8 Black’s Law định nghĩa cụm từ PCV là “một thủ tục tư pháp, trong đó tòa án không công nhận quyền miễn trừ trách nhiệm thông thường mà các nhà điều hành công ty hay người góp vốn được
Trang 1KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-LÊ NGUYỄN DUY HẬU
HỌC THUYẾT “PIERCING THE CORPORATE VEIL” TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC: SO SÁNH PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại
TP HCM - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
HỌC THUYẾT “PIERCING THE CORPORATE VEIL” TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC: SO SÁNH VỚI PHÁP
LUẬT VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: LÊ NGUYỄN DUY HẬU
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN NGỌC BÍCH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận cử nhân luật “Học thuyết “Piercing the corporate veil” trong pháp luật các nước: so sánh với pháp luật Việt Nam” là công trình của riêng
cá nhân tôi Mọi tài liệu, số liệu được sử dụng trong bản luận văn đều được trích dẫn đầy đủ và việc tổng hợp, phân tích là kết quả của quá trình nghiên cứu của tôi, không
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN VỀ “PIERCING THE CORPORATE VEIL” 5
1 Tính trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn và tư cách pháp nhân của công ty: 5
2 Sự lợi dụng tính trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn: 6
3 Định nghĩa và nguồn gốc của “piercing the corporate veil”: 7
4 Sự phát triển của “piercing the corporate veil”: 9
“PIERCING THE CORPORATE VEIL” TRONG PHÁP LUẬT MỸ 11
1 Lý thuyết về PCV trong pháp luật Mỹ: 11
2 Thực tế áp dụng học thuyết “piercing the corporate veil”: 14
2.1 Mức độ chi phối, điều hành của người góp vốn đối với công ty: 15
2.2 Mức độ đầu tư vào công ty của người góp vốn (“đầu tư không đủ”): 20
2.3 Mức độ tách bạch giữa công ty và người góp vốn: 25
3 Nhận xét: 29
“PIERCING THE CORPORATE VEIL” Ở CÁC QUỐC GIA THUỘC HỆ THỐNG DÂN LUẬT 30
1 PCV trong pháp luật công ty các quốc gia Mỹ Latin – sự ảnh hưởng của pháp luật Hoa Kỳ: 30
1.1 Tổng quan về pháp luật công ty Mỹ Latin: 30
1.2 Áp dụng PCV trong pháp luật công ty Mỹ Latin: 32
1.3 Tiểu kết: 35
2 PCV trong pháp luật công ty CHLB Đức: 36
2.1 Tổng quan chung về PCV ở Đức: 36
2.2 Mức độ chi phối, điều hành của người góp vốn đối với công ty: 39
2.3 Mức độ đầu tư vào công ty của người góp vốn (“đầu tư không đủ”): 42
2.4 Mức độ tách bạch giữa công ty và người góp vốn: 45
2.5 Tiểu kết: 49
“PIERCING THE CORPORATE VEIL” TRONG PHÁP LUẬT CÔNG TY VIỆT NAM 51
Trang 51 Quy định về PCV trong pháp luật công ty Việt Nam: 51
1.1 Nghĩa vụ của người góp vốn trong công ty nhiều chủ sở hữu: 52
1.2 Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong công ty TNHH 1 thành viên: 53
1.3 Trường hợp công ty mẹ - công ty con: 53
1.4 Nhận xét: 54
2 Những điểm còn thiếu và hướng hoàn thiện cho học thuyết PCV ở Việt Nam: 54
2.1 Mức độ chi phối, điều hành của người góp vốn đối với công ty: 54
2.2 Mức độ đầu tư vào công ty của người góp vốn (“đầu tư không đủ”): 55
2.3 Mức độ tách bạch giữa công ty và người góp vốn: 56
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 61
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài:
Lịch sử pháp luật công ty là một chặng đường dài để định hình nên phạm vi trách nhiệm của những người góp vốn thành lập công ty Trải qua quá trình phát triển của nền kinh tế, dần dần các nhà làm luật đã trao cho người góp vốn những đặc ân khi
họ tham gia đầu tư thành lập công ty Một trong số đó là chế định “trách nhiệm hữu hạn” mà họ được hưởng đối với hoạt động của công ty
Tuy nhiên, lịch sử thương mại các quốc gia trên thế giới cũng cho thấy chế định “trách nhiệm hữu hạn” đó thường xuyên bị người góp vốn lợi dụng để gây phương hại cho các đối tác của mình nhằm làm giàu không công bằng Chế định
“trách nhiệm hữu hạn” cho phép người góp vốn được miễn trừ khỏi những nghĩa vụ
do công ty mà họ đầu tư gánh vác trong quá trình kinh doanh Từ đó, người góp vốn thường có khuynh hướng tham gia vào các giao dịch có rủi ro cao vì lợi nhuận đem lại
sẽ rất lớn nhưng thiệt hại nếu có sẽ rất nhỏ và có thể lường trước Ở nhiều quốc gia, tòa án đã coi cách làm này của người góp vốn là “không công bằng cho nền kinh tế”
Xuất phát từ những rủi ro đạo đức như trên, thông qua thực tiễn xét xử và yêu cầu của những người bị thiệt hại, tòa án các nước đã dần phát triển nên học thuyết
“Piercing the corporate veil” (xuyên thủng bức màn để trừng phạt người núp danh công ty) Đây là học thuyết được ra đời nhằm trừng phạt sự lợi dụng tính trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn để làm giàu bất chính, nhằm đảm bảo công bằng cho nền kinh tế và bảo vệ các đối tác làm ăn với công ty Học thuyết này nhanh chóng được nhiều quốc gia trên thế giới tiếp nhận và phát triển thành các tập án lệ hay luật thành văn nhằm giúp cho hệ thống pháp luật công ty của mình được hoàn thiện hơn, theo hướng bảo vệ tốt hơn cho sự công bằng của nền kinh tế
Chế định luật công ty của Việt Nam chỉ mới tồn tại từ sau thời kỳ Đổi mới Sau nhiều lần bổ sung, làm mới, hệ thống pháp luật công ty Việt Nam đã dần hoàn thiện và giúp sức có hiệu quả cho sự phát triển của nền kinh tế Trong quá trình đó, Việt Nam đã không ngần ngại học tập kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống pháp
Trang 7Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “HỌC THUYẾT “PIERCING THE CORPORATE VEIL” TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC: SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
khóa học đào tạo khóa học cử nhân luật của mình
Mục đích khi thực hiện đề tài
Chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất của học thuyết
“Piercing the corporate veil” dưới góc độ so sánh pháp luật các nước, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam Những nội dung và cách áp dụng học thuyết “Piercing the corporate veil” trong hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới
là hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và hệ thống pháp luật Đức sẽ được nghiên cứu làm rõ dựa trên hai chủ đề lớn: (1) Nội dung của học thuyết “piercing the corporate veil” trong pháp luật các nước, và (2) Áp dụng thực tế học thuyết này của tòa án các nước
Từ đó, chúng tôi rút ra những kết luận về điểm giống và khác nhau của học thuyết trong hai hệ thống kể trên Đồng thời, chúng tôi cũng nghiên cứu khả năng tiếp nhận một học thuyết của pháp luật nước ngoài của Việt Nam thông qua kinh nghiệm của các quốc gia Mỹ Latin
Thông qua đề tài khóa luận này, chúng tôi mong muốn đóng góp một nguồn tài liệu phong phú về vấn đề khá mới mẻ này của pháp luật Việt Nam Đồng thời, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ trở thành một nguồn tham khảo giàu thông tin cho những thế hệ sinh viên sau này có quan tâm đến học thuyết “Piercing the corporate veil”
Trang 83
Tình hình nghiên cứu và phạm vi của đề tài:
Đây là một đề tài rất mới ở Việt Nam Chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu nào về học thuyết “Piercing the corporate veil” trong pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam Một số tài liệu chỉ dừng ở mức giới thiệu về nội dung học thuyết này trong pháp luật Mỹ nhằm trang bị kiến thức cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào nước này
Trái lại, đề tài này là một trong những chủ đề được nghiên cứu công phu, kĩ lưỡng và đồ sộ nhất ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Mỹ và Đức Ở Mỹ, đây là
đề tài liên quan đến luật công ty được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất Chính điều này đã cung cấp cho chúng tôi một khối lượng đồ sộ tài liệu tiếng nước ngoài về chủ
đề mà chúng tôi theo đuổi
Từ việc tham khảo và chọn lọc những nội dung cần thiết, chúng tôi xin tập trung phân tích, giới thiệu bốn nội dung chính như sau:
- Giới thiệu chung về học thuyết “Piercing the corporate veil”
- Nội dung và áp dụng học thuyết này trong pháp luật Mỹ
- Nội dung và áp dụng học thuyết này trong pháp luật Đức
- Sự tiếp nhận học thuyết ở các quốc gia Mỹ Latin; thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến học thuyết này và hướng hoàn thiện từ kinh nghiệm Mỹ Latin
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phân tích, so sánh và tổng hợp
Đề tài sử dụng tài liệu tham khảo chủ yếu từ các văn bản pháp luật, các án
lệ, sách, bài nghiên cứu, quan điểm trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề này Từ việc phân tích những tài liệu kể trên, chúng tôi sẽ so sánh với tình hình, điều kiện thực
tế của Việt Nam và đưa ra những kiến nghị phù hợp
Kết cấu của đề tài:
Kết cấu của đề tài gốm 3 chương và 1 phần độc lập:
Trang 94
- Phần giới thiệu: Tổng quan về “Piercing the corporate veil”
- Chương 1: “Piercing the corporate veil” trong pháp luật Mỹ
- Chương 2: “Piercing the corporate veil” ở các quốc gia theo hệ thống Dân luật
- Chương 3: “Piercing the corporate veil” trong pháp luật công ty Việt Nam
Trang 105
PHẦN GIỚI THIỆU
TỔNG QUAN VỀ “PIERCING THE CORPORATE VEIL”
1 Tính trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn và tư cách pháp nhân của công ty:
Lịch sử pháp luật công ty là một chặng đường dài để định hình nên phạm vi trách nhiệm của những người góp vốn thành lập công ty Ban đầu, những người góp vốn tập hợp lại với nhau như những hội đoàn, cùng làm ăn chung, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro Công ty lúc này nếu tồn tại chỉ như một cơ chế giúp cho việc hoạt động và phân chia lợi nhuận giữa những người góp vốn được dễ dàng và thuận tiện
của mình đối với những nghĩa vụ mà hoạt động của công ty tạo ra
Dần dần, với sự phát triển của nền thương mại, những giao dịch mà công ty thực hiện càng mang tính rủi ro cao, khiến cho người góp vốn e ngại trong việc đầu tư vào nền kinh tế, vì sợ trách nhiệm Với nhu cầu thúc đẩy sự đầu tư, nhà làm luật đã từng bước trao cho người góp vốn vào công ty những đặc quyền nhất định, bảo vệ họ khỏi rủi ro có thể gặp phải trong những giao dịch của công ty Từ đó, tính trách nhiệm hữu hạn của công ty dành cho người góp vốn ra đời: người góp vốn chỉ còn phải chịu
Để đảm bảo cho người góp vốn tính trách nhiệm hữu hạn như thế, nhà làm luật đã trao cho công ty một tư cách: đó là tư cách pháp nhân – một “bình phong” bảo
Tính chất này có thể được giải thích một cách hai chiều: khi công ty tham gia vào một
Trang 11Chính tính cách pháp nhân của công ty và tính trách nhiệm hữu hạn mà người góp vốn được hưởng đã bảo vệ hữu hiệu cho công việc làm ăn của họ và thúc đẩy sự phát triển của pháp luật công ty, giúp cho công ty trở thành một loại hình kinh
Ở Việt Nam, pháp luật về công ty cũng ghi nhận tính cách pháp nhân của công ty và tính trách nhiệm hữu hạn là hai điều kiện tiên quyết, luôn được nhắc đến
2 Sự lợi dụng tính trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn:
Với hai tính chất kể trên của công ty, nhà làm luật không chỉ nhằm mục đích tăng tính hiệu quả cho nền kinh tế, nó còn là một biện pháp mang tính chính sách
để bảo vệ và giảm thiểu rủi ro cho người góp vốn Sự bảo vệ này không mang tính tuyệt đối và áp dụng trong mọi trường hợp Mục đích cuối cùng của pháp luật công ty không chỉ là giúp cho người góp vốn hưởng lợi từ hoạt động của công ty, mà thông qua những hoạt động ngay thẳng của công ty, cả những thành phần tham gia giao dịch
Tuy nhiên, khi được đảm bảo trách nhiệm hữu hạn như thế, người góp vốn vào công ty thường có khuynh hướng lợi dụng đặc quyền này để tham gia vào các giao dịch có rủi ro cao, gây phương hại cho nền kinh tế mà không sợ phải chịu trách nhiệm
5 REINER R KRAAKMAN ET AL, THE ANATOMY OF CORPORATE LAW: A COMPARATIVE AND FUNCTIONAL APPROACH 7-8 (2004); F EASTERBROOK AND D FISCHEL, THE ECONOMIC STRUCTURE OF CORPORATE LAW 41-44 (1991)
6Tlđd note 1
7 đ.39, 63, 77 Luật Doanh nghiệp 2005
8
KRAAKMAN, Tlđd note 3, 18-19
Trang 127
Xem xét một ví dụ được coi là điển hình, bằng cách lợi dụng tính trách nhiệm hữu hạn của công ty, một người đã thành lập công ty do bản thân làm người góp vốn duy nhất, sẵn sàng mượn nợ vượt quá khả năng chi trả của công ty Sau khi thất bại trong các giao dịch rủi ro cao, người này có thể xin phá sản công ty, và thành lập một công ty khác mà không chịu ảnh hưởng gì từ những món nợ cũ Tòa án xét
xử vụ việc trên đánh giá đây là một hành vi “liều lĩnh” (hazard), và đơn thuần là sự
Một ví dụ khác, X cam kết không tham gia vào thị trường cạnh tranh với Y,
để đổi lấy những lợi ích vật chất cụ thể Nhưng sau đó, X lại thành lập công ty để cạnh tranh với Y trong cùng ngành nghề X có thể nói rằng, trên lý thuyết, X vẫn giữ lời hứa không cạnh tranh với Y, đây là việc công ty cạnh tranh với Y X tuy là người thành lập công ty, nhưng trên giấy tờ, công ty mới là thực thể đang cạnh tranh với Y Tòa án xét xử vụ việc cũng đánh giá công ty mà X thành lập chỉ là sự lừa lọc, giả mạo
Trong những trường hợp đó, với yêu cầu của chủ nợ công ty, tòa án các nước có quyền xuyên thủng bức “bình phong” đó để ngăn chặn sự lợi dụng của người góp vốn Học thuyết “piercing the corporate veil” ra đời trên căn bản ngăn chặn những
3 Định nghĩa và nguồn gốc của “piercing the corporate veil”:
Nếu dựa trên nguyên bản tiếng Anh và nội dung của học thuyết “piercing
the corporate veil”, ta có thể gọi học thuyết này là cơ chế “xuyên thủng bức màn để
trừng phạt người núp danh công ty” Trên cơ sở giúp cho việc sử dụng thống nhất và
không làm lệch lạc ý nghĩa nguyên gốc, chúng tôi sẽ sử dụng cụm viết tắt “PCV” khi nhắc đến học thuyết “piercing the corporate veil” này
Trang 138
Black’s Law định nghĩa cụm từ PCV là “một thủ tục tư pháp, trong đó tòa án không
công nhận quyền miễn trừ trách nhiệm thông thường mà các nhà điều hành công ty hay người góp vốn được hưởng đối với những hoạt động sai trái của công ty
PCV không phải là một điều luật cụ thể, nó được phát triển gần như duy nhất bởi Tòa án.14 PCV tồn tại dưới dạng một biện luận (argument) mà chủ nợ của công ty sử dụng khi họ muốn người góp vốn chịu trách nhiệm trực tiếp đối với các
Trên cơ sở xem xét tính “công bằng và hợp lý” của tình huống được đặt ra, tòa án có quyền chấp nhận hay không biện luận đó và buộc
chấp nhận nhiều hơn biện luận kể trên của chủ nợ và, cùng với quá trình nghiên cứu của các luật gia, học thuyết về PCV dần hình thành và phát triển cho đến tận bây giờ
Tuy nhiên, PCV không chỉ là một học thuyết được áp dụng trong môi trường pháp luật của một quốc gia Trong bối cảnh thương mại quốc tế phát triển mạnh, quá trình làm ăn toàn cầu của các công ty đa quốc gia diễn ra sôi động, PCV
còn giữ vị trí như một cách để quốc gia tiếp nhận đầu tư chống lại hành vi “treaty
shopping” của người góp vốn.17
Ví dụ, B và C có kí kết hiệp ước đầu tư song phương (BIT) với nhau, trong khi A không có kí kết với B Những người góp vốn ở nước A muốn đầu tư vào nước
B Để được hưởng các quyền lợi ưu đãi người góp vốn, người góp vốn nước A có thể thành lập một công ty con ở C và tự mình điều hành, chi phối hoạt động đó Sau đó, công ty vừa thành lập này có thể đầu tư trực tiếp vào B và được hưởng những quyền lợi như một công ty nước C do người góp vốn nước C làm chủ Trong hoàn cảnh có tranh chấp xảy ra, nước B có thể yêu cầu cơ quan tài phán áp dụng học thuyết PCV để
12 I Mauricde Wormser, Piericng the Veil of Corporate Entity, 12 COLUM L REV 496 (1912)
13 BLACK’S LAW DICTIONARY, 1147-48 (8TH ED 2004)
14 Carsten Alting, Piercing the Corporate Veil in American and German Law – Liability of Individuals and
Entitites: A Comparative View, 2 TULSA J COMP & INT’L L 187, 193 1994-1995
Trang 149
xem công ty đó như công dân nước A chứ không phải là công dân nước C Đây cũng
là cách các quốc gia sử dụng để tự vệ chống lại các hành vi “treaty shopping” của
4 Sự phát triển của “piercing the corporate veil”:
Khởi phát từ Hoa Kỳ trong những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, PCV ban đầu chỉ là một học thuyết được sử dụng rộng rãi trong hệ thống Thông luật
triển của định chế công ty tại khu vực Dân luật, học thuyết PCV dần được du nhập đến các quốc gia Mỹ Latin Những quốc gia có truyền thống Dân luật lâu đời như Đức cũng tự mình phát triển một lý thuyết có nội dung giống với học thuyết PCV nhằm trừng phạt những người núp danh công ty làm điều sai trái
Với yêu cầu của nền kinh tế ngày càng phát triển, Việt Nam đã bắt đầu có khung pháp lý cho việc áp dụng học thuyết PCV từ năm 2005, với Luật Doanh nghiệp
phải chịu trách nhiệm thay cho công ty theo yêu cầu của chủ nợ
Hiện nay ở Việt Nam, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tỉ
mỉ và toàn diện về cơ chế PCV Tuy nhiên, một số học giả khi bàn về Luật Doanh
Trong các công trình kể trên, tồn tại hai luồng quan điểm về PCV ở Việt Nam: (1) PCV của Việt Nam được quy định tập trung trong hai điều luật về nghĩa vụ của thành viên hay cổ đông trong công ty: khoản 5 Điều 42 và khoản 5 Điều 80 Luật Doanh
18
Xem Tokios Tokelés v Ukraine, Decision on Jurisdiction (2004), 20 ICSID Review-FILJ 205 (2005), 11
ICSID Reports 313; Siemens v Argentina, Decision on Jurisdiction (2004), 44 ILM 138 (2005)
19
Tldđ note 11; xem thêm C Mitchell, Lifting the Corporate Veil in the English Courts: An Empirical Study, 3
COMPANY FINANCIAL AND INSOLVENCY LAW REVIEW 15 (1999)
22 Tldđ note 1; PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Luật Doanh nghiệp 2005 từ một góc nhìn so sánh với Luật Công ty
2005 của CHND Trung Hoa (nguồn: http://hiti.info.vn/home.php?action=ecomworld&id=57 )
Trang 1510
nghiệp;23 và (2) PCV của Việt Nam được quy định rải rác trong nhiều phần, nhiều điều luật của Luật Doanh nghiệp, thường có dạng “người góp vốn phải chịu trách
Theo chúng tôi, ở Việt Nam hiện nay có tốn tại những quy định pháp luật làm nền tảng cho tòa án áp dụng học thuyết PCV Tuy nhiên, trong bối cảnh ra đời chưa lâu, pháp luật về PCV Việt Nam cũng không thể đầy đủ và hoàn chỉnh như pháp luật các quốc gia có truyền thống lâu đời Vì vậy, chúng tôi chọn việc nghiên cứu học thuyết PCV từ nguồn gốc của nó là trong hệ thống pháp luật Mỹ và phân tích tính lan tỏa của học thuyết ra khu vực Dân luật, sự tiếp nhận và sáng tạo của người Đức Từ
đó, chúng tôi sẽ so sánh và rút ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót trong quy định về PCV của pháp luật Việt Nam, đồng thời kiến nghị những sửa đổi từ kinh nghiệm tiếp nhận học thuyết này ở các quốc gia Dân luật
Trang 1611
CHƯƠNG I
“PIERCING THE CORPORATE VEIL” TRONG PHÁP LUẬT MỸ
1 Lý thuyết về PCV trong pháp luật Mỹ:
Như đã trình bày, PCV là một biện luận được giới chủ nợ sử dụng nhằm thu
đã chấp nhận biện luận này Sau đó, giới luật gia và học giả dựa trên các bản án được công bố của tòa để xây dựng và phát triển biện luận kể trên thành một học thuyết PCV như ta biết ngày nay Mục đích của PCV là để đảm bảo “tính công bằng” cho nền kinh
tế thị trường
Giáo sư I Maurice Wormser được ghi nhận là học giả đầu tiên đưa ra khái
rằng, việc công ty được hưởng tư cách pháp nhân chỉ là một “đặc ân do Nhà nước ban
cũng khẳng định rằng, PCV là một thủ tục rất khó, không thể đưa ra các quy tắc thành
Tòa án bang California được cho là đã sử dụng lý thuyết về PCV của
Trong quá trình xét xử, tòa án bang California đã giới thiệu một gói test pháp lý gồm hai bước (two-prong test),30 trong đó: một công ty sẽ bị PCV nếu như thỏa mãn hai điều kiện (1) không có sự tách bạch về lợi ích giữa người góp vốn và công ty và (2) một hậu quả không công bằng, mang tính chính sách sẽ xảy ra nếu như
Trang 1712
Bên cạnh Wormser, một học giả khác cũng đóng góp đáng kể cho học thuyết PCV ở Mỹ là Giáo sư Powell Powell giới thiệu một gói test ba bước, trong đó: một công ty sẽ bị PCV nếu như thỏa mãn 3 điều kiện (1) người góp vốn điều khiển hay chi phối hoàn toàn công ty, (2) việc điều khiển hay chi phối hoàn toàn đó nhằm mục đích lừa gạt hay thực hiện hành vi sai trái, và (3) hành vi sai trái kể trên hay thiệt
Gói test này đã được tòa án tiểu bang New York sử dụng thành công trong
sách 11 yếu tố giúp tòa án dễ dàng hơn trong việc quyết định xem có áp dụng học
Có thể nói, những đóng góp của các học giả Mỹ cho học thuyết PCV đều mang tính thực dụng cao Điều này là rất đáng quý, trong bối cảnh khi PCV được xây dựng hoàn toàn dựa trên quan điểm của tòa án trong thực tiễn xét xử, những đóng góp của các học giả nghiên cứu tuy không mang tính quyền lực, nhưng lại có tính cách quyền uy, thuyết phục, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xét xử của tòa án Có thể nói, học thuyết PCV ở Mỹ đã được xây dựng trên yêu cầu bức thiết vì một lẽ công bằng cho nền kinh tế, cho nên nó luôn mang tính thực dụng và cụ thể Điều này tuy gây khó khăn trong việc áp dụng cũng như không giúp cho người góp vốn có thể phán đoán để lường trước rủi ro Nhưng đổi lại, nó giúp cho pháp luật công ty Mỹ năng động hơn, linh hoạt hơn, vừa giữ vững được mục tiêu cuối cùng của pháp luật công ty, vừa tránh được những bất công có thể gặp phải của chủ nghĩa tư bản
Ở Mỹ, ngoài chủ nợ công ty thông thường, một số cơ quan quản lý tài chính như các cơ quan thuế quan hay kiểm toán cũng thường sử dụng PCV như một phương thức ngăn chặn các công ty trốn thuế hay tẩu tán tài sản
Một khuyết điểm của học thuyết PCV chính là sự thiếu đồng nhất, pháp điển hóa đối với các quy định Dẫn đến việc các vụ án có áp dụng PCV thường bị chỉ trích là thiếu nhất quán Thẩm phán Benjamin Cardozo khi xét xử vụ Berkey đã chỉ
Trang 1813
, hàm ý một sự thiếu
rõ ràng, mang tính sáng tạo nhiều hơn là tính logic, chặt chẽ pháp lý Những chỉ trích
cho rằng những từ ngữ được sử dụng như “alter ego”, “instrumentality” là quá khó
quá nhiều quyền để có thể tự do đo đếm lợi ích của các bên theo ý họ, thậm chí là phớt
lờ pháp luật.38
Trái lại, cũng có học giả cho rằng, cho dù ngôn ngữ không rõ ràng, nhưng nhìn chung tòa án Mỹ đã làm đúng trong đa số các trường hợp Họ cho rằng: “Dù cho
có sự mâu thuẫn hay tối nghĩa trong các ý kiến pháp lý, nhìn chung thì tòa án thường
“Các lý do pháp lý, tranh luận, lý lẽ rất nhiều, đa dạng và thường không đồng nhất với
nhiên, các học giả ngày nay tuy cũng ủng hộ học thuyết PCV, nhưng vẫn bày tỏ sự lo ngại cua mình về tính thiếu hiệu quả của cơ chế trong các vụ án cần có sự bảo vệ cho
Xem xét cách tiếp cận kể trên, có thể thấy, mục đích của tòa án khi sử dụng học thuyết PCV là để bảo vệ công bằng cho chủ nợ tham gia giao dịch với công ty Những cách tiếp cận, quan điểm có thể khác nhau về trường hợp cụ thể để áp dụng, nhưng các quan điểm luôn gặp nhau ở điểm chung, đó là xem yếu tố bảo vệ công bằng, hay nói cách khác là ngăn ngừa hành vi lừa gạt, sai trái, là điều kiện tiên quyết
Robert W Hamilton, The Corporate Entity, 49 TEX L REV 979, 979 (1971); Xem Elvin R Latty, The
Corporate Entity as a Solven Legal Problems, 34 MICH L REV 597, 621-30 (1930); ghi chú, Judicial
Supervision of the One-Man Corporation, 45 HARV L REV 084, 1089 (1932)
Ghi chú, Should Shareholders Be Personally Liable for the Torts of Their Corporations?, 76 YALE L.J 1190
(1967) (học giả Arden Doss, Jr.)
42 Phillip I Blumberg, The Corporate Entity in an Era of Multinational Corporations, 15 DEL J CORP L 283,
328 (1990)
Trang 1914
để áp dụng PCV Tòa án sẽ không áp dụng PCV khi hoạt động của công ty không
2 Thực tế áp dụng học thuyết “piercing the corporate veil”:
Theo thống kê, PCV là nội dung được đưa ra xét xử nhiều nhất trong pháp
bao giờ tìm được sự thống nhất trong giới luật gia, thẩm phán và nhà làm luật.45Những nguyên tắc để tòa án dựa vào thường ở dưới dạng các thử nghiệm (test) và không thống nhất Một số học giả còn cho rằng, vì tính chất phức tạp của PCV,
“không có nguyên tắc chỉ dẫn nào tốt hơn là sự kiên quyết của lương tri (a sturdy
và khả năng phán đoán, dựa trên lẽ công bằng để phân xử cho từng vụ việc có liên quan đến PCV Thẩm phán Sanborn trong vụ Milwaukee Refrigerator năm 1905 đưa
ra một nguyên tắc mang tính ước lệ, định hướng chung:
Trong bối cảnh pháp luật hiện nay, nếu có bất kì một nguyên tắc chung nào được đưa ra, thì nguyên tắc đó chính là một công ty vẫn phải được xem là có tư cách pháp nhân; nhưng nếu tư cách pháp nhân đó bị lợi dụng để gây cản trợ hoạt động ổn định của xã hội, để hợp thức hóa điều sai trái, để bảo vệ sự lừa đảo, hay để che chở cho tội phạm, thì pháp luật sẽ xem công ty chỉ đơn thuần
Nhận xét của thẩm phán Sanborn không đưa ra một quan điểm pháp lý nào
cụ thể mà chỉ là phát biểu dựa trên chính sách của pháp luật công ty Tuy nhiên, nguyên tắc được nêu trong phát biểu này vẫn được chấp nhận như một cách tiếp cận đối với học thuyết PCV cho các luật gia, thẩm phán về sau
Trong quá trình xét xử của mình, các Tòa án cấp tiêu bang và liên bang Hoa
Kỳ cũng đã đưa ra nhiều lý do giải thích cho việc áp dụng PCV trong từng vụ án
Trang 2015
Theo thống kê, có tối thiểu 11 loại lý do mà tòa án dựa vào để tiến hành học thuyết
chính:
Căn cứ vào mức độ chi phối, điều hành công ty của người góp vốn: tòa án dựa trên việc người góp vốn chi phối, điều hành công ty
một cách toàn diện để thực hiện các hành vi sai trái
Căn cứ vào mức độ đầu tư vào công ty của người góp vốn: tòa án
dựa trên việc đầu tư không đủ của người góp vốn vào công ty nhằm
hạn chế trách nhiệm của bản thân khi thực hiện các hành vi sai trái Căn cứ vào mức độ tách bạch giữa công ty và người góp vốn: tòa
án dựa trên việc người góp vốn cố tình không tách bạch tư cách hay tài chính của công ty với bản thân nhằm thực hiện các hành vi sai trái 49
Chúng tôi sẽ sử dụng 3 nhóm chính này để làm hướng nghiên cứu sắp tới cho bản luận văn
2.1 Mức độ chi phối, điều hành của người góp vốn đối với công ty: 2.1.1 Nội dung:
Theo thống kê, yếu tố về “mức độ chi phối, điều hành của người góp vốn
đối với công ty” được các luật sư viện dẫn nhiều nhất để yêu cầu tòa áp dụng PCV,
chỉ ra rằng, khi người góp vốn đạt được vị trí chi phối công ty và lợi dụng nó để làm điều sai trái, công ty và người góp vốn lúc này có thể được xem là một thể thống nhất,
và công ty có thể xem là một “bí danh”, “bù nhìn” của người góp vốn để lẩn tránh pháp luật.51 Các yếu tố “bí danh”, “bù nhìn” kể trên thường được tòa án chấp nhận
48
Tldđ note 11, tr 1063, có thể kể ra ở đây (1) instrumentality, (2) alter ego, (3) mirepresentation, (4) agency,
(5) dummy, (6) lack of substantive seperation, (7) intertwining, (8) undercapitalization, (9) informalities, (10) domination and control, (11) overlap
49 Tldđ note 14, tr.192;
50
Tldđ note 11, tr.1063 Yếu tố này được viện dẫn trong 551 vụ án, nhưng chỉ được chấp nhận trong 314 vụ,
chiếm 56,99% So với các yếu tố khác như mức độ góp vốn (73,33%), hay yếu tố tách bạch giữa công ty và người góp vốn (85,11%), yếu tố có tỷ lệ chấp nhận rất thấp
51
Tldđ note 3, tr.25-27
Trang 2116
Sự khác nhau về tỷ lệ phụ thuộc vào ngôn từ được sử dụng như thế cũng là một trong những điểm bất cấp trong pháp luật về PCV Khi nghiên cứu về luật nội dung, chúng tôi sẽ đồng nhất khái niệm “chi phối công ty” (domination) và “bí danh” (alter ego) thành yếu tố mức độ chi phối, điều hành công ty của người góp vốn
Theo các học giả, việc chi phối công ty của người góp vốn có thể được thực
hiện bằng hai cách Thứ nhất, một hay nhiều người góp vốn cá nhân có thể điều hành
công ty với tư cách làm chủ một mình hay là các cổ đông chi phối trong công ty.53
Thứ hai, người góp vốn là một công ty hay một tập đoàn các công ty nắm giữ toàn bộ
hay phần lớn cổ phần của công ty con Đây là trường hợp công ty mẹ - công ty con điển hình.54
Hai trường hợp người góp vốn chi phối công ty ở trên chỉ là điều kiện cần nếu chủ nợ muốn tòa án áp dụng học thuyết PCV với lý do người góp vốn chi phối
không phải là chống lại sự chi phối của người góp vốn đối với công ty mà là chống lại
sự lợi dụng địa vị chi phối đó để thực hiện các hoạt động sai trái Tòa án sẽ phải xem
Thông thường, khi xem xét yếu tố này, tòa án sẽ áp dụng các gói test Các yếu bổ sung có thể được nhắc lại như (1) có sự gian dối, lừa đảo trong hoạt động của
Tuy nhiên, các yếu tố kể trên không phải là duy nhất, thống nhất cho tất cả
các bang trên toàn nước Mỹ Ví dụ, yếu tố “có sự gian dối, lừa đảo”, ở một số bang
đòi hỏi phải sự gian dối, lừa đảo phải được “chứng minh rõ ràng, hoặc được thừa
Trang 2217
hiệu để áp dụng PCV mà chỉ cần nguyên đơn chứng minh có “hành vi không phù
Trong thực tế xét xử, lý do “mức độ chi phối của người góp vốn với công ty” thường được tòa án đặc biệt quan tâm trong các vụ án mà người góp vốn là một
mô hình công ty mẹ - công ty con, cần thiết phải có sự chi phối, điều khiển ở mức độ cao của người góp vốn đối với công ty con của mình.61 Vì thế, tòa án áp dụng học thuyết PCV có sự mềm dẻo hơn Tòa án cho rằng, những hành vi như việc giám đốc, nhà quản lý của công ty mẹ, kiêm nhiệm là giám đốc của công ty con không phải là
thấy công ty mẹ đã có sự chi phối “hoàn toàn” công ty con, đến mức có thể thấy rằng
công ty con “không còn theo đuổi những mục tiêu riêng của mình, và chỉ tồn tại như
một phòng ban của công ty mẹ”.63 Ngoài ra, nguyên đơn còn buộc phải thuyết phục tòa án rằng nếu như không áp dụng học thuyết PCV, vụ án sẽ dẫn đến một kết thúc thiếu công bằng.64
Ngoài ra, ở Mỹ, tòa án chỉ áp dụng PCV đối với các công ty chỉ có một cổ
điều này, một số nhà bình luận cho rằng, trong một công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán, người góp vốn thường sẽ là những nhà đầu tư thụ động và quyền
việc chi phối và điều hành công ty của người góp vốn là ít khi xảy ra Hơn nữa, việc
áp dụng PCV đối với các công ty này là rất khó khăn vì sẽ dễ dẫn đến bất công trong
58
Marilyn Blumberg Cane & Robert Burnett, Piercing the Corporate Veil in Florida: Defining Improper
Conduct, 21 NOVA L.REV 663, 667 (1997)
Trang 2318
việc quy kết trách nhiệm cá nhân cho các cổ đông.67 Cần nhắc lại, một trong những mục tiêu của luật công ty là điều hóa mâu thuẫn giữa các cổ động thụ động và các cổ đông tích cực trong công ty, tỏa án do đó không thể áp dụng PCV để bảo vệ chủ nợ của công ty nhưng lại ảnh hưởng đến đối tượng khác
2.1.2 Áp dụng:
Như đã trình bày, tòa án chỉ áp dụng PCV khi nguyên đơn chứng minh được có sự thống nhất lợi ích, chi phối của người góp vốn đối với công ty và nếu
công ty mẹ ở Kentucky, đòi bồi thường cho những thiệt hại do công ty con ở Nigeria gây ra Công ty con và công ty mẹ có ban giám đốc và đội ngũ quản lý giống nhau Tuy nhiên, tòa án đã từ chối áp dụng PCV với lý do các kế hoạch tài chính của công ty con và công ty mẹ là tách biệt nhau Hơn nữa, công ty con tự trả lương cho nhân viên bằng tài khoản của mình và đồng thời tự điều hành công việc hàng ngày nhân danh bản thân, độc lập hoàn toàn Xét vì lẽ đó, tòa án cho rằng công ty con là một pháp nhân độc lập, theo đuổi những mục đích riêng, do đó không có cơ sở để áp dụng học thuyết PCV
nguyên đơn là một cựu giám đốc của một công ty con đã kiện công ty mẹ để đòi quyền lợi sau khi bị sa thải Ông ta cho rằng công ty mẹ đã chi phối công ty con, thông qua việc can thiệp vào công việc hàng ngày của công ty con, vì thế công ty mẹ phải chịu trách nhiệm trong vụ việc này Tòa án điều tra ra rằng, công ty mẹ đã thực sự chi phối công việc hàng ngày của công
ty con thông qua việc công ty mẹ đã trực tiếp kí hợp đồng với nguyên đơn vào chức danh giám đốc của công ty con Ngoài ra, công ty mẹ còn tiến hành việc rút tất cả lợi nhuận hàng tháng mà công ty con có được Vì những lẽ đó, tòa án đã áp dụng học
Trang 2419
thuyết PCV đối với công ty mẹ vì lý do có sự chi phối hoàn toàn của người góp vốn vào công ty và công ty con thực chất chỉ là một “bí danh” của công ty mẹ
Tương tự vụ án trên, tòa án trong vụ Northern Illinois Gas Co v Total
Energy Leasing Corp.71 đã một lần nữa khẳng định “lừa gạt”, “bất công” là điều kiện
cần để áp dụng học thuyết PCV đối với các công ty chịu sự chi phối hoàn toàn của người góp vốn Trong vụ án này, tòa án nhận thấy công ty mẹ đã thường xuyên rút toàn bộ số vốn mà công ty con có được, khiến công ty con không đủ khả năng thanh toán cho chủ nợ Tòa án nhận định đây là hành vi sai trái, mang tính lừa gạt.72 Kết quả, tòa án đã áp dụng học thuyết PCV đối với công ty mẹ
Một vài vụ án khác, tòa án cũng khẳng định nguyên tắc áp dụng pháp luật
thành giữa các công ty con theo chỉ đạo của công ty mẹ Hay vụ Sabine Towing &
Transportation Co v Merit Ventures, Inc.,74 công ty mẹ thành lập hai công ty con, một chuyên kinh doanh vận tải hàng hóa bằng tàu thủy và một chuyên kinh doanh cho thuê tàu thủy để vận tải hàng hóa Công ty chuyên kinh doanh vận tải nhận đơn đặt hàng và tiền cọc từ khách hàng, sau đó sử dụng tiền đặt cọc để thuê tàu thủy của công
ty chuyên cho thuê tàu thủy Sau một thời gian, công ty vận tải phá sản, nhưng các chủ
nợ không thể thu hồi được nợ do tài sản của công ty là không nhiều và tàu thủy được dùng không thể được sử dụng để cấn trừ nợ do vẫn nằm dưới hình thức thuê Trái lại, công ty mẹ được hưởng lợi từ giao dịch hoàn toàn hợp pháp trên hình thức giữa hai công ty con của mình bằng việc xin giảm thuế do một công ty con trong tập đoàn đã
này với lý do có sự chi phối của công ty mẹ với các công ty con nhằm lừa gạt
Trang 25Con số thống
Dù vậy, tuy không phải là một lý do được tòa án chấp nhận nhiều, “đầu tư không đủ” vẫn
có vị trí quan trọng trong mảng pháp luật về PCV của Mỹ Hơn nữa, việc pháp luật công ty của phần lớn các bang của Mỹ không quy định vốn điều lệ tối thiểu của công
Yếu tố “đầu tư không đủ” được hiểu là khi tòa án cho rằng tài sản được đầu
tư vào công ty là “quá ít”, “chỉ mang tính danh nghĩa” tại thời điểm nguyên đơn khởi
khối tài sản có đủ khả năng thanh toán cho các rủi ro công ty có thể gặp phải, hoặc
Cũng như các lý do khác đã được đề cập, yếu tố “đầu tư” cũng không phải
là một dấu hiệu in per se (tự thân) để tòa án mặc nhiên áp dụng học thuyết PCV.83
Thông thường, phía nguyên đơn cũng phải chứng minh thêm rằng bị đơn, ngoài việc
78 Tldđ note 11, tr.1066, đối với các án mà nguyên đơn là chủ nợ hợp đồng của bị đơn, tòa chỉ áp dụng PCV với
lý do kể trên cho 16/327 vụ (13%) Trong khi đó, ngay cả khi yếu tố “đầu tư ít, danh nghĩa” hiện hữu rõ ràng thì tòa án cũng chỉ áp dụng PCV cho từ 70-75% trường hợp
79 Nt chỉ có 8% các đạo luật thành văn của Mỹ liên quan đến PCV có nhắc đến lý do này
83 Gartner v Snyder, 607 F.2d 582, 586, 588 (2d Cir 1979); Xem thêm 282 F.2d 231, 240 (2d Cir 1960);
Consumer’s Co-Op, tr.216, 217; tldđ note 80 , tr.12
Trang 2621
không đầu tư đầy đủ cho công ty, còn thực hiện các hành vi lừa dối, không công bằng, sai trái.84 Nguyên tắc áp dụng khá rõ ràng, nhưng cụ thể từng trường hợp được áp dụng thì pháp luật Hoa Kỳ không có quy định và tòa án thường áp dụng tùy theo yêu cầu của từng vụ án Điều này sẽ được làm rõ khi chúng ta xem xét trong phần Áp dụng dưới đây
Vấn đề trong luật áp dụng ở đây, đó chính là số tiền bao nhiêu được xem là đầu tư đủ, giúp cho người góp vốn tránh rủi ro bị áp dụng PCV Án lệ Mỹ cho rằng gánh nặng đó thuộc về người góp vốn, người góp vốn buộc phải biết và dự liệu trước mức độ rủi ro mà các hoạt động đầu tư của mình có thể gây ra để từ đó tiến hành việc đầu tư hợp lý Tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố để xem xét xem liệu rằng người góp
chuyên gia hoạch định đầu tư đã tư vấn cho người góp vốn, ví dụ như ý kiến của chủ tịch, giám đốc công ty trước khi được người góp vốn tuyển dụng, hay các công ty tư vấn.86 Nhưng nhìn chung, tòa án vẫn phải dựa nhiều vào ý kiến và đánh giá chuyên môn của bản thân để đưa ra phán quyết
Riêng trong yếu tố “đầu tư không đủ” này, tòa án sẽ có những phán quyết khác nhau một cách rõ ràng trong những vụ án hợp đồng hay vụ án bồi thường thiệt
đơn đã có điều kiện biết trước được việc “đầu tư không đủ” của công ty và chấp nhận rủi ro đó để tham gia làm ăn Như vậy, yếu tố lừa dối không hiện hữu.88 Hơn nữa, những đối tác của công ty thông thường là các chủ thể có chuyên môn cao và kiến thức tốt trong làm ăn, như ngân hàng, thương nhân Do đó, tòa án không thể công
thích lý do tại sao tòa án thường áp dụng học thuyết PCV với lý do “đầu tư không đủ”
84 Lowell Staats Mining Co v Pioneer Uravan, Inc., 878 F.2d 1259, 1264 (10 th Cir 1989); Gallagher v,
Reconco Builders, Inc., 415 N.E.2d 560, 565 (III App Ct 1980); BLUMBERG, SUBSTANTIVE LAW, tldđ note
55, tr.361 n.317
85
William P Hackney & Tracey G Benson, Shareholder Liability for Inadequate Capital, 43 U PITT L REV
837, 892 (1982); Anderson v Abbott, 321 U.S 349, 362 (1944)
Trang 27Cuối cùng, thời điểm xem xét việc đầu tư vào công ty của người góp vốn là đầy đủ hay chưa là thời điểm xảy ra vụ kiện Một công ty có thể được đầu tư đầy đủ ban đầu, nhưng người góp vốn đã không tiến hành tăng vốn khi hoạt động kinh doanh càng được mở rộng Trong trường hợp đó, tòa án vẫn sẽ áp dụng học thuyết PCV theo
hồ bơi, đòi 10.000 USD bồi thường cho cái chết của con gái ông Công ty cuối cùng
đã không đủ khả năng chi trả khoản tiền trên cho nguyên đơn Sau đó, nguyên đơn tiếp tục kiện chủ sở hữu của công ty kể trên vì cho rằng “chủ sở hữu đã đầu tư quá ít vốn” và do đó ông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi tài sản của công ty không đủ bồi
thường cho ông Câu hỏi pháp lý trong vụ kiện này đó chính là liệu chỉ riêng việc
“đầu tư không đủ” có khiến cho người góp vốn phải chịu trách nhiệm cá nhân khi tài sản công ty không đủ chi trả? Tòa án California cho rằng chỉ riêng việc “đầu tư không
đủ” không khiến cho người góp vốn phải chịu trách nhiệm cá nhân trước các khoản nợ vượt vốn của công ty Tòa án đưa ra một test hai yếu tố, cho rằng “người góp vốn phải chịu trách nhiệm cá nhân khi (1) họ “đầu tư không đủ” vào công ty và (2) “tham gia
Trang 2823
tòa đã chấp nhận đơn của nguyên đơn và áp dụng học thuyết PCV, buộc người góp vốn kể trên phải chịu trách nhiệm cá nhân cho khoản nợ của công ty với lý do “đầu tư không đủ”
York đã đưa ra những nhận định khác liên quan đến “đầu tư không đủ” Nguyên đơn kiện một người góp vốn công ty xe taxi, đòi bồi thường vì tai nạn giao thông do xe của công ty gây ra Trong quá trình điều tra, tòa phát hiện người góp vốn này đã tiến hành đầu tư theo kiểu thành lập một loạt nhiều công ty taxi do mình làm chủ, mỗi công ty chỉ bao gồm 1-2 xe và chỉ mua bảo hiểm ở mức tối thiểu luật định, nhằm tránh
kiện này, không có căn cứ để tòa áp dụng PCV vì xét thấy “tuy có sự đầu tư ít vốn,
nhưng tài sản của Carlton với tư cách là người góp vốn và tài sản của những công ty taxi do ông làm chủ là tách bạch, mỗi bên theo đuổi hoạt động kinh doanh riêng của mình, mỗi công ty đều có các khoản tài chính riêng không thống nhất với các khoản tài chính của người góp vốn và nhằm mục đích theo đuổi các lợi ích ngay tức thì của chúng (without the regard to formality and to suit their immediate convenience)”.97
Như vậy, sau 5 năm kể từ vụ Milton ở California, tòa án bang New York đã phớt lờ
những lập luận của California để không áp dụng học thuyết PCV trong vụ án có tồn tại cả 2 yếu tố do tòa California đưa ra Một số học giả cho rằng cho đến nay, không
có bất kì một án lệ nào cho thấy tòa án của tiểu bang New York chấp nhận việc áp
Sự không thống nhất và thiếu quyết đoán của tòa án còn được thể hiện khi
xử trong vụ DeWitt cho rằng, chỉ riêng việc có sự “đầu tư không đủ” trong công ty
không đủ thuyết phục tòa án áp dụng học thuyết PCV Tòa án phải (1) kết hợp nhiều
Trang 2924
thấy được có sự lợi dụng của bị đơn đối với công ty để làm điều sai trái, gây ra bất
có tồn tại những yếu tố, lý do khác cho việc áp dụng học thuyết PCV, thay vì căn cứ vào lý do “đầu tư không đủ” Tòa án cho rằng yếu tố “đầu tư không đủ” phần nào không đóng vai trò quan trọng trong những vụ án PCV
Các học giả Hoa Kỳ cho rằng, sở dĩ có sự dè dặt này của tòa án là do việc thiếu đi sự thống nhất trong cách quy định mức vốn nào được coi là “đầu tư ít” và
“đầu tư đủ”.102
Nếu như tòa án tỏ ra mạnh tay đối với các vụ án có yếu tố “đầu tư không đủ”, các người góp vốn sẽ tỏ ra e dè hơn trong việc tham gia đầu tư vào công
Trên thực tế, tòa án cũng thường đưa ra các quyết định áp dụng học thuyết PCV khác nhau dựa trên những con số không thống nhất, ví dụ: tòa án có thể cho rằng công ty đã được “đầu tư không đủ” khi (1) vốn là 3.000 USD nhưng lợi nhuận tổng
hay (2) vốn là 5.000 USD, nhưng lợi nhuận tổng hàng
nhận 100.000 USD từ phía công ty mẹ để trả nợ,106 hoặc (4) vốn là 300.000 USD, trong khi theo tư vấn của các chuyên gia trước khi thành lập công ty, vốn phải tối
Như vậy, tòa án Hoa Kỳ rõ ràng vẫn không thể thống nhất trong việc định
ra một cách cụ thể việc áp dụng học thuyết PCV Nguyên tắc của việc áp dụng PCV cho lý do “đầu tư không đủ” là rất rõ ràng, đó là phương thức để bảo vệ các chủ nợ khỏi những công ty được lập ra nhưng không có một biện pháp bảo đảm về vốn nào của người góp vốn chống lại các rủi ro, và để bảo vệ công bằng trong hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, việc áp dụng thế nào nguyên tắc đó vẫn còn tùy thuộc vào yêu cầu
Automotriz del Golfo de California S.A de C.V v Resnick, 306 P.2d 1, 4 (Cal 1957)
106 Washington National Corp v Thomas, 570 P.2d 1268 (Ariz Ct App 1977)
107
575 F.Supp 1442 (E.D Tex 1983)
Trang 3025
mang tính chính sách trong từng vụ án Chính vì sự không rõ ràng này mà “đầu tư không đủ” vẫn trở thành đối tượng nghiên cứu được các học giả Hoa Kỳ quan tâm hàng đầu
2.3 Mức độ tách bạch giữa công ty và người góp vốn:
2.3.1 Nội dung:
Theo các học giả Hoa Kỳ, tòa án có thể áp dụng học thuyết PCV dựa trên lý
có hai biểu hiện trên thực tế của sự không tách bạch tài sản giữa hai chủ thể này: (1) trong trường hợp tòa án không thể phân biệt được đâu là tài sản của doanh nghiệp, đâu
là tài sản của người góp vốn và (2) trong trường hợp, sự tách bạch về tư cách của công
Trường hợp tòa án không thể tách bạch được tài sản của công ty và người góp vốn được mô tả là khi tòa án nhận thấy có sự nhập nhằng trong sổ sách tài chính của công ty, tài khoản, các khoản chi… khiến cho tòa án cho rằng có sự đồng nhất
Hoặc trong trường hợp tòa án cho rằng chủ nợ có thể nhầm lẫn khi giao dịch với một công ty, nhưng lại lầm tưởng là đang giao dịch với người góp vốn, hoặc ngược lại, do người góp vốn và công ty có cùng tên thương mại, cùng trụ sở… Tòa án lúc này cũng có thể áp dụng PCV theo lý
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, tòa án cũng đưa ra những tiêu chí khác
sản của công ty không tách bạch với tài sản của người góp vốn, tòa án thường yêu cầu nguyên đơn phải chứng minh có yếu tố lừa gạt hoặc không công bằng trong hành vi
108 Tldđ note 14, tr.211
109
WILLIAM M FLETCHER, FLETCHER CYCLOPEDIA OF THE LAW OF PRIVATE CORPORATIONS, tr.663 (perm
ed rev vol 1990)
Trang 3126
của người góp vốn và công ty, tòa án thường không yêu cầu nguyên đơn chứng minh
Trong trường hợp về tài sản của người góp vốn và công ty không tách bạch, tòa án thường sẽ áp dụng học thuyết PCV cả trong những vụ án liên quan đến hợp đồng (chủ nợ tự nguyện) và các vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (chủ nợ không tự nguyện).115 Trong khi đó, trong trường hợp tư cách của người góp vốn và công ty không tách bạch, tòa án thường sẽ có khuynh hướng áp dụng học thuyết PCV cho các nguyên đơn là chủ nợ tự nguyện, hợp đồng hơn là các nguyên đơn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.116 Tòa án cho rằng, trong các vụ án hợp đồng, việc không tách bạch tư cách giữa hai chủ thể đã mang yếu tố lừa gạt trong giao dịch, vì thế, chủ
nợ hợp đồng là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất Trong khi các vụ án bồi thường thiệt hại, việc không có sự tách bạch kể trên không gây ảnh hưởng đến vị trí giao dịch
Ngoài ra, trong trường hợp tài sản của công ty không tách bạch, tòa án có thể áp dụng học thuyết PCV đối với người góp vốn, hoặc đối với những công ty khác
do người góp vốn thành lập mà tòa án nhận thấy tài sản của chúng cũng không tách bạch với nhau.118 Điều này không xảy ra trong trường hợp không tách bạch tư cách giữa công ty và người góp vốn
Cuối cùng, học thuyết PCV sẽ không được áp dụng trong trường hợp tài sản của công ty được bán dưới giá thị trường, hoặc không có đền bù, cho người góp vốn nhằm giảm thiểu rủi ro khi phá sản.119 Trường hợp tẩu tán tài sản này không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về PCV Trong trường hợp đó, người góp vốn sẽ phải hoàn trả tài sản đã nhận lại cho công ty theo quy định tại pháp luật phá sản Mỹ,
Trang 3227
tòa án sẽ không áp dụng PCV để quy trách nhiệm cho người góp vốn đối với các
Trong vụ Amsted Industries, Inc v Pollak Industries, Inc.123, nguyên đơn yêu cầu tòa án áp dụng học thuyết PCV vì cho rằng hai công ty con của bị đơn không
có sự tách bạch về tài sản, và việc làm nhằm thực hiện hành vi lừa gạt trong kinh doanh Trong vụ này, hai công ty con có cùng một người góp vốn là cá nhân, hai công
ty này có cùng địa chỉ, cùng số điện thoại, cùng trụ sở và cùng ban giám đốc Tuy nhiên, tòa án đã từ chồi áp dụng PCV vì cho rằng hai công ty này có sổ sách, tài khoản, thu chí kế tón hoàn toàn riêng biệt, không nhập nhằng với nhau Tòa án xác định rằng, hai công ty tuy có những nét tương đồng, nhưng tài sản là tách biệt, vì thế không thể áp dụng PCV với lý do tài sản công ty không tách biệt
Ngay cả khi xác định có sự nhập nhằng về tài sản giữa người góp vốn và công ty, hay giữa các công ty có cùng người góp vốn, tòa án cũng thưởng đòi hỏi phía nguyên đơn chứng minh thêm các yếu tố lừa gạt, không công bằng… trước khi áp
trong quá trình điều trị Nguyên đơn khởi kiện một bệnh viện khác, yêu cầu tòa áp dụng học thuyết PCV vì cho rằng bệnh viện này và trạm xá nói trên, tuy được thành lập độc lập, nhưng lại có cùng chủ và có sổ sách kế toán nhập nhằng với nhau Tòa án
Trang 3328
chấp nhận nhận định đó của nguyên đơn, nhưng đã yêu cầu nguyên đơn chứng minh thêm có sự không công bằng, lừa gạt trong việc nhập nhằng sổ sách kể trên, khiến cho nguyên đơn bị thiệt hại từ sự “lừa gạt” này Vụ kiện trở thành một án lệ, trong đó, nếu muốn yêu cầu tòa áp dụng học thuyết PCV vì lý do tài sản không tách bạch, nguyên đơn phải chứng minh có yếu tố lừa gạt trong sự nhập nhằng kể trên
b Trường hợp không có sự tách bạch trong tư cách của người góp vốn và công ty:
Đối với trường hợp mà tòa án nhận thấy có sự không tách bạch trong tư cách giữa người góp vốn và công ty, học thuyết PCV sẽ được áp dụng nếu nguyên đơn chứng minh được rằng mình bị ảnh hưởng bởi sự nhập nhằng đó, mà không cần phải
người mua, kiện công ty mẹ của người bán vì cho rằng có sự không tách bạch trong tư cách giữa hai chủ thể này Nguyên đơn đặt mua hàng hóa của công ty “Hanson’s Pipe and Supply Company of Arizona”, nhưng đơn vị bảo hành lại là “Hanson, Inc.” Cả hai công ty này đều có cùng địa chỉ và ban giám đốc Tòa án phát hiện “Hanson, Inc.” thực chất chỉ là một công ty mẹ của công ty người bán Bởi vì có sự không tách bạch
về tư cách giao dịch như thế, tòa án đã cho phép áp dụng học thuyết PCV đối với công
ty mẹ
Tuy nhiên, tòa án sẽ thường không áp dụng học thuyết PCV trong các vụ án
tàu thủy du lịch vì thiệt hại ông ta phải chịu với lý do công ty tàu thủy này đã đưa ông đến địa điểm thiệt hại xảy ra Ông ta cho rằng, khi quảng cáo, công ty tàu thủy đã khiến ông có cảm giác rằng họ sẽ chịu trách nhiệm đối với cơ sở vật chất và vấn đề an toàn của cả những địa điểm tham quan, khách sạn Tòa án chấp nhận nhận định trên của nguyên đơn nhưng cho rằng không có mối quan hệ nhân quả giữa việc nhầm lẫn
Trang 3429
Tòa cũng cho rằng việc công ty sở hữu khách sạn, địa điểm tham quan và công ty du lịch tàu thủy có cùng chủ sở hữu cũng không liên quan đến thiệt hại này Yếu tố nhân quả giữa sự nhầm lẫn và thiệt hại là không tồn tại
3 Nhận xét:
Qua việc nghiên cứu học thuyết PCV ở Mỹ, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Đây là một thủ tục pháp lý được tòa án Hoa Kỳ sử dụng để chống lại
sự lợi dụng tính trách nhiệm hữu hạn của người góp vốn
Chưa có một nguyên tắc cụ thể, thành văn và rõ ràng cho tất cả các trường hợp mà tòa án áp dụng PCV Tòa án thường sẽ hình thành các nguyên tắc cho từng vụ án cụ thể, dựa trên tình hình thực tế và yêu cầu mang tính chính sách trong từng vụ án
PCV là mảng pháp luật được bàn luận và được tranh tụng nhiều nhất
130
Nt tr.938, 939