gian tập sự mặc dù còn ở một mức độ khá sơ khai

Bên cạnh những ưu điểm pháp luật thời kỳ này còn tồn tại nhiều hạn chế, ban hành chưa đầy đủ các văn bản pháp luật điều chỉnh nên còn áp dụng các văn bản của Đảng thực hiện thay cho pháp luật Pháp luật cũng chưa phân biệt được vị trí làm việc nào trong chính quyền cấp xã là công chức, mà tất cả đều gọi chung là cán bộ, công nhân viên chức Những hạn chế này ảnh hưởng nhất định đến việc xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã Xuất phát từ việc không có sự quan tâm đúng mực về công chức cấp xã, nên vấn đề tuyển dụng đội ngũ này cũng bị “bỏ quên” trong một thời gian dài

24 Điều 5 Điều lệ Tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân, viên chức nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 của Chính phủ về ban hành điều lệ tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân, viên chức nhà nước

Trang 27

1.2.3 Giai đoạn 1975 – 2003 (thời điểm sửa đổi Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998)

Từ năm 1975 đến năm 2003 là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động Có nhiều sự thay đổi lớn về tình hình chính trị, xã hội của đất nước Trải qua hai bản Hiến pháp, hệ thống bộ máy Nhà nước ở địa phương được hoàn thiện, cùng với đó là sự ra đời Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983, theo đó chính quyền địa phương được tổ chức thành

ba cấp chính quyền hoàn chỉnh trực thuộc trung ương gồm có chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; chính quyền quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh

và chính quyền xã, phường, thị trấn

Trong giai đoạn này, các nhà lập pháp bắt đầu có sự quan tâm đến những vấn đề

ở cấp cơ sở, trong đó có công chức cấp xã với một số văn bản quy phạm liên quan như Quyết định số 112/HĐBT ngày 15/10/1981 quy định về chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã; Thông tư 477/TT ngày 10/12/1981 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 112/HĐBT ngày 15/10/1981; Nghị định số 50/CP ngày 26/07/1995 quy định về số lượng và chế độ chính sách của cán bộ công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cấp xã; Thông tư 97/TTLB/TT-BTC ngày 16/08/1995 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 50/CP ngày 26/07/1995

Đặc biệt, điểm nổi bật giai đoạn này là sự xuất hiện của Pháp lệnh CBCC, một văn bản có tính quy phạm điều chỉnh đối tượng cán bộ, công chức do Uỷ ban thường

vụ quốc hội ban hành, áp dụng như một thuộc tính phổ biến trên toàn khắp lãnh thổ Mặc dù Pháp lệnh đã được ban hành, nhưng chưa có một quy định cụ thể nào trong văn bản này chính thức công nhận địa vị pháp lý của công chức cấp xã

Nhìn chung, các văn bản thời kỳ này mới chỉ ra những chức danh công chức tại

xã được hưởng sinh hoạt phí chứ không nêu khái niệm về công chức cấp xã Trải qua một thời gian tương đối dài, lực lượng công chức cấp xã chưa được quan tâm đúng mức Chính vì vậy, pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã giai đoạn này vẫn tương đối mơ hồ Không có một quy định cụ thể nào để điều chỉnh cho việc tuyển dụng đội ngũ công chức cấp xã Có chăng cũng chỉ tồn tại những văn bản điều chỉnh quá trình tuyển dụng của đội ngũ công chức nói chung, với một số đối tượng cụ thể là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, làm việc trong các cơ quan sau đây: Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; Cơ quan hành chính

Trang 28

Nhà nước ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp; Cơ quan đại diện nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; Trường học, bệnh viện,

cơ quan nghiên cứu khoa học của Nhà nước; Cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước; Thư viện, bảo tàng, nhà văn hoá của Nhà nước, Các tổ chức sự nghiệp khác của Nhà nước; hoặc Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân

mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp25 Phạm vi khái niệm tuyển dụng giai đoạn này mở rộng hơn với giai đoạn trước, bao gồm quy định về điều kiện tuyển dụng, tổ chức thi tuyển, tuyển dụng, nhận việc, tập sự bổ nhiệm, nâng ngạch, chuyển ngạch, điều động và biệt phái

Về mặt tổng thể, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công chức cấp xã nói chung và tuyển dụng công chức cấp xã nói riêng còn chưa đầy đủ, thiếu hoàn chỉnh, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Đồng thời một số văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ dừng lại ở những quy định chung, việc ban hành các văn bản này còn chậm và không đầy đủ, do đó việc triển khai gặp nhiều khó khăn, vướng mắc hoặc có cách vận dụng khác nhau, tạo ra sự không nhất quán khi xem xét, giải quyết công việc, trật tự kỷ cương chưa nghiêm Xuất phát từ sự thiếu hụt văn bản điều chỉnh giai đoạn

1975 đến 2003 này số lượng cá nhân thực hiện công việc chuyên môn nghiệp vụ ở cấp

xã đã phình lớn hơn trước, không đạt được sự tinh giản cần thiết

1.2.4 Giai đoạn 2003 – 2010

Ngày 29/4/2003 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2003 Trên cơ sở đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan tiếp tục ban hành nhiều nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn triển khai thực hiện các văn bản về đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung và công chức cấp

xã nói riêng như: Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Thông tư số 03/2004/TT-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định số

25 Điều 1 Nghị định Chính phủ số 95/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức

Trang 29

04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Nghị định số 93/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, chế độ bảo hiểm xã hội và điều chỉnh trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc

Đây là lần đầu tiên, trong lịch sử lập pháp xác định các chức danh chuyên môn thuộc UBND cấp xã là công chức, nhưng lại chỉ điều chỉnh bằng Nghị định riêng biệt Các chế độ chính sách của công chức cấp xã có những điểm khác biệt so với công chức Nhà nước nói chung Những người làm việc trong chính quyền cấp xã được phân định thành cán bộ cấp xã và công chức cấp xã Việc công chức hóa 7 chức danh làm việc thường xuyên, mang tính chuyên môn nghiệp vụ ở cấp xã là một bước phát triển quan trọng của pháp luật về công chức cấp xã Chính vì thế pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã, chính thức được hình thành và phát triển

Đối với quy phạm điều chỉnh quan hệ tuyển dụng công chức cấp xã giai đoạn này tập trung chủ yếu vào ở mục 2 chương IV pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 6, Điều 13 Nghị định 114/2003/NĐ-CP, mục IV Thông tư 03, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Như vậy, đội ngũ công chức cấp xã giai đoạn này đã được điều chỉnh bằng những quy phạm pháp luật riêng biệt Theo đó, công tác tuyển dụng công chức cấp xã theo các văn bản quy phạm pháp luật cũng có nhiều điểm mới và tích cực hơn so với trước đây

Về căn cứ tuyển dụng, được quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 114/2003/NĐ-CP Cũng giống như tuyển dụng công chức nhà nước nói chung, việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác, tiêu chuẩn và

số lượng của chức danh cần tuyển dụng Số lượng (biên chế) công chức cấp xã của mỗi

xã, phường, thị trấn được xác định theo Nghị định 121, Thông tư liên tịch số 34/2004/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 14/5/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định

121 Từ những căn cứ đó, các cơ quan chức năng sẽ tuyển dụng được đúng và đủ về số lượng cũng như chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công việc ở cơ sở

Về hình thức tuyển dụng được quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định 114/2003/NĐ-CP, điểm 3 mục IV Thông tư số 03 Công chức cấp xã phải được tuyển dụng thông qua con đường thi tuyển Việc xét tuyển chỉ áp dụng cho việc tuyển dụng

Trang 30

công chức ở vùng cao, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo, hoặc để đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vùng dân tộc thiểu số Đây là quy định thể hiện điểm đổi mới căn bản trong công tác tuyển dụng công chức ở nước ta thời điểm này so với trước đây Công chức cấp xã được tuyển dụng bằng hình thức tương tự với công chức ở cấp trên, đồng thời phải tuân thủ quy định chặt chẽ, công khai, phù hợp Điều

đó cho thấy được vai trò, vị trí quan trọng của đội ngũ này, cũng như yêu cầu phải có hình thức tuyển dụng quy củ, chặt chẽ, thống nhất thông qua quy chế tuyển dụng của UBND cấp tỉnh ban hành

Bên cạnh đó, về thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc tuyển dụng công chức cấp xã đã được pháp luật quy định khá rõ ràng tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 114/2003/NĐ-CP và được hướng dẫn tại điểm 1, điểm 2 mục IV Thông tư 03 Cụ thể

+ Chủ tịch UBND cấp huyện chỉ đạo, tổ chức việc tuyển dụng công chức cấp xã theo quy chế tuyển dụng công chức cấp xã của UBND cấp tỉnh

+ Quy chế tuyển dụng của UBND cấp tỉnh cần quy định cụ thể thành phần HĐTD, quy trình tuyển dụng, cách thức tiến hành thi tuyển (xét tuyển), yêu cầu đảm bảo công khai về tiêu chuẩn, đối tượng, số lượng người cần tuyển, thủ tục, hồ sơ, lệ phí

dự tuyển, công tác thẩm định và công bố kết quả trúng tuyển

Để tuyển dụng một công chức cấp xã, cần phải căn cứ vào những tiêu chuẩn chung được quy định tại Điều 6 Nghị định 114/2003/NĐ-CP mà người đó cần phải đáp ứng, đồng thời căn cứ vào những tiêu chuẩn cụ thể quy định cho từng chức danh công chức cấp xã tại mục 2 Chương 2 Quy định tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (ban hành kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ)

Việc quy định những tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh công chức cấp xã tại Quyết định 04 được xây dựng phù hợp với đặc điểm, vị trí, vai trò của đội ngũ công chức thời kỳ này Có thể thấy các quy định này đạt được nhiều điểm tích cực Đạt được tính “trẻ hóa”, độ tuổi công chức được tuyển dụng lần đầu không quá 35 Đây là độ tuổi mà người công chức có khả năng tiếp cận được những kiến thức mới, có năng lực nhạy bén, tháo vát nhất trong công việc với khối lượng và tính chất công việc ở cơ sở, cũng như đảm bảo cơ hội thăng tiến, phát triển trong nghề nghiệp của họ Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn về trình độ của công chức cấp xã đã được nâng lên cao hơn so với trước đây, nhất là về nghiệp vụ để đáp ứng tốt yêu cầu công việc Điều này sẽ khắc phục tình trạng công chức có trình độ học vấn thấp, yếu về chuyện môn, không hiểu biết về kiến

Trang 31

thức quản lý nhà nước và lý luận chính trị Những cán bộ cũ không đáp ứng được tiêu chuẩn sẽ phải nghỉ việc để người khác thay thế Quyết định 04 tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết cho việc tuyển dụng công chức cấp xã theo hướng chuẩn hóa và trẻ hóa đội ngũ này, mặt khác tạo thành tiêu chí cho họ tích cực phấn đấu, rèn luyện để thăng tiến Từ đây, chỉ những người hội đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ và tuổi đời mới có thể được tuyển dụng để trở thành công chức cấp xã

Về chế độ tập sự đối với công chức cấp xã cũng được đặt ra một cách chặt chẽ Đây là điều kiện để cơ quan tuyển dụng kiểm tra, đánh giá lại thật chính xác một người trước khi bổ nhiệm vào ngạch công chức cấp xã Cụ thể khoản 4 Điều 13 Nghị định

114, điểm 4 mục IV Thông tư 03 quy định: chủ tịch UBND cấp xã, căn cứ vào quyết định tuyển dụng của UBND cấp huyện, bố trí sử dụng công chức cấp xã, cử cán bộ, công chức hướng dẫn trong thời gian tập sự là 06 tháng để người tập sự làm đúng chức trách nhiệm vụ của ngạch công chức sẽ được bổ nhiệm, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ và phẩm chất đạo đức lối sống

Hết thời gian tập sự, người tập sự viết báo cáo kết quả, người hướng dẫn có bản nhận xét đối với người tập sự UBND cấp xã lấy ý kiến bằng văn bản của phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện xem xét quyết định bổ nhiệm vào ngạch công chức, nếu không đủ điều kiện thì quyết định cho thôi việc

Nhìn chung, pháp luật hiện hành về tuyển dụng công chức cấp xã giai đoạn này

là tương đối đầy đủ và tiến bộ, đảm bảo cho việc tuyển dụng đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng được yêu cầu trẻ hóa và chuẩn hóa, từng bước đổi mới và nâng cao chất lượng

hệ thống chính trị ở cơ sở theo tinh thần Nghị quyết TW5 khóa IX Mặc dù vậy, pháp luật tuyển dụng công chức giai đoạn này cũng không tránh khỏi những hạn chế, bất cập như:

+ Vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể của trung ương về nội dung và hình thức thi tuyển công chức cấp xã Do đó, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng chưa ban hành quy chế tuyển dụng, làm cho công tác tuyển dụng giai đoạn này chưa được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật

+ Những tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp xã chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các chức danh, giữa các loại hình đơn vị cơ sở Nhìn chung, các tiêu chuẩn được xây dựng để áp dụng cho mọi loại hình cơ sở Một thực tế là nhiều xã vùng núi, không

Trang 32

đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn luật định, trong khi tiêu chuẩn đó lại quá thấp đối với các phường ở khu vực đô thị

+ Theo quy định của pháp luật giai đoạn này, số lượng cán bộ, công chức cấp xã căn cứ vào quy mô dân số là chủ yếu với mức tối thiểu là 17 người, tối đa là 25 người

là không phù hợp với tình hình thực tế, cụ thể là đối với xã quá ít dân (dưới 1000) thì biên chế như trên là quá nhiều; với xã, phường, thị trấn có địa hình rộng lớn cùng với

đó là tình hình kinh tế - xã hội phức tạp thì biên chế tối đa theo quy định lại là quá ít

Tóm lại, pháp luật về tuyển dụng công chức trong hơn 70 năm qua có nhiều sự

thay đổi, ngày càng hoàn thiện, phần nào đáp ứng được nhu cầu thực tiễn cuộc sống Pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc tuyển chọn nhân sự vào làm việc cho bộ máy Nhà nước ở địa phương, nâng cao hiệu quả của hoạt động tuyển dụng, góp phần bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động tuyển dụng Bên cạnh đó, pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã, khắc phục tình trạng tuyển dụng rồi mới đào tạo chuyên môn, xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ổn định, chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển đất nước Hơn nữa, những quy định này còn góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội đối với đội ngũ công chức cấp xã, phường, thị trấn, tạo cơ hội cho mọi công dân có đủ điều kiện có thể tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước ở địa phương

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ

(QUA THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH) 2.1 Thực trạng pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã

Để có cơ sở cho việc xây dựng các luận cứ khoa học hoàn thiện chế định pháp luật về tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn, ngoài việc nghiên cứu về mặt lý luận, cần phải có những đánh giá về thực trạng pháp luật của công tác tuyển dụng những công chức này

2.1.1 Quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương về tuyển dụng công chức cấp xã

Đến thời điểm hiện nay cơ sở pháp lý của việc tuyển dụng công chức cấp xã là Luật CBCC năm 2008 và một số văn bản hướng dẫn thi hành luật này Cụ thể là các văn bản sau đây:

- Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ

về công chức xã, phường, thị trấn

- Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ

về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

- Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội

vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn

Theo đó, tại Điều 63 Luật CBCC năm 2008 quy định nhiều nội dung như bầu

cử, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Tuy nhiên chỉ có khoản 2 Điều 63 Luật CBCC quy định về phương thức tuyển dụng công chức cấp xã như sau

“việc tuyển dụng công chức cấp xã phải thông qua thi tuyển, đối với xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể tuyển dụng thông qua xét tuyển” Như vậy, Luật không quy định căn cứ, nguyên tắc và điều kiện tuyển dụng công chức cấp xã, mà chỉ quy định phương thức tuyển dụng là thi tuyển hoặc xét tuyển và người có thẩm quyền tuyển dụng công chức cấp xã là Chủ tịch UBND cấp huyện Theo cá nhân tác giả, điều này

có thể lý giải từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, xuất phát từ việc nhận thức chưa toàn diện về công tác tuyển dụng CCCX, cũng như nhận thức có phần chủ quan về tầm quan trọng giữa vấn đề phương

Trang 34

thức và thẩm quyền tuyển dụng với các vấn đề khác như căn cứ tuyển dụng, điều kiện, quy trình tuyển dụng

Thứ hai, trước đây Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003 chỉ

có sự quy định về căn cứ tuyển dụng, và lại được quy định chung với một số loại công chức khác Nên đối với việc xây dựng quá nhiều các quy phạm điều chỉnh quan hệ tuyển dụng công chức trong một Luật Cán bộ, công chức mới cũng vấp phải tâm lý tương đối dè dặt, cẩn trọng của người làm luật, dẫn tới việc không quy định một cách triệt để giải quyết các nội dung xoay quanh vấn đề tuyển dụng

Thứ ba, các văn bản pháp luật được ban hành chủ yếu giải quyết các vấn đề trước mắt mà không có tính dự báo Dẫn đến tình trạng ban hành văn bản thường xuyên với mục đích “vá” những chỗ chưa có luật điều chỉnh, hay nói cách khác là những “lỗ hổng” còn tồn tại, và chủ yếu áp dụng các văn bản hướng dẫn Từ đó hình thành tâm lý chung, xây dựng luật một cách hình thức, chuộng áp dụng Nghị định, ỷ lại văn bản hướng dẫn Việc quy định về tuyển dụng công chức cấp xã trong Luật cán bộ, công chức năm 2008 cũng không nằm ngoài tâm lý này, các quy định không rõ ràng, không toàn diện, và chờ đợi một Nghị định được ban hành để giải quyết trọn vẹn vấn

đề này

Ngày 05 tháng 12 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị định số

112/2011/NĐ-CP quy định về công chức xã, phường, thị trấn thay thế Nghị định 114/2003/NĐ-112/2011/NĐ-CP Nghị định 112/2011/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn, tuyển dụng, điều động, tiếp nhận, trình tự và thủ tục đánh giá, thôi việc và thủ tục nghỉ hưu, xử lý kỷ luật, quản lý công chức xã, phường, thị trấn Đối tượng áp dụng là công chức cấp xã được quy định tại khoản 3 và 4 Điều 61 Luật CBCC Cụ thể gồm 7 chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội Trong đó, bao gồm cả công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã giữ các chức danh trên Nghị định này đã cụ thể hóa được những quy định của Điều 63 Luật CBCC và giải quyết được đầy đủ các vấn đề trong công tác tuyển dụng

Về tiêu chuẩn của công chức cấp xã, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP quy định những nội dung khá cụ thể và có nhiều điểm mới, nổi bật hơn so với Nghị định 114/2003/NĐ-CP Trong đó quy định 4 tiêu chuẩn cụ thể đối với các công chức Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, trị

Trang 35

trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính -

kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội gồm hiểu biết lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa và trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ được giao, am hiểu và tôn trọng phong tục tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác Bên cạnh đó, Nghị định này còn quy định tiêu chuẩn đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp

xã và Trưởng Công an xã, ngoài những tiêu chuẩn được trình bày ở trên, thì các chức danh này còn được bổ sung thêm các tiêu chuẩn riêng biệt Đó là phải có khả năng phối hợp với các đơn vị quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự, giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước Tiêu chuẩn cụ thể đối với từng chức danh sẽ do Bộ trưởng Bộ nội vụ chủ trì phối hợp với bộ trưởng các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định26, đây là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để tuyển dụng công chức cấp xã Cũng theo Nghị định này, việc tuyển dụng công chức cấp xã căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, tiêu chuẩn chức danh và số lượng công chức từng chức danh được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao

Về điều kiện đăng ký dự tuyển công chức cấp xã được thực hiện theo quy định của Luật CBCC Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức: có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; đủ 18 tuổi trở lên; có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; có văn bằng, chứng chỉ phù hợp; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ; các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển27 Bên cạnh đó Luật còn có quy định về những trường hợp không được đăng ký dự tuyển: không cư trú tại Việt Nam; mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào

cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục28 UBND cấp xã là cơ quan xác định điều kiện khác

26 Điều 4 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 về công chức xã, phường, thị trấn

27 Khoản 1 Điều 36 Luật CBCC

28 Theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, 2 biện pháp xử lý hành chính là đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục đã được đổi tên là: đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

Trang 36

quy định tại điểm g khoản 1 Điều 36 Luật CBCC bảo đảm phù hợp với tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã cần tuyển trong kế hoạch tuyển dụng, báo cáo UBND cấp huyện phê duyệt trước khi tuyển dụng

Về nguyên tắc tuyển dụng CCCX, hiện nay không có bất cứ văn bản quy phạm nào trực tiếp điều chỉnh, Nghị định 112/2011/NĐ-CP cũng chưa giải quyết được vấn đề này Việc thiếu hụt quy định về nguyên tắc trong tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn đã tồn tại rất nhiều năm qua, các văn bản liên quan trực tiếp đến công chức cấp xã giai đoạn trước như Nghị định 114/2003/NĐ-CP cũng không có đề cập gì Điều đó dẫn đến việc trong một thời gian dài các địa phương thực hiện công tác tuyển dụng chủ yếu dựa trên tinh thần các quy định về nguyên tắc tuyển dụng công chức ở trụng ương, cấp tỉnh, cấp huyện như nguyên tắc tuyển dụng phải xuất phát từ yêu cầu công việc cụ thể

là Điều 9 Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ quy định về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong cơ quan Nhà nước “việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác và theo chỉ tiêu biên chế được giao”; nguyên tắc chất lượng đặt ra đối với việc xác định căn cứ trúng tuyển của ứng viên (Điều 14 Nghị định 117/2003/NĐ-CP nêu ra “người trúng tuyển trong kỳ thi xét tuyển là người đủ tiêu chuẩn và điều kiện dự tuyển, được Hội đồng xét tuyển căn cứ vào quy định tại Điều 5 và Điều 8 của Nghị định này để xem xét và nhất trí đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tuyển dụng”); nguyên tắc bình đẳng và nguyên tắc công khai, đây là những nguyên tắc có tính chất phổ biến

mà bất kỳ giai đoạn nào cũng phải thực hiện đảm bảo quá trình tuyển dụng công chức đạt chất lượng Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại thì Nghị định 117/2003/NĐ-CP cũng

đã hết hiệu lực, và đã bị thay thế bởi Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 03 năm

2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Nghị định mới này không có bất kỳ quy định nào về nguyên tắc tuyển dụng, do đó, việc tuyển dụng đối với công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện đều áp dụng các nguyên tắc được quy định tại Điều 38 Luật CBCC bao gồm: bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật; bảo đảm tính cạnh tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm; ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số Các nguyên tắc này quy định riêng cho việc tuyển dụng công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, nhưng có thể thấy nó cũng rất phù hợp nếu áp dụng cho công tác tuyển dụng công chức cấp xã Nên thiết nghĩ, các địa phương có thể vận dụng các quy định tại điều luật này để làm nền tảng cho hoạt động

Trang 37

tuyển dụng công chức cấp xã cho địa phương mình, tương tự như việc áp dụng tinh thần quy định Nghị định 117/2003/NĐ-CP trong giai đoạn trước

Về phương thức tuyển dụng công chức cấp xã thì hiện nay được luật CBCC quy định khá rõ ràng, gồm hai hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển, căn cứ vào tính chất đặc thù của từng địa phương Hình thức thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành nghề, bảo đảm lựa chọn được những cá nhân có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng So với Nghị định 114/2003/NĐ-CP, Nghị định 112/2011/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về phương thức tuyển dụng tại khoản 1 Điều 7 Đối với một số chức danh phải thực hiện hình thức tuyển dụng thông qua thi tuyển bao gồm Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội Và nội dung thi tuyển được quy định rõ ràng với 3 môn: môn kiến thức chung, môn nghiệp vụ chuyên ngành, môn tin học văn phòng Bên cạnh đó, Nghị định 112/2011/NĐ-CP đã quy định rõ phương thức tuyển dụng đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã Theo đó, các chức danh này thực hiện việc xét tuyển và bổ nhiệm đối với những người có điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 112/2011/NĐ-CP Việc bổ nhiệm Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thực hiện theo quy định của Luật Dân quân tự vệ và Pháp lệnh Công an xã

Trường hợp xét tuyển chỉ thực hiện “đối với các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”29 Quy định này không có gì khác biệt với Nghị định 114/2003/NĐ-CP trước đó Nội dung xét tuyển gồm xét kết quả học tập của người dự tuyển, phỏng vấn

về trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển Đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã, sẽ xét thêm các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 112/2011/NĐ-CP và không thực hiện theo cách thức tính điểm quy định tại Điều 15 Nghị định đó

Về cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức cấp xã, thẩm quyền này thuộc

về Chủ tịch UBND cấp huyện30 Sở dĩ quy định nhiệm vụ này cho Chủ tịch UBND cấp huyện bởi tính phân cấp trong thẩm quyền tuyển dụng, UBND cấp tỉnh tổ chức tuyển dụng công chức (tức là công chức của các cơ quan từ cấp huyện trở lên), do đó công

Trang 38

chức cấp xã thuộc quyền tuyển dụng của Chủ tịch UBND cấp huyện So sánh thẩm quyền tuyển dụng giữa Nghị định 112/2011/NĐ-CP và Nghị định 114/2003/NĐ-CP, ta

có thể thấy mặc dù về cơ bản thẩm quyền tuyển dụng vẫn thuộc về Chủ tịch UBND cấp huyện; tuy nhiên, Nghị định mới có sự quy định bổ sung đối với trường hợp ngoại lệ, chính xác hơn là trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng31, lúc đó Chủ tịch UBND cấp huyện khi tiếp nhận phải báo cáo và có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Chủ tịch UBND cấp tỉnh Căn cứ vào số lượng người đăng ký dự tuyển, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định việc thành lập Hội đồng tuyển dụng hay không Hội đồng tuyển dụng được hiểu là Hội đồng xét tuyển hoặc Hội đồng thi tuyển Trong trường hợp không thành lập Hội đồng tuyển dụng, thì Phòng Nội vụ xem xét báo cáo cho Sở Nội vụ, sau khi có ý kiến thống nhất của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ cấp huyện giúp Chủ tịch UBND cấp huyện thực hiện việc tuyển dụng công chức cấp xã Khi tổ chức tuyển dụng công chức cấp xã vẫn phải thành lập các Ban giúp việc

Về quy trình tuyển dụng công chức cấp xã, đây là nội dung quan trọng được thể hiện tại mục 4 Chương 3 Nghị định 112/2011/NĐ-CP, với nhiều bước bao gồm: thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ, tổ chức tuyển dụng, thông báo kết quả tuyển dụng,

ra quyết định tuyển dụng và nhận việc Các bước này đã được quy định rất cụ thể về nội dung, thời gian, thẩm quyền của các cơ quan So với Nghị định 114/2003/NĐ-CP, thì văn bản hiện hành đã xây dựng được một quy trình tuyển dụng hoàn chỉnh với đầy

đủ các bước, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động tuyển dụng đạt những hiệu quả nhất định Việc quy trình được chính thức quy định trong một văn bản của cơ quan

có thẩm quyền ở trung ương sẽ khắc phục được tình trạng hầu hết Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố đều dựa vào cách làm từ trước đến nay, theo Quy chế tuyển dụng công chức của UBND cấp tỉnh, để chỉ đạo triển khai tổ chức thực hiện quy trình tuyển dụng công chức cấp xã ở địa phương mình

Đặc biệt, Nghị định 112/2011/NĐ-CP quy định cụ thể các đối tượng được tiếp nhận không qua thi tuyển đối với người tốt nghiệp đại học đạt loại giỏi trở lên ở trong nước và đạt loại khá trở lên ở nước ngoài có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chức danh công chức cần tuyển dụng Trường hợp khác được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển công chức cấp xã là người có trình độ đào tạo từ Đại học trở lên, có ít nhất 05 năm công tác (không kể thời gian tập sự, thử việc) trong ngành, lĩnh vực cần tuyển, đáp ứng được ngay yêu cầu của chức danh công chức cấp xã cần tuyển dụng

31 Điều 21 Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 về công chức xã, phường, thị trấn

Trang 39

Sau khi nghiên cứu một cách tổng quan các quy định của Trung ương về tuyển dụng công chức cấp xã và căn cứ vào tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã, tác giả nhận thấy pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã có nhiều ưu điểm, bên cạnh đó cũng còn tồn tại những hạn chế nhất định

Thứ nhất, về ưu điểm của pháp luật về công chức cấp xã Pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã đã thể chế hóa tương đối đầy đủ các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng đội ngũ công chức cấp xã Tính toàn diện và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã hiện nay đã được mở rộng rất nhiều so với trước đây; sự điều chỉnh của pháp luật đã vươn tới hầu hết các quan hệ thuộc đời sống công vụ của đội ngũ công chức cấp xã Pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã điều chỉnh tương đối đầy đủ các quan hệ nảy sinh trong công tác tuyển dụng Nội dung pháp luật đã quy định cụ thể, chi tiết về tuyển dụng làm cơ sở pháp lý

để xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, từng bước nâng cao năng lực, trình độ đối với công chức cấp xã Các qui định của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã tương đối phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội, phù hợp với đặc điểm của công chức cấp

xã Ưu điểm này thể hiện ở một số nội dung quy định riêng cho công chức cấp xã về điều kiện, tiêu chuẩn, phương thức, xuất phát từ đặc điểm và vai trò của đội ngũ công chức cấp xã

Thứ hai, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về công chức cấp xã còn tồn tại những hạn chế bất cập cả về nội dung và hình thức Pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã chưa xác định cơ cấu công chức cấp xã gắn với vị trí việc làm nhằm tạo cơ sở cho việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và áp dụng chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã trở nên khoa học, hiệu quả Hạn chế này dẫn đến việc quy định số lượng, chức danh, tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã còn có những điểm chưa phù hợp Những quy định về số lượng, cơ cấu, chức danh, tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã cơ bản giống nhau cho các loại hình cấp xã do đó chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm, tính chất của mỗi loại hình cơ sở nên chưa phù hợp, nhất là giữa xã với phường Phường không khác xã nhiều về chức danh công chức chuyên môn (đều

có 7 chức danh) và tiêu chuẩn công chức xã, phường hoàn toàn giống nhau trong khi dân trí của cư dân ở phường cao hơn xã, yêu cầu quản lý ở đô thị cũng đòi hỏi trình độ của công chức phường phải cao hơn xã mới phù hợp, đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước ở đô thị

Trang 40

Về tuyển dụng công chức cấp xã quy định về các môn thi chưa phù hợp để có thể tuyển chọn được người đáp ứng yêu cầu của chức danh công chức Quy định thi 02 bài thi chuyên ngành là thừa không cần thiết đối với kỳ thi tuyển công chức cấp xã Đối với công chức phường không có môn thi ngoại ngữ sẽ không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ nhất là trong thời kỳ hội nhập hiện nay

Hơn nữa, các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã còn có hiện tượng mâu thuẫn không thống nhất Thông tư số 06/2012/TT-BNV của Bộ trưởng

Bộ Nội vụ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 2012 Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn

cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn tại Điều 2, khoản 1, điểm e quy định: “Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm” Nghị định số 18/2010/NĐ-

CP của Chính phủ ngày 03 tháng 06 năm 2010 về đào tạo bồi dưỡng công chức quy định nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng, không có quy định nào đề cập tới lớp hay chương trình bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước Bên cạnh đó, việc áp dụng các Nghị định số 112/2011/NĐ-CP vẫn còn “vướng mắc”, bởi các quy định tại Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức

và Nghị định số 150/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2007/NĐ-CP Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 21 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về xét tuyển đặc cách đối với công chức cấp xã thì “Người có trình

độ đào tạo từ đại học trở lên, có ít nhất 05 năm công tác (không kể thời gian tập sự, thử việc) trong ngành, lĩnh vực cần tuyển, đáp ứng được ngay yêu cầu của chức danh công chức cấp xã cần tuyển dụng” Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định số 158/2007/NĐ-

CP (đã được sửa đổi, bổ sung) thì “thời hạn chuyển đổi vị trí công tác là 03 năm (đủ 36 tháng) đối với cán bộ, công chức, viên chức chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan đến việc quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân” Như vậy, khi một công chức đã làm một công việc đủ 03 năm (đối với các vị trí thuộc danh mục phải chuyển đổi vị trí công tác) không thể có cơ hội để được tham gia xét tuyển đặc cách theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 21 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP vì đã phải chuyển đổi vị trí công tác

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3.6. Nguyễn Văn Đức (2011), “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu của luật cán bộ, công chức”, Tổ chức nhà nước, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu của luật cán bộ, công chức”, "Tổ chức nhà nước
Tác giả: 6. Nguyễn Văn Đức
Năm: 2011
3.22. Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2005), “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức”
Tác giả: 22. Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
3.29. Nguyễn Thanh Tuyền (2011), “Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Điện Biên”, Tổ chức nhà nước, (04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Điện Biên”, "Tổ chức nhà nước
Tác giả: 29. Nguyễn Thanh Tuyền
Năm: 2011
1.41. Thông báo số 14/TB-UBND của UBND huyện Vĩnh Thạnh về thời gian, địa điểm ôn tập; thời gian, địa điểm tổ chức kiểm tra, sát hạch công chức xã, thị trấn Khác
1.42. Biên bản họp Hội đồng tuyển dụng công chức xã ngày 14 tháng 7 năm 2016 của HĐTD huyện Tây Sơn Khác
2.5. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w