Dự án công lý thế giới định nghĩa nhà nước pháp quyền là: 1 Chính quyền và các quan chức của nó và các cá nhân, tổ chức khác phải chịu sự ràng buộc của pháp luật; 2 Luật pháp rõ ràng, cô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC
KỶ YẾU HỘI THẢO
TRIỂN KHAI THI HÀNH CHẾ ĐỊNH
“QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN”
TRONG HIẾN PHÁP 2013
TP HỒ CHÍ MINH – 8/2015
Trang 22 Những điểm mới cơ bản trong Chương II: “Quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
10 Phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm quyền con
người, quyền công dân
ThS Trần Thị Thu Hà – ThS Nguyễn Thị Thiện Trí
89
Trang 312 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền riêng tư ở Việt Nam hiện nay
ThS Đỗ Thanh Trung - ThS Nguyễn Thị Hồng Hạnh 113
13 Đảm bảo quyền hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013
15 Nghĩa vụ nộp thuế của công dân và vấn đề sử dụng ngân sách nhà nước
ThS Nguyễn Thanh Minh 150
16 Vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo từ góc độ quyền công dân
ThS Cao Vũ Minh - Trương Tư Phước
Trang 4là “người cai trị”, có quyền lực tối thượng Không ai ngoài vòng pháp luật Mọi
người là đối tượng cai trị của luật pháp(IBA, 2009) Sự đồng thuận về những giá trị và tầm quan trọng của pháp quyền cũng như sự lạm dụng nó thu hút sự quan tâm rộng rãi của mọi người (Thomas Carothers, 2009)
Hiện đã có rất nhiều định nghĩa về nhà nước pháp quyền Sự khác biệt trong nhận thức về nhà nước pháp quyền không chỉ là sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn mà nó còn khác biệt ngay trong các nhà nghiên cứu lý thuyết và ngay trong các nhà thực tiễn Có hai loại định nghĩa về nhà nước pháp quyền, định nghĩa rộng
và định nghĩa hẹp Theo cách định nghĩa rộng về nhà nước pháp quyền, luật phải được xây dựng và công bố công khai Luật phải khái quát, rõ ràng và ổn định, tiên liệu được và áp dụng một cách công bằng (Randall Peerenboom, 2004b p1) Có
một cách định nghĩa cho rằng: “Nội dung khái niệm nhà nước pháp quyền không
đòi hỏi yêu cầu về quyền con người Thực thi quyền con người có thể là một khía cạnh của nhà nước pháp quyền trong một chế độ chính trị cụ thể, nhưng những nội dung tranh luận về nhà nước pháp quyền có thể thiết lập mà mà không nhất thiết bảo vệ quyền con người” và “Nhà nước pháp quyền không thể bao hàm tất
cả những gì tốt đẹp mà con người mong muốn chính quyền có thể mang lại”
(Tamanaha Brian Z, 2009, p.14,113) Khái niệm này khác rất nhiều so với những quan điểm đánh giá về nhà nước pháp quyền Ví dụ, đánh giá của tổ chức Bertelsmann (Bertelsmann Transformation Index 2014) về nhà nước pháp quyền bao hàm quyền dân sự và đánh giá của Dự án công lý thế giới (The World Justice
Giảng viên khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
Trang 5Cách tiếp cận hẹp (tiếp cận hình thức) có thể mạnh trong việc xây dựng các chỉ số để đánh giá về nhà nước pháp quyền trong xã hội và cho rằng luật pháp có tính trung lập về mặt đạo lý và cả với tư cách phương tiện điều chỉnh các quan hệ
xã hội và “ một con dao sắc có thể đứt tay không có nghĩa sắc bén là điểm hạn chế
của dao nói chung” (Joseph Raz, 1979, pp 223) Tuy nhiên, nghịch lý là: “Một hệ thống độ phi dân chủ, từ chối thực thi quyền con người, nghèo đói, phân biệt chủng tộc, bất bình đẳng giới, kỳ thị tôn giáo, về nguyên tắc, vẫn có thể, đáp ứng những yêu cầu của nhà nước pháp quyền tốt hơn bất cứ hệ thống pháp luật thuộc những nền dân chủ khai sáng phương Tây” và “Luật pháp có thể tạo ra chế độ nô
lệ mà không vi phạm nguyên tắc của nhà nước pháp quyền” (Joseph Raz, 1979
P.211, 221)
Theo cách tiếp cận mục đích, nhà nước pháp quyền bao hàm: (1) Chính quyền
bị giới hạn bởi luật; (2) Bình đẳng trước pháp luật; (3) Pháp luật và trật tự; (4) Công lý hiệu lực và có thể dự báo được; (5) Nhà nước không vi phạm quyền con người Theo cách tiếp cận thể chế: (1) Luật phải được thiết lập và công bố; (2) Một
hệ thống tư pháp được đào tạo và hiểu biết về pháp luật, có hiệu quả và độc lập với chính trị và tham nhũng; (3) Có thể sử dụng cưỡng chế để thực thi pháp luật (Rachel Kleinfeld Belton, 2005)
Theo Voigt Stefan, nhà nước pháp quyền bao hàm: (1) Phân quyền; (2) Kiểm hiến/ tòa hiến pháp; (3) Tư pháp độc lập; (4) hệ thống tư pháp có trách nhiệm; (5) Công tố độc lập; (6) Xét xử công bằng; (7) Quyền con người cơ bản (Voigt, Stefan, 2009)
Tổ chức Luật sư quốc tế đặt ra hai trụ cột của nhà nước pháp quyền là sự tối thượng của pháp luật và phân quyền Những đặc trưng của nhà nước pháp quyền
Trang 6Dự án công lý thế giới định nghĩa nhà nước pháp quyền là: (1) Chính quyền
và các quan chức của nó và các cá nhân, tổ chức khác phải chịu sự ràng buộc của pháp luật; (2) Luật pháp rõ ràng, công khai, ổn định và công bằng; Luật áp dụng công bằng và bảo vệ quyền cơ bản của con người bao gồm an ninh con người và tài sản; (3) Thủ tục thi hành pháp luật có thể tiếp cận, công bằng, và hiệu quả; (4) Công lý thực hiện kịp thời bởi những người có khả năng, có đạo lý, trung lập, có nguồn lực1
Liên hiệp Quốc đưa ra rất nhiều đặc trưng của nhà nước pháp quyền: “Nhà
nước pháp quyền nói tới một nguyên tắc quản trị theo đó mọi người, thiết chế và thực thể, công và tư, bao gồm cả chính nhà nước ràng buộc bởi pháp luật mà pháp luật này được công bố, áp dụng công bằng, độc lập mà pháp luật này phù hợp với chuẩn mực và giá trị quốc tế về quyền con người Những nguyên tắc này cũng đặc ra yêu cầu về tính tối thượng của pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, ràng buộc bởi pháp luật, áp dụng pháp luật công bằng, phân quyền, tham gia vào quá trình ra quyết định, pháp luật ổn định, ngăn ngừa sự độc đoán, chuyên quyền
và thủ tục pháp lý minh bạch” ( UN Secretary, 2006, para 6)
Liên quan tới bản chất của pháp luật, Ugo Matei chia nhà nước pháp quyền
thành ba loại: Sự thống trị của pháp luật chuyên nghiệp (pháp quyền chuyên nghiệp) và đây là loại phổ biến trong truyền thống pháp lý phương Tây; Sự thống
trị của pháp luật truyền thống (pháp quyền truyền thống) vốn phổ biến trong các
nước chịu ảnh hưởng của truyền thống và tôn giáo; Nhà nước pháp quyền chính trị (pháp quyền chính trị) là loại điển hình ở các nước đang phát triển và trong giai đoạn chuyển đổi (Ugo Mattei, 1997) Dựa trên sự phân loại của Ugo Matei, Nhà
1 http://www.worldjusticeproject.org/what-rule-law
Trang 7Bảng 1: Sự phát triển nhận thức về nhà nước pháp quyền
Hẹp -tới -rộng
Tiếp cận
hình thức
1- Cai trị bằng luật
2- Hợp pháp hình thức
3-Dân chủ + hợp pháp
Luật là công
cụ của chính quyền
Luật khái quát, dự liệu, rõ ràng, ổn định
Sự thuận ý của người
bị trị xác định nội dung của luật
Tiếp cận
nội dung
4- Quyền cá nhân
5- Quyền nhân phẩm, công lý
6- Phúc lợi xã hội
Sở hữu, hợp đồng, riêng
Trang 8Tiếp cận thể chế
Trang 96
2- Khung tác động
Khái niệm và cách tiếp cận về nhà nước pháp quyền rất khác nhau bởi mục đích và quan điểm tiếp cận nhưng tất cả đều có những giá trị nhất định Trong bài viết này, tiếp cận về nhà nước pháp quyền nhằm mục đích đo lường ảnh hưởng tới
cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay Do vậy, yêu cầu trong cách tiếp cận cần bảo đảm ba nội dung sau: (1) Kế thừa các phương pháp đánh giá hiện đại về nhà nước pháp quyền; (2) Có khả năng đo lường ảnh hưởng ở mức độ nhất định (3) Gắn với thực tế nhận thức và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Những điều kiện đặc thù ở Việt Nam trong nhận thức và xây dựng nhà nước pháp quyền như sau:
(1) Chế độ một đảng lãnh đạo và pháp luật có nhiệm vụ thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam;
(2) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đặt ra rất sớm trong văn kiện đảng nhưng thể hiện trong Hiến pháp mới gần đây (2001);
(3) Nội dung khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đảng và Hiến pháp 2013 vẫn chưa được giải nghĩa và thể chế hóa một cách
cụ thể;
(4) Lộ trình xây dựng nhà nước pháp quyền và bảo vệ và thực thi quyền con người bắt nguồn từ nhận thức của Đảng và được thể hiện trong chính sách, đường lối của Đảng và thể chế hóa trong hệ thống pháp luật;
(5) Xây dựng nhà nước pháp quyền mới bắt đầu và nguồn lực giới hạn cho nên lập thứ tự ưu tiên là cần thiết Nói cách khác, chúng ta không thể làm tất cả mọi việc cùng một lúc
Từ những yêu cầu và đặc thù của Việt Nam, khái niệm Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa có một số các thành tố cơ bản sau đây: (1) Phải có sự ghi nhận trong hiến pháp và luật (đặc biệt là quyền con người); (2) Hệ thống tư pháp độc lập; (3) Bảo hiến (độc lập, chuyên nghiệp, trình tự tư pháp); (4) Kiểm soát quyền lực nhà nước Những tiêu chí trên kế thừa từ những quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền và có điều chỉnh để gắn với điều kiện đặc thù ở Việt Nam như:
Thứ nhất, kết hợp một số tiêu chí gắn với thể chế chính trị ở Việt Nam Ví dụ,
tiêu chí “ràng buộc bởi pháp luật” (tiêu chí số 3 ở bảng 1) đổi thành: “quy định,
Trang 107
ghi nhận trong hiến pháp và pháp luật” Bởi lẽ, hiến pháp đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị và xã hội ở Việt Nam hiện nay Tiêu chí phân quyền (Số 2 bảng 1) đổi thành “kiểm soát quyền lực” bởi quan điểm hiện nay ở Việt Nam
về một đảng lãnh đạo là cần thiết và phân quyền là không chấp nhận Hơn nữa, phân quyền và kiểm soát quyền lực cùng có chung mục đích là hạn chế sự lạm dụng quyền lực
Thứ hai, quyền con người không là một nội dung của khái niệm của nhà nước
pháp quyền vì mục đích của nghiên cứu này là tìm ra sự ảnh hưởng của nhà nước pháp quyền tới cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền con người
Thứ ba, tuy kiểm hiến không phải là tiêu chí phổ biến nhưng vẫn được chọn
bởi với điều kiện lịch sử pháp quyền chưa có bề dày và hiến pháp mới được ban hành nhưng điểm mới cơ bản là có một chương quan trọng và rất mới về quyền con người, cho nên việc bảo vệ hiến pháp và bảo vệ bằng con đường tài phán không chỉ là bảo vệ trật tự pháp luật mà còn là sự bảo vệ quyền con người Vì vậy, tiêu chí này được chọn để đánh giá về nhà nước pháp quyền trong mối liên hệ với quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Với những nội dung như trên về nhà nước pháp quyền, ảnh hưởng của nó tới việc bảo vệ quyền con người theo các tiêu chí như sau:
Sự ghi nhận trong hiến pháp
Việc hiến pháp ghi nhận các quyền tuy không được coi là biện pháp, cơ chế hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền con người nhưng có những nghiên cứu cho thấy ghi nhận quyền trong hiến pháp có ý nghĩa nhất định, chứ không chỉ là hình thức (Linda Camp Keith, 2002) và nó cũng có khả năng giảm nguy cơ vi phạm quyền con người từ phía nhà nước nếu ghi nhận trong hiến pháp trong một thời gian và với những điều kiện nhất định (Linda Camp Keith, C Neal Tate, Steven C Poe, 2009) Việc không quy định các quyền trong hiến pháp sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền trên thực tế của các chủ thể và không thể hiện sự cam, trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện một cách minh bạch, công khai của
nhà nước Có quan điểm về nhà nước pháp quyền cho rằng: “Nếu chính quyền
không thể đưa ra cơ sở pháp lý cho hoạt động của nó tòa án Anh có thể coi những hoạt động đó là trái luật bởi hoạt động đó không được pháp luật trao quyền.”
(Craig Paul, 2007, p 97) Nói cách khác, thực hiện hành vi mà không có luật là
Trang 11và tòa án có thể giải quyết liên quan đến những quyền trong hiến pháp (Alexy Robert, 2006)
Ghi nhận các quyền trong hiến pháp cũng có các mức độ như: (1) ghi nhận đầy
đủ các loại, nhóm quyền hay không; (2) ghi nhận có hiệu lực trực tiếp, có tính khả thi hay không; (3) có quy định về việc hạn chế sửa đổi hay không; (4) Ghi nhận trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực thi của nhà nước hay không Ở lĩnh vực này, các tiêu chí phụ như: trách nhiệm thể chế hóa bằng luật; giới hạn sự can thiệp của
cơ quan nhà nước; cơ chế bảo vệ quyền mang tính đặc thù Với khía cạnh này, thang điểm sẽ được đánh giá sẽ là 0 nếu không ghi nhận; giá trị là 1 nếu ghi nhận một phần và 2 nếu ghi nhận đầy đủ
Sự của độc lập tư pháp và kiểm hiến
Sự độc lập của tư pháp và hiệu quả của hệ thống pháp luật có khả năng ngăn chặn sự vi phạm quyền con người (Emilia Justyna Powell and Jeffrey K Staton, 2009) Sự độc lập của tư pháp dù chỉ được ghi nhận trong hiến pháp cũng có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người (Linda Camp Keith, 2002) Điều cần lưu ý là sự độc lập của tòa án phái là sự độc lập tự thân, độc lập có cơ sở pháp lý chứ không phải là hệ quả của sự ban phát chính trị
Bở lẽ, “chế độ độc tài có thể mang lại sự độc lập cho tòa án nhưng tòa án đó khó
có thể nếu không muốn nói là không bao giời tạo nên chế độ pháp quyền thực sự”
(Gretchen Helmke and Frances Rosenbluth, 2009)
Tòa án có mức độ độc lập không cao hoặc không độc lập ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là các loại quyền của
cá nhân Tư pháp độc lập được coi là cơ chế cơ bản và quan trọng nhất để bảo vệ quyền con người dưới góc độ là các cá nhân Bởi lẽ, tòa án là phương tiện quan trọng để cá nhân bảo vệ lợi ích của mình trước các chủ thể có lợi thế hơn Ví dụ, chủ thể vi phạm quyền của các cá nhân là cơ quan nhà nước, các cá nhân tổ chức…Hơn nữa, mức độ độc lập thấp cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu
Trang 129
quả hoạt động và niềm tin vào tòa án từ đó có thể gây áp lực và giảm hiệu quả của các nhánh quyền lực khác và cũng là sự ảnh hưởng gián tiếp đến cơ chế bảo đảm quyền cơ bản
Đánh giá sự độc lập của tư pháp được chia thành hai góc độ phổ biến: độc lập
về mặt pháp lý hình thức (de jure) và độc lập trên thực tế (de facto) Ở Việt Nam
hiện nay, những đánh giámang tính chất định lượng về sự độc lập của tư pháp chưa thực sự phổ biến và vì vậy, bài viết này dựa trên các đánh giá khác Nếu tư pháp độc lập được đánh giá trên mức trung bình (theo thang điểm của các đánh giá được lựa chọn) thì tiêu chí này có giá trị 0, 1 và 2, theo đó không độc lập ở mức thấp nhất, độc lập một phần ở mức 1 và độc lập cao ở mức 2
Kiểm hiến là một thiết chế quan trọng và sự hình thành và phát triển của nó có thể có nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là bảo vệ quyền con người, đặc biệt sau Thế chiến thứ hai (Ginsburg, 2008, p.85, 87) Kiểm hiến độc lập và chuyên nghiệp giúp ngăn chặn sự lạm quyền và bảo vệ tính tối cao của hiến pháp bởi một mặt nó trực tiếp bảo vệ và bảo đảm các quyền con người được ghi nhận trong hiến pháp (dù hiến pháp có hiệu lực trực tiếp hay không) Mặt khác, với vai trò bảo vệ tính tối cao của hiến pháp, hạn chế sự lạm dụng quyền lực của cơ quan nhà nước, nó gián tiếp góp phần bảo vệ các quyền cơ bản bằng việc duy trì các cơ chế bảo vệ quyền con người được ghi nhận trong hiến pháp, hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước Nếu cơ chế kiểm hiến được quy định trong hiến pháp và mang tính chuyên nghiệp, độc lập và theo con đường tư pháp sẽ ở mức 2 Nếu ghi nhận cơ quan bảo hiến nhưng không chuyên nghiệp hoặc không bảo vệ bằng thủ tục tư pháp thì giá trị có được là 1 và không ghi nhận
sẽ là 0
Phân quyền và kiểm soát quyền lực
Phân quyền, kiểm soát sự lạm dụng quyền lực đóng vai trò kép trong việc bảo
vệ và bảo đảm quyền con người Một mặt, nó ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực giữa các cơ quan nhà nước với nhau, mặt khác nó buộc các cơ quan có trách nhiệm trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người Với những quyền mang tính tập thể và quyền thuộc nhóm kinh tế, xã hội, quyền tham gia, trách nhiệm tích cực của nhà nước có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm thực hiện các quyền này trên thực tế Một số đánh giá về nhà nước pháp quyền đưa ra tiêu chí, yêu cầu quan trọng là
sự phân quyền và cho rằng phân quyền là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự
Trang 1310
độc lập của tòa án và từ đó mới thể hiện mức độ cao của tính pháp quyền Xét về thực chất và lịch sử hình thành, tư tưởng phân quyền, chế độ phân quyền hình thành do nhu cầu kiểm soát, hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước Mặt khác, nguyên tắc phân quyền phụ thuộc vào sự lựa chọn thể chế hiến định, ví dụ sự lựa chọn giữa chế độ tổng thống và chế độ đại nghị Do vậy, bài viết này đánh giá sự hiện diện của cơ chế kiểm soát sự lạm dụng quyền lực nói chung và quyền lực trong bộ máy nhà nước nói riêng thay cho tiêu chí phân quyền bởi phân quyền và kiểm soát quyền lực cùng chia xẻ mục đích chung là hạn chế sự lạm dụng quyền lực
Bài viết này cũng đánh giá cơ chế kiểm soát quyền lực không chỉ trong bộ máy nhà nước mà còn mở rộng đến hệ thống chính trị nói chung và gắn với chế độ đảng phái và bầu cử Nếu cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước ở mức độ phân quyền giữa lập pháp, hành pháp trong hiến pháp, bầu cử tự do và có cạnh tranh chính trị giá trị sẽ là 2 Nếu hiện diện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hiến pháp, có chế độ bầu cử và có quy định về tính đại diện và trách nhiệm dân chủ của đảng lãnh đạo, giá trị là 1 và nếu hiến pháp không ghi nhận, giá trị sẽ là 0 Thực tế, sự cạnh tranh chính trị qua bầu cử đa đảng cũng nhằm mục đích đảm bảo tính đại diện và tính trách nhiệm của các đảng có được sự ủng hộ cần thiết của cử tri trong khoảng thời gian giữa hai kỳ bầu cử Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng, tính trách nhiệm, tính cạnh tranh chính trị trong bầu cử tự do được đánh giá cao hơn so với tính đại diện cho lợi ích chung và trách nhiệm của đảng lãnh đạo
3- Nhà nước pháp quyền và quyền con người ở Việt Nam
Ghi nhận trong hiến pháp và pháp luật về quyền con người và cơ chế bảo vệ ở Việt Nam
Một sự thay đổi tích cực là Hiến pháp 2013 đã ghi nhận quyền con người và quyền công dân thành một chương riêng và là chương đứng thứ hai có tầm quan trọng chỉ sau chương chế độ chính trị Xét về mặt lập hiến, đây là thay đổi rất quan trọng và đáng khích lệ nhưng đặt trong đặc thù của thể chế chính trị Việt Nam, sự ghi nhận này có vẻ khá muộn bởi những nội dung của các Văn kiện Đảng từ khi thành lập (1930) đã phản ánh những giá trị cơ bản của quyền con người Quyền con người trong các Văn kiện này đã có sự phát triển từ thấp đến cao, từ chung chung đến cụ thể, từ định tính đến định lượng và tương thích với sự phát triển nhận thực về quyền con người trên thế giới trong khi vai trò của hiến pháp và pháp
Trang 14rõ ràng Ví dụ, quyền tự do tư tưởng chưa được ghi nhận, quyền bình đẳng nam,
nữ, quyền tự do đi lại, cư trú, quyền được xác định dân tộc, ngôn ngữ được ghi nhận cho công dân nhưng chưa ghi nhận cho cá nhân, quyền trưng cầu dân ý chưa
rõ là quyền phúc quyết hay chỉ là hỏi ý kiến nhân dân…
Các cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền con người đã được quy định tương đối đầu đủ Ví dụ, ghi nhận trách nhiệm của nhà nước và xã hội (Điều 14), bảo vệ quyền tự do cá nhân (khoản 2 Điều 20, 21, 22, 24), bảo vệ, bảo đảm quyền khiếu nại (khoản 2, 3 Điều 30)…Tuy nhiên, những cơ chế bảo đảm cho các quyền kinh
tế, xã hội còn khiêm tốn (quyền tự do kinh doanh, môi trường, văn hóa…)
Về mặt kỹ thuật lập hiến, cách thức quy định cũng là một trong những biện pháp bảo đảm quan trọng cho các quyền cơ bản Nhìn chung, các quyền đã tách thành điều riêng, quy định quyền và cơ chế bảo vệ ngay trong cùng một điều Tuy nhiên, chưa có quy định về các điều không thể sửa đổi hoặc chỉ được sửa đổi với thủ tục đặc biệt nhằm đề cao tính ổn định của các quyền đó Một vấn đề quan trọng đặt ra là các quyền cơ bản trong Hiến pháp 2013 không rõ là có hiệu lực thực hiện trực tiếp, có thể kiện ra tòa hay không
Hiến pháp 2013 cũng đã ghi nhận các cơ chế bảo vệ quan trọng như sự độc lập của tòa án, nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người của Tòa án và Viện Kiểm sát (thay cho bảo vệ pháp chế, chế độ xã hội chủ nghĩa trong Hiến pháp 1992) và các cơ chế bảo vệ quyền con người trong quá trình xét xử của Tòa án (quyền tranh tụng, bào chữa…) Tuy nhiên, một số cơ chế quan trọng chưa được ghi nhận trọng Hiến pháp 2013 Ví dụ, Cơ quan nhân quyền quốc gia (theo Nguyên tắc Paris), thời hạn và trách nhiệm luật hóa các quyền trong hiến pháp để
tránh tình trạng “treo”, “chờ” văn bản cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có thể xảy
ra
Hiến pháp 2913 mới được thông qua với một chương mới quy định về quyền con người là một bước tiến đáng kể hướng tới chế độ pháp quyền và bảo vệ quyền con người Tuy nhiên, việc cụ thể hóa các quyền cơ bản thành các đạo luật nói và
Trang 1512
các cơ chế bảo vệ cũng như triển khai thực hiện Hiến pháp này nói chung còn nhiều thách thức và vẫn cần nhiều sự cố gắng cũng như hy vọng
Độc lập tư pháp và kiểm hiến
Độc lập của tòa án được chia thành hai loại, độc lập về mặt pháp lý hình thức (de jure) và độc lập về mặt thực tế (de facto) Tuy nhiên, những đánh giá định tính
về độc lập của tòa án ở Việt Nam còn khiêm tốn cả về mặt pháp lý hình thức cũng như về mặt thực tế
Về mặt pháp lý, độc lập của tòa án theo pháp luật hiện hành chưa thể lạc quan Những quy định của hiến pháp và pháp luật cho thấy hầu hết những tiêu chí của sự độc lập (quy định về độc lập của tòa án trong hiến pháp, thủ tục bổ nhiệm, nhiệm
kỳ của thẩm phán, lương của thẩm phán, cơ chế kiểm hiến, công khai án, phân bổ
án, độc quyền xét xử và quyết định chung cuộc) chưa được đánh giá ở mức khả quan (trừ hai tiêu chí: quy định về độc lập của tòa án trong hiến pháp và độc quyền
xét xử và quyết định chung cuộc) (Đỗ Minh Khôi 2014)
Có đánh giá cho thấy sự độc lập của tòa án ở Việt Nam trong năm 2014 và xu
hướng 2003-2014 không ở mức cao (2/10) và cũng thấp tương đối so với khu vực
và trên thế giới (BTI 2003-14) Một số đánh giá khác cũng cho thấy mức độ độc
Trang 16nhiều và ở mức từ 0.957 tới 0.2311 trong thang bậc từ 0 đến 1 (Drew A Linzer
and Jeffrey K Staton, 2012) Một đánh giá khác cho thấy mức độ độc lập của tư
pháp có vẻ khả quan hơn, 3.4/7 và xếp hạng 89/148 quốc gia (World Economic
Forum, 2013-2014 p.388)
Với hiện trạng độc lập của tòa án như trên, các quyền cơ bản của con người bị ảnh hưởng đáng kể đặc biệt trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của cá nhân Điều này cũng thể hiện trong các chỉ số các quyền cơ bản thấp một cách tương ứng với
chỉ số pháp quyền Ví dụ, tương ứng với chỉ số pháp quyền là 2/10, chỉ số bầu cử
tự do là 2/10, quyền lập hội là 3/10 và tự do biểu đạt là 2/10, quyền dân sự là 3/10
và quyền tài sản là 4/10 (BTI 2003-14) Tương ứng với mức độ độc lập của tư pháp là 0, các mức độ về quyền phần lớn ở mức 0, trừ quyền không bị đưa đi mất tích (Disappearance) ở mức 2 trong thang điểm từ 0 đến 2 từ năm 2009 đến 2011, quyền bị giết hại ở mức 1 trong thang từ 0 đến 2 trong hai năm 2010 và 2011
Đánh giá về mức độ độc lập của tư pháp khả quan hơn thì mức độ bảo đảm quyền
cơ bản cũng khả quan hơn Ví dụ, với mức độ độc ập là 3.4/7 về độc lập tư pháp, mức độ bảo đảm quyền cơ bản (fundamental rights) tương ứng là 0.5/1 (World
Economic Forum, 2013-2014)
Về nguyên tắc, cơ chế bảo vệ hiến pháp ở mức độ nào đó đã hiện diện trong
Hiến pháp với tư cách là đạo luật “đặc biệt” Tuy nhiên, cho đến Hiến pháp 2013,
cơ chế kiểm hiến chuyên nghiệp và độc lập vẫn chưa xuất hiện Trong quá trình soạn thảo và lấy ý kiến đóng góp của xã hội, Dự thảo Hiến pháp 2013 đã có một điều về Hội đồng hiến pháp mặc dù chưa thực sự là cơ quan độc lập, chuyên nghiệp và bảo hiến theo cơ chế tư pháp (Điều 120 Dự thảo 1 và 117 Dự thảo 2) Hiến pháp 2013 khi thông qua đã không còn quy định về Hội đồng hiến pháp nữa
và cơ quan cao nhất bảo vệ hiến pháp là Quốc hội (suy luận trên cơ sở nội dung Điều 69, 70, 119)
Kiểm soát quyền lực
Tiêu chí về kiểm soát quyền lực ở Việt Nam cần phải được đánh giá tương ứng với mục đích hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và bảo vệ các quyền cơ
Trang 1714
bản, quyền dân chủ Khoản 3, Điều 2 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Về mặt hình thức, Hiến pháp 2013 không quy định phân quyền giữa cơ quan, hệ thống mà khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất Tuy nhiên, với tinh thần khoản 1, 3, đã hiện diện cơ chế kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện ba loại quyền lực nhà nước
đã cho thấy có dấu hiệu kiểm soát quyền lực nhà nước gắn với mục đích dân chủ, chống lạm quyền Trong các điều khác của Hiến pháp 2013 cũng đã thể hiện một phần tinh thần kiểm soát quyền lực Ví dụ, Điều 69, 70, 90, 94 cho thấy mức độ giám sát của Quốc hội, Chủ tịch nước với Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác
Đặc thù chế độ chính trị một đảng lãnh đạo ở Việt Nam là một thực tế và có ý nghĩa lịch sử và hiện tại Với vai trò lãnh đạo được thừa nhận trong Hiến pháp
2013 (Điều 4), hình thành bộ máy nhà nước ở Việt Nam sẽ không giống với cạnh tranh giữa các đảng chính trị trong bầu cử ở nhiều nước trên thế giới Cử tri trong bầu cử chọn các cá nhân đại diện cho họ chứ không phải là sự lựa chọn các đường lối, chính sách cai trị giữa các đảng khác nhau Mặc dù không có sự lựa chọn các chính sách của các đảng khác nhau nhưng Điều 4 Hiến pháp 2013 đã có quy định
về tính đại diện và chịu trách nhiệm trước nhân dân Tuy nhiên, tính trách nhiệm
và sự đại diện lợi ích được quy định trong Điều 4 Hiến pháp 2013 chỉ ở mức chung chung, cần phải có được thể chế hóa trong các đạo luật cho nên về mặt này mức đánh giá sẽ là 1
Đánh giá ngoài Việt Nam về kiểm soát quyền lực của chính quyền theo các nội dung: hạn chế bởi lập pháp, hạn chế bởi tư pháp, kiểm toán độc lập, xử lý quan chức vi phạm, giám sát bởi xã hội, chuyển giao quyền lực hợp pháp với số điểm tương ứng là 0.3; 0.26; 0.43; 0.55; 0.35; 0.48 với thang điểm từ 0-1 và trung bình
số điểm của Việt Nam là 0.4 và đứng thứ 86/99 quốc gia (The World Justice
Project, 2014)
Hiện trạng về kiểm soát quyền lực sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến trách nhiệm bảo vệ và tôn trọng quyền con người Thiếu cơ chế kiểm soát cũng sẽ ảnh hưởng đến trách nhiệm tích cực của nhà nước trong việc bảo đảm các quyền cở bản, đặc biệt là các quyền chính trị, dân sự
Trang 18Như vậy, quyền con người ở Việt Nam chịu tác động rất lớn bởi những cơ chế pháp quyền như sau: (1) sự ghi nhận trong hiến pháp; (2) sự thể chế hóa các nội dung trong hiến pháp thành các đạo luật và trách nhiệm triển khai thực hiện các đạo luật đó; (3) các biện pháp bảo vệ các quyền cơ bản và cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và thúc đẩy trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người; (4) như đã trình bày ở trên, Hiến pháp 2013 mới được ban hành, do vậy quyền con người có lẽ còn chịu ảnh hưởng thêm bởi yếu tố thứ tư nữa – thời gian và quyết tâm chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam
và Nhà nước Việt Nam trong việc triển khai thực hiện hiến pháp mới
Thuận lợi cơ bản là quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền, quyền con người và những cơ chế bảo đảm các quyền con người và quyền công dân là một trong những nội dung quan trọng của các văn kiện Đảng gần đây
và những chủ trương này đã được thể chế hóa khá cụ thể trong Hiến pháp 2013
Như vậy, thách thức lớn nhất chính là yếu tố thứ tư đã nêu ở trên
Trang 1916
4- Gợi ý
Một trong những vấn đề cơ bản nhất là phải đổi mới hơn nữa mô hình tổ chức
và vận hành quyền lực nhà nước và cả hệ thống chính trị Nói cách khác, mô hình
tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước, của Đảng và mối quan hệ giữa Đảng và nhà nước Đổi mới hệ thống chính trị cần gia tăng mức độ kiểm soát sự lạm dụng quyền lực, mức độ giám sát nhằm nâng cao trách nhiệm tích cực của nhà nước trong việc bảo đảm các quyền tích cực Đây là một trong những biện pháp, cơ chế trung tâm để bảo đảm và bảo vệ quyền cơ bản Hơn nữa, trong chế độ một đảng lãnh đạo ở Việt Nam, sự cạnh tranh chính trị lành mạnh trong nội bộ đảng và cơ chế chịu trách nhiệm trước nhân dân cần được cải thiện và thể chế hóa bằng luật Dưới góc độ chính trị, đây là cơ chế có tính pháp quyền, quan trọng và trung tâm nhất trong việc bảo vệ và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Gợi ý tiếp theo, cần thể chế hóa trách nhiệm luật hóa các quyền và các biện pháp bảo đảm các quyền trong Hiến pháp 2013 Tình trạng các quyền trong hiến pháp chưa được luật định cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hạn chế trong thực hiện Ví dụ, quyền trưng cầu ý dân trong Điều 53 Hiến pháp 1992 chưa một lần được thực hiện trên thực tế Trong một thời gian dài (từ
1992 đến 2013), quyền biểu tình, lập hội, tiếp cận thông tin (Điều 69) không được luật hóa đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các quyền này trên thực tế
Hơn nữa, trong các quy định về quyền cơ bản của Hiến pháp 2013, mệnh đề: “việc
thực hiện quyền này do pháp luật quy định” hoặc “luật định” là khá phổ biến cho
nên trách nhiệm luật hóa là rất cần thiết
Một trong những yếu tố có tính chất cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền
là sự độc lập của tư pháp và hiện trạng của sự độc lập này thật sự đáng lo ngại (nếu các đánh giá ngoài là tin cậy) Vì vậy, một trong những yêu cầu quan trọng là phải đảm bảo sự độc lập của tư pháp Thật ra, thực hiện những yêu cầu để bảo đảm
sự độc lập của tư pháp không có gì là mới mẻ và khó khăn và trong bất cứ mô hình
tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước nào (dù là chế độ tổng thống, đại nghị hay lưỡng thể) tư pháp luôn luôn phải độc lập Tin vui là đảm bảo sự độc lập của
tư pháp đã thể hiện trong chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam, và quyết tâm triển khai trên thực tế là điều đang được mong đợi
Trang 2017
REFERENCES
1 Alexy Robert, 2006, Discourse Theory and Fundamental Rights, in Arguing
fundamental Rights, Agustín José Menéndez and Erik Oddvar Eriksen eds, Springer
2 Clair Apocada, 2004, The Rule of Law and Human Rights, Judicature, Volume
5 Craig Paul, 2007, The Rule of Law in Relations between the executive, the
judiciary and Parliament Report with Evidence, 6th Report of Session 2006–07,
10 Đỗ Minh Khôi, 2012b, Political rights in the Constitution 1992, in the
Conference: Human rights, basic rights and duties of citizens in the Constitution
of 1992: status and needs renovation, Institute of State and Law of Vietnam Academy of Social Sciences
11 Đỗ Minh Khôi, 2013, The Rule of Law, Concepts and Historical Development, in
The Conference: Building the rule of law - Experience of Vietnam and China, Hồ Chí Minh National Academy of Politics and Public Administration
Trang 2118
12 Đỗ Minh Khôi, 2014a, De Jure Independence of Judiciary, paper in the
conference: Ensuring Judicial Independence of The Court in The Rule of Law Context and International Integration of Việt Nam - Current Situations And Perspectives and Demand Perfection,Institute of State and Law of Vietnam Academy of Social Sciences (Đảm bảo sự độc lập xét xử của tòa án trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở nước ta – nhận thức lý
luận, thực trạng và nhu cầu hoàn thiện, Viện nhà nước và pháp luật, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.)
13 Đỗ Minh Khôi, 2014b, The rule of law – Concepts, historical Development and Measurement, in The conference: The rule of law: Theories and Practice, School
of Social and Humanity Science, Hanoi National University, 2014
14 Emilia Justyna Powell and JeffreyK Staton, 2009, Domestic Judicial Institutions and Human Rights Treaty Violation, International Studies Quarterly, Vol 53, 149–
174
15 Frank B Cross, 1999, The Relevance of Law in Human Rights Protection, International Review of Law and Economics, Vol 19, 87–98
16 Tom Ginsburg, 2008, the Global Spread of Constitutional Review, in the
OxfordHanbook of Law and Politics
17 Gretchen Helmke and Frances Rosenbluth, 2009, Regimes and the Rule of Law: Judicial Independence in Comparative Perspective, Annual Review of Political Science, Vol 12, 345–66
18 Hiro Katsumata, 2009, ASEAN and human rights: resisting Western pressure or emulating the West? The Pacific Review, Vol 22:5, 619-637
19 IBA, 2009, Commentary on the IBA Council „Rule of Law‟ Resolution of
http://www.ibanet.org/PPID/Constituent/Rule_of_Law_Action_Group/Default.as
px
20 James Melton, Do Constitutional Rights Matter? The Relationship between De
http://www.ucl.ac.uk/~uctqjm0/Files/melton_humanrights.pdf
21 James Melton, Tom Ginsburg, Does De Jure Judicial Independence Really Matter?: A Reevaluation of Explanations for Judicial Independence, http://www.ucl.ac.uk/~uctqjm0/Files/ginston_judicialindependence.pdf
Trang 2219
22 Joseph Raz, 1979, The Authority of the Law, Oxford University Press
23 Marc Spitzkatz (Ed), 2013, Rule of Law: Perspectives from Asia,
26 Linda Camp Keith, 2002, Judicial independence and human rights protection around the world, Judicature, January-February, Volume 85, Number 4
27 Linda Camp Keith, C Neal Tate, Steven C Poe, 2009, Is The Law A Mere Parchment Barrier To Human Rights Abuse? The Journal of Politics,Vol 71, No
2, Pp 644–660
28 Rachel Kleinfeld Belton, 2005, Competing Definitions of the Rule of Law: Implications for Practitioners, Carnegie Working Paper No 55, Rule of Law
Series, Democracy and Rule of Law Project, Carnegie Endowment for
http://www.carnegieendowment.org/files/CP55.Belton.FINAL.pdf
29 Randall P Peerenboom, 2004a, “Human Rights and Rule of Law: What's the
Relationship?" (August 23, 2004) bepress Legal Series bepress Legal
http://law.bepress.com/expresso/eps/355
30 Randall Peerenboom (ed), 2004b, Asian discourse of the rule of law -Theories and Implementation of Rule of Law in Twelve Asian Countries, France and the U.S, Routledge Curzon
31 Rodolfo Sarsfield, What is the Rule of Law (And Is Not)?, Paper prepared for delivery at the 2010 Annual Meeting of the American Political Science
http://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1667682
32 Tamanaha Brian Z, 2009, A Concise Guide to the Rule of Law in Gianluigi
Palombella and Neil Walker, Relocating the Rule of Law, Hart Publishing
33 Tamanaha Brian Z, 2004, On the Rule of Law; History, Politics, Theory,
Cambridge
Trang 2336 Tom Zwart, 2012, Using Local Culture to Further the Implementation of International Human Rights: The Receptor Approach, Human Rights Quarterly, Volume 34, Number 2, May, pp 546-569
37 Ugo Mattei,1997, Three Patterns of Law: Taxonomy and Change in the World' s Legal System, The American Journal of Comparative Law, Vol 45
38 UN Secretary, 2006, The report: The rule of law and transitional justice in conflict and post-conflict societies
39 Voigt, Stefan (2009) : How to measure the rule of law, Joint discussion paper series in economics, No 2009,38, Url: http://hdl.handle.net/10419/30141
40 Thomas Carothers, 2009, “Rule of Law Temptations,” The Fletcher Forum of World Affairs, Vol 33/1, 49-61
41 World Justice Project, http://www.worldjusticeproject.org
42 World Economic Forum, The Global Competitiveness Report 2013–2014, Url: http://www.weforum.org/issues/global-competitiveness
Trang 24Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ
6 thông qua ngày 28/11/2013, Chủ tịch nước công bố ngày 08/12/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của nước ta trong thời kỳ mới, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của lịch sử lập hiến Việt Nam Để phân biệt Hiến pháp này với các bản Hiến pháp năm 1946, 1959,
1980 và Hiến pháp năm 1992, sau đây gọi tắt là Hiến pháp năm 2013 Về cơ cấu
của Hiến pháp:Hiến pháp năm 2013 gồm 11 chương, 120 điều So với Hiến pháp
năm 1992, Hiến pháp năm 2013 giảm 1 chương, 27 điều, trong đó có 12 điều mới
(Điều 19, 34, 41, 42, 43, 55, 63, 78, 111, 112, 117 và 118); giữ nguyên 7 điều (Điều 1, 23, 49, 86, 87, 91 và 97) và sửa đổi, bổ sung 101 điều còn lại1
.Hiến pháp năm 2013 có cơ cấu mới và sắp xếp lại trật tự các chương, điều so với Hiến pháp
1992, như: đưa các điều quy định các biểu tượng của Nhà nước (quốc kỳ, quốc
huy, quốc ca ) ở Chương XI Hiến pháp năm 1992 vào Chương I "Chế độ chính
trị" của Hiến pháp năm 2013 Chương II "Chế độ kinh tế" và Chương III "Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ" của Hiến pháp năm 1992 có tổng cộng 29
điều đã được Hiến pháp năm 2013 gộp lại thành một chương là Chương III "Kinh
tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và mội trường" và chỉ còn 14
điều nhưng quy định cô đọng, khái quát, mang tính nguyên tắc so với Hiến pháp năm 1992 Khác với các bản Hiến pháp trước đây, lần đầu tiên Hiến pháp năm
2013 có một chương mới quy định về "Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán nhà
nước” (Chương X) Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 còn đổi tên Chương IX Hiến
Phó Trưởng khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
1 GS-TS Phan Trung Lý, “Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam - Hiến pháp dân chủ, pháp quyền và phát triển”
(Bài phát biểu tại Hội nghị giới thiệu nội dung Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh ngày 18/12/2013)
Trang 2522
pháp năm 1992 "Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND)" thành
"Chính quyền địa phương" và đặt Chương IX "Chính quyền địa phương" sau
Chương VIII "Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân" Về hình thức thể hiện
của Hiến pháp năm 2013: so với với Hiến pháp năm 1992, hình thức thể hiện của
Hiến pháp năm 2013 từ Lời nói đầu đến các điều quy định cô đọng hơn, khái quát,
ngắn gọn, chính xác, chặt chẽ hơn Ví dụ, Lời nói đầu Hiến pháp năm 2013 được rút ngắn, cô đọng, súc tích, đủ các ý cần thiết nhưng chỉ có 3 đoạn với 290 từ so với
6 đoạn với 536 từ của Hiến pháp năm 1992
Chương II “Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”:
gồm 36 điều, từ Điều 14 đến Điều 49 Trong 11 chương của Hiến pháp năm 2013, đây là chương có số điều quy định nhiều nhất (36/120 điều), có nhiều đổi mới nhất
cả về nội dung quy định, cả về cách thức thể hiện Cụ thể như sau:
1 Về tên chương và vị trí của chương
Hiến pháp 2013 đổi tên Chương V Hiến pháp năm 1992 “Quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân” thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và đưa lên vị trí trang trọng của Hiến pháp là Chương II ngay sau
Chương I "Chế độ chính trị" Việc bổ sung thêm phạm trù “Quyền con người” vào tên chương chứng tỏ các nhà lập hiến Việt Nam đã nhận thức “Quyền con người”
và “Quyền công dân” là hai phạm trù tuy có mối liên hệ với nhau nhưng không
hoàn toàn đồng nhất với nhau cả về chủ thể hưởng quyền, nội dung của quyền lẫn cách thể hiện quyền trong Hiến pháp Hiến pháp 2013 quy định vấn đề quyền con người, quyền công dân ở Chương II (xếp trước các Chương quy định về chính sách kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường và Chương bảo vệ tổ quốc) chứng tỏ các nhà lập hiến đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề quyền con người; xem nhân quyền là mục đích ra đời và là nội dung cơ bản của bất cứ bản Hiến pháp nào Với mục đích bảo đảm quyền con người, do đó, nội dung cơ bản của một bản Hiến pháp là ghi nhận nhân quyền ra
sao và tổ chức bộ máy nhà nước như thế nào để bảo đảm nhân quyền
2 Về bố cục các nhóm quyền trong chương:
Hiến pháp 1992 xếp các quyền công dân trong lĩnh vực chính trị ở vị trí đầu tiên; các quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội ở vị trí thứ 2; các quyền công dân trong lĩnh vực dân sự ở vị trí cuối cùng Hiến pháp 2013 xếp các
Trang 2623
quyền trong lĩnh vực dân sự ở vị trí đầu tiên; các quyền chính trị ở vị trí thứ 2; các quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội ở vị trí cuối cùng Cách bố cục các nhóm quyền trong Hiến pháp 2013 chứng tỏ các nhà lập hiến đã có cách tiếp cận các quyền dân sự phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người cũng như Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới
Theo Karel Vasak, các quyền dân sự, chính trị thuộc thế hệ thứ nhất của quyền con người1 Các quyền dân sự gắn liền với phạm trù tự do cá nhân – một phạm trù mà ở góc độ nhất định, mang tính đối trọng với phạm trù quyền lực nhà nước Mục đích của thế hệ quyền này về cơ bản là để giới hạn, ngăn chặn sự tùy tiện và lạm quyền từ phía nhà nước xâm hại đến cuộc sống tự do của cá nhân2 Xét một cách tổng quát, những lý thuyết chính trị tự do của các nhà tư tưởng như J.Locke, J.J Rousseau,… được các giai cấp tư sản vận dụng để đấu tranh cho một chính quyền hợp hiến, có chung một quan điểm là con người sinh ra được tự do Hay nói cách khác, họ quan niệm tự do là bản tính vốn có của con người Từ tự do
đã sinh ra khế ước xã hội Chính vì những điểm này mà lý thuyết của họ được vận dụng để đấu tranh cho sự thiết lập Hiến pháp Chiến thắng đầu tiên và lớn nhất của chủ nghĩa tự do là ở Anh Những điều khoản của Dự luật về các quyền năm 1689 cho thấy cách mạng Anh không chỉ nhằm bảo vệ quyền tài sản mà còn thiết lập những quyền tự do, mà những người theo chủ nghĩa tự do tin là cần thiết đối với nhân phẩm và giá trị đạo lý của con người Những quyền của con người được nêu
ra trong Dự luật về các quyền của Anh được dần dần công bố rộng rãi, đặc biệt trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp
1789 Như vậy, Hiến pháp - một giải pháp chính trị - về mặt hình thức được đặt trên cơ sở nhận thức nhân bản là con người sinh ra vốn tự do Do nhu cầu đảm bảo
tự do vốn có của con người mà phải ấn định chính quyền trong một bản văn gọi là Hiến pháp để giới hạn chính quyền và như ước vọng của các nhà theo chủ nghĩa lập hiến là chính quyền không can thiệp vào các quyền tự do vốn có của con
1 Thế hệ thứ hai của quyền con người là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Thế hệ thứ ba của quyền con người tiêu biểu là các quyền như quyền tự quyết dân tộc, quyền phát triển, quyền được sống trong hòa bình, quyền được sống trong môi trường lành mạnh,… các quyền thuộc thế hệ thứ ba hiện nay vẫn đang được bổ sung
2Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội–Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người - Nxb Chính trị quốc
gia, 2009, tr.69
Trang 2724
người Bởi vì, một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa lập hiến là việc vạch ra giới hạn giữa quyền lực nhà nước và quyền của công dân theo công thức là nhà nước thì không được can thiệp vào các lĩnh vực thuộc các quyền tự do của công dân Vì thế, bên cạnh việc ấn định chính quyền trong Hiến pháp, thì để đảm bảo các quyền tự do của con người, Hiến pháp cũng phải ghi nhận các quyền tự do cho con người - coi như là một giới hạn - mà chính quyền không được xâm phạm vào lãnh địa cấm đó1
Các quyền dân sự, chính trị được chính thức pháp điển hóa trong luật pháp quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt với việc Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 Với vai trò đặc biệt quan trọng của các quyền dân sự mà Luật pháp quốc tế về quyền con người cũng như Hiến pháp của hầu hết các nước đều đặt các quyền dân sự lên hàng đầu, không chỉ đặt trước các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (vốn thuộc thế hệ thứ hai của quyền con người) mà còn đặt trước các quyền chính trị (vốn cùng thế hệ thứ nhất với các quyền dân sự) Ví dụ: 1 Hiến pháp Thụy Điển 1974 quy định các quyền và quyền tự do cơ bản trong chương 2 có 23 điều (từ điều 1 đến điều 23) thì từ điều 1 đến điều 14 quy định về các quyền dân sự của công dân 2 Hiến pháp Singapore
1963 quy định các tự do cơ bản trong phần IV có 8 điều (từ điều 9 đến điều 16) thì
từ điều 9 đến điều 15 quy định về các quyền dân sự của công dân 3 Hiến pháp Liên bang Nga 1993 quy định các quyền và tự do của con người và công dân trong chương 2 có 48 điều (từ điều 17 đến điều 64) thì từ điều 17 đến điều 31 quy định
về các quyền dân sự của công dân
3 Về tƣ duy (nguyên tắc) lập hiến:
- Thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Điều 50 Hiến
pháp 1992 đã chính thức thừa nhận phạm trù “Quyền con người” thông qua việc ghi nhận nguyên tắc “Tôn trọng quyền con người” Đây được xem là một bước
tiến về mặt tư duy của các nhà lập hiến Tuy nhiên, Điều 50 Hiến pháp 1992 lại
quy định “Quyền con người… được thể hiện ở các quyền công dân” đã làm
“nghèo nàn” phạm trù “Quyền con người”, bởi vì “Quyền con người” không chỉ
được thể hiện ở các quyền công dân mà còn được thể hiện thông qua quyền của nhiều chủ thể khác như quyền của người nước ngoài, người không quốc tịch Rút
kinh nghiệm này, Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định nguyên tắc “Tôn
1Bùi Ngọc Sơn- Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và nhà nước pháp quyền - Nxb Tư pháp, 2005, tr.102
Trang 2825
trọng quyền con người” nhưng bỏ đi đoạn “được thể hiện ở các quyền công dân”
Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định đầy đủ các thái độ của
nhà nước đối với “Quyền con người” là: công nhận (nhà nước thừa nhận nhân
quyền thông qua hoạt động ký kết Điều ước quốc tế song phương và đa phương về quyền con người); tôn trọng (nhà nước thừa nhận nhân quyền với thái độ trân
trọng vì Điều ước quốc tế, Công ước quốc tế về “Quyền con người” đã trở thành văn minh nhân loại); bảo vệ (khi “Quyền con người” bịxâm phạm thì nhà nước
bằng sức mạnh của mình sẽ đứng ra bảo vệ); bảo đảm (nhà nước không chỉ ghi nhận nhân quyền mà còn có trách nhiệm tạo mọi điều kiện về vật chất và pháp lý
để thực thi nhân quyền trong thực tế)
- Thứ hai, Điều 51 Hiến pháp 1992 quy định: “Quyền và nghĩa vụ của công
dân do Hiến pháp và luật định” Quy định này được hiểu là chỉ có Quốc hội bằng
một đạo luật mới được quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân Các cơ quan nhà nước khác bằng các văn bản dưới luật thì không được quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân Qua bao nhiêu năm thực hiện, quy định này đã tỏ ra không phù hợp với thực tiễn pháp lý ở nước ta Bởi vì ở nước ta hiện nay, các văn bản dưới luật của các cơ quan nhà nước cũng có vai trò quan trọng trong việc cụ thể hoá, hướng dẫn thi hành quyền con người trong Hiến pháp và luật Do đó, Hiến pháp 2013 đã bỏ quy định này và lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam,
Hiến pháp 2013 đã ghi nhận nguyên tắc “Hạn chế quyền con người” tại Khoản 2 Điều 14: "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định
của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng" Nguyên tắc này xác định
hình thức pháp lý của việc hạn chế quyền (bằng các đạo luật do Quốc hội ban hành) cũng như điều kiện hạn chế quyền (với lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng) Đây chính là nguyên tắc hiến định rất quan trọng về quyền con người, quyền công dân và theo nguyên tắc này, từ nay không chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhà nước được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp1 Cũng từ nguyên tắc này, các quy định liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, của công dân (như quyền được sống, quyền không bị tra tấn,
1 Xem thêm: GS-TS Trần Ngọc Đường, Một số nội dung cơ bản của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Kỷ yếu Hội thảo “Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” do Trường ĐH Luật Tp HCM và Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp tổ chức ngày 01/3/2013
Trang 2926
quyền bình đẳng trước pháp luật ) là các quy định có hiệu lực trực tiếp; chủ thể của các quyền này được viện dẫn các quy định của Hiến pháp để bảo vệ các quyền của mình khi bị xâm phạm Các quyền, tự do cơ bản khác của con người, của công dân và
quyền được bảo vệ về mặt tư pháp cần phải được cụ thể hóa nhưng phải bằng luật do
Quốc hội, - cơ quan đại diện quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân ban hành1
,
chứ không phải quy định chung chung “theo quy định pháp luật”2
như rất nhiều điều của Hiến pháp năm 1992 quy định
- Thứ ba, Khoản 4 điều 15 là một quy định hoàn toàn mới: “Việc thực hiện
quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Xét về phương diện lý luận, nội dung
của điều khoản hiến định trên có thể được xem là nội hàm của nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân hoặc được hiểu như một nguyên tắc độc lập Nguyên tắc này nhằm làm rõ hơn mối tương quan giữa quyền của cá nhân với quyền của người khác cũng như quyền của cộng đồng Khi thừa nhận tính độc lập của nguyên tắc này, chúng ta muốn nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm cùng với
sự chủ động của mỗi cá nhân trong việc thụ hưởng quyền, tự do Việc quá đề cao lợi ích cá nhân trong nhiều trường hợp không chỉ ảnh hưởng đến không gian tự do của người khác mà còn xâm hại (thậm chí nghiêm trọng) những giá trị chung của cộng đồng – nền tảng của sự tồn tại và phát triển lành mạnh của đời sống xã hội
4 Về kỹ thuật lập hiến
Một là, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền nào là quyền con người,
quyền nào là quyền công dân và quy định chương này theo thứ tự: đầu tiên là các nguyên tắc hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tiếp đến là các quyền dân sự, chính trị rồi đến các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội
và cuối cùng là các nghĩa vụ của cá nhân, của công dân Hầu hết các điều của
chương này trong Hiến pháp năm 2013 thay vì quy định “công dân” như Hiến pháp
2 Ở nước ta, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, UBND xã, phường cũng có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
3Hiến pháp năm 1992 có 24/34 điều quy định “công dân có quyền ”, “công dân có nghĩa vụ ” kể cả các quyền,
các nghĩa vụ không chỉ dành cho công dân Việt Nam mà còn cho mọi cá nhân có liên quan đang sinh sống, hoạt
Trang 3027
trọng, đánh dấu bước phát triển mới về nhận thức lý luận và giá trị thực tiễn khi không đồng nhất quyền con người với quyền công dân
Hai là, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền con người, quyền công dân
nào thực hiện “theo luật” và quyền con người, quyền công dân nào thực hiện
“theo pháp luật” Ví dụ, Điều 19 “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người
Điều 23 “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước
ngoài và từ nước ngoài về nước Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”
5 Một số quyền mới
Hiến pháp năm 2013 quy định một số quyền mới của con người, quyền và
nghĩa vụ mới của công dân như: có quyền sống (Điều 21); Quyền được sống trong
môi trường trong lành và nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 46); “Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa” (Điều 44); “Quyền xác định dân tộc” (Điều 45), quyền không bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác (Điều 49) Điều này thể hiện bước
tiến mới trong việc mở rộng và phát triển các quyền, phản ảnh kết quả của quá trình đổi mới hơn 1/4 thế kỷ ở Việt Nam Nội dung của các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong các điều khác của Hiến pháp năm
2013 phù hợp với các Điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, nhất là Công ước quyền con người về chính trị, dân sự và Công ước quyền con người về kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 của Liên hợp quốc Đây cũng chính là
sự khẳng định cam kết mang tính hiến định của Nhà nước ta trước Nhân dân và trước cộng đồng quốc tế về trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam2
Trang 31Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội là chức năng lập pháp Trong bộ máy nhà nước, chỉ có Quốc hội có quyền lập pháp Xét về hình thức, hoạt động lập pháp của Quốc hội được thể hiện ra bên ngoài bằng hoạt động ban hành các văn bản luật (luật và bộ luật) Xét về nội dung, lập pháp là việc Quốc hội đặt ra các quy tắc xử
sự để điều chỉnh hành vi của các chủ thể nhằm thiết lập một trật tự xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của toàn xã hội Nhìn chung, quyền lập pháp của Quốc hội được hiểu là quyền thông qua các dự án luật, tạo nên những chuẩn mực buộc các chủ thể trong xã hội phải thực hiện Hoạt động lập pháp của Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong việc đưa các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân thực hiện trên thực tế Bởi vì, các quy định của Hiến pháp về các quyền chỉ mang tính chung, nguyên tắc Khi thực hiện trên thực tế từng quyền phát sinh rất nhiều vấn đề cần dự liệu cụ thể hơn để đảm bảo hiệu quả, ý nghĩa thực chất của việc thực hiện quyền Thực tế đã cho thấy, trong thời gian qua Quốc hội đã thể chế hóa các nội dung về quyền con người, quy định các cơ chế bảo đảm thực hiện quyền con người, ban hành nhiều văn bản luật, pháp lệnh, nghị quyết, tạo cơ sở pháp lý để thực thi các quyền con người Chỉ tính từ giữa năm 1992 (là thời điểm Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực thi hành) đến hết năm 2008, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 547 văn bản luật, pháp lệnh và nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật Các văn bản này đã quy định một cách khá đầy đủ và toàn diện về quyền con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn
Giảng viên khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
Trang 3229
hóa, xã hội, cũng như về cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền đó Tuy vậy, có rất nhiều quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp từ lâu nhưng vẫn chưa thể được hiện thực hóa do hoạt động lập pháp của Quốc hội chưa đáp ứng
Để đảm bảo hiện thực hóa các quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 trên thực tế, trong thời gian tới, hoạt động lập pháp của Quốc hội cần phải chú trọng tới những vấn đề sau:
1 Ban hành các luật mới để quy định về việc thực hiện tất cả các quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp 2013 nhưng chưa thực hiện được do thiếu luật
Những quyền quan trọng của công dân được quy định trong Hiến pháp chưa được cụ thể hóa bằng luật gồm có:
- Quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân
Đây là một trong những quyền chính trị quan trọng của công dân, đã được quy định từ bản Hiến pháp đầu tiên – Hiến pháp năm 1946 và được đề cập đến trong tất cả Hiến pháp sau này Hiện nay, quyền này được quy định tại Điều 29 Hiến pháp 2013 Việc vấn đề trưng cầu ý dân được quy định trong tất cả các Hiến pháp cho thấy Nhà nước ta luôn coi trọng quyền biểu quyết quyết định những vấn
đề quan trọng của đất nước của công dân Tuy nhiên, qua thực tế thực hiện quyền công dân có thể nhận thấy quyền này là một trong những quyền công dân bị trì hoãn thực hiện lâu nhất Có nhiều nguyên nhân lý giải cho thực tế này, ở khía cạnh pháp lý thì việc quyền này chưa thực hiện xuất phát từ chỗ quyền này mới chỉ được quy định trong Hiến pháp mà chưa được các văn bản pháp luật khác cụ thể hóa Phải thừa nhận rằng, ngay cả khi Hiến pháp có những quy định được coi khá
cụ thể về thủ tục thực hiện trưng cầu ý dân (như Hiến pháp 1946) thì cũng vẫn chưa đủ cơ sở để tổ chức trưng cầu ý dân trên thực tế Để hiện thực hóa quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân của công dân, tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã
xác định phải “ban hành Luật về Trưng cầu ý dân” Thực hiện chủ trương của
Đảng, Quốc hội khóa XIII đã giao Hội Luật gia chủ trì xây dựng Dự thảo Luật trưng cầu ý dân Tuy vậy, đến nay Dự thảo này vẫn chưa được thông qua
- Quyền biểu tình
Trang 3330
Thực hiện quyền biểu tình cũng là phương thức để nhân dân bày tỏ ý chí, nguyện vọng và đòi hỏi của mình đối với các chính sách của nhà nước Quyền biểu tình cũng được quy định từ Hiến pháp 1959, hiện nay quyền này được quy định tại Điều 25 Hiến pháp 2013 Tuy vậy, đến nay Luật Biểu tình vẫn chưa được ban hành Việc thiếu Luật quy định về quyền biểu tình gây khó khăn cho việc xem xét đánh giá một hành vi biểu thị sự không đồng tình đối với một quyết định nào
đó của chính quyền là việc thực hiện quyền hay là hành vi phạm pháp Trên thực
tế nhiều hành vi có biểu hiện tương tự như biểu tình lại được vận dụng quy định về hành vi gây rối trật tự công cộng để xử lý
- Quyền được tiếp cận thông tin
Quyền tiếp cận thông tin là một quyền con người và là quyền cơ bản của
công dân thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 19481, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên Quyền tiếp cận thông tin được tiếp tục khẳng định trong nhiều điều ước quốc tế khác như Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng2, Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường
Hiến pháp năm 1992 ghi nhận quyền được thông tin của công dân và Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tiếp cận thông tin của công dân, đồng thời, lần đầu tiên, Hiến pháp năm 2013 đã hiến định các nguyên tắc thực hiện và hạn chế quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền tiếp cận thông tin Tuy vậy, đến giờ Luật Tiếp cận thông tin vẫn chưa được ban hành
2 Nâng cấp các Pháp lệnh quy định về các quyền lên thành Luật Sửa đổi, bổ sung những luật đã ban hành để nâng cao hiệu quả đảm bảo các quyền con người, quyền công dân phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của xã hội trong giai đoạn hiện nay
Pháp lệnh là hình thức văn bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Theo lý thuyết, mặc dù được xếp vào nhóm văn bản dưới luật tuy vậy hiệu lực của
1
Khoản 2 Điều 19 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người quy định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ"
2 Công ước này được Việt Nam phê chuẩn ngày 30 tháng 6 năm 2009
Trang 3431
pháp lệnh trên thực tế là tương đương luật Trong điều kiện Quốc hội vẫn hoạt động theo kỳ họp với thời gian họp còn hạn chế thì việc Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành các pháp lệnh để điều chỉnh các quan hệ xã hội được cho là ít quan trọng, hoặc chưa ổn định là cần thiết để đáp ứng nhu cầu quản lý xã hội Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân đều là những vấn đề quan trọng nên không nên sử dụng hình thức pháp lệnh để điều chỉnh vì sự quyết định đối với các pháp lệnh chưa hoàn toàn đảm bảo được sự đồng thuận của
xã hội, dẫn đến nhiều quy định chưa thực sự phù hợp với nhu cầu, lợi ích của người dân Trong thời gian tới cần nghiên cứu và nâng lên thành Luật đối với các pháp lệnh như: Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn…
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung các văn bản luật quy định trực tiếp về nội dung
các quyền con người, quyền công dân Ví dụ như: các Luật về bầu cử cần bổ sung quy định thực hiện quyền bầu cử của công dân Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, sửa đổi quy định những trường hợp không được quyền bầu cử; Luật nhà ở
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung các văn bản luật quy định về xử lý các hành vi vi
phạm quyền con người, quyền công dân
Ví dụ như: Bộ luật hình sự, Luật về xử phạt vi phạm hành chính cần bổ sung các quy định về xử lý đối với hành vi vi phạm quyền được bảo đảm an sinh xã hội như hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, đóng không đúng hạn, không đầy đủ hoặc gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động; việc chế tài, xử lý đối với trách nhiệm của chủ thể nghĩa vụ trong việc bảo đảm các quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa, quyền được tiếp cận các dịch vụ văn hóa, quyền được giữ gìn bản sắc, những vi phạm đối với những nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số;
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung các văn bản luật quy định về cơ chế giám sát phát
hiện những hạn chế trong việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân từ phía cơ quan nhà nước Ví dụ như: Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật thanh tra,
3 Xác định rõ mức độ giới hạn của các quyền con người, quyền công dân
Trang 3532
Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ
có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
Quy định này đặt ra trách nhiệm của Quốc hội trong hoạt động lập pháp cần phải xem xét, cân nhắc lường trước các trường hợp hạn chế quyền con người, quyền công dân một các cụ thể Tránh những quy định dẫn tới hệ quả cho phép cơ quan khác như Chính phủ, chính quyền địa phương được đặt ra các quy định hạn chế quyền công dân Điều này có ý nghĩa ngăn chặn sự lạm dụng hay tùy tiện nào tước đi hay hạn chế các quyền và tự do vốn có của mọi người bởi các cơ quan nhà nước
4 Mở rộng cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin góp ý của cá nhân, cơ quan tổ chức trong quá trình ban hành các luật điều chỉnh về quyền con người, quyền công dân Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội vào hoạt động lập pháp của Quốc hội
Việc đưa ra những quyết định của Quốc hội nói chung cũng như việc ban hành luật của Quốc hội phải dựa trên cơ sở thông tin đầy đủ toàn diện, đặc biệt là thông tin từ phía những đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của các quy định Do vậy, trong quá trình ban hành các luật điều chỉnh về quyền con người, quyền công dân cần mở rộng cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin góp ý của cá nhân, cơ quan tổ chức và tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội vào hoạt động lập pháp của Quốc hội
Trong thời gian qua, mặc dù Quốc hội đã mở rộng nhiều hình thức thu thập
ý kiến của nhân dân, tuy vậy, việc tổ chức các hình thức, phương thức tham gia của người dân được các cơ quan nhà nước thực hiện cũng chưa thật sự khoa học Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được tổ chức xin ý kiến của người dân chưa thật sự hướng vào các đối tượng bị điều chỉnh Việc tiếp thu giải quyết các vấn đề
mà nhân dân nêu ra chậm, chưa có hình thức phản hồi về sự tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân hiệu quả làm giảm lòng tin và nhiệt tình của người dân trong việc góp ý về các luật trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình Trong thời gian tới cần hoàn thiện các hình thức tiếp nhận và xử lý thông tin góp ý của cá nhân, cơ quan tổ chức trong quá trình ban hành các luật Mở rộng tuyên truyền về các dự án
Trang 36*
Trang 3734
NHẬN DIỆN CÁC NGUYÊN TẮC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI,
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CÔNG DÂN TRONG HIẾN PHÁP NĂM 2013
Lưu Đức Quang
Trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại, việc xác lập mối quan hệ lành mạnh giữa nhà nước với cá nhân luôn được quan tâm hàng đầu và được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Mối quan hệ này phải được hình thành trên những nguyên tắc hiến định cơ bản về quyền con người, quyền và nghĩa
vụ công dân Chúng là những tư tưởng chính trị - pháp lý có tính chất chủ đạo, tạo
ra nền tảng để quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân cũng như thực hiện trong cuộc sống Do vậy, nhận diện các nguyên tắc này một cách khoa học là yêu cầu cấp thiết được đặt ra trong quá trình triển khai thi hành bản Hiến pháp mới của đất nước Bài viết trình bày những phân tích và bình luận của tác giả nhằm góp phần nhận diện nội hàm của bốn nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân trong Hiến pháp năm 2013; bao gồm: nguyên tắc về trách nhiệm chung của Nhà nước đối với quyền con người, quyền công dân; giới hạn quyền con người, quyền công dân; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân và mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
1 Nguyên tắc về trách nhiệm chung của Nhà nước đối với quyền con người, quyền công dân
Cơ sở hiến định:“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”(Khoản 1 Điều 14
Hiến pháp năm 2013)
1.1 Mối quan hệ giữa quyền con người với quyền công dân
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do vậy, có rất nhiều định nghĩa
về quyền con người Xét ở góc độ pháp lý, theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc
về quyền con người, Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác
dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc
Giảng viên khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
Trang 38Quy định này đã khắc phục được hạn chế về cách quy định của điều 50 Hiến
pháp năm 1992 khi đồng nhất quyền con người với quyền công dân như sau: “Ở
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân
sự, kinh tế, xã hội và văn hóa được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và
quyền con người với quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 đã sử dụng từ “mọi
người”, “không ai” khi thể hiện quyền con người và dùng từ “công dân” khi ghi
nhận về quyền công dân
1.2 Trách nhiệm hiến định của Nhà nước
Trong xã hội văn minh, quyền con người và quyền công dân là những giá trị thiêng liêng Đối với nhà nước pháp quyền, việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh Việc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi nhà nước ký kết, tham gia, nội luật hóa và thực hiện một cách có thiện chí các Điều ước quốc tế về quyền con người, mà điển hình là Bộ luật quốc tế về Quyền con người(bao gồm Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước
Trang 3936
quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội năm 1966 và những văn kiện khác)
Khoản 1 điều 14 Hiến pháp 2013 tuyên bố: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”
Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ đề cập đến nghĩa vụ tôn trọng (một cách chung chung) ở điều 50, thì Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng ghi nhận cả ba nghĩa
vụ của nhà nước là nghĩa vụtôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ bảo đảm thực
hiện quyền con người Quy định này còn được thể hiện trong điều 3 Hiến pháp năm 2013 Điểm mới này không chỉ bảo đảm sự tương thích với các quy định về nghĩa vụ quốc gia trong Luật nhân quyền quốc tế mà còn tạo cơ sở hiến định ràng buộc trách nhiệm cụ thể các cơ quan nhà nước đối với quyền con người, quyền công dân Theo đó, nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi các nhà nước phải kiềm chế không can thiệp vào việc thụ hưởng quyền con người, quyền công dân; ví dụ nhà nước không ngăn cản việc cá nhân thực hiện các nghi lễ tôn giáo, bày tỏ và thực hành đức tin tôn giáo của mình hoặc không bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luậtthư tín, điện thoại, điện tín của cá cá nhân một cách trái luật Nghiã vụ bảo vệ đòi hỏi nhà nước phải ngăn chặn hay phòng chống sự vi phạm quyền con người, quyền công dân của bên thứ ba; ví dụ nhà nước quy định tội phạm đối với hành vi giết người trong Bộ luật Hình sự và áp dụng hình phạt thích đáng đối với các cá nhân thực hiện hành vi này Nghĩa vụ bảo đảm đòi hỏi các nhà nước phải tạo ra cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ cá nhân trong việc thực hiện quyền; ví dụ nhà nước xây dựng hệ thống trường học nhằm đảm bảo quyền học tập của công dân hoặc tổ chức các dịch vụ y tế nhằm đảm bảo quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của mọi người Nếu nghĩa vụ tôn trọng mang tính bị động thì hai nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm mang tính chủ động
Điểm đáng chú ý trong khoản 1 điều 14 là việc các nhà lập hiến còn đặt ra
nghĩa vụ công nhận quyền con người, quyền công dân của nhà nước Căn cứ vào
trách nhiệm này, quyền con người, quyền công dân không thể được hiến định theo
kiểu Nhà nước ban phát: Mọi người/ Công dân có quyền… theo quy định của luật/
pháp luật mà chuyển sang việc Nhà nước thừa nhận: Mọi người/ Công dân có quyền… Việc thực hiện các quyền này theo quy định của luật/ pháp luật Thông
qua hoạt động lập pháp, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để cá nhân hưởng quyền
Trang 4037
chứ không thể cản trở hay tước đoạt quyền Công nhận cần được hiểu là sự nhấn mạnh, minh định của Nhà nước về quyền cơ bản Hệ quả của việc thừa nhận trách nhiệm này, theo chúng tôi, là sự gián tiếp thừa nhận từ phía Nhà nước hiệu lực hay
cơ chế thực thi trực tiếp đối với các quyền hiến định Nếu Hiến pháp đã ghi nhận quyền thì cá nhân đương nhiên được hưởng Việc Nhà nước chậm trễ hay trì hoãn ban hành các văn bản pháp luật có liên quan không thể được xem là lý do xác đáng ngăn cản việc cá nhân thực hiện quyền Nhà nước có trách nhiệm tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho cá nhân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chi, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình, quyền về trưng cầu ý dân… Ngược lại, cá nhân có quyền căn cứ vào các quy định của Hiến pháp để yêu cầu Nhà nước đảm bảo thực thi quyền của họ Ở một khía cạnh khác, trách nhiệm công nhận của Nhà nước không chỉ bó hẹp ở phạm vi những quyền cơ bản được liệt kê trong Hiến pháp mà còn là sự thừa nhận chung đối với những quyền chính đáng khác của mỗi cá nhân Nhà nước không thể ban hành pháp luật nhằm tước bỏ hay hạn chế quyền con người bất hợp pháp Đây cũng chính là xu hướng lập hiến hiện đại của các nhà nước văn minh
2 Nguyên tắc giới hạn quyền con người, quyền công dân
Cơ sở hiến định:“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế
theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản
2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013)
Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định nguyên tắc giới hạn quyền Đây
cũng là nguyên tắc đã được nêu trong Luật nhân quyền quốc tế, chẳng hạn tại Điều
29 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, Điều 4 Công ước quốc tế
về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 và một số điều trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 mà nước ta là thành viên Bên cạnh đó, nguyên tắc này có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo thực hiện chức năng quản lý xã hội của nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch, hài hòa hóa mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước – cá nhân – cộng đồng; đồng thời, đảm bảo tính hiện thực của các quyền con người, quyền công dân trước nguy cơ các nhà chức trách lạm dụng quyền lực nhà nước trong việc cắt xét chúng một cách tùy tiện