1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật thương mại 2005 với theo quy định của bộ luật dân sự 2005

76 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật thương mại 2005 với hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của bộ luật dân sự 2005
Tác giả Ngô Tú Ngân
Người hướng dẫn Th.s Trần Thị Phương Hạnh
Trường học Trường Đại Học Luật TP.HCM
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Điều 388 BLDS 2005 thì: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Theo Luật thương mại 2005 thì hoạt động “MB

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

NGÔ TÚ NGÂN

SO SÁNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN THEO

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

ChuyênngànhLuậtThươngMại

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

SO SÁNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi, Ngô Tú Ngân là tác giả của khóa luận tốt nghiệp “So Sánh Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Theo Luật Thương Mại 2005 Với Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2005.” năm 2011 Tôi cam đoan khóa luận tốt

nghiệp là công trình nghiên cứu của bản thân Những phần sử dụng tài liệu tham khảo hoặc bất kỳ đối tƣợng thuộc quyền sở hữu của các tác giả khác đã đƣợc nêu rõ trong phần trích dẫn và tài liệu tham khảo Các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung và hình thức khóa luận của bản thân

Ngô Tú Ngân

Trang 4

CISG Convention of International Sale of Goods

PICC Principles of International commercial Contracts

Trang 5

MỤC LỤC

Lời nói đầu 1

1 Những điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng MBHH theo Luật thương mại 2005 và hợp đồng MBTS theo quy định của BLDS 2005 5

1.1Về khái niệm hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 5

1.2 Về đặc điểm của hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 11

1.3 Về pháp luật điều chỉnh hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 13

1.4 Về chủ thể của hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 17

1.5 Về đối tượng của hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 19

1.6 Về mục đích của hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 24

1.7 Về nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 25

1.8 Về vấn đề chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 32

1.9 Về các chế tài và phạm vi áp dụng chế tài trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 35

1.10 Về vấn đề giải quyết tranh chấp trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 44

2 Vai trò của việc phân biệt hợp đồng MBHH với hợp đồng MBTS trong hoạt động thực tiễn và kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện chế định hợp MBHH và hợp đồng MBTS 47

2.1 Mối quan hệ giữa hợp đồng MBHH và hợp đồng MBHH 47

2.2 Vai trò của việc phân biệt hợp đồng MBHH với hợp đồng MBTS trong thực tiễn 50

2.2.1 Vai trò của việc phân biệt hợp đồng MBHH với hợp đồng MBTS trong hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng giữa các chủ thể trong mối quan hệ mua bán 50

2.2.2 Vai trò của việc phân biệt hợp đồng MBHH với hợp đồng MBTS trong hoạt động xét xử của tòa án 52

2.3 Kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện chế định hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS 55

Kết luận 60

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

SO SÁNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

1 Tính thực tiễn của đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển sôi động, các hoạt động mua bán diễn ra

đa dạng và sôi nổi dưới nhiều hình thức thì vai trò của hợp đồng - một hình thức pháp lí của quan hệ mua bán ngày càng được thể hiện là một công cụ quan trọng trong quá trình giúp các chủ thể trong quan hệ mua bán đạt được mục đích của mình Hiện nay tồn tại nhiều loại hợp đồng mà trong đó hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH là hai loại hợp đồng cơ bản được các bên lựa chọn khi tham gia vào quan hệ mua bán

Ở Việt Nam, xét cả quá trình hình thành và phát triển thì chế định hợp đồng có tính phân tán, tách biệt hay nói khác hơn là thừa nhận tư cách độc lập của hợp đồng kinh tế bên cạnh hợp đồng dân sự Bằng chứng cho sự tách biệt đó là sự tồn tại của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế Tuy nhiên khi BLDS 2005 ra đời thì chế định hợp đồng trong BLDS đã trở thành nền tảng chung nhất cho pháp luật hợp đồng, đây là sự thay đổi tiến bộ, phù hợp với khoa học lập pháp của các nước trên thế giới Chế định hợp đồng trong BLDS sự trở thành chế định chung nhất về pháp luật hợp đồng, còn việc các loại hợp đồng đặc thù được điều chỉnh bởi các luật chuyên nghành là hoàn toàn hợp lí Và điều đó cho thấy hợp đồng không chỉ chịu sự điều chỉnh của BLDS mà còn bị điều chỉnh bởi nhiều luật khác Sự ra đời của các loại hợp đồng đặc thù và các quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh các hợp đồng đặc thù để đáp ứng với sự phát triển ngày càng nhanh chóng và đa dạng của các quan hệ trên làm cho pháp luật hợp đồng ngày càng được mở rộng và các chủ thể khi tham gia vào quan hệ trên sẽ tìm kiếm cho mình một loại hợp đồng phù hợp nhất Hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH

có những đặc điểm tương đồng và khác biệt với nhau Chúng được phân loại dựa trên những tiêu chí nhất định Việc làm rõ sự khác nhau giữa hai loại hợp đồng này

là một trong những vấn đề mang tính lí luận và thực tiễn to lớn, có nhiều tiêu chí để phân loại hai hợp đồng trên, trong đó có tiêu chí dựa vào đối tượng của hợp đồng để phân loại Tuy nhiên, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng MBHH theo Luật thương mại 2005 và tài sản là đối tượng của hợp đồng MBTS theo BLDS 2005 là tiêu chí đặc trưng vì đối tượng của hợp đồng là yếu tố chi phối chủ yếu đến quyền và nghĩa

vụ của các bên trong hợp đồng Ngoài ra, những vấn đề còn tồn tại xung quanh khái niệm hàng hóa và tài sản theo pháp luật hiện hành có ảnh hưởng nhất định đến việc xác định và phân loại hai hợp đồng trên Hơn nữa pháp luật cho phép một số trường hợp các chủ thể có thể chọn hợp đồng MBTS hay hợp đồng MBHH làm hình thức pháp lí cho việc mua bán của mình Việc chọn hợp đồng MBTS hay hợp đồng

Trang 7

MBHH làm hình thức pháp lí tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến quá trình giao kết cũng như thực hiện hợp đồng và các vấn đề liên quan phát sinh, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng Vậy làm rõ sự khác biệt và phạm vi áp dụng của hai loại hợp đồng này mang ý nghĩa thực tiễn về mặt áp dụng pháp luật khi các bên tham gia vào quan hệ mua bán

và cả việc xác định luật áp dụng của tòa án Việc nhận định hợp đồng được giao kết giữa các bên có hình thức pháp lý gì có ý nghĩa trong quá trình thực hiện hợp đồng Ngoài ra, việc xác định loại hợp đồng đang tranh chấp là hợp đồng MBHH hay hợp đồng MBTS còn có ý nghĩa trong việc xác định tranh chấp là tranh chấp dân sự hay tranh chấp kinh doanh thương mại, từ đó xác định luật áp dụng để giải quyết tranh chấp Điều này quyết định đến quyền lợi của các bên Việc nhận dạng và phân biệt hai loại hợp đồng trên có ý nghĩa trong việc bổ sung và hoàn thiện chế định hợp đồng, một trong những vấn đề quan trọng mà cá nhân cũng như các tổ chức kinh tế rất quan tâm vì nó tác động trực tiếp đến quyền lợi của họ Qua sự phân biệt trên còn đánh giá được mối quan hệ giữa hai loại hợp đồng trên, đánh giá các tiêu chí phân loại theo quy định của pháp luật là phù hợp hay chưa, từ đó đưa ra các kiến nghị về việc hoàn thiện các quy định pháp luật hiện có trong việc đều chỉnh các vấn

đề về hai loại hợp đồng trên và xây dựng thêm những quy định cần thiết nhằm làm cho chế định hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS theo quy định của BLDS 2005

và Luật thương mại 2005 được hoàn thiện hơn và làm cho Luật thương mại và BLDS ngày càng làm tốt hơn vai trò điều chỉnh các quan hệ mua bán trên thực tế Xuất phát từ những lợi ích khi nghiên cứu những vấn đềđã được phân tích, tôi chọn

đề tài “So Sánh Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Theo Luật Thương Mại 2005 Với Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản Theo Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự 2005”làm

đề tài luận văn của mình Mong rằng tính thực tiễn của đề tài sẽ được ứng dụng và mang lại những lợi ích nhất định cho các chủ thể trong việc chọn hình thức pháp lí cho quan hệ mua bán của mình cũng như trong hoạt động tố tụng của tòa án Ngoài

ra, việc đánh giá các tiêu chí phân loại của pháp luật hiện hành sẽ góp phần vào việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của BLDS, Luật thương mại, nhất là trong bối cảnh BLDS 2005 sắp được sửa đổi

2 Đối tuợng nghiên cứu và phạm vụ nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS mà cụ thể là đi nghiên cứu chế định về hợp đồng MBTS theo quy định của BLDS 2005 và chế định hợp đồng MBHH theo quy định của Luật thương mại 2005 Tìm hiểu các vấn đề đặc trưng mang tính bản chất của hai loại hợp đồng trên, từ các quy định về chủ thể giao kết hợp đồng, hình thức, đối tượng, nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cho đến vấn đề giải quyết tranh chấp để làm rõ các vấn đề pháp lí xung quanh hợp đồng này, đồng thời xem xét chúng trong mối tương quan

Trang 8

với nhau để phân biệt được hai loại hợp đồng này trên thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật

3 Phuơng pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng các lí luận từ phương pháp luận này để giải quyết các vấn đề đang tồn tại, từ đó làm rõ nội dung nghiên cứu của đề tài

Luận văn còn sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp so sánh: là phương pháp chủ yếu được sử dụng để làm sáng tỏ vấn đề mà đề tài đặt ra So sánh hai loại hợp đồng trên trên cơ sở so sánh các quy định pháp luật điều chỉnh chúng

- Phương pháp phân tích: Làm rõ các quy định của pháp luật về vấn đề đang nghiên cứu trên những cơ sở đánh giá việc áp dụng các quy định về hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH vào thực tế

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp tổng quát và sử dụng các bản

án, hợp đồng nhằm làm cho đề tài mang tính thực tiễn cao hơn và có gia trị chứng minh thuyết phục hơn

4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài truờng

Vấn đề về hợp đồng MBTS cũng như hợp đồng MBHH được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng người thực hiện đề tài chưa thấy có đề tài nào nghiên cứu so sánh hai loại hợp đồng trên mà chỉ là các đề tài nghiên cứu về từng khía cạnh của một trong hai loại hợp đồng Cụ thể:

- Pháp luật về hợp đồng trong thương mạiđầu tư , TS Nguyễn Thị Dung,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Bình luận các hợp đồng thông dụng trong pháp luật Việt Nam, TS Nguyễn

NgọcĐiện, NXB trẻ, TP.HCM

- Hướng dẩn pháp luật hợp đồng thương mại, ThS Đặng Văn Được, NXB lao

động – Xã hội, Hà Nội

- Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán tài sản, Nguyễn Hoài Nam

Phương, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học luật TP.HCM

- Mua bán hàng hóa- hành vi thương mại chủ yếu của thương nhân trong hoạt

động thương mại”, Nguyễn Hoàng Thiên An, Luận văn cử nhân, Đại học

Trang 9

xét các yếu tố cấu thành nên hai loại hợp đồng trên duới góc độ so sánh Làm rõ các tiêu chí phân loại hai loại hợp đồng này trên thực tế nhằm mang lại những giá trị thực tiễn trong lĩnh vực hợp đồng Nhất là trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng giữa các chủ thể trong quan hệ mua bán và trong việc áp dụng pháp luật vào hoạt động xét xử của tòa án Từ đó đánh giá được những vướng mắc còn đang tồn tại để đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn chế định hợp đồng trong pháp luật Việt Nam

5 Bố cục của đề tài

Đề tài đuợc chia làm hai chuơng

Chương 1: Những điểm giống nhau và khác nhau giữa Hợp đồng Mua bán hàng hóa theo Luật thương mại 2005 và Hợp đồng Mua bán tài sản theo quy định của BLDS 2005

Chương 1 là phần so sánh về điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS Trong chương này, tác giả tập trung phân tích các yếu

tố cơ bản cấu thành nên hai loại hợp đồng trên như khái niệm, chủ thể, đối tuợng…của hai loại hợp đồng duới góc độ so sánh hai loại hợp đồng trên với nhau

và so sánh với pháp luật nuớc ngoài nhằm có cách đánh giá toàn diện về điểm giống nhau và khác nhau giữa hai loại hợp đồng trên

Chương 2: Vai trò của việc phân biệt Hợp đồng Mua bán hàng hóa với Hợp đồng Mua bán tài sản trong hoạt động thực tiển và kiến nghị giải phápnhằm hoàn thiện chế định Hợp đồng mua bán hàng hóa và Hợp đồng mua bán tài sản

Chương 2 là phần chỉ ra mối quan hệ giữa hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS, ý nghĩa thực tiễn của việc phân biệt hai loại hợp đồng trên trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng cũng như vai trò của việc phân biệt trên trong hoạt động áp dụng pháp luật của tòa án Từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa chế định hợp đồng trong pháp luật Việt nam

Trang 10

SO SÁNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

Những điểm giống nhau và khác nhau giữa Hợp đồng Mua bán hàng hóa theo Luật thương mại 2005 và Hợp đồng Mua bán tài sản theo quy định của BLDS 2005

Mua bán là một hoạt động tồn tại từ lâu đời, từ khi năng suất lao động được cải thiện đáng kể, của cải tăng lên làm xuất hiện sự dôi dư và nhu cầu trao đổi nhằm thỏa mãn những mục đích nhất định trong đời sống Đó là nguồn gốc sơ khai của hoạt động mua bán ngày nay Hành vi mua bán là hành vi khách quan của các chủ thể dù cho trong nền kinh tế bao cấp hay kinh tế thị trường Tính tất yếu của hành vi này tác động bởi quy luật giá trị, quy luật cung cầu Mua bán đóng vai trò quan trọng trong sự vận động của nền kinh tế, bắt đầu từ sản xuất qua các giai đoạn trao đổi, lưu thông và kết thúc ở khâu tiêu dùng

Dưới góc độ kinh tế học, mua bán diễn ra trong quá trình sản xuất kinh doanh lẫn trong đời sống dân sự, mua bán giữ vai trò to lớn và chi phối đối với sự vận động xã hội Mua bán là hành vi chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa để lấy tiền Điều quan trọng được đặt ra đối với quan hệ mua bán là giá trị trao đổi của đối tượng phải tính được bằng tiền Để hiểu được bản chất của hành vi mua bán, phải xem xét hành vi này dưới góc độ hành vi thương mại phổ biến và so sánh với hành

vi khác có cùng đặc điểm tương ứng như trao đổi, gia công Tuy có cùng tính chất

là chuyển giao tài sản hay hàng hóa và nhận tiền hay một vật có giá trị tương đương nhưng bản chất của mỗi hành vi là khác nhau nên chúng có những đặc trưng riêng Dưới góc độ pháp lí, mua bán là hành vi nhằm thiết lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ giữa các chủ thể với nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu về kinh doanh, lợi nhuận, tiêu dùng Mua bán là hoạt động chủ yếu diễn ra trong đời sống kinh tế cũng như trong giao lưu dân sự Trong đó, MBHH là hành vi chủ yếu của thương nhân trong hoạt động thương mại, còn MBTS là hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau đáp ứng được điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của BLDS Do

đó, hợp đồng MBHH với vai trò là hình thức pháp lí chủ yếu của hoạt động MBHH

và Hợp đồng MBTS với vai trò là hình thức pháp lý của quan hệ MBTS có vai trò quan trọng, là công cụ pháp lí hữu hiệu để bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia vào quan hệ mua bán

Về khái niệm Hợp đồng Mua bán hàng hóa và Hợp đồng Mua bán tài sản

Hợp đồng là chế định có từ rất lâu đời Thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) có nguồn gốc từ động từ “contrahere” trong tiếng Latinh có nghĩa là “ràng buộc” và xuất hiện đầu tiên trong Luật La mã vào khoảng thế kỉ V-IV trước công nguyên Hợp đồng đóng vai trò là một thiết chế cơ bản của luật dân sự, là hình thức pháp lí

Trang 11

của quan hệ trao đổi hàng hóa C Mác đã từng nói: “Tự chúng, hàng hoá không thể

đi đến thị trường và trao đổi với nhau được Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó.”1 Trong giao lưu dân sự thì không thể không nói đến vai trò của hợp đồng, nơi mà ở đó hợp đồng là nền tảng của quan hệ trao đổi, mua bán và

hợp đồng được ví: “Nếu sự an toàn của con người, tài sản được bảo đảm trên cơ

sở những quy định của luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trong thế giới kinh doanh lại phụ thuộc vào luật hợp đồng.”2 Hợp đồng ra đời gắn liền với việc trao đổi hàng hóa để thỏa mãn những nhu cầu vật chất nhất định khi nền sản xuất có những tiến bộ đáng kể và xuất hiện sự dôi dư Hợp đồng có vai trò quan trọng, là một công

cụ nâng cao giá trị hàng hóa, làm thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu “Hợp đồng là cỗ

máy, là công cụ pháp lí mà qua đó nhu cầu trao đổi, giao lưu của con người được thực thi và bảo đảm; những cam kết được thực hiện và tôn trọng cho đến khi kết thúc, giúp cho luồng lưu thông hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người

và xã hội.” 3

Khái niệm hợp đồng đã xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử lập pháp của nước ta, được thừa nhận và tiếp tục được duy trì và phát triển từ BLDS 1995 đến BLDS

2005 Điều 388 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các

bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Qua quy định

trên cho thấy nhà nước thừa nhận hợp đồng là sự thống nhất ý chí để các bên đi đến một thỏa thuận mà thỏa thuận đó có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt những nghĩa vụ nhất định Tuy nhiên, dựa trên nền tảng chung đó thì mổi loại hợp đồng lại

có những đặc thù riêng biệt, xuất phát từ những đặc trưng riêng của các yếu tố cấu thành nên quan hệ hợp đồng đó Hợp đồng mua bán là một loại hợp đồng rất phổ biến, là loại hợp đồng mang tính song vụ và có đền bù Quyền và nghĩa vụ đặc trưng của hợp đồng mua bán là bên bán có nghĩa vụ giao đối tượng của hợp đồng mua bán cho bên mua và có quyền nhận lại một khoản tiền như đã thỏa thuận Về phần mình thì bên mua có quyền nhận được đối tượng của hợp đồng và được bên bán chuyển quyền sở hữu Tuy nhiên, bên mua cũng có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán một khoản tiền như đã giao kết trong hợp đồng Hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS đều là loại hợp đồng có những đặc trưng chung về quyền và nghĩa vụ trên Cho nên để thấy được sự tương đồng hay khác biệt của các loại hợp đồng với nhau trước hết ta phải đi xem xét các khái niệm về chúng, mà vấn đề được quan tâm

ở đây là khái niệm hợp đồng MBHH và Hợp đồng MBTS

1 C Mác (1973), Tư bản, Nxb Sự thật, quyển 1, tập 1, tr 163

2 Đinh Thị Mai Phương (2005), Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà nội, tr.5

3 Đinh Thị Mai Phương (2005), Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà nội, 2005, tr.6

Trang 12

Hợp đồng mua bán hàng hóa là một chế định của Luật thương mại, là sự thỏa thuận của các bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về hợp đồng MBHH giữa các nước nhưng xét về bản chất thì nó có sự tương đồng Theo

Luật bán và cung cấp hàng hóa của Anh thì “một hợp đồng mà bởi nó người bán

chuyển giao hoặc đồng ý chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua để nhận lại một khoản đối ứng bằng tiền mà được gọi là giá.”4Còn Ở Việt Nam Luật thương mại 2005 không có quy định nào về khái niệm hợp đồng MBHH Tuy nhiên

ta có thể dựa trên các nguyên tắc của Bộ luật dân sự và hoạt động MBHH được điều chỉnh bởi Luật thương mại 2005 để đưa ra khái niệm hợp đồng MBHH Theo Điều

388 BLDS 2005 thì: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác

lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Theo Luật thương mại 2005

thì hoạt động “MBHH là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao

hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và sở hữu hàng hóa như đã thỏa thuận.” 5 Từ đó có thể rút ra khái niệm: Hợp đồng MBHH là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của quan hệ MBHH theo quy định của luật thương mại để thực hiện hoạt động MBHH Cụ thể, hợp đồng MBHH là hình thức pháp lí của mối quan hệ MBHH giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa và chuyển dịch quyền sở hữu đối với hàng hóa đó cho bên mua và bên mua có quyền được nhận hàng, đồng thời thanh toán tiền hàng cho bên bán như đã thỏa thuận trong hợp đồng Hợp đồng MBHH đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung và cầu Hợp đồng MBHH không chỉ là cơ

sở pháp lí cho hoạt động MBHH được diễn ra nhanh chóng trên thị trường mà còn

là công cụ pháp lí thực hiện quyền tự do và chủ động kinh doanh của thương nhân

Về hợp đồng MBTS thì theo quy định tại Điều 428 BLDS 2005 quy định:

“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.”

Hợp đồng MBTS vừa mang những đặc điểm chung của một hợp đồng dân sự với nền tảng là sự tự do thỏa thuận của các bên và các nguyên tắc đặc thù trong giao lưu dân sự, vừa mang những đặc thù riêng của một loại hợp đồng mua bán, loại hợp đồng mà quyền và nghĩa vụ của các bên có đặc trưng là bên bán có nghĩa vụ giao tài sản và có quyền nhận một khoản tiền, còn bên mua có quyền nhận tài sản và có nghĩa vụ thanh toán Hợp đồng MBTS là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp

4 cua-bo-luat-dan-su-va-111inh-huong-cai-cach

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/nhung-bat-cap-ve-khai-niem-tai-san-phan-loai-tai-san-5 Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 200http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/nhung-bat-cap-ve-khai-niem-tai-san-phan-loai-tai-san-5.

Trang 13

đồng để đổi lấy quyền nhận tài sản Ngược lại bên bán thực hiện các nghĩa vụ của mình trong hợp đồng để đổi lấy quyền nhận tiền thanh toán

Vậy qua phân tích cho thấy hợp đồng MBHH và Hợp đồng MBTS có sự giống nhau là đều được hình thành trên nền tảng chung là sự thỏa thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ mua bán trên cơ sở tuân theo những nguyên tắc chung của BLDS, những nguyên tắc mang tính nền tảng trong giao lưu dân sự mà đặc biệt là nguyên tắc bình đẳng thỏa thuận, tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Tuy nhiên, khi đi sâu xem xét khái niệm trên về hợp đồng MBTS ta thấy có một vấn đề pháp lí còn tồn tại Để thấy rõ vấn đề này ta có thể tiến hành so sánh khái niệm MBTS trên với khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản được quy định tại Điều

465 BLDS 2005 “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó

bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho

mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận” Và khái niệm

MBHH tại khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005 “Mua bán hàng hoá là hoạt động

thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.” So sánh khái niệm hợp

đồng MBTS được quy định tại Điều 428 BLDS 2005 với khái niệm hợp đồng tặng cho tài sản được quy định tại Điều 465 BLDS 2005 và khái niệm MBHH tại khoản

8 Điều 3 Luật thương mại 2005 ta thấy các khái niệm trên có khác nhau về một vấn

đề pháp lí đó là nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua Với khái niệm hợp đồng MBTS thì luật chỉ quy định bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua còn đối với hợp đồng tặng cho tài sản thì bên bán vừa có nghĩa vụ giao tài sản vừa có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và khái niệm MBHH cũng bao gồm nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu Tại sao lại có sự khác nhau đó? Phải chăng vì Điều 428 BLDS 2005 đang nói về hợp đồng MBTS còn Điều 465 BLDS

2005 lại nói về tặng cho tài sản và Điều 3 Luật thương mại đang nói về MBHH? Thiết nghĩ đây không phải là một lí do mang tính thuyết phục vì suy cho cùng thì dù

là quan hệ tặng cho hay mua bán thì tài sản phải được chuyển quyền sở hữu, dù đối tượng của hợp đồng có là hàng hóa hay tài sản thì quyền sở hữu cũng cần phải được chuyển cho bên mua theo đúng bản chất của quan hệ mua bán Quan hệ tặng cho khác với quan hệ mua bán ở chổ là quan hệ tặng cho không mang tính chất đền bù tương xứng như quan hệ mua bán, cho nên không thể nói vì tặng cho và mua bán là khác nhau nên dẫn đến sự khác nhau trên Hơn nữa, dù cho là chúng khác nhau nhưng trong quan hệ tài sản trên thì tài sản phải thuộc về bên mua theo đúng nghĩa bên mua là chủ sở hữu tài sản Tuy nhiên, có thể hiểu nghĩa vụ giao tài sản mà Điều

428 BLDS 2005 đề cập đến là bao hàm cả việc chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên

Trang 14

mua Nhưng lại có ý kiến cho rằng hiểu như vậy là không thể được.6Lí do được đưa

ra là Điều 463 và Điều 465 BLDS 2005 có các định nghĩa như sau: “Hợp đồng trao

đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau” và “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng

ý nhận.” Ta thấy với hai loại hợp đồng trên thì BLDS đã tách bạch được hai vấn đề

là giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản nhưng tại sao với hợp đồng MBTS thì lại không tách bạch Có người lí giải là do viện dẫn định nghĩa về hợp đồng

trong pháp luật Pháp, cụ thể là Điều 1582 BLDS Pháp quy định “Hợp đồng mua

bán là sự thỏa thuận theo đó một bên có nghĩa vụ giao một vật và người kia có nghĩa vụ trả tiền cho vật ấy.” Tuy nhiên các lí giải trên cũng không thật sự thuyết

phục vì nếu điều 1582 BLDS Pháp chỉ đề cập đến nghĩa vụ giao hàng mà không nói đến nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu thì tại điều 1583 của bộ luật này đã quy

định rất rõ ràng điều đó “Việc mua bán được hoàn thành khi quyền sở hữu vật

đương nhiên chuyển sang cho người mua sau khi đã thỏa thuận về vật bán và giá

cả, tuy rằng vật chưa được giao và tiền chưa được trả.”7

Tuy nhiên, vấn đề đang được phân tích ở trên hầu như chỉ mang ý nghĩa về mặt

lí luận về quyền sở hữu trong khái niệm về hợp đồng MBTS chứ trên thực tế thì các hoạt động mua bán vẫn được tiến hành theo như đúng bản chất của nó là bên bán giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho bên mua, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán cho bên bán như đã thỏa thuận Có thể cho đó là thiếu xót của các nhà làm luật khi đưa ra khái niệm về hợp đồng MBTS chứ không phải là sự thiếu xót trong cả chế định hợp đồng MBTS trong BLDS 2005 vì bằng chứng là trong các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng có những quy định liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu như:

Điều 434 BLDS 2005 quy định về chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu

“Trong trường hợp không có thoả thuận và pháp luật không quy định về chi phí

vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu, thì bên bán phải chịu chi phí về vận chuyển đến địa điểm thực hiện nghĩa vụ và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu.”

Điều 436 BLDS 2005 quy định về bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua:

Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản đã bán cho bên mua không bị người thứ ba tranh chấp

6 cua-bo-luat-dan-su-va-111inh-huong-cai-cach

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/nhung-bat-cap-ve-khai-niem-tai-san-phan-loai-tai-san-7 cua-bo-luat-dan-su-va-111inh-huong-cai-cach

Trang 15

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/nhung-bat-cap-ve-khai-niem-tai-san-phan-loai-tai-san-Trong trường hợp tài sản bị người thứ ba tranh chấp, thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua; nếu người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán, thì bên mua có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại

Trong trường hợp bên mua biết hoặc phải biết tài sản mua bán thuộc sở hữu của người thứ ba mà vẫn mua, thì phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Từ hai quy định trên ta thấy vấn đề quyền sở hữu đối với tài sản mua bán đã được đề cập và rõ ràng là bên bán có nghĩa vụ đảm bảo về quyền sở hữu tài sản mà mình bán cho bên mua và còn có nghĩa vụ trả các chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu Từ đó cho thấy có thể việc không quy định nghĩa vụ chuyển quyền

sở hữu bên cạnh nghĩa vụ giao vật trong khái niệm về hợp đồng MBTS trong BLDS

2005 chỉ là một thiếu xót chứ không phải là chủ ý vì một mục đích gì khác.8Một bằng chứng rất rõ ràng là có những quy định cụ thể về vấn đề chuyển quyền sở hữu,

mà ở đó ta thấy phần lớn nghĩa vụ liên quan đến vấn đề này là thuộc về bên bán Vậy từ đó ta thấy, hợp đồng MBTS là sự thỏa thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ của mình trong việc mua bán một loại tài sản nhất định Theo đó, bên bán

có nghĩa vụ giao tài sản và có quyền nhận lại một khoản tiền thanh toán, còn bên mua có quyền nhận tài sản và phải có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán một khoản tiền như đã thỏa thuận trong hợp đồng Điều này thể hiện tính chất song vụ, đền bù của quan hệ MBTS Đặc điểm này làm cho hợp đồng MBTS và hợp đồng tặng cho tài sản có sự khác biệt

Hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS đều có những quyền và nghĩa vụ cơ bản trên cho các bên trong hợp đồng Dù quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS có thể khác nhau do nhiều yếu tố chi phối như đối tượng của hợp đồng, cách thức giao hàng…nhưng về cơ bản thì những quyền và nghĩa vụ cơ bản là bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng Đây là quyền và nghĩa vụ cơ bản mà các bên luôn quan tâm đến khi giao kết hợp đồng Từ đặc trưng trên về quyền và nghĩa vụ ta thấy hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH đều là hợp đồng song vụ, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Bên mua có quyền nhận hàng nhưng bù lại phải có nghĩa vụ thanh toán, bên bán có nghĩa vụ giao hàng nhưng có quyền được bên mua thanh toán một khoản tiền như đã thỏa thuận Yếu tố này còn cho thấy hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH là hợp đồng có đền bù Đây

là một đặc điểm quan trọng để phân biệt hợp đồng mua bán và hợp đồng tặng cho vì hợp đồng tặng cho là loại hợp đồng không mang tính đền bù Ngoài ra, dù cho trong khái niệm MBTS thì không bao hàm nghĩa vụ bên mua chuyển quyền sở hữu cho

8 cua-bo-luat-dan-su-va-111inh-huong-cai-cach

Trang 16

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/nhung-bat-cap-ve-khai-niem-tai-san-phan-loai-tai-san-bên bán Nhưng đó chỉ là vấn đề mang tính lí luận Còn trên thực tế, các quan hệ mua bán vẩn diễn ra theo đúng bản chất của nó dù là MBTS hay là MBHH thì nghĩa

vụ của bên bán là giao đối tượng của hợp đồng và chuyển quyền sở hữu cho bên mua và bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán

Về đặc điểm của Hợp đồng Mua bán hàng hóa và Hợp đồng Mua bán tài sản

Về chủ thể của Hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS

Hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS được hình thành giữa ít nhất hai chủ thể,

đó là bên mua và bên bán Đây là đặc điểm mang tính chất đặc trưng của quan hệ hợp đồng và là điểm giống nhau về chủ thể trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS Ngoài điểm giống nhau trên thì tính chất của chủ thể trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS có nhiều điểm khác nhau Sự khác nhau này sẽ được phân tích rõ hơn ở mục 1.4

Về nền tảng hình thành nên quan hệ hợp đồng

Hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS đều được hình thành trên nền tảng chung

đó là sự thỏa thuận nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm phục

vụ nhu cầu nhất định của mình Tuy nhiên các thỏa thuận này muốn làm phát sinh hợp đồng thì thỏa thuận trên phải làm phát sinh nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng mua bán là nghĩa vụ giao hàng và nghĩa vụ thanh toán Trong đó nổi bật là có sự biểu lộ

ý chí và thống nhất ý chí của bên mua và bên bán Nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình và không được bên kia chấp nhận thì không thể hình thành quan hệ hợp đồng Do đó hợp đồng chỉ hình thành trên sự thống nhất ý chí của các bên về các vấn đề được thỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ phát sinh hiệu lực khi nó phù hợp với ý chí của nhà nước, có nghĩa các bên được tự do thỏa thuận với nhau nhưng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Đó là điểm tương đồng

về nền tảng hình thành hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS

Hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH đều là hợp đồng song vụ

Tính song vụ của một hợp đồng thể hiện ở cấu trúc nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Tính song vụ là việc cả hai bên trong hợp đồng đều có nghĩa vụ với nhau, trong hợp đồng mua bán thì tính song vụ được thể hiện rõ nhất và tính song vụ của hợp đồng mua bán còn mang tính đối xung, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Theo đó, trong hợp đồng MBHH cũng như hợp đồng MBTS thì bên mua có quyền nhận được đối tượng của hợp đồng tương ứng với nghĩa vụ của bên bán là giao đối tượng của hợp đồng, và ngược lại bên bán có quyền nhận tiền thanh toán sẽ tương ứng với nghĩa vụ phải thanh toán của bên mua

Hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH đều là hợp đồng mang tính đền bù

Tính chất đền bù lợi ích được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của quan

hệ dân sự và tính chất đền bù đó được thể hiện một cách rõ nét nhất trong chế định hợp đồng Hợp đồng mang tính đền bù là những hợp đồng mà trong đó một bên sau khi thực hiện nghĩa vụ cho bên đối tác sẽ nhận được những lợi ích vật chất ngược

Trang 17

lại từ phía bên kia Hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS đều mang tính chất này, theo đó bên mua nhận đối tượng của hợp đồng và có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán một khoản tiền như đã thỏa thuận Ngược lại, để nhận được tiền thanh toán thì bên bán phải giao đi đối tượng của hợp đồng và chuyển quyền sở hữu đối tượng đó cho bên mua Cả bên bán và bên mua đều có được sự cân bằng tương đối về mặt lợi ích, một bên nhận được đối tượng của hợp đồng và một bên nhận được tiền thanh toán khi giao đi đối tượng của hợp đồng Hợp đồng mua bán là một loại hợp đồng mang tính đền bù ngang giá.

Hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS có sự tương đồng về mặt hình thức

“Hình thức của hợp đồng là sự thể hiện ra bên ngoài bằng một cách thức nhất

định ý chí của các bên, hình thức hợp đồng được hiểu là sự thể hiện nội dung của hợp đồng và những thủ tục mà pháp luật quy định bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ khi ký kết một số loại hợp đồng nhất định”9 Thông qua sự thể hiện đó có thể xác định được hợp đồng đã được giao kết hay chưa và với nội dung

cụ thể như thế nào Hình thức của hợp đồng đóng vai trò xác nhận các mối quan hệ đang tồn tại, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tố tụng Hình thức của hợp đồng

có thể là lời nói, văn bản, hành vi cụ thể Tuy nhiên, theo quy định của BLDS 2005

và Luật thương mại 2005 thì hình thức của hợp đồng trong những trường hợp nhất định có ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng Cụ thể:

Điều 401 Hình thức hợp đồng dân sự

1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định

2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.”

BLDS 2005 quy định nhiều hình thức của hợp đồng, trong đó có một số loại hợp đồng thì có quy định bắt buộc về mặt hình thức Với hợp đồng mua bán một số tài sản đặc biệt thì hợp đồng buộc phải lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực

Điều 24 Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá

1 Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể

2 Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó

Theo điều 24 luật thương mại thì hợp đồng MBHH có thể được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể Ngoài ra, do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ nên các hình thức như điện báo, telex,

9 Minh an (2009), Hình thức của hợp đồng kinh doanh- yếu tố không thể xem nhẹ, Nxb TP Hồ Chí Minh, tr 3

Trang 18

fax, cũng được coi là hình thức văn bản Ngoài ra, tùy vào từng loại hàng hóa mà pháp luật có bắt buộc hình thức của hợp đồng

Theo Bộ nguyên tắc về hợp đồng của Unidroit (PICC) thì “không có một chi tiết

nào của PICC yêu cầu một hợp đồng phải được kí kết bằng văn bản hoặc phải chứng minh có sự thỏa thuận bằng văn bản Sự tồn tại của một hợp đồng có thể được chứng minh bằng bất kì hình thức nào kể cả nhân chứng.”10 Tương đương là

Công ước Viên về hợp đồng MBHH quốc tế (CISG) có quy định “hợp đồng mua

bán không cần phải được kí kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ bất

cứ yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng lời khai của nhân chứng.”11 Pháp luật một số nước Anh, Mỹ không giới hạn hình thức của hợp đồng tuy nhiên nhằm đảm bảo cho lợi ích của nhà nước và xã hội thì có 1 số trường hợp quy định về hình thức như:

Theo pháp luật Pháp, Anh, Mỹ thì họ dựa vào giá trị của hợp đồng cụ thể là đối với các khiếu kiện tài sản lớn hơn 50 Fr, tòa án yêu cầu hợp đồng làm chứng phải được thực hiện bằng văn bản, hay như pháp luật Anh đã đưa ra các quy định cụ thể đối với các loại hợp đồngbuộc phải kí kết dưới hình thức văn bản, còn theo pháp luật Mỹ, hợp đồng có giá trị từ 500USD trở lên cần được thể hiện dưới hình thức văn bản, song điều này chỉ có ý nghĩa bắt buộc trong trường hợp các bên yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của mình (điều 2-201 UCC)12

Vậy qua phân tích hai quy định trên của BLDS 2005 và Luật thương mại 2005

về hình thức của hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH thì ta thấy pháp luật quy định giống nhau là cả hai loại hợp đồng trên đều có thể được thể hiện dưới hình thức bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể khi nào pháp luật có quy định

về hình thức của hợp đồng thì mới bắt buộc các bên khi giao kết phải tuân theo hình thức đó Đây là một trong những điểm giống nhau của hai loại hợp đồng trên

Về Pháp luật điều chỉnh Hợp đồng Mua bán hàng hóa và Hợp đồng Mua bán tài sản

10 Lê Nết (1999), Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb TP.HCM, tr9

11 Xem thêm Điều 11 CISG

12 Lê Hoàng Anh (2007), Bình luận các vấn đề mới của luật thương mại trong điều kiện hội nhập, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 06, tr8.

Trang 19

NĐ 54/CP ngày 10/03/1975, bản điều lệ đã khẳng định rõ nhiệm vụ kí kết hợp đồng kinh tế, trong đó có hợp đồng MBHH

- QĐ 735/TTg 10/04/1975 Của thủ tướng chính phủ ban hành kèm theo điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh

Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986), các quan hệ hợp đồng kinh tế mà chủ yếu là quan hệ hợp đồng MBHH đã mang những nội dung mới NĐ 54/CP không còn phù hợp Nhà nước ban hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 với những quy định tiến bộ hơn Bên cạnh đó các quy định về MBHH hàng hóa ngoại thương cũng được quan tâm điều chỉnh, điển hình là quy định số 61299-TMDL/XNK 9/4/1992 của Bộ thương mại và du lịch về việc kí kết và quản lí hợp đồng MBHH ngoại thương

Nhìn chung trước khi Luật thương mại 1997 ra đời thì việc MBHH không được quy định một cách riêng biệt mà chỉ được quy định chung cùng với các quy định về hợp đồng kinh tế

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và Luật thương mại 1997 là những văn bản chủ yếu điều chỉnh quan hệ hợp đồng này trước giai đoạn 2005 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời từ những năm đầu của thời kì quá độ sang kinh tế thị trường, là văn bản điều chỉnh các vấn đề về quan hệ kinh tế một cách chung nhất trong thời kì đổi mới Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời mang lại thành công về một số mặt như quản lí nền kinh tế, tăng cường hoàn thiện khung pháp lí cho hoạt động kinh doanh, tạo đà cho nền kinh tế ngày càng phát triển thì sau một thời gian áp dụng pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày càng tỏ ra có nhiều bất cập trước sự phát triển nhanh chóng

và đa dạng của bối cảnh nền kinh tế thị trường “Những quy định bất hợp lý trong

pháp luật về hợp đồng kinh tế đã “đóng khung” các hoạt động kinh doanh vốn dĩ hết sức mềm dẻo, linh hoạt, năng động và nhiều tính sáng tạo Trong điều kiện mới, pháp luật về hợp đồng kinh tế không những không tạo được sự điều chỉnh pháp lý thuận lợi hơn cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng mà còn gây những trở ngại, thậm chí là thiệt hại về kinh tế cho các chủ thể” 13 Vấn đề đặt ra là nên xây dựng hệ

thống các quy phạm pháp luật như thế nào cho hợp lí Đây là vấn đề được tranh cãi khá sôi nổi Và cũng trong thời kì này, khi pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã bộc lộ những thiếu xót của mình thì đã xuất hiện nhiều quan điểm là nên sửa đổi pháp lệnh trên cho phù hợp hay đưa các chế định về hợp đồng trong pháp lệnh này vào BLDS

vì hai loại hợp đồng này có bản chất pháp lý giống nhau Nhưng cũng có quan điểm cho rằng cần tiếp tục phân biệt rõ hợp đồng kinh tế với hợp đồng dân sự bởi hai loại hợp đồng này tuy thống nhất với nhau ở bản chất của hợp đồng, ở tính chất hàng hóa – tiền tệ nhưng nghĩ cho cùng chúng không đồng nhất với nhau mà có những

đặc điểm khác nhau Theo Tiến sĩ Hoàng Thế Liên thì “hợp đồng sản xuất – kinh

13 Nguyễn Văn Hùng (2000), Một số vấn đề về hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại và các giải pháp hoàn thiện chế định pháp luật hợp đồng Luận văn cử nhân, tr 5

Trang 20

doanh đặt ra nhiều yêu cầu đặc thù mà Bộ luật Dân sự chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ.”14 Còn Tiến sĩ Dương Đăng Huệ cho rằng “nên duy trì khái niệm hợp đồng

kinh tế bên cạnh khái niệm hợp đồng dân sự nhằm tạo điều kiện cho việc điều chỉnh chúng một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn.”15 Tuy nhiên, dù có nhiều quan điểm tranh cãi nhưng cả thực tiễn và lí luận đều cho thấy không cần phải duy trì khái niệm hợp đồng kinh tế riêng, cụ thể:

- Trong thời kì có nhiều đổi mới trong nền kinh tế, hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự có bản chất thống nhất với nhau, đó là những thỏa thuận dựa trên tính

tự nguyện nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ liên quan đến tính chất hàng hóa - tiền tệ Việc tìm các tiêu chí để cố phân biệt hai loại hợp đồng trên trong nhiều trường hợp là mang tính gượng ép

Việc duy trì khái niệm hợp đồng kinh tế đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh nó Trong khi đó việc duy trì một hệ thống pháp luật riêng là không cần thiết chưa kể đến những nguy cơ có thể mắc phải như sự trùng lắp, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật trong việc cùng điều chỉnh vấn đề hợp đồng, từ đó tạo ra khó khăn, thiếu đồng bộ trong việc áp dụng pháp luật Ví dụ như trong Bộ luật Dân

sự năm 1995 và Pháp lệnh hợp đồng năm 1989 đều có những quy định chung về hợp đồng đã phát sinh sự trùng lặp trong sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng chứ chưa

có quy định gì để cho thấy sự liên kết, hổ trợ lẫn nhau giữa các văn bản trên Cho nên việc duy trì một hệ thống pháp luật riêng sẽ có nhiều khả năng sẽ gây khó cho việc áp dụng pháp luật Và quan trọng hơn nữa là cần xóa đi những khác biệt không cần thiết trong pháp luật quốc gia so với pháp luật quốc tế

- Tóm lại, trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần không nên duy trì khái niệm hợp đồng kinh tế và hệ thống pháp luật riêng để điều chỉnh chúng Hợp đồng,

dù được giao kết với mục đích gì và bởi chủ thể nào thì cũng mang bản chất rất đặc trưng là sự thỏa thuận trên nền tảng tự nguyện của các bên thì vẫn xem là hợp đồng

và chịu sự điều chỉnh của BLDS còn những đặc điểm đặc thù của từng loại hợp đồng thì còn có thể chịu thêm sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật chuyên ngành khác

Còn về Luật thương mại 1997, đây là văn bản pháp lí quan trọng lúc bấy giờ để điều chỉnh các vấn đề thương mại, trong đó có điều chỉnh vấn đề MBHH Nhưng qua một thời gian thực thi đã bộc lộ những thiếu xót như mâu thuẫn với BLDS 1995

14 Nguyễn văn Hùng (2004), Một số vấn đề về hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại và các giải pháp hoàn thiện chế định pháp luật hợp đồng, Luận văn cử nhân, tr7

15 Nguyễn văn Hùng (2004), Một số vấn đề về hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại và các giải pháp hoàn thiện chế định pháp luật hợp đồng, Luận văn cử nhân, tr8

Trang 21

cũng như một số luật khác Vấn đề này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như đã phân tích ở trên chứ không chỉ riêng những yếu kém trong bản thân Luật thương mại

1997 Đó là có sự trùng lắp, thiếu nhất quán và không đồng bộ giữa các văn bản pháp luật trong cùng một hệ thống về việc điều chỉnh một vấn đề pháp lí là hợp đồng Các văn bản điều chỉnh vấn đề hợp đồng không có tính liên thông, hỗ trợ lẩn nhau Luật thương mại 1997 chưa phát huy hết vai trò là một công cụ quản lí và khuyến khích nền kinh tế của nhà nước Một số hạn chế chủ yếu như về khái niệm hàng hóa trong luật này được hiểu theo nghĩa hẹp, điều này vô tình gây khó khăn cho các chủ thể trong quá trình kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận Hơn nữa một định nghĩa về hàng hóa như vậy là chưa phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế Xuất phát từ những vấn đề trên nên nhu cầu đặt ra là cần cải cách một cách có

hệ thống và logic các chế định hợp đồng sao cho pháp luật hợp đồng trở nên hoàn thiện, tạo môi trường pháp lí an toàn cho các giao dịch phát triển Trước yêu cầu đó, các văn bản luật quan trọng lần lượt ra đời BLDS 2005, Luật thương mại 2005 ra đời, đồng thời chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, đánh dấu bước phát triển vượt bậc về pháp luật hợp đồng trong pháp luật Việt Nam BLDS đóng vai trò nền tảng trong việc điều chỉnh các vấn đề về hợp đồng nói chung, ngoài ra các hợp đồng đặc thù còn được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành

Nhìn chung, hợp đồng MBHH là hình thức pháp lí của quan hệ MBHH, loại hợp đồng này được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc chung về hợp đồng và kèm theo những đặc trưng riêng biệt của quá trình giao kết và thực hiện hoạt động MBHH, một hoạt động thương mại chủ yếu Từ đó ta thấy, hợp đồng MBHH vừa mang những điểm tương đồng mang tính bản chất của một loại hợp đồng vừa mang những đặc điểm riêng có của hoạt động thương mại

Hợp đồng MBTS:

Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 do Hội đồng bộ trưởng ban hành đã đặt nền tảng cho việc điều chỉnh các vấn đề về hợp đồng một cách tổng quát và có hệ thống Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 quy định khá đầy đủ các vấn đề về hợp đồng, từ khái niệm, nguyên tắc giao kết hợp đồng cho đến các vấn đề hợp đồng vô hiệu và

xử lí hợp đồng vô hiệu Pháp lệnh hợp đồng dân sự ra đời cùng với sự ra đời của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, với sự ra đời của hai pháp lệnh trên cho thấy có sự phân biệt và điều chỉnh các hợp đồng theo pháp luật Việt Nam Qua một thời gian thực hiện thì Pháp lệnh hợp đồng dân sự đã bộc lộ những điểm yếu và khi BLDS

1995 ra đời thì vấn đề hợp đồng được chuyển sang điều chỉnh một cách thống nhất

và toàn diện hơn

BLDS 2005 là một bộ luật cơ bản được xây dựng trên cơ sở khung pháp luật kinh tế thị trường ở nước ta và trình độ lập pháp tương đối tiến bộ BLDS 1995 đã dành nhiều điều quy định về chế định hợp đồng nói chung và hợp đồng MBTS nói riêng Trong bối cảnh của nền kinh tế lúc bấy giờ thì sự ra đời của BLDS 1995 với

Trang 22

những chế định khá tiến bộ về hợp đồng thì BLDS 1995 đã hoàn thành vai trò là hướng dẫn và tạo hành lang pháp lí cho các giao dịch dân sự, trong đó có hợp đồng MBTS Tuy nhiên, qua một thời gian đưa vào áp dụng, cùng với những vướng mắc mang tính nội tại tồn tại ngay trong BLDS cùng với những sự thay đổi nhanh chóng

và ngày càng đa dạng của các quan hệ xã hội thì Bộ luật Dân sự đã bộc lộ những thiếu xót của mình và vẫn chưa thể hiện hết vai trò của một đạo luật chủ yếu trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự Pháp luật hợp đồng trong thời kì này còn chưa được hoàn thiện như ngày nay, bằng chứng là BLDS 1995 chưa điều chỉnh được một cách khái quát các quan hệ hợp đồng trong đời sống xã hội, bên cạnh BLDS còn có pháp lệnh hợp đồng kinh tế (được ban hành 25/9/1989), việc được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật như vậy khó tránh được sự chồng chéo, mâu thuẫn trong việc áp dụng pháp luật trên thực tế

Trước bối cảnh đó, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển tất yếu của nền kinh tế đổi mới, năm 2005 quốc hội thông qua BLDS 2005, đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật dân sự của Việt Nam BLDS 2005 có nhiều quy định tiến bộ về hợp đồng nói chung và hợp đồng MBTS nói riêng Đặc biệt, BLDS 2005 với vai trò là luật chung, vai trò nền tảng nhất trong việc điều chỉnh các loại hợp đồng Và chế định về hợp đồng MBTS đã được xây dựng tương đối phù hợp với xu hướng biến đổi của tình hình kinh tế, xã hội

Về chủ thể của Hợp đồng Mua bán hàng hóa và hợp đồng Mua bán tài sản

Để xác định chủ thể của hợp đồng MBHH thì phải xác định đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại Điều 2 Luật thương mại 2005 quy định về đối tượng điều chỉnh bao gồm thương nhân hoạt động thương mại theo điều 1 của Luật thương mại, các tổ chức cá nhân khác có hoạt động liên quan đến thương mại Ngoài ra, theo quy định của Chính phủ thì luật này còn áp dụng đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh Theo quy định trên ta thấy đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại là các thương nhân hoạt động thương mại và các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến thương mại theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, Điều 1 Luật thương mại còn có quy định Luật thương mại còn điều chỉnh hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.16 Vậy ta thấy đối tượng điều chỉnh của luật thương mại bao gồm:

- Thương nhân có hoạt động thương mại theo quy định của luật thương mại;

- Các tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến thương mại;

16 Khoản 3 Điều 3 Luật thương mại 2005

Trang 23

- Tổ chức cá nhân có giao dịch với thương nhân được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam không nhằm mục đích sinh lợi mà bên đó chọn áp dụng Luật thương mại là luật điều chỉnh cho quan hệ của mình

Qua phân tích trên, ta xác định được đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại không chỉ là thương nhân với phạm vi điều chỉnh là khi thực hiện các hoạt động thương mại, là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi mà Luật thương mại còn điều chỉnh khi một bên giao dịch với thương nhân mà không vì mục đích sinh lợi mà bên

đó chọn áp dụng Luật thương mại để điều chỉnh quan hệ của mình Mà mua bán hàng hóa là một hoạt động thương mại chủ yếu Cho nên từ đó ta có thể xác định chủ thể của hợp đồng MBHH là thương nhân hoạt động vì mục đích sinh lợi; và một bên trong giao dịch với thương nhân không vì mục đích sinh lợi mà bên đó chọn áp dụng luật này Ngoài ra, nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh thì Luật thương mại còn quy định các đối tượng điều chỉnh là các cơ quan, tổ chức khác có hoạt động liên quan đến thương mại hay các cá nhân có hoạt động thương mại thường xuyên không phải đăng kí kinh doanh Đó là các chủ thể của hợp đồng MBHH Chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hợp đồng MBHH ít nhất một bên phải

là thương nhân Vì hàng hóa trong hợp đồng MBHH vừa có thể là đối tượng được dùng trong sản xuất kinh doanh vừa có thể là hàng tiêu dùng Vì vậy dù cùng thực hiện hành vi MBHH nhưng mục đích của các chủ thể là khác nhau: có thể là mua bán, có thể là tiêu dùng song nhất thiết phải có một bên là thương nhân tham gia vào quan hệ hợp đồng MBHH vì mục đích lợi nhuận Như vậy mới đúng bản chất của hoạt động thương mại Hợp đồng MBHH là hoạt động gắn liền với thương nhân

Vậy Thương nhân là ai? Trả lời cho câu hỏi trên giúp xác định được chủ thể chủ yếu trong quan hệ hợp đồng MBHH Thương nhân, tiếng Anh gọi là “merchant” tiếng Pháp gọi là “conmercant” là một khái niệm quen thuộc trong luật thương mại của các nước Điều 6 Luật thương mại 2005 định nghĩa:

“ Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt

động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”

Từ đó cho thấy các yếu tố hợp thành khái niệm thương nhân là: tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp hoặc là cá nhân; hoạt động thương mại một cách độc lập

và thường xuyên; có đăng kí kinh doanh Khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định trên thì được xem là thương nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam

Luật của Pháp quy định thương nhân là tất cả “những người kí kết hợp đồng

thương mại, thực hiện các hoạt động thương mại và coi việc kí kết thực hiện các hợp đồng thương mại đó là nghề nghiệp thường xuyên của mình”

Xác định chủ thể của hợp đồng MBHH và so sánh với chủ thể của hợp đồng MBTS thì thấy rằng chủ thể của hợp đồng MBTS sẽ rộng hơn vì theo điều 428

BLDS 2005 thì “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó

bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa

Trang 24

vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.” Qua khái niệm trên cho thấy chủ thể của

hợp đồng MBTS là đa dạng, đó là các bên có thỏa thuận với nhau về việc mua bán một loại tài sản nhất định Các bên này không quy định rõ ràng là các đối tượng nào nhưng suy cho cùng cũng là các chủ thể tham gia vào các giao dịch dân sự được quy định trong BLDS 2005, đó là cá nhân, tổ chức, pháp nhân, hộ gia đình Tuy nhiên khi tham gia vào các giao dịch dân sự thì vấn đề được quan tâm là hiệu lực của giao dịch dân sự đó, trong đó vấn đề về năng lực chủ thể sẽ được trú trọng để xem xét Điều 122 BLDS 2005 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự là người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự Do đó, có khả năng người chưa thành niên vẫn có thể trở thành chủ thể của hợp đồng MBHH Vì theo quy định của BLDS 2005 thì người chưa thành niên cũng có thể tham gia xác lập các giao dịch dân sự mà mua bán là một quan hệ dân sự phổ biến Cụ thể khoản 2

Điều 20 BLDS 2005 có quy định: “Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi

đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Từ đó,

ta thấy chủ thể của hợp đồng MBTS sẽ có phạm vi rộng hơn so với chủ thể của hợp đồng MBHH, nó chỉ cần đáp ứng điều kiện là người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự, đây là điều kiện về chủ thể mà BLDS 2005 buộc các bên trong giao dịch phải đáp ứng được và được xem như là một điều kiện quan trọng để hợp đồng MBTS có hiệu lực Ngoài ra, với một số chủ thể không phải là cá nhân như tổ chức,

hộ gia đình, tổ hợp tác thì phải tuân theo quy định của BLDS 2005 khi xem xét về

năng lực giao kết hợp đồng của các bên đó

Từ đó ta thấy, chủ thể của hợp đồng MBHH buộc phải có ít nhất một bên là thương nhân, trong khi hợp đồng MBTS thì có thể là cá nhân, tổ chức tham gia vào giao dịch và đáp ứng được điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Đây là điểm khác biệt cơ bản khi xem xét hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS

Về đối tượng của Hợp đồng Mua bán hàng hóa và Hợp đồng Mua bán tài sản

Đối tượng của hợp đồng là yếu tố đóng vai trò quan trọng, là yếu tố chủ yếu trong việc chi phối, ảnh hưởng đến việc thiết lập các điều khoản khác của hợp đồng, nhất là các điều khoản về quyền và nghĩa vụ Vì tính chất đặc thù của đối tượng buộc các bên phải có những quyền và nghĩa vụ nhất định để giúp các bên đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng Phần này sẽ được làm rõ hơn sau khi phân tích đối tượng của hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH

Đối với hợp đồng MBHH:

Đối tượng của hợp đồng MBHH chính là hàng hóa

Trang 25

Theo từ điển tiếng Việt phổ thông thì “hàng hóa là sản phẩm do lao động làm ra

được mua bán trên thị trường” 17 Theo Karl Marx định nghĩa thì hàng hóa trước hết

là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có:

- Tính ích dụng đối với người dùng;

- Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động;

- Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm

Sự thay đổi và phát triển nhận thức đối với đời sống kinh tế dẫn đến cách hiểu hàng hóa không như các nhà kinh tế cổ điển xác định Phạm trù hàng hóa mất đi ranh giới của sự hiển hiện vật lý của vật thể và tiến sát đến gần phạm trù giá trị Tiền, cổ phiếu, quyền sở hữu nói chung, quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, sức lao động, được xem là hàng hóa trong khi chúng không nhất thiết có những tính chất như đã liệt kê trên Theo phép biện chứng duy vật lịch sử của Marx thì phạm trù hàng hóa có thể chỉ là đặc điểm riêng của chủ nghĩa tư bản mà thôi

Còn theo nghĩa khoa học pháp lí thì hàng hóa được hiểu như thế nào? Theo pháp luật Hoa kì “ hàng hóa bao gồm tất cả mọi thứ có thể dịch chuyển được (quyền sở hữu) vào một thời gian xác định theo hợp đồng MBHH; hàng hóa có thể là hàng hóa

đã có ở hiện tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai”18 Còn theo Uniform commercial code (UCC) thì hàng hóa không chỉ bao gồm những hàng hóa ở hiện tại

mà còn bao gồm hàng hóa ở tương lai Theo pháp luật của một số nước thành viên của hiệp định GATT, công ước Viên 1980 về MBHH quốc tế (CISG) thì “hàng hóa_đối tượng mua bán thương mại được hiểu bao gồm những loại tài sản có thuộc tính là có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại”.19

Theo Bộ luật thương mại Sài Gòn 1972 thì xem việc mua bán, cho thuê các tài vật, hàng hóa bất kì loại gì (bao gồm cả bất động sản) đều là hành vi thương mại và được điều chỉnh bởi Bộ luật thương mại Ở đây khái niệm hàng hóa đã được hiểu theo nghĩa rộng

Theo quy định tại điều 3 Luật thương mại 2005 thì hàng hóa là:

“Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai”

Cách quy định này là phù hợp với thông lệ quốc tế và có phần tiến bộ hơn so với quy định của Luật thương mại 1997 Vì theo Luật thương mại 1997 thì hàng hóa

bao gồm: “máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các

động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình

17

TS Chu Bích Thu, PGS.TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn Thúy Khanh,

TS Phạm Hùng Việt (2005), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr56

18 Trường đại học luật Hà Nội (2006), Giáo trình luật thương mại tập 2, NXB công an nhân dân, Hà Nội, tr34

19 Trường đại học luật Hà Nội (2006), Giáo trình luật thương mại tập 2, NXB công an nhân dân, Hà Nội, tr 39

Trang 26

thức cho thuê, mua, bán.”20 Khái niệm hàng hóa được hiểu theo nghĩa rộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại của các thương nhân Tuy nhiên về hàng hóa thì Luật thương mại 2005 còn đưa ra khái niệm hàng hóa cấm kinh doanh

và hàng hóa kinh doanh có điều kiện.21 Điều này nhằm định hướng cho các chủ thể kinh doanh các loại hàng hóa này có những hành vi phù hợp Tuy nhiên, khái niệm hàng hóa theo Luật thương mại là khác với quy định về hàng hóa theo công ước Viên, công ước quy định về MBHH quốc tế, vì theo công ước này, đối tượng của hợp đồng sẽ được dịch chuyển qua lãnh thổ của các quốc gia, cho nên hàng hóa theo công ước này phải là động sản hữu hình

Về đối tượng của hợp đồng MBTS:

Điều 429 BLDS 2005 quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản gồm:

- Đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch

- Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là vật thì vật phải được xác định rõ

- Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản thì phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của bên bán

Từ quy định trên ta thấy đối tượng của hợp đồng MBTS là tài sản được phép

giao dịch Theo BLDS 2005 “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền

tài sản.” Đây là một định nghĩa mang tính liệt kê hết sức ngắn gọn và “đây là một giải nghĩa tài sản đặc biệt nhất đã từng được biết đến, bởi khó có thể tìm được một giải nghĩa tài sản tương tự ở trong các quyển từ điển thuật ngữ pháp luật và ở các BLDS của các nước trên thế giới, mặc dù con người không thể sống mà không có tài sản và pháp luật nói chung thì đã chú ý tới câu chuyện này từ nhiều thiên niên

kỷ Giải nghĩa này kế thừa có phát triển giải nghĩa tài sản tại Điều 172, BLDS năm

1995 Thế nhưng, chưa từng một lần những người “có trách nhiệm” giải thích cho giới luật học hiểu tính đúng đắn của những giải nghĩa như vậy” 22 Và cũng theo

Điều 174 BLDS 2005 thì tài sản được chia thành động sản và bất động sản Bất động sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản gắn liền với đất đai còn những tài sản không phải là bất động sản thì sẽ là động sản (điều 174 BLDS2005)

BLDS của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) đã dựa vào phân loại tài sản để xác định khái niệm tài sản như sau:

“Điều 448 Phân loại tài sản

Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và động sản và bất động sản”

20 Luật thương mại 1997

21 Điều 25 luật thương mại 2005.

22

cua-bo-luat-dan-su-va-111inh-huong-cai-cach

Trang 27

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/nhung-bat-cap-ve-khai-niem-tai-san-phan-loai-tai-san-Deluxe Back’s Law Dictionary giải nghĩa: “Tài sản là một từ được sử dụng

chung để chỉ mọi thứ là đối tượng của quyền sở hữu, hoặc hữu hình hoặc vô hình, hoặc bất động sản hoặc động sản.”

Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 429 theo quy định của BLDS 2005 thì có thể hiểu đối tượng của hợp đồng MBTS là tài sản theo quy định tại điều 163 được phép giao dịch

So sánh đối tượng của hợp đồng MBTS theo quy định của BLDS và đối tượng của hợp đồng MBHH theo Luật thương mại thì đối tượng mua bán theo Luật thương mại là hẹp hơn Có thể nói hàng hóa là tài sản nhưng không phải mọi tài sản đều là hàng hóa Đây là một đặc điểm để phân biệt hai loại hợp đồng trên Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề tài sản là đối tượng của hợp đồng MBTS và hàng hóa là đối tượng của hợp đồng MBHH còn tồn tại một số vấn đề như sau:

Thứ nhất là xem xét hàng hóa và tài sản khác nhau ở điểm nào và những quy định của pháp luật hiện hành về tài sản và hàng hóa là có phù hợp hay chưa? Về vấn

đề sự khác nhau giữa tài sản và hàng hóa Xét từ góc độ quy định của pháp luật thì BLDS 2005 quy định:“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.” Ngoài

ra, theo quy định của BLDS về các loại tài sản thì điều 174 BLDS 2005 đã phân tài sản thành động sản và bất động sản

Còn hàng hóa, theo Luật thương mại 2005 thì là:

“Tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;và những vật gắn liền với đất đai”

Vậy trên cơ sở xem xét hai định nghĩa trên cho thấy hàng hóa và tài sản chỉ khác nhau về phần quy định về bất động sản BLDS 2005 quy định bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai Còn Luật thương mại chỉ quy định hàng hóa

là những vật gắn liền với đất đai Tuy nhiên chúng ta đang bàn đến đối tượng của hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH, ta thấy trong hợp đồng MBTS liên quan đến đất đai thì đối tượng của hợp đồng MBTS đó là quyền sử dụng đất, là quyền tài sản, một loại tài sản được quy định tại điều 163 BLDS 2005 Câu hỏi đặt ra là quyền sử dụng đất có phải là hàng hóa hay không?

Theo quy định của Luật thương mại thì hàng hóa bao gồm:

“Tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; và những vật gắn liền với đất đai.” Vậy để trả lời cho câu hỏi quyền sử dụng đất có phải là hàng

hóa hay không thì trước hết phải xem quyền sử dụng đất là động sản hay bất động sản Đây là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi Tuy nhiên theo tác giả thì căn cứ vào Luật kinh doanh bất động sản thì quyền sử dụng đất là bất động sản Điều 6 Luật kinh doanh bất động sản quy định các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh gồm:

“Các loại nhà, công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng;

Trang 28

Quyền sử dụng đất được tham gia thị trường bất động sản theo quy định của pháp luật về đất đai”

Phân tích trên cho thấy quyền sử dụng đất là bất động sản nên không thể là hàng

hóa theo quy định tại điều 3 Luật thương mại là “tất cả các động sản, kể cả động

sản hình thành trong tương lai.” Tuy nhiên, quyền sử dụng đất là quyền gắn liền

với đất đai, vậy có thể là hàng hóa theo quy định là “những vật gắn liền với đất đai”

hay không? Luật thương mại quy định hàng hóa là những vật gắn liền với đất đai

cho nên quyền sử dụng đất cũng không thể là hàng hóa theo quy định là “những vật

gắn liền với đất đai” vì quyền sử dụng đất là quyền gắn liền với đất đai, là quyền tài

sản, một loại tài sản theo quy định tại điều 163 BLDS 2005 chứ không phải là vật gắn liền với đất đai Điều 163 BLDS phân loại tài sản cho thấy rõ sự khác nhau giữa vật và quyền, đó là hai loại tài sản tách biệt với nhau Từ đó cho thấy hàng hóa và tài sản khác nhau ở điểm trên, hàng hóa là tài sản nhưng không phải tất cả tài sản đều là hàng hóa mà cụ thể như đã phân tích ở trên thì đất đai và quyền sử dụng đất không phải là hàng hóa theo quy định về hàng hóa của Luật thương mại 2005 Tuy nhiên, quy định của pháp luật và cách hiểu trên sẽ đặt ra một câu hỏi mà chưa có câu trả lời thỏa đáng là nếu các thương nhân, vì mục đích lợi nhuận và giao dịch quyền sử dụng đất với nhau trên thị trường thì có phải là hợp đồng MBHH hay không? Việc quy định về tài sản trong BLDS 2005 và hàng hóa trong Luật thương mại 2005 đã dẫn đến hệ quả đất đai và quyền sử dụng đất không phải là hàng hóa Xét thấy việc không quy định đất đai là hàng hóa do những đặc thù của loại tài sản này là hợp lí nhưng việc quy định quyền sử dụng đất không phải là hàng hóa trong bối cảnh giao dịch quyền sử dụng đất trên các sàn giao dịch bất động sản đang diễn

ra ngày càng sôi động và đa dạng thì là chưa hợp lí Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc hoạt động trên không được điều chỉnh, Điều 4 Luật thương mại 2005

Với Luật thương mại 2005 thì khái niệm hàng hóa đã được mở rộng hơn so với quy định về hàng hóa trong Luật thương mại 1997, điều đó có nghĩa là mở rộng thêm các hoạt động kinh doanh thương mại, làm cho thị trường trở nên sôi nổi, thúc đẩy nền kinh tế phát triển sôi động hơn Các thương nhân yên tâm hoạt động mà không phải vướng bận đến chuyện giới hạn một đối tượng nào đó có phải là hàng hóa hay không như luật thương mại 1997 Tuy nhiên, cần quan tâm đến việc hoàn thiện khái niệm hàng hóa sao cho thống nhất với các quy định khác

Trang 29

Vấn đề thứ hai là đối tượng của hợp đồng sẽ cơ bản làm cho quyền và nghĩa vụ của các bên trong mỗi loại hợp đồng là khác nhau Do bản chất của đối tượng là khác nhau, mà đối tượng của hợp đồng lại đóng vai trò chi phối các điều khoản trong hợp đồng Đưa ra một ví dụ để làm rõ vấn đề trên là: một hợp đồng mua bán hàng điện tử và một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ có nội dung quyền và nghĩa vụ khác nhau Nếu quyền của bên bán trong hợp đồng bán hàng điện tử là giao hàng và bảo hành vật đã bán trong một thời gian nhất định thì bên bán (bên chuyển nhượng) trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nghĩa vụ giao đất và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu quyền sử dụng đất cho bên mua Sự khác nhau trên xuất phát từ nguyên nhân do đối tượng của hợp đồng là khác nhau, một bên là động sản hữu hình (hàng điện tử) và 1 bên là quyền tài sản (quyền sử dụng đất) Từ đó cho thấy đối tượng của hợp đồng là nhân tố có ý nghĩa chi phối quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

Từ những phân tích trên về đối tượng của hai loại hợp đồng, chúng ta sẽ thấy sự khác nhau về đối tượng của hợp đồng có ảnh hưởng như thế nào đến cả quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng Với hợp đồng MBTS thì gồm hợp đồng MBTS là động sản, bất động sản và quyền tài sản Với hợp đồng MBHH thì gồm hợp đồng MBHH là động sản và hàng hóa là bất động sản, lưu ý đối với hợp đồng MBHH loại này thì bất động sản đang được đề cập chỉ giới hạn ở phạm vi tài sản gắn liền với đất chứ không bao gồm quyền sử dụng đất Một thể hiện rõ nhất của sự khác nhau về đối tượng của hợp đồng sẽ làm ảnh hưởng đến hợp đồng đó chính là hợp đồng MBTS có đối tượng là quyền tài sản và hợp đồng MBHH với đối tượng là hàng hóa thông thường là động sản hữu hình Mà sự tác động lớn nhất ở đây là sự tác động đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

Về Mục đích của Hợp đồng Mua bán hàng hóa và Hợp đồng Mua bán tài sản

Mục đích là điều mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ Nhằm mục đích sinh lợi là mục đích của hợp đồng MBHH và mục đích tiêu dùng là mục đích chính được biết đến khi đề cập đến mục đích của hợp đồng MBTS Và đây cũng là một đặc điểm cơ bản để phân biệt hai hợp đồng này với nhau

Như đã đề cập ở trên, hợp đồng MBHH là hợp đồng trong đó cả hai bên hoặc ít nhất một bên là thương nhân Đây là tầng lớp mà hoạt động nổi bật nhất là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận là mục tiêu mang tính đặc trưng của các hoạt động thương mại của thương nhân mà MBHH là hoạt động thương mại cơ bản nhất Tuy nhiên lợi nhuận đó phải đặt trong mối quan hệ với lợi ích của xã hội và cộng đồng nói chung Còn hợp đồng MBTS thì mục đích chính là nhằm thỏa mãn những nhu cầu mang tính cá nhân, mang mục đích tiêu dùng

Đối với trường hợp hành vi MBHH trong quan hệ giữa một bên là thương nhân còn bên kia là người tiêu dùng thì đây là trường hợp mang tính hỗn hợp Đối với thương nhân thì là vì mục đích lợi nhuận còn đối với người mua hàng là mục đích

Trang 30

tiêu dùng, đơn thuần là dân sự Vậy trong trường hợp này xác định như thế nào? Một bên là thương nhân vì mục đích sinh lợi còn bên kia vì mục đích tiêu dùng Trong trường hợp này, quan hệ mua bán trên có hình thức pháp lí như thế nào là phụ thuộc vào sự lựa chọn của bên không vì mục đích lợi nhuận Nếu chọn áp dụng Luật thương mại thì quan hệ trên sẽ là hợp đồng MBHH được điều chỉnh bởi quy định của Luật thương mại còn nếu bên không vì mục đích lợi nhuận không chọn Luật thương mại 2005 điều chỉnh quan hệ mua bán của mình thì thiết nghĩ hợp đồng trên không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại mà sẽ chịu sự điều chỉnh của BLDS Ta thấy trong trường hợp này hình thức pháp lí của quan hệ mua bán trên là do việc chọn luật quyết định Luật thương mại 2005 quy định về việc lựa chọn, điều này có thể lí giải được là hợp đồng MBHH luôn gắn liền với hoạt động của thương nhân Thiết nghĩ, quy định tại khoản 3 điều 1 Luật thương mại là một quy định nhằm mở rộng phạm vi áp dụng của Luật thương mại, cho các bên trong quan hệ MBHH có quyền lựa chọn áp dụng Luật thương mại cho quan hệ của mình chứ không giải quyết được vấn đề luật áp dụng trong trường hợp các bên không thỏa thuận mà có một bên là thương nhân tham gia quan hệ vì mục đích lợi nhuận

và một bên không phải là thương nhân tham gia quan hệ không vì mục đích lơi nhuận Vấn đề chọn luật áp dụng có ảnh hưởng lớn đến quan hệ của các bên trong hợp đồng, từ quyền đến nghĩa vụ của các bên, cho nên khi giao kết hợp đồng vấn đề luật áp dụng cần được các bên quan tâm đúng mức

Về nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên trong Hợp đồng Mua bán hàng hóa

và Hợp đồng Mua bán tài sản

Phân tích nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS sẽ thấy được những điểm khác nhau đặc trưng của hai loại hợp đồng này Sự khác nhau đó xuất phát từ sự khác nhau về đối tượng của hợp đồng và

sự khác nhau về mục đích điều chỉnh của BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 hướng tới Trước khi đi phân tích các quy định về quyền và nghĩa vụ thì cần chú ý vấn đề sau: quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là những điều khoản cơ bản Theo nguyên tắc đặc trưng của hợp đồng là tự do và bình đẳng thỏa thuận cho nên các điều khoản về quyền và nghĩa vụ theo quy định của cả BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 thì các bên trong hợp đồng được quyền thỏa thuận với nhau Tuy nhiên, pháp luật cũng đưa ra những quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ mua bán trong trường hợp các bên không có thỏa thuận Cho nên

đi phân tích các điểm khác nhau về quyền và nghĩa vụ của các bên là quyền và nghĩa vụ được quy định trong BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 trong trường hợp các bên không có thỏa thuận vấn đề trên trong hợp đồng Cho nên trong phần này chỉ phân tích điểm khác biệt cơ bản về nghĩa vụ giao hàng và nghĩa vụ thanh toán, hai nghĩa vụ đặc trưng của các bên trong hợp đổng mua bán

Trang 31

Về nghĩa vụ giao hàng

Đây là nghĩa vụ của bên bán, bên bán thực hiện tốt nghĩa vụ này, giao đối tượng của hợp đồng đúng số lượng và chất lượng sẽ đảm bảo được quyền lợi của bên mua

là nhận đối tượng của hợp đồng, đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng

Thứ nhất là về địa điểm giao hàng

Địa điểm giao hàng là điều khoản cơ bản của hợp đồng Nếu các bên không có thỏa thuận thì phải tuân theo quy định của BLDS đối với hợp đồng MBTS, tuân theo quy định của Luật thương mại 2005 đối với hợp đồng MBHH Quy định về nghĩa vụ giao hàng trong Luật thương mại 2005 và BLDS 2005 có những điểm khác biệt nhất định

BLDS 2005 quy định về nghĩa vụ giao tài sản tại điều 246 như sau:

“Các bên thoả thuận về địa điểm giao tài sản; nếu không có thoả thuận, thì áp

dụng quy định tại Điều 289 của Bộ luật này.”

Điều 289 BLDS quy định:

“1- Địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự do các bên thoả thuận

2- Trong trường hợp không có thoả thuận, thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân

sự được xác định như sau:

a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự là bất động sản; b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của người có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân

sự không phải là bất động sản.”

Căn cứ vào quy định trên thì nếu các bên không có thỏa thuận về địa điểm giao tài sản thì địa điểm giao tài sản là nơi có tài sản đối với bất động sản, địa điểm giao tài sản sẽ là nơi cư trú của người có quyền đối với tài sản không phải là bất động sản Điều 35 Luật thương mại 2005 cũng quy định địa điểm giao hàng là địa điểm

có hàng hóa đó nếu hàng hóa là vật gắn liền với đất đai Ngoài ra, do là luật chuyên ngành, điều chỉnh quan hệ MBHH một cách chuyên biệt thì Luật thương mại còn quy định thêm cụ thể về vấn đề giao hàng cho người vận chuyển, giao hàng tại kho hàng, nơi sản xuất, chế tạo Còn ngoài các trường hợp trên thì địa điểm giao hàng là tại địa điểm kinh doanh hoặc nơi cư trú của bên bán xác định tại thời điểm giao hàng nếu bên bán không có địa điểm kinh doanh.23

Từ đó cho thấy điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng MBTS và hợp đồng MBHH về địa điểm giao hàng đối với đối tượng của hợp đồng không phải là bất động sản Nếu BLDS 2005 quy định đó là địa điểm của bên có quyền, có nghĩa là địa điểm của bên mua vì nhận hàng là một quyền cơ bản của bên mua trong hợp đồng MBTS thì Luật thương mại lại quy định địa điểm giao hàng trong trường hợp này là địa điểm kinh doanh của bên bán, hoặc nơi cư trú của bên bán nếu bên bán không có địa điểm kinh doanh Vậy nếu các bên trong hợp đồng có tranh chấp về

Trang 32

địa điểm giao hàng mà không có thỏa thuận thì việc xác định hợp đồng là hợp đồng MBTS hay hợp đồng MBHH có ý nghĩa quyết định pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp vì cách quy định của BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 là trái ngược nhau

Tuy nhiên, xét thấy quy định về địa điểm giao hàng theo quy định của BLDS

2005 là địa điểm của bên có quyền khi hai bên không có thỏa thuận khác về địa điểm giao tài sản là hợp lý hơn so với quy định của Luật thương mại về địa điểm giao hàng là địa điểm của bên bán khi các bên không có thỏa thuận khác Vì xét tổng thể cấu trúc quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán thì quyền lợi cơ bản nhất của bên mua là nhận được đối tượng của hợp đồng, tương ứng với quyền lợi đó là nghĩa vụ giao đối tượng của hợp đồng của bên bán Vì vậy nghĩa vụ chính của bên bán là phải thực hiện là giao được đối tượng của hợp đồng cho bên mua Cho nên quy định địa điểm giao tài sản theo quy định của BLDS 2005 là địa điểm của bên có quyền, tức địa điểm của bên mua vì nhận đối tượng của hợp đồng

là quyền cơ bản của bên mua là hợp lý, làm cho cấu trúc về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán được cân bằng Còn theo quy định của Luật thương mại thì khi các bên không có thỏa thuận gì thì địa điểm giao hàng là trụ sở của bên bán, khi quyền được nhận đối tượng của hợp đồng là một đặc trưng trong cấu trúc quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán mà quyền được nhận đối tượng của hợp đồng của bên mua trong quan hệ MBHH theo quy định trên

là bị hạn chế, không triệt để và hợp lí như quyền nhận đối tượng của hợp đồng theo quy định của BLDS 2005 với hợp đồng MBTS

Tuy nhiên, khi đi xem xét quy định trên của Luật thương mại 2005 về địa điểm giao hàng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng trong tổng thể các quy định tương tự về địa điểm giao hàng trong pháp luật quốc tế về MBHH thì thấy có sự tương đồng

Theo công ước Viên 1980 về MBHH quốc tế (SISG) thì:

“Trong các trường hợp khác người bán có nghĩa vụ đặt hàng dưới quyền định

đoạt của người mua tại địa điểm mà vào thời điểm giao kết hợp đồng người bán đặt trụ sở kinh doanh của mình tại đó”

Trường hợp khác được đề cập trong điều này bao gồm trường hợp các bên không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng, theo quy định trên thì bên bán phải đặt hàng hóa dưới sự định đoạt của bên mua tại địa điểm của mình

Theo Bộ nguyên tắc hợp đồng của Unidroit (PICC) thì vấn đề địa điểm giao hàng trong trường hợp không có thỏa thuận được quy định cụ thể như sau:

Điều 6.1.6 quy định:

“Nếu địa điểm thực hiện nghĩa vụ không được xác định trong hợp đồng thì bên

có nghĩa vụ phải thực hiện tại:

Địa chỉ giao dịch của người có quyền nếu là nghĩa vụ thanh toán

Trang 33

Địa chỉ giao địch của mình nếu là nghĩa vụ khác”

Theo đó, nếu các bên không có thỏa thuận thì bên bán phải thực hiện nghĩa vụ của mình tại địa chỉ giao dịch của mình Quy định này tương tự với quy định của Công ước Viên về MBHH quốc tế(CISG) về địa điểm thực hiện nghĩa vụ giao hàng của bên bán Từ đó ta thấy, quy định của Luật thương mại 2005 về địa điểm giao hàng là phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về MBHH Quy định của Luật thương mại là nhằm làm thu hẹp khoảng cách giữa pháp luật về thương mại của quốc gia và quốc tế trong thời kì hội nhập

Thứ hai là về chất lượng và số lượng của hàng hóa

Chất lượng và số lượng của hàng hóa là vấn đề rất được bên mua quan tâm vì đó

là quyền lợi cơ bản của bên mua và là mục đích mà bên mua hướng tới khi tham gia vào quan hệ hợp đồng Tuy nhiên, trong quan hệ mua bán này thì không phải lúc nào bên mua cũng nhận được đối tượng của hợp đồng với số lượng và chất lượng như mong muốn Về vấn đề này thì cả BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 đều có những quy định để giải quyết Cụ thể:

Về vấn đề chất lượng và số lượng của hàng hóa thì hầu như cả Luật thương mại

2005 và BLDS 2005 đều có quy định tương tự nhau Tuy nhiên, nhằm làm cho việc thực hiện hợp đồng diễn ra thuận lợi và tránh các tranh chấp thì Luật thương mại

2005 có quy định tại Điều 41 về việc giao hàng không đúng chất lượng và số lượng

là nếu việc giao hàng đó không đúng về chất lượng (không phù hợp với hợp đồng) thì nếu vẩn còn trong thời hạn giao hàng thì bên đó có thể khắc phục những thiếu xót trên Cụ thể:

“Điều 41 Khắc phục trong trường hợp giao thiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng

1 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng và không xác định thời điểm giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giao hàng và giao thiếu hàng hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc thay thế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng hoá trong thời hạn còn lại

2 Khi bên bán thực hiện việc khắc phục quy định tại khoản 1 Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.”

Trong khi đó, BLDS 2005 lại không có quy định về việc khắc phục trên mà chỉ quy định nếu bên bán vi phạm những thỏa thuận về số lượng, chất lượng hàng hóa thì bên mua được quyền áp dụng các chế tài như bồi thường thiệt hại Cụ thể:

BLDS 2005 quy định trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có thể:

- Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;

Trang 34

- Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;

- Huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Hay trong trường hợp bên bán giao vật không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau đây:

- Nhận và thanh toán theo giá do các bên thoả thuận;

- Yêu cầu giao đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại;

- Huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Từ đó cho thấy, quy định của BLDS 2005 thiếu tính mềm dẻo hơn, quy định như vậy có thể bị một bên không thiện chí trong hợp đồng lợi dụng Thiết nghĩ nếu vi phạm của bên bán làm cho bên mua không còn đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng thì việc áp dụng các chế tài là điều cần thiết để bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm Tuy nhiên, nếu vi phạm đó có thể khắc phục được và một bên vẫn đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng thì việc quy định để bên vi phạm khắc phục vi phạm của mình là hợp lí

Nhìn chung, quy định của Luật thương mại 2005 điều chỉnh một cách đầy đủ và hợp lí hơn về nghĩa vụ giao hàng Vì Luật thương mại là luật đặc thù, điều chỉnh các quan hệ MBHH nên quy định một cách cụ thể và chặt chẽ hơn quy định của BLDS

2005 là điều dể hiểu Nắm được các quy định trên nhằm giúp các bên nhận định đầy

đủ và đúng đắn về hình thức pháp lý của quan hệ mua bán mà mình tham gia vào

Về nghĩa vụ thanh toán

Nghĩa vụ thanh toán là nghĩa vụ của bên mua, thực hiện tốt nghĩa vụ thanh toán của mình là thanh toán đúng thời điểm, đúng số lượng và đúng phương thức sẽ đảm bảo được quyền lợi của bên bán, vì trong hợp đồng mua bán thì quyền của bên này

là nghĩa vụ của bên kia

Nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng MBTS được quy định như sau:

“Điều 438 Nghĩa vụ trả tiền

1 Bên mua phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm giao tài sản

2 Bên mua phải trả lãi, kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Ngoài ra, BLDS còn có quy định về việc bên mua được hoãn nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp quy định tại Điều 436:

“Trong trường hợp vật được giao không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của

vật không đạt được thì bên mua có một trong các quyền sau đây:

Nhận và yêu cầu bên bán giao tiếp phần hoặc bộ phận còn thiếu, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hoãn thanh toán phần hoặc bộ phận đã nhận cho đến khi vật được giao đồng bộ”

Trang 35

Quy định về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng MBTS trong BLDS là khá đơn giản, quy định này chỉ trú trọng đến việc thanh toán vào thời gian và địa điểm nào khi không có thỏa thuận Ngoài ra, có quy định về việc tạm ngừng thanh toán trong trường hợp hàng hóa giao không đồng bộ, làm ảnh hưởng đến mục đích sử dụng So với nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng MBTS theo quy định của BLDS 2005 thì nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng MBHH theo quy định của Luật thương mại

2005 là có phần chi tiết, cụ thể và quy định nhiều tình huống để một bên có thể hoãn nghĩa vụ thanh toán Cụ thể:

Điều 50 Thanh toán

1 Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận

2 Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật

3 Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra

Điều 51 Việc ngừng thanh toán tiền mua hàng

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc ngừng thanh toán tiền mua hàng được quy định như sau:

1 Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán;

2 Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì

có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;

3 Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợp đó;

4 Trường hợp tạm ngừng thanh toán theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu các chế tài khác theo quy định của Luật này

Luật thương mại 2005 quy định về nghĩa vụ thanh toán cụ thể hơn so với quy định trong BLDS 2005 Đã dự liệu được những tình huống có thể xãy ra như việc bên mua vẩn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nếu hàng hóa bị hư hỏng kể từ sau thời điểm chuyển rủi ro, trừ khi mất mát, hư hỏng đó do lổi của bên bán gây ra Ngoài ra, Luật thương mại 2005 còn quy định những trường hợp mà bên mua có thể ngừng thanh toán tiền mua hàng BLDS không quy định trường hợp mà một bên được ngừng thanh toán mà chỉ quy định việc được hoãn nghĩa vụ thanh toán Đây là một điểm khác biệt trong nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS Việc ngừng thanh toán và hoãn nghĩa vụ thanh toán có những điểm khác biệt nhất định Việc hoãn nghĩa vụ thanh toán theo như quy định của BLDS 2005 là

Trang 36

việc một bên sẽ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng như thỏa thuận khi bên còn lại trong hợp đồng giao đối tượng của hợp đồng không đồng bộ Việc hoãn là việc kéo dài thêm thời hạn thực hiện nghĩa vụ với điều kiện xảy ra trường hợp mà pháp luật quy định, cụ thể là việc giao vật không đồng bộ Còn việc ngừng thanh toán theo quy định của Luật thương mại là khi xảy ra các trường hợp được quy định tại Điều 51 Luật thương mại thì một bên sẽ được ngừng lại việc thanh toán như đã thỏa thuận Điểm khác nhau cơ bản giữa hoãn thực hiện nghĩa vụ thanh toán và ngừng thanh toán là khác nhau về căn cứ làm phát sinh cũng như hậu quả pháp lý sau khi áp dụng các quy định.Thiết nghĩ Luật thương mại quy định những trường hợp được ngừng thanh toán khi xảy ra các trường hợp được quy định tại Điều 51 Luật thương mại là hợp lý, nhằm bảo vệ quyền của bên mua khi có những trường hợp xảy ra làm ảnh hưởng đến đối tượng của hợp đồng, ảnh hưởng đến quyền lợi của bên mua, làm cho bên mua không đạt được mục đích mong muốn khi tham gia quan hệ

Qua phân tích vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS ta thấy việc thỏa thuận của các bên cũng như quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là vấn đề quan trọng trong việc duy trì và đảm bảo cho quyền lợi và nghĩa vụ của các bên ở một thế cân bằng nhất định Tuy nhiên, vấn đề trên chưa được Luật thương mại 2005 và BLDS 2005 giải quyết một cách tốt nhất Vì qua xem xét thấy Luật thương mại và BLDS còn thiếu những quy định cần thiết nhằm đảm bảo duy trì sự cân bằng cho các bên trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng.Bằng chứng cho thấy là dù việc duy trì ở mức cân bằng nhất định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là điều quan trọng, tuy nhiên cả Luật thương mại 2005 và BLDS 2005 đều không có những quy định nhằm duy trì trạng thái cân bằng hay các quy định nhằm đều chỉnh vấn đề xác lập lại các điều khoản trong hợp đồng khi xảy ra tình trạng làm cho việc thực hiện hợp đồng đối với một bên là khó khăn hơn rất nhiều so với thời điểm giao kết hợp đồng, có nghĩa là mức cân bằng giữa các bên không còn được duy trì Theo quy định của pháp luật quốc tế thì một điều khoản như vậy thường được biết đến là điều khoản hardship, có nghĩa là điều khoản về khó khăn, trở ngại.Theo đó, một bên được yêu cầu thương lượng lại hợp đồng trong những điều kiện nhất định.Từ đó ta thấy, nhằm làm cho hoàn thiện hơn chế định về hợp đồng thì trong khi điều chỉnh các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên thì Luật thương mại và BLDS cần phải

có những quy định về vấn đề này

Ngoài điều khoản về khó khăn trở ngại thì xét thấy trong việc quy định về quyền

và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng của Luật thương mại và BLDS vẩn còn chưa có quy định về việc một bên vi phạm nghĩa vụ trước thời hạn thì cách thức mà bên còn lại sẽ được áp dụng nhằm bảo vệ quyền lợi của mình là gì.Như đã phân tích thì nghĩa vụ giao hàng của bên bán và nghĩa vụ thanh toán của bên mua là những

Trang 37

nghĩa vụ quan trọng Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì không phải lúc nào một bên trong hợp đồng cũng thiện chí thực hiện hợp đồng mà có khi một bên trong hợp đồng không có mong muốn thực hiện theo những gì đã thỏa thuận và trong rất nhiều trường hợp việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng, nghĩa vụ thanh toán và các nghĩa vụ khác của hợp đồng là không đúng như đã thỏa thuận trong hợp đồng Và trong nhiều trường hợp một bên trong hợp đồng thấy trước được một bên, tất yếu sẽ

vi phạm hợp đồng dù thời hạn thực hiện nghĩa vụ chưa đến Đó là việc vi phạm nghĩa vụ trước thời hạn Qua xem xét các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS chưa thấy quy định một cách có hệ thống về quyền và nghĩa vụ của các bên về vấn đề vi phạm nghĩa vụ trước thời hạn Bên vi phạm phải có trách nhiệm như thế nào về vi phạm của mình, bên bị vi phạm

có thể thực hiện các biện pháp gì nhằm bảo vệ quyền lợi của mình Do đó để hoàn thiện hơn chế định này, thiết nghĩ nên quy định về vấn đề vi phạm nghĩa vụ trước thời hạn

Về vấn đề chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro trong Hợp đồng Mua bán hàng hóa và Hợp đồng Mua bán tài sản

Về vấn đề chuyển quyền sở hữu

Chuyển quyền sở hữu hàng hóa là một vấn đế pháp lý quan trọng trong hoạt động mua bán Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định chủ sở hữu tài sản Xác định chủ sở hữu tài sản là xác định quyền và nghĩa vụ của một chủ thể xác định tại một thời điểm đối với một loại tài sản nhất định Nếu quy định về thời điểm trên rõ ràng sẽ giúp xác định được một cách rõ ràng và nhanh chóng chủ thể có quyền và nghĩa vụ trong một tình huống cụ thể, nếu quy định về thời điểm trên là mập mờ, không rõ ràng thì sẽ có nhiều vấn đề rắc rối khi xác định, dễ dẩn đến tranh chấp Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu có ý nghĩa quan trọng, xác định được thời điểm trên là một yếu tố có ý nghĩa quyết định trong việc xác định thời điểm chuyển rủi ro, một vấn đề pháp lý quan trọng trong quan hệ mua bán Vấn đề này được quy định khác nhau trong BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 cho nên đây là 1 điểm khác biệt quan trọng trong việc phân biệt hai loại hợp đồng này Luật thương mại 2005 quy định thời điểm chuyển quyền sở

hữu hàng hóa tại Điều 62 như sau: “Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao.” Theo quy định trên thì quyền sở

hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ khi hàng hóa được chuyển giao, xem xét quy định này của Luật thương mại trong mối quan hệ tổng thể với các quy định khác của pháp luật về vấn đề chuyển quyền sở hữu sẽ cho thấy Luật thương mại chỉ điều chỉnh một phần vấn đề chuyển quyền sở hữu Bằng chứng

là Luật thương mại để cho các bên thỏa thuận và quy định về việc áp dụng các trường hợp chuyển quyền sở hữu theo quy định của luật khác Phân tích vấn đề trên

Trang 38

cho thấy việc quy định việc chuyển quyền sở hữu theo Luật thương mại 2005 là khác so với BLDS 2005 So sánh thời đểm chuyển quyền sở hữu được quy định trong BLDS 2005 cho thấy thời điểm chuyển quyền sở hữu được chia thành hai trường hợp căn cứ vào tính chất có phải là loại tài sản phải đăng kí quyền sở hữu hay không Theo đó, tài sản trong hợp đồng MBTS sẽ được chuyển quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao Tuy nhiên, nếu tài sản mua bán là loại tài sản mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở hữu thì quyền sở hữu chuyển cho bên mua kể từ thời đểm hoàn thành thủ tục đăng kí quyền

sở hữu đối với tài sản đó Đây là điểm khác biệt trong vấn đề chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS Xem xét vấn đề thời điểm chuyển quyền sở hữu có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm chuyển rủi ro, vì theo quy định của BLDS 2005 thì chủ sở hữu là người phải chịu rủi ro và chịu trách nhiệm đối với tài sản của mình Vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng MBHH và hợp đồng MBTS được quy định cụ thể như sau:

Về thời điểm chuyển rủi ro

Chuyển rủi ro là vấn đề mang tính pháp lý quan trọng trong hoạt động mua bán Xác định thời điểm chuyển rủi ro phải dựa vào các quy định của pháp luật quy định

về vấn đề này Cụ thể:

Về thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng MBTS

Theo quy định của BLDS 2005, trong hợp đồng MBTS thì thời đểm chuyển rủi

ro được phân chia phụ thuộc vào việc tài sản đó có phải đăng ký quyền sở hữu hay không Với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì rủi ro sẽ được chuyển từ bên bán sang bên mua khi bên mua nhận được tài sản, có nghĩa là bên bán phải chịu rủi ro với tài sản mua bán cho đến khi tài sản được giao cho bên mua thì bên mua phải chịu rủi ro đối với tài sản kể từ khi nhận tài sản (khoản 1, điều 440, BLDS 2005) Việc chuyển rủi ro đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu là căn

cứ vào việc đã chuyển giao tài sản từ bên bán sang bên mua hay chưa Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì rủi ro chỉ được chuyển kể

từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký Theo đó có nghĩa là với tài sản buộc phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật thì việc xác định rủi ro đã được chuyển hay chưa phụ thuộc vào việc đã đăng kí quyền sở hữu theo quy định của pháp luật hay chưa chứ không căn cứ vào việc giao tài sản trên thực tế như đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu

Căn cứ vào tính chất trên có ý kiến cho rằng trong trường hợp tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì việc xác định rủi ro có được chuyển cho bên mua hay chưa phụ thuộc vào việc bên mua có nắm giữ được tài sản trên thực tế hay chưa Ý kiến trên là chưa chính xác, như đã phân tích thì rủi ro sẽ được chuyển cho bên mua khi bên bán giao tài sản cho bên mua và bên mua nhận được tài sản Tuy nhiên trong trường hợp bên mua chậm tiếp nhận tài sản đã mua thì dù bên mua chưa nhận

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w